Bài nghiên cứu “Trạng nguyên Đào Sư Tích cuộc đời và giai thoại” của tôi đã đăng nhiều trang mạng, in trên báo tạp chí, in cả trong sách “Trạng nguyên Đào Sư Tích”…
Bài nghiên cứu “Trạng nguyên Đào Sư Tích cuộc đời và giai thoại” của tôi đã đăng nhiều trang mạng, in trên báo tạp chí, in cả trong sách “Trạng nguyên Đào Sư Tích”…
(Tặng các bạn K6 ĐHTL Hà Nội khoá 1964-1969)
Trần Đăng Tính
Về
thăm bãi Lão hôm nay
Bãi xưa trẻ lại… Vải cây xanh
rờn
Ẩn
mình dưới bóng đa Dùm
Xum xuê cành lá, bọc đùm sinh
viên…
Dừng
chân suối Mỡ thân quen
Khu sinh thái mới mọc lên lẫy
lừng…
Suối
trong còn nhớ tôi không?
Ngược dòng kiếm sỏi… ước mong
đem về
Gặp
dòng thác Bạc… thích ghê…
Gặp em sơn nữ mải mê nương
chiều
Cánh
cò bạt gió phiêu diêu
Đền Trung, đền Thượng chuông
kêu vọng lời
Em
cười e lệ bên tôi
Núi Huyền, sông Lục… Tình người
vấn vương…
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi
thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ
cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh
trong
Chích chòe réo gọi hừng đông
lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi
bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi
bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài
thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng
bềnh…
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằm
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
.
Tôi nhớ, người ta một cuối
năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
.
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều
năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt
tăm.
.
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa
xăm...
.
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
Giữa vô số những bài phê bình phim đầy rẫy thuật ngữ chuyên môn hay những lời tán dương sáo rỗng trên mặt báo, bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến về bộ phim Bố Già (Web drama) của Trấn Thành hiện lên như một nốt trầm khác biệt. Không đứng ở vị thế của một nhà lý luận hàn lâm để mổ xẻ, Đặng Xuân Xuyến nhìn bộ phim bằng đôi mắt của sự trải đời và trái tim của một người bố. Những cảm nhận của ông không chỉ dừng lại ở việc bóc tách cái hay, cái dở của một sản phẩm giải trí, cũng không chỉ là một bản "giải mã" kỹ thuật điện ảnh mà còn là một bức tâm thư đầy tinh tế, kết nối giữa thực tại nghiệt ngã của nghệ thuật thương mại và vẻ đẹp vĩnh cửu của tình thân.
Suốt từ ngày 24 tháng 3 đến nay, Đông La cứ lên facebook lại lảm nhảm: "thằng Đặng Xuân Xuyến trí thấp tâm tối", "chịu cứng không thể phản bác bài tôi đã viết", "tưởng chê được Nhà văn Đông La thì mình cũng số 1 tài năng", rồi "Xuyến đã xuyên tạc sự thật, xúc phạm danh dự công dân, đã phạm pháp".....
TRẦN MỸ GIỐNG
THOÁNG BÓNG VĂN NHÂN
(Tuyển bút ký, nghiên cứu,
phê bình)
NHÀ XUẤT BẢN ...
LỜI THƯA
Thưa các bạn đọc kính mến!
Tôi là Trần Mỹ Giống, tuổi Kỷ Sửu, quê xã
Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1971, đang theo học năm thứ
tư đại học thư viện, tôi nhập ngũ. Năm 1972 – 1973 tôi là chiến sĩ Trung đội vệ
binh Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1974 tôi học
khóa 35 Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Ra trường, tôi được điều về làm Trợ
lý Ban tuyên huấn Sư đoàn 338, bảo vệ biên giới phía Bắc tại Đình Lập, Lạng
Sơn. Năm 1981 tôi chuyển ngành học tiếp rồi về công tác đến khi nghỉ hưu tại
Thư viện tỉnh Nam Định.
Yêu cầu công tác phụ trách mảng địa chí
thư mục, phải sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, tuyên truyền về địa phương, trong
đó có mảng nhân vật chí. Tôi đã viết một số bài giới thiệu tác giả, tác phẩm
địa phương đăng báo và tạp chí. Nay tôi tuyển chọn một số bài đó in thành tập
sách đặt tên là “Thoáng bóng văn nhân”. Tự biết bản thân kiến văn nhỏ hẹp, năng
lực có hạn, tôi chỉ dám viết về những nhân vật của quê hương Nam Định theo nhận
thức của cá nhân, chú trọng nhân vật ít người nói đến. Tên sách là “Thoáng bóng
văn nhân” mang hàm ý soạn giả chỉ cung cấp cho bạn đọc về nhân vật, tác phẩm
một cách sơ lược. Tất nhiên, số lượng nhân vật được đề cập trong sách chỉ là
một phần nhỏ, còn nhiều nhân vật của Nam Định khác mà tôi bỏ qua (vì kiến văn
hẹp, hiểu biết quá ít, hoặc nhân vật đã có quá nhiều người viết mà tôi lại
không có phát hiện riêng)…
Nội dung sách được bố cục:
- Các nhân vật Nam Định xếp theo thời gian sống.
- Giới thiệu tác phẩm của một số tác giả Nam Định.
- Một số bài có tính chất phản biện được xếp cuối
sách.
Nhiều bài viết đã đăng báo, tạp chí ký
tên tác giả: Trần Mỹ Giống, Trần Thanh Minh, Trần Thị Thanh, Trần Tuấn Phương,
Trần Hoàng, Trung Thực, Đinh Thị Khế… Đó đều là những bút danh của Trần Mỹ
Giống. Có một số bài ký tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống nay
cũng được tuyển vào sách này dưới tên một tác giả là Trần Mỹ Giống. Nguyên do
là: Tôi và anh Hoàng Dương Chương cùng là cán bộ Thư viện tỉnh Nam Định, hiện
nay cùng sinh hoạt ở Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định và Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam – Nam Định. Một thời chúng tôi ghi tên hai tác giả trong các bài viết
của mình… cho vui. Năm 2008, anh Hoàng Dương Chương thống nhất với tôi: Bài của
ai trả về cho người đó để thuận lợi khi làm tuyển tập cá nhân. Vì thế, có một
số bài trước đây ghi tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống (như các
bài viết về Trần Tung, Xuân Trình, Văn Cao… vốn do tôi viết) nay được trả về
cho tác giả đích thực.
Riêng một số bài phản biện, tôi có sử
dụng tư liệu dịch của nhà nghiên cứu Hán - Nôm Dương Văn Vượng, hoặc sử dụng tư
liệu, góp ý thiết thực của nhà nghiên cứu Trịnh Thị Nga nên tôi ghi rõ tên các
tác giả cộng tác dưới bài viết.
Chắc chắn tập sách còn nhiều khiếm
khuyết, tôi vẫn hy vọng, “Thoáng bóng văn nhân” sẽ đem đến cho bạn đọc hiểu
khái quát về một số nhân vật, tác giả, tác phẩm của đất Nam Định quê tôi.
Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Thành Nam, tháng 12 - 2021
Trần Mỹ Giống
NGÔ MIỄN - ÔNG LÀ
AI? Phần 1.
Ngô
Miễn qua sách “LỊCH SỬ LÀNG THI”
Ngô Miễn bắt đầu được thờ phụng ở Xã Xuân Hy (tại Đền thượng gần chùa, và sau đó ở Đền chung hiện nay từ 1930, xây dựng sau cơn cuồng phong 1929) từ đầu thế kỷ 20, những năm thời Khải Định. Những năm trước 1980 việc thờ cúng ở các Đền, chùa, lăng, miếu ít được chú ý, thậm chí còn bị coi là “mê tín dị đoan”. Sau năm 1980 các thiết chế tâm linh vật thể và phi vật thể được phục hồi, các làng xã, ngành văn hoá thông tin đã chú ý định hình các di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc tâm linh của người xưa. Nhiều làng xã đã hình thành nên các Tổ nghiên cứu lịch sử quê hương. Ở xã Xuân Hy (lúc đó là làng Xuân Hy thuộc xã Xuân Thuỷ, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Hà Nam Ninh), Tổ nghiên cứu lịch sử quê hương đã tập hợp các bậc cao niên, các trí thức am hiểu lịch sử đất nước, làng quê, biết ít nhiều tư liệu Hán Nôm, tham khảo nhiều tài liệu lịch sử của làng cựu (Xã Xuân Phương – Phúc Yên) và làng anh em vốn cùng 1 xã xưa (Xã Xuân Bảng, huyện Xuân Thuỷ), hội thảo bàn bạc công phu và biên soạn, in typo cuốn sách “LỊCH SỬ LÀNG THI”. (1) (ảnh chụp bìa sách và 68 trang sách kèm theo).
Được bạn bè chuyển cho xem ảnh chụp những dòng chua chát của nhà văn Nguyễn Quang Lập về “thói đời tình người” rất thật trên facebook cá nhân ngày 14 tháng 6 năm 2025: "Bạn bốn phương toàn bạn nhậu, hơn nghìn lít rượu may lắm mới có một người son sắt thuỷ chung. Một người giúp chục kẻ phá, một người chân thành chục kẻ đểu giả. Ngó quanh khó thấy kẻ thật bụng thương mình, toàn đám giả cầy ngoài thơm trong thối, bán bạn 10 xu cũng bán. Thế mà vẫn cứ đánh đu với chúng nó. Là bốn cái ngu. Đại ngu. Tứ đại ngu hu hu hu..". Tôi khá đồng cảm với chia sẻ của ông vì tôi đã từng có đôi lần rơi vào tâm trạng như thế. Tôi lại nhớ tới lời "tâm sự thật”, thật đến phũ phàng của nhà văn Dương Thu Hương về "giới phê bình" qua lời kể của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh mà thấy thương, thấy tồi tội những người "đam mê con chữ": "Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thầy tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ là con chó ngao”.
Ngày
10 – 3- 2026: là ngày hẹn của Viện Huyết học và truyền máu trung ương lần thứ 11. Cả đêm thao
thức, dậy sớm. Bà lão lo cơm nước ăn sáng. Con út tiêm tiểu đường và cho bố uống
thuốc các loại. 5 giờ sáng tắc xi Sinh xuất phát. Nhà thơ tiến sĩ Trần Văn Cường
điện bảo:
- Hôm
nay tôi cũng đưa bà xã đến khám lấy thuốc. Đông quá. Tôi lấy số khám từ 6 giờ
sáng mà thứ tự đã hơn 200 số rồi. Tôi lấy số khám cho bác nhé!
- Dạ, cảm ơn bác. Tôi lên thẳng khoa bác ạ.
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân
mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày
trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây
trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ
cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng
trong
Đam mê tình tứ một lòng keo
sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu
đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim
chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình
không phai…
An Dương Vương Thục Phán sở hữu ”siêu vũ khí” NỎ THẦN, là một ông Vua chính vị, chính danh từ vài ngàn năm trước trong chính sử, dã sử Việt Nam ta. Sau khi bị mắc lừa mất Nỏ Thần, thua trận, An Dương Vương đã trầm mình xuống biển Nam Hải tự tận. Ngài hoá Thần và thường xuyên hiển linh giữ nước giúp dân, được nhiều triều đại về sau phong Thần, nhiều làng xã Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ thờ cúng làm Thần Thành Hoàng làng. Chỉ xét một phần phía bắc huyện Xuân Trường xưa, thời Lê - Nguyễn đã có nhiều làng xây Đền miếu thờ An Dương Vương Thục Phán – Nam Hải Phạm Đại Vương làm Thần Thành Hoàng làng: Xã Hoành Quán, Thôn Trung xã Trà Lũ, xã Hoành Vực, Xã Chuỳ Khê, Xã Thanh Trà, Xã Bích Câu, Xã Nhật Hy, Xã Hành Thiện,…
Tôi đọc “Hương Quê” của tác giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bình bài thơ này. Thi thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú “thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn.
(Họa bài thơ CON MUỐN VỀ QUÊ
NỘI, NỘI ƠI
của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)
Con về đây... giữa tuổi đã
trung niên
Tìm lại dấu chân xưa vùng Gia
Viễn
Dòng sông cũ, sóng tràn trên
mặt nước
Đầm Vân Long... vương vấn một
câu hò.
.
Ngược lối mòn con tìm đến Cầu
Bo
Lời hứa cũ cứ nghẹn ngào nhắc
nhở
Bà đi rồi... để lòng con vụn
vỡ
Biết ai người dẫn bước lối
xưa theo?
.
Tiếng chuông chùa vọng lại
phía chùa Keo
Nghe huyền thoại về thiền sư
Không Lộ
Nền gạch cũ in dấu hài thuở nọ
Dựng giang sơn... rạng rỡ những
trang hùng.
.
Ước một lần mang sức vóc trẻ
trung
Ngồi nghe Nội kể chuyện đời
dâu bể
Để hiểu thấu chữ Nhân nồng hậu
thế
Giữa cõi người... nhân nghĩa
mãi lên hương.
.
Dẫu hôm nay ngăn cách những nẻo
đường
Gia Viễn, Cầu Bo... mờ sương
lối đợi
Nhưng trong dạ vẫn vẹn nguyên
tiếng gọi:
Nội đi rồi... con vẫn hướng
tâm theo!
*
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn
Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Sinh thời, cụ Nguyễn Du cũng giỏi làm thơ cổ phong và
Đường luật. Truyện Kiều là thơ lục bát nhưng nghiên cứu kỹ, ta thấy rất nhiều
câu mang tính chất đối ngẫu (tiểu đối), ví dụ như:
Làn
thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Hồi ức
của CCB Trần Thị Nhật Tân
Tôi sinh năm 1942, CCB đánh Mỹ. Ký ức về Thủ tưởng Phạm Văn Đồng tài ba còn in đậm trong tim tôi. Ấn tượng việc thủ tướng đến hội nghị Giơ ne vơ, lời lẽ mềm dẻo mà đanh thép buộc thực dân Pháp phải chấm dứt xâm lược Việt Nam. Hai mươi mốt năm chiến đấu đuổi để quốc Mỹ. Nhân dân cả nước vô cùng khó khăn mọi mặt, nhất là lương thực. Những năm sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước dân ta đói nghiêm trọng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng vác rá đi xin gạo tấm của Ấn Độ cứu đói cho dân. Chúng tôi CCB đánh Mỹ đã đói lả, giành được hoà bình còn bị đói. Chúng tôi và dân Việt Nam không bao giờ quên ơn cứu đói của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Riêng tôi có kỷ niệm nhớ đời với thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đó là vào một ngày cuối tháng 8 năm 1988 tôi vào Nxb Thanh Niên 64 Bà Triệu, nhà văn Chu Thành bảo: “A Nhật Tân! Em sang ngay TW đoàn gặp biên tập Trần Quốc Hưng buổi phát thanh thanh niên. Mấy tháng anh liên tục sang đây hỏi xem có tin gì về Trần Thị Nhật Tân chưa? Thư ký của bác Phạm Văn Đồng bảo Trần Quốc Hưng tìm Trần Thị Nhật Tân để Cụ hỏi tình hình Côn Đảo. Làm sao Nhật Tân đến được Côn Đảo? Viết bút ký “Đảo gọi” gửi ra Đài TNVN phát trên sóng. Cụ nghe được, Đảng, Chính phủ nghe được hỏi nhau Trần Thị Nhật Tân là ai? Ở đâu? Tìm ngay. Em sang gặp anh Trần Quốc Hưng ngay đi. Anh ở trong lều cót ép mấy mét sau lưng biệt thự 62 Bà Triệu. Tối rồi chắc anh Hưng đã ở Đài về rồi.” Tôi đến trúng túp lều của anh Hưng. Anh nằm sấp dưới nền gạch đọc bản thảo. Tôi chào: “Em chào anh Trần Quốc Hưng. Em là Trần Thị Nhật Tân tác giả “Đảo gọi” mà anh cần tìm”. “Ồ em trẻ nhỉ”. “Em bốn tư tuổi rồi trẻ gì”. “Sao em tóm trúng anh”. “Em lính đánh Mỹ 1964. Anh nói cho em biết đến số nhà phố nào để gặp bác Phạm Văn Đồng? Mai em đi. Giờ em về bên anh Chu Thành ngủ một giấc. Từ Côn Đảo về đây gian khó, rụng rời tay chân anh ơi”. “Gần 19 giờ rồi em ăn bát mì ống với anh, rồi anh đưa nhuận bút Đảo gọi cho em.” “Em không nhận. Em còn tiền”.
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy
cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi
mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiêng chim Chiền Chiện trên đồng
hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng
chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa
vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng
chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi
lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo
xanh xao…
CHUYẾN XE LÊN PHỐ
Sáng nay em lại lên Hà Nội rồi...
Tay xách nách mang, quà quê
gói ghém bao nhiêu cho đủ
Tôi cứ đứng bên em vụng về và
tư lự
Muốn nắm tay thật lâu mà sợ
nghẹn lời chào.
.
Xe nổ máy rồi, em gượng nụ cười trao
Mắt ngoảnh lại nhìn tôi qua ô
cửa kính
Tôi vẫy tay mà lòng mình bất
định
Ngỡ như em mang cả hơi ấm Tết
đi xa.
.
Hà Nội ngoài kia, phố xá người
ta
Lại hối hả, lại ồn ào bụi bặm
Em đi làm xa, đường đời vạn dặm
Cố giữ lòng mình đừng quá nỗi
cô đơn.
.
Đừng ăn vội bát cơm, đừng thức
muộn dỗi hờn
Lúc mệt mỏi cứ quay đầu nhìn
lại
Ở phía sau em vẫn có anh đứng
đợi
Giữ chút lửa hồng từ bếp củi
đêm đông.
.
Tôi đứng lặng yên giữa bến
bãi mênh mông
Nhìn khói xe tan vào làn
sương mỏng
Lòng bỗng sợ cái khoảng không
im lặng
Khi trở về nhà... không còn thấy em bên.
Trong
dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm"
của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự
lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy
xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt
nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể
vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
TÔI
LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
1.
Điện
thoại réo. Là số lạ, hắn không nghe. Chuông đổ dài inh ỏi đến chục cuộc, điếc
tai, hắn mới chịu nhấc máy.
Vừa
mới: - "Vâng. Tôi đây..." đã nghe chát chúa phía đầu dây bên kia: -
Đang vần con nào mà mãi mới chịu nghe điện thoại thế?
Hắn
nhíu mày, cộc lốc:
-
Ai đấy?
-
Em đây. Miu Miu bé bỏng đây.
Hắn
giật thót người, suýt đánh rơi điện thoại.
Phía
đầu dây bên kia phá lên cười, đắc chí: - "Ngạc nhiên lắm phải không? Lát
em gửi địa chỉ, tối đến em.". Rồi cụp máy. Hắn thần người. Mặt bạc ra. Mồ
hôi rịn trên trán, môi mấp máy không thành tiếng....
Trong
hành trình đi qua những đổ vỡ, có lẽ câu hỏi khiến chúng ta ray rứt nhất chính
là: Tại sao mình lại có thể yếu lòng đến thế vì một người vốn dĩ chẳng hề xứng
đáng? Có những giọt nước mắt rơi xuống, nóng hổi và đắng ngắt, không phải vì đối
phương quá quan trọng hay vĩ đại, mà bởi vì trái tim ta đã trót trao đi quá nhiều
mà chẳng nhận lại được bao nhiêu. Ta đau không hẳn vì họ tốt đẹp, mà vì ta đã từng
dốc lòng tin rằng họ sẽ tử tế. Ta khóc không hẳn vì họ đáng giá, mà vì ta đã đặt
để vào họ quá nhiều kỳ vọng, để rồi khi thực tại phũ phàng ập đến, ta bàng
hoàng nhận ra mình vừa đánh mất cả một bầu trời hy vọng.
Tôi trôi trong thời gian
Không gian
“Vật chất tối – Dòng Ngân Hà”
Mênh mang
Tôi trôi trong gian nan
“Dòng đời bao xao xiết…”
Tôi trôi trong em
“Hoa – Tình da diết”
Tôi trôi trong tôi
“Ngời biếc xanh”
Những vần thơ viết về Mẹ và ký ức nông
thôn trong dòng chảy của thơ ca đương đại không hề hiếm, nhưng để chạm được vào
cái hồn cốt của sự chân thực thì không phải tác phẩm nào cũng làm được. Bài thơ
"Nhớ ngày xưa" của nữ thi sĩ Nguyễn Quỳnh là một lát
cắt đầy ưu tư, nơi tác giả dùng thể lục bát để ngược dòng thời gian, tìm về
những mảnh vỡ của một thời gian khó nhưng lấp lánh nghĩa tình.
NHỚ NGÀY XƯA
Mẹ ta gian khó đã từng
Miếng sung thì chát, miếng gừng
thì cay
Sinh ra bám đất ruộng cày
Nắng mòn chân rạ héo gày cuộng
rơm
.
Bây giờ thương nghiệp kiếm cơm
Làm sao hạt gạo chẳng thơm như
mùa
Nhớ ngày nước mặn bùn chua
Cá cờ lội ngược cơn mưa chạy đồng
.
Cái thời con dại lại đông
Thuế sưu bồi đắp chất chồng hai vai
Tháng năm ngắn, tháng ba dài
Bát cơm đấu gạo chỉ vài ngày no
.
Tép đồng tương mặn khế kho
Sắn khoai vùi bếp tiếng hò trẻ
thơ
Đói no gắng gượng mẹ chờ
Chị anh khôn lớn cậy nhờ bấy nhiêu
.
Tôi thì chả đỡ được nhiều
Thu rơm quét thóc mỗi chiều cơn
mưa
Bây giờ ngồi nhớ mẹ xưa
Bao năm xa cách lòng chưa hết buồn
.
Vinh hoa mà nhớ cội nguồn
Những ngày xưa ấy như khuôn tạc
đời!
NGUYỄN
QUỲNH
1.
Người về cùng với xuân quê
Mùa xuân trở lại, người về
quê hương
Dẫu cho mưa nắng gió sương
Người quê đón nhận yêu thương
chan hòa…
Hừng đông chim ríu rít ca
Mái nhà xưa cũ vỡ òa vui tươi
Nắng xuân về với nụ cười
Mầm non đón ánh mặt trời mong
manh
Sông xuân dòng nước xanh xanh
Chiếc xuồng nho nhỏ chòng
chành xa xa
Cánh cò bay lả bay la
Bay qua sông vắng, bay xa
giang đầu
Đồng xuân xanh thẳm một màu
Một đàn cò trắng, trắng phau
trên trời
Đồng xanh thấp thoáng bóng
người
Áo nâu, nón lá Mẹ cười…”Ngày
xưa.”…
Từ khi sát nhập ba hội văn học nghệ thuật tỉnh hồi tháng 6 năm 2025, đây là lần họp mặt đầu tiên mời toàn thể hội viên về dự. Tôi háo hức đăng ký đi họp, nhưng sát ngày họp lại phải báo không đi được vì sức khỏe không tốt, lại sắp đến ngày hẹn khám tiểu đường huyết áp ở tỉnh, rồi ngày hẹn đi Viện huyết học truyền máu trung ương khám truyền đợt thứ 12…