(Lời
bình của AI oppen)
DẠI – KHÔN
Lang
thang giữa chốn chợ người
Dại khôn, khôn dại suốt đời dại
khôn
Ngẫm
ra dại lại là khôn
Bể dâu muôn thuở dại khôn lựa
thời.
Việt Thắng
(Lời
bình của AI oppen)
DẠI – KHÔN
Lang
thang giữa chốn chợ người
Dại khôn, khôn dại suốt đời dại
khôn
Ngẫm
ra dại lại là khôn
Bể dâu muôn thuở dại khôn lựa
thời.
Việt Thắng
Thời kỳ bùng nổ internet đã thay đổi hoàn toàn cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ cần một chiếc máy tính, điện thoại gõ vài dòng rồi tìm kiếm. Người ta có thể có ngay hàng triệu thông tin. Ngày trước, muốn tìm một tư liệu phải vào thư viện, lần từng khu, từng ngăn, có khi mất cả ngày. Ngày nay, cả kho tri thức nằm trong một chiếc điện thoại.
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Dành cho người bạn đời Nguyễn Thị Cúc)
ĐÔI LỜI LY BIỆT
Mình ơi!
Sao mình nỡ bỏ đi xa
Để tôi sớm tối vào ra một mình
1.
Quê hương xa lắm thân thương
Nỗi buồn xa xứ vấn vương mong
chờ…
Người về tìm khúc “…Ầu ơ…”
Lời ru xưa cũ, tuổi thơ xa mù
Lời ru có “…Gió mùa thu…”
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru
trong ngần
Đồng chiều vọng tiếng chuông
ngân
Bờ tre nghiêng ngã ngại ngần
liêu xiêu
Nhẹ nhàng trong gió phiêu
phiêu
Sáo ai đổ tiếng, trời chiều đồng
khô
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô dập
dìu
Hoàng hôn thèm một cánh diều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay
qua
Cơm chiều mắm muối, dưa cà
Thảo thơm hạt gạo đồng xa ngọt
bùi…
(Nhân
sự việc nhân thế, suy ngẫm về những gương tiền nhân).
Lịch sử nhân loại đã nhiều lần chứng minh: Thắng được thiên hạ dễ hơn thắng được lòng người. Hàn Tín dựng nên cơ nghiệp nhà Hán, cuối cùng lại chết dưới chính lưỡi gươm của triều đại mình tạo dựng. Nhạc Phi tận trung với Nam Tống, rốt cuộc ngã xuống bởi lòng đố kỵ và quyền mưu. Câu Tiễn phục quốc nhờ mưu lược của Phạm Lãi và Văn Chủng. Ngày đại nghiệp thành công, Phạm Lãi nhìn thấu lòng người nên lặng lẽ rời bỏ quyền thế, còn Văn Chủng ở lại rồi bị ép phải tự vẫn. Lịch sử đổi thay, triều đại này tan triều đại khác soán ngôi. Con người đổi áo mão cân đai; duy chỉ có tham sân si… vẫn mang nguyên một khuôn mặt từ ngàn xưa đến ngàn sau.
SỰ ĐỜI
Trò
đời lắm cuộc bể dâu
Công danh thoáng chốc bạc
nhàu gió bay
Bập
bênh danh ảo đổi thay
Bao điều tưởng vững hóa mây
cuối trời
Chuông
tàn còn vọng tiếng rơi
Áo xiêm rũ bỏ nghiệm đời: sắc
không
Lọc
lừa những gánh cùng gồng
Chẳng sao qua nổi sắc không
ta bà
Nhìn
qua ngoảnh lại đời qua
Danh hư, bạc ảo chỉ là khói
sương
Tham
sân si…bả bọc đường
“Lên voi xuống chó” lẽ thường
nhục vinh.
CẢM TÁC KHI NHÌN ẢNH
(Nhân kỷ niệm ngày thương
binh liệt sĩ).
Bao năm vẫn tựa lưng nhau
Dẫu rằng dâu bể, bể dâu đổi dời
Lặng im xương trắng chẳng dời
Đất ôm di cốt thương người
chiến chinh
Lưng kề giữa chốn điêu linh
Chết rồi vẫn giữ nghĩa tình
trước sau
Rừng sâu hun hút rừng sâu
Mưa mài đá núi bạc màu thời
gian
Hỡi ai còn luận mất còn
Thấu chăng xương trắng héo
mòn gió sương
Nhìn hình hai cốt còn vương
Bao năm ngong ngóng cố hương
gọi về
Khói hương đời vẫn lê thê
Chỉ còn thân quyến não nề nhớ
nhau
Cỏ xanh phủ kín nương dâu
Lòng người còn giữ chút màu
xót xa?
Việt Thắng
Nhà
thơ Lưu Sơn Tự đến thăm và tặng trang chủ hai tập thơ ông vừa xuất bản.
1.111
BÀI THƠ TỨ TUYỆT : [Tập thơ tứ tuyệt ngũ ngôn] / Lưu Sơn Tự. – H.: Văn học,
2026. – 627 tr. ; 23 cm. – Sách bìa cứng có bọc rất trang trọng.
THẾ
GIỚI TÔI ĐI VÀ ĐẾN : Thơ / Lưu Sơn Tự. – H.: Văn học, 2025. – 174 tr. 21 cm.
1. Điều được – cái hay của bài thơ
Bài
thơ có tấm lòng thành, xuất phát từ sự ngưỡng mộ và thương nhớ nhà thơ Quang
Dũng – tác giả Tây Tiến. Ngôn từ giản dị, chân thật, không cầu kỳ, thể hiện
đúng tâm tình một người lính cũ hoặc một người tri âm.
Nhiều
câu thơ gợi lại bối cảnh, âm vang của Tây Tiến:
“Đường
lên Tây Tiến bao ‘khúc khuỷu’
Mưa
rừng gió núi nắng chơi vơi”
rõ
ràng là gợi từ câu của Quang Dũng:
“Dốc
lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo
hút cồn mây súng ngửi trời”.
Nhà
thơ đã dẫn lại theo cách riêng, giữ được âm hưởng gian nan, hiểm trở.
“Sông
Mã gầm sôi cơn sóng mạnh”
→
gợi nhớ câu:
“Sông
Mã gầm lên khúc độc hành”.
Vẫn
là Sông Mã hùng vĩ, vẫn vang dội nỗi nhớ bạn bè đã ngã xuống.
“Bạn
bè chiến hữu giờ đâu tá?!” → rất đời thường, rất chân chất, cho thấy nỗi nhớ
thương đồng đội nay đã vắng.
Một
số đoạn còn mang nét mộc mạc mà dễ thương:
“Hành
quân vượt núi ‘cơm lên khói’
Ấm
tình quân dân hội đuốc hoa”
→
không chỉ nhắc gian lao, mà còn gợi tình quân dân ấm áp, gần gũi.
Nhìn
chung, ưu điểm nổi bật là sự chân thành. Cái “nhớ” của tác giả không tô vẽ, mà
bộc bạch thẳng thắn, rất đúng với tinh thần tưởng nhớ người bạn văn – bạn lính.
Đồng dao là một trong những kho báu kỳ lạ nhất của văn học dân gian Việt Nam. Kỳ lạ vì càng đọc càng thấy vừa quen vừa lạ. Có bài giản dị như lời mẹ ru. Có bài như một câu đố không ai giải hết. Có bài đọc lên thấy nghĩa rõ ràng. Có bài tưởng như chỉ là những âm thanh ríu rít để lũ trẻ cười vang giữa sân đình.
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm
trong anh
Tiếng em giọng nói thanh
thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em… Anh…”
ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một
lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng
tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời
bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình
nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong
tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm
nồng…
.
Ai rồi cũng phải chết
còn sống còn lê lết tiền bạc,
công danh
Trò đời thì quá đành hanh
"Lên voi xuống chó"
cỏ xanh nấm mồ.
CẢM TÁC KHI NHÌN ANH THỢ RÈN
( Riêng tặng: Thợ rèn Vũ minh Tiến).
Suốt ngày anh uốn với đập
Cả cuộc đời anh dập chả lên
khuôn
Lửa hồng nung quắt tâm hồn
Mồ hôi nhỏ xuống tủi luồn thớ
gang
Bạc đầu vẫn nợ trần gian
Gia tài chỉ có cơ hàn bủa
vây.
Vũ Việt Thắng
.
8 giờ sáng 13 tháng 7 năm 2026 tác giả “Dòng xoáy” Trần Thị Nhật Tân rời cõi tạm về miền "Mây trắng" sau gần nửa năm kiên cường chịu đựng bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối.
Bạn rủ tôi về thăm làng Đá
Sao mãi ngẩn ngơ gốc đa già
Nụ cười sao thoảng nhiều nét
lạ
Mắt thắm sao giờ đắm xót xa.
Quê tôi ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, giáp ranh với Hà Nội. Từ ngày kinh tế mở cửa, làng quê cũng thay da đổi thịt. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, nhiều khu công nghiệp mọc lên, rồi cả những khu nghỉ dưỡng sang trọng. Đổi lại, những cánh đồng lúa, đồng rau lần lượt bị thu hẹp.
Kỳ này tôi trình các cụ tấm ảnh chụp Ban tổ chức lớp tập huấn chính trị cho cán bộ cơ sở F338 tại Đình Lập cuối năm 1978, chuẩn bị tư tưởng tinh thần chiến đấu chống Tàu xâm lược, do Ban tuyên huấn chủ trì.
Tấm ảnh này chụp khoảng năm 1977 tôi nhớ không chính xác. Trong số đó có các trợ lý Ban tuyên huấn F338:
1.
Quê hương đẹp mãi trong mơ
Tình quê gắn với tuổi thơ xa
vời
Quê nhà đẹp mãi ngàn đời
Nhớ ngày xưa cũ rong chơi
trên đồng…
Trời xanh, xanh thẳm mênh
mông
Bức tranh Thủy Mặc dòng sông,
con đò
Bờ sông đợi, bến nước chờ
Có người viễn xứ bên bờ nhớ
xưa
Quê nhà mưa nắng hai mùa
Thảo thơm hạt gạo nắng mưa ngọt
lành
Nhà nghèo vách đất, mái tranh
Nồi cơm chín tới, bát canh đậm
đà
Cơm chiều mắm muối ngày qua
Bình yên, thanh đạm chan hòa
vui tươi
Tri âm chén rượu, nụ cười
Xưa nay ai cũng quý người thủy
chung…
(Cảm xúc khi nghe bạn văn Trần Mỹ Giống kể)
Tôi có mấy ông bạn đồng niên, đồng ngũ. Cuối đời bị ung thư. Một số đã ra đi, còn vài ông bạn vẫn đang sống lây lất với căn bệnh quái ác. Tháng nào anh cũng phải khăn gói lên Hà Nội truyền hóa chất. Tiền bảo hiểm chi trả phần lớn, bản thân chỉ bù thêm dăm ba triệu đồng.
Đây là ảnh chụp đội chiếu phim số 1 của Nhà văn hóa (Câu lạc bộ) f338 trước khi lên đường phục vụ dài ngày các đơn vị cơ sở. Từ trái qua phải: Dũng lái xe, Hòa thuyết minh, Dũng máy nổ, Trung quay phim.
Năm 1971 tôi đang học năm thứ tư Đại học
thì có lệnh nhập ngũ về Trung đội vệ binh Trung đoàn 101 của Sư đoàn 325. Năm
1972 chúng tôi chiến đấu ở Quảng Trị. Có thời gian, E101 F325 được điều trực
thuộc Sư đoàn 320. Phó Tư lệnh F320 là trung tá Đào Dũng, trực tiếp chỉ huy
E101 của F325. Vài lần tôi và Quỳnh đi bảo vệ ông xuống đơn vị trực thuộc nắm
tình hình. Có bận qua suối, ông đeo giầy da nên cứ lúng túng. Tôi xung phong
cõng ông qua suối, nhưng Quỳnh bảo:
- Để em, anh gầy thế nhỡ ngã thủ trưởng
thì sao.
Nói rồi Quỳnh khom lưng cõng thủ trưởng qua suối.
1- Khoảng cuối năm 1976 con gái tôi theo chú ruột lên thăm bố đóng quân ở Thậm Thình Vĩnh Phú rồi ở chơi hơn một tháng. Con bé mới ba tuổi, rất ngoan. Hàng ngày nó tha thẩn chơi với các chú các ông các cô, đến bữa ăn cơm độn mì bộ đội. Bữa ấy tôi phải đi công tác xuống các đơn vị cơ sở bảy ngày, không thể đem con theo. Hai cô bộ đội ở đại đội thông tin nhận trông nom con bé. Hoàn thành đợt công tác, tôi đón con, cảm ơn hai đồng đội bằng việc dùng máy cơ đen trắng chụp hai cô một kiểu. Cô nhỏ tên là Lan. Hai cô giờ thế nào cho bố con tôi biết nhé. Con bé giờ đã lên bà nội rồi hai… cụ ạ.
1.
Xa quê xứ lạ dung thân
Trong lòng vẫn mãi bâng
khuâng trông chờ…
Quê nhà đẹp tựa bài thơ
Sông dài nối những bến bờ
chiêm bao
Chiều buông vạt nắng hanh hao
Gió đùa sóng lúa dạt dào mông
mênh
Cánh diều no gió thênh thênh
Trời xanh xanh thẳm bồng bềnh
mây trôi
Gió lùa mây xuống góc trời
Ráng chiều sắc đỏ chơi vơi dạt
dào
Nắng chiều rũ bóng xanh xao
Xô nghiêng chiều tím ngã vào
hoàng hôn…
Những ngày chớp biển mưa nguồn
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng buồn
ru con
Lời ru tha thiết héo hon
“Cái cò lặn lội… nỉ non…”
chung tình…
Người xưa có câu: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Đối với thơ ca, điều ấy càng đúng hơn. Một bài thơ hay không nằm ở số lượng chữ nghĩa được sử dụng, nó nằm ở khả năng cô đọng cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh trong một dung lượng ngắn gọn. Cho nên việc lựa chọn từ ngữ luôn là công việc quan trọng bậc nhất của người làm thơ.
SUY NGẪM
Chẵn bảy mươi chồi hạ chuốt
xanh
Hồng trong giỏ mắt nụ xuân
lành
Bên vườn lộc biếc ngờ thu cảnh
Trước ngõ đông vàng mở lựu
nanh
Bạc lá gày thân nào bỏ rễ
Chàm da hoại gốc vẫn vươn
cành
Hoa lòng rạng rỡ trời bung
tím
Vỏ thắm tươi hồn dạ vẫn đanh.
Kỷ niệm tuổi 70 - Tháng
5-2024
Về phố Thái Hà thật là phiêu
Chợ cóc lùi xa, gió mượt nhiều
Và kìa phố nhỏ Trần Quang Diệu
Hè thoáng, vườn hoa trổ sắc
yêu.
.
Nhà thơ Nguyễn Văn Nhiếp tặng trang chủ tác phẩm:
Nguyễn
Văn Nhiếp đời và thơ. – [Nam Định: Cơ sở in Vũ Hữu Lợi, 2025]. – 248 tr. : Nhiều
ảnh màu ; 20 cm.
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi
thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh
bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ
bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông
trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt
ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối
đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái
tê…
Thằng cháu ngoại
hỏi tôi:
- Gần đây, cháu có đọc một bài viết trên trang Nam Định đất và người hay là trang Nam Định xưa và nay cháu nhớ không rõ, có bài của một tác giả cháu cũng không nhớ tên, bây giờ tìm lại thì không được. Tác giả bài này có bảo Phạm Ứng Thuần nhà thơ trào phúng không phải là nhân vật chí Nam Định, có đăng kèm bài thơ của Phạm Ứng Thuần. Phạm Ứng Thuần có phải nhân vật chí Nam Định không ông?
Cô ấy ngày xưa, em biết
không
Thắt đáy lưng ong, mặt
trắng hồng
Nghe bảo phải lòng anh cơ động
Mười mấy Đông rồi cứ ngóng
trông...
*