Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (Kì 12) / TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn và dịch thơ



 
TS Nguyễn Ngọc Kiên


          NHÀ THƠ VƯƠNG XƯƠNG LINH
          Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự Thiếu Bá 少伯, người đất Giang Ninh (tỉnh Giang Tô), năm 727 (đời Ðường Huyền Tông), thi  đậu tiến sĩ, được bổ làm chức hiệu thư lang. Sau vì sơ suất về hành vi, bị biếm ra làm chức úy tại Long Tiêu, ở phía Tây sông Tương. Khi trở về quê nhà, gặp lúc loạn lạc, bị Thứ sử Lư Khâu Hiển giết chết vì tư thù.
           Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.
(Theo thivien.net)



Phiên âm:
TÒNG QUÂN HÀNH KÌ 1 – VƯƠNG XƠNG LINH
Phong hoả thành tây Bách Xích lâu,
Hoàng hôn độc thướng hải phong thu.
Cánh xuy Khương địch "Quan san nguyệt",
Vô ná kim khuê vạn lý sầu.

Dịch nghĩa:
BÀI HÁT TÒNG QUÂN KÌ 1 – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Phong hoả đài bên thành cao trăm thước
Buổi hoàng hôn, một mình lên lầu giữa gió biển mùa thu
Tiếng sáo Khương lại thổi khúc "Quan san nguyệt"
Trong chốn khuê vàng, làm sao không sầu mối sầu vạn dặm.

 Dịch thơ:
BÀI HÁT TÒNG QUÂN KÌ 1 – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Phong hỏa thành Tây trăm thước cao
Chiều thu lộng gió bước lên lầu
Sáo Khương ngân khúc “Quan san nguyệt”
Ở chốn khuê vàng vạn dặm sầu.


Phiên âm:
TÒNG QUÂN HÀNH KÌ 4 – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Thanh Hải trường vân ám tuyết san,
Cô thành dao vọng Ngọc Môn quan.
Hoàng sa bắc chiến xuyên kim giáp,
Bất phá Lâu Lan chung bất hoàn.

Dịch nghĩa:
BÀI CA HÀNH QUÂN (KÌ 4) – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Thanh Hải dải mây dài bao phủ núi tuyết,
Thành luỹ chơ vơ thấy xa xa là Ngọc Môn quan.
Đánh hàng trăm trận trên sa mạc cát vàng này, mòn cả áo giáp,
Chưa dẹp tan giặc Lâu Lan thì chưa về.

Dịch thơ:
BÀI CA HÀNH QUÂN (KÌ 4) – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Mây bay Thanh Hải phủ  tuyết ngàn
Xa tít thành trơ Ngọc Môn Quan
Trăm trận sa trường mòn cả giáp
Chửa về khi chưa hết Lâu Lan.


Phiên âm:
TÂY CUNG THU OÁN – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Phù dung bất cập mỹ nhân trang,
Thuỷ điện phong lai châu thuý hương.
Khước hận hàm tình yểm thu phiến,
Không huyền minh nguyệt đãi quân vương.

Dịch nghĩa:
NỖI OÁN MÙA THU Ở TÂY  CUNG – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Hoa sen không bằng vẻ điểm trang của người đẹp,
Từ thuỷ điện, gió đưa lại mùi thơm ngọc ngà.
Oán giận phải ôm tình riêng nên che chiếc quạt thu,
Cứ treo mãi vầng trăng tỏ để đợi nhà vua.

          Tây cung tức Trường Tín cung, do Hán Cao Tổ cho xây trong hoàng thành Trường An cho các cung nữ bị thất sủng cư trú. Cung này đến đời Đường vẫn còn xử dụng.

Dịch thơ:
NỖI OÁN MÙA THU Ở TÂY  CUNG – VƯƠNG XƯƠNG LINH

Sen đẹp sao bằng nàng điểm  trang
Thủy điện gió đưa lại mùi hương
Oán hận tình riêng thu che quạt
Đợi vua treo mãi một vầng trăng.



Phiên âm:
TÂY CUNG XUÂN OÁN – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Tây cung dạ tĩnh bách hoa hương,
Dục quyển châu liêm xuân hận trường.
Tà bão vân hoà thâm kiến nguyệt,
Mông lung thụ sắc ẩn Chiêu Dương.
 
Dịch nghĩa:
NỖI OÁN MÙA XUÂN Ở CUNG TÂY – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Ở cung Tây, đêm vắng, trăm hoa toả mùi thơm,
Muốn cuộn rèm châu, mối hận xuân dâng đầy.
Ôm nghiêng đàn vân hoà trông mãi vầng trăng,
Cây cối mịt mùng che cung điện Chiêu Dương.


Tây cung tức Trường Tín cung, do Hán Cao Tổ cho xây trong hoàng thành Trường An cho các cung nữ bị thất sủng cư trú. Cung này đến đời Đường vẫn còn xử dụng.

Dịch thơ: 
NỖI OÁN MÙA XUÂN Ở CUNG TÂY – VƯƠNG XƯƠNG LINH
Trăm hoa đêm vắng ngát cung Tây
Muốn cuốn rèm châu, hận xuân đầy
Nghiêng ngả đàn hòa vào bóng nguyệt
Chiêu Dương ẩn hiện giữa ngàn cây 


          NHÀ THƠ LÍ BẠCH
          Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

          Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, san bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...

          Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông. Theo đó thì ông làm khoảng 20.000 bài, nhưng ông không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về mọi đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.
(Theo thivien.net)



Phên âm:
TÒNG QUÂN HÀNH – LÍ BẠCH
Bách chiến sa trường toái thiết y,
Thành nam dĩ hợp sổ trùng vi.
Đột doanh xạ tử Hô Diên tướng,
Độc lãnh tàn binh thiên kỵ quy.

Dịch nghĩa:
BÀI CA HÀNH QUÂN – LÍ BẠCH
Đã đánh cả trăm trận nơi sa trường, giáp sắt mòn,
Địch quân đã vây nhiều lớp ngoài phía nam thành.
Tướng quân đột ngột cho mở cửa, bắn chết tướng Hung Nô,
Mình ông trở về với khoảng một ngàn kỵ binh còn sống sót.

 Dịch nghĩa:
BÀI CA HÀNH QUÂN – LÍ BẠCH
Trăm trận sa trường, giáp sắt mòn
Nam thành quân địch siết bao vòng
Tướng quân mở cửa toi Hồ tướng
Nghìn kị tàn quân đã bại vong


          NHÀ THƠ DƯƠNG QUÝNH楊炯
          Dương Quýnh 楊炯 (650-692) sống vào khoảng đời vua Đường Cao Tông 唐高宗, người huyện Hoa Âm 華陰, một trong Sơ Đường tứ kiệt. Trong Toàn Đường thi 全唐詩 có chép 33 bài của ông.

楊炯

Phiên âm:
TÒNG QUÂN HÀNH – DƯƠNG QUÝNH
Phong hoả chiếu Tây kinh,
Tâm trung tự bất bình.
Nha chương từ phụng khuyết,
Thiết kỵ nhiễu Long thành.
Tuyết ám điêu kỳ hoạ,
Phong đa tạp cổ thanh.
Ninh vi bách phu trưởng,
Thắng tác nhất thư sinh.

Dịch nghĩa:
BÀI CA HÀNH QUÂN – DƯƠNG QUÝNH
Khói lửa chiếu tây kinh
Trong lòng cảm thấy bất bình
Cầm binh phù từ giã cung thành
Thiết kỵ xông pha Long thành
Màu tuyết u ám ảm đạm màu cờ
Gió nhiều loạn tiếng trống
Thà làm bách phu trưởng
Hơn làm một thư sinh

Dịch thơ:
BÀI CA HÀNH QUÂN – DƯƠNG QUÝNH
Khói lửa chiếu Tây Kinh,
Trong lòng thấy bất bình.
Binh phù rời cung khuyết,
Ngựa sắt xông Long Thành.
Màu tuyết ám cờ trận,
Gió thổi lẫn trống canh.
Thà làm cai trăm lính,
Hơn làm một thư sinh.

- 楊炯

Phiên âm:
DẠ TỐNG TRIỆU TÚNG – DƯƠNG QUÝNH
Triệu thị liên thành bích
Do lai thiên hạ truyền
Tống quân hoàn cựu phủ
Minh nguyệt mãn tiền xuyên.

Dịch nghĩa:
ĐÊM TIỄN TRIỆU TÚNG – DƯƠNG QUÝNH
Viên ngọc của họ Triệu đáng giá nhiều thành liền
Người ta đồn đại (từ thời Chiến Quốc) tới nay
Tiễn ông trở về nhà cũ
Phía trước dòng sông, trăng sáng vằng vặc.

Dịch nghĩa:
ĐÊM TIỄN TRIỆU TÚNG – DƯƠNG QUÝNH
Viên ngọc Triệu giá thành liền đây
Người đời đồn đại mãi tới nay
Tiễn ông đã trở về nhà cũ
Phía trước dòng sông trăng sáng đầy!



Phiên âm: 
TỐNG LƯU HIỆU THƯ TÒNG QUÂN – DƯƠNG QUÝNH
Thiên Tướng hạ tam cung,
Tinh Môn triệu ngũ nhung.
Toạ mưu tư miếu lược,
Phi hịch trữ văn hùng.
Xích thổ Lưu Tinh kiếm,
Ô Hào minh nguyệt cung.
Thu âm sinh Thục đạo,
Sát khí nhiễu Hoàng Trung.
Phong vũ hà niên biệt,
Cầm tôn thử nhật đồng.
Ly đình bất khả vọng,
Câu thuỷ tự tây đông.

Dịch thơ:
TIỄN ÔNG HIỆU THƯ HỌ LƯU TÒNG QUÂN - – DƯƠNG QUÝNH
Thiên Tướng xuống ba cung
Tinh Môn họp năm nhung
Định mưu toan kế sách
Truyền hịch tỏ văn hùng
Gươm sáng ngời đất đỏ
Cung báu sáng trăng trong
Hơi thu mờ đường Thục
Sát khí toả Hoàng Trung
Mưa gió năm nào hết
Đàn rượu ngày nay cùng
Ly đình không thể ngóng
Đông tây mặc xuôi dòng.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét