NGÔ MIỄN - ÔNG LÀ
AI? Phần 1.
Ngô
Miễn qua sách “LỊCH SỬ LÀNG THI”
Ngô Miễn bắt đầu được thờ phụng ở Xã Xuân Hy (tại Đền thượng gần chùa, và sau đó ở Đền chung hiện nay từ 1930, xây dựng sau cơn cuồng phong 1929) từ đầu thế kỷ 20, những năm thời Khải Định. Những năm trước 1980 việc thờ cúng ở các Đền, chùa, lăng, miếu ít được chú ý, thậm chí còn bị coi là “mê tín dị đoan”. Sau năm 1980 các thiết chế tâm linh vật thể và phi vật thể được phục hồi, các làng xã, ngành văn hoá thông tin đã chú ý định hình các di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc tâm linh của người xưa. Nhiều làng xã đã hình thành nên các Tổ nghiên cứu lịch sử quê hương. Ở xã Xuân Hy (lúc đó là làng Xuân Hy thuộc xã Xuân Thuỷ, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Hà Nam Ninh), Tổ nghiên cứu lịch sử quê hương đã tập hợp các bậc cao niên, các trí thức am hiểu lịch sử đất nước, làng quê, biết ít nhiều tư liệu Hán Nôm, tham khảo nhiều tài liệu lịch sử của làng cựu (Xã Xuân Phương – Phúc Yên) và làng anh em vốn cùng 1 xã xưa (Xã Xuân Bảng, huyện Xuân Thuỷ), hội thảo bàn bạc công phu và biên soạn, in typo cuốn sách “LỊCH SỬ LÀNG THI”. (1) (ảnh chụp bìa sách và 68 trang sách kèm theo).
Chúng
tôi xin trích, chép lại những nội dung liên quan trong sách nói về Ngô Miễn với
tư cách là người “đưa dân 10 họ về lập làng Nhật Thi”:
- Trang 30:
Tướng
công người họ Ngô, tên là Miễn. Sinh năm thứ hai đời vua Trần Nghệ Tôn (Tân Hợi
1371) trong một gia đình hào phú có thế lực, có học thức ở Thôn Xuân Mai, Xã
Xuân Hy, Tổng Kim Hoa, Phủ Bắc Hà, Xứ Kinh Bắc nay là Xã Phúc Thắng, Huyện Mê
Linh, Thành phố Hà Nội. Từ nhỏ người khôi ngô tuấn tú, tính nết khoan hoà song
cũng rất kiên nghị, tư chất thông minh lại hiếu học, người thi đậu Thái học
sinh (Tiến sĩ). (2) (Bia đá và Phả ký chữ Nho ở Cựu quán lẫn Tân ấp đều không
ghi học vị của Người. Riêng Thần phả thôn Xuân Hy viết bằng quốc ngữ gần đây
ghi rằng năm 18 tuổi Người đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn, năm thứ nhất đời Vua Thuận
Tôn (1388). Bản Thành hoàng diễn ca ở Xuân Bảng ghi “19 tuổi đỗ đại khoa, Ất Sửu
Tiến sĩ Vua là Dụ Tông”. Hai tài liệu này so với lịch sử quốc gia và qua các
niên đại thì không đúng vì:
a,
Lịch triều hiến chương ghi rõ 12-1388 vua Thuận Tôn mới lên ngôi, và năm ấy
chưa tìm thấy chỗ nào ghi mở khoa thi cả,
b,
Vua Dụ Tôn lên ngôi 1341 – 1369. Sau 2 năm Vua Dụ Tôn chết thì Ngô Tướng công mới
ra đời (1371). Xem Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì cuối đời nhà Trần từ 1381 – 1399
trong vòng 18 năm mở có hai khoa thi: Tháng 2 Tân Dậu năm 1381 thời Phế Đế có mở
khoa thi Thái học sinh (tập 2 trang 194) lúc ấy Ngô Tướng công mới có 10 tuổi
chắc rằng Người không đậu khoa này. Tháng 2 Quý Dậu (1391) thời Thuận Tôn mở
khoa thi có 30 người đỗ như Hoàng Quý Chi, Lê Vị Tấu,…lúc đó Tướng Công 22 tuổi.
Đến
đời nhà Hồ 1400 mở khoa thi có 20 người đỗ trong đó có Nguyễn Trãi, Lý Tử Cầu,…lúc
đó Tướng Công 29 tuổi.
Bia Văn Miếu Hà Nội chỉ ghi
những ai đỗ Tiến sĩ từ đời Vua Đại Bảo 1442 về sau. Đời Vua Quang Thiệu 1518
bia ghi có ông Ngô Miễn Thiệu quê ở xã Tam Sơn, Huyện Đông Ngạn chứ không phải
ông Ngô Miễn quê ta.).(3)
-
Trang 33, 34:
-
Không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà.(4)
-
Dành thời giờ đi nhiều nơi trong nước để tìm người tiến bộ yêu nước kết bạn và
nắm được dân tình, nhằm mưu lợi ích cho dân cho nước,(5)
-
Bàn với gia đình, vợ con đem tiền của và ruộng đất nhà mình chia cho dân, sau lại
đem cả số ruộng 72 mẫu mua của bà chúa Khả Do chia nốt cho dân 4 thôn Mai, Thượng,
Triền, Bến.(6)
-
Nhân lúc nhà Trần vẫn còn chính sách cho những người có thế lực đưa dân đi khai
hoang ven biển. Người bèn xin nhà vua cho dân 10 họ Ngô, Đỗ, Trần, Hoàng, Nguyễn,
Phạm, Võ, Đinh, Đào, Tạ ở xã Xuân Hy xuống bờ biển thuộc Phủ Thiên Trường xứ
Sơn Nam lập ấp rộng trên 2000 mẫu, đặt tên là xã Nhật Hy, nay là thôn Xuân Hy,
Xuân Dương, Xuân Bảng huyện Xuân Thuỷ, Tỉnh Hà Nam Ninh.
-
Căn cứ vào lịch sử quốc gia, bia đá ở tân ấp thì điều chắc chắn Người đưa dân
10 họ xuống lập ấp Nhật Thi trước 1397 là năm mà Vua Trần Thuận Tôn ra lệnh hạn
điền. (7)
-
Trang 35, 36:
-
Qua mấy năm vừa dạy học, vừa tổ chức xây dựng mở mang làng ấp, lại theo dõi
tình hình đất nước, Người thấy ông Hồ Quý Ly là người yêu nước tiến bộ, nên đã
có lý trí tình cảm với nhà Hồ. Người cũng sớm thấy được nguy cơ xâm lược nước
ta của nhà Minh, Người cần phải ra giúp nhà Hồ và cùng với nhân dân bảo vệ Tổ
quốc. Mặt khác cha con ông Hồ Quý Ly cũng đã biết tài đức và chí khí của Người,
nên khi ông Hồ Quý Ly lên ngôi vua, đã triệu Người ra làm quan. Năm 1400, Người
vào triều nhận chức “Nội nhân giám quân thiên cương” chỉ huy đội quân bảo vệ
triều đình ngay tại Tây Đô. Đến năm 1406 Vua Hồ Hán Thương phong cho Ngô Tướng
công giữ chức “Hữu Tham tri chính sự kiến tri các lăng phủ Thiên Xương”.(😎
Bia
Đền Xuân Hy, Xuân Bảng đều ghi:”Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu kiêm Thiên
Xương phủ tổng quản chư lăng thượng thư lệnh đồng bình chương quốc quân trọng sự”(9)
-
Duệ hiệu thờ Người ghi :“Hồ triều Thánh tổ Hành khiển hữu Tham tri chính sự,
Thượng thư lệnh, đồng bình chương, đặc tiến đại phu, Tổng Thái giám Ngô Tướng
công huý Miễn”(10)
(-
Bài vị gỗ ở Đền :” Hồ triều Thánh Tổ hành khiển hữu Tham tri chính sự Thượng
thư lệnh đồng bình chương đặc tiến đại phu Tổng thái giám Ngô tướng công huý Miễn
thuỵ viết Đại Đức”).(11)
-
Phả ký ở Cựu Quán đều ghi chức danh của Người như vậy ! (12)
-
Trang 29:
-
Ngô Tướng công…nhiều lần từ Kinh về quê hương Cựu Quán và Tân Ấp, động viên dân
làng tổ chức và luyện tập quân sự, rèn đúc vũ khí để đánh giặc. Ngày 10/1 Tân Hợi
chính là ngày nhân dân Cựu Quán ta chống giặc giữ làng một cách mãnh liệt, đến
nay hàng năm vẫn còn kỷ niệm ngày đó.(13) (Tân Hợi là Tân Hợi nào? – Có phải là
năm sinh ông Ngô Miễn – 1371?)
-
Trang 41:
-
Giống như nhân dân Hà Nội đã tạc tượng thờ Vua Quang Trung ở chùa Đống Đa. Sở
dĩ tượng Ngô Tướng công và tượng Vua Quang Trung nhân dân lại thờ ở chùa vì Vua
Quang Trung Đảng ta, nhân dân ta nhận định là vị anh hùng dân tộc, nhưng nhà
Nguyễn cho là “giặc Tây Sơn” kẻ thù của chúng. Còn Ngô Tướng công thì những triều
Vua về sau đều cho nhà Hồ là “nguỵ triều”, làm quan nhà Hồ là không chính
nghĩa. Nhận định đó ngược lại với nhận định của nhân dân ta. Lịch sử Nhà nước
ta hiện nay xuất bản công nhận có triều Hồ, triều Hồ đã tích cực chống giặc
Minh, cho nên nhân dân ta lúc ấy chủ trương tạc tượng và đưa tượng các Ngài vào
thờ ở chùa để che mắt họ. (14)
Cũng
chính vì vậy, ông cha quê ta kê khai công trạng để Vua phong sắc cho Ngô Tướng
công thì khai là Người làm quan và theo Giản Định Đế đánh giặc mà không khai
làm quan với nhà Hồ, cho nên không vì lý do đó mà lầm lẫn sự thật của lịch sử
(sự thật của lịch sử là Người làm quan triều Hồ). (15)
-
Trang 40, 41:
-
Phả ký quê hương ghi:”Sinh tiền vi tướng, tử hậu vi thần, ký quy vu Phật” nghĩa
là trước còn sống làm tướng, sau khi chết làm thần và đã hoá thành Phật.”.(16)
-
Trang 38:
-
Khi Ngô Tướng công tuẫn tiết thì bà phu nhân là bà Nguyễn Thị Lệnh ngửa mặt lên
trời mà than rằng…Sử gia Ngô Sỹ Liên bàn rằng “vợ ông Ngô Miễn là Nguyễn Thị Lệnh
không những chết vì tiết nghĩa, lời nói cũng đủ làm bài học cho đời nên chép ra
đây”.(17)
-
Bia Đền Xuân Bảng ghi:”Kỳ La là cửa bể Lệ Thuỷ, Nghệ An. Một số phả quốc ngữ gần
đây ghi Kỳ La thuộc Kỳ Anh cũng không đúng với địa dư.”(18)
-
Trang 39:
-
Lời bàn của Phan Phụ Tiên “còn như Ngô Miễn, Kiều Biểu, Nguyễn Lệnh chết…”, sưu
tầm lúc ấy không có ai nam giới chết ở đây là Nguyễn Lệnh cả. Nguyễn Lệnh ghi ở
đây chính là bà Nguyễn Thị Lệnh.”(19)
-
Trang 42:
-
Sau khi Người mất, các Vua sau này phong cho Người là “Nam Hải Phạm Đại Vương”,
Phả Cựu Quán ghi “Sắc phong Nam Hải Thần”. Ở Tân ấp nhân dân tôn Ngài làm
“Đương Cảnh Thành Hoàng Nam Hải Phạm Đại Vương” và lập miếu thờ ở bên cạnh chùa
Xuân Hy bây giờ, sau xây Đền gọi là Đền Thượng. Hàng năm nhân dân kỵ Người và
phu nhân vào ngày 12 tháng 5 âm lịch.(20)
-
Trang 44:
-
Công đầu dựng lên Tân Ấp trước hết thuộc về ông Ngô Miễn và tổ tiên các họ.
Theo truyền thuyết, vùng đất phía bắc huyện Xuân Trường ngày nay lúc ấy là vùng
đất bồi, mới có từ Mom Rô đến Đập Tầu. Cửa sông Nhị Hà mới đến Ngô Đồng, Cửa
sông Ninh Cơ mới đến dưới phà Lạc Quần. Nhân dân các nơi mới đến lập thôn xã
trước là An Hành, Hạc Châu, Thượng Phúc, Hành Cung (Hành Thiện) còn thì đều là
đất bồi, chỉ có sú vẹt.”(21)
PHẢN BIỆN CỦA ĐỖ HỮU TRÁC:
(Theo
từng nội dung trong sách đã dẫn và có dấu chú thích ở trên):
(1).
– Thực tế, xưa – trước năm 1985, có lẽ không có ai gọi tên làng là “THI”. Theo
“Mai thôn phả ký” từ cựu quán, được kỳ lão làng Xuân Hy sao chép lại song ngữ,
nhân bản và lưu giữ trong hồ sơ di tích, (được cả Nhà sử học Lê Văn Lan sử dụng
làm sử liệu khi nói về Ngô Miễn), và bản “Mai thôn phả ký” của Nhà sư trụ trì
chùa Xuân Hy chép sau năm 1954 (mà tôi tình cờ có được gần đây), tên làng mới
thành lập mà sau này gồm Xuân Hy, Xuân Bảng, Xuân Dương) bị nghe, ghi nhầm là
“Nhật TÝ = Nhật TI = 日訾” (ảnh chụp chữ Hán trong hai bản tư liệu chữ Hán kèm
theo) rồi lại đọc, phiên, nói là “NHẬT THI”. Trong thực tế lịch sử di cư xa
xưa, dân gốc “cựu quán” ở “Xuân Hy = 春熙, có nghĩa là “mùa xuân sáng sủa“ (huyện Kim Hoa – Trấn
Kinh Bắc) về vùng đất mới này lập ấp, mang chữ HY (熙) ở quê cũ để đặt tên quê mới là “Nhật HY = 日熙“
có nghĩa là “mặt trời sáng sủa” bao gồm hai thôn Thượng, Hạ là 2 xã Xuân Hy,
Xuân Bảng sau này. Chữ, tiếng “THI” chỉ xuất hiện trong cuốn sách “lịch sử”
này, nhầm lẫn phiên âm chữ Hán trong hai tài liệu chữ Hán trên, không hề lưu
hành trong trong thực tế cuộc sống dân gian làng xã.
(2).
– Sách ghi ông Ngô Miễn đỗ Thái học sinh – Tiến sĩ, nhưng tất cả các phần viết
sau đó đều không nói được là dựa vào tài liệu lịch sử nào nói việc ông thi đỗ
và thi đỗ năm nào, thậm chí còn có nhiều tư liệu nói “sai một cách thậm vô lý”
về việc ông thi đỗ (như đỗ Tiến sĩ khi….chưa sinh – Năm Ất Sửu dưới triều Vua
Trần Dụ Tông).
(3).
– Tất cả các tư liệu cuốn sách dẫn ở đây hoàn toàn không nói việc ông Ngô Miễn
có đỗ Tiến sĩ và đỗ năm nào.
(4).
– Không có tư liệu chứng dẫn cho nhận định này.
(5).
– Không có tư liệu chứng dẫn cho nhận định này.
(6).
– Việc làm này chưa có căn cứ, cơ sở xác định là của Ngô Miễn, mà rất có thể là
của Quế Phương hầu Đỗ Nhân Tăng.
(7).
– Năm 1397 Ngô Miễn không ra làm quan, mà cũng không thuộc dòng dõi quý tộc nhà
Trần, nên ông không thể được nhà vua Trần cho phép đưa dân đi khai hoang lập ấp.
Thời điểm này các tác giả sách “Xuân Bảng quê hương ta” đã khẳng định không
đúng bằng những lập luận rất chặt chẽ. (Xem ở phần 2 sẽ đăng sau này).
(😎. – Năm 1400 Ngô Miễn nhận chức quan “Hữu Tham tri
chính sự kiến tri các lăng phủ Thiên Xương” (chữ “kiến” không đúng, có lẽ các
tác giả sách nhầm từ chữ “kiêm”) là vô lý, không thể có thực vì lúc đó “phủ
Thiên Xương = Thanh Hoá” mới được thành lập, Tây Đô (thành nhà Hồ) mới bắt đầu
xây dựng, nhà Hồ mới manh nha, chưa thể
xây dựng các “lăng tẩm” vua chúa ở đây. Nhà Hồ mãi mãi về sau này cũng không
bao giờ có các lăng tẩm. Chức vụ “kiêm tri Thiên Xương phủ chư lăng” (“coi quản
các lăng tẩm vua, chúa ở phủ Thiên Xương” có lẽ là của Tổng Thái giám Quế
Phương hầu Đỗ Nhân Tăng (kiêm coi các lăng tẩm Vua Lê, chúa Trịnh ở vùng Tây Đô
– Thanh Hoá).
(9).
– Không có căn cứ nào để nói chức vụ “Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu kiêm
Thiên Xương phủ tổng quản chư lăng thượng thư lệnh đồng bình chương quốc quân
trọng sự” là của Ngô Miễn được phong. Chức “bình chương quân quốc trọng sự” rất
có thể là của Ngô Quý Duật (con trai Ngô Miễn) được phong khi phò Trần Quý Khoáng
rồi qua giao lưu lễ bái, thờ cúng ở vùng Nam Định và cựu quán mà người ta đã lầm
cho là của Ngô Miễn. (Trong thực tế từ xưa đến nay vẫn có sự giao lưu qua lại,
lễ bái giữa hai làng “quê mới của dân Xuân Phương – Phúc Yên” là Yên Trị - Ý
Yên (quê vợ Ngô Miễn là Nguyễn Thị Hằng, nơi cư trú và di dân lập ấp của Ngô
Quý Duật) và Xuân Hy – Xã Xuân Thuỷ - Huyện Xuân Thuỷ. Cuốn sách “Tân biên Nam
Định tỉnh địa dư chí lược” của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh đã nói rõ điều
này).
(10).
– Duệ hiệu thờ Ngô Miễn ghi :“Hồ triều Thánh tổ Hành khiển hữu Tham tri chính sự,
Thượng thư lệnh, đồng bình chương, đặc tiến đại phu, Tổng Thái giám Ngô Tướng
công huý Miễn” chỉ có một đoạn đúng, có căn cứ là: “Hành khiển Hữu Tham tri
chính sự”. Chức vụ “Tổng Thái giám” (giành cho quan hoạn) là người ta đã gán nhầm
cho Ngô Miễn. (Ở Xuân Hy, Xuân Bảng chính là từ chức vụ của Quế Phương hầu Đỗ
Nhân Tăng). Không có một tư liệu lịch sử nào nói Ngô Miễn xin được hoạn để làm
quan như PGS. Lê Văn Lan đã nói. Trong thực tế lịch sử ông còn lấy 1 người vợ
tên Nguyễn Thị Hằng quê Ý Yên – Nam Định, sinh ra con trai là Ngô Quý Duật – một
vị tướng tài phò tá Vua Trần Quý Khoáng, gần đây đã được lấy tên để đặt cho 1
đường phố ở Thành phố Nam Định. Việc Ngô Miễn lấy vợ sinh con là Ngô Quý Duật ở
Yên Trị - Ý Yên có ghi rõ trong Ngọc phả Đền Tướng Loát (bằng chữ Hán) có từ thời
đầu thế kỷ 19, hiện vẫn còn lưu trong Hồ sơ di tích Đền Xuân Hy.
(11).
– Xem phần 10 trên.
(12).
– Phả Cựu quán - “Mai thôn Phả ký” ghi :”Ngô Miễn, làm quan đến chức Hữu Tham
tri, được phong Linh Thần, đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, nhập nội thị, được
ban tặng áo kim ngư, chức Kiểm hiệu hành khiển, kiêm Thiên Xương phủ chư lăng đồng
Bình chương quân quốc trọng sự Dực Bảo Trung Hưng Ngô tướng công thuỵ viết Đại
Đức tôn thần.” không có chức “Tổng Thái giám” như sách viết.
(13).
– Thật vô lý !
(14).
– “Cũng chính vì vậy, ông cha quê ta kê khai công trạng để Vua phong sắc cho
Ngô Tướng công thì khai là Người làm quan và theo Giản Định Đế đánh giặc mà
không khai làm quan với nhà Hồ, cho nên không vì lý do đó mà lầm lẫn sự thật của
lịch sử (sự thật của lịch sử là Người làm quan triều Hồ)”. Không nên ép các cụ
“ông cha quê ta xưa”….làm giả hồ sơ khen thưởng như vậy !
(15).
– Thật vô lý, khiên cưỡng. Ở các chùa chỉ tôn thờ tượng Phật, Bồ tát, Đức ông,
Hộ pháp và các vị “Hậu Phật”. Ở các ngôi chùa cựu quán và tân ấp có liên quan
này chắc chắn các pho tượng hậu Phật là của ông bà Quế Phương hầu Đỗ Nhân Tăng
– Đỗ Thị Ân đã được gán cho là tượng Ngô Miễn và vợ Nguyễn thị.
(16).
– Phả ký quê hương ghi:”Sinh tiền vi tướng, tử hậu vi thần, ký quy vu Phật” (生前為相。死後顯神。既歸于佛) nghĩa là trước còn sống làm tướng, sau khi chết làm
thần và đã hoá thành Phật.” câu này bị hiểu không đúng (hoá thành Phật). (Chỗ
này các tác giả “Mai thôn phả ký” viết nhầm chữ Ký = 寄 = gửi” thành Ký =既).
Bản thân câu này là để nói về Quế Phương hầu Đỗ Nhân Tăng: Khi sống làm tướng,
Khi chết được phong thần, Gửi hồn nơi cửa Phật”. Ông Ngô Miễn không hiến đất
xây chùa, không mua “Hậu Phật”, lại chết khi còn khá trẻ nên chắc chắn không có
tượng thờ ở chùa như vậy.
(17).
– “Sử gia Ngô Sỹ Liên bàn rằng “vợ ông Ngô Miễn là Nguyễn Thị Lệnh không những
chết vì tiết nghĩa, lời nói cũng đủ làm bài học cho đời nên chép ra đây””. Các
tác giả sách đã gán chữ “Lệnh” = tên bà vợ Ngô Miễn vào cho Sử gia Ngô Sỹ Liên.
Trong Đại Việt Sử Ký toàn thư phần Ngô Sỹ Liên viết, Phan Phụ Tiên bàn….không hề
có chữ nào liên quan đến tên của bà vợ họ Nguyễn của Ngô Miễn cả.
(18).
– “Bia Đền Xuân Bảng ghi:”Kỳ La là cửa bể Lệ Thuỷ, Nghệ An. Một số phả quốc ngữ
gần đây ghi Kỳ La thuộc Kỳ Anh cũng không đúng với địa dư.””. Bó tay ! (Thực tế
Kỳ La – Thiên Cầm, nơi cửa sông La đổ ra biển là thuộc Kỳ Anh – Hà Tĩnh)
(19).
– Đại Việt Sử Ký Toàn thư không hề có đoạn văn nào như thế !( “còn như Ngô Miễn,
Kiều Biểu, Nguyễn Lệnh chết…”)
(20).
– Nam Hải Phạm Đại Vương là An Dương Vương Thục Phán đã được thờ cúng và phong
Thần ở xã Nhật Hy từ trước cuối thời Lê. Ngô Miễn (và vợ) chỉ mới được hai xã
Xuân Hy, Xuân Bảng đề nghị và được Vua Khải Định phong thần những năm thập niên
10, 20 của thế kỷ 20 với Thần hiệu là “Thánh Tổ Ngô Tướng công” và “Dực Bảo
Trung Hưng Linh Phù Thánh Tổ Ngô Tướng Công Đại Đức tôn Thần”, “Đoan Túc Tôn Thần”,
không có chữ “HẢI” nào cả.
Trong
13 đạo sắc phong hiện còn lưu giữ ở Đền Xuân Hy thì có 9 đạo là phong Thần An
Dương Vương Thục Phán – Nam Hải Phạm Đại Vương, 2 đạo là phong Thần cho Ngô
Thánh tổ - Ngô Miễn và 2 đạo phong Thần cho Quế Phương hầu – Đỗ Nhân Tăng,
(21).
– Các làng An Hành, Hạc Châu, Thượng Phúc, Hành Cung (Hành Thiện) đều chỉ mới lập
vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, không thể trước làng Xuân Hy (được cho là do
Ngô Miễn đưa dân về lập nên từ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15) như các tác giả
sách đã viết được ! Bạn quan tâm sâu có thể tìm hiểu về thời điểm lập làng Hành
Thiện (16XX), An Hành (18XX), Hạc Châu – Họ Nguyễn (15XX), Thượng Phúc – Họ Đỗ
(17XX) qua các thư tịch và việc thờ cúng ở các làng này. Thời điểm lập làng Nhật
Hy (sớm nhất là vào cuối thời Lê Hồng Đức cuối thế kỷ 15), chúng tôi sẽ bàn vào
một dịp khác.
Ngô
Miễn và vợ Nguyễn thị là những nhân vật lịch sử có thật với những tiết nghĩa rất
đáng kính ngưỡng. Nhưng không thể gắn khoác cho ông, bà những điều không phải của
họ. Bịa tạc, nói sai, khoa trương thái quá về các bậc tiền nhân chẳng những
không làm cho họ vĩ đại, cao quý, linh thiêng hơn lên mà chỉ làm lu mờ họ với
những điều….giả dối, huyễn hoặc, bịa đặt !
Bạn
đọc sẽ có người không thích vì nội dung những bài viết này có những điều ngược
lại với nhận thức và niềm tin của mình và của địa phương xưa nay, xin hãy từ tốn
trao đổi nhằm mục đích cùng nhau “giải mê”, hiểu đúng, hiểu rõ hơn về các bậc
tiền nhân.
NGÔ MIỄN – ÔNG LÀ AI? – phần
2.
Ngô
Miễn qua sách “XUÂN BẢNG QUÊ HƯƠNG TA (1400 - 1985)”
Ngô
Miễn bắt đầu được thờ phụng ở Xã Xuân Hy và Xã Xuân Bảng từ đầu thế kỷ 20, những
năm thời Khải Định. Năm 1985, ở xã Xuân Bảng, Tổ nghiên cứu lịch sử quê hương
đã tập hợp các bậc cao niên, các trí thức am hiểu lịch sử đất nước, làng quê,
biết ít nhiều tư liệu Hán Nôm, tham khảo nhiều tài liệu lịch sử của làng cựu
(Xã Xuân Phương – Phúc Yên) và làng anh em vốn cùng 1 xã xưa (Xã Xuân Hy, huyện
Xuân Thuỷ), hội thảo bàn bạc công phu và biên soạn, in typo cuốn sách “XUÂN BẢNG
QUÊ HƯƠNG TA (1400 - 1985)” (ảnh chụp bìa sách và 54 trang sách kèm theo).
Chúng tôi xin trích, chép lại những nội
dung liên quan trong sách nói về Ngô Miễn với tư cách là người “đưa dân 10 họ về
lập làng Nhật Thi”:
-
Trang 13: - Tướng công họ Ngô, tên huý là Miễn, tên thuỵ là Đại Đức. Sinh năm
1371 (Tân Hợi) tại Thôn Mai, Xã Xuân Phương, Huyện Kim Hoa, Phủ Bắc Hà, Xứ Kinh
Bắc, Nay là xã Phúc Thắng, Huyện Mê Linh, Hà Nội.
-
Năm Người 22 tuổi, Triều đình mở Khoa thi, Người đi thi và đậu Thái học sinh tức
là đỗ Tiến sĩ (1).
-
Các vua Trần từ Nghệ Tôn, Duệ Tôn đến Thuận Tôn và Thiếu Đế đều nhu nhược, triều
thần năm bè bảy mối, quan lại chuyên quyền, tham nhũng, dân tình cơ cực….Ngô Tướng
công thấy tình hình đất nước rối ren như vậy nên chán ngán không muốn ra làm
quan với nhà Trần. Vì vậy, sau khi thi đỗ, Người về mở trường dạy học tại quê
nhà…(2)
-
Trang 14, 16: - Mãi đến năm 1400 ông Hồ Quý Ly là người nắm hết quyền bính
trong triều thời bấy giờ, thấy bên ngoài thì giặc Minh lăm le xâm lược nước ta,
bên trong thì lòng dân oán hận nhà Trần, bèn phế Vua Trần Thiếu Đế mới có 3 tuổi
rồi tự tôn làm Vua lập nên nhà Hồ. Biết Ngô Tướng công là người đức rộng tài
cao, vua Hồ mới triệu Người ra làm quan (3). Tấm lòng yêu nước thương dân của
Người bấy giờ mới được phát huy. Người được Vua Hồ trao giữ những chức vụ quan
trọng trong triều như: “Hữu Tham tri gia phong đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu
nhập nội thị tứ kim ngự đại kiểm hiệu hành khiển kiêm Thiên Xương phủ chư lăng
đồng bình chương quân quốc trọng sự” (4).
-
Sau đó ít lâu (5), Người cùng với con trai vua Hồ là Hồ Hán Thương đi kinh lý
vùng Nam Hải, đến địa hạt phủ Thiên Trường thuộc xứ Sơn Nam hạ, tức là phủ Xuân
Trường cũ (nay thuộc Xuân Thuỷ, tỉnh Hà Nam Ninh) thấy bãi sa bồi ven biển dài
rộng mênh mông mà chưa có người ở, Người bèn về triều xin vua cho khai khẩn khu
đất ấy và đưa dân 10 họ ở quê mình xuống quai đê lấn biển, đào ao vượt thổ lập
lên lán trại, thành ấp như đã nêu ở trên. (6)
-
Trang 16:
(Việc
Ngô Tướng công cùng dân 10 họ về đây lập ấp vào thời gian nào, có thuyết cho rằng:
Thời gian ấy, phải trước năm 1397 là năm mà Vua Trần đã ra lệnh hạn điền. Chỉ
vào thời gian ấy, Người mới có quyền đưa dân đi lập ấp. Còn từ năm 1397 trở đi,
chế độ điền trang thái ấp đã bị xoá bỏ, không còn ai có quyền này nữa. Vả chi,
khi Người còn ở nhà, chưa ra làm quan mới có thì giờ đưa dân đi, còn khi đã ra
làm quan và nhất là được vua Hồ trao trọng trách chỉ huy đạo quân bảo vệ triều
đình, thì còn thì giờ đâu mà đưa dân đi lập ấp được.
Chúng
tôi thấy rằng:
+
Người đã không chịu ra làm quan với nhà Trần thì có xin vua Trần làm việc này
cũng chẳng được nào.
+
Đã không làm quan thì cũng không có đủ quyền lực để làm.
Bởi
vậy, thời điểm Ngô Tướng công cùng dân 10 họ về đây là vào cuối năm Canh Thìn
(1400), lúc này Hồ Quý Ly vẫn còn làm vua, chưa truyền ngôi cho con là Hồ Hán
Thương,
+
Người được vua Hồ trao cho trọng trách trông coi chính sự trong triều kiêm chỉ
huy đội quân bảo vệ kinh thành. Đã trông coi chính sự thì phải nhìn ra cả nước.
Do đó, mặc dù bận việc, Người cũng phải dành thì giờ đi kinh lý các nơi. Người
đã xin Vua cho di dân về đây, không những nhằm giải quyết đời sống cho dân, mà
còn nhằm mục đích xa hơn nữa là dần dần xây dựng căn cứ để phòng giặc Minh xâm
lược nước ta. Việc làm của Người khác hẳn giai cấp quý tộc bắt nô tỳ đi lập ấp
phục vụ lợi ích riêng của chúng. Ta đã biết ông Ngô Miễn giàu lòng thương dân,
đến của cải nhà mình cũng không tiếc dân, huống chi việc này không mảy may vì lợi
ích riêng của Người.
Vì
vậy, căn cứ vào bia nhà tổ họ Bùi còn để lại, căn cứ vào cuộc toạ đàm với các đại
biểu Cựu Quán tháng 2 năm 1984 (10-1 âm lịch), và căn cứ vào nhận định trên,
chúng tôi đều cho rằng: Người cùng dân 10 họ xuống đây vào cuối năm Canh Thìn
(1400) tức là khi đã ra làm quan với nhà Hồ.) (7)
-
Trang 9:
-
Tổ tiên 10 dòng họ từ Cựu Quán xuống đây cùng ông Ngô Miễn có các họ: Ngô, Đỗ,
Trần, Hoàng, Bùi, Phạm, Nguyễn, Đinh, Vũ và Đào. Quy định người trong họ: Chi
trên ở lại quê nhà, Chi dưới đi xây dựng tân ấp, tức là xã Nhật Hy xưa kia và
Xuân Bảng, Xuân Hy, Xuân Dương ngày nay.
-
Trang 8:
-
Tương truyền thời bấy giờ, nơi đây còn là bãi biển hoang vu, cửa sông Hồng còn ở
Ngô Đồng, cửa sông Ninh Cơ còn ở dưới Lạc Quần. Bãi biển này đầy lau sậy và cỏ
dại, chỉ có loài chim muông trú ngụ và kiếm sống. Các tổ tiên của 10 dòng họ dưới
sự chỉ đạo của ông Ngô Miễn về đây, đã ra sức đắp đê ngăn mặn, đào mương, vượt
thổ lập nên lán trại, đầu tiên gọi là xã Nhật Thi (😎, sau đổi là xã Nhật Hy (9).
-
Trang 8:
- Vì
bãi biển rộng mênh mông, nên lúc bấy giờ, tổ tiên các dòng họ chỉ ở khu vực ven
đê bao trên 2000 mẫu bắc bộ, đắp tuyến đê biển dài trên 10 km (10) chạy dài từ
giáp đường 50 thuộc xã Xuân Thượng đến đập tầu thuộc xã Xuân Hoà ngày nay nối
liền với sông Ninh Cơ. Còn các khu vực khác bên trong đê thì vào khoảng 200 năm
sau, nhân dân các nơi mới tiếp tục đến khai thác sinh cơ lập nghiệp dần. (11)
-
Trang 20:
-
Ngày kỷ niệm Người hàng năm ở Cựu Quán và Tân Hương (Xuân Bảng và Xuân Hy) đã
được quy định như sau: Cựu Quán tổ chức kỷ niệm vào ngày 10 tháng giêng âm lịch
là ngày Người mở tiệc khao dân trước khi ra đi chiến đấu. Còn Xuân Bảng ta trước
đây kỷ niệm vào ngày 12 tháng giêng là ngày Người ra đi. Nhưng về sau do ước lệ
với Cựu Quán, Xuân Bảng lui ngày kỷ niệm ấy sau 1 tháng tức là ngày 12 tháng 2
(12). Còn Xuân Hy kỷ niệm vào ngày 21 tháng 8 gọi là xuân thu đinh tế để tiện
việc các nơi đi lại thăm viếng lẫn nhau trong những ngày ấy.
PHẢN BIỆN CỦA ĐỖ HỮU TRÁC:
(Theo
từng nội dung trong sách đã dẫn và có dấu chú thích ở trên):
(1).-
Không có tư liệu nào nói rõ Ngô Miễn có đi thi và đỗ Thái học sinh – Tiến sĩ.
(2).-
Không có tư liệu nào nói về việc Ngô Miễn mở trường dạy học.
(3).-
Không có tư liệu nào nói rõ Ngô Miễn chỉ ra làm quan sau khi Hồ Quý Ly cướp
ngôi nhà Trần.
(4).-
Chức quan của Ngô Miễn ghi ỏ đây :“Hữu Tham tri gia phong đặc tiến Kim tử vinh
lộc đại phu nhập nội thị tứ kim ngự đại kiểm hiệu hành khiển kiêm Thiên Xương
phủ chư lăng đồng bình chương quân quốc trọng sự” không đúng, không có căn cứ.
Trong thực tế, chức quan của Ngô Miễn chỉ là “Hành khiển Hữu Tham tri chính sự”,
không thể và không hề có chức “kiêm quản Thiên Xương phủ chư lăng” (là chức
quan chỉ có ở thời Lê sau này).
(5).-
Không có tư liệu nào nói về việc này.
(6).-
Vào cuối thế kỷ 14, thời Trần –Hồ, vùng đất Xuân Trường xưa nằm bao bọc bởi 2
dòng sông (Hồng Hà và Ninh Cơ), không tiếp giáp biển. Khi đó, chỉ có vùng Hải Hậu
(Chân Ninh cũ), Nghĩa Hưng, Kim Sơn, Giao Thuỷ là tiếp giáp với biển. Đến năm
thời Hồng Đức, trước khó khăn về việc ngăn mặn, khai hoang lập ấp, khẩn thổ cấy
cày, Vua Lê Thánh Tông mới cho đắp “đê Hồng Đức” kéo dài từ Nga Sơn qua Liễu Đề,
Ninh Cường, Quần Anh, tới Hội Khê (gần cầu Thiết Khoá ngày nay). Các tập đoàn
dân di cư đến khai hoang lập ấp ở Xuân Trường chủ yếu là ở vào thời Lê Thánh
Tông (giữa – cuối Thế kỷ 15) sang đến đầu thế kỷ 16.
(7).-
Hoàn toàn là suy đoán của người sau, không có tư liệu lịch sử nào nói việc Ngô
Miễn đưa dân về khai hoang lập ấp vào thời điểm nào cả. Giữa làng Xuân Hy và
làng Xuân Bảng (vốn cùng 1 tập đoàn dân lập xã Nhật Hy với hai thôn Thượng, Hạ
xưa) đã có những nhận định và suy đoán khác nhau !
(😎.- Không có tài liệu chính thức nào nói xã xưa tên là
“Nhật THI”. Các tác giả sách đã nhầm lẫn chữ “THI” theo người viết, phiên “Mai
Thôn Phả Ký” (đã nói ở phần 1)
(9).-
Chữ HY trong “Nhật HY” vốn được đặt ngay từ khi lập lên làng Nhật Hy từ khoảng
cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, lấy từ tên làng gốc “Xuân Hy” ở Kim Hoa – Bắc
Ninh.
(10).-
Có tuyến đê biển này sao ? Theo các tác giả mô tả thì đây có lẽ là “bờ sông Mã”
(là nơi dân Nhật Hy cư trú) chứ không thể là “ĐÊ BIỂN” được.
(11).-
Ven, quanh làng Nhật Hy, xa bờ sông Mã, hầu hết các làng xã được khai khẩn từ
thời Lê Hồng Đức (1460 - 1497) trên các gò, bãi đất cao như Trà Lũ, Kiên Lao, Hội
Khê, Bích Câu,…Không thể có chuyện Xã Nhật Hy lập trước các làng trên rồi “vài
trăm năm sau các làng ấy mới đến sinh cơ lập nghiệp dần” được.
(12).-
Ngô Miễn làm quan to, giữ trọng trách trong triều Hồ thời quân Minh xâm lược nước
ta. Trong khi việc quân cấp bách, dầu sôi lửa bỏng, Ngài không thể về quê cựu
“mở tiệc khao dân trước khi ra đi chiến đấu” vào ngày 10/1 được ! Xuân Bảng lại
“kỷ niệm ngày Ngài ra đi vào 12/1” (là nghĩa làm sao?). Xuân Hy lại kỷ niệm
….vào ngày 21/8 ? (vì sao vậy ?). Có phải là việc “sửa lịch sử theo thực tế thời
nay” không ?
Trong
khi đó, Hương lý chức dịch xã Xuân Bảng lại báo cáo Chính phủ bảo hộ năm 1938 rằng:”
Ngày 12 tháng Giêng là ngày Ngài và bà phu nhân tự tận ở cửa biển Kỳ La, nhưng
tháng Giêng đương lúc cày cấy rét mướt, làng chúng tôi hoãn đến tháng Hai.”
Tóm
lại, sách “XUÂN BẢNG QUÊ HƯƠNG TA (1400 - 1985)” đã viết không có căn cứ, cơ sở
về các việc:
1.
- Ông Ngô Miễn “đỗ Thái học sinh – Tiến sĩ”.
2.
– Ông Ngô Miễn không ra làm quan với nhà Trần mà ở nhà mở trường dạy học.
3.
– Ông Ngô Miễn đưa dân 10 họ ở Xuân Mai đi khai hoang lập ấp ở vùng Thiên Trường.
4.
– Thời điểm Ông Ngô Miễn đưa dân đi khai hoang lập ấp mới.
5.
– Thời điểm Ông Ngô Miễn “ra đi chiến đấu với giặc Minh”
6.
– Thời điểm dân hai quê cũ, mới….kỷ niệm về Ngô Miễn.
Ngô
Miễn và vợ Nguyễn thị là những nhân vật lịch sử có thật với những tiết nghĩa rất
đáng kính ngưỡng. Nhưng không thể gắn khoác cho ông, bà những điều không phải của
họ. Bịa tạc, nói sai, khoa trương thái quá về các bậc tiền nhân chẳng những
không làm cho họ vĩ đại, cao quý, linh thiêng hơn lên mà chỉ làm lu mờ họ với
những điều….giả dối, huyễn hoặc, bịa đặt !
Bạn
đọc sẽ có người không thích vì nội dung những bài viết này có những điều ngược
lại với nhận thức và niềm tin của mình và của địa phương xưa nay, xin hãy từ tốn
trao đổi nhằm mục đích cùng nhau “giải mê”, hiểu đúng, hiểu rõ hơn về các bậc
tiền nhân.
NGÔ MIỄN – ÔNG LÀ AI? – phần
3.
Ngô
Miễn qua “HỒ DƠ DI TÍCH ĐỀN XUÂN HY”
Ngô
Miễn bắt đầu được thờ phụng ở Xã Xuân Hy (tại Đền thượng gần chùa, và sau đó ở
Đền chung hiện nay từ 1930, xây dựng sau cơn cuồng phong 1929) từ đầu thế kỷ
20, những năm thời Khải Định. Năm 1989, Sở VHTT tỉnh Hà Nam Ninh kết hợp với địa
phương khảo sát, thiết lập hồ sơ về Đền để Nhà nước xếp hạng Di tích. Hồ sơ gồm
58 trang đánh máy (không kể những văn bản dịch bia, kê khảo duệ hiệu, di văn thờ
cúng ở Đền). Hồ sơ này, những năm 202X còn lưu giữ ở Phòng Văn hoá huyện Xuân
Trường (bản chụp file PDF kèm theo).
Chúng
tôi xin trích, chép lại những nội dung liên quan nói về Ngô Miễn với tư cách là
người “đưa dân 10 họ về lập làng Nhật Thi”:
-
(trang 1 – 2): “Vào cuối thời Trần, tổ tiên của 10 dòng họ cùng ông Ngô Miễn
(1) quê từ thôn Xuân Mai, xã Xuân Phương huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc
nay là xã Phúc Thắng, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội về đây thuộc phủ Thiên
Trường xứ Sơn Nam lập ra Tân ấp gọi là xã Nhật Thi,(địa phương thường gọi là
làng Thi) (2)”
-
(trang 1 – 21): ”Chính tổ tiên của 10 dòng họ cùng ông Ngô Miễn về đây đã phải
vật lộn cùng sóng gió, cuộc chiến đấu không cân sức giữa con người và thiên
nhiên đã kéo dài nhiều năm tháng đã lập lên làng xã Nhật Thi đầu tiên. Vì bãi
biển rộng mênh mông nên lúc bấy giờ tổ tiên các dòng họ chỉ ở khu vực ven đê
(3) bao gồm trên 2000 mẫu bắc bộ, đắp tuyến đê biển dài chừng 10 cây số suốt từ
giáp đường 50 thuộc xã Xuân Thượng đến đập tầu thuộc xã Xuân Hoà ngày nay nối
liền với sông Ninh Cơ (4). Còn các khu vực khác xung quanh bên trong đê thì vào
khoảng 200 năm sau nhân dân các nơi mới tiếp tục đến khai phá sinh cơ lập nghiệp
dần” (5).
-
(trang 3 - 8): “Ngô Miễn (6), Đỗ Nhân Tăng (7), Trần Thận Đoan (😎 không những có công lớn đối với nhân dân Tân ấp, được
nhân dân ở đây thờ phụng, mà cả với nhân dân Cựu quán cũng đã từng bỏ tiền nhà
ra giúp dân, nhường lại ruộng đất cho nhân dân cày cấy. Vì vậy cả bốn thôn:
Mai, Thị, Thượng, Bến cùng đều lập Đền thờ.”
-
(trang 3 - 13): “Làng Xuân Hy hiện nay như một giải lụa, nằm dọc theo dòng sông
Mã, dài gần 10 cây số. Xuân Hy phía Bắc giáp thôn Thượng Miêu (Xuân Thượng),
phía Nam giáp: Đoài Nam, Ngọc Liên, Phía Tây giáp: Lục Thuỷ, Liên Thượng, Liên
Hạ, Trung Lễ, Hạ Linh, Xuân Bảng, Kiên Lao, Ngọc Liên, Phía Đông giáp: Thuỷ
Nhai, Thuỷ Nhai Trung, Hoành Quán, Xuân Bắc, Phú Nhai, An Cư, Xuân Dương. (9)
-
(trang 16 - 4): “Sau khi đánh bại nhà Hồ, giặc Minh thống trị nước ta với âm
mưu vô cùng thâm độc. Đối với làng Thi quê cựu, chúng biết ông Ngô Miễn và dân
làng không khuất phục. Tại đây nhân dân đã tổ chức chống lại chúng từ ngày 10 đến
12 tháng Giêng năm Đinh Hợi 1407, giết của giặc một số binh sĩ (10). Cho đến
ngày nay hàng năm tại cựu quán khi làng mở hội vào ngày 10 tháng Giêng vẫn làm
24 đầu giặc Minh bằng củ chuối với ý nghĩa lịch sử đã giết được giặc. Chính vì
thế, giặc Minh đã trả thù bằng cách triệt hạ làng xóm, giết người cướp của, phá
đình chùa, tội ác này đã được khắc vào 12 bia đá mà vẫn chưa miêu tả hết lòng
căm thù (11).
Ở Tân ấp cũng vậy, giặc Minh
khủng bố tàn phá xóm làng…Có lần đích thân giặc Minh về làng đốc thuế (12), dân
đã chỉ ra vùng nước mặn, cánh đồng úng thuỷ, chúng phải chịu thua.”
-
(trang 18 – 13): “Năm 22 tuổi, triều đình mở khoa thi, ông đi thi đỗ Thái học
sinh tức là đỗ Tiến sĩ”….” (13), không ra làm quan mà mở mang trí óc cho dân và
đào tạo những học trò giỏi”…”Ông bèn xin nhà vua cho dân 10 dòng họ…ở xã Xuân
Hy xuống bờ biển thuộc Phủ Xuân Trường xứ Sơn Nam lập ấp rộng trên 2000 mẫu đặt
tên là xã Nhật Thi nay là các thôn Xuân Hy, Xuân Dương, Xuân Bảng huyện Xuân
Thuỷ, tỉnh Hà Nam Ninh”.
-
(trang 19): “Vào khoảng từ 1392 đến 1396 đời vua Trần Thuận Tôn là thời gian mở
đầu cho việc xây dựng Tân ấp Nhật Thi, đến nay đã gần 600 năm.” (14)
-
(trang 19 - 23): “…Được tin ông chết, bà vợ là Nguyễn thị Lệnh cũng tuẫn tiết
theo” (15)
PHẢN BIỆN CỦA ĐỖ HỮU TRÁC:
(Theo
từng nội dung trong hồ sơ đã dẫn và có dấu chú thích ở trên):
(1).
– Không có tư liệu nào nói việc ông Ngô Miễn đưa dân về lập làng Nhật Hy vào thời
Trần – Hồ.
(2).
– Không có chữ “THI” trong làng “Nhật THI”, “làng THI”. Vốn gốc tên làng xưa ngay từ khi thành lập
tên là “Nhật HY” (do dân gốc di cư về đây là từ xã “Xuân HY” phủ Kim Hoa Trấn
Kinh Bắc. Chữ “THI” chỉ là do viết, phiên nhầm của tác giả “Mai Thôn Phả Ký” (từ
chữ TÝ, TY = 訾) đã dẫn ở phần 1.
(3).
– Dân làng và người biên soạn Hồ sơ đã nhầm, vùng Nhật Hy xưa không có giáp biển.
(4).
– Hồ sơ Di tích đã nhầm: Đoạn đường từ gáp đường 50 thuộc xã Xuân Thượng đến cuối
xã Xuân Hoà là bờ sông Mã, không phải đê biển xưa cũng như nay.
(5).
– Rất vô lý, người đến trước khai hoang lại chọn ở bờ bãi sông, dành những cồn,
gò, bãi nổi cao ở “lục địa” cho dân đến sau (như Trà Lũ, Kiên Lao, Bích Câu…)
tiện cư trú (?)
(6).
– Không có tư liệu lịch sử nào nói ông Ngô Miễn có công đưa dân về đây lập làng
Nhật Hy vào thời Trần – Hồ.
(7).
– Ông Đỗ Nhân Tăng (Quế Phương hầu) là người có nhiều ân huệ với dân hai thôn
Thượng, Hạ xã Nhật Hy và xã Hoành Quán lân cận xen cư. Năm 1721, Ông được nhân
dân xã Nhật Hy tôn làm Phúc thần, xây dựng Đền thờ sống hai vợ chồng (Đỗ Nhân
Tăng – Đỗ Thị Ân) ở hai thôn Thượng, Hạ; được quan, dân hai xã Nhật Hy – Hoành Quán
lập khoán ước về việc làm lễ tiệc mừng hàng năm hai kỳ xuân thu (Tháng 12 tháng
2, 22 tháng 😎. Bia ghi chép việc này hiện vẫn còn lưu giữ ở Đền
Xuân Hy và Đền Xuân Bảng.
(😎. – Không hề có tư liệu nào nói về ông Trần Thận Đoan
– Trần Quận công ở hai xã Xuân Hy và Xuân Bảng. Trần Thận Đoan chỉ thấy được
nói đến trong “Mai Thôn Phả Ký” với hành trang, công đức ….y hệt của Quế Phương
hầu Đỗ Nhân Tăng. Chúng tôi ngờ rằng nhân vật Trần Thận Đoan này là nhầm “truyền
khẩu” từ Đỗ Nhân Tăng có thực mà ra.
(9).
– Làng Xuân Hy nằm dọc ven bờ sông Mã, không phải nằm “ven đê biển” như mục 4
nêu trên.
(10).
– Tin được không ?
(11).
– “12 bia đá khắc ghi tội ác của giặc Minh” là ở đâu ? Nay còn không ?
(12).
– Thuế gì vậy ạ ? Giặc Minh về tận Xuân Hy để đốc thuế khi làng mới bước đầu
hình thành thì quả là… khó tin !
(13).
– Không có tài liệu nào nói Ngô Miễn đỗ Thái học sinh – Tiến sĩ.
(14).
– Không có cơ sở, tư liệu nào nói việc ông Ngô Miễn đưa dân về lập xã Nhật Hy
những năm 1392 – 1396 cả. Làng Xuân Bảng thì lại suy đoán ông đưa dân về lập
làng năm 1400. Tất cả những sự việc, thời
điểm này chỉ là….suy diễn, đoán mò với một “ĐỊNH KIẾN”, một “MẶC ĐỊNH”…. SAI THỰC
TẾ là “NGÔ MIỄN ĐƯA DÂN 10 HỌ TỪ CỰU QUÁN XUÂN MAI VỀ LẬP RA TÂN ẤP NHẬT HY”.
(15).
– Không có tư liệu lịch sử nào nói bà vợ ông Ngô Miễn tên là LỆNH cả.
Ngô
Miễn và vợ Nguyễn thị là những nhân vật lịch sử có thật với những tiết nghĩa rất
đáng kính ngưỡng. Nhưng không thể gắn khoác cho ông, bà những điều không phải của
họ. Bịa tạc, nói sai, khoa trương thái quá về các bậc tiền nhân chẳng những
không làm cho họ vĩ đại, cao quý, linh thiêng hơn lên mà chỉ làm lu mờ họ với
những điều….giả dối, huyễn hoặc, bịa đặt giống như…”chân rắn” vậy!
Bạn
đọc sẽ có người không thích vì nội dung những bài viết này có những điều ngược
lại với nhận thức và niềm tin của mình và của địa phương xưa nay, xin hãy từ tốn
trao đổi nhằm mục đích cùng nhau “giải mê”, hiểu đúng, hiểu rõ hơn về các bậc
tiền nhân.
ĐỖ TRÁC

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét