Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

NHÀ GIÁO NGUYễ̃N NAM CHUNG BÌNH BÀI THƠ “TRONG THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ” CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC

 



          Nguyễn Nam Chung là nhà giáo dạy văn của một trường trung học tại huyện Buôn Đôn tỉnh Đăk Lăk. Từ quê tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Nam Chung đã đi vào những cuộc chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đọc tập hồi ký “Khoảng đầu đời” thì biết ông đã là lính trinh sát tham gia các chiến dịch Khe Sanh (Quảng Tri 1968), chiến dịch Đường chín nam Lào (1971), rồi chiến dịch Quảng Trị (1972)... Đi nhiều nơi Nguyễn Nam Chung đã chứng kiến bao cảnh: Đầu rơi máu chảy nên khi đọc bài thơ “Trong Thành Cổ Quảng Trị” của Đồng Thị Chúc, ông xúc động và cùng cảm xúc với tác giả thơ rồi viết ra những lời cảm nhận thật đồng điệu , thật xúc động.

          Tác giả thơ trân trọng cảm ơn nhà giáo Nguyễn Nam Chung.

          Nhân dịp kỷ niệm 30-4 CDT giới thiệu với bà con bài bình của nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Nam Chung cho bài thơ “Trong Thành Cổ Quảng Trị”.

          Trân trọng. CDT

 

          ĐỒNG THỊ CHÚC VỚI BÀI THƠ “TRONG THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ” / Nguyễn Nam Chung

 

          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mảnh đất Quang trị từng là nơi:

          Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc

          Một dấu chân in màu đất hai miền…

                                      (Thơ Lê Bá Dương)

          Riêng với thành cổ Quảng Trị sau 81 ngày đêm năm 1972, còn để lại sự ám ảnh như một "Oa- Téc- Lô" ở Việt Nam với bao thế hệ. Từ những người trực tiếp tham gia cuộc chiến may còn sống sót đến những thế hệ sau, đi thăm được chứng kiến những hiện vật, những bức ảnh và được nghe các hướng dẫn viên thuyết minh, chỉ dẫn cho những người đến tham quan nơi mảnh đất cổ thành về diễn biến của 81 ngày đêm.

          Hầu như tất cả mọi người họ đều có tâm trạng giống nhau.

          Đồng Thị Chúc là một trong những khách đến tham quan như thế. Chị không thuộc lớp người của những thế hệ sau, chị cũng từng là người lính nhưng chỉ biết về thành cổ Quảng Trị qua Bản đồ, đài và báo chí; mãi 40 năm sau chị mới có dịp đặt chân tới… Chị đến thành cổ với tư cách của một cựu chiến binh, một khách tham quan cùng một tâm hồn thơ ắp đầy trong chị. Những đoàn người nhẹ bước nối tiếp nhau theo ngữ điệu bổng trầm của người hướng dẫn viên, để trở về sống lại. Rồi dần chìm vào quá khứ của mảnh đất này. Đã có những tiếng nấc to và những dòng nước mắt tuôn trào khi đi qua ngôi mộ chung và nghe người hướng dẫn viên thuyết minh hầu như tất cả mọi người đã khóc còn chị thì không, chị tâm sự: "mọi người thì khóc, nhưng mình đã không thể khóc"… Có phải chị là người lạnh lùng vô cảm? Có lẽ là không! Bởi nếu là người vô cảm thì không thể có những giây lắng lại để "Động giấc nồng chiến binh". Bằng lối tư duy rất "Bồ Đề", chị cảm nhận thấy dưới lớp đất mà "Bước chân… nhẹ như không"… này còn biết bao người đang sống ở cõi mênh mông huyền ảo bên kia; dường như tất cả họ đều còn rất trẻ. Nói như nhà thơ Nguyễn Hồng Hà thì họ còn là "Những chấm hồng trong tranh" còn với Đồng thị Chúc thì họ là… "những kiếp trung trinh / Ngã rồi chưa một chút tình lứa đôi"…  Những người đã ra đi hầu hết họ còn rất trẻ; vào thành cổ phần đông họ đang là sinh viên của các trường Đại học, hồi ấy thanh niên dù bất kỳ là ai dù bất kỳ ở đâu cũng đều hướng về tiền tuyến tất cả đều rất sẵn sàng cho giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà. Có những người thuộc diện được miễn hoãn như Lê Xuân Chinh mồ côi cha từ nhỏ còn một mẹ một con mà anh vẫn tình nguyện lên đường đi chiến đấu, để làm nên một "nụ cười chiến thắng"- qua ống kính của nhà nhiếp ành, nhà báo dũng cảm và tài hoa: Đoàn Công Tính; ngay trên mảnh đất cổ thành Quảng Trị, nơi mỗi người phải hứng chịu hàng trăm quả đạn pháo, hàng nghìn tấn bom để giữ từng tấc đất thấm đẫm máu của hàng chục nghìn người… Nụ cười ấy đã gặp chị Đồng Thị Chúc, và có lẽ nói cho chính xác hơn là nhà thơ đã gặp được nụ cười ấy, để mà thổn thức, để mà suy tư về những nụ cười vô tư của những chiến sĩ đang ở trong cái tầm máu xương chồng chất ấy; nụ cười vô tư ấy mách bảo với chị về cái tư thế sẵn sàng chiến đấu và cũng rất sẵn sàng hy sinh; để rồi giúp chị nhận ra một điều như là chân lý mới nghe thấy hơi là lạ theo chị đó là: "Chân lý cho người vô tư"…

          …Vô tư chết, vô tư cười

          Cứ như chân lý cho người vô tư"…

          Có lẽ đỉnh của sự vô tư ấy là nụ cười… sẽ còn lưu lại mãi trong viện bảo tàng, để lại mãi mãi cho các thế hệ con cháu mai sau; cùng với những sơ đồ trận đánh; cùng với những bảng thống kê đầy ắp những chiến công và đồng thời còn đó là đầy ắp những nỗi đau lan tỏa trong tâm thức của mỗi người dân Việt cho đến bây giờ. Đến đó mới thấy sự kinh hoàng đến không thể tin nổi cũng từng là người lính mà chị đang trực tiếp mắt nhìn những hiện vật, tai nghe những số liệu thống kê mà chị đâu có tin bởi vậy nên chị đã kinh ngạc đến ngỡ ngàng mà thốt lên:

          Chuyện nghe thực tưởng là hư

          Sao mà tin được thế ư nơi này?...

          Là một nhà thơ đấy, và đây cũng là những câu thơ ở chính giữa bài thơ đấy nhưng chẳng thấy một chút thơ nào, mà đấy chỉ là những lời kể, lời tự sự trần trụi trở thành lời than, ngay trong chị những những giây phút ấy đã có sự chuyển đổi: Biến những cảm nhận thành nỗi đau, chỉ nỗi đau đến đỉnh điểm mới thốt ra những lời than vụng về dân dã như vậy: "Sao mà tin được thế ư nơi này" chẳng khác nào những tiếng kêu trời, than trời khi gặp những nỗi đau, khi thấy những điều tai bay vạ gió, nó như sự phản ứng tự nhiên diễn ra bất chợt trước một sự bất ngờ nhưng được trào ra từ tim, từ óc!...

          Cũng là một người lính trong những năm tháng ấy tôi cùng đơn vị cũng có mặt tham gia trong cuộc chiến khốc liệt này tại thành cổ; tôi cũng từng ôm bạn đã hy sinh, mà máu đồng đội thấm đẫm vai áo mình; nhưng với tôi lúc đó chỉ coi đấy là nhiệm vụ chứ làm gì có thời gian mà sợ hãi đến kinh hoàng. Ở trong cái sự thật "sống" ấy chỉ lo đến giải quyết công việc… chứ còn đâu chỗ giành cho những giây phút ngậm ngùi, nếu có chăng chỉ là khi đã xong công việc rồi có lúc nhớ lại nhưng cũng nuốt vào trong bởi khi ấy luôn nghĩ rằng: "Biết đâu lúc nữa, biết đâu ngày mai rồi sẽ đến lượt mình…"

          Cám ơn chị Đồng Thị Chúc đã khơi dậy trong tôi cái cảm xúc mà chính người trực tiếp trong cuộc thường không có cái cảm xúc ấy, bởi có lẽ sự thật phũ phàng ác liệt thường làm cho con người lì lợm thêm chăng…

          …Trở lại với bài thơ chị Chúc kể: Từ khi rời khu thành cổ lên xe chị im lặng và tối đó đặt bút viết câu đầu tiên:

          "Tôi về thành cổ chiều nay

          Giữa chang chang nắng, giữa say say nồng…

          Chẳng biết cái say ấy của chị là "say nắng" hay say vì bị chuyếnh choáng của những nỗi đau mà chị vừa chứng kiến rồi liên tưởng thấy. Thế là chị viết, viết như người "Thăng đồng" vậy, viết một mạch chỉnh chang sơ qua rồi gửi đến trang Nguyễn Trọng Tạo (NTT) ngay trong đêm. Sáng ra mở máy đã thấy bài thơ lên trang rồi; thật lạ, bất kỳ một tác giả nào khi bài viết của mình nhất là thơ được đăng ở đâu đó thì thường rất mừng sẽ ngồi mà nhâm nhi đọc lại; nhưng chị thì không! Chị đã "đóng máy bởi cảm thấy đầu óc quay cuồng"… Có phải đây là một hiện tượng lạ trong thế giới của những người viết lách. Bài thơ TRONG THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ của chị đã ra đời như thế! Một bài thơ có thể nói rất "mộc". Chị cho biết: Trước và trong khi viết bài này chị lặng im không khóc nhưng nếu đọc kỹ bài thơ thì thấy chị đã khóc nhiều thậm chí rất nhiều… chị như một người vừa gặp sự cố gì đó đau đớn lắm giống như một sự mất mát thương đau mà chị đang vừa khóc vừa kể lại với bạn mình; mà lời kể như thế thì sẽ rất thật thà mộc mạc chứ làm sao mà chau chuốt đánh bóng được ngôn từ…

          Đọc thơ chị hầu như ta thấy bài nào cũng được sử dụng những từ ngữ hình ảnh giản dị mà đầy ắp yêu thương, lấp lánh giá trị nhân văn. Với bài Trong thành cổ Quảng trị cũng không là ngoại lệ.

          Đăk Lăk tháng 12-2017

             Nguyễn Nam Chung

 

          TRONG THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

                                                Đồng Thi Chúc

          Tôi về Thành cổ chiều nay

Giữa chang chang nắng giữa say say nồng

          Bước chân dù nhẹ như không

Mà sao thấy động giấc nồng chiến binh.

 

          Ở đây những kiếp trung trinh

Ngã rồi chưa một chút tình lứa đôi

          Vô tư chết vô tư cười

Cứ như chân lý cho người vô tư.

          Chuyện nghe thực tưởng là hư

Sao mà tin được. Thế ư, Nơi này?

          Giá như chỉ có một ngày

Máu xương đâu dễ chất dày... giá như...?

 

          Hỏi Người, Người chỉ ậm ừ

Ngước lên tôi cũng vô tư hỏi Trời

          Biết rằng Trời chẳng trả lời

Thôi đành tự quất vào người, mà đau.

 

                             TCTr tháng 6-2012 ĐTC

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét