Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

VỀ XÃ NHẬT HY NGHE AN DƯƠNG VƯƠNG THỤC PHÁN THAN THỞ / Đỗ Trác

 



      An Dương Vương Thục Phán sở hữu ”siêu vũ khí” NỎ THẦN, là một ông Vua chính vị, chính danh từ vài ngàn năm trước trong chính sử, dã sử Việt Nam ta. Sau khi bị mắc lừa mất Nỏ Thần, thua trận, An Dương Vương đã trầm mình xuống biển Nam Hải tự tận. Ngài hoá Thần và thường xuyên hiển linh giữ nước giúp dân, được nhiều triều đại về sau phong Thần, nhiều làng xã Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ thờ cúng làm Thần Thành Hoàng làng. Chỉ xét một phần phía bắc huyện Xuân Trường xưa, thời Lê - Nguyễn đã có nhiều làng xây Đền miếu thờ An Dương Vương Thục Phán – Nam Hải Phạm Đại Vương làm Thần Thành Hoàng làng: Xã Hoành Quán, Thôn Trung xã Trà Lũ, xã Hoành Vực, Xã Chuỳ Khê, Xã Thanh Trà, Xã Bích Câu, Xã Nhật Hy, Xã Hành Thiện,…

      Riêng ở xã Nhật Hy (cuối thế kỷ 19 tách riêng ra thành các xã Xuân Bảng và xã Xuân Hy, huyện Xuân Trường) số phận của Nam Hải Phạm Đại Vương – An Dương Vương Thục Phán lắm nỗi truân chuyên trôi nổi. Xin được chiêu tuyết cho Ngài thông qua các tư liệu lịch sử hiện còn ở các Di tích liên quan. Xin hãy lắng nghe lời “phản biện”, kêu oan đến xót xa lòng dạ của Thần:

 

I.   - Ở XÃ XUÂN BẢNG – THÔN HẠ - XÃ NHẬT HY.

 

        1. – Đương Cảnh Thành Hoàng Nam Hải Phạm đại vương = 當境城隍南海梵大王 vốn được cả làng xã Nhật Hy thờ cúng ở Đền làng muộn nhất là từ giữa thế kỷ 18,

2. – Được dân làng suy tôn và triều đình Lê – Nguyễn sắc phong làm Thần Thành Hoàng với nhiều đạo sắc phong rải khắp các triều Vua; (sắc lưu ở Đền xã Xuân Hy, sắc khắc lưu nội dung trên bia đá 1929 ở Đền Xuân Bảng),

3. – Đầu thế kỷ 20, kỳ lão, sắc mục, chức dịch người làng đã nhận rằng: xưa (từ thời nhà Hồ) có ông Ngô Miễn là người đưa dân làng gồm 10 họ từ Kinh Bắc về đây lập ấp, đã đề nghị Vua Khải Định sắc phong Thần và thờ cúng vợ chồng ông ấy ở Đền làng bằng hai đạo sắc phong riêng đề ngày 25/7/1924.

4. – An Dương Vương Thục Phán ta bị các kỳ lão, sắc mục, chức dịch người làng phế truất, tiếm danh, cho rằng Vị Thần ta đây có một thân phận khác, lấy tên ta để gán cho một người khác với lai lịch không rõ ràng, lấy sắc phong Thần của ta để gán cho người ấy. Đau thế chứ ! (Đặc biệt là ở Đạo sắc “râu ông nọ cắm cằm kẻ kia”, “râu An Dương Vương cắm cằm Ngô Miễn” ngày 25/7/1924 của Vua Khải Định: Ở đây Thần ta bị gọi thành “潤澤隆霑博利澄湛汪潤翊保中興相公中等神 = Nhuận Trạch Long Triêm Bác Lợi Trừng Trạm Uông Nhuận Dực Bảo Trung Hưng Nam Hải Phạm Đại Vương Ngô Tướng công Trung đẳng Thần”). 8 đạo sắc phong Thần của ta (từ Thời Lê Cảnh Hưng đến Nguyễn Duy Tân) đã bị đem gán cho là sắc phong Thần của ông Ngô Miễn và khắc ghi vào bia đá 1929 hiện vẫn lưu giữ ở Đền làng. Thậm chí, trong báo cáo gửi Chính phủ bảo hộ năm 1938 (hiện còn lưu ở Thư viện KHXH, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam : 1 - Liễu Giai – Hà Nội), chức sắc người làng Xuân Bảng do ông Lê Đức Bá – Chánh Hương hội đại diện, đã viết :”Thần Thành Hoàng làng Xuân bảng: Tên hiệu Ngài là Đức Nam Hải, sắc phong Hoành Hiệp Thượng Đẳng Thần, tên huý Ngài là Đức Ngô Miễn , Bà phu nhân Ngài sắc phong Trang Huy thượng đẳng thần, tên huý là Nguyễn Thị Lệnh 阮氏令”. Thật hết biết !

5. – Đến thời hiện đại ngành Văn hoá thông tin tỉnh Hà Nam Ninh và quốc gia cũng răm rắp tin theo các “trí ngủ” người làng trong tập sách “XUÂN BẢNG QUÊ HƯƠNG TA” (biên soạn, xuất bản năm 1985), đã gạt hẳn Thần ta ra ngoài Hồ sơ di tích và trên thực tế ở Đền làng Xuân Bảng không còn thờ lễ gì ta nữa.

6. – Hậu quả là, khi làng xã tổ chức hội hè, tế lễ tưng bừng ở Đền làng (ngày 11-12/2 AL) từ cuối thế kỷ 20 đến bây giờ không hề còn thỉnh mời gì đến Thần ta nữa mặc dù rằng Thần ta trong mấy trăm năm qua, đối với chốn này, đã “hộ quốc tí dân, nhẫm trứ linh ứng”. Tủi lắm thay !

 

II. - Ở XÃ XUÂN HY – THÔN THƯỢNG – XÃ NHẬT HY.

 

1. – Đương Cảnh Thành Hoàng Nam Hải Phạm đại vương = 當境城隍南海梵大王vốn được cả làng xã Nhật Hy thờ cúng ở Đền làng – xây dựng ở phía bắc làng, gần chùa Xuân Hy,

2. – Được dân làng suy tôn và triều đình Lê – Nguyễn sắc phong làm Thần Thành Hoàng với nhiều đạo sắc phong rải khắp các triều Vua; (đầu thế kỷ 21 vẫn còn 9 đạo sắc phong lưu ở xã Xuân Hy (bao gồm: 1 đạo thời Vua Lê Chiêu Thống – cuối thế kỷ 18, 1 đạo thời Vua Nguyễn Minh Mạng, 2 đạo thời Vua Nguyễn Thiệu Trị, 2 đạo thời Vua Nguyễn Tự Đức, 1 đạo thời Vua Nguyễn Đồng Khánh, 1 đạo thời Vua Nguyễn Duy Tân, 1 đạo thời Vua Nguyễn Khải Định), Thần hiệu của ta được khắc trên bia đá dựng năm Canh Ngọ 1930 với lời văn của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên người làng Hành Thiện và nét khắc của ông Phó Quản cơ Đặng Văn Giao người làng, bia này hiện vẫn còn lưu giữ ở Đền Xuân Hy),

3. – Đầu thế kỷ 20, kỳ lão, sắc mục, chức dịch người làng đã nhận rằng xưa có ông Ngô Miễn là người đã có công đưa dân làng từ Kinh Bắc về đây lập ấp, đã đề nghị Vua Khải Định sắc phong Thần và thờ cúng ông ấy ở Đền làng bằng 2 đạo sắc phong (năm 1917 và năm 1924) với danh hiệu không thống nhất (“Thánh Tổ Ngô Tướng Công chi Thần” và “Thánh Tổ Ngô Tướng Công Đại Đức Tôn Thần”). Ở đây xã không đề nghị và không có Sắc phong cho vợ ông Ngô Miễn – Nguyễn thị. Thần hiệu của ông Ngô Miễn ở xã Xuân Hy cũng khác ở xã Xuân Bảng nêu ở trên.

4. – Đến cuối thế kỷ 20, các kỳ lão, trí thức người làng khi nghiên cứu, viết cuốn “LỊCH SỬ LÀNG THI” (biên soạn, xuất bản năm 1985), có lẽ không khảo đọc sắc phong, bia đá ở làng, chỉ nghe mấy lời truyền miệng thiếu căn cứ, nên đã không nói nhắc gì đến Thần ta là Thần Thành Hoàng vốn được tôn thờ ở Đền làng từ khi mới xây dựng sau khi lập ấp và cho đến đầu Thế kỷ 21 này tượng, bài vị thờ của Thần ta vẫn còn ở Đền làng.

5. – Cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, Sở Văn Hoá Thông Tin tỉnh Hà Nam Ninh khảo lập hồ sơ di tích chỉ nghe mấy bậc “trí ngủ” ở làng, chẳng quan tâm gì đến sắc phong, bia đá, tượng, bài vị thờ hiện vẫn lưu ở Đền làng, đã bỏ qua Thần ta khi lập Hồ sơ Di tích. Buồn lắm thay!

6. – Hậu quả là, khi làng xã tổ chức hội hè, tế lễ ở Đền làng (ngày 20-21 tháng 8 AL) từ cuối thế kỷ 20 đến bây giờ không hề còn thỉnh mời gì đến Thần ta nữa dù sắc phong Thần của ta, bia đá ghi danh ta, tượng và Thần vị thờ của ta vẫn còn ở Đền và trong mấy trăm năm qua, với chốn này, Thần ta đã “hộ quốc tí dân, nhẫm trứ linh ứng”. Tủi lắm thay !

      Rồi Thần Nam Hải Đại Vương – An Dương Vương Thục Phán kết luận:

      Các kỳ lão, sắc mục, chức dịch, trí thức u mê người làng Nhật Hy cận, hiện đại thật sự đã có lỗi với ta, rồi họ sẽ phải trả giá thôi cháu ạ, “gieo nhân nào thì gặt quả đó” mà. Hãy đinh ninh câu này: “Họ bắn vào quá khứ, lịch sử bằng cung đơn, tương lai, hậu thế sẽ nã vào họ bằng NỎ THẦN”. Chuyện tâm linh không đùa giỡn, cẩu thả được đâu! Tin ta đi !

      Về việc tôn thờ ông Ngô Miễn (người đã tiếm danh ta) và vợ Nguyễn thị, cũng như vị “Trần Quận Công” ở Đền làng từ hơn trăm năm nay, Thần ta sẽ “bộc bạch” rõ hơn vào một dịp khác bằng những tư liệu, văn bản cụ thể, chỉ ra những ngộ nhận, lầm lẫn của các bậc “thức giả” người làng và cơ quan văn hoá (kể cả một “nhà sử học nổi danh” tầm quốc gia nữa), góp phần “giải mê” cho cộng đồng làng xã về hai ông ấy và cũng mong cháu thông tin giúp Thần ta tới những người tỉnh táo, tôn trọng tiền nhân, lịch sử nhé! Đừng để cho cái tệ nạn “dĩ hư truyền hư” này lan rộng ra mãi !

      Nói xong, Thần hầm hầm giận dữ như khi vừa biết mất trộm Nỏ Thần, Thành Cổ Loa bị phá, phất tay áo….thăng!

 

        ĐỖ TRÁC







Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét