(Đọc “Dấu ấn thời gian. Tập Thơ - văn tuyển chọn Đỗ Phú Nhuận)
Cầm trong tay tập sách dầy, chủ yếu là thơ. Bao nhiêu truyện đời say đắm mênh mông, gần xa, vui buồn lay động, mà mỗi bài, câu thơ gói ghém.
(Đọc “Dấu ấn thời gian. Tập Thơ - văn tuyển chọn Đỗ Phú Nhuận)
Cầm trong tay tập sách dầy, chủ yếu là thơ. Bao nhiêu truyện đời say đắm mênh mông, gần xa, vui buồn lay động, mà mỗi bài, câu thơ gói ghém.
Nằm
khuất nẻo sau những tán cây xanh mát trên con đường Trường Chinh quen thuộc thuộc
phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định( Nay là phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình),
có một người đàn ông mà những ai yêu mến và nghiên cứu lịch sử quê hương đều
dành cho ông một sự kính trọng đặc biệt. Đó là ông Trần Mỹ Giống – nguyên Trưởng
phòng Địa chí Thư mục, Thư viện tỉnh Nam Định. Không ồn ào, không náo nhiệt,
ông như một "người gác đền" thầm lặng, cần mẫn gom nhặt từng mảnh
ghép ký ức của Nam Định xưa và nay.
Tôi
mới đi viện về còn rất mệt thì thằng cháu con ông bạn qua thăm. Nhân tiện nó hỏi
tôi mấy câu về háo danh. Tôi chép lại trình các cụ ạ. Tất nhiên thằng cháu thật
thà cứ người thật sách thật mà xướng lên, nhưng tôi quyết định không ghi tên
sách tên người cụ thể để tránh rầy rà. Kinh nghiệm này tôi đã trải mấy lần rồi,
xin để dịp khác kể ạ.
1.
Yêu nhau từ thuở còn thơ
Nào ai biết được… ai ngờ mai
sau…
Ru em ngày đã đổi màu
Lời ru có những “… trái sầu rụng
rơi…”
Cà phê giọt đắng đọng rơi
Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy
chung
Yêu thương dẫu có vô cùng
Nào ai biết được… ngàn trùng
nhớ mong
Trái tim rạn vỡ trong lòng
Tình xa, tình lỡ… xoay vòng
buồn thiu
Thương nhau ngày ấy thật nhiều
Không duyên, không nợ hắt hiu
tình buồn
Thôi đành “…cắt dứt dây
chuông…”
Ai thương, ai nhớ, ai buồn,
ai say
Cuộc tình mòn mỏi hao gầy
Áo hồng chưa mặc thì nay mất
rồi…
Tôi quen biết và trở nên thân thiết với Trần Mỹ Giống mấy chục năm nay; cũng nhờ trên văn đàn mà từ từ chúng tôi hiểu ý nhau và thân nhau. Từ đó trở đi tôi mới hiểu rõ cuộc đời của anh. Từ một anh sinh viên đang ngồi trên giảng đường đại học năm thứ 4; lệnh tổng động viên phải nhập ngũ. Học xong khóa quân sự cơ bản, bị đưa vào cuộc chiến khốc liệt Quảng Trị, may mắn thoát chết. Trở ra Bắc theo yêu cầu của quân đội, anh tiếp tục học sĩ quan lục quân; rồi tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc chống bọn bành trướng Trung Quốc.
Tôi lật tìm một vệt mực chưa
khô
Trên tấm bản đồ vừa thay tên
đổi họ
Ngón tay chạm vào Kiến Xương,
Thái Bình xưa cũ
Mà nghe như chạm vào khoảng
trống hư vô.
.
BÀN TAY NGỠ CHE MẶT TRỜI
Trên đỉnh cao
danh vọng
ngửa mặt hô
vang:
Ta là ánh sáng
là chân lý huy
hoàng
là Vinh quang?
Văn Mới đình bản từ 31 – 5 – 2026.
https://vietvanmoi.fr/index.html
Bản tin làm tôi buồn ngơ ngác. Cảm ơn bác Từ Vũ và Ban biên tập Việt Văn Mới đã đăng tải nhiều tác phẩm của tôi trong nhiều năm qua. Việt Văn Mới đình bản, nhưng trong lòng tôi hình ảnh Việt Văn Mới vẫn mãi mãi sáng đẹp… Chép lại trang thư mục Việt Văn Mới viết về tôi:
Sáng
ra quán nước mua cốc trà nóng về uống cho tỉnh ngủ thấy cậu trai trẻ nhìn quen
quen mặc áo chú rể đỏ choét chuẩn bị lên xe đi rước dâu. Hỏi cô bán bánh bao đầu
ngõ mới nhớ ra chú rể ngày bé thường sang nhà chơi với "anh Đặng Tuấn
Hưng", kém anh Đặng Tuấn Hưng chừng 5, 6 tuổi.
Người gom bạc vàng như gom
chiếc lá
gió vừa sang mùa đã cuốn xa
bay
Kẻ ôm quyền cao tưởng đời còn
mãi
nào hay đêm dài phủ trắng đôi
tay
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm
ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ
đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió
lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng
chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa
ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như
gần…
Đọc những tiểu luận của tác giả Đặng Xuân Xuyến về Ngũ hành và Tử vi, người ta không thấy cái vẻ thần bí, hù dọa thường gặp ở các thầy tướng số mà lại thấy bóng dáng của một trí thức đang ưu tư về nhân sinh. Cống hiến lớn nhất của ông chính là việc gạn đục khơi trong cổ học phương Đông bằng nhãn quan thực chứng, giúp hóa giải cái gọi là "mê hồn trận" vốn làm nản lòng bao thế hệ người học lý số.
1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới
nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi
tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm
say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu
thương…
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt
vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài
tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời
mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man
mác buồn…
(Cảm nhận khi đọc “Mẹ là chút nắng cuối đông”
của nhà thơ, nhà giáo Trịnh
Đình Bích)
Chiều
qua, nhận được tập thơ “LỐI VỀ”, món quà quý nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích
gửi tặng, tôi ngồi chậm rãi đọc rồi bỗng khựng lại khi gặp bài thơ “Mẹ là chút
nắng cuối đông” bởi những hình tượng ẩn dụ vừa lạ vừa quen, nơi “cái nắng cuối
đông” mỏng manh lại trở thành biểu tượng bất diệt cho hơi ấm tình mẫu tử. Bài
thơ không chỉ là tiếng lòng hiếu nghĩa mà còn là một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm
về lẽ vô thường và giá trị của sự hiện diện - một thông điệp nhân văn mà tác giả
đã chắt chiu gửi gắm qua từng nhịp thở của chữ nghĩa.
Tháng Năm rồi mà trời trở gió
ngang
Chút rét mồ côi đậu trên
nhành lá biếc
Anh đứng đợi em, lòng riêng
thầm tiếc
Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt
bàn tay.
.
Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ
hây hây
Sen hồ kia đã bắt đầu xòe
cánh mỏng
Ai biết được cái hanh hao se
bóng
Lại tìm về giữa mùa hạ chói
chang.
.
Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ
ngàng
Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa
Em có đến hay em còn lần lựa
Sợ ngoài đường sương muối đọng
vai thon.
.
Anh vùi tay sâu trong túi áo
sờn
Nghe hơi thở hóa thành làn
khói nhẹ
Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và
khe khẽ
Dỗ dành anh bằng một chút heo
may.
.
Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng
đây
Gom hết gió mùa đông vừa lạc
tới
Để lúc em sang giữa dòng người
mải miết
Ủ ấm bàn tay, bù lại những
hao gầy...
Cuộc trò chuyện này được khởi nguồn từ cuộc tranh biện gay gắt giữa Tiến sĩ Hà Thanh Vân và Nhà thơ Trần Hạ Vi những ngày đầu tháng 5 năm 2026 về những lời “cáo buộc” việc sử dụng AI trong sáng tác thơ ca và phản biện văn chương.
1-
BÌNH ĐỊNH, QUY NHƠN
CÔNG VIÊN NGUYỄN SINH SẮC,
NGUYỄN TẤT THÀNH
Đến Bình Định tìm đường cứu nước
Đường đi tới xa xăm phía trước
Bác lên tàu… bôn ba…Pháp, Nga
Tư tưởng Mác - Lê… dẫn dắt dân ta
Bài thơ “Đêm Yên Dũng” của tôi được tuyển in trong cuốn “Thơ Nam Định 5 năm đầu thế kỷ” của Hội VHNT Nam Định do Nxb. Hội Nhà văn ấn hành năm 2006.
NHÀ VĂN NGUYỄN KHẢI - TỪ
NIỀM TIN ĐẾN TỰ VẤN LÒNG
Trong hành trình văn học của Nguyễn Khải, người đọc dễ nhận ra hai chặng rõ rệt: Một thời kỳ của niềm tin chắc nịch, và một thời kỳ của những câu hỏi tự vấn chính mình.
LUẬN TIỀN
Tiền trao tráo nửa nụ cười
Là bao ân nghĩa cả đời đi
tong
Lòng người cuộn nước đục
trong
Chữ tâm phó mặc tiền đong phận
người.
*.
Hà Nội, sáng 21 tháng 04/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
1.
Quê xưa lâu lắm mới về
Vẫn làng xóm cũ, vẫn quê
thanh bình
Rêu phong phủ kín mái đình
Cây đa quên tuổi, một mình
đơn côi
Phù sa bên lở bên bồi
Thương con sông cũ bồi hồi
phân vân
Hàng dừa, hàng bắp bâng
khuâng
Giàn bầu, giàn mướp bao lần
trổ bông
Nghe con nước lớn, nước ròng
Gửi theo dòng chảy nỗi lòng dạt
phiêu
Cuối chiều nắng tỏa liêu xiêu
Tiếng chuông rơi nhẹ, sáo diều
vấn vương
Bóng Cha… bóng lúa thân
thương
Một đời, một nắng, hai sương
nhọc nhằn
Mẹ ơi… như kiếp con tằm
Chắt chiu nhả lụa tháng năm dặm
dài…
Đọc bài TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ CỦA NGŨ HÀNH của tác giả Đặng Xuân Xuyến, cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn mà ông viết như đang tâm sự cách nhìn đời qua lăng kính của Ngũ hành một cách tỉnh táo và nhân bản. Ông không nhìn lá số theo kiểu "vơ đũa cả nắm" hay hù dọa bằng những lời tiên tri huyền bí, mà tỉ mỉ bóc tách từng lớp quan hệ giữa Mệnh, Cục, Cung và Sao. Đây chính là một cống hiến thực tế, giúp người học Tử vi thoát khỏi cách đoán mò để bước vào thế giới của sự logic và định lượng.
Thuận bằng tuổi tôi, học cùng tới cấp 3 nhưng chỉ chơi thân với nhau mấy năm cấp I. Về vai vế họ hàng thì tôi gọi Thuận là cậu xưng cháu, họ cũng xa xa rồi, cỡ nếu Thuận là con gái có yêu đương với tôi thì trong họ cũng không ai phản đối. Nhà tôi ở xóm Chùa, đầu làng, còn nhà Thuận ở giữa làng, đi bộ đến nhà nhau chắc chỉ hết mươi, mười lăm phút. Ngày học cấp I, Thuận hay rủ tôi vào nhà chơi, cứ gọi tôi là anh xưng em, tình cảm lắm, mà Thuận toàn khen tôi đẹp trai học giỏi rồi đợi lúc tôi phổng mũi vì được khen là Thuận nhẹ nhàng dúi vào tay tôi con dao để băm bèo, cái chổi để quét nhà, quét bếp... Thuận khôn lắm, chả ngây ngô như tôi, như thằng Chủ, thằng Oanh,... Rõ ràng Thuận cao hơn tôi, trắng hơn tôi, đẹp trai hơn tôi, nếu chấm điểm, Thuận xứng đáng điểm 10, còn tôi chiếu cố thì may ra được 5 điểm, vậy mà Thuận luôn nắm tay tôi, chớp chớp mắt nhìn tôi rồi thủ thỉ: - Xuân ơi, ước gì em đẹp trai như anh, sau này em sẽ làm cho khối đứa con gái phải có con với em...
Sáng mấy hôm trước đi làm lại Căn cước ở trụ sở công an phường, anh công an lớn tuổi nhìn tôi ngạc nhiên hỏi: - "Anh mới tẩy nốt ruồi ở bên cánh mũi trái à?". Tôi ngớ người: - "Không! Mình cũng không biết mũi mình có nốt ruồi.". Anh công an ít tuổi nghe tôi nói vậy cứ tủm tỉm cười nhìn tôi đầy nghi hoặc. Tôi vội phân trần: - "Thật mà! Mình không hề biết mình có nốt ruồi ở mũi và cũng không biết tại sao nốt ruồi đó lại biến mất.". Có vẻ 2 anh công an đều không tin lời tôi nói vì việc một người không hề hay biết về một đặc điểm nhận dạng ngay trên khuôn mặt mình suốt mấy mươi năm là một điều vô lý.
Bài nghiên cứu “Trạng nguyên Đào Sư Tích cuộc đời và giai thoại” của tôi đã đăng nhiều trang mạng, in trên báo tạp chí, in cả trong sách “Trạng nguyên Đào Sư Tích”…
(Tặng các bạn K6 ĐHTL Hà Nội khoá 1964-1969)
Trần Đăng Tính
Về
thăm bãi Lão hôm nay
Bãi xưa trẻ lại… Vải cây xanh
rờn
Ẩn
mình dưới bóng đa Dùm
Xum xuê cành lá, bọc đùm sinh
viên…
Dừng
chân suối Mỡ thân quen
Khu sinh thái mới mọc lên lẫy
lừng…
Suối
trong còn nhớ tôi không?
Ngược dòng kiếm sỏi… ước mong
đem về
Gặp
dòng thác Bạc… thích ghê…
Gặp em sơn nữ mải mê nương
chiều
Cánh
cò bạt gió phiêu diêu
Đền Trung, đền Thượng chuông
kêu vọng lời
Em
cười e lệ bên tôi
Núi Huyền, sông Lục… Tình người
vấn vương…
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi
thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ
cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh
trong
Chích chòe réo gọi hừng đông
lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi
bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi
bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài
thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng
bềnh…
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
.
Tôi nhớ, người ta một cuối
năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
.
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều
năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt
tăm.
.
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa
xăm...
.
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
Giữa vô số những bài phê bình phim đầy rẫy thuật ngữ chuyên môn hay những lời tán dương sáo rỗng trên mặt báo, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến về bộ phim Bố Già (Web drama) của Trấn Thành hiện lên như một nốt trầm khác biệt. Không đứng ở vị thế của một nhà lý luận hàn lâm để mổ xẻ, Đặng Xuân Xuyến nhìn bộ phim bằng đôi mắt của sự trải đời và trái tim của một người bố. Những cảm nhận của ông không chỉ dừng lại ở việc bóc tách cái hay, cái dở của một sản phẩm giải trí, cũng không chỉ là một bản "giải mã" kỹ thuật điện ảnh mà còn là một bức tâm thư đầy tinh tế, kết nối giữa thực tại nghiệt ngã của nghệ thuật thương mại và vẻ đẹp vĩnh cửu của tình thân.