TRẦN THỊ NHẬT TÂN
Dòng đời
Tiểu thuyết
Ngày 2 – 1 – 2014
Trần Thị Nhật Tân
Mẹ Tổ quốc sinh tôi
Nhân dân nuôi dưỡng tôi
Thành nhà văn nổi tiếng
Tôi ơn mẹ ơn đời.
Chương 1
1961
Xuống bến ô tô
Chiều đến ga Hàng Cỏ, tôi hỏi thăm cụ
bán nước đường đến bờ hồ Hoàn Kiếm. Cụ bảo:
- Cháu đi thẳng đường Trần Hưng Đạo.
Đến ngã tư Bà Triệu, cháu rẽ tay trái, cứ đi thẳng cháu gặp hồ Hoàn Kiếm. Xe
điện đi Hà Đông đỗ ở bên kia hồ, phố Đinh Tiên Hoàng.
Nhớ lời cụ bán nước chỉ dẫn, tôi cắm
đầu rảo bước trên hè phố Hà Nội. Người đi đường ngạc nhiên nhìn tôi vã mồ hôi
như tắm. Có người còn dừng lại nhìn chằm chằm tôi. Tôi nghĩ: Chắc mình xấu xí
quá, nên người Hà Nội nhìn mình như kẻ lạc loài. Đi mãi, đi mãi tôi chưa thấy
Bà Triệu đâu, lòng tôi hoang mang, hay mình đi lạc? Không, mình vẫn đi thẳng,
không rẽ đâu, sao lâu đến Bà Triệu thế? Tôi đặt phịch tay nải xuống gốc cây xà
cừ ngồi nghỉ. Một bà cụ tay xách làn mây đựng rau đi đến, vuốt má tôi:
- Ôi! Cháu bé xinh đi đâu một mình với
cái tay nải to thế?... Bà nhấc thử xem nào. Ối giời!... Nặng quá! Cháu bé gầy
như cây sậy, sao mang được nặng thế? Cháu đi đâu?
- Cháu thưa bà, cháu đến trường trung
cấp Bưu điện ở cây số 10 đường Hà Nội - Hà Đông ạ.
- Cháu đi thăm ai?
- Dạ thưa bà, cháu vào học ạ.
Bà cụ tròn mắt ngạc nhiên:
- Cháu đi học trung cấp Bưu điện ư?...
Cháu mười mấy tuổi?
- Dạ, cháu mười ba. À quên, cháu mười
tám ạ.
Bà cụ cười rũ:
- Cháu nói dối 18 tuổi. Không phải
tuổi thật nên cháu không nhớ. Tuổi thật cháu 13 phải không?
- Dạ vâng ạ!
- Bố mẹ, anh em cháu đâu không đưa
cháu đi học? Cháu ở tỉnh nào?
Tôi rơm rớm nước mắt:
- Thưa bà… mẹ cháu mất… bố cháu ốm.
Cháu không có anh em ạ. Thầy giáo Hiến khai tăng tuổi cho cháu học trung cấp
Bưu điện. Thầy Hiến bảo cháu là em bé chăm ngoan, học giỏi, ít tuổi cũng làm
việc được ạ. Cháu quê
Bà cụ xúc động nắm cổ tay tôi:
- Thương quá! Đôi mắt cháu sáng như
hai ngôi sao thế kia là thông minh lắm. Cháu gầy gò quá. Gương mặt cháu lại
hồng hào như thiên thần.
Bà cụ nhìn ra xa vẫy gọi:
- Xích lô!... Ới xích lô!... Xích lô!...
Bác xích lô đạp xe nhanh về phía chúng tôi. Bà cụ hỏi:
- Bác chở cháu bé này đến bến xe điện bờ hồ đi Hà
Đông, bằng nào tiền?... Đây, tôi trả tiền trước bác. Bác chở cháu đến đúng
đường xe điện đi Hà Đông nhá! Cháu lên xe đi – Bà cụ dắt tay tôi kéo lên xe.
Tôi ngần ngừ chùn lại:
- Cháu không đi xích lô. Cháu…
- Bà cho tiền xe cháu. Bà trả tiền bác xích lô rồi.
- Không! Bố mẹ, thầy giáo dạy cháu không được lấy tiền
của ai.
Bà cụ, bác xe xích lô bật cười.
- Đúng là bé ngoan. Cháu có lấy tiền của bà đâu. Bà
cho cháu như cho cháu bà. Cháu nhận tình cảm của bà cho bà vui.
Bác xe nhấc tay nải tôi lên xe:
- Cháu không lên xe thì bác chở tay nải cháu đi.
Tôi cuống lên. Bà cụ nắm tay tôi đỡ lên xe, nở nụ cười
hiền hậu:
- Cháu đi nhé! Bà chúc cháu học giỏi!...
*
*
*
Xe điện đỗ đúng cổng trường trung cấp Bưu điện. Tôi
vác tay nải lên vai bước xuống đường. Đứng thở một lát cho đỡ hồi hộp, tôi mở
tay nải lấy giấy báo trúng tuyển vào trình bảo vệ. Tôi hỏi luôn bác bảo vệ:
- Bác ơi, lớp 3D ở dãy nhà nào ạ?
- Cháu đi vào sâu trong trường, có biển đề tên lớp
đấy.
Các anh chị đi lại trong trường đông ơi là đông. Đi
qua chỗ bóng chuyền, tôi dừng lại nghỉ cho đỡ mệt. Chợt tôi nhận ra anh Lại
Xuân Tiến. Tôi gọi toáng:
- Anh Tiến ơi! Anh Tiến ơi!...
Anh Tiến chạy bổ ra chỗ tôi, không kịp đỡ bóng, làm
quả bóng rơi xuống đất. Tất cả các anh đang chơi bóng ngạc nhiên nhìn anh Tiến
nắm tay tôi xúc động chảy nước mắt:
- Ôi em Tân! Em đi một mình à? Chị Trâm, chị Tâm không
đưa em đi à?
Nước mắt tôi giàn giụa tủi thân, lắc đầu.
- Khổ thân em bé bỏng. Các chị em tệ quá, cùng mẹ đẻ
ra. Mà bố em nuôi chị Tâm ăn học, sau làm cô giáo cũng không biết nghĩ. Chị Tâm
bạc quá! Nếu biết em đi một mình, anh xin phép nghỉ học về đón em. Em đi đến
trường một mình giỏi quá!
Các anh bỏ chơi bóng, xúm đến chỗ tôi nghe chuyện. Các
anh nói:
- Tội nghiệp con bé!
- Tôi chưa gặp hoàn cảnh khổ thế này bao giờ.
- Chị em ruột không có tình thương bằng người ngoài.
- Tiến ơi, cậu đưa bé Tân về rửa mặt, chuẩn bị ăn cơm
chiều.
- Để tớ nói chị cấp dưỡng có khách đột xuất, xin thêm
miếng cháy ngô…
Dẫn tôi đi rửa mặt, tay chân xong, anh Tiến đưa tôi
vào nhà ăn tập thể đông nghịt. Các anh trong lớp 3D đang chờ hai anh em tôi.
Anh nào cũng tranh đòi tôi ngồi cạnh. Thức ăn được bày trên bàn gỗ dài. Sáu
người một mâm cơm. Riêng mâm cơm anh Tiến có thêm tôi là bảy. Mỗi mâm cơm cách
nhau một liễn cơm bằng sắt tráng men. Hai bát canh bí đỏ ngon quá. Hai đĩa rau
muống luộc, bát nước rau, đĩa tép riu thơm hương đồng thân quen với tôi quá.
Khi các anh mở nắp vung liễn cơm, tôi reo lên:
- Ơ trứng nhiều thế?
Mọi người cười ồ. Tôi ngơ ngác không hiểu. Mấy anh ở
bàn bên đổ mấy muôi trứng vào liễn cơm chúng tôi.
- Anh cho thêm mấy muôi trứng em ăn ngon nhé!
Lại một trận cười vỡ nhà. Anh Tiến quát:
- Các cậu trêu bé Tân tội nghiệp. Hoàn cảnh mồ côi mẹ,
nó phải tự lập, sống đói khổ lắm, cơm không có ăn.
Tiếng cười dịu xuống, tắt hẳn. Anh Tiến đơm cho tôi
đầy bát cơm trắng, nói:
- Không phải trứng em ạ. Ngô đỏ, cấp dưỡng xay ra, nấu
thành bánh đúc cho dễ ăn. Tiêu chuẩn học sinh mỗi tháng được mười ba cân rưỡi
lương thực. Hai phần ba là ngô, gạo có một phần thôi. Em ăn cơm đi kẻo đói.
Nhìn bát các anh trong mâm toàn ngô, tôi rơm rớm nước
mắt:
- Em ứ ăn cơm đâu. Em ăn ngô với các anh cơ!
Một anh xúc thìa tép rang ấn vào bát cơm tôi:
- Ngày đầu tiên đến trường ăn cơm trắng. Em ăn ngô bị
phạt không cho học đâu. Nội quy nhà trường đấy!
Anh Tiến và mọi người gật đầu giục tôi ăn. Tôi tưởng
thật ăn cơm ngon lành. Khi bát cơm vơi, anh Tiến múc muôi canh bí đỏ vào đầy
bát tôi. Chưa bao giờ tôi ăn một bữa no cơm, ngon như thế.
Về phòng anh Tiến ở, giường sắt hai tầng giống như chị
Tâm tôi học trung cấp sư phạm
- Sao em lên trường chậm thế?
Tôi kể chuyện chú bạn Dung cùng lớp, nhận làm con nuôi
cho đi học cấp ba. Chú lừa bán tôi cho người miền núi. Tôi trốn về Liễu Đề cất
vó tép, đào cáy. Gặp mẹ Nhất ở nhà thờ Bùi Chung rủ về cho tôi đi học. Sau một
tháng hầu hạ cơm nước, giặt áo quần cho mẹ Nhất vẫn không được vào trường học,
tôi trốn như thế nào… Anh Tiến chảy nước mắt thương tôi. Các anh trong phòng
cũng lặng nghe chuyện tôi, ai cũng thương cảm. Một anh nói:
- Bé Tân thông minh. Em trốn khỏi nhà thờ Bùi Chung
giỏi!
Anh Tiến hỏi:
- Em có đủ tiền nộp ăn ba tháng để xét cấp học bổng
không?
- Em có thừa tiền.
- Ai cho em nhiều thế? Em bán đôi hoa tai mẹ cho kỷ
niệm à?
- Không. Đôi hoa tai em vẫn gửi chị Trâm giữ. Tiền em
cất vó tôm vó tép, bắt cua, câu cáy, em để giành phòng khi cần. Hàng ngày em
chỉ mua đầu mẩu khoai họ bán nuôi lợn, em nấu với những con cua cáy chết ăn.
Thỉnh thoảng em đong bơ gạo, bốc một nắm nấu cháo với những mẩu khoai, ăn hai
bữa trưa tối…
- Giờ anh dẫn em về lớp, gặp lớp trưởng 5E của em. Anh
sốt ruột quá, mong mãi không thấy em đến trường. Anh tưởng ba em nghĩ lại, thấy
em giỏi toán, nuôi em học cấp ba. Anh không ngờ em khổ quá…
Dẫn tôi tới dãy nhà nam lớp 5E của tôi, anh Tiến bảo
tôi ngồi chờ. Anh lớp trưởng và anh Tiến đi ra ngoài nói chuyện. Một lúc sau,
hai anh đi vào nhà. Anh Tiến nói với tôi:
- Anh Lành, lớp trưởng 5E của em. Anh trao đổi với anh
Lành rồi. Anh Lành là nhân viên bưu điện Bắc Giang được cử đi học. Anh Lành coi
em như em gái giống anh. Em có bằng nào tiền gửi tất anh Lành giữ hộ kẻo mất.
Hàng tháng em mua phiếu ăn, mua sách vở bút mực, em nói anh Lành mua cho. Khi
cần, anh Lành gọi anh đến gặp em. Thỉnh thoảng, anh tranh thủ sang thăm em. Giờ
anh về học.
Anh Lành bảo tôi:
- Anh Tiến nói hoàn cảnh em mồ côi, khổ như thế nào
anh biết cả rồi. Em vui lên. Trong lớp có nhiều nhân viên bưu điện các tỉnh
được cử đi học. Nhiều anh chị lớn tuổi, thương yêu em như con em trong nhà. Em
đừng lo lắng gì. Giờ anh dẫn em về nhà tập thể nữ.
Các chị trong phòng đông đủ. Người chải tóc. Người
hát. Người đọc báo. Mấy chị cười đùa đấm nhau thùm thụp đuổi nhau.
Anh Lành lên tiếng:
- Chị em vui quá nhỉ!
Mọi người nhìn tôi ngạc nhiên.
- Xin giới thiệu với chị em, đây là bé Tân học viên
lớp ta. Do hoàn cảnh khó khăn, hôm nay em mới lên trường. Nhờ chị em giúp đỡ,
chỉ bảo cho bé Tân trong sinh hoạt. Giường nào còn chỗ trống?
- Đây!... Giường em Tuyết. Em ở tầng trên, Tân tầng
dưới.
- Tốt rồi! Tôi về nhé, chào chị em!
Anh Lành ra về, chị em trong phòng xúm lại hỏi tôi đủ
thứ: em quê tỉnh nào? Em mười mấy tuổi? Sao em bé thế? Ôi, cổ tay em như que
sậy. Chắc em đói ăn à? Sao má em hồng, mắt em sáng thế?… Chị Tuyết dấp nước bọt
ra ngón tay, quệt má tôi:
- Hình như nó đánh phấn hồng hay sao ấy… Ơ không.
Nhưng sao má hồng như đánh phấn văn công ấy. Cậu có bôi gì màu đỏ lên má
không?...
Tôi sợ sệt im lặng trước câu hỏi dồn dập của các chị.
Một chị lớn tuổi đi đến, ngồi xuống bên tôi nắm tay
hỏi:
- Em có muốn đi tắm cho mát không? Chị lấy chậu, dẫn
em đến nhà tắm nhé!
Nói rồi chị lôi trong gầm giường ra chiếc chậu tôn to.
Tôi cắp áo quần đi theo chị. Vừa đi chị vừa nói:
- Chị là Phạm Thị Nhũ. Cha chị hy sinh ở Điện Biên
Phủ. Mẹ chị mất rồi. Chị được nhà nước cho vào học trường Bổ túc công nông. Hết
lớp bảy, chị thi vào trung cấp bưu điện. Chị thiếu điểm, nhưng được ưu tiên con
liệt sĩ nên vẫn được học. Điểm thi của em vào trường cao nhất. Cả lớp cứ hỏi
nhau mãi, sao Trần Thị Nhật Tân làm bài toán lý giỏi thế lại không đến học? Chị
mồ côi cha mẹ, thiếu tình cảm, chị thèm tình cảm gia đình cha mẹ lắm.
Nghe chị Nhũ nói, chạm đến niềm đau thèm tình cảm cha
mẹ của tôi. Tôi tuồn tuột kể hết hoàn cảnh cho chị nghe. Nước mắt chị giàn
giụa. Chị ôm tôi vào lòng khóc.
- Tội nghiệp em! Người em gầy giơ xương ra thế này.
Chị nhận em làm em kết nghĩa. Từ nay vui buồn gì có hai chị em chia sẻ.
Chị Nhũ mở cánh cửa nhà tắm bằng gỗ, vắt áo quần của
tôi lên cánh cửa. Chị mở vòi nước chảy vào chậu tôn. Tôi ngạc nhiên nhìn vòi
nước chảy, hỏi:
- Chị ơi, nước ở đâu chảy ra vòi này?
Chị cười bảo:
- Nước máy em ạ. Nước từ nhà máy lọc nước, lấy từ sông
Hồng dẫn vào đường ống chảy đi khắp phố phường. Ở nông thôn tắm sông ngòi, nước
ao, nước giếng. Em thấy lạ à? Người ở thành phố dùng nước máy sạch hơn ở nông
thôn. Chị ra ngoài chờ, em tắm xong chị giặt áo quần cho.
Tôi ở trong tắm nhanh, mặc áo quần xong gọi chị Nhũ.
Chị bước vào, thấy mắt chị ướt nhòe, tôi hỏi:
- Chị khóc à?... Sao chị khóc?
Lấy khăn mặt của tôi thấm nước mắt, chị nói:
- Nhìn qua khe cửa, nhìn xương sống xương sườn em nhô
ra, chị thương em quá! Em có đau ở đâu trong người không?
- Em chỉ đau đầu thôi. Em hay đau đầu. Nhiều lúc em
thấy như có nhiều mũi kim châm ở trong đầu em.
- Giờ em có đau đầu không?
- Có!
- Tí nữa về phòng chị bôi dầu con hổ cho em. Em đi
đường mệt, bị cảm đấy.
Về đến phòng nghỉ, chị Nhũ phơi áo quần tôi lên dây
thép phía sau dãy nhà. Chị lấy lọ dầu con hổ tròn to bằng ngón chân cái bôi vào
hai thái dương tôi, lấy ngón tay day day. Chị bôi dầu vào cả sau gáy, sống
lưng, hai bàn tay bàn chân tôi. Bôi dầu đến đâu, chị day đến đấy. Người tôi
nóng lên, dễ chịu. Tôi nghe tiếng thì thầm:
- Chúng bay ơi, gầy chưa kìa!...
- Bộ xương nạn chết đói năm bốn nhăm.
- Ê, chưa có vú chúng mày ạ.
- Mười tám tuổi gì mà người bé như thiếu nhi.
- Không đến mười tám.
- Không mười tám sao đủ tuổi thi vào trung cấp?
- Ở nhà quê nghèo đói khổ, người quắt lại đấy.
- Ừ, da trắng má hồng, khi cười thì tươi, không cười
thì trông nét mặt khắc khổ như bà cụ.
Lần đầu tiên tôi được bàn tay người chị kết nghĩa chăm
sóc, yêu thương, trong tôi dâng trào niềm xúc động. Đầu tôi đỡ đau, thấy người
tỉnh táo dễ chịu. Tai tôi không ù ù như xay lúa nữa. Mắt chị Nhũ đỏ hoe. Thỉnh
thoảng chị ra ngoài xỉ mũi, lau mặt rồi vào đánh cảm tiếp cho tôi.
Ngoài trời lất phất mưa, các chị hò nhau đóng cửa sổ.
Chị Nhũ lôi trong tay nải của tôi ra tấm chăn chiên nhà máy dệt
- Em ngủ đi. Sáng mai nhà trường gõ kẻng dậy, ăn sáng,
chị em mình lên lớp học chính trị. Mấy hôm nữa lên Yên Bái, lao động xây dựng
công trình thủy điện Thác Bà em ạ.
Mùi dầu con hổ thơm dễ chịu, đầu tôi không còn buốt
như trước nữa. Tôi ngủ ngon trong cảm nhận tình thương yêu của chị Nhũ…
*
*
*
Chương
2
Thói quen dậy sớm ở nhà từ 4 giờ sáng, tôi thức giấc
trở mình. Ơ, sao mình nằm trên giường con thế này? Mở mắt, nhìn thấy tầng
giường trên mặt, tôi nhớ ra hôm qua mình đã đến trường trung cấp Bưu điện. Im
ắng quá. Không nghe tiếng chuông nhà thờ rung, cùng những bước chân trần vội vã
thình thịch trên đường đất của những con chiên đi cầu nguyện ở Liễu Đề.
Tôi vén màn bước xuống đất vươn vai, nhún nhảy tại
chỗ. Tôi sờ then cửa cài chặt quá. Nếu cố mở tôi cũng mở được, nhưng sợ phát ra
tiếng động, các chị thức dậy thì chết. Mọi người còn ngủ im thít. Tôi đành chui
vào màn cho muỗi khỏi đốt, vặn vẹo người, nắn bóp tay chân chờ sáng. Lâu lắm
tôi mới nghe tiếng kẻng nhà trường báo thức. Tiếp theo là tiếng nhạc gọi tập
thể dục buổi sáng: “Mau mau lên các bạn ơi!...”
Chị Nhũ đến giường tôi:
- Ơ em Tân đã dậy, gấp chăn màn gọn ghẽ rồi à? Đêm qua
em ngủ ngon không?
Tôi gật đầu, theo chị ra sân tập thể dục. Học viên xếp
hàng ngay thẳng trước nhà ở của lớp mình, tập thể dục theo loa phóng thanh ở
cột đầu nhà. Khi tôi theo chị Nhũ đi rửa mặt về, đã thấy anh Tiến cầm hai gói
xôi đứng chờ.
- Anh mua cho em gói xôi, anh một gói. Em ăn đi rồi
lên lớp. Anh về đây.
Chị Nhũ tay cầm một hào, cười với tôi:
- Chị định đi mua xôi cho em, thì em đã có anh cho
rồi. Anh ấy có họ với em à?
- Không. Anh Tiến phụ trách thiếu nhi ở trường cấp hai
Liễu Đề quê em, hồi em mới vào học. Anh quý em như em. Chị ơi, mấy hào gói xôi?
- Năm xu em ạ.
- Úi, từ mai em không ăn đâu, tốn tiền.
- Em gầy lắm, ăn sáng ngồi học đỡ đói, mới tiếp thu
được lời thầy giảng.
- Em ăn hai bữa trưa tối quen rồi. Em chẳng ăn sáng
bao giờ.
- Từ giờ em tập ăn sáng sẽ quen, chị cho tiền. Chị có
học bổng mỗi tháng 22 đồng. Chị mua phiếu ăn tháng hết 15 đồng. Chị còn 7 đồng,
ăn xôi sáng có 5 xu, một tháng hết 1 đồng rưỡi. Chị còn thừa 5 đồng rưỡi cơ mà.
Chị nhận em làm em kết nghĩa, chị phải có trách nhiệm như chị ruột của em. Em
không được chống đối việc chị mua xôi cho em ăn sáng.
Nghe chị Nhũ nói, tôi cảm động, tim thổn thức rưng
rưng. Hai chị ruột mình chưa bao giờ có lời nói thân thương với mình như chị
Nhũ là người dưng…
- Chị ơi, học bổng được toàn phần là bao nhiêu?
- Ai được toàn phần học bổng cũng 22 đồng như chị. Tùy mỗi hoàn cảnh nhà trường xét. Em
mồ côi mẹ, còn bố chưa chắc nhà trường đã cho học bổng toàn phần.
- Nhưng bố đuổi em ra khỏi nhà từ năm em học lớp bảy,
không nuôi em cơ mà.
- Thực tế là vậy, nhưng trong lý lịch vẫn còn bố, tổ
chức làm sao biết được bố em không nuôi, em phải tự lập?...
Vào lớp học, thầy giáo chủ nhiệm nói:
- Đến hôm nay, lớp ta đủ quân số. Em Trần Thị Nhật
Tân, điểm bài thi toán lý cao nhất trường, do hoàn cảnh khó khăn hôm nay mới có
mặt. Đề nghị cả lớp vỗ tay mừng lớp ta tròn sĩ số!
Tôi xấu hổ đỏ mặt, nước mắt lưng tròng. Mọi con mắt đổ
dồn về tôi. Những tiếng thì thầm:
- Trắng như ngó cần.
- Trắng như trứng gà bóc.
- Xinh gái.
- Gầy quá!
- Bằng con gái đầu tớ.
- Đôi mắt… cửa sổ tâm hồn sáng như sao!...
Chị Tuyết ngồi đầu bàn phía trong nhìn tôi ngấm nguýt.
Thầy chủ nhiệm nhắc nhở chúng tôi học chính trị cho
tốt để mấy ngày nữa lên công trình thủy điện Thác Bà, Yên Bái lao động.
* *
*
Ròng rã một ngày. Chiếc xe tải già nua luôn hỏng hóc
cũng cõng được 50 học viên lớp 5E chúng tôi đến công trường thủy điện Thác Bà.
Tôi ngơ ngác trước cảnh núi rừng âm u trùng điệp. Cán bộ
phụ trách công trường dẫn chúng tôi về nơi ở của những người lao động. Những
dãy nhà vách nứa, mái nứa chạy dài san sát. Học sinh chúng tôi rủ nhau ra xem
công trường làm việc như thế nào.
Đứng ở trên bờ nhìn xuống sâu hút một vùng đất rộng,
người đông trông bé nhỏ như đàn cáy bò trong đầm bãi sú vẹt dưới biển quê tôi.
Học sinh, sinh viên của 12 trường đại học và trung cấp ở Hà Nội lên lao động.
Ai được chứng nhận lao động giỏi mới được tiếp tục học. Ai không lao động tốt
sẽ bị trả về quê. Nhìn xuống một lát mắt tôi đã hoa, chóng mặt. Tôi lùi lại
phía sau ngồi xuống tảng đá.
Chị Nhũ đến ngồi xuống bên tôi, quàng tay qua vai.
- Họ đào những tảng đất, tảng đá to thế, ngày mai đi
làm, em vác sao được? Các anh chị mười tám đôi mươi vác đất còn chực ngã. Chị đang
nghĩ cách gì cho em vẫn lao động…
- Không khó chị ạ. Cho tảng đất vào thúng em đội được.
Ở quê Nghĩa Hưng Nam Định em, người ta toàn đội. Thóc, gạo, muối, cái gì cũng
cho vào thúng đội. Ngày mùa em đi gặt, đã đội lúa về nhà.
- Nhưng lấy đâu ra thúng?...
- À… chị ơi, em thấy rất nhiều đoạn nứa ở đầu nhà mình
ấy. Ăn cơm tối xong, em lấy nứa chặt dài nửa mét, chẻ đôi ống nứa, buộc hình
vuông. Mình cắt cỏ làm lót đầu cho êm. Cho đất vào khung nứa em đội tốt.
Chị Nhũ cười:
- Con bé này sáng kiến hay. Để chị làm cho, tay chị
khỏe, buộc khung nứa mới chắc,
Vậy là ăn cơm xong, chị Nhũ mượn con dao nhà bếp chẻ
nứa, chẻ lạt buộc cho tôi mấy khung nứa. Tôi cùng làm với chị. Thấy tôi chẻ lạt
mềm, chị Nhũ khen:
- Em chẻ lạt khéo thế? Ai dạy em chẻ lạt?
- Chẳng ai dạy em. Ở nông thôn, nhà nào cũng tự đan rổ
rá, dần sàng để dùng. Ông cụ hàng xóm hay đan rổ rá, dần sàng, thỉnh thoảng em
sang để ý ông làm em học được. Thấy ông chặt cây tre bánh tẻ chẻ lạt cạp rổ rá
chắc chắn. Cụ bảo: “Lạt mềm buộc chặt”. Tre bánh tẻ chẻ lạt mềm. Em bắt chước
cụ, xin những đoạn tre thừa, đan rổ rá. Rổ rá em đan không đẹp như cụ hàng xóm,
nhưng mẹ em bảo đỡ tốn tiền mua.
- Hay nhỉ, em chịu khó học hỏi. Chị con nhà nông chính
tông mà không biết đan rổ rá đâu.
- Em còn biết quay xa, dệt chiếu cói nữa.
- Ơ con bé này giỏi giang thế? Em học bao giờ?
- Hồi nhà em ở phố mới về Quỹ Nhất, Nghĩa Hưng Nam
Định, thấy nhà hàng xóm dệt chiếu cói, em sang xem, cùng làm. Em tập vài ngày
là em biết dệt chiếu, quay xa làm sợi dệt chiếu.
Chị Nhũ ngừng tay, ôm đầu tôi hôn hai má.
- Yêu em quá! Em tí tuổi đầu đã biết làm những việc
như người lớn.
- Chị nhớ phải dấu tuổi thật của em mười ba đấy nhé!
Chị cứ phải nói em 18 tuổi.
- Ừ chị nhớ. Em không phải nhắc.
Miệng chị Nhũ cười, nhưng mắt chị lại có những giọt
nước lăn xuống má. Tôi không dám hỏi tại sao chị khóc, lặng ngắt chẻ lạt…
Trời chưa sáng tôi đã thức giấc theo thói quen dậy
sớm. Nhìn ra ngoài, tôi thấy mây trắng mỏng tang. Lán ngủ ở công trường không
đóng cửa. Mọi người còn say giấc. Nhìn sang giường chị Nhũ, một chân chị dưới
đất, tôi bịt mồm cười thầm. Giường ngủ chỉ là tấm phên nứa, gác lên hai khúc gỗ
ở hai đầu cao chừng 30 cm. Tôi rón rén bước ra ngoài. Mây trắng như bụi bông
bay là là quanh các dãy lán. Gió mát rượi thơm hương rừng vuốt má tôi. Toàn
công trường im phắc. Tôi sợ ma rừng, không dám đi xa, đứng ngay ở cửa ra vào
tập thể dục. Tập mãi vẫn chưa sáng, tiếng sột soạt ở bụi cây đầu nhà làm tôi
giật mình, chạy tót lên giường ngồi ôm đầu gối sợ hãi. Một lúc lâu sau, tiếng
kẻng công trường báo thức to quá lại làm tôi giật thót tim. Toàn công trường
náo động. Các dãy lán hò nhau tập thể dục. Chị Nhũ ngạc nhiên thấy tôi ngồi thu
lu trên giường.
- Đêm qua lạ nhà, em không ngủ được à?
- Em ngủ được, nhưng em dậy 4 giờ từ bé quen rồi. Nhà
em về Quỹ Nhất, giáo dân toàn tòng. Cứ 4 giờ sáng chuông nhà thờ binh boong là
giáo dân đi lễ nhà thờ, rồi về đi làm ruộng. Ba em bảo họ tiết kiệm thời gian,
ngủ ít, chăm chỉ làm lụng nhiều. Em và ba em sáng thức dậy theo tiếng chuông
nhà thờ. Ba em dọn đồ nghề cắt tóc mang ra lều ngoài chợ. Em tập thể dục, nhảy
dây cho người cao, xong xuống sông tắm, bơi vài vòng bên bờ này sang bên bờ
kia. Còn mẹ với hai chị em ngủ cho đến sáng bạch mới dậy. Chị Tâm em vẫn mắng
em: “Cụ non dậy sớm”, làm mất giấc ngủ ngon của chị. Chị ấy cốc đầu em đau
nhói.
Tập thể dục xong, chúng tôi nhanh chóng ăn sáng đi
làm. Mỗi người một tấm bánh đúc ngô bằng bát ăn cơm. Các chị cán bộ đi học và
học sinh nhà quê chúng tôi ăn bánh đúc ngô ngon lành. Còn học sinh Hà Nội và
các thành phố không muốn ăn bánh đúc ngô. Họ bẻ một mẩu nhai uể oải, còn cho
người khác.
Tiếng kẻng gọi ra công trường. Lớp tôi xếp hàng đôi đi
trật tự. Các anh chị cười tôi với chị Nhũ cầm mấy cái khung nứa và đệm cỏ.
Xuống được đến lòng hồ, ai cũng mệt thở ra đằng tai. Các anh chị ngạc nhiên
nhìn tôi nhanh nhẹn chạy xuống dốc thoăn thoắt. Công trường phân công mỗi lớp
đào đất một góc, thi đua đào được nhiều khối đất. Đơn vị nào có khối đất nhiều
sẽ được thưởng. Để chuyển đất lên bờ, người ta đóng những khung nứa to, đựng được
vài khối đất, buộc dây mây vào bốn góc khung, nối với ròng rọc trên bờ. Khi ở
dưới đổ đầy đất vào khung nứa thì trên bờ có người kéo dây ròng rọc lên. Việc
này do cán bộ phụ trách công trường đảm nhiệm.
Lớp tôi nhanh chóng bắt tay vào việc. Các anh nam đào
đất, nữ bốc, vác đổ vào khung nứa. Chị Nhũ và mấy chị nữ khỏe nhận việc bốc đất
đặt vào vai chúng tôi. Khi chị Nhũ đặt tảng đất lên đầu tôi, mọi người chăm chú
theo dõi. Chị bảo tôi đứng cách chị mấy bước. Chị bốc đất, bước nhanh, rồi đặt
nhẹ lên đầu tôi. Tôi thận trọng bấm đầu ngón chân đi cho khỏi ngã. Tôi thấy
cũng vừa sức, đội được tảng đất như mọi người vác. Đổ đất vào khung nứa, tôi
quay vào gặp chị Tuyết đi đôi giầy ba ta xanh bê bết đất dính khó đi. Chị rơm
rớm nước mắt. Tôi nghĩ thương chị, người Hà Nội sống sung sướng, chẳng lao động
chân lấm tay bùn bao giờ. Chắc chị Tuyết đang thấy khổ lắm. Khi đặt tảng đất
thứ hai lên đầu tôi, chị Nhũ hỏi nhỏ:
- Có nặng quá không em? Để chị nói các anh đào tảng
đất bé cho em.
- Không nặng đâu, em đội được. Em đội lúa, đội rạ ở
quê quen rồi.
Làm được một lúc, chị Tuyết và mấy chị khác nước mắt
lã chã. Các chị vội lấy vạt áo lau đi, giấu mọi người. Tôi nhìn thấy thế thương
quá. Các chị phải cố gắng, không thì bị đuổi về nhà, bị khai trừ khỏi đoàn. Chị
Tuyết nằm giường tầng trên tôi, tôi thấy thương chị hơn. Tôi nói với chị:
- Chị Tuyết ơi, chị bỏ giầy ra, đi chân đất dễ hơn.
Chị đội như em này. Em còn đệm cỏ, khung nứa dự trữ kia.
- Eo ơi!... Tớ… Tớ không đội. Đội gẫy cổ, đau đầu lắm.
Bỏ giầy ra á? Gai đâm vào chân chảy máu, ngứa chân, sợ lắm!
Anh Lành khen tôi:
- Bé Tân con nhà nghèo lao động quen, đội đất ngon
nhỉ!
Mọi người cười ồ. Chị Tuyết ngấm nguýt tôi, dùng que
cậy đất dính chặt vào giầy nặng chân.
Chị Nhũ lên tiếng:
- Ta hò lờ mấy câu cho vui lớp trưởng nhé!
- Đúng đấy, hò hát đi cho khí thế lao động hăng say.
- Nhũ hò đi, mọi người hò theo.
Chị Nhũ cất giọng oang oang:
- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò
lờ…
- Thi đua đào đất hăng say.
- Ai đi hò lờ.
- Tinh thần lao động mỗi ngày thêm cao.
- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò
lờ…
- Núi rừng có điện thay sao.
- Ai đi hò lờ.
- Nông thôn điện sáng vui nào vui hơn.
- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò
lờ…
Ở góc đằng kia, một giọng nam cao cất lên:
- Này người bưu điện anh em!
- Ai đi hò lờ.
- Thi đua đào đất cả đêm cả ngày.
- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò
lờ…
- Giành cờ quyết thắng mới hay.
- Ai đi hò lờ.
- Vui ngày tổng kết nắm tay hát mừng.
- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò
lờ…
- Hoan hô!...
Tiếng reo hò vang rừng núi. Khí thế lao động sôi nổi
hẳn lên. Chị Tuyết đã bỏ đôi giầy ba ta từ khi nào, bặm môi bước băng băng.
11 giờ 30 phút kẻng công trường báo nghỉ, nhưng toàn
công trường vẫn làm mê say. Phải hơn hai mươi phút sau, anh chị em mới lác đác
leo lên bờ. Chúng tôi ra sông rửa mặt mũi tay chân, về lán thay vội vàng áo
quần, ngồi vào mâm cơm. Mâm của chúng tôi được làm bằng nứa hình vuông, có bốn
chân cao nửa mét. Sáu người chúng tôi ngồi quây quần quanh mâm cơm. Liễn cơm
độn ngô, nhưng gạo ít nên chỉ thấy toàn ngô. Bữa trưa nay, mỗi mâm cơm có thêm
sáu khúc sắn luộc thơm phức. Nhà bếp nói đồng bào các dân tộc Yên Bái tặng các
sinh viên, học viên ở Hà Nội lên lao động công trường. Thức ăn cũng giống như ở
trường: canh bí đỏ, cá kho. Nhưng cá ở công trường to hơn, đĩa cá đầy hơn đĩa
cá ở trường. Biết tôi ăn chậm, chị Nhũ dồn hai bát canh đã vơi vào làm một, múc
muôi cơm cho vào bát đưa tôi:
- Bé Tân ăn chậm, chưa hết nửa bát cơm. Mọi người đã
đơm bát thứ hai. Chị phần sẵn, em cứ nhẩn nha ăn. Khúc sắn nữa phần của em. Đào
đất làm nặng, ai cũng ăn khỏe. Cơm canh hết vèo, mỗi người cầm khúc sắn về
giường mình nằm ăn. Còn một mình tôi ngồi ăn cơm. Ăn thế này là sướng lắm rồi.
Suốt năm học lớp bảy ở Liễu Đề, tôi bắt cua, cất vó tôm vó tép cả ngày đêm,
chưa bao giờ tôi được ăn no. Tôi chỉ ước có tiền, mua một mớ khoai về luộc ăn
no một bữa, mà không thực hiện được. Tôi cố gắng lắm mới đủ tiền giấy mực, tiền
đóng học phí. Tôi chỉ mua mẩu khoai vụn họ bán cho lợn ăn, về nấu với con cua
con cáy chết. Vài tháng tôi về thăm chị Trâm ở xã Nghĩa Phú, chị cho miệng bơ
gạo tám lạng, tôi chỉ bốc một nắm cho vào nồi khoai vụn ăn hai bữa. Tôi ăn đến
bát cơm thứ hai chị Nhũ phần thì chẳng còn thức ăn. Tôi trộn ít muối rang ăn,
thấy bùi bùi, ngọt ngọt, ngon. No quá, tôi không ăn được khúc sắn. Tôi đưa chị
Nhũ. Chị lắc đầu:
- Chiều đi làm em ăn, lúc ấy đói bụng rồi, sắn ngon
lắm em ạ.
Ai cũng đã đi vào giấc ngủ trưa. Tôi đặt mình xuống
giường được một tí thì kẻng công trường gọi đến giờ làm.
Buổi chiều, không khí lao động sôi nổi ngay từ đầu.
Chỗ này thách đố chỗ kia đào nhiều đất, hò hát đối nhau, náo nhiệt công trường.
Mỗi trường Bưu điện chúng tôi nhiều nữ nhất. Trường Bách khoa, Tổng hợp, Kiến
trúc, Thủy lợi v.v… chủ yếu là nam, nữ chỉ có vài người. Nhờ tiếng hát hò,
chúng tôi quên hết mệt nhọc, trong lòng hừng hực khí thế thi đua vượt mức quy
định, giành cờ Quyết Thắng. Gương mặt người nào cũng rạng rỡ niềm vui lao động.
Hết giờ lao động buổi chiều, chúng tôi phấn khởi nhìn
thông báo trên bảng đen, trường nào cũng đào vượt khối đất đã quy định. Mọi
người bàn tán:
- Sau ba tháng lao động, đội đào đất nào cũng vượt mức
ngang nhau, thì ai nhất ai nhì? Khó phân xử.
- Khó gì. Tất cả các trường đều được tặng cờ Quyết
Thắng.
- Hoan hô!...
Tôi đang vỗ tay thì máu cam ở mũi ồng ộc chảy xuống
ngực. Tôi vội vụm bàn tay hứng, ngồi thụp xuống. Mọi người cuống lên bảo đưa
tôi vào phòng y tế của công trường. Chị Nhũ bế thốc tôi lên chạy. Vào đến phòng
y tế, y sĩ, y tá lấy vi-ta-min K tiêm cho tôi ngay. Họ nút bông vào mũi tôi,
nhưng máu cam vẫn thấm qua bông chảy ra ngoài. Anh y sĩ và anh y tá hỏi tôi:
- Em đã bị chảy máu cam bao giờ chưa?
- Em bị chảy máu cam từ năm em bảy tuổi.
- Chết, từ bấy đến giờ, em có hay bị chảy máu cam nữa
không?
- Có. Cứ mỗi khi em đi bắt cua, đào cáy trưa nắng về
là em bị chảy máu cam. Em nút giẻ vào mũi, nó vẫn chảy thấm qua giẻ ra ngoài,
chán nó thôi.
- Bố mẹ không cho em đến bệnh viện huyện chữa bệnh à?
- Không. Em mồ côi…
Chị Nhũ thì thầm với anh y sĩ. Anh thở dài:
- Tội nghiệp! Chị cứ để em Tân ở đây chúng tôi theo
dõi, nếu không có diễn biến gì, tôi cho về.
Chị Nhũ bảo tôi:
- Em thấy trong người thế nào? Có sao không?
- Em không sao đâu. Em vẫn hay chảy máu cam như thế.
Em chỉ nghỉ một lúc lại đi làm bình thường. Hồi ở quê, em bắt cáy ở nông trường
Rạng Đông, em bị chảy máu cam. Anh y sĩ nông trường cũng tiêm vi-ta-min K cho
em, nó vẫn không cầm. Anh ấy bảo bệnh chảy máu cam của em bó tay.
Mọi người cười trong nước mắt. Chị Nhũ nói:
- Con bé khổ cực quen rồi. Nó quen với bệnh chảy máu
cam. Em ở đây nghỉ ngơi. Chị về đem cơm cho em.
- Ơ không, em về với chị. Em không sao đâu.
Tôi bước xuống giường đi theo chị Nhũ về, mặc cho anh
y sĩ ngăn cản. Trong phòng, các chị đã ăn xong cơm lên giường ngủ. Còn phần hai
chị em vẫn ở mâm, đậy nón. Hai chị em lặng lẽ ăn cơm. Tôi cố gắng ăn hết hai
bát cơm để sáng mai đi lao động.
Tôi vẫn thức giấc sớm theo thói quen, nhưng không dám
ra ngoài tập thể dục. Đầu tôi đau, tôi thấy mệt. Tôi lo lắng. Mình phải cố
gắng, không lao động tốt, bị đuổi về nhà thì khổ. Mình có nhà đâu mà về?... Tôi
bóp đầu, day hai thái dương cho đến lúc kẻng báo thức công trường.
Sáng dậy, các chị xúm lại hỏi tôi có mệt không? Lúc
mọi người đang ăn cơm để đi làm, anh lớp trưởng đến bảo tôi:
- Bé Tân hôm nay nghỉ ở nhà. Giấy của y sĩ công trường
đây. Em đổ máu cam mất nhiều máu, y sĩ cho em nghỉ ba ngày và…
- Ơ em đi làm được, em không nghỉ đâu. Việc chảy máu
cam của em là thường ấy mà. Ở nhà, em xay thóc mậu dịch lấy cám, em vẫn chảy
máu cam. Nghỉ một lúc, em lại xay lúa được.
Mắt anh Lành đỏ hoe. Anh quát:
- Em không được chống lệnh y tế. Em ở nhà nghỉ hôm nay
đã.
Tôi khóc hu hu:
- Em không ở nhà. Em nghỉ lao động, em bị… bị đuổi học
hi hi!...
- Tinh thần lao động của em rất tốt. Toàn công trường
ai cũng khen em bé như cây sậy, mà đội đất giỏi như người to cao gấp mấy em…
Mọi người đi làm, tôi lặng lẽ chờ các anh chị đi một
đoạn rồi theo sau. Phát hiện ra tôi, anh Lành, chị Nhũ quay lại. Chị Nhũ bảo:
- Em Tân nghỉ đi, trông em xanh lắm. Bệnh của em nguy
hại đến sức khỏe. Chị và anh Lành đang bàn tính chuyển việc cho em làm gì nhẹ
hơn. Em cứ đội đất nặng quá sức, máu cam lại chảy, nguy hiểm tính mạng. Tinh
thần yêu lao động của em rất tốt. Nghe chị, em về nằm nghỉ đi.
Tôi sụt sùi, đành quay về lán nằm dài. Chỉ một lát tôi
chán ngán, dậy đi loanh quanh. Thấy nhà bếp nấu nướng tất bật, tôi xà vào thái
bí đỏ với các chị cấp dưỡng. Một chị bảo tôi:
- Em ngồi chơi thôi, đừng làm kẻo chảy máu cam.
- Em hết máu cam rồi. Phải lâu lâu nữa nó mới chảy.
Không làm gì, em buồn chán lắm.
Công việc bận rộn, chẳng ai còn để ý ngăn cản tôi nữa.
Thái bí xong, tôi bưng từng rổ đem vào cho chị nấu canh. Khi chia cơm canh cho
các lán, tôi bưng mâm cơm của lán tôi về làm hai chuyến. Các chị cấp dưỡng nhìn
tôi thì thầm vẻ cảm tình.
Khi chúng tôi đang ăn cơm trưa thì lớp trưởng đến.
- Hoan hô em Tân nhé!... Các chị nhà bếp khen em lắm:
“Con bé làm nhanh, sạch sẽ, gọn gàng”.
Mọi người ngớ ra cười, nhìn tôi. Anh Lành nói tiếp:
- Bé Tân tự xuống nhà bếp thái rau, làm với các chị
cấp dưỡng. Mấy chị xung phong vào lớp ta lao động thay bé Tân, đổi bé Tân về
làm ở nhà bếp cho phù hợp sức yếu. Tân đồng ý không?
Chị Nhũ:
- Hay quá rồi. Em Tân không đồng ý không được. Y tế
công trường đề nghị sức em yếu, không làm được việc đào vác đất.
- Thế em có được chứng nhận lao động tốt không?
- Có chứ! Thế nhá! Trong ba ngày y tế cho nghỉ, em
thích thì cứ vào nhà bếp làm với các chị.
Ngày hôm sau, thấy tôi vào nhà bếp, mấy chị tranh nhau
thay tôi ra công trường đào đất với lớp 5E của tôi.
Sau ba tháng lao động, lớp tôi và nhiều lớp trường
khác được nhận cờ thi đua Quyết Thắng. Ai cũng khen tôi béo lên nhiều. Má tôi
bầu bĩnh, che bớt cái “trán giô” mà chị Tuyết hay gọi tôi: “Tân trán giô”.
* *
*
Chương
3
Từ công trình thủy điện Thác Bà về trường, chúng tôi
đem theo ít củ sắn làm quà. Tối, chị Nhũ và tôi mượn nhà bếp cái nồi thật to
luộc sắn. Tôi bưng đĩa sắn to tướng bốc hơi ngùn ngụt đến lớp anh Tiến. Các anh
reo lên:
- Ơ em Tân! Em nhớn hẳn lên. Trông em ra dáng thiếu nữ
rồi!
Bây giờ là những ngày đầu tháng 1 – 1962, lớp tôi học
văn hóa. Thầy chủ nhiệm bảo chúng tôi chỉ học ba môn: toán, lý, văn hết chương
trình cấp ba và một phần toán lý của đại học. Lớp 5E của tôi học khoa bưu
chính. Nghe thầy phổ biến, tôi buồn xỉu. Mơ ước tôi vào ngành bưu điện học khoa
vô tuyến. Tôi thích vô tuyến để sửa chữa đài, tự lắp cái đài nhỏ nghe đài tiếng
nói Việt
- Em học đánh moóc cho giỏi. Mắt em tinh, tai em
thính, học xong có khi em được vào bộ đội thông tin, ra chiến trường đánh Mỹ.
Hai chị em mình thi đua học giỏi, cùng vào bộ đội đánh Mỹ cho vui.
Anh Lại Xuân Tiến cũng gặp tôi động viên:
- Em phấn đấu học giỏi, sau này ra công tác, em tiếp
tục học khoa vô tuyến, khó gì đâu. Học suốt đời em ạ.
- Nhưng em muốn ngay từ giờ học vô tuyến cơ. Em cứ
tưởng ba em cho học lên đại học, em vào khoa chế tạo máy để em chế tạo ra máy
cày cho nông dân đỡ vất vả dắt trâu cày ruộng. Ba em nghe dì ghẻ đuổi em ra
khỏi nhà, em không thực hiện được ước mơ. Em tưởng em làm bài điểm toán lý cao
nhất thì nhà trường xếp cho em học vô tuyến mới đúng.
- Khoa vô tuyến chỉ có nam, không có nữ.
- Sao vô lý thế anh? Hay em lên gặp thầy hiệu trưởng
xin vào học khoa vô tuyến?
- Theo anh, em cứ chấp hành phân công của nhà trường.
Em đòi chuyển từ bưu chính sang vô tuyến, anh sợ nhà trường xem xét lại, phát
hiện việc em khai tăng tuổi đi học thì em bị đuổi về. Em ở đâu, làm gì để sống?
Nay em đã ổn định học ở trường. Em được học bổng toàn phần 22 đồng một tháng.
Tính em cần kiệm, mỗi tháng cũng để dành được ít tiền, nhỡ khi cần…
Nghe lời anh Tiến, tôi yên tâm học tập. Chỉ hai tuần
học văn hóa, thầy giáo dạy toán, lý đã quý mến tôi. Giờ học hai môn toán, lý
hầu như chỉ có tôi giơ tay phát biểu, trả lời những câu hỏi của thầy. Cũng chỉ
có tôi lên giải trình những bài toán khó. Không ngờ chị Tuyết học toán, lý còn
kém hơn cả chị Nhũ. Tối nào chị Tuyết cũng nhờ tôi giảng giải những bài toán,
lý thầy ra làm bài tập trong sách. Chị không còn lườm nguýt tôi như xưa. Giọng
chị Tuyết nhẹ như hơi thở, ngọt ngào hấp dẫn mỗi khi đến bên tôi: “Em Nhật Tân,
em giảng giải cho chị bài toán này với!...” Sau mỗi lần tôi hướng dẫn chị Tuyết
làm bài toán tập, chị lại cho tôi chơi búp bê. Chị có con búp bê to bằng cái
phích, biết nhắm mắt khi đặt nằm. Chị bảo búp bê Liên Xô. Chị có ông chú họ làm
việc trong đại sứ của Việt
Gần Tết Nguyên Đán năm 1962 tôi nhận thư bạn Hạt ở chợ
Quỹ nói ba tôi ốm. Dì ghẻ và đứa con riêng bà ta ăn cắp mấy bộ tông đơ cắt tóc
dự trữ của ba tôi cuốn xéo. Bạn Hạt và bà con hàng xóm sang nấu cháo cho ba
tôi. Đọc thư bạn Hạt nước mắt tôi trào ra ướt vạt áo. Chị Nhũ, chị Tuyết đến
bên cầm thư đọc. Các chị thương tôi cũng ứa nước mắt. Chị Tuyết nghẹn lời:
- Giờ chị mới biết hoàn cảnh bé Tân khổ thế! Mấy đời
bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng. Trong dân gian vẫn nói
thế.
Chị Nhũ gạt nước mắt:
- Sao đời em khổ thế? Em khổ từ bé đến giờ vẫn chưa
hết khổ. Chị thương em…
- Chị ơi, em phải về chăm ba em. Một mình không ai
chăm, ba em chết mất. Em mồ côi cả cha mẹ khổ lắm!...
- Để chị bàn với anh Tiến xem đã. Các anh chị nghĩ cho
em cách nào hay nhất để em vẫn chăm ba, vẫn tiếp tục học.
Giờ nghỉ trưa, tôi và chị Nhũ gặp anh Tiến. Ba anh em
đi bộ ra thị xã Hà Đông, vào mậu dịch ăn chè đỗ đen nóng hổi. Tôi lặng lẽ ăn
chè thơm ngon, để chị Nhũ và anh Tiến trao đổi nho nhỏ với nhau. Khi đứng lên
ra về, anh Tiến bảo tôi:
- Em Tân, anh và chị Nhũ đã tính kỹ rồi. Em đang học
tập thuận lợi. Việc chăm cha mẹ là người con có hiếu, cần làm. Bạn Hạt nói bà
con hàng xóm hàng ngày vẫn sang nấu cháo giúp đỡ ba. Vậy ta cứ thư vài ngày
nữa, anh Doãn anh về quê sẽ đến thăm ba em. Lúc ấy tình hình bệnh tật ba em thế
nào, anh em mình lo tiếp. Anh Doãn là y sĩ, sẽ biết được bệnh ba em nặng hay
nhẹ…
Chiều hôm ấy tôi ngồi học không yên, trong lòng cồn
cào nghĩ thương cha ốm. Cuối buổi học, thầy giáo chủ nhiệm gọi:
- Em Tân!
Tôi giật mình đứng lên sợ hãi, mặt đỏ bừng.
- Từ nay, buổi học chiều phụ đạo hai môn toán, lý,
thầy giao việc cho em. Em hướng dẫn cả lớp làm những bài tập toán, bài tập vật
lý. Thầy dạy toán và vật lý nói em thuộc lòng các công thức, các định lý, quy
tắc giải toán. Em áp dụng linh hoạt các phương pháp giải những bài toán khó,
không có trong sách giáo khoa mà hai thầy đã thử trí thông minh của em.
Cả lớp nổ một tràng pháo tay. Tôi sợ run lên:
- Thưa thầy, em không biết dạy đâu ạ.
Cả lớp cười ồ. Thầy chủ nhiệm bảo tôi:
- Em giảng giải những bài tập ở nhà cho các anh chị
như thế nào, thì ở lớp em cũng nói như thế, có khác gì nhau?... Vậy nhé! Em bắt
đầu phụ đạo toán, lý lớp ta từ buổi học chiều mai.
Tan học về phòng nghỉ, tôi nghe các anh chị thì thầm
với nhau:
- Con bé chăm ngoan thế, tại sao ba năm học cấp hai
không được kết nạp vào Đoàn thanh niên lao động nhỉ?
- Ờ, cũng lạ, một thanh niên học giỏi, lao động tốt
lại chưa phải là Đoàn viên. Hay nó có phốt gì chăng?
- Chúng mình đề
nghị với Bí thư chi đoàn cho bé Tân vào diện cảm tình đi…
Vào một tối, tôi đang hướng dẫn mấy chị làm toán tập,
anh Tiến gọi tôi ra ngoài. Hai anh em ra cổng trường đã thấy anh Doãn dắt xe
đạp đứng chờ. Vừa đi, anh Doãn vừa kể chuyện về quê, đến thăm ba tôi như thế
nào. Anh đã khám bệnh cho ba tôi. Ba tôi bệnh phổi, bệnh thận nặng lắm. Anh kết
luận:
- Ba em bị giặc Pháp bắt tù tra tấn dã man. Nói chung
cán bộ Viêt Minh hoạt động nội thành như ba em, ai cũng bị giặc dùng mọi cực
hình tra tấn, bắt khai bí mật cơ sở. Hòa bình ra tù, chẳng ai được chữa bệnh
nên càng ngày bệnh càng nặng. Ba em… Anh bàn với anh Tiến viết cho em cái đơn
xin phép về thăm bố ốm nặng có một mình. Anh bảo chú Thành em họ anh, cầu thủ
bóng đá đội Thể Công đèo em về thăm ba bằng xe đạp của anh đây. Chú ấy có đôi
chân khỏe, đèo em từ Hà Nội về quê chỉ sáng sớm đến chiều tới nhà. Em phải về
ngay kẻo không kịp gặp ba. Em xếp hàng ba ngày chưa chắc mua được vé ô tô.
Tôi òa khóc. Hai anh dỗ tôi:
- Em nín đi, giữa đường khóc xấu hổ!...
- Anh em mình vào mậu dịch ăn chè đỗ đen nóng cho ấm
bụng.
- Em không ăn, tốn tiền.
- Tốn gì, có một hào một cốc chè to tướng ăn no, khỏe
người.
Ngồi ăn chè, nước mắt tôi vẫn lã chã. Anh Doãn bảo:
- Ba năm nữa em ra công tác thành người lớn rồi. Em
dũng cảm lên, tập làm người lớn từ giờ đi. Người lớn, gặp khó khăn không hoảng
sợ, không khóc, bình tĩnh giải quyết sẽ được việc. Em khóc nó lú hết trí khôn
đi. Ngày mai em trình đơn ban Giám hiệu, ngày kia là em về gặp ba rồi. Ba em
còn dặn anh đừng nói chuyện ốm cho em biết, để không ảnh hưởng đến việc học của
em. Ba em thương em lắm!...
* *
*
Mọi kế hoạch anh em anh Tiến nghĩ cho tôi đều kết quả.
Tôi được nhà trường đồng ý cho về thăm cha một tuần. Buổi sáng tôi vẫn lên lớp
học, chiều tôi vẫn phụ đạo hai môn toán, lý cho lớp như thường lệ. Tối, tôi sắp
xếp áo quần vào tay nải để sáng mai anh Thành đến sớm đèo tôi về quê. Anh Lành
lớp trưởng dúi vào tay tôi nắm tiền:
- Đây là ít tiền của các anh chị trong lớp ủng hộ em
về mua thuốc cho cha.
Tôi dãy nảy rụt tay vào:
- Em không lấy đâu. Em được học bổng toàn phần, mỗi
tháng em vẫn để dành được 5 đồng. Em còn gần một trăm đồng tiền nhà trường trả
lại hôm nhập học, chưa có học bổng. Tổng cộng, em có hơn 100 đồng, đủ mua thuốc
cho cha em.
Chị Nhũ đến nói:
- Anh Lành đưa tôi cầm hộ em Tân. Tôi gói tiền trong
bọc quần áo cho cẩn thận. Em nhận tình cảm của cả lớp cho các anh chị vui.
Riêng chị, chị cho em 1 đồng nữa. Chị kết nghĩa chị em với em, chị góp tiền
thuốc cho cha.
Chị Nhũ đang cuộn tiền vào giữa bộ áo quần của tôi thì
anh Tiến đến.
- Em Tân, anh Doãn cho em 5 đồng. Anh cho em 1 đồng,
em về mua thuốc chữa bệnh cho cha. Em cất tiền cẩn thận kẻo đi đường đánh rơi.
Sáng mai 6 giờ anh Thành đến đây. Anh mua xôi cho hai anh em ăn rồi về quê. Anh
mua thêm hai hào xôi, đến trưa hai anh em ăn. Chiều tối về nhà ăn cơm, các em
không tốn tiền ăn hàng dọc đường…
Đêm hôm ấy tôi trăn trở nghĩ thương cha không ngủ
được. Mẹ tôi ốm có tôi và cha tôi chăm đến lúc chết. Còn cha chỉ có một mình.
Hàng xóm vẫn nói dì ghẻ tôi là gái giang hồ, cốt bám lấy cha tôi để ăn. Mang
tiếng mua móng giò về nấu cháo đỗ đen cho cha tôi thì mụ ăn phần nhiều. Nước
mắt tôi chảy ướt đầm gối. Sáng dậy, chị Nhũ đến bên tôi ôm chặt tôi nấc lên:
- Khổ thân em, đêm qua chắc em không ngủ, trông em phờ
phạc. Chắc ba không làm sao đâu. Em ngồi sau xe phải bám sau yên xe cho chắc,
kẻo ngã em nhá. Đường xa gần hai trăm cây số, em chưa ngồi xe đạp đèo bao giờ,
tê chân đau đít lắm. Cố gắng chịu đựng về với ba em nhá!...
Hơn sáu giờ tôi và anh Thành lên xe. May chị Nhũ căn
dặn tôi ngồi xe cẩn thận, không thì tôi đã ngã. Anh Thành đạp xe nhanh. Tôi
nhìn nhà bên đường chạy vun vút về phía sau đến chóng mặt. Tôi định nói anh đi
chậm lại, nhưng sợ “không kịp về gặp ba” như anh Doãn nói. Tôi thắc mắc trong
đầu: ba tôi đi đâu mà tôi “không kịp gặp”, nhưng tôi không dám hỏi anh Doãn.
Nghe tiếng còi tàu hỏa, tôi nhìn lên: “Ga Thường Tín”.
Xe bò kéo gạch trước mặt tôi ì ạch. Anh Thành đạp xe vun vút vượt bên phải,
chân tôi đập vào bánh xe bò, vạt áo tôi vướng vào chân chống xe đạp. Tôi bị kéo
lê trên đường một đoạn. Mắt tôi nảy đom đóm. Tôi nghe tiếng quát:
- Anh đi xe đạp Thống Nhất đứng lại! Con bé ngã mà
không biết. Ới anh đi xe đạp Thống Nhất!...
Có ai bế tôi vào quán nước. Họ lau mặt, rửa đầu gối
cho tôi. Tôi thấy đau rát má phải, nhức nhối mắt phải và đầu gối. Tôi cố mở mắt
không nhìn thấy gì, mãi sau mắt trái tôi mới nhìn thấy anh Thành lờ mờ. Anh hỏi
tôi:
- Em Tân thấy trong người thế nào?
- Em đau đầu, đau đầu gối lắm.
- Hay anh đèo em về trường Bưu điện, chữa khỏi vết
thương rồi hãy về thăm ba em?
Tôi nhỏm dậy:
- Ơ không! Anh đèo em về thăm ba em đi.
Tôi tụt từ giường xuống đất đau nhói đầu gối, bước đi
tập tễnh. Bà bán nước nói:
- Mặt cháu xưng vù, mắt phải húp híp bầm tím thế kia,
đầu gối cháu máu còn chảy thấm đỏ băng, không đi được đâu.
- Bà ơi cháu phải về với cha cháu!... Cháu chịu đựng
đau quen rồi. Cái gì làm cháu đau, cháu coi như không đau.
Bà chủ quán bật cười:
- Con bé này nói hay thật, chịu đau quen rồi, lần đầu
trong đời bà nghe một đứa trẻ nói thế.
Anh Thành nói:
- Hoàn cảnh em khổ từ bé bà ạ, chuyện dài lắm. Xin phép
bà, cảm ơn bà rất nhiều. Cháu cũng là người ngoài, nhưng thấy em là đứa bé chăm
ngoan, có hiếu với cha mẹ cháu giúp em.
- Nhưng anh đi cẩn thận đấy nhá. Anh muốn vượt xe gì
nhớ vượt bên trái, thì em mới không bị ngã.
Bà cụ đỡ tôi ngồi sau xe, bảo tôi bám chặt áo bên sườn
anh Thành cho chắc. Anh Thành đạp xe từ từ. Anh bảo:
- Anh đạp vừa thôi, kẻo xe sóc em đau. Em đỡ đau đầu
chưa? Mắt phải em nhìn thấy chưa? Anh ân hận quá, thiếu cẩn thận anh làm em khổ
thêm. Nhìn hai vết thương ở mặt, ở đầu gối chân phải em, anh biết em đau lắm.
Em là đứa bé có nghị lực lắm. Anh Doãn kể về em, anh biết cả rồi. Anh thương em
nên mới đèo em về thăm cha. Đội bóng đá Thể Công của anh đang bận tập luyện để
cuối năm đá giao hữu với đội Liên Xô ở sân vận động Hàng Đẫy. Anh phải nói dối
mẹ anh ốm nặng, mới xin được nghỉ hai ngày.
Tôi lặng yên nghe anh Thành rủ rỉ nói chuyện. Những
vết thương của tôi dịu dần, tôi cảm giác đỡ đau hơn. Cảm động trước lòng tốt
của anh Thành, tôi nghĩ phải cố gắng chịu đau. Về nhà, nếu ba hỏi các vết thương,
nói dối ba mình không đau, vui vẻ chăm ba chóng khỏi bệnh…
- Anh đèo em về đến nhà là anh đi ngay đấy nhá. Anh
tranh thủ về thăm bố mẹ ở Nghĩa Hồng. Em về chơi nhà anh Doãn, anh Tiến bao giờ
chưa?... Chưa à!... Ờ, làm gì có thời gian mà đi chơi được. Thế à? Hai anh hồi
trước nghỉ hè vẫn về nhà em chơi à?... Ừ, anh Doãn, anh Tiến thương em lắm. Anh
cũng thương em. Em đói khổ mà sao học giỏi thế?...
* *
*
Chương
4
Chúng tôi về
- Em có đau lắm không? Anh để em ngã, anh ân hận quá!
Giúp em lại hóa làm em khổ thêm…
- Lúc nãy đi đường em mải nghĩ về cha ốm một mình, em
thương ba em không thấy đau. Giờ em mới thấy đau một ít.
- Em nói dối cho anh đỡ buồn chứ gì?
- Em nói thật. Từ bé em chịu đau quen rồi. Cha em nổi
tiếng dữ đòn ở chợ Quỹ. Hễ cha mẹ em tức nhau lôi em ra đánh: “Cho mày chết
đi…” Em quen bị đánh nhiều nên chẳng thấy đau gì. Hàng xóm bảo cha mẹ em giận
cá chém thớt, nhưng em không thấy cha mẹ chém thớt bao giờ.
Bà cụ bán nước và anh Thành bật cười.
Tôi giục anh Thành:
- Anh ăn nốt chỗ xôi, uống nước rồi đi. Em nóng lòng
về với cha em lắm. Em no rồi.
Anh Thành thở dài, mắt đỏ hoe. Bà cụ đưa cho tôi cốc
nước chè xanh, uống vào thấy ngọt, tôi đưa anh Thành:
- Nước chè pha đường, anh uống cho khỏe đèo em về nhà.
- Anh cũng uống như em. Hai anh em mình cùng bồi dưỡng
cốc nước chè xanh pha đường cho đỡ mệt.
Khi đi qua trường cấp hai Liễu Đề, học sinh đang tập
thể dục giữa giờ chiều. Tôi nhận ra thầy Quân dạy thể dục đứng thổi còi. Người
tôi nao nao nhớ về những kỷ niệm ba năm học ở Liễu Đề…
Tới cổng nhà, tôi nhảy xuống xe, chạy ào vào gọi:
- Ba ơi con về đây! Ba ơi!...
Cha tôi đưa bàn tay xanh xao nắm tay tôi, nói yếu ớt:
- Con làm sao mặt sưng vù như cái niêu đất thế này?
Anh Thành dựa xe ngoài sân vào nói chuyện với cha tôi.
Tôi vơ đống quần áo của cha ở cuối giường đem ra bến sông ngâm nước. Tôi vào
nhà thì anh Thành dắt xe ra cổng.
- Anh nói chuyện với ba em rồi. Ba thương em lắm, khen
em là đứa con có hiếu. Anh tranh thủ về thăm bố mẹ ở Nghĩa Hồng, mai anh lên Hà
Nội. Anh gặp anh Doãn anh Tiến nói lại mọi việc ở nhà em cho các anh biết.
Tôi vào hỏi cha:
- Ba ơi! Ba ăn gì để con nấu? Ngày hôm nay ai cho ba
ăn?
Cha kéo tôi ngồi xuống giường:
- Con nghỉ tí đã. Khổ thân con. Giờ ba mới biết thương
con thì muộn quá rồi!...
- Không muộn ba ạ. Ngày trước mẹ ốm con chăm, mẹ cũng
bảo khi biết thương con thì muộn quá. Sao ba mẹ nói giống nhau thế? Ba mẹ
thương con, không đánh đuổi con ra khỏi nhà là con sung sướng lắm. Từ nay con
được ở trong nhà mình. Con không phải lang thang bắt cáy ở nhờ khắp nơi nữa.
Con sướng rồi!...
Cha tôi vuốt mắt khóc. Lần thứ hai tôi thấy cha khóc,
tôi thương cha quá. Lần đầu cha tôi khóc khi mẹ tôi chết, cha nói lời vĩnh biệt
rồi khóc. Giờ cha lại khóc, vì sao?...
Cha tôi nói đứt quãng:
- Con còn ít tuổi, chưa hiểu ý cha nói. Khi nào con
mười tám, hai mươi con sẽ hiểu. Cha ân hận vì đánh con ác quá, mà con chẳng có
tội gì. Con chỉ là đứa con ngoan, chăm làm, học giỏi, yêu kính cha mẹ.
- Sắp tối rồi, con đi nấu cháo cho ba. Con cũng ăn
cháo. Con nhai cơm đau mặt lắm.
Tôi vào buồng mở nắp vò gạo, khoắng tay không có một
hạt. Tôi hỏi cha:
- Ba ơi nhà mình không còn gạo từ khi nào? Ba nhịn đói
à?
- Bạn Hạt con, bà con hàng xóm vẫn đem cho ba bát
cháo.
- Ba không còn tiền đong gạo à ba?...
Ba tôi lặng ngắt ứa nước mắt. Tôi nói ngay:
- Ba ơi, con được học bổng toàn phần hai mươi hai đồng
một tháng. Con ăn cơm hết 15 đồng. Còn 7 đồng, tháng nào con nhịn ăn sáng,
không phải mua nhiều sách vở, con tiết kiệm được năm sáu đồng. Hôm nay con mang
về hơn một trăm đồng. Các anh chị trong lớp góp tiền cho, cộng với tiền con
dành dụm hồi cất vó tép, bắt cáy ở Liễu Đề. Mai con đi chợ đong gạo, mua thịt
về nấu cháo cho ba.
Tôi chạy ù sang nhà Hạt. Cả nhà bạn vừa đi làm đồng
về. Hai chúng tôi ôm nhau òa khóc. Hạt xuýt xoa: “Trông đằng ấy xí gái đi!”.
Tôi vay gạo Hạt về ngay, hẹn tối mai sang đọc kinh nói chuyện.
Nồi cháo sôi được một lúc tôi vùi than, ra bến sông
giặt đống áo quần cho cha. Phơi xong áo quần, tôi cầm đèn dầu vào buồng thắp
hương mẹ. Ban thờ mẹ đầy cứt gián, cứt chuột, không có một nén hương, lạnh
ngắt. Ảnh mẹ, tôi đưa chị Tâm đem truyền hình năm 1961, chẳng hiểu chị truyền
hình chưa? Lòng buồn thắt ruột, nước mắt tôi ứa ra. Tôi mở tủ áo quần, rỗng
không. Những bộ vét tông của cha tôi, những tấm áo dài gấm, nhung của mẹ tôi
đâu mất?... Chạn bát mốc trắng hôi xì. Tôi không dám hỏi ba, lặng lẽ đem mấy
bát to đi rửa múc cháo.
Trưa hôm sau ăn cháo, cha tôi khen:
- Con hầm xương sườn rừ quá! Lâu lắm ba mới được ăn
bát cháo sườn ngon.
Tôi mừng nói với cha:
- Ba ơi, ăn cơm xong, con lấy sách thuốc đọc những bài
thuốc về bệnh phổi, bệnh thận, ba chọn bài thuốc nào hay, con chép vào giấy,
sang Phát Diệm bốc thuốc cho ba uống khỏi bệnh ba ạ.
Cha nhìn tôi ngạc nhiên:
- Sao con biết ba bị bệnh phổi, bệnh thận?
Anh Doãn anh anh Tiến bảo khám bệnh cho ba, biết ba bị
bệnh phổi, bệnh thận.
Cha tôi lặng ngắt húp bát cháo, chảy nước mắt.
* *
*
Tôi sang Phát Diệm cắt thuốc bắc cho cha, về đến nhà
đã tối từ lâu. Cha tôi bảo:
- Bạn Hạt con nấu hộ cháo. Nó đem cho ít củi gộc tre.
Nồi cháo vẫn vùi tro nóng, con ăn đi, ba ăn rồi.
Tôi xuống bếp gầy củi nhóm lửa sắc thuốc cho cha,
tranh thủ ăn cháo. Ấm thuốc sôi, tôi rút bớt củi, rắc trấu xung quanh bếp cho
lửa cháy âm ỉ.
Ngồi bóp chân cho cha, tôi nói:
- Ba ơi, chân ba sưng to như chân voi. Con hái ngải
cứu rang muối chườm cho ba, khỏi ngay ba ạ.
- Ai bảo thế?
- Ông Sơn chủ nhà con trọ học ở Liễu Đề ba ạ. Mấy lần
con đi cất vó tôm đêm về, hai đầu gối con sưng đỏ, đau nhức. Ông Sơn bảo con
hái ngải cứu rang với muối chườm. Con làm mấy lần như thế khỏi sưng đầu gối
chân.
- Khổ thân con, con bị thấp khớp. Con đưa tay ba xem
mạch nào… Con bị thấp khớp đớp tim rồi. Trơi ơi!... Ba ân hận quá, để con lội
bùn bắt cua từ bảy tuổi lầm lũi. Về già con bị thấp khớp nặng, đau nhức xương
lắm. Hai chân ba do bệnh phù thũng, không phải bệnh thấp khớp như con. Ngải cứu
chườm không khỏi, ba phải uống thuốc bắc.
- Ba ơi, sao bụng ba to như bụng bà chửa thế?
- Cán bộ Việt Minh bị giặc Pháp bắt tù, tra tấn, ăn
khổ thiếu chất, ai cũng bị bệnh gan, thận, phổi con ạ. Nước mình bị ngoại xâm
triền miên, chưa bao giờ bình yên.
- Ba ơi ba, hay ba lên bệnh viện huyện chữa bệnh ba ạ.
- Tiền đâu mà vào bệnh viện hả con?
Tôi xuống bếp chắt thuốc ra bát bưng lên cho cha uống.
Trong đầu tôi nghĩ: giờ sang nhà Hạt đọc kinh, gửi tiền bạn Hạt mai mua hộ sườn
nấu cháo, sắc thuốc giúp. Tôi đi lên huyện thật sớm xin cho cha vào bệnh viện.
Tôi giấu không cho cha biết. Tôi dặn bạn Hạt nếu cha hỏi tôi đi đâu thì nói
không biết.
Bốn giờ sáng tiếng chuông nhà thờ binh boong gọi con
chiên đi cầu nguyện, tôi bật dậy bốc nắm đậu đen, nắm gạo nấu cháo cho cha. Nồi
cháo sôi, tôi vần xuống cạnh chân kiềng, đặt ấm thuốc lên. Ấm thuốc sôi, tôi
vun trấu xung quanh bếp, lặng lẽ ra khỏi nhà. Sương trắng bay là là, con đường
đất nhớp nháp. Chốc nữa bạn Hạt đi nhà thờ về sẽ múc cháo, chắt thuốc cho cha
tôi.
Tôi đến bệnh viện Nghĩa Hưng mới chín giờ sáng. May
mắn cho tôi gặp bác sĩ giám đốc bệnh viện vừa đi giao ban về. Tôi trình bày:
- Thưa bác sĩ, cha cháu là cán bộ Việt Minh nội thành
bị giặc Pháp bắt tù tra tấn. Cha cháu bị bệnh phổi, gan, thận, bụng to như bụng
bà chửa, chân to như chân voi. Cháu xin bác sĩ cho cha cháu vào bệnh viện chữa
nợ tiền thuốc. Hai năm nữa cháu học xong trung cấp điện báo ra công tác, cháu
có tiền lương trả bệnh viện ạ.
Bác sĩ giám đốc bệnh viện cười bảo tôi:
- Không được cháu ạ. Cha cháu bảo cháu đến nói với bác
à? Hay ai?
- Thưa bác, không ai bảo ạ, tự cháu nghĩ cháu đi từ
bốn giờ sáng lên đây nói bác cứu cha cháu.
- Mẹ cháu đâu? Cháu có anh chị không?
- Thưa bác, mẹ cháu mất ba năm nay ạ. Cháu có ba anh,
hai chị, một chị lấy chồng, một chị mới ra dạy học ở huyện Hải Hậu ạ. Các chị
ấy với cháu là người dưng ạ.
Bác sĩ bật cười:
- Cháu nói gì lạ vậy? Chị cháu có cùng mẹ cháu đẻ ra
không?
- Có ạ. Nhưng bố các chị bỏ mẹ cháu đi lấy vợ khác.
Cha cháu lấy mẹ cháu nên các chị bảo cháu là người dưng không thương cháu, ghét
cha cháu ạ.
Bác sĩ chau mày thở dài:
- À!... Hoàn cảnh cháu éo le nhỉ… Bác rất thương cháu.
Cháu ít tuổi mà có hiếu với cha mẹ quá. Nhưng quy định của bệnh viện, ai vào
chữa bệnh phải trả ngay tiền thuốc cháu ạ.
Nước mắt tôi tuôn như suối. Bác sĩ cũng lấy khăn mùi
xoa trong túi áo thấm mắt.
- Bác thương cháu quá, nhưng không thể nhận chữa bệnh
cho cha cháu không có tiền được. Bệnh cha cháu nặng lắm, có chữa cũng… Bác cho
cháu năm hào về mua thịt nạc nấu cháo cho cha.
- Bác sĩ – Một thanh niên chạy vào phòng – Thưa bác
sĩ, có bệnh nhân cấp cứu ạ!...
- Chia tay cháu nhé! Cháu về nhà kẻo cha mong.
Nước mắt tôi chảy ròng, mắt hoa, tai ù ù như xay lúa
đi ra khỏi bệnh viện huyện. Chợt tôi nhớ đến ông Chủ tịch huyện Nguyễn Văn
Khoan, hàng năm ông trao phần thưởng cho tôi vào ngày tổng kết năm học. Từ đây
lên ủy ban huyện chưa đầy hai cây số, mình thử đến gặp bác Khoan nói bác giúp
đỡ cho cha vào bệnh viện…
Nghe tôi trình bày, Chủ tịch Nguyễn Văn Khoan nắm cổ
tay tôi:
- Bác thương cha cháu, thương cháu lắm! Bác biết cha
cháu hoạt động bí mật nội thành. Hoạt động bí mật không ai biết ai làm gì, chỉ
một thủ trưởng biết và phân công nhiệm vụ. Thủ trưởng hy sinh là đồng đội chịu,
có ai biết ai được giao nhiệm vụ gì đâu. Cha cháu và chú Sơn anh em kết nghĩa
trong tù, rủ nhau về quê chú Sơn ở Nghĩa Hòa. Cái đận cải cách… rõ khổ… Cha
cháu và chú Sơn bất mãn, không sinh hoạt đảng nữa, thiệt thòi.
Ông Khoan sụt sùi.
- Bác ơi, bác nói bác sĩ giám đốc bệnh viện huyện cho
cha cháu được chữa bệnh nợ tiền được không?
- Không được cháu ạ, nguyên tắc tài chính. Chỉ có
cách… giờ bác đèo cháu xuống bệnh viện huyện.
Gặp bác sĩ giám đốc, bác Khoan nói:
- Bé Tân đây là học sinh giỏi của huyện ta ba năm cấp
hai. Năm 1961 cháu Tân lên tỉnh thi học sinh giỏi toán lý, đoạt giải nhất toàn
tỉnh. Cháu hoàn cảnh gia đình khổ, nhưng là đứa bé chăm ngoan, học giỏi. Bác sĩ
nghe cháu kể bệnh của cha, kê đơn, cấp thuốc theo tiêu chuẩn của tôi, Chủ tịch
huyện. Cha cháu là cán bộ hoạt động nội thành, bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man,
anh kết nghĩa với ông Sơn ở chợ Quỹ. Anh bà con với ông Sơn thì thấu hiểu. Ông
Sơn chết rồi. Hoàn cảnh này nên giúp, cần giúp bác sĩ ạ.
- Vâng! Thưa Chủ tịch huyện, bác linh hoạt giải quyết
trường hợp đặc biệt này chính đáng ạ.
Hai người bảo tôi ngồi chờ, đi ra ngoài một lúc quay
lại. Đưa cho tôi gói giấy, bác sĩ bảo:
- Cháu đem thuốc về cho cha uống. Bác kê đơn thuốc,
liều uống có đủ trong đơn. Cháu đọc cho cha cháu nghe nhé!
- Nhưng hôm qua cháu sang Phát Diện cắt ba chén thuốc
bắc, cha cháu uống hôm nay mới hết một chén. Cha cháu bảo may ra uống thuốc bắc
thuốc nam sẽ đỡ bệnh.
Bác Khoan reo lên:
- A, ở huyện Hải Hậu có ông lang gia truyền chữa bệnh
hay lắm. Nhưng nhà cháu không có tiền thì chịu.
Tôi cảm ơn bác Khoan Chủ tịch huyện và bác sĩ ra về.
Đang cắm đầu đi trên con đê sông Ninh, tôi nghe tiếng
ai gọi phía sau:
- Bé Tân! Bé Tân đứng lại!
Anh thanh niên mặc áo blu trắng vẫy tôi. Đến nơi anh
bảo:
- Bác Khoan Chủ tịch huyện đưa xe đạp bảo anh đèo em
về đến nhà thờ Lạc Đạo, đỡ cho em đoạn đường đi bộ. Em đi bộ giỏi thế. Hơn hai
chục cây số từ chợ Quỹ lên huyện. Em đi từ mấy giờ đêm mà chín giờ em đã đến
bệnh viện?
- Bốn giờ chuông nhà thờ gọi con chiên đi lễ em dậy,
nấu cháo, sắc thuốc cho cha xong em mới đi.
- Bác Khoan bảo
có khi từ sáng đến giờ, em chưa có gì cho vào bụng. Chắc em chưa ăn phải không?
- Vâng! Ơ, sắp đến nhà thờ Lạc Đạo rồi kìa anh.
- Em cứ ngồi yên, anh đèo đến cầu xã Nghĩa Phong.
Anh y tá đèo tôi đến chợ Lạc Đạo, quá trưa vẫn còn lưa
thưa mấy bà hàng xén, mấy hàng bánh đa bánh đúc. Anh dừng xe bảo:
- Anh em mình vào ăn bánh đúc. Anh đói lắm.
Từ ngày tôi đi học ở Hà Nội, không ăn bánh đúc, nay về
quê ăn bánh đúc mắm tôm ngon tuyệt. Tôi ăn hai bát bánh đúc no căng bụng. Anh y
tá ăn ba bát. Năm bát bánh đúc có một hào, rẻ ơi là rẻ. Giá ở cổng trường Bưu
điện Hà Nội có hàng bánh đúc thế này thì tôi ăn mỗi ngày một hào, tiết kiệm
được nhiều tiền gửi về cho cha uống thuốc…
Hơn năm giờ chiều tôi về đến nhà. Thấy cha ngồi tựa
lưng vào tường, tôi mừng reo lên:
- Ơ, ba ngồi được rồi à ba? Ai đỡ ba dậy?
- Anh Thắng nhà bạn Hạt. Con đi đâu từ sớm đến giờ?
Tôi kể chuyện lên bệnh viện huyện, mở gói thuốc, đọc đơn
thuốc cho cha nghe. Trầm ngâm một lúc cha tôi nói:
- Con cả nghĩ, chịu khó, định làm gì con làm bằng
được. Con là con trai thì phải. Lúc sắp ra đi, mẹ thường nói với ba con là đứa
con có hiếu nhất nhà. Mỗi con út chăm mẹ giường cứt chiếu đái. Cha mẹ tức nhau
lôi con ra đánh ác quá, cốt đánh cho con chết để mỗi người một ngả. Mẹ con mê
muội ông chồng Thái bạc bẽo. Ông ta đã bỏ mẹ con, đi lấy mấy vợ khác rồi. Ba
giai tân lấy nạ dòng, mẹ vẫn ghét bỏ cha con mình. Cha uất quá mất khôn đánh
con đau, đày đọa con – Cha ôm mặt khóc.
- Ba ơi, hàng xóm nói ba đẹp trai giai tân, sao lại
lấy nạ dòng hả ba?
- Vì ba hoạt động nội thành. Ba lấy bà chồng bỏ, có
con thì địch nó không để ý. Nó cho ba là thanh niên lẩn thẩn mới lấy bà bốn con
chứ. Ba bị bắt, đồng đội hy sinh là có kẻ phản bội. Như cụ Đề Thám bị hai tên
phản bội chặt đầu nộp giặc Pháp lấy tiền thưởng ấy con ạ. Giặc tra tấn ba và
chú Sơn trong tù dã man lắm. Ba dạy võ chú Sơn đỡ đòn giặc, không thì hai người
chết trong tù rồi.
- Ba ơi con rót cốc nước cho ba uống thuốc bệnh viện.
- Để ba uống hết thuốc bắc, nghỉ một ngày mới uống
thuốc tây. Một lúc uống hai loại thuốc khác nhau nguy hiểm chết người. Bệnh
viện cho ba toàn thuốc bổ.
Bác Cống bưu điện vào nhà tôi:
- Cháu Trần Thị Nhật Tân có thư này.
Cầm phong thư tôi mừng rỡ khoe với ba:
- Chị Nhũ kết nghĩa chị em với con gửi thư ba ạ.
- Con mở thư đọc cho ba nghe.
Tôi cẩn thận lấy kéo cắt mép đầu thư rút ra cái ruột
dày cộm. Mở ra hai tờ giấy trắng mới thấy lá thư gấp làm tư ở giữa, tôi reo
lên:
- Ơ, có năm hào chị Nhũ kẹp trong thư ba ạ.
- Con đọc thư chị đi.
Hà Nội ngày 23
tháng Chạp năm 1961.
Em Tân thương
nhớ!
Nhà trường
cho phép em về thăm cha một tuần. Đã hai tuần chưa thấy em lên học. Sắp nghỉ
Tết. Hôm nay ông Táo lên trời, em đã mua gì cúng chưa? Trong lớp ai cũng thương
em, nhớ em, mong em lên phụ đạo toán lý cho lớp. Chị Tuyết không có em kèm
toán, bị điểm kém lắm, nhắc đến em luôn. Một trăm phần trăm đoàn viên họp chi
đoàn, đồng ý đưa em vào diện cảm tình. Em vui lên nhé! Nghỉ Tết xong em lên học
nhé! Chị nhớ và thương em lắm. Anh Tiến ngày nào cũng gặp chị hỏi tin em. Chị
gửi cho em năm hào, em mua gì cho cha hộ chị. Tạm biệt em.
Chị: Phạm Thị Kim Nhũ.
Cha nhìn tôi trìu mến:
- Con giỏi toán lý, nhiệt tình hướng dẫn các anh chị
học kém, được mọi người quý mến. Chị Nhũ người ngoài mà tốt quá. Mấy năm trước
con hay nói với ba cho con học đến đại học, để con nghĩ ra máy cày cho nông dân
đỡ vất vả dắt trâu đi cày. Giờ con còn mơ ước nữa không?
- Có ba ạ. Anh Tiến bảo con ra trường tiếp tục học vô
tuyến. Con sẽ nghĩ lắp cái đài thật tốt để nghe đài tiếng nói Việt
Cha tôi cười:
- Đúng là con của ba. Không vào được đại học thực hiện
ước mơ chế tạo ra máy cày cho nông dân, con lại ước mơ lắp đài vô tuyến để nghe
tin tức trong ngoài nước. Con có ý chí tốt. Ra trường công tác rồi, con cần
tiếp tục học cao hơn mữa. Học suốt đời vẫn thấy mình dốt con ạ.
* *
*
Chương
5
Chiều 30 Tết năm 1961.
Tôi ngồi gốc cây la ngoài bến sông nhìn dòng nước lững
lờ trôi, lòng tôi cồn cào như sóng biển. Nhớ tuổi chín mười tôi nhảy xuống sông
quyết tự tử, để khỏi bị “hai ông bà dì ghẻ” đánh chết. Nhưng người nổi lên, tôi
đành bơi vào bờ. Lần thứ hai xin được đoạn thừng trâu, tôi treo cổ lên cây la
bến nhà ông Long thì chắc chắn chết. Đêm ông Long ra bến sông thấy tôi, ông cắt
dây thừng bế tôi xuống. Nhà thầy Hiến bờ bên kia, nay gia đình thầy đã chuyển
lên phố. Học sinh cấp hai ở Liễu Đề, đứa nào cũng yêu quý thầy Hiến dạy sử. Giờ
sử thầy dạy chỉ mười lăm, hai mươi phút là xong. Cả lớp thích thú lắng nghe,
thuộc ngay bài sử thầy dạy. Còn thì giờ, thầy kể chuyện: “Chiếc khuy đồng”, “Ai
van hô”, “Những người khốn khổ” v.v… Mấy tháng mới hết truyện. Học sinh lớp nào
cũng háo hức, mong ngóng đến giờ dạy sử của thầy Hiến. Lòng bâng khuâng tôi nhớ
thầy Hiến dáng cao gầy, má hóp giống cha. Ánh mắt thầy hiền từ vui cười. Biết
khi nào tôi mới gặp lại thầy kính mến của tôi?... Sông ơi!... Sông còn nhớ ta
không?... Hơn một năm ta không cất vó tôm đêm ở bờ sông, nhớ quá. Sông còn cho
dân chợ Quỹ nhiều tôm cá như mấy năm ta ở nhà không?... Thầy Hiến ơi!... Thầy ở
đâu?... Nếu không có thầy Hiến giúp đỡ, thì mình lang bạt ở đâu? Như đám bèo
trôi trên dòng nước kia, không biết dạt vào bến bờ nào?... Ngày hôm nay ba mươi
Tết. Mai mồng một Tết năm 1962. Ban thờ mẹ không có được nải chuối. Mình chỉ
mua thẻ hương thắp ba ngày Tết cho mẹ đỡ buồn. Chắc mẹ biết mình dành tiền mua
thuốc chữa bệnh cho cha. Khi mẹ ốm ba năm nằm liệt, còn có ba cắt tóc nuôi cả
nhà. Hai cha con chăm mẹ. Nay cha ốm nặng có một mình mình chăm. Tết chẳng có
gì ăn…
- Em Tân!
Tôi giật mình quay lại. Anh Tiến mắt đỏ hoe nhìn tôi.
Tôi ôm chầm anh Tiến khóc nức nở. Anh Tiến kéo tôi ngồi xuống gốc cây la, anh
cũng khóc. Một lúc lâu anh Tiến nói:
- Anh và anh Doãn về quê ăn Tết từ hôm qua. Mồng hai
Tết các anh đèo xe đạp nhau lên Hà Nội, anh Doãn trực đêm ở bệnh viện. Các anh
bàn nhau đến thăm ba em. Anh Doãn đang khám bệnh cho ba em. Khổ thân em bị ngã,
mắt em còn tím bầm. Cái vết xước ở má em thành sẹo thì xấu gái đi. Em bôi nghệ
à?... Ừ, các cụ bảo bôi nghệ vào chỗ ngã xây xước chóng lành da không bị sẹo…
Tôi và anh Tiến vào nhà, thấy anh Doãn đang dìu ba tôi
đi chầm chậm. Anh Doãn nói:
- Ba em khá lên nhiều rồi Tân ạ. Ba bảo nhờ bàn tay
khéo của con gái nấu cháo thịt, sắc thuốc cho ba uống chóng khỏi bệnh. Em là cô
Tấm thảo hiền.
Ngồi xuống giường, cha bảo tôi:
- Con lấy con dao rựa bổ củi, dẫn anh Doãn ra bụi tre
đầu nhà chặt cho ba hai cái gậy, ba tập đi.
Hai anh em mang gậy vào nhà, cha tôi cầm hai gậy đi
thử.
- Ơ hay đấy! Tôi đi được rồi, mừng quá!... Cảm ơn hai
anh đối tốt với tôi.
Anh Doãn nói:
- Thưa bác không có gì đâu ạ. Anh em cùng học một
trường, người cùng một huyện phải thương nhau. Ai cũng thương bé Tân học giỏi,
ngoan mà hoàn cảnh khổ quá.
- Tại tôi!... Tại tôi tất cả… Tôi ân hận lắm – Cha tôi
khóc.
- Anh em cháu xin phép bác về kẻo tối ạ.
Ra đến cổng, anh Doãn ôm tôi thơm vào hai má:
- Em ít tuổi mà có hiếu với cha mẹ quá! Em giỏi giang
lắm – Nước mắt anh Doãn chảy ướt má tôi – Anh kể chuyện em, các bác sĩ ở khoa
anh thương em, cho ít thuốc anh mang về cho ba. Anh đưa cho ba em gói thuốc
rồi. Các anh về nhé!...
Tôi vào nhà cha bảo:
- Hai anh cho quà, quả bưởi con đem vào thắp hương mẹ.
Cái đùi gà luộc con cất đi để mai cha ăn cháo sáng.
- Ba ơi, hai anh Tiến, Doãn là người ngoài mà tốt ba
nhỉ. Chị Trâm, từ hôm con về chẳng thấy chị đến. Tết, chị Tâm không về, chắc
chị về nhà ông Thái ở Phủ Lý.
- Nó đi chơi nhà bạn nào ăn ngon, chứ nó không về ông
Thái đâu. Cái ông bố keo kiệt. Mẹ con là vợ cũ dẫn hai con về chơi, ông ta còn
không cho bữa cơm rau nữa là… Khi sắp chết, mẹ con nói lời xin lỗi ba, đối xử
không tốt với cha con mình. Mẹ hắt hủi hai cha con. Cuối cùng, chỉ hai cha con
ta chăm mẹ cho đến khi chết trên tay.
Tôi chắt bát thuốc lá mà cha tôi bảo đi kiếm bên vườn
ông lang Phúc đã mất từ lâu. Uống xong bát thuốc, cha tôi bảo:
- Ba phải nói lời cảm ơn con. Không có con về chăm ba
ăn uống, thuốc men thì ba… Con là đứa con có hiếu nghĩa. Con phải học anh Doãn,
anh Tiến sống tốt với mọi người. Ai đói khát, con nhường cơm sẻ áo. Ai gặp nạn
giữa đường con giúp. Con đã sống tốt nên con được mọi người thương quý. Ba ân
hận bắt con làm quá sức, đánh ác, đuổi con ra khỏi nhà.
Cha ôm mặt khóc.
- Ba ơi, ba đừng nói nữa.
- Ba phải nói, không thì ba không nhắm mắt được con
ơi!... Sao ba có học mà ngu thế… Con mình không nuôi, toàn đi nuôi con người.
Hết nuôi con Trâm, con Tâm ăn học ra làm cô giáo, đến nuôi con mụ Vợi quỷ dạ
xoa… Hu! Hu!...
Tôi chạy ra ngoài lau nước mắt rồi sang nhà bạn Hạt.
* *
*
Mùng năm Tết tôi sang Hải Hậu tìm ông lang chữa bệnh
có tiếng cắt thuốc cho cha. Tiện thể, tôi hỏi thăm chị Tâm dạy học ở đâu. Mấy
bà đội thúng đi chợ trưa về gọi nhau:
- Bà Lạng ơi bà Lạng, có cô bé hỏi thăm cô giáo Tâm
trọ nhà bà đây này. Bà rảo chân lên!...
- Lạy Chúa! Có cô bé nào hỏi tôi à?... Giê Su, hai chị
em sao chẳng giống nhau thí gì. Chị béo tốt tắng tẻo. Em gầy còm như que thậy.
Giờ này chị Tâm cháu chưa về. Cháu theo bà về nhà thổi cơm. Đến bữa chị cháu về
ăn.
Ăn cơm trưa xong, tôi rủ chị Tâm ra ngồi bờ ao chủ nhà
nói chuyện. Tôi kể hết bệnh tình của cha. Chị Tâm nghe thờ ơ, trong khi nước
mắt tôi chảy ướt vạt áo. Im lặng lúc lâu chị Tâm nói:
- Năm ngoái tao về chị Trâm, chị nói ông ba ốm nặng.
Mụ dì ghẻ ăn cắp hết mọi thứ trong nhà rồi cuốn xéo. Ông ba nằm đói lả mấy ngày
mê man, đái ỉa ra giường kinh lắm. Ông Thang đóng vai Thạch Sanh hồi ông ba làm
tổ trưởng văn nghệ xã, ông ấy sang thu dọn, cho bát cháo. Bạn Hạt mày biết ông
ba hết tiền hết gạo, cũng nấu cháo cho ăn mới sống đấy. Họ tốt thật!
- Ảnh mẹ em đưa chị truyền thần đâu? Chị đưa em đem về
lồng khung kính ban thờ mẹ.
- Tao chưa truyền, ảnh hỏng, chỉ còn tờ giấy ố vàng
tao bỏ đi rồi.
Tôi bật khóc:
- Mẹ ơi!... Chị không yêu quý mẹ mà mẹ yêu quý chị
thế. Mẹ ơi!... Mất ảnh mẹ rồi mẹ ơi!...
- Con này, hơi tí khóc. Ảnh mẹ hỏng có gì phải khóc
thảm thiết. Con trai mới phải thờ cúng cha mẹ. Con gái đi lấy chồng thờ cúng
nhà chồng.
- Nhà mình các anh Tây bắn chết hồi bắt ba, còn mỗi
con gái phải cúng cha mẹ. Con gái cũng cúng cha mẹ.
- Mày đi mà cúng cha mẹ, tao không cúng.
- Chị ăn Tết ở đâu? Chị về nhà chị Trâm à?
- Con ngu, tao về chị Trâm có gì ăn mà tao về. Tao ở
đây ăn Tết với chủ nhà. Ở nhà quê họ quý cô giáo dạy con họ lắm. Ba mươi Tết
nhà họ mổ lợn, bốn nhà đụng một con. Nhà họ nuôi gà, làm thịt, ăn Tết to ngon.
Tao ăn ở đây mỗi tháng chỉ góp với chủ nhà mười lăm cân gạo. Tao để dành được
ối tiền lương.
- Sao ba ốm chị không về thăm, cho tiền ba uống thuốc?
- Ông ấy không phải bố tao, người dưng tao không cho.
- Mẹ chết, ba nuôi chị năm lớp bảy đến đi học sư phạm
là gì.
- Lấy mẹ tao thì ông ấy phải nuôi tao. Tao dành tiền
khi lấy chồng nuôi con. Tao với mày người dưng, không quan hệ gì.
Tôi buồn rũ ra về. Đến xã Nghĩa Phú tôi vào nhà chị
Trâm, chị đang gọt dong riềng luộc ăn tối. Cháu Hưng mới được mấy tháng, nằm
đập chân trên giường bồm bộp.
- Cái Tân về bao giờ thế?
- Em về từ trước Tết mấy tuần. Sao chị không đi chợ
Quỹ? Chị không vào thăm ba? Tết anh chị không về? Có ba cây số.
- Cháu còn bé tao không gửi ai được mà đi. Ông ba hồi
mới lấy mẹ đánh tao ác lắm. Tao căm thù ông. Hễ tao làm hỏng cái gì là ông đánh
bét đít.
- Nhưng ba ốm chẳng có ai chăm. May bạn Hạt em và bà
con hàng xóm hằng ngày cho ba bát cháo. Mẹ con mụ Vợi ăn cắp mọi thứ chuồn mất
tăm. Em con đẻ ba còn đánh ác cho chết đi.
- Tự ông ba chuốc nợ vào thân. Ai bảo lấy loại giang
hồ. Gái giang hồ bạ đâu xà vào lợi dụng ăn bám. Trên làng Quỹ có bà Bấc gù,
nhưng mặt xinh. Người đi giáo hiền lành thật thà, muốn lấy ông ba không lấy.
Chú Điệp thân thế, xui ông ba lấy bà Bấc gù bà ấy quý bà ấy chăm thì không
nghe. Giờ ông ba trắng mắt ra, bị con mụ giang hồ già cóc đế nó lừa, ăn hết nó
xéo.
Tôi tủi thân khóc. Cha tôi ốm chị không chăm, không
thăm, còn riếc móc. Tết chị không về. Bà Thang hàng xóm nói: “Cha sinh không
tày mẹ dưỡng”. Bố đẻ các chị không nuôi một ngày. Cha tôi nuôi, các chị bạc
thế. Tôi ra về, chị Trâm chạy ra ngõ gọi:
- Tân ơi, tao cho ít củ tróc đem về luộc ăn. Tao đẻ
cũng ăn củ tróc, thỉnh thoảng mới độn mấy hạt gạo. Anh Lương dạy học bên Hải
Hậu không đủ ăn. Chủ nhật nào anh cũng về lấy mấy cân gạo đi ăn, không thì đói.
Về tới nhà, tôi kể cho ba nghe chuyện gặp chị Tâm, chị
Trâm. Ba tôi thở dài:
- Con Tâm bạc cả với mẹ đẻ nữa là cha dượng. Mẹ con
yêu chiều, vun vén nhất con Tâm. Con Trâm khổ. Đúng là ba hay đánh con Trâm. Ba
dạy bảo nó như con đẻ. Ngay con là con đẻ, cha còn đánh ác nữa là. Nó hậu đậu,
đụng làm gì là hỏng là vỡ. Con Tâm, ba không dám động chạm vì nể mẹ con. Mẹ con
yêu chiều con Tâm, không để làm gì. Mọi việc nhà, con Trâm phải làm hết. Con
Trâm đi lấy chồng thì mọi việc đổ lên đầu con.
Chú Điệp tập tễnh đi vào nhà tôi.
- Anh, em trông anh khá lên rồi, da đã khởi sắc. Ngày
trước anh bắt cháu quay máy tông đơ lúc bảy tuổi, cháu không quay nổi, anh cộc
cờ lê vào đầu máu chảy cháu ngất. Em can ngăn anh không nghe. Giờ cháu có tiền
chăm cha.
Cha tôi ôm mặt khóc. Tôi xuống bếp sắc thuốc cho cha,
vẫn nghe tiếng chú Điệp lắp bắp nói chuyện với cha.
- Chú ơi, tôi tức mẹ nó mất khôn chú ạ. Cái loại viên
chức tham, phán của giặc Pháp nó bạc bẽo, thay vợ như thay áo. Thấy gái đẹp nó
lấy, chán nó bỏ tìm lấy gái khác. Đâu như tôi đảng viên Đảng lao động thủy
chung. Gần chết, mẹ nó có lời xin lỗi bố con tôi. Bà ấy nói con Tân sẽ khổ. Mọi
chuyện đã qua, càng nói càng đau lòng chú ạ.
- Mỗi người một cảnh khổ khác nhau. Hôm nay em định
vào nói với anh, sau lễ Phục sinh em làm mâm cơm cúng cụ báo cáo bà con hàng
xóm, em lấy cô Lài trên làng Quỹ. Cô Lài hiền lành, thật thà. Từ ngày con vợ
lăng loàn em đi theo giai, các cháu còn bé em vất vả lắm. Em sức yếu, tay chân
lẩy bẩy không chăm các cháu cẩn thận được. Người đi giáo ở Quỹ họ tốt.
- Chú lấy vợ là phải. Chợ Quỹ ai cũng thương chú tốt
tính, chữa đồng hồ giỏi, nuôi vợ con ăn trắng mặc trơn béo hú, đú đởn theo
giai.
Tôi đọc kinh bên nhà bạn Hạt về, gặp chú Điệp đi ra
sân.
- Cháu Tân đọc kinh bên nhà Hạt về đấy à? Dân chợ Quỹ
nói cháu là người đi đạo rồi. Ai cũng thương cháu, quý cháu. Giờ cha cháu quý
cháu hơn vàng rồi cháu ạ. Chú về nhá!...
Tôi bần thần ngồi xuống bậu cửa. Sao con người khổ
thế? Người chồng bỏ, người vợ bỏ, chả hiểu thế nào. Giá chị Trâm đừng đi lấy
chồng thì việc gì phải làm nuôi chồng nuôi con? Lớn lên, mình không lấy chồng
cho khỏi bị khổ…
- Con ơi con chắt thuốc cho ba uống rồi đi ngủ, khuya
rồi con ạ.
Tôi không thấy buồn ngủ, ngồi bóp chân cho cha để máu
lưu thông, đi được dễ dàng. Im lặng lâu lắm, cha nói:
- Con có giận ba không?... Không à?... Ba đánh con ác,
đuổi con ra khỏi nhà. Con tự kiếm sống học hết cấp hai. Giờ cha ân hận quá.
Mười ba tuổi mà con còi cọc, bé bằng đứa lên mười. Con ngoan quá!... Con yêu
kính cha à…
* *
*
Hôm nay tôi vào xã Nghĩa Tân kiếm củi.
Lúc đi qua nhà cụ lang Trần Văn Hiện, tôi đứng nhìn
vào ngõ. Cây bưởi đơm hoa trắng xóa, ong bướm bay tíu tít. Lòng bồi hồi xúc
động nhớ cách đây năm năm tôi được cụ cứu sống. Tôi nghĩ đi kiếm củi xong, lúc
về vào thăm cụ. Hương bưởi ngan ngát đuổi theo sau lưng tôi, làm tinh thần phấn
chấn. Chân tôi bước nhanh đi khắp các đường làng, nhặt nhạnh củi. Chẳng mấy
chốc tôi đã kiếm được bó củi to.
Bước chân vào cổng nhà cụ lang Hiện, tôi thấy ấm áp
hẳn lên. Hương bưởi vấn vít quanh người. Đàn ong vo ve như lời chào khách. Yên
ắng quá. Đặt bó củi dưới gốc cây bưởi, tôi rón rén bước đến cửa nhà. Cụ Hiện
đang ăn cơm với hai người, một nam, một nữ bế con trên tay.
- Cháu chào cụ!... Cháu chào… anh chị.
Ba người bật cười. Cụ Hiện nheo mắt nhìn tôi giây lát
rồi nói to:
- A!... Ông nhận ra cháu rồi! Cháu Tân kiếm củi ở chợ
Quỹ. Cháu vào đây. Ông có vợ chồng cháu nội về ở. Cháu gọi anh chị thôi, mới
ngoài hai mươi. Bà mất bốn năm nay rồi, không ai cơm nước cho ông. Hai cháu
phải về ở với ông để chăm ông. Năm năm nay, mà trông cháu chả nhớn được mấy.
Cháu đi đâu qua đây, hay cháu đi kiếm củi rồi vào ông? Cháu còn nhớ ông nhỉ.
- Thưa ông, cha cháu dạy ai làm việc tốt cho mình phải
biết ơn. Ông đã cứu cháu sống, cháu nhớ ông suốt đời.
Tôi kể hết chuyện từ ngày mẹ chết tôi sống như thế
nào. Giờ cha tôi ốm nặng tôi đem tiền về chăm, cũng sắp hết tiền rồi. Tôi nghỉ
mấy tháng thế này lo nhà trường không cho học tiếp. Cụ Hiện nghe chuyện, đôi
mắt nhìn đâu xa xăm buồn. Im lặng lâu, tôi định bụng đứng lên xin phép cụ lang
ra về thì cụ bảo:
- Ông nghĩ rồi, cháu chờ ông một chút.
Cụ lang Hiện đứng lên bốc lá thuốc nam ở những cái giỏ
to trên sàn tre. Cụ gói một chục gói đưa cho tôi.
- Cháu hết tiền cắt thuốc bắc cho cha thì cháu sắc
thuốc nam của ông. Đây là bài thuốc chữa phù chân to.
Xúc động trước lòng tốt của cụ lang Hiện, tôi nghẹn
ngào không nói được lên lời, những giọt nước mắt lăn xuống má.
- Con bé này dễ cảm động. Làm lương y cốt để cứu người
cháu ạ. Người bệnh nào có tiền thì lấy chút công. Ai nghèo khó như hoàn cảnh
cha con cháu, ông biếu. Lương y như từ mẫu cháu ạ. Chắc ông nội cháu là ông
lang giỏi mới có quyển sách thuốc của ngài Tuệ Tĩnh to dầy biếu ông năm xưa.
- Ông ơi, nhà cháu còn nhiều quyển sách thuốc nhỏ. Cha
cháu bảo ông nội cháu ở Hải Phòng chữa bệnh thuốc đông y nổi tiếng. Cha cháu và
hai chú hoạt động Việt Minh. Cha cháu trốn giặc Pháp truy lùng phải về
Cụ lang Hiện tiễn chân tôi ra tận ngoài đường. Cụ nắm
tay tôi:
- Không ai dạy cháu chăm ngoan hiếu nghĩa, mà sao cháu
ngoan thế, hiếu nghĩa với cha mẹ quá! Cha mẹ đối xử ác với cháu mà cháu không
thù hận, cháu vẫn yêu kính cha mẹ.
- Cháu học trong sách cụ ạ. Nhà cháu có tủ sách to
lắm. Quyển sách “Những tâm hồn cao thượng” toàn chuyện tốt cụ ạ. Có người chịu
chết để cứu người khác sống. Có những em bé dũng cảm không sợ thú dữ, vào rừng
hái lá thuốc về chữa bệnh cho mẹ sống. Toàn những người làm việc tốt cụ ạ. Cháu
học những người tốt trong sách.
Cụ lang Hiện gật đầu cười:
- Cháu nói đúng! Sách là người bạn tốt nhất cháu ạ.
Cháu ham đọc sách, học điều tốt trong sách, ông tin cháu sẽ là người có ích cho
xã hội sau này.
Tôi về đến sân, cha tôi chống gậy ra bảo:
- Con để ba cầm đỡ bó thuốc cho. Chắc cụ lang Hiện ở
Nghĩa Tân cho ba đây. Con ăn cháo đi. Cháo ba nấu đấy. Trưa nay bạn Hạt sang
nấu hộ cháo như con dặn. Ba bảo bạn con về, ba tập nấu cháo cho quen để tự nấu
được mà ăn. Con phải chuẩn bị lên trường học, kẻo nhà trường thấy con nghỉ lâu
gạch tên đi.
Tôi đói ngấu vào bếp múc cháo ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ
sắc cho cha hết mười gói thuốc lá cụ lang Hiện. Nếu cha tôi đi lại được như mấy
hôm nay thì tôi lên trường.
Tôi ngồi bóp chân cho cha, tôi nói ý nghĩ của mình:
- Ba ơi, gần hết tháng Giêng âm lịch con đi lên
trường. Con không sợ học yếu. Con sẽ làm được những bài toán lý khó.
- Ba dặn con, khi con định làm việc gì quan trọng, con
phải nghĩ trước nghĩ sau, lật đi lật lại như giải bài toán khó. Con phải giả
thiết sự việc xấu thì làm gì? Bài toán khó đến đâu, nhưng con giả thiết thế
này, giả thiết thế kia, con áp dụng mọi công thức, quy tắc rồi con cũng giải
được.
- Ơ, sao ba biết con làm thế?
- Ba biết con giỏi toán từ năm lớp ba học thầy Ninh.
Con giải bài toán đố bằng phép tính nhân nhanh gọn hơn thầy Ninh làm phép tính
cộng. Thầy dốt hơn trò, chị Tâm mách lẻo con khai tăng tuổi đi học sớm. Thế là
thầy đuổi con xuống lớp hai. Ba dọa đánh con cho con ngoan, con không tự cao tự
đại. Ai giỏi mà tự cao tự đại thành người dốt ngay con ạ. Mình giỏi phải khiêm
tốn học hỏi nhiều hơn nữa mới bớt dốt con ạ.
- Ba ơi, con đem cây đàn thập lục sang Phát Diệm bán
lấy tiền cho ba uống thuốc và đong gạo.
- Con bán cây đàn nguyệt của ba. Đàn thập lục ba mua
cho con học, con đã đánh được ba mươi sáu câu vọng cổ rồi. Con mang lên trường
bưu điện, thỉnh thoảng con đánh đàn cho các anh chị trong lớp nghe vui.
- Bán đàn thập lục được nhiều tiền hơn ba ạ, hôm nọ
con hỏi thử ông bán đàn ở Phát Diệm rồi. Cây đàn nguyệt để khi ba khỏi, ba đàn
hát cho vui nhà. Con ra công tác có tiền lương, con mua cây đàn sau. Phải có
tiền cho ba ở nhà ăn. Mỗi tháng con gửi cho ba năm đồng.
- Con tính thế cũng được. Thôi, đi ngủ đi con, khuya
rồi. Ba nhắc con khi đi ngủ, con đặt tay lên trán nghĩ xem ngày hôm nay con làm
việc gì tốt, việc gì chưa tốt để tránh điều sai mai làm tốt hơn.
Mười ngày trôi đi nhanh, tôi chuẩn bị lên trường. Chú
Điệp vào chơi, ba tôi còn lấy đồ nghề ra cắt tóc cho chú.
- Con thấy chưa, ba nhúc nhắc việc được rồi. Mai ba có
thể mở cửa đón khách cắt tóc. Con đã kiếm cho ba đống củi to, đun nửa năm chưa
hết. Vò mắm cáy con mới làm, cha ăn ba tháng chưa hết đâu.
Chú Điệp nói theo ba tôi:
- Cháu yên tâm đi học cho giỏi. Ba cháu ở nhà đã có bà
con hàng xóm, có bạn Hạt cháu, có chú thường ngày qua lại.
- Tôi nói với cháu rồi, mẹ con bà Vợi có về đây ăn bám
tôi đuổi. Tôi đã tự nấu ăn được. Vài tháng nữa cháu nghỉ hè về. Hai năm nữa
cháu ra trường công tác. Cháu ở đâu tôi theo đấy. Hai cha con nương tựa nhau.
- Em rất mừng anh cắt đứt hai mẹ con tầm gửi ăn bám
anh.
Chương
6
Tôi bước vào phòng như người hết hơi, ngồi phịch xuống
giường thở. Chị Nhũ kêu lên:
- Ơ em Tân à?... Ôi! Trông em như người sắp chết. Chắc
em đói à?
Chị Tuyết từ giường tầng hai tụt xuống:
- Eo ơi!... Em Tân gầy thế?...
Chị Nhũ lẳng lặng đi ra ngoài. Tôi nằm xuống giường,
không còn hơi sức trả lời những câu hỏi của các anh chị. Nghe tin tôi lên
trường, dù đã mười giờ đêm các anh ở phòng nam cũng chạy sang. Tai tôi như có
đàn ve kêu, mắt nảy hoa cà hoa cải.
Chị Nhũ mở ra gói xôi:
- Em ăn đi cho đỡ mệt.
Chị Tuyết pha cốc nước đường cho tôi.
- Em uống cốc nước đường rồi ăn xôi. Em đi đường xa
khát nước mệt.
Tôi uống ừng ực hết cốc nước đường tỉnh người. Ăn hết
gói xôi, tôi mới kể chuyện cho các chị nghe. Tôi để lại hết tiền cho cha ở nhà
đong gạo. Sáng nay tôi bốc mấy nắm gạo thổi cơm, được hai miệng bát. Tôi ăn
miếng cháy còn bát cơm nắm đến trưa ăn. Chỉ có một đồng ba hào, đủ mua vé tàu
hỏa và vé xe điện từ bờ hồ Hoàn Kiếm về trường. Tôi đi bộ từ nhà lên ga
- Anh Tiến về quê ăn Tết, lên nói em chăm cha lắm.
Hàng ngày em nấu cháo thịt cho cha, còn em chỉ ăn cháo với rau luộc chấm mắm
cáy. Em gầy xanh đi nhiều, không hồng hào như ở trường. Khuya rồi ngủ đi, để
chị mắc màn cho em.
Sáng hôm sau anh Tiến đến sớm mua cho tôi một hào xôi
lạc ăn no. Anh bảo tôi phải lên gặp bác Khuôn trình bày lý do về chăm cha ốm
nặng gần hai tháng. Ban giám hiệu nhà trường thường đến trước giờ làm việc.
Nghe tôi trình bày hoàn cảnh, mọi người lắng nghe.
Thầy hiệu trưởng thỉnh thoàng bỏ kính cận dầy cộm ra thấm mắt, lau kính. Bác
Khuôn trưởng phòng tổ chức nhìn tôi chăm chú. Mắt bác đỏ hoe, rút khăn mùi xoa
trong túi quần ra xỉ mũi liên tục. Sau phút im lặng, bác Khuôn nói:
- Ban giám hiệu nhà trường nghe lớp trưởng 5E báo cáo,
đã biết hoàn cảnh của cháu. Nay trực tiếp nghe cháu trình bày, bác rất thương
cháu. Nói về nguyên tắc thì cháu bị gạch tên khỏi lớp. Nhưng xét thực tế, cháu
học giỏi, cán sự phụ đạo toán lý cho lớp, là người có hiếu với cha mẹ. Do hoàn
cảnh đặc biệt nên nhà trường giải quyết đặc biệt, cho cháu tiếp tục học. Liệu
cháu có đảm bảo tự học hỏi các môn trong thời gian nghỉ để thi học kỳ không?
Tôi mừng quá nói ngay:
- Thưa bác, cháu hứa kỳ thi cháu đạt điểm giỏi các môn
ạ!
Tôi về lớp học, các anh chị ùa ra vui mừng đón tôi.
- Bé Tân gầy xanh quá!
- Đi lao động ở công trình thủy điện Thác Bà về, em đã
lên cân, xinh ra bao nhiêu, nay em…
- Bé Tân chăm ba sắp khỏi ốm là mừng rồi.
- Chiều nay, bé Tân tiếp tục phụ đạo toán lý cả lớp.
- Mừng nhất chị Tuyết đấy nhé. Cân đường chị Tuyết
uống dở, cho nốt bé Tân bồi dưỡng chóng khỏe…
Ngay chiếu hôm ấy tôi phụ đạo hai môn toán lý cho cả
lớp như hồi cuối năm ngoái. Các anh chị trong lớp rất ngạc nhiên. Tôi không nói
cho ai biết đem theo sách về nhà tự học. Những hôm cha ngủ sớm, tôi lặng lẽ ra
sân học dưới ánh trăng. Tôi không thắp đèn dầu học, sợ cha thức giấc, tốn tiền
dầu. Lúc này mọi chi tiêu phải tiết kiệm, dành tiền chạy chữa bệnh cho cha.
Suốt năm học lớp bảy ở Liễu Đề, tôi chuyên học bài, làm bài dưới ánh trăng. Ai
cũng bảo tôi có đôi mắt bồ câu sáng như hai ngôi sao. Tôi mải miết tự học và
giải hết các bài toán lý của chương trình mà không nói với ai. Tôi nghĩ, muốn
được tiếp tục học thì mình phải học giỏi. Nếu nhà trường bảo tôi nghỉ quá hạn
không theo học với lớp được, tôi xin giải hết những bài toán lý trong sách,
chứng minh mình tiếp tục học được. Sự lo xa của tôi không cần đến, tôi càng yên
tâm học cho giỏi.
Lĩnh hai tháng học bổng xong, tôi ra bưu điện Hà Đông
gửi cho cha 10 đồng. Tôi nghĩ thầm cha đủ tiền uống thuốc bắc. Yến gạo tôi đong
trước khi đi cha ăn cháo phải hai tháng mới hết. Mấy tháng nữa tôi nghỉ hè về
với cha. Chắc cha vui lắm. Tôi viết mấy dòng ở phần thư chuyển tiền nói với cha
vẫn học tốt, buổi chiều vẫn phụ đạo toán lý cho lớp như trước để cha mừng.
* *
*
Nhận điện báo cha chết, tôi bàng hoàng không tin sự
thật. Tôi móc trong túi áo cánh lấy ra sổ lịch con xem. Hôm nay mồng 8 âm. Hôm
mình lên trường 29 tháng giêng. Hôm ấy cha vui vẻ, khỏe, còn cắt tóc cho chú
Điệp…
- Em Tân! Nội dung bức điện nói gì đấy? Sao em ngồi
thừ ra vậy?
Chị Nhũ ở dưới lớp đi lên bảng, cầm bức điện từ tay
tôi đọc: “Bố chết về ngay”. Chị Nhũ khóc òa:
- Khổ thân em!... Cha chết rồi em ơi!... Em đi chưa
được chục ngày. Hu hu!... Em ơi cha chết rồi!...
Anh Lành lớp trưởng nói:
- Lớp ta nghỉ học chiều nay. Anh chị em về phòng tự
học. Bé Tân nỗi đau lớn quá không khóc được. Tôi lên báo cáo nhà trường cho bé
Tân nghỉ phép về chịu tang cha. Nhũ đi gọi anh Tiến lớp 3Đ, bàn việc cho em Tân
về nhà ngay.
Anh Tiến đi vội, vấp ngã bổ nhào vào cửa phòng, nước
mắt sướt mướt, tay cầm bức điện của tôi.
- Em Tân khổ quá! Tí tuổi đầu em mồ côi cả cha mẹ.
Đầu tôi trống rỗng như không có óc. Nhận bức điện từ
tay bác bưu tá, tôi tưởng tượng ra cảnh nhà mái rạ tiêu điều, cha nằm chết cứng
một mình trên giường. Cha chết khổ quá, không vợ không con ở bên, ai vuốt mắt?
Không ai khóc thương. Từ lớp về phòng, chị Tuyết sụt sịt khoác tay tôi. Tôi cảm
giác như đang bước hẫng hụt chỗ không có mặt đất. Ai nói gì tôi không để ý, chỉ
tưởng tượng ra cảnh mẹ chết có cha vuốt mắt, nói lời vĩnh biệt, tôi ôm mẹ khóc.
Cha chết âm thầm một mình chẳng ai biết. Chị Trâm, chị Tâm có biết cha chết
không? Một chị thù cha đánh hồi bé. Một chị nói cha người dưng không biết…
- Em Tân!... Anh mua vé tầu cho em về
Chị Nhũ giằng lấy vé tầu:
- Đưa tôi nhét vào túi áo cài kim băng cho nó. Từ nãy
đến giờ nó như người mất hồn. Tôi với anh chờ, đưa nó lên tầu rồi ta về anh
Tiến ạ.
Ấn tôi ngồi xuống ghế tầu, chị Nhũ hai tay lay vai tôi
dặn:
- Em đi đường cẩn thận nhé! Em nhớ túi bên này đựng
tiền, túi tay trái đựng vé tầu, chị cài kim băng rồi. Túi có mỗi bộ áo quần em
đeo vào vai kẻo quên trên tầu.
Chị Nhũ anh Tiến nghe tiếng còi tầu báo rời ga Hàng Cỏ
vội vã đi xuống.
Tầu hỏa về đến ga
- Cháu bé về đâu?
- Cháu về chợ Quỹ cha cháu chết ạ.
Xem bức điện báo của tôi, chú thương binh nói:
- Đến sáng bán vé, chú nhường cháu mua trước, sau đến
mấy chị con thơ kia, đến chú ưu tiên, rồi mới đến các bác xếp hàng đây.
Ô tô về đến Liễu Đề hơn 9 giờ, vào chợ ăn một hào bánh
đúc, tôi rảo bước. Khi đi qua trường cấp hai Liễu Đề thân yêu, tôi bồi hồi xúc
động nhưng không dám dừng chân. Đến lối rẽ vào nhà thờ Lạc Đạo qua nghĩa địa có
bạn Liên nằm, tôi dừng chân thì thầm: “Bạn Liên ơi, bạn là người tốt, chắc bạn
đã được lên thiên đàng. Cha tớ mất rồi. Cha tớ là Việt Minh đánh đuổi thực dân
Pháp xâm lược, cũng là người tốt, chắc cũng được lên thiên đàng. Bên lương
chúng tớ gọi là về cõi Phật. Bạn sẽ gặp cha tớ, tha hồ trò chuyện…”
Tôi về đến làng Quỹ, những người đi đường gặp tôi thì
thầm với nhau:
- Giê Su, con út ông Văn học ở Hà Nội giờ mới về.
- Khốn khổ thân con bé, gầy quắt queo.
- Nhà đi lương mà nó kính Chúa, hay đi lễ nhà thờ với
con Hạt nhà bà Hoan.
- Nó lam làm lấm lem hơn cả con nhà nông dân mình.
- Thương hại nó quá!...
Về đến cổng nhà, tôi bủn rủn chân tay, các khớp xương
như muốn rời ra. Cảm giác như tim tôi ngừng đập, có gì chẹn cổ, tôi thấy nghẹt
thở…
Bát hương có ít chân nhang đặt trên bàn cắt tóc của
cha tôi. Cửa liếp ngoài mặt đường đã đóng lại, bàn cắt tóc được kê sát vào cửa
liếp. Chiếc giường cha nằm vẫn yên chỗ cũ. Sát cửa buồng là cái phản mấy chị em
tôi ngày trước nằm. Trong buồng còn nguyên giường mẹ tôi. Nhà trống vắng lạnh
lẽo. Đặt túi áo quần xuống giường, tôi đến bàn cắt tóc cha, thấy khăn trắng vải
màn gấp dài tôi liền đội lên đầu. Một nắm hương to và mấy bao diêm để bên bàn.
Khi châm hương cắm vào bát hương, nước mắt tôi tuôn chảy, gục đầu xuống bàn tôi
gọi: “Cha ơi!...” Khóc một thôi, tôi chợt nhớ chị Nhũ dặn phải cúng người chết
49 ngày. Không biết cha chết ngày nào?... Tôi đi hỏi ông Hoan trưởng xóm. Ông
Hoan bảo:
- Cháu lên trường ngày 29 tháng giêng thì mồng 6 tháng
hai cha cháu mất. Cũng không ai ngờ cha cháu mất, tưởng cháu đem tiền về chăm
cha uống thuốc, ăn uống có chất, cha cháu dần hồi phục. Hóa ra ông cụ đánh lừa
hàng xóm, trốn cháu ra đi một mình. Mẹ con bà vợ ông Sơn nghe tin ông Văn mất
liền chạy vào. Lúc liệm cha cháu cũng có mấy mẹ con bà Sơn chít khăn tang. Trọn
nghĩa vẹn tình anh em đồng đội kết nghĩa với cha cháu trong nhà tù thực dân
Pháp. Hàng xóm tiễn đưa cha cháu đông đủ. Xe tang đi được nửa đường thì chị Trâm
cháu trên Nghĩa Phú xuống. Không có con đẻ thì con riêng vợ tiễn chân cha dượng
cũng là. Cháu gặp thêm chú Điệp mà hỏi.
Nghe ông Hoan trưởng xóm nói, lòng tôi vơi đi nỗi đau.
Cha được bà con xóm giềng lo đám tang đặt bên cạnh mẹ, trong nghĩa địa giáo dân
chợ Quỹ.
Tôi vào nhà chú Điệp đã nhập nhoạng tối.
- Lạy chúa! Cháu Tân – Chú Điệp kêu lên – Sao giờ cháu
mới về?
- Chú ơi, chiều hôm qua cháu mới nhận được điện báo.
- Trời ơi! Sao điện đến chậm thế? Chú vào nhà, thấy
cha cháu thổ ra máu. Chú chạy ra bưu điện đánh điện ngay cho cháu chiều ngày
mồng 6 tháng hai. Chú bảo thím lên Nghĩa Phú gọi chị Trâm. Chị ấy xuống dọn
dẹp, thay áo quần cho cha cháu rồi về vì con thơ. Một mình chú túc trực chờ cha
cháu trút hơi thở cuối cùng. Chú vuốt mắt cho cha cháu. Khổ thân cháu – Chú
Điệp khóc.
Thím Điệp bưng mâm cơm lên. Lần đầu tiên tôi biết vợ
hai chú. Thím đeo chiếc thánh giá bạc to
trước ngực. Gương mặt trái xoan, nước da bánh mật, sống mũi cao thẳng,
trông thím dịu hiền như bà Maria. Thím tươi cười bảo tôi:
- Cháu mới về chắc chưa nấu ăn, tiện bữa cháu ăn cơm
với chú thím. Nhà này ăn ngày ba bữa cơm, chứ không nhịn đói tối như các nhà
khác mà cháu lo chú thiếu gạo.
Lúc này tôi mới thấy đói cồn cào. Sáng nay tôi ăn một
hào bánh đúc ở chợ Liễu Đề. Đi bộ hơn hai chục cây số, đầu óc lo buồn thương
cha, tôi quên đói. Giờ nói đến ăn cơm tôi mới nhớ cả ngày chưa có hạt cơm vào
bụng.
- Hùng, Hoa đâu về ăn cơm các con – Thím Điệp ra đường
gọi hai con vợ trước chú Điệp.
Ngay lập tức hai đứa dạ ran chạy về. Tôi ngạc nhiên
thằng Hùng lớn, cao hơn tôi cái đầu. Năm nay nó 12 tuổi, kém tôi 2 tuổi. Nhìn
thấy tôi nó chợt ngạc nhiên sững lại. Sau nó reo lên, nắm tay tôi:
- A chị Tân con bác Văn! Chị ơi dân làng chôn bác rồi.
Sao hôm nay chị mới về?...
Tôi, chú thím Điệp mắt mọng nước.
- Chị ở Hà Nội xa, không về ngay được em ạ.
Chú Điệp nói:
- Các con rửa tay ăn cơm cho chị về nhà kẻo tối rét.
Thím Điệp làm dấu xong, hai con bưng bát cơm mời ba mẹ,
mời chị lễ phép mới ăn cơm. Tôi đói ngấu, thức ăn ngon miệng: tôm rang, rau cải
luộc đập gừng. Tôi ăn liền ba bát cơm no căng bụng. Lúc tôi ra về, chú Điệp tập
tễnh đi cùng tôi một đoạn đường.
- Bác Hoan trưởng xóm có nói với cháu chuyện bà Vợi
không?
- Không chú ạ. Sao hả chú? Bà Vợi làm sao?
- Cha cháu chết, chôn xong thì hai ngày sau bà ta về.
Hàng xóm thấy sớm hôm sau mẹ con bà ta mỗi người gánh một gánh nặng đi đâu
không biết. Từ hôm cha cháu mất, ngày nào chú cũng đem bát cơm vào thắp hương
cha cháu. Mỗi ngày một bữa thôi, chú bận làm, với lại đi đứng khó khăn. Dân chợ
Quỹ đi giáo không thắp hương, không thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ. Họ chỉ thờ
Chúa thôi. Họ bảo Chúa sinh ra muôn loài, không phải cha mẹ sinh ra mình. Không
máu mủ ruột rà, nhưng chú với cha cháu thương quý nhau như anh em một nhà. Cháu
học ở xa, chú cúng cha cháu đủ 49 ngày, kẻo tội cha cháu…
Nghe chú Điệp nói, tôi mới nhớ cảm giác khi bước vào
nhà thấy trống rỗng, lạnh lẽo. Chào chú, tôi chạy về nhà kiểm tra đồ đạc xem
sao.
Bật diêm thắp đèn dầu, châm nén hương cắm vào ban thờ
cha, tôi thấy lưng bát cơm. Lúc mới về tôi không để ý, chắc bát cơm chú Điệp
cúng cha bữa trưa. Cầm đèn vào buồng, trước tiên tôi sờ vò gạo xem có thì thổi
cơm cúng cha. Vò gạo rỗng không. Mở tủ áo quần, chỉ còn cái áo rách bươm, cái
quần vá của cha. Tủ sách. Ôi thôi! Sách biến đâu mất? Bao nhiêu sách thuốc quý
mình đọc bài thuốc cho cha chọn để chữa bệnh, mất hết. Con mụ yêu tinh Vợi ăn
trộm gánh đi bán rồi. Soi đèn vào ban thờ mẹ. Thôi chết! Mất cái kính của mẹ để
thờ rồi. Chị Tâm để hỏng ảnh mẹ, còn vật kỷ niệm cái kính thờ mẹ cũng mất. Chắc
con yêu quái Vợi nó bán đi rồi. Mình phải sang nhà bạn Hạt, chị Phê, ông bà
Thục, ông bà Long, ông bà Thang hỏi.
Quá nửa đêm tôi mới về nhà. Mệt mỏi, tôi ngả lưng
xuống tấm phản. Nhớ lời cha dạy trước khi nằm ngủ, đặt tay lên trán kiểm điểm
xem ngày hôm nay làm việc gì đúng, việc gì sai để sửa chữa. Qua những câu
chuyện của các ông bà hàng xóm, mới biết mụ Vợi quỷ quái yêu ma y như trong
truyện cổ tích mình đọc. Sáng mai, mình đi chợ mua mấy nắm hương để chú Điệp
thắp cho cha. Ra mộ cha mẹ thắp hương. Thổi cơm cúng cha. Ăn no lên chị Trâm.
Chiều sang Phát Diệm chuộc lại sách. Mọi việc mình phải tranh thủ để lên Hà Nội
học. Cha chết rồi, mình nấn ná ở nhà chẳng làm gì lãng phí thời gian. Sắp xếp
mọi việc trong đầu xong, tôi thiếp đi lúc nào không biết.
* *
*
- Tân dậy!... Ngủ gì ngủ khiếp thế? Gọi mãi không tỉnh
giấc - Chị Trâm kéo tay tôi.
- Ôi chị Trâm! Em về chiều hôm qua. Khi đi qua Nghĩa
Phú, em không vào chị, vội về nhà xem sao. Em ngủ mê mệt, định dậy sớm mà giờ
muộn quá rồi. Em không nghe được chuông nhà thờ đánh thức nữa, em ngủ say thật.
- Tao đi chợ Quỹ bán ít củ tróc, tiện thể ghé vào thắp
cho ông Văn nén hương. Chú Điệp tốt với ông Văn lắm, ngày nào cũng cúng ông Văn
bát cơm. Tao ở xa, con thơ, có ở gần thì chẳng có cơm mà cúng. Cháu mới được ba
tháng tao chỉ ăn tróc. Sữa mẹ xấu, nó đi tướt, suốt ngày thuốc. Tao bán tróc có
tiền mua thuốc cho nó.
- May quá gặp chị, em không phải lên. Giờ em đi chợ
mua hương, đong bơ gạo thổi cơm ra mộ cúng cha mẹ. Em sang Phát Diệm chuộc lại
một số quyển sách quý, vật kỷ niệm của ông nội và cha em. Hàng xóm nói mẹ con
mụ Vợi gánh sách sang Phát Diệm bán, cả cái chậu thau đồng rửa mặt nữa. Cái
kính để thờ mẹ, mụ bán cho bà Hoan bốn hào. Việc làm xấu của mụ quỷ quái Vợi,
hàng xóm biết hết chị ạ. Hồi ba mới ốm, mụ gánh hai chậu đồng to với áo quần
đẹp của ba mẹ sang Phát Diệm bán rồi biến.
Hai chị em cùng ra khỏi nhà.
Trước khi đi, tôi nghĩ thắp cho cha nén hương, đeo túi
áo quần lên vai, nhỡ không về nhà nữa. Việc trước tiên, tôi vào nhà ông Hoan
chuộc lại kính đeo mắt của mẹ. Bà Hoan nói:
- Mắt bác toét nhoèn, đùn dỉ cả ngày, cần đeo kính.
Cháu giữ kính mẹ, đợi khi có chỗ ở lập ban thờ thì chắc gì còn mà thờ. Cháu
công tác nay đây mai đó dễ mất lắm.
- Bác làm ơn cho cháu xin chuộc lại vật kỷ niệm của mẹ
để cháu thờ, cháu nhớ mẹ vẫn ở bên cháu. Cha cháu có hai tấm ảnh còn lại trong
tủ sách. Cháu sẽ khâu cái túi vải đựng kính của mẹ, ảnh của cha, cháu thờ khi
ra công tác. Còn từ giờ, cháu cất trong cặp sách…
Chuộc được kính của mẹ, tôi rảo bước đến nhà chú Điệp.
Chú ngừng tay chữa đồng hồ, nghe tôi kể những việc làm xấu xa của mẹ con mụ Vợi
vơ vét hết sách quý đi bán. Những truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Hai Bà Trưng đánh
quân Tô Định, bà Triệu cưỡi voi đánh giặc, tôi đọc đi đọc lại lần nào cũng
thích. Nghe xong chú bảo tôi:
- Cháu tiết kiệm thời gian thì chú tính thế này cho
nhanh: giờ thổi cơm, ăn cơm ở nhà chú. Cháu đem cơm ra mộ cúng bố mẹ. Cháu sang
Phát Diệm chuộc sách, đi ô tô lên thị xã Ninh Bình, cháu đi xe lửa lên Hà Nội
trong ngày hôm nay.
Tôi mừng quá, chạy ra chợ đong bơ gạo nếp, mua nải
chuối, thẻ hương về nhà chú Điệp thổi cơm. Mùi cơm nếp thơm thơm, biết cơm đã
chín, tôi đơm đĩa cơm đầy đặt vào rổ cùng nải chuối thẻ hương ra mộ bố mẹ. Khi
trở về nhà chú Điệp, tôi đã thấy thím dọn mâm cơm dưới bếp. Một mình tôi ăn cơm
trước để đi. Ăn xong cơm mới hơn chín giờ. Tôi nghĩ ra chợ cảm ơn chị Tâm Tài.
Chia tay chú thím Điệp lưu luyến. Chú Điệp nắm tay tôi khóc sướt mướt. Tôi chắp
tay lạy cảm ơn chú ở nhà thắp hương cho cha.
Quầy thịt lợn chị Tâm Tài bán đã hết, chỉ còn vài khúc
xương. Thấy tôi, chị Tâm Tài òa khóc:
- Ối em Tân ơi!... Khổ thân em, giàu con út khó con
út. Từ nay em mồ côi cả cha lẫn mẹ rồi em ơi!...
Tôi nói lời cảm ơn chị quyên góp tất cả các anh chị,
cô chú trong đội văn nghệ xã góp tiền đóng áo quan cho cha tôi. Chị bảo:
- Tình nghĩa bà con hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau
mà em. Ai cũng nhớ cha em làm đội trưởng văn nghệ xã, dựng vở Thạch Sanh đánh
trăn tinh, vở Trương Chi. Cha em dạy mọi người biết hát cải lương hay, biết
đánh đàn bầu, kéo nhị, đàn nguyệt. Hồi ấy đội văn nghệ đi diễn ở xã nào em cũng
theo đi xem.
- Tại em mê chị đóng vai công chúa, bác Thang vai
Thạch Sanh.
- À này, em còn nhớ đánh đàn thập lục ba mươi sáu câu
vọng cổ không?
- Em bán đàn chạy thuốc cho cha rồi. Còn cây đàn
nguyệt, mụ Vợi bán mất rồi chị ạ. Xin phép chị em sang Phát Diệm…
Tôi vào nhà thím Sơn ở cống Quỹ, gọi mãi chẳng thấy
ai. Bước vào trong nhà, thím Sơn đắp chiếu đang rên trong ổ rơm, tôi gọi:
- Thím Sơn ơi, cháu Tân con ông Văn về đây!
Thím vén chiếu lên, đôi mắt sưng mọng, đưa tay quờ
quạng:
- Giê Su!... Cháu Tân à?... Thím đau mắt quá phải nằm
nhà. Các em đi làm đồng hết rồi.
Tôi kể chuyện về từ hôm qua đến nay cho thím biết.
- Lạy Chúa! Bà Vợi không khác quỷ rữ. Chị Trâm cháu
cũng thờ ơ, bố dượng chết, nhà trống trải, không dòm ngó có gì quý đem về nhà
cất đi cho em nó dùng, để người ta phá tán hết sách quý. Cháu đi mạnh giỏi, cầu
Chúa phù hộ cho cháu.
Tôi dúi vào tay thím năm hào:
- Cháu biếu thím mua thuốc đau mắt.
- Ơ này, thím không lấy đâu. Cháu đi học, làm gì có
tiền.
- Cháu có học bổng toàn phần. Cháu ăn hàng tháng không
hết, còn để dành gửi về cho cha cháu uống thuốc. Nay cha cháu chết rồi…
Đến Phát Diệm, tôi hỏi dò dân phố mách đức cha trong
nhà thờ Đá mua tất hai gánh sách của mẹ con bà bên chợ Quỹ.
Đi vào cổng nhà thờ, tôi rợn người, dừng chân ngước
nhìn lên tháp chuông. Tôi chợt nhớ đến nhà thờ Bùi Chung, mẹ Nhất nói dối nuôi
tôi ăn học cấp ba. Nhưng mẹ Nhất không cho đi học, bắt tôi hầu hạ cơm nước,
giặt giũ khăn váy bại cánh tay. Nhà thờ Đá bên này không giống các nhà thờ bên
huyện Nghĩa Hưng tôi, chỉ có ngọn tháp vút cao. Ở đây mái cổng uốn cong như
cổng chùa, cũng trạm hoa sen. Im ắng quá. Tôi nghe rõ tiếng bước chân mình đặt
nhẹ lên từng tảng đá xanh hình chữ nhật.
- Cháu kia đi đâu? – Một ông già như từ trên trời hiện
trước mặt tôi.
- Thưa ông, cháu gặp đức Cha để chuộc sách ạ.
- À!... Vậy vào đây!...
Ông già dẫn tôi vào căn phòng rộng. Đức Cha đang đọc
sách.
- Trình đức Cha, cháu đến xin chuộc lại sách mà hai mẹ
con bà ăn trộm đem bán khi cha chết, nhà không có ai ở. Cháu học trên Hà Nội
mới về hôm qua ạ.
Đức Cha bỏ kính xuống bàn, chăm chú nhìn tôi rồi nói:
- Cháu bé nói rắn rỏi ghê!... Cháu có đủ tiền để chuộc
sách không?... Á à!... Cháu có 13 đồng à?... Ít lắm cháu ạ. Cha mua hết 86
đồng, sách còn xếp trên bàn kia. Cha đang đọc quyển Mác Ăngghen. Ông cha cháu
học rộng lắm, tiếng Tàu tiếng Tây đủ cả. Tôi đến bàn sách đặt tay lên chồng
sách khóc tấm tức.
Đức Cha đến bên nói:
- Cháu xem, chọn vài quyển sách làm vật kỷ niệm thôi.
Cháu làm sao mang được hết chỗ sách này? Ai giữ gìn sách cho cháu?...
Tìm mãi không thấy những truyện cổ tích, quyển “Những
tâm hồn cao thượng” đâu, tôi buồn rầu nói với đức Cha:
- Cháu lấy hai quyển “Từ điển tiếng Việt” của Đào Duy
Anh, “Pháp Việt từ điển” của Đào Duy Từ, bao nhiêu tiền ạ?
Đức Cha hiền từ nắm tay tôi:
- Cháu yêu quý sách như thế, Cha tặng lại, không phải
tiền. Cháu ra ngay bến xe đi ô tô chuyến chiều lên Ninh Bình cho kịp.
Đức Cha bảo ông già lấy tờ báo cũ gói sách cho tôi.
Suốt đường đi Hà Nội, tôi thầm cảm ơn những hàng xóm
đối tốt với cha, giận buồn chị Tâm không về thắp nén hương cha, chị Trâm thờ ơ
nhạt nhẽo. Tôi căm thù mụ Vợi cáo quỷ. Nếu gặp nó, tôi phải băm vằm con yêu
tinh ra làm trăm mảnh…
Lên trường Bưu điện học đến ngày thứ hai, máu cam tôi
ồng ộc chảy vũng ra bàn học. Tôi gục đầu xuống bàn nghe đánh cộc. Tôi ngất đi
không biết gì nữa.
* *
*
Chương
7
Giật mình đập chân xuống giường, tôi mở mắt thấy màu
trắng toát quay chong chóng liền nhắm mắt lại. Xung quanh tôi nghe tiếng nói ồn
ào. Sau này tôi mới biết đó là niềm vui mừng của y bác sĩ chữa bệnh cho tôi,
của anh Doãn. Họ reo lên:
- A tỉnh rồi!...
- Sống rồi!...
- Xem lòng tử mắt…
Tôi được nhà trường đưa vào bệnh viện Hà Đông cấp cứu
ngay khi ngất gục xuống vũng máu cam trên bàn học. Do mất nhiều máu, tôi thiếu
máu nặng, áp huyết tụt, mạch yếu, hôn mê sâu, lòng tử mắt bắt đầu giãn. Không
mấy hy vọng tôi sống. Anh Tiến ra bệnh viện Bạch Mai gọi anh Doãn vào. Các anh
xin chuyển tôi ra bệnh viện Bạch Mai cứu chữa. Anh Doãn khai hồ sơ bệnh án tôi
là em ruột: “Lại Thị Nhật Tân”. Các y bác sĩ trong khoa tinh thần kinh tận tình
cứu chữa tôi như người thân. Hơn một tháng tôi đã mở mắt được mấy giây, đập
chân giật mình làm ai cũng mừng. Tôi cảm nhận mơ hồ, xung quanh tôi có nhiều
người nói.
Phải hai tuần sau, tôi mới cảm nhận được có ai bóp nhẹ
hai bên mép, đổ nước vào mồm, tôi nuốt ực. Đầu tôi đau buốt như ai gõ búa ong
ong trong sọ não. Hễ mở mắt là tôi lại thấy màu trắng toát quay chong chóng. Sợ
quá, tôi nhắm ngay mắt lại. Nhiều lúc tôi cảm giác bay lên cao tít trời xanh
rồi rơi tụt xuống vực sâu. Khi tôi thấy mình đang cất vó tép ngoài đồng lúa
xanh mênh mông. Nghe tiếng gọi tên mình, dừng tay cất vó nhìn tôi thấy cha chạy
đến. Mỗi khi tôi đến gần, cha lại bay xa trên hồ sen đỏ thắm ngào ngạt hương.
Tôi bay theo cha một đoạn thì cha biến mất hút. Tôi thét gọi: “Ba!...” Có vật
gì đè lên người tôi nặng nặng. Mở mắt, tôi thấy gương mặt phụ nữ nước mắt đầm
đìa, gần áp mặt tôi. Mấy ngày sau, mỗi khi tôi mở mắt đều bắt gặp gương mặt phụ
nữ hiền hiền ấy. Tôi nghe tiếng hỏi như ở xa xôi, thoảng trong gió:
- Em Tân!... Em Tân!... Em có nghe tiếng chị gọi
không?...
Sau
hơn hai tháng, được bác sĩ tận tình cứu chữa tôi mới tỉnh lại. Lương y sĩ hàng tháng của anh Doãn chỉ để mua
thịt, xương, đỗ xanh, hạt sen hầm lấy nước đổ cho tôi uống. Gương mặt người phụ
nữ hiền hiền luôn ở bên tôi chăm sóc là chị Vân y tá yêu anh Doãn. Một hôm tôi
đang ngủ mê mệt, chị Vân lay gọi tôi:
- Em Tân!... Em tỉnh dậy!... Ban ngày
mà em mơ gì hét to thế.
- Em gặp cha, mừng quá!... Cha em lại
đi, hu hu!...
- Anh Doãn ơi!... Em Tân nói được rồi!
Mừng quá anh Doãn ơi!
Anh Doãn vào nắm tay tôi:
- Em Tân! Em nhận ra anh Doãn không?
- Có!... Anh Doãn ơi, em đang nằm ở
đâu mà tường trắng thế?
- Em đang nằm trong bệnh viện Bạch
Mai. Giờ em thấy trong người thế nào?
- Em đau đầu chóng mặt lắm.
- Không sao đâu, dần dần em sẽ hết đau
đầu. Em chịu khó ăn nhiều chóng khỏi ốm, về trường học.
- Em nghỉ học lâu chưa anh?
- Hơn hai tháng rồi.
- Hu hu!... – Tôi khóc.
- Em đừng khóc đau đầu thêm. Em không
lo nghĩ gì hết thì mới chóng khỏi bệnh về học.
Nghe anh Doãn khuyên bảo, tôi cố nuốt
hết bát cháo mà bữa nào chị Vân cũng dỗ dành bón cho tôi. Mỗi tuần có vài buổi
rất đông sinh viên đến giường bệnh tôi thực tập. Có sinh viên tên Vũ Quần
Phương thường nán lại hỏi chuyện học của tôi. Họ thì thầm với nhau về bệnh tình
của tôi: “Histerie”. “Cảm xúc, hay ngất ngã lăn quay”. “Tội nghiệp con bé một
thân một mình”, “Huyết áp thấp quá”, “Mạch yếu khó cứu” v.v…
Một hôm sinh viên thực tập Vũ Quần
Phương hỏi tôi:
- Em có hay đọc truyện cổ tích không?
- Có. Em thích truyện Tấm Cám, Thạch
Sanh, Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Tô Định. Trong quyển “Những tâm hồn cao
thượng” có nhiều truyện hay anh nhỉ.
- Ừ… Em có đọc thơ không?
- Tủ sách nhà em không có thơ, chỉ có
mỗi truyện Kiều, em đọc đi đọc lại, lần nào em cũng khóc thương Kiều bán mình
chuộc cha.
- Em dễ xúc động. Từ giờ, khi gặp việc
gì buồn, em đừng lo lắng nghĩ ngợi nhiều, kẻo em ngất ngã đấy. Em vui lên nhé!
Lần sau, anh Vũ Quần Phương tặng tôi
bài thơ dài, tôi đọc một lượt thuộc ngay đoạn gần cuối bài thơ:
“… Em gái ơi cành cao anh vin quả
Trái đời ngon em cứ hái mà ăn
Tuy cuộc sống giờ đây còn vất vả
Đi với người em phải kiễng bàn chân
Kiễng bàn chân nhưng em không sợ ngã
Khi trong lòng em đã vững niềm tin…”
Được anh Vũ Quần Phương sinh viên y
khoa động viên, tôi vui vẻ, cố gắng mỗi bữa ăn hết bát cơm. Đi lại được, tôi
chuyển sang phòng đông bệnh nhân, không nằm một mình một phòng như khi mê man
nữa. Ở đây, tôi làm quen với chị Duyên, chị Dậu, chị Mỹ. Chị Dậu thỉnh thoảng
lên cơn co giật sùi bọt mép. Chúng tôi xúm lại nắn bóp chân tay cho chị. Vào
ngày chủ nhật, ba chị rủ tôi ra hồ Bảy Mẫu chụp ảnh kỷ niệm. Bốn chị em mặc áo
quần trắng bệnh viện chụp ảnh, những người đi chơi công viên nhìn chúng tôi
cười.
* *
*
Anh Doãn cầm phim chụp sọ não của tôi
về phòng bệnh với gương mặt rầu rầu. Kẹp phim vào bệnh án treo đầu giường, anh
ngồi thở dài nhìn tôi. Một lát sau đoàn sinh viên thực tập đến xem bệnh án. Họ
thì thầm với nhau:
- Phim chụp ngày đầu với lần này giống
nhau.
- Lạ nhỉ, sao nhiều khối u thế?
- Trưởng khoa nói phải đục sọ cắt khối
u à?
- Mạch yếu, thiếu máu nặng làm sao đục
sọ được?
- Thời chiến, máu để cứu chữa thương
binh ngoài chiến trường còn không có. Tất cả ra tiền tuyến còn chưa đủ, hậu
phương làm gì có máu tiếp cho bệnh nhân…
- Tội nghiệp!...
Xem đi xem lại bốn tấm phim của tôi
trong phòng bệnh, các sinh viên còn ra hành lang bàn luận một hồi lâu. Trở vào
phòng bệnh, treo lại phim vào bệnh án họ nhìn tôi với ánh mắt buồn, mấy người
thở dài thượt. Anh sinh viên Vũ Quần Phương nán lại, mở cặp lấy ra quyển sách
cho tôi:
- Anh tìm được cho em truyện Thạch
Sanh đây! Rồi anh sẽ tìm các truyện cổ tích khác cho em. Em vui lên nhé! Em sắp
khỏi bệnh, ra viện được rồi em gái bé bỏng ạ. Còn đây là tờ báo in bài thơ của
anh, anh cho em đọc cho vui…
Hôm sau anh Doãn cùng chị Vân, chị My
bạn anh Doãn đón tôi về phòng ở tập thể trong bệnh viện. Hai chị quý mến tôi,
hay mua quà bắt tôi ăn chóng khỏe về trường học. Nhưng mọi thứ tôi ăn vào mồm
không có cảm giác gì, chỉ thấy đắng ngắt không muốn nuốt. Ngày hai bữa cơm, tôi
chan nước canh cố nuốt được miệng bát. Các anh chị nhường bát cơm cho tôi, ba
người ăn toàn ngô. Tôi xúc động trước lòng tốt của mọi người, rưng rưng nước
mắt. Anh Doãn nhăn mặt bảo tôi:
- Bữa cơm nào em cũng khóc, làm mọi
người ăn mất ngon. Anh nói mãi em không chừa. Từ nay…
Tôi òa khóc nấc lên. Chị Vân ôm tôi dỗ
dành:
- Em Tân ngoan nín đi! Anh Doãn yêu
quý em, không mắng em đâu. Anh Doãn muốn em vui lên, ăn khỏe để chóng đi học.
- Nhưng các anh chị ăn ngô, nhường bát
cơm cho em, em thương các anh chị, em cảm động nước mắt nó tự chảy ra chứ em có
khóc đâu.
Các anh chị nhìn nhau mắt đỏ hoe. Vừa
lúc ấy anh Thanh, người yêu chị My đến.
- Ồ, cả nhà ăn cơm, chuyện gì xúc động
thế? Mình đến chào mọi người lên đường.
Ai nấy nhìn nhau ngơ ngác. Anh Thanh
nói tiếp:
- Thời gian gấp lắm, mình không thể về
quê
Chị My sụt sịt đứng lên đi theo anh
Thanh. Anh Doãn nói:
- Tháng trước Thanh bảo đơn vị huấn
luyện hai tháng nữa mới đi B cơ mà!
Chị Vân:
- Chiến trường gọi thì đi, chứ chờ
huấn luyện xong làm sao được.
- Ờ…
- Anh Thanh mua quà cho bé Tân này.
Ôi, một túi táo thơm quá! Em Tân ăn đi, anh Doãn, táo ngon lắm.
Ngày chủ nhật, chị Nhũ và anh Tô Ngọc
Long nhân viên văn phòng trường Bưu điện đến thăm tôi. Vừa nhìn thấy tôi chị
Nhũ nước mắt ròng ròng. Anh Doãn gọi anh Tiến ra ngồi ghế đá vườn hoa bệnh viện
nói chuyện. Chị Nhũ, anh Long xem đi xem lại bốn tấm phim chụp sọ não của tôi
thở dài, thì thầm vào tai nhau. Tôi ù tai chẳng nghe thấy gì. Một lúc sau anh
Tiến gọi chị Nhũ. Ba người vừa đi vừa nói chuyện. Còn lại tôi và anh Long ngồi
trong phòng. Anh bảo tôi:
- Em Tân nghỉ ốm hơn hai tháng, cộng
thời gian em chăm cha ốm nữa, mất hơn bốn tháng trong một năm học. Em phải
chuyển xuống lớp 6E. Hoàn cảnh em khổ quá, em học giỏi nên nhà trường mới chiếu
cố thế. Học sinh khác, nhà trường gạch tên rồi.
Nghe anh Long nói tôi hoang mang. Còn
mấy tháng nữa nghỉ hè tôi về đâu? Khóa sáu tháng chín mới gọi tập trung. Không
có học bổng tôi sống bằng gì. Sức yếu ốm đau, làm sao tôi đi câu cáy bắt cua
sống được? Tôi nói với anh Long:
- Anh nói với bác Khuôn cho em học
tiếp khóa năm đi.
- Em học sao được. Em còn đau đầu ù
tai hoa mắt, ăn em còn chưa ăn được thì học làm sao. Học đánh ma níp tích tích
tích tà ầm cả lớp, em ù tịt tai điếc luôn.
Tôi buồn thiu, nước mắt ứa ra. Anh
Long lúng túng đi ra ngoài. Một lúc sau cả bốn người trở lại với gương mặt
buồn.
Anh Doãn nói:
- Em Tân, các anh và chị Nhũ đã bàn,
em về quê nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho khỏe lên may ra mới tiếp tục học lớp 6E. Anh
Long sẽ giúp em việc học hành. Nay anh đánh điện cho chị Trâm lên đón em về.
- Chị Trâm không nuôi được em đâu. Chị
phải nuôi chồng con. Nuôi con thơ mà chị toàn ăn tróc thôi. Chị đi làm hợp tác
xã ít điểm, ít thóc lắm.
- Chị ruột phải có trách nhiệm khi em
ốm nặng chứ. Chị ăn gì em ăn nấy.
- Em sợ không có củ tróc cho phần ăn
của em ấy. Chị em trồng tróc ở bờ sông được ít lắm.
- Không bàn đến việc có gì ăn hay
không. Anh nói để em biết, lương mấy tháng nay của anh tập trung tiền thuốc và
ăn uống cho em để cứu em sống. Em sống được là mừng lắm. Chị Nhũ cũng thường ra
thăm em, gửi anh tiền mua thuốc tốt cứu em. Mọi người dồn hết công sức chăm sóc
em. Giờ em tạm về với chị Trâm. Chị em cùng mẹ sinh ra, trong lúc hoạn nạn phải
cứu giúp nhau. Chả nhẽ chị Tâm lương giáo viên cấp hai, không góp được mỗi
tháng lấy mấy đồng cho chị Trâm nuôi em à? Em bệnh nặng thì các chị cũng phải
thương chứ.
- Chị Trâm em đẻ con ăn củ tróc chị
Tâm còn không cho mấy hào đong gạo nữa là em, chị Tâm bảo em người dưng không
cho đâu.
- Người dưng như tất cả các anh và chị
Nhũ đây thương yêu chăm sóc em như em ruột, tốn tiền tốn công mong cứu em sống.
Chắc giờ chị Tâm nghĩ khác rồi, em cứ về với chị Trâm, biết đâu chị Tâm đón đến
trường dạy ở Hải Hậu nuôi em thì sao?
- Chị Trâm vẫn bảo chị Tâm em bệnh
kiết nặng chỉ biết vơ tiền của người khác, không bao giờ móc tiền trong túi cho
ai đâu. Chị ấy để dành tiền chữa bệnh kiết không nuôi em đâu. Bệnh kiết khó
chữa lắm anh ạ. Ở chợ Quỹ có ông Nấm bệnh kiết nặng, đi chữa mãi trên bệnh viện
huyện Nghĩa Hưng không khỏi, về chết.
Mọi người cười chảy nước mắt, ho sặc
sụa.
Chị Nhũ vỗ vai tôi:
- Chị và anh Long về đây. Em chịu khó
ăn nhiều cho chóng khỏe. Mấy hôm nữa chị Trâm lên đón em về quê mát mẻ không
khí trong lành, em chóng khỏi bệnh lên trường học. Nhớ viết thư cho chị em nhé!
Ra đến cổng bệnh viện gặp xe điện, anh
Long chị Nhũ vẫy chào chúng tôi. Chị Nhũ ho vẫn bưng miệng cười khi bước lên xe
điện.
Hai tuần sau chị Trâm bế con lên bệnh
viện Bạch Mai đón tôi. Vào đến phòng anh Doãn, thấy tôi nằm còng queo, chị Trâm
òa khóc:
- Ối em Tân ơi!... Khổ thân em… Ông
giời không có mắt!...
Cháu bé chị bế khóc váng nhà. Chị vạch
vú cho cháu bú cháu không bú cứ ưỡn người khóc. Chị mở túi vải lấy gói thuốc
nói với anh Doãn:
- Cháu bị đi tướt đau bụng. Nhận được
điện của anh, tôi phải thu xếp, bán mấy con gà mới có tiền đi tàu xe lên đón
em. Rồi cháu đi tướt phải cho cháu uống thuốc nó đỡ mới lên được.
Anh Doãn cầm thuốc xem:
- Chị cho cháu uống tạm thuốc này.
Sáng mai em cho cháu vào khoa nhi khám xin thuốc cho cháu.
Chi Trâm và anh Doãn đi ra ngoài nói
chuyện lâu lắm mới vào nhà. Chiếc khăn mặt vắt vai, chị luôn tay thấm nước mắt,
nhìn tôi thở dài. Cháu bé bú no ngủ, chị Trâm đặt nằm cạnh tôi.
- Hễ cháu trở mình, em vỗ vỗ vào mông
cho cháu ngủ nhé!
Chi Vân vào rủ chị Trâm đi.
Bữa cơm tối hôm ấy có tôm rảo biển
rang chị Trâm đem lên cùng mấy cân gạo ri thơm. Chị Vân thổi một bò gạo ri cho
tôi ăn bát cơm, còn ba người ăn cơm tập thể độn ngô. Hai chị và anh Doãn cứ
nhường nhau ăn nốt chỗ cơm gạo ri. Cuối cùng cơm vẫn còn nguyên trong xoong.
Trưa hôm sau, anh Doãn, chị Vân tiễn
chân hai chị em tôi lên tầu về
- Em Tân vui lên nhé!
- Em không được nghĩ gì buồn là ngất
đấy.
- Em chịu khó ăn khỏe vào thì chóng
khỏi bệnh đau đầu chóng mặt.
Chị Trâm nước mắt chảy ướt má, nghẹn
ngào nắm tay anh Doãn, chị Vân:
- Cảm ơn chú, cảm ơn cô nhiều. Tôi
không biết nói thế nào đáp lại được lòng tốt của chú của cô đối với em nó… Tôi
đội ơn chú, đội ơn cô suốt đời. Không biết bao giờ tôi làm được ra tiền trả nợ
chú, cô – Chị khóc nấc lên – Số chị em tôi khổ. Nuôi con thơ, tôi không có cơm
ăn. Số tiền thuốc chạy chữa cứu em sống lớn quá. Tôi… Tôi đội ơn…
Anh Doãn gạt đi:
- Tình quê hương, nghĩa đồng bào mà
chị. Chị đừng nói nữa. Hoàn cảnh em Tân, ai gặp cũng phải giúp chị ạ…
Con tầu rúc hồi còi dài báo hiệu rời
ga Hàng Cỏ. Tiếng bánh sắt nghiến vào đường ray ken két, xình xịch xình xịch,
tôi vẫn thấy anh Doãn chị Vân đứng ở sân ga nhìn theo.
* *
*
Chương 8
Về quê bế cháu được một tuần tôi chán
ngắt, nhớ thầy, nhớ các anh chị lớp 5E. Cháu Hưng luôn đi tướt ra áo quần tôi.
Mỗi khi cháu khóc, tôi cho cháu miếng củ tróc dỗ cháu nín. Một tối, tôi nói với
chị Trâm:
- Chị ơi, mai chị ở nhà bế cháu. Em đi
làm hợp tác xã thay chị.
Chị mắng tôi:
- Mày nói vớ vẩn. Ai cho trẻ con đi
làm thay người nhớn? Bác sĩ bảo không cho mày làm việc nặng. Trong đầu mày
nhiều khối u nên hay chóng mặt, ngất ngã đổ máu cam. Anh Doãn dặn kỹ tao rồi,
không quát mắng to kẻo mày ngất.
- Mấy tuần nay em có ngất đâu. Em cào
cỏ lúa nhẹ nhàng. Em làm nhanh hơn xã viên cho chị xem.
- Không nặng nhưng tháng bảy ta mưa
nắng thất thường, mày cảm ngất lăn quay thì khổ tao. Ông ba mới mất nửa năm
nay, mày phải giữ gìn sức khỏe – Chị khóc.
- Nhưng ở nhà em buồn chán lắm. Cháu quấy
khóc em đau đầu lắm.
- Không nói, đi ngủ.
Chị tắt phụt ngọn đèn dầu, bế con lên
giường. Tôi mò mẫm trong tối mắc màn cá nhân trên cái giường to. Nằm xuống
giường, tôi khóc một mình. Oán trách ông trời bắt tôi đau ốm lâu. À, mình nghĩ
cách khác. Mai ru cháu ngủ, mình ra bờ sông móc bùn trồng khoai nước. Mình phải
làm việc tay chân cho quên đau đầu buốt óc…
Một cơn gió mạnh giật bung cánh cửa,
tung màn lên. Mái nhà tốc một đám rạ, lộ ra bầu trời xám xám.
- Tân thức hay ngủ đấy em?
- Em vẫn thức từ tối đến giờ.
-
Em sang nằm với cháu để chị dậy chặn cửa. Gió khiếp quá, giông bão gì đây. Cả
ngày hôm nay thi thoảng mưa lác đác như rong bão.
Lâu lắm chị Trâm mới chằng buộc cửa
xong. Gió mỗi lúc một mạnh hơn, rít qua khe cửa ken két. Một cơn gió lùa vào
khoảng trống mái rạ, kéo theo mưa ào ào đổ xuống góc nhà chỗ đầu giường chị.
Tôi ôm cháu chạy sang giường tôi. Chị bế cháu Trụ ba tuổi đặt nằm cạnh bé Hưng,
gọi tôi khiêng giường ra khỏi chỗ giột. Chị làu bàu:
- Tại ông ba mày lôi cả nhà về nông
thôn nên đời tao khổ. Ở trên phố, bao đời nhà cao cửa rộng. Mẹ buôn to bán lớn
sung sướng. Tao lấy chồng ở phố đâu khổ thế này? Ba gian bếp nhà chồng ngăn cho
được hơn một gian, cửa hướng tây, bốn mùa như cái hang chuột bị hun khói.
Nói đến cha tôi buồn, lặng ngắt lên
giường ôm cháu. Chị Trâm thu dọn mấy thứ vặt rồi lên giường ngủ. Tôi nằm nghe
gió rít từng cơn. Mưa xối xả chui tọt vào lỗ hổng mái nhà. Chị Trâm ngủ say
không nghe tiếng nước mưa ngập lõng bõng trong nhà. Gió hú hét, tiếng cành tre
sau nhà gẫy răng rắc, tiếng cò kêu nháo nhác thảm thương. Cháu Hưng trở mình oe
oe, chị Trâm thức giấc.
- Thôi chết!... Trời sáng bạch rồi –
Chị nhóm dậy - Ối!... Nhà như cái ao Tân ơi. Em bế cháu cho chị đục lỗ bậu cửa
để nước thoát ra sân.
Hì hục một lúc lâu chị Trâm mới khoét
được một lỗ bằng cổ chân. Nước thi nhau chui qua lỗ bậu cửa nhảy túa ra sân,
trông thật vui mắt. Tôi cầm hai bàn tay nhỏ xíu của cháu vỗ vào nhau hoan hô
nước thoát. Hàng xóm, nhiều nhà bị tốc mái rạ, ai cũng bận dặm lại mái, quét
dọn nhà cửa. Chị Trâm nói với bác Ong ông anh chồng:
- Bác cho em mượn thang em dặm chỗ mái
nhà bị gió cuốn.
- Nhà tôi cũng bị gió bốc thủng nóc to
hơn mái nhà thím, tôi đang sửa, không cho mượn thang được.
Chị Trâm mặt ỉu xịu lặng ngắt ra đống
rạ rút một bó to ôm vào nhà. Chị bảo tôi:
- Em đặt cháu xuống giường chơi với
anh Trụ, đưa rạ cho chị.
Chị vừa lôi đám rạ lùng nhùng ướt sũng
chỗ thủng thì một bọc giấy to rơi xuống, tôi đưa tay bắt được, để xuống giường.
Dặm xong mái nhà, chị tôi hì hụi thu dọn mấy cái nồi đất bị nước trôi lăn lóc
khắp nơi. Tôi bế cháu Hưng ngồi mở bọc giấy xem đựng gì? Ôi, toàn thư của các
cô gái ở nơi anh rể Lương tôi dạy học bên Hải Hậu gửi cho anh: “Anh ơi! Anh hẹn
đưa em lên phố phá thai, sao em chờ mãi không thấy anh đến?...” Người tôi nóng
ran như muôn vàn con kiến đốt khắp cơ thể. Tim tôi đập loạn xạ. Tôi mở lá thư
tên cô gái khác: “Anh yêu dấu! Hai tháng nay em không thấy tháng, chắc chửa
rồi. Anh phải đưa em đến chỗ nạo thai tư trên phố, không thì thầy mẹ em giết
chết!!!” Tôi kinh hoàng, nhìn chị tôi ứa nước mắt, thương chị cực nhọc lam lũ
nuôi chồng nuôi con, mà chồng lăng nhăng. Nghỉ một lát cho bình tĩnh, tôi đọc
hết hơn chục lá thư na ná giống như hai cô gái trên. Tôi khinh anh rể làm cho
các cô gái chửa.
Chị
Trâm bưng rổ tróc luộc vào giường hỏi tôi:
- Bọc giấy đựng thư ai đấy em?
Tôi bật khóc:
- Chị ơi!... Thư của hơn mười cô gái
tên khác nhau gửi cho anh Lương, hẹn anh đưa lên phố
Chị Trâm tròn mắt hỏi lại tôi:
- Thật không?... Em đọc chưa?...
- Thật! Em đọc hết rồi, cả một tập ảnh
đây này. Chị đọc đi, mách bác Ong cho bác dạy bảo anh Lương khỏi hư thân.
Chị bảo tôi ăn tróc còn chị đọc thư.
Nước mắt nước mũi chị chảy ròng ròng. Nhìn những bức ảnh anh Lương bá vai các
cô gái cười tươi, chị càng nức nở. Đằng sau mỗi tấm ảnh ghi: “Em Cúc yêu dấu
của anh”, “Em Thoa yêu dấu của anh”, “Em Nụ yêu dấu của anh” v.v… Chị Trâm khóc
nấc lên. Cháu Trụ nhìn mẹ ngơ ngác.
- Chị ơi, chị đừng khóc. Chị mách bác
Ong tội anh Lương lăng nhăng để bác ấy đánh cho anh Lương chừa.
Vừa lúc ấy bác Ong vác cây tre từ vườn
sau đi qua, chị Trâm cầm tập thư ra hè nói:
- Bác Ong ơi, nhà em dạy học bên Hải
Hậu, lăng nhăng với hơn chục cô gái. Thư của các cô…
Ông Ong vứt cây tre đánh bịch xuống
đất, vung dao chém chị Trâm:
- Mày bảo em ông lăng nhăng ông chém
chết!...
Chị Trâm vứt nắm thư chạy vụt ra sau
vườn. Cháu Trụ khóc thét lên. Ông Ong đuổi chị đến khóm chuối. Tôi lo cho chị,
chạy sau ông Ong. Nhìn ông vung dao bổ xuống đầu chị Trâm, tôi nhắm mắt lại,
nghe đánh “hự”. Mở mắt ra, tôi bàng hoàng bủn rủn chân tay, cây chuối bị chém
đứt nằm vật dưới vườn cà. Hú vía! Chị Trâm xé rào chạy sang nhà bà Xuân. Hai
người đứng ở hè ôm nhau run cầm cập, nhìn ông Ong đứng ở gốc chuối cụt dứ dứ
con dao về phía chị Trâm. Tôi chạy vào nhà bế cháu Hưng, dắt cháu Trụ đi vòng
từ cổng nhà sang ngõ bà Xuân, cắp theo rổ củ tróc cho chị ăn. Chị dọn nhà cửa
từ sáng đến giờ chắc đói.
Bà Xuân bảo chị Trâm:
- Cháu đừng về nhà lúc này, ông Ong
còn tức, nhỡ ra khổ thân. Chốc nữa bà sang nói chuyện cho ông ấy nguội cơn
nóng, chiều cháu hãy về.
Ra ngoài đường tôi gặp đoàn thanh niên
đi khơi mương tháo nước ngập đồng cứu lúa. Tôi nói:
- Các anh chị cho em đi với!...
Anh Hiền bí thư Đoàn hỏi:
- Em khỏe hẳn chưa, đi dầm nước mưa em
ốm thêm.
- Em khỏe rồi.
Tôi chạy ù về nhà lấy cuốc đuổi theo
các anh chị. Nước ngập trắng đồng mênh mông. Mấy anh dùng móng xắn đất bờ mương
thành một cái rãnh to. Còn tất cả nữ dùng cuốc xẻ bờ cho nước thoát. Mải miết
làm việc cứu lúa không ai để ý giờ giấc, đói mệt. Khi công việc xong, chúng tôi
ra về mới thấy đói và khát. Mắt tôi hoa, chân bủn rủn, nhưng tôi cố gắng đi cho
vững. Đầu tôi luôn nhẩm: “Mình khỏe rồi, sắp lên trường học…” Về tới nhà không
bị ngã, tôi mừng quá, vào bếp rót bát nước vối uống một hơi. Tôi sang nhà bà
Xuân, chị Trâm ôm con ngủ ở cái chõng tre đầu hè. Bà Xuân đang cho lợn ăn dưới
bếp. Bà vẫy tôi:
- Cháu đi khơi mương sao không hỏi
chị? Chị cháu lo cháu ngất ngoài đồng, sao về muộn vậy? Cháu ăn cơm đi, chắc
đói rồi.
Tôi xới bát cơm củ tróc, thỉnh thoảng
mới có hạt cơm ăn ngon lành. Cà muối bà Xuân cho chua giòn ngon quá. Mỗi miếng
cơm tôi ăn một quả cà chấm mắm cáy. Ăn một lèo ba bát cơm tôi no căng bụng.
Nhìn chị ôm cháu ngủ tôi thương thắt ruột. Mình lao động tay chân ăn khỏe. Đúng
rồi, từ mai mình ra bờ sông móc bùn trồng khoai nước. Dọc khoai bán, củ ăn ngon
mát hơn củ tróc. Cha vẫn bảo: “Lao động là vinh quang”. Lao động tay chân mình
đói, ăn khỏe mới chóng khỏi bệnh trở về trường bưu điện học. Tôi lặng lẽ về nhà
quét dọn, luộc củ tróc để tối ăn. Nhìn ngọn lửa rạ cháy bập bùng tôi nghĩ lung
tung. Nhớ câu nói tối qua chị Trâm oán trách cha làm cả nhà khổ, đúng thật. Mẹ
ở phố quen buôn bán, về nông thôn không biết cày cấy khổ thật. Cha mẹ cãi nhau,
không thương nhau như hồi cha mới đi tù giặc Pháp về. Vì khổ nên mẹ ghét cha,
ghét cả mình. Cha tính sai đành chịu khổ. Mình phải khỏe mới học được. Ăn củ
tróc không bằng ăn ngô. Mình ăn ở trường còn có canh bí ngô, con tép, con cá
lẹp kho. Nhà chị ăn khổ quá, củ tróc thay cơm, thức ăn chỉ rau muống luộc, nấu
canh mắm tôm. Mình phải nhanh nhanh lên trường bưu điện thôi.
Sáng hôm sau tôi móc bùn ở bờ sông,
chị Ngoan đi dạy học về gọi:
- Em Tân chăm chỉ thế? Trưa rồi, nghỉ
thôi em!
Tôi xuống sông rửa tay chân, cắp ấm
nước vối về nhà. Chị Trâm quần vẫn xắn trên đầu gối, tay bế con, tay dọn mâm
cơm. Cháu Trụ bưng bát cơm trộn củ tróc chỉ chỉ vào đĩa cá kho.
- Hôm nay chị bắt được mấy con cá rô
lách, chị kho với sung xanh.
Chị Trâm nhìn tôi bằng ánh mắt lo
ngại. Ngồi vào mâm, tôi vui vẻ khoe với chị:
- Chị ơi, sáng nay em móc được luống
bùn dài lắm. Em đem ấm nước vối ra, uống hết chị ạ. Em không chóng mặt.
- Em làm buối sáng thôi, chiều nay
nghỉ bế cháu. Gửi cháu nhà trẻ đông, các cô không chăm cháu bằng mình em ạ. Em
lao động nặng từ từ thôi. Em bế cháu vừa sức hơn.
Chị Trâm không hiểu tôi lo nghĩ. Hơn
một tháng nay tôi ăn củ tróc chị nuôi. Tôi muốn làm việc gì bù lại số củ tróc
chị cho tôi ăn. Nhưng chị chỉ thích tôi bế cháu cho chị yên tâm đi làm hợp tác
xã, được nhiều điểm, đến mùa được nhiều thóc. Cháu Trụ ba tuổi rất ngoan, sáng
dậy sớm đi lớp mẫu giáo. Có trưa mẹ đi làm về muộn chưa kịp đón, cháu tự về
nhà.
* *
*
Hôm nay nắng gắt, tôi mải miết móc
bùn, trồng khoai nước, về đến giữa sân nghe tiếng nói:
- Em Tân chăm làm quá!... Chân em
trắng như ngó cần, bùn dính vào xấu đi.
Tôi nhìn lên, một anh to béo, mặt đỏ
như gà chọi đứng ở cửa nhà bác Ong. Tôi xấu hổ bước nhanh vào nhà.
Chị Trâm đón cháu từ nhà trẻ về hỏi
tôi:
- Hôm nay em về sớm thế? Em trồng xong
khoai rồi à? Giỏi!... Em còn móc thêm bùn trồng hết mấy bó cây giống à?... Em
làm giỏi hơn chị nông dân. Hết việc. Từ mai em ở nhà bế cháu cho chị đi làm.
Vài tháng nữa chị em mình có khoai nước ăn ngon.
Mặt trời xế bóng, tôi ru cháu ngủ đặt
xuống giường, định ra bờ sông xem luống khoai trồng ban sáng có cây nào xiêu
vẹo trồng lại. Vừa mở cửa, thấy anh mặt đỏ đứng lù lù. Tôi giật mình lùi lại.
Anh ta cười, miệng rộng ngoác tận mang tai, nhe hàm răng to như răng bò, làm
tôi khiếp sợ.
- Anh là Đinh Lan Đô, con trai cả bác
Ong anh ruột ông Lương anh rể em, đừng sợ. Anh về mấy tuần nay, em đi làm suốt
ngày không gặp anh đấy thôi. Hôm nay anh không đi chơi, vào thăm em.
Tôi ngồi mép giường dưới chân cháu
đang ngủ, run sợ nhìn anh Đô mặt đỏ.
- Em chưa biết anh, nhưng anh biết em
rất rõ. Dân chợ Quỹ nói em khổ nhất nhà, nhưng có hiếu nhất nhà. Cha em mới mất
thì em ốm nặng, khổ thân em… Anh thương em…
Đinh Lan Đô nhỏ nhẹ rót vào tai tôi
những lời thương cảm, quý mến. Tôi xúc động nước mắt lăn dài xuống vạt áo. Anh
Đô rút khăn mùi xoa trong túi áo thấm nước mắt cho tôi:
- Em nín đi!... Từ nay đã có anh
thương yêu em như em gái Thúy nhà anh. Em khó khăn gì anh giúp đỡ, chăm sóc em.
Chị gái em là thím anh. Ông Lương là chú ruột anh. Anh em mình càng gắn bó tình
cảm. Anh là giáo viên dạy thể dục, trông có vẻ thô ráp, sần sùi, nhưng tính anh
rất thương người. Anh hay giúp đỡ ai có hoàn cảnh khó khăn như em.
- Sao anh không dạy văn, dạy toán, lại
đi dạy thể dục?
- Ông Đông Sắc đẻ ra bố anh và chú
Lương là địa chủ gian ác. Ông chỉ điểm cho giặc bắt Việt Minh giết. Sợ ta trả
thù, ông theo giặc vào
Hôm sau ru cháu ngủ, mắt tôi cứ díp
vào, ngủ lúc nào chẳng biết. Anh Đô đẩy cửa vào. Tôi giật mình nhỏm dậy. Anh Đô
đưa tay ấn ngực tôi xuống.
- Em cứ nằm nghỉ. Anh ngồi chơi tí
thôi. Mấy hôm nữa anh lên Tây Bắc. Anh nghĩ rồi, anh không cưới chị Thu. Anh chờ
em nhớn, học xong trường bưu điện, đủ tuổi anh lấy em.
- Em không lấy chồng. Em không lấy
anh. Em thích đi bộ đội vào miền
- Ừ… Không lấy anh thì anh lấy người
khác. Anh không lấy chị Thu. Vị cây dây cuốn, anh làm anh kết nghĩa với em vậy.
Bao giờ em lên trường bưu điện?
- Khoảng giữa tháng chín em đi.
- Anh hỏi để anh mua sách vở, áo quần
mới cho em mặc. Là anh, anh phải có trách nhiệm chăm sóc em tận tình.
Nghe anh Đô nói, lòng tôi xúc động.
Trông bề ngoài anh Đô dữ tợn, da mặt sần sùi như da cóc, mắt trố như mắt trâu,
môi dầy bì bì như hai con đỉa trâu hút no máu cắm vào mép. Vậy mà trong lòng
anh tốt thế!…
Bất chợt anh Đô ôm ghì tôi, tay bóp
vú:
- Ti em chưa có à?... Để anh xem… Chết
rồi, em bị hai cái mụn nhọt ở hai vú, nó sưng rắn như quả cau non… Anh chữa
cho… Để anh nặn mủ…
- Buông em ra… Ối!... Đau, đau quá!...
Ối làng nước!... – Tôi hét to, vùng vằng cậy cánh tay anh Đô như hai khúc gỗ
lim.
Anh Đô buông tôi ra, tôi vội mở toang
cửa, bế cháu. Ông Ong đứng ở đầu hè nhìn tôi, hai mắt long sòng sọc như mắt chó
sói. Tôi sợ xanh mặt. Anh Đô lẳng lặng đi ra.
Sau hai ngày, anh Đô vào nhà tôi. Sợ
anh bóp vú đau, tôi bế cháu ngủ trên tay. Im lặng một lúc lâu, anh Đô nói:
- Em còn đau ti không?... Anh định nặn
mụn cho em thì em cứ kêu đau.
- Không phải mụn. Chị Nhũ kết nghĩa
với em bảo em đang mọc vú, không phải mụn.
- Đã có anh nào tập thể dục vú em
chưa?
- Tập thể dục buổi sáng, chứ em chẳng
nghe ai nói tập thể dục vú bao giờ.
- Em ngố ạ. Con gái phải tập thể dục
vú cho to, mới đựng sữa cho con bú. Phải là anh trai tập cho em gái. Cái Thúy
em gái anh nhờ anh tập thể dục vú to, nó đi hai vú rung rinh, nó lấy được
chồng. Anh là anh kết nghĩa em, anh tập thể dục vú em cho nó to, em càng xinh
gái. Ngực em lép thế kia mất xinh…
Anh Đô ôm cả hai cô cháu, hôn tới tấp
vào mặt tôi, luồn tay vào ngực bóp vú:
- Anh xoa nhẹ thôi, không đau…
- Không! Anh buông tôi ra! Tôi hét
toáng lên giờ!...
- Mai anh mua sách vở, áo quần cho em.
- Không thèm. Không anh em gì. Chị
ơi!... Bà Xuân!...
Anh Đô ngồi xuống giường. Ông mặt trời
chiếu thẳng những tia nắng chói chang vào mắt, anh đưa tay che. Tôi thấy giọt
nước mắt anh lăn xuống má. Anh khóc?... Anh Đô khóc thật, nước mắt ròng ròng…
- Anh yêu thương em mà em chẳng hiểu
lòng anh. Anh buồn lắm. Tất cả mọi chuyện em đừng nói với chị Trâm nhé. Cả việc
anh mua sách vở áo quần cho em, em cũng đừng nói nhé. Mai anh đi chợ Quỹ mua
sắm các thứ cho em. Ngày kia anh đi… Anh chờ em…
Ngày hôm sau không thấy bóng anh Đô,
tối ngồi ăn củ tróc tôi kể chuyện cho chị Trâm nghe. Chị trợn mắt quát:
- Con ngu! Sao không nói ngay? Hè năm
ngoái, nó về đặt trầu, ăn hỏi cô Thu xinh nhất làng. Hai nhà chuẩn bị lợn làm
cỗ cưới. Nhưng không có giấy giới thiệu của trường đi đăng ký kết hôn, nhà cô
Thu không cho cưới. Cô Thu buồn thành xấu đi. Hè năm nay nó lại đòi bác Ong đặt
trầu, ăn hỏi cô Én đang học sư phạm. Định ngày cưới rồi, nhưng không có giấy
đăng ký kết hôn, nhà cô Én không cho cưới. Dân làng họ nói nó có vợ trên Tây
Bắc rồi. Rau nào sâu ấy. Giống nhà nó địa chủ gian ác, máu dê ức hiếp nông dân.
Nó đánh lừa hai nhà cô Thu, cô Én không được, nó đi lừa đứa trẻ ốm nặng. Đểu
giả, bịa ra tập thể dục vú. Con gái phải mười bảy mười tám mới có vú. Mày mười
bốn trẻ con, làm sao đã có vú được. May mà…
Chị nghẹn củ tróc, tôi rót cho chị bát
nước vối.
- Thế sách vở, áo quần nó cho đâu?
- Anh Đô bảo sáng mai đi chợ Quỹ mua.
- Đểu quá!... Nó lừa em. Nó nói mồm,
chứ móc túi bảy ngày không có một xu. Bà Ong hôm qua bán mấy con gà cho nó có
tiền đi ca nô sáng nay.
- Chị ơi, em sang ủy ban tập văn nghệ,
mấy hôm nữa liên hoan tiễn chân thanh niên xã ta nhập ngũ. Anh Hiền bảo em lúc
chiều…
Ba hôm sau tôi nhận được giấy báo tập
trung của trường bưu điện. Anh Long, chị Nhũ gửi kèm thư cho tôi. Đọc giấy báo
của trường tôi mừng vui, chạy sang nhà chị Ngoan anh Vinh khoe. Chị Ngoan nói:
- Tối mai biểu diễn văn nghệ tiễn chân
bộ đội lên đường xong chị em mình với anh Vinh ra hồ bơi chơi, ngắm trăng nói
chuyện nhé! Anh Vinh là con liệt sĩ chống Pháp, đáng lẽ không phải đi bộ đội. Nhưng
anh Vinh năn nỉ mãi, mẹ anh cũng xin xã cho đứa con duy nhất vào chiến trường
giải phóng miền
Tối hôm sau, bà con xã viên ngồi chật
sân ủy ban xem thanh thiếu niên biểu diễn văn nghệ. Người đi, người ở lại cùng
múa hát vui. Tôi và anh Hiền bí thư Đoàn xã song ca bài “Trước ngày hội bắn”
được bà con hò reo hoan nghênh, bắt hát đi hát lại ba lần. Điệu múa sạp, chúng
tôi cũng phải múa lại mãi. Mọi người quên cả trời khuya quá nửa đêm. Ông Xương
Bí thư đảng bộ xã phải đề nghị bà con cho đội văn nghệ nghỉ, sáng mai giao
quân.
Vợ chồng anh Vinh và tôi ra hồ bơi
ngồi bậc đá ngắm trăng, nói chuyện mùa màng, ôn lại những kỉ niệm thanh niên
làm thủy lợi. Tiếng chuông nhà thờ Giáo Dục binh boong báo trời sáng. Chị Ngoan
nói:
- Bốn giờ sáng rồi, mấy anh em ta về
thôi!
Anh Vinh bảo chị Ngoan:
- Em về lấy thẻ hương, ba anh em ta ra
nghĩa trang liệt sĩ thắp hương…
* *
*
Chương 9
Tôi đứng chôn chân liền mấy ngày sau
buổi học chiều ở sân chơi thể thao, xem chị Nguyệt chơi xà lệch. Hai tay chị
khỏe, nổi bắp như tay nam giới. Chị đi đứng, nhào lộn trên xà nhanh nhẹn, mềm
mại như con mèo. Người chị đẫm mồ hôi, nhảy nhẹ nhàng xuống cạnh chỗ tôi.
- Bé Tân có thích tập chơi xà lệch
không?
-
Em thích!
- Nào, cởi áo len ra, chị tập cho em.
Bước đầu, em tập đu bằng hai cánh tay. Em kéo người lên!... A!... Khá lắm, em
kéo được 5 lần cơ à?... Cánh tay em mảnh khảnh mà khỏe ghê!
- Ở nhà, sáng nào em cũng tập thể dục,
đu cành cây la ở bờ sông, rồi nhảy ùm xuống bơi mấy vòng.
- Em yêu thể thao nhỉ.
- Cha em bảo tập thể dục buổi sáng là
liều thuốc bổ không mất tiền. Tập thể dục buổi sáng thân thể đẹp, khỏe mạnh.
Cha bắt em tập thể dục buổi sáng từ ba tuổi, cả bơi nữa.
- Ơ, thế em đăng ký thi bơi chưa? Đầu
mùa xuân 1963 nhà trường tổ chức thi đấu các môn thể thao. Em bơi giỏi, em đăng
ký thi bơi đi. Hôm nào trời nắng ấm, thầy Triều dạy thể dục sẽ đưa ra sông Nhuệ
luyện bơi…
Ăn cơm tối về phòng, tôi bàn với chị
Nhũ tập chơi xà lệch, tập bơi để đi thi. Chị Nhũ phấn khởi, không ngờ tôi lại
yêu thể thao đến thế. Hai chị em nhất trí sau buổi học chiều, ra sân chơi thể
thao tập xà lệch. Tôi mơ ước biết chơi xà lệch như chị Nguyệt.
Một hôm tôi và chị Nhũ đang chơi xà
lệch, anh Trần Ngọc Bội đi đến gọi:
- Bé Tân!
Tôi nhảy xuống đất reo lên:
- Ơ anh Bội! Anh lên trường bưu điện
có việc gì?
- Anh học lớp chuyên tu.
- Em giới thiệu với chị Nhũ, anh Bội
là nhân viên bưu điện huyện Nghĩa Hưng quê em. Còn chị Nhũ là chị kết nghĩa của
em ở lớp 5E. Em nghỉ ốm mất nửa năm học, nên xuống lớp 6E.
- Anh học cùng trường, có gì vướng mắc
khó khăn, em sang lớp gọi anh giúp đỡ. Anh em đồng hương xa quê, nương tựa
nhau…
Từ hôm gặp anh Bội, tôi phấn khởi,
mừng có thêm người anh tốt như anh Tiến. Anh Tiến ra trường nhận công tác, có
anh Bội thay thế giúp đỡ. Sức khỏe tôi ổn định nhanh chóng. Chỉ sau khi nhập
trường hơn một tháng, tôi lại được các thầy dạy toán, lý giao nhiệm vụ giảng
phụ đạo buổi chiều cho lớp 6E. Anh Long cán bộ văn phòng nhà trường, bạn thân
chị Nhũ cho giấy bút tôi học tập. Anh bảo tiền học bổng để tôi ăn sáng đều
chóng khỏe. Thỉnh thoảng viết thư cho chị Trâm, báo cáo tình hình sức khỏe và
học tập, tôi bỏ vào vài hào cho chị. Tôi thương chị, cháu Trụ mới ba tuổi ăn
cơm độn củ tróc khổ quá. Chị Ngoan viết thư cho tôi nói bỏ dạy học vì lương
thấp quá. Từ ngày anh Vinh đi bộ đội, một mình chị nuôi hai con thơ không đủ
ăn. Chị đi làm hợp tác xã được nhiều điểm, đến mùa được chia thóc gần đủ ăn.
Chị tranh thủ vạt tép, bắt cáy bán, nuôi lợn, nuôi gà thì ba mẹ con không đói.
Hồi anh Vinh ở nhà, một đêm anh đi đặt lờ cá, cua cũng đong được vài cân gạo.
Mẹ anh chỉ việc trông cháu, lo cơm nước cho anh chị dạy học. Từ ngày anh Vinh
đi bộ đội, bà lặn lội ngoài đồng kiếm con cáy con ốc đem bán đỡ tiền mắm muối
cho con dâu. Chị nhớ anh Vinh, thương mẹ chồng, chị quyết nghỉ dạy học để lam
làm nuôi mẹ chồng, nuôi con cho anh Vinh yên tâm đánh giặc. Thư chị Ngoan làm
tôi xúc động. Có lần chị Nhũ đến chơi, thấy má tôi ngấn nước mắt. Chị hỏi:
- Em đọc thư ai mà xúc động thế?
- Thư chị Ngoan ở Nghĩa Phú. Thời gian
em ở nhà dưỡng bệnh, vợ chồng chị Ngoan dạy học rất quý mến em.Chị nói bỏ dạy
học để kiếm sống nuôi mẹ chồng nuôi con khỏi đói. Em tiếc cho chị ấy bỏ nghề
dạy học.
Chị Nhũ xua tay:
- Lao động vất vả no đủ hơn dạy học
đói em ạ. Chị Ngoan bỏ dạy học là đúng. Em không nghe câu: “Nhất y, nhì dược,
tạm được bách khoa, nông lâm thông qua, sư phạm bỏ xó” đấy à? Dạy cấp một mỗi
tháng có mươi cân gạo, đói lắm em ạ.
- Thảo nào chị Trâm em cứ phải nhịn
ăn, cho chồng chủ nhật về xúc gạo đem đi. Anh rể em không chịu khó làm gì thêm
kiếm sống, cứ đẽo vợ gầy con thơ ốm yếu…
Một hôm chị Nhũ cảm cúm, tôi đi kiếm
lá xông xung quanh trường, phát hiện ra phía sau nhà vệ sinh có một mảnh đất cỏ
mọc cao. Tôi về nói chuyện với chị Huệ trong lớp muốn nhổ sạch cỏ, trồng rau
cải mùa đông, có thêm rau xanh ăn. Chị Huệ tròn mắt nắm tay tôi:
- Ôi! Sao em nghĩ giống chị thế! Chị
phát hiện mảnh đất hoang ấy lâu rồi, chị định làm cỏ trồng rau, nhưng sợ chị em
ở phố cười mình nhà quê, khinh mình.
- Không sợ chị ạ. Các chị ở phố con
nhà giàu, họ sợ lao động. Mình con nhà nghèo nông thôn, mình chăm làm, tiếc đất
bỏ hoang, mình trồng. Câu ca trong dân: “Tấc đất tấc vàng”.
- Ừ, chủ nhật này chị em mình làm cỏ,
cuốc đất. Chủ nhật sau chị về quê Vĩnh Phúc đem hạt cải lên gieo.
* *
*
Nhìn đàn chim én chấp chới trời xanh,
báo hiệu mùa xuân ấm áp sắp về, lòng tôi dâng lên niềm nhớ thương cha. Bằng giờ
năm ngoái mình ở nhà chợ Quỹ, lặn lội tìm thầy lang giỏi mua thuốc sắc cho cha
uống. Tết đến, nhà chẳng có gì cúng mẹ. Chị Tâm, chị Trâm chẳng ai về hỏi cha
một câu. Sao các chị tệ bạc đến thế?... Chim ơi! Chim có về chợ Quỹ thì chim
bay đến nghĩa trang nói với cha ta rằng: Tết này ta ở lại trường chim nhé!...
- Em Tân! Em nghĩ gì đấy?... Chị mua
đủ gạo nếp, đỗ xanh. Tối ba mươi Tết chị em mình thổi cơm nếp cúng cha. Con đâu
cha mẹ đấy em ạ. Em đừng buồn. Hai chị em mình cùng mồ côi cha mẹ, nương tựa
vào nhau mà sống. Cha chị nằm nghĩa trang liệt sĩ, đã có chính quyền xã thắp
hương, chị không phải lo. Em về nhà chị Trâm, chị nghèo đói, em làm sao có tiền
mua nhiều gạo nếp đỗ xanh, cúng cha xong hạ lộc cho cả gia đình chị ăn.
Tôi lặng lẽ vơ những lọn củi đã nhặt ở
bụi tre xếp vào một đống. Chị Nhũ bó củi vác lên vai, bảo tôi cắp rổ gạo nếp đỗ
xanh. Sân trường im ắng vắng tanh. Học viên đã về nghỉ Tết hôm qua. Chị Nhũ nói
đúng. Mình về một tuần ở nhà chị, góp tiền ăn tốn kém. Mình ghét anh rể lăng
nhăng không muốn gặp. Anh Đinh Lan Đô, cháu gọi chị Trâm bằng thím trông dữ như
con hùm. Bố anh ta, ông Ong có đôi mắt long sòng sọc như mắt chó sói, sợ. Còn
chị Nhũ, mấy ngày Tết đi lang thang đến nhà họ hàng ăn bữa cơm cũng ngượng. Hai
chị em ở lại trường đong gạo, tự thổi cơm ăn nóng sốt ba ngày Tết. Mồng một
Tết, nhảy xe điện có một hào ra Hà Nội chơi, ngắm cảnh hồ Gươm.
Tôi ra luống cải nhổ mấy cây về luộc
ăn cơm tối. Chị Nhũ khen:
- Rau cải em với chị Huệ trồng ngọt
quá! Chỉ có người lười chứ đất không lười. Mình đến đâu chịu khó tăng gia, có
rau tươi ăn ngon, bổ. Tính em chịu khó hơn chị.
- Em ở nhà ăn nhiều rau quen rồi. Ăn
rau là chính, em làm gì có tiền đong gạo thổi cơm. Nhiều bữa, em chỉ có mấy con
cua cá chết nấu một bát tô canh rau lang ăn. Bắt được cua cá còn tươi ngon em
bán lấy tiền mua sách vở, đóng học phí. Em ước có tiền mua khoai luộc ăn no
không được.
- Khổ trước sướng sau em ạ. Về già em
hết khổ.
- Em vào học trường bưu điện được ăn
no, em thấy sung sướng lắm rồi. Ăn miếng bánh đúc ngô, em thấy ngọt bùi, ngon
hơn bánh đúc gạo quê chị ạ.
Sáng ngày 30 tháng chạp năm 1962, tôi
làm mấy bông hoa giấy cắm vào cốc thủy tinh. Hai chị em bày ban thờ cha ở cái
bàn đầu giường tôi nằm. Một nải chuối, quả bưởi vàng thơm với hoa giấy trông
cũng đẹp mắt. Loa phóng thanh ở cột điện đầu nhà tôi ở đưa tin nhân dân cả nước
vui xuân, đón năm mới tiết kiệm. Chị Nhũ bắc nồi lên ba viên gạch đặt trong
phòng nấu cơm nếp. Mùi nếp chín thơm lan tỏa, làm tôi chạnh lòng nhớ quê. Hồi
nhà tôi mới về chợ Quỹ, giáp Tết, hàng xóm xôn xao rủ nhau đụng lợn, mua lá
dong, đong gạp nếp đỗ xanh gói bánh chưng. Ba chị em tôi ngồi canh nồi bánh
chưng luộc. Đặt nồi đồng to đựng nước đậy nồi bánh chưng để tiếp nước khi cạn.
Chị em tôi tắm gội sạch sẽ. Gần đến giao thừa, bánh chưng chín, chị Trâm vớt ra
ép cho ráo nước. Sáng mồng một, mẹ mừng tuổi cho chị em tôi mỗi đứa một hào.
Chúng tôi chúc ba mẹ mạnh khỏe sống lâu. Vậy mà giờ đây, mình mồ côi cha mẹ.
Không biết có nhiều trẻ con mồ côi như mình không? Các bạn có khổ như mình
không?... Người không cha mẹ như chim non không tổ bơ vơ…
- Đồng báo cả nước… Nghe thơ chúc Tết
Xuân Quý Mão của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh! – Tiếng loa trên cột điện phát ra
giọng phát thanh viên trang nghiêm.
Chị Nhũ đơm cơm nếp ra đĩa đặt lên ban
thờ, thắp hương.
Hai chị em ngồi lắng nghe Bác Hồ chúc
Tết nhân dân:
Mừng
năm mới
Cố
gắng mới
Tiến
bộ mới
Chúc
Quý Mão là năm nhiều thắng lợi.
Hồ
Chí Minh.
Giọng Bác ấm áp, vang xa. Tiếng pháo
nổ vang thành phố. Lòng tôi xốn xang, xúc động trong nỗi buồn mênh mang. Chị
Nhũ lặng lẽ nhìn về đâu xa xăm, những giọt nước mắt lăn xuống má…
Ba ngày Tết trôi nhanh như chiếc lá
bay vèo. Học viên tấp nập tựu trường, tay xách quà quê quen thuộc: bánh chưng,
bánh tét, bánh dày, bánh gù, bánh nếp. Phòng nào cũng tíu tít lời chúc năm mới
thi đua học giỏi.
Chiều thứ hai cuối tháng 3 – 1963, loa
phóng thanh nhà trường đọc bản tin thành tích học tập của từng lớp. Tôi và chị
Nhũ được nêu tên trong tin thể thao: Phạm Thị Kim Nhũ lớp 5E, đoạt giải nhất
môn chạy… Trần Thị Nhật Tân lớp 6E, đoạt giải nhì môn bơi 200 mét. Trong phòng
vang lên tiếng vỗ tay. Chị Lan Minh yêu thầy Triều dạy thể dục nói:
- Bé Tân vinh dự, tự hào cho lớp ta.
Chị thưởng cho em gói kẹo lạc. Kẹo anh Triều cho chị, chị tặng lại em.
Tôi bóc túi kẹo chia cho các chị cùng
ăn. Đang ăn kẹo ngọt thơm, bản tin nhà trường phát trên loa:
- Chiều chủ nhật vừa qua, anh Duyến và
chị Lý đi với nhau trên đường phố Hà Đông, không có người thứ ba, Đoàn trường
cảnh cáo. Nếu lần sau vẫn chỉ có hai người đi với nhau, Đoàn trường sẽ khai
trừ…
Tôi
ngạc nhiên, thắc mắc trong đầu: một nam một nữ đi với nhau mà bị nêu ra toàn
trường?.. Họ có làm gì xấu đâu?...
Trong phòng xôn xao tiếng nói cười của
các chị:
- Lan Minh khôn nhá! Anh Triều chỉ đến
phòng, ngồi giường thì thầm với nhau, chẳng ai biết mà phê bình.
- Đoàn đề ra khẩu hiệu: “Khoan yêu,
khoan cưới, khoan đẻ”, Lan Minh yêu là vi phạm nội quy nhá!...
- Thầy Triều hiền lành, đạo đức thế,
thầy mà yêu tớ, tớ yêu ngay.
- Cậu xấu thế, đời nào thầy yêu. Thầy
yêu Lan Minh hoa khôi của trường mới xứng đôi…
Nhà trường thưởng cho học viên đoạt
giải nhất, giải nhì các môn thi thể thao là tấm vé xem bóng đá ở sân vận động
Hàng Đẫy. Đội bóng đá Liên Xô sang đấu giao hữu với đội bóng đá Thể Công Việt
Hai chị em tôi cầm vé vào cổng B sân
vận động Hàng Đẫy, người soát vé ngạc nghiên: “Con gái cũng đi xem bóng đá?”
Chị em tôi cười. Chúng tôi đi trước giờ thi đấu gần một tiếng, vậy mà trong sân
vận động người đã ngồi kín ghế. Chị em tôi tìm số ghế của mình toát mồ hôi. Đi
đến đâu, mọi người “ồ” lên cười với chúng tôi vui vẻ.
Khi hai đội bóng đá đứng thành hàng,
chào cờ, hát quốc ca của mỗi nước, lòng tôi xúc động rưng rưng. Không biết
tiếng Liên Xô, nhưng nghe tiếng nhạc, tôi thấy hùng tráng, thiêng liêng như
nhạc Quốc ca Việt
Mới vào cuộc đá bóng mươi phút, trên
sân đã náo nhiệt tiếng hò hét cổ vũ vang trời. Tiếng hò reo cùng tiếng vỗ tay
của khán giả, tôi cảm tưởng như những đợt sóng triều dâng ở biển quê tôi. Thỉnh
thoảng, chị em tôi bị người ngồi phía sau đá bốp vào lưng. Chúng tôi giật mình
quay lại, họ cười xin lỗi. Trong đầu tôi thắc mắc: sao khán giả mê say bóng đá
thế? Chỉ có một quả bóng trên sân, hai đội tranh nhau đá mà ai cũng thích thú,
hò hét khản cổ. Chị em tôi muốn ra về không được, nhức đầu vì tiếng la hét của
khán giả…
* *
*
Một sáng tháng 5 – 1963, đài tiếng nói
Việt Nam đưa tin ngày Phật đản, các tăng ni Phật tử thành phố Huế mít tinh biểu
tình, phản đối Chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm kỳ thị đạo Phật, đàn áp người
theo Phật giáo, bắt theo Ki-tô giáo. Mấy cô chú cán bộ học trong lớp tôi bàn
luận:
- Luật mười năm chín, Ngô Đình Diệm lê
máy chém đi khắp miền
- Phải đánh mạnh quân bán nước Ngô
Đình Diệm như hai trận thắng lớn Ấp Bắc, Bình Giã, không thể đấu tranh chính
trị mãi với chúng được…
Tối chị Nhũ đến gặp tôi nói:
- Đảng viên các chị vừa họp nghe phổ
biến tình hình chiến sự miền
Nghe chị Nhũ nói, lòng tôi sung sướng,
hồi hộp. Ước mơ được vào bộ đội, ra tiền tuyến đánh Mỹ của chị em tôi không còn
xa nữa. Tôi nắm tay chị nói nhỏ:
- Chị em mình sắp thực hiện được ước
mơ đánh Mỹ rồi!
Anh Bội vào gọi chị Nhũ ra ngoài.
Nửa tiếng sau, chị Nhũ quay lại gặp
tôi kéo ra sân trường. Chị bảo:
- Em gặp nạn mà không biết. Anh Bội
vừa ở quê em lên. Nhờ anh Bội tận tình giúp đỡ, em tai qua nạn khỏi.
Tôi hốt hoảng, hai tai nóng ran:
- Ở quê em sao chị? Mồ mả cha mẹ em
làm sao à?...
- Không. Có một công văn của Đảng bộ
xã Nghĩa Hòa, do Bí thư Chàm ký. Nội dung nói cha em đảng viên Quốc dân Đảng ở
phố trốn về Quỹ. Hôm anh Bội lên văn phòng lĩnh lương cho lớp, bác Khuôn hỏi về
em, đưa công văn cho anh Bội xem. Đọc xong, anh Bội nói nội dung công văn vu
khống gia đình em. Anh Bội nhận về
Tôi kể chuyện hè năm ngoái về dưỡng
bệnh ở nhà chị Trâm, gặp Đinh Lan Đô như thế nào. Nghe xong, chị Nhũ kết luận:
- Địa chủ gian ác, bắn giết dân làng
là kẻ thù của Việt Minh, nên tay Đô rắp tâm hại em. Giờ mọi tai nạn đã qua, em
yên tâm học thật tốt để được ra chiến trường…
Thời gian thấm thoát thoi đưa, đàn
chim cu gáy vang trong dãy tre làng xung quanh trường bưu điện báo hiệu mùa gặt
tháng mười thóc chất đầy kho.
Mấy tuần nay, bộ đội về trường bưu
điện khám sức khỏe tuyển quân. Chị Nhũ và một số chị không đủ sức khỏe vào bộ
đội, khóc sưng mắt. Tôi buồn lây. Các chị 40 kilôgam trở lên, còn không đủ sức
khỏe. Tôi có 33 kilôgam thì bị loại khỏi bộ đội là chắc. Ai cũng buồn, đến bữa
chẳng ai thiết ăn, cơm ế lưng nồi. Tôi đem về phòng, sáng dậy sớm nhổ mấy cây
rau cải nấu cháo. Các chị thức dậy xì xụp húp bát cháo trước khi lên lớp học.
Ai cũng khen tôi sáng kiến, nấu cơm nguội độn ngô với rau cải tươi ngon ngọt,
cháo đặc biệt chưa ăn bao giờ.
Trong lúc học viên toàn trường đang
nhộn nhạo vui, buồn, người trúng tuyển bộ đội, người không, thì đài tiếng nói
Việt Nam đưa tin: Ngày 1 – 11 – 1963, quân lực Việt Nam cộng hòa dưới sự chỉ
huy của tướng Dương Văn Minh đảo chính, lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình
Nhu, xử bắn Ngô Đình Cẩn. Trong trường học viên xôn xao bàn tán về gia đình trị
Ngô Đình Diệm bán nước hại dân, ôm chân đế quốc Mỹ, bị chính quan thầy lập kế
hoạch cho bọn tay sai mới giết hại.
Tối ngày 20 – 11 – 1963, nhà trường tổ
chức liên hoan văn nghệ tiễn chân các anh chị vào bộ đội và lên miền núi nhận
công tác. Một lần nữa chị Nhũ lại khóc sướt mướt, than vãn với tôi:
- Chị không trúng tuyển vào bộ đội,
chị đã làm đơn xin lên Điện Biên công tác, nơi cha chị hy sinh mà không được.
Nhà trường lại điều chị về làm trưởng phòng bưu điện Sầm Sơn, Thanh Hóa. Ông Bí
thư Đảng còn nói Mỹ sắp tiến đánh Thanh Hóa và miền Bắc. Thanh Hóa là nơi vị
trí quan trọng để giặc Mỹ làm bàn đạp ném bom miền Bắc. Chị nghe lời giải thích
của ông Bí thư Đảng không vào tai. Sầm Sơn là bãi biển nghỉ mát cảnh đẹp, không
có gì gian khó. Giặc Mỹ chỉ là con hổ giấy, nó chẳng dám đánh phá miền Bắc xã
hội chủ nghĩa…
Chương 10
Năm 1964.
Tin anh Nguyễn Văn Trỗi đặt mìn phá
cầu Công Lý, ám sát phái đoàn quân sự cấp cao của Hoa Kỳ, do bộ trưởng quốc
phòng Mắc - na - ma - ra dẫn đầu không thành, làm chúng tôi nuối tiếc. Anh bị
địch bắt lúc 22 giờ ngày 9 - 5 - 1964. Ngụy quyền Sài Gòn kết án tử hình anh.
Ngay lập tức, một tổ chức ở Vê - nê - zuê - la muốn cứu anh tuyên bố: Trao đổi
anh Nguyễn Văn Trỗi với trung tá Smo - len, không quân Mỹ mà họ bắt giữ. Trong
lòng tôi sục sôi căm thù quân xâm lược và bè lũ tay sai chưa nguôi thì ngày 2 –
8 – 1964 đài tiếng nói Việt
Lớp 6E chúng tôi học trên lớp ngày hai
buổi tập đánh điện. Thầy chủ nhiệm phổ biến năm nay toàn trường không nghỉ hè,
học cấp tốc để cung cấp chiến sĩ thông tin ra mặt trận. Chúng tôi háo hức thi
đua luyện tập cả buổi tối cho cổ tay dẻo, nhanh nhạy, mắt tinh tai thính chuyển
điện nhanh. Tin vui chiến thắng của quân dân Hồng Gai ùa vào lớp 6E chúng tôi.
Ngày 5-8-1964 giặc Mỹ ném bom Hồng Gai. Quân dân ta bắn cháy máy bay Mỹ, bắt
sống giặc lái An-va-rết, nức lòng nhân dân cả nước. Tiếng tích tích tà tích lớp
tôi vang trong đêm khuya:
- Hoan hô Hải quân Việt
- Hoan hô quân dân Quảng Ninh!
- Mỹ nhất định thua.
- Ta nhất định thắng!
Chị Huệ đánh cho tôi bức điện:
Tích
tích tà tích
Tân
chuyển điện nhanh
Miền
Mỹ
giơ tay hàng!...
Chúng tôi say mê học tập, quên ngày
quên tháng. Ngày cuối cùng thi xong các môn học, lớp 6E chúng tôi vỡ òa tiếng
cười nói:
- Các cậu ơi, liệu bộ đội có về trường
ta tuyển quân không nhỉ?
- Chắc có chứ!
- Tớ khỏe mạnh béo tốt thế này, trúng
tuyển bộ đội là chắc!
- Học ngày học đêm, cắm đầu thi mệt bở
hơi tai mà trông ai cũng tươi như hoa nở ban mai…
Đã lâu lắm, bận học thi tốt nghiệp,
tôi không có thì giờ chơi xà lệch. Hôm nay được nghỉ, tôi ra sân chơi thể thao.
Chỉ có mấy đội bóng chuyền, bóng đá và mấy anh chị tập nhảy cao, nhảy xa. Chỗ
xà ngang, xà lệch vắng hoe. Tôi đến bên xà lệnh, đặt tay lên xà bồi hồi nhớ chị
Nguyệt, chị Nhũ. Chị Nguyệt người Hà Nội xinh tươi, dịu dàng, chơi xà lệch giỏi
nhất trường. Chị xung phong lên tận miền núi Lai Châu công tác. Chị đã dạy tôi
chơi xà lệch. Từ ngày chị Nhũ ra trường, tôi không có bạn chơi xà lệch. Một
mình tôi chơi thể thao không hứng thú. Nhưng trong khi chờ nhà trường chấm bài
thi, phân công công tác, chẳng có việc gì làm tôi chơi xà lệch cho khỏe, may ra
đủ sức vào bộ đội. Thỉnh thoảng tôi gặp anh Long nhờ anh mượn sách trong thư
viện Hà Nội giúp. Tôi đọc ngấu nghiến cuốn “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn
Liên Xô. Chị Nhũ gọi điện thoại cho anh Long, nói chị vẫn khỏe, công tác tốt.
Chị rất nhớ “Bé Tân”. Đạn pháo tầu Ma Đốc giặc Mỹ chưa động đến bờ biển Sầm
Sơn. Thấy tôi ham đọc sách, anh Long mượn thư viện Hà Nội cho tôi một số tác
phẩm của các nhà văn lớn thế giới như: “Sông Đông êm đềm”, “Chiến tranh và hòa
bình”, “Những người khốn khổ”, “Thằng gù trong nhà thờ Đức Bà”, “Miếng da lừa”
v.v… Anh Long rất ngạc nhiên trước sự cảm nhận tác phẩm của tôi. Mỗi lần tôi
đọc xong một cuốn sách, đưa anh trả thư viện, lần nào anh cũng hỏi: “Em thấy
quyển sách này hay không?”, “Em thấy quyển này thế nào?” v.v… Tôi trả lời, anh
Long cốc nhẹ vào trán tôi: “Cái trán giô nhận xét giỏi”…
Đài tiếng nói Việt
- Tôi muốn nhìn mảnh đất thân yêu của
Tổ quốc lần cuối.
Anh Nguyễn Văn Trỗi hô những lời cuối
cùng của tuổi đời hai mươi bốn:
Hãy
nhớ lấy lời tôi:
Đả
đảo đế quốc Mỹ
Đả
đảo Nguyễn Khánh
Hồ
Chí Minh muôn năm
Hồ
Chí Minh muôn năm
Hồ
Chí Minh muôn năm
Việt
Trước lúc hy sinh, anh Nguyễn Văn Trỗi
gọi Bác ba lần. Tôi bật khóc. Học viên trường Bưu điện nháo nhác gọi nhau, nước
mắt đầm đìa tiếc thương anh Nguyễn Văn Trỗi. Mỹ và bọn tay sai lật lọng. Sau
khi du kích Vê-nê-zuê-la thả trung tá Mỹ Smo-len thì địch bắn anh Nguyễn Văn
Trỗi. Lớp 6E chúng tôi làm đơn tình nguyện vào bộ đội chiến đấu, trả thù cho
anh Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều người trong chúng tôi phải viết đơn lại mấy lần, vì
nước mắt nhòe chữ. Lớp trưởng Nguyễn Hoàng Kiên cầm đơn của chúng tôi lên Trung
ương Đoàn. Trở về anh kể:
- Các đồng chí trên Trung ương Đoàn
hoan nghênh tinh thần sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc của thanh niên lớp ta.
Chắc chắn ngoài chiến trường đang cần chiến sĩ thông tin như chúng ta.
Nghe lớp trưởng nói, chúng tôi háo hức
chờ đợi và hy vọng sớm được vào bộ đội. Hai ngày sau, toàn trường tôi mừng
không tả xiết, bộ đội đến khám sức khỏe tuyển quân. Học viên chúng tôi náo nức
như ngày Hội, túm năm tụm ba cười nói, khoe với nhau kết quả khám sức khỏe.
Gương mặt ai cũng rạng ngời tươi vui. Lớp 6E chỉ có tôi, bạn Thụ, bạn Xưởng là
không trúng vào bộ đội. Tôi khóc đã đành. Hai bạn nam cũng tuôn nước mắt. Chúng
tôi nhẹ cân quá, chỉ có ba mươi ba, ba tư ki lô gam. Riêng tôi, còn bị thiếu
máu nặng. Ba chúng tôi hoàn cảnh giống nhau đều mồ côi cha mẹ từ bé. Hai bạn
kia có ông bà nội, ngoại nuôi, nhưng nhà nghèo, ăn rau cháo đói như tôi. Chúng
tôi khóc như mưa trước mặt đông người, làm ai cũng ngỡ ngàng xúc động. Chúng
tôi không kìm nén được lòng mình, khi không được đứng trong hàng ngũ thanh niên
đi cứu nước. Tôi xấu hổ ôm mặt khóc nấc lên. Chị Huệ bế tôi chạy về lớp, sợ tôi
ngất. Mọi người an ủi, động viên tôi công tác tốt cũng là đánh Mỹ. Nhưng tôi
không thể nguôi nỗi buồn. Cầm tờ quyết định về công tác tại Bưu điện Bờ Hồ, Hà
Nội tôi ỉu xịu, lên Ban giám hiệu nhà trường đề nghị cho đi Tây Bắc. Bác Khuôn,
trưởng phòng tổ chức buông kính nhìn tôi ngạc nhiên:
- Con bé này lạ thật!... Bao nhiêu
người mơ ước được công tác ở Hà Nội không được, cháu lại đòi lên núi rừng Tây
Bắc gian khổ.
- Bác ơi!... Sức khỏe cháu không đủ
tiêu chuẩn vào bộ đội, cháu xấu hổ lắm. Bác đổi cho cháu lên miền núi gian khổ
cho cháu đỡ xấu hổ với bạn bè.
Thầy hiệu trưởng Hồng Phi bước vào:
- Cháu Tân nên chấp hành sự phân công
của nhà trường, đó cũng là tinh thần đánh Mỹ. Ai cũng vào miền Nam chiến đấu,
hỏi lấy ai làm việc, xây dựng chủ nghĩa xã hội hậu phương miền Bắc vững mạnh?
Cháu về phòng mình thu xếp tư trang đến Bưu điện Bờ Hồ nhận công tác.
Vừa buồn vừa ức, người tôi run lên,
nước mắt ứa ra, đất dưới chân như tụt xuống. Tôi bước bập bõm ra khỏi văn phòng
nhà trường. Chả hiểu thế nào, tôi ngã sập xuống đất, máu cam ồng ộc chảy. Anh
Long, cán bộ văn phòng nhà trường, bạn thân chị Nhũ bế tôi chạy vào phòng y tế…
* *
*
Ngày nào tôi cũng đi xe điện ra bờ hồ
Hoàn Kiếm, đến cơ quan Trung ương Đoàn ở 62 Bà Triệu xin đi bộ đội. Gặp ai tôi
cũng nài nỉ giúp tôi được vào bộ đội. Mọi người nhìn tôi thương cảm. Ai cũng
nói một câu giống nhau: “Em gầy xanh, bé thế, đeo ba lô vượt Trường Sơn làm sao
được?” Ròng rã một tuần, tôi khóc sưng húp mắt, đầu tóc phờ phạc như người ốm
đói. Tối thứ bảy, bước xuống xe điện tôi gặp thầy Triều ở cổng Trường. Thầy
hỏi:
- Em Tân lên Trung ương Đoàn về đấy à?
Tôi ngẩng lên nhìn thầy. Mắt thầy đỏ
hoe. Sao thầy biết mình lên Trung ương Đoàn?... Tôi buột miệng:
- Thầy ơi, mắt thầy đỏ thế? Thầy bị
đau mắt à?
Thầy Triều quay mặt đi, lấy khăn mùi
xoa lau nước mắt, lặng lẽ đi bên tôi. Một lúc sau, thầy Triều nói giọng buồn:
- Chị Lan Minh lấy chồng rồi em ạ.
Tôi sửng sốt:
- Ơ, sao lại thế?
- Anh không ngờ Lan Minh lừa anh tài thế.
- Ba năm học, thầy nuôi chị Lan Minh công cốc.
-
Nuôi thì anh chẳng tiếc công tiếc của, chỉ đau ở chỗ bị lừa tình. À mà thôi,
chuyện buồn của người lớn, em không nên biết làm gì. Còn việc của em, hình như
chị Nhũ ở Sầm Sơn gọi điện ra trao đổi với anh Long. Nhà trường đổi quyết định
cho em về ty Bưu điện Thanh Hóa. Nhà trường đã bàn mãi chuyện em xung phong vào
bộ đội. Nhưng em thiếu máu, nhẹ cân quá, không đủ sức trèo đèo vượt được núi
rừng Trường Sơn đâu em ạ. Còn bệnh chảy máu cam của em rất nặng nữa. Ban giám
hiệu nhà trường đã trao đổi kỹ với các đồng chí ở Trung ương Đoàn. Giặc Mỹ và
bọn tay sai bán nước hô hào vượt sông bến Hải, tiến đánh ra miền Bắc. Chúng có
thực hiện mưu đồ đó hay không thì chưa biết, nhưng giặc Mỹ sẽ ném bom miền Bắc.
Cầu Hàm Rồng Thanh Hóa là mục tiêu Mỹ ném bom đầu tiên. Giặc muốn cắt đứt con
đường vận tải từ Bắc vào
Hôm
sau tôi lên văn phòng nhà trường nhận quyết định điều động công tác. Anh Long
bảo:
- Em chấp nhận về ty Bưu điện Thanh
Hóa công tác đi. Em gần chị Nhũ, có khó khăn gì đã có chị chăm lo. Ty Bưu điện
đang thành lập tổ điện báo trực chiến, giao cho tỉnh đội. Em đánh moóc giỏi, em
vào là được tuyển bộ đội ngay. Giặc Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng Thanh Hóa.
Thanh Hóa là tiền tuyến rồi, đáp ứng mong mỏi em ước ao được ra tiền tuyến.
Nghe anh Long nói, lòng tôi cũng nguôi
ngoai. Đọc xong quyết định điều động công tác, tôi thắc mắc:
- Ơ, em lĩnh lương tháng mười ở ty Bưu
điện Thanh Hóa à anh? Đâu phải là bộ đội? Bộ đội làm gì có lương? Chỉ có phụ
cấp mấy đồng một tháng, anh nói dối em.
Anh Long cười:
- Em chẳng biết gì hết. Em ăn lương bộ
đội chuyên nghiệp trung cấp Bưu điện, bảy mươi nhăm phần trăm một tháng, trong
hai năm đầu thực tập. Em công tác tốt đến năm thứ ba mới được hưởng tròn 45
đồng một tháng. Lúc ấy em về trường gặp anh nhận bằng tốt nghiệp.
Hiểu ra, tôi phấn khởi thu xếp tư
trang về quê nghỉ một tuần như ghi trong quyết định công tác.
Về đến nhà chị Trâm ở Nghĩa Phú, Nghĩa
Hưng Nam Định vào ngày chủ nhật, tôi gặp anh rể Lương. Chị Trâm đi làm đồng.
Tôi chạy sang nhà chị Ngoan. Tôi đi qua bể bơi nước trong veo, mấy em thiếu nhi
đang vùng vẫy bơi lặn. Sông Nghĩa Phú lững lờ trôi. Thỉnh thoảng có con cá nhảy
lên mặt nước như ai ném thia lia, nước tóe thành bông hoa trắng. Chị Ngoan đang
nhặt rau làm bữa cơm tối. Thấy tôi, chị mừng reo lên:
- Ơ em Tân, dạo này em khỏe, nhớn lên
rồi! Em ở đây ăn cơm tối với chị. Chị nấu canh cá với dọc mùng. Cá chị tát vũng
ngoài đồng.
Hai con chị chơi đá bóng bằng quả bưởi rụng ở góc sân.
Tôi bế cháu gái lên thơm vào má:
- Bố Vinh bé có hay gửi thư về không?... Chắc bố nhớ
bé lắm.
Chị Ngoan rơm rớm nước mắt:
- Em ơi, cuối năm ngoái chị nhận thư anh nói đơn vị
hành quân vào
Mẹ chồng chị Ngoan cắp rổ rau cho lợn đi từ ngoài cổng
vào. Tôi ghé tai chị thì thầm:
- Mẹ anh Vinh trông sút quá. Anh Vinh đi bộ đội mới
hơn một năm, em thấy bà gầy tọp, má hóp, mắt quầng thâm.
- Người mẹ nào chả thương nhớ, lo lắng cho đứa con
ngoài chiến trường. Đến chị là thanh niên còn sút cân đi, nữa là mẹ già làm
lụng vất vả.
- Ơ, sao bà cụ hái những ngọn rau muống non tãi ra sân
thế chị?
- Để gửi ra tiền tuyến em ạ. Hội phụ nữ xã phát động
gửi rau muống phơi khô ra tiền tuyến cho bộ đội ăn. Chả biết trong bữa cơm, anh
Vinh có được ăn rau muống khô của mẹ của vợ gửi cho không – Chị Ngoan lấy ống
tay áo quệt nước mắt.
Tôi về, nhà chị Trâm đang ăn cơm tối. Chị bảo tôi:
- Em cầm rổ ra sân ủy ban vơ rau muống về cho chị, mấy
ngày nữa cô Hội trưởng phụ nữ xã gom lại gửi cho bộ đội ngoài chiến trường.
Tôi mừng, chị Trâm có tinh thần làm theo khẩu hiệu
dăng khắp lối đi ngõ xóm: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột
thịt”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ thống nhất đất nước” v.v…
Cắp rổ rau khô về, tôi hỏi anh rể Lương:
- Anh không vào bộ đội đánh Mỹ à? Ở trường em, mấy
thầy giáo có tuổi rồi vẫn tái ngũ vào
Anh rể tôi lặng ngắt. Chị Trâm lườm chồng, trề môi
nói:
- Người nhát hơn cáy, sợ chết, chỉ thích chúi đầu vào
gái thôi.
Anh Lương mặt đỏ bừng đáp lại chị Trâm:
- Ừ đấy! cả xã vắng bóng con trai, chỉ còn cụ già, gái
măng tơ, tớ vơ bao nhiêu cô chẳng được.
Không muốn nghe anh chị khích bác nhau, tôi kéo hai
cháu lên giường hát ru.
Hôm sau đi chợ Quỹ thắp hương mộ cha mẹ về, tôi nói
với chị Trâm:
- Chị Trâm ơi, bác Hoan trưởng xóm bảo em làm giấy tờ
xã cấp đất cho ba sang tên em, kẻo bà Vợi ở lâu ngày bán nhà mình. Cán bộ xã
đến tuổi nghỉ hưu, lớp trẻ lên thay không biết nguồn gốc. Bác Hoan bảo hai chị
đi lấy chồng. Em là con ruột ông Văn, có quyền thừa kế ngôi nhà hợp pháp. Sang
tên giấy tờ xong, em viết giấy ủy quyền cho chị sử dụng quản lý nhà đất, không
ai xâm phạm được.
Chị Trâm quát:
- Sang tên làm gì? Tao ở đây, ai dám cướp được nhà đất
của bố mẹ? Cho bà Vợi ở, bà ấy thắp hương bố mẹ ngày một ngày rằm.
- Thì cứ cho bà ta ở nhờ, nhưng em sợ mụ yêu tinh này
bán nhà lấy tiền ăn rồi cuốn xéo. Em đi công tác ở nhà tập thể, chị đông con
sau này các cháu ở. Em không cần nhà, chỉ cần cho con chị thôi. Mình không làm
giấy tờ hợp pháp, đứa ở nhờ ma quỷ làm giấy nhà tên nó, nó bán đi, mình kiện thành
đuối lý, thua.
- Không nói nữa, tao đảm bảo với mày, đứa nào bán nhà
đất của ông Văn, tao vặn cổ.
- Vâng!... Giờ nó chưa bán nhà mình. Dăm mười năm nữa,
nó làm giấy tờ hợp pháp tên nó mới bán ạ. Bà chị chẳng hiểu pháp luật, nhắm mắt
nói bừa…
Nghỉ ở quê một tuần, biết bao niềm vui nỗi buồn ập đến
trong tôi. Tôi đi khắp mọi nhà ở chợ Quỹ chào chia tay. Con trai chú Điệp học
bên Phát Diệm, Ninh Bình tôi không gặp. Chú Điệp nói:
- Cháu không nhớn được là mấy, vẫn đôi mắt sáng thông
minh, gương mặt cứng cỏi. Thằng Hùng nhà chú năm nay mười bốn, kém cháu hai
tuổi. Nó thích đi bộ đội đánh Mỹ. Nó ăn khỏe, to cao hơn cháu nhiều.
Một số bạn nam trong đội thiếu niên với tôi ở chợ Quỹ
cũng xung phong vào bộ đội hết. Tôi đến chào ông Trần Văn Tĩnh Chủ tịch xã đã
nghỉ hưu. Ông ốm nặng. Thấy tôi ông cố nhỏm dậy không được. Nằm nghe tôi báo
cáo kết quả học tập và đi nhận công tác, ông Tĩnh mừng nắm chặt tay tôi. Ông
chúc tôi lên đường may mắn…
Sáng chủ nhật, tôi đang sắp tư trang đến trưa sang
Phát Diệm, đi Ninh Bình để vào Thanh Hóa, Đinh Lan Đô bước vào nhà. Hắn không
chào anh rể Lương tôi là chú ruột, gọi ngay tôi:
- Cô Tân! Giờ cô học xong ra công tác. Tôi hỏi cô: Cô
có lấy tôi không? Trả lời ngay!
Tôi tức sôi máu quát:
- Đồ chó đẻ! Không ai đi lấy loại chó đẻ mày!
Đô cười khẩy:
- Được rồi! Cô nhớ lấy! Tôi sẽ hại cô điêu đứng từ giờ
đến phút chết. Mỹ ngụy sắp đánh ra miền Bắc. Cô tưởng tôi không biết cô làm ở
tổ điện báo trực chiến à? Sẽ có ngay công văn của Đảng bộ xã gửi vào, với nội
dung bố cô là phản động, thì cô bị đuổi việc ngay.
- Đảng không tin vào công văn bịa đặt vu khống của con
cháu địa chủ gian ác, liếm gót giầy Tây, đi càn bắn giết đốt nhà người làng xã.
Đảng sẽ cử người điều tra, xác minh sự thật.
- Trong chiến tranh mải chiến đấu, không ai hơi đâu đi
điều tra với xác minh. Cô hãy đợi đấy! Cô cứ tin vào Đảng đi, không ai cứu cô
đâu. Cô sẽ chết khốn khổ.
- Tôi tin Đảng, tin Bác Hồ. Anh không được nói láo.
Câm họng!
Tôi ra khỏi nhà, đến anh Xương Bí thư Đảng bộ xã Nghĩa
Phú kể chuyện vừa cãi nhau với Đinh Lan Đô. Anh Ngũ coi kho hợp tác xã đang làm
việc với anh Xương, nghe chuyện tôi, anh nói:
- Ông Xương còn lạ gì tay Chàm về làm Bí thư xã Nghĩa
Hòa mấy năm nay?
- Ờ, nó là cháu họ tôi. Hôm nay cô Tân nói chuyện đã
bị Chàm gửi công văn lên trường Bưu điện tôi mới biết. Chị Lương không nói
chuyện Đinh Lan Đô đòi lấy cô Tân không được, trả thù hèn hạ.
Anh Ngũ động viên tôi:
- Em Tân cứ yên tâm vào Thanh Hóa công tác. Nếu thằng
Đô nó mưu mô gì hại em, thì các anh làm chứng, tố tội nó.
Anh Xương nhìn tôi, nghĩ ngợi, thở dài:
- Trong lúc đất nước chiến tranh, kẻ ác rắp tâm hại
mình, cũng gian nan mới sáng tỏ. Em về chuẩn bị đi kẻo muộn. Các anh sẽ trao
đổi với chị Lương em việc này. Anh rể Lương em ở giữa khó xử, cứ ngồi ngây như
phỗng đá nghe hai người đối đáp chứ gì?
- Vâng! Anh rể Lương em cứ ngồi rót nước uống, hết
chén này đến chén khác, im lặng…
Tôi nghĩ cần phải nói chuyện tay Đô đe dọa với chị
Ngoan. Nghe chuyện, chị Ngoan tức thay cho tôi:
- Cái thằng ngu như thế chứ! Trai gái phải yêu nhau
mới lấy nhau. Nó bắt ép người khác lấy nó làm sao được. Cái thằng đểu, một lúc
yêu mấy người, ăn hỏi mấy người rồi không cưới ai. Quân chó má. Em không sợ,
mình cây ngay không sợ chết đứng. Em cứ vui vẻ phấn khởi công tác tốt, để chứng
minh mình là người đạo đức.
Chương 11
Đầu năm 1965, tổ điện báo ty Bưu điện
Thanh Hóa làm việc hết sức căng thẳng. Tết Nguyên Đán, chúng tôi không được
nghỉ như các bộ phận khác. Trong ca làm việc, lá thuê bao đổ rào rào như mưa.
Tai nghe, mắt nhìn, tay thoăn thoắt cắm phít, khi giao ca ai cũng mệt nhoài,
lăn ra ngủ.
Một ngày đầu tháng 3-1965 cán bộ Tỉnh
đội đến tổ điện báo chúng tôi đọc danh sách những người vào tổ điện báo trực
chiến. Chúng tôi hồi hộp, đưa mắt nhìn nhau, ai là người vinh dự được đứng
trong đội ngũ chiến đấu với giặc Mỹ trận đầu?...
Trước khi gọi tên, anh cán bộ giải
thích:
- Tiêu chuẩn trong danh sách điện báo
trực chiến: phải là điện báo viên giỏi, mắt tinh, tai thính, đánh móoc nhanh…
Mọi
con mắt đổ dồn về phía tôi. Tôi xấu hổ đỏ mặt, con tim đập dồn như muốn nhảy ra
khỏi lồng ngực. Tôi mừng thầm, không phải khám sức khỏe như những đợt tuyển
quân ở trường Bưu điện. Lần này, chắc mình được nằm trong danh sách tổ điện báo
trực chiến… Mải nghĩ, tôi giật nảy người khi nghe gọi tên mình, mọi người cười
ồ. Tôi vội giơ tay:
- Có em!...
Bốn thanh niên chúng tôi nằm trong
danh sách tổ điện báo Hàm Rồng. Chúng tôi nhảy lên vui sướng. Tổ trưởng là chị
Lanh 24 tuổi, đảng viên. Hai bạn: Thu, Hương là đoàn viên. Mỗi tôi chưa phải
đoàn viên. Nỗi buồn thoáng qua trong đầu tôi. Ai cũng đặt dấu hỏi tại sao tôi
học giỏi, ngoan hiền, sao chưa phải đoàn viên?... Chắc tôi phải có chấm đen gì
đấy. Về chuyên môn, tôi thành thạo cả lý thuyết lẫn thực hành. Lương tháng tôi
cao nhất. Ba người kia chỉ là con em nhân viên Bưu điện, vào làm thay thế bố mẹ
nghỉ hưu, chưa qua lớp đào tạo nghề như tôi. Ba chúng tôi đều bằng tuổi nhau:
tròn hai mươi. Hai bạn Thu, Hương tuổi 20 thật. Còn tôi, tuổi 20 giả nên ai
cũng bảo tôi như “thiếu niên”, chưa ra dáng thiếu nữ. Hồi mới về nhận công tác,
nhiều lần, có anh, hay chị trong ty Bưu điện gọi tôi:
- Em Tân!... Anh Thanh bảo em vu khống
anh ấy đấy!
- Em Tân! Hôm qua em vu khống anh Hà
cái gì đấy?
- Em Tân!... Sao em lại vu khống anh
Sùng?...
Tôi cố cãi tôi không vu khống ai. Tôi
càng cãi, càng bị các anh chị khẳng định tôi là “người vu khống”, cười vui với
nhau.
Bốn chúng tôi được cán bộ Tỉnh đội dẫn
về nhận tư trang. Tiếp đó, chúng tôi ra cầu Hàm Rồng làm quen với hầm điện báo
trực chiến của mình, để ngày hôm sau ra làm việc.
22 giờ đêm, tôi gọi điện cho chị Nhũ:
- Chị Nhũ ơi, em được vào tổ điện báo
trực chiến của tỉnh đội rồi!
- Giờ thì em thỏa nguyện ước được đánh
giặc Mỹ nhé!
- Chị ơi, em chẳng vu khống ai cái gì,
sao mấy anh, mấy chị ở cơ quan cứ bảo em vu khống họ?...
Chị Nhũ cười giòn tanh tách:
- Mọi người trêu em đấy. Họ không có ý
định nói xấu em đâu. Để khi nào chị em mình gặp nhau, chị bảo.
- Biết bao giờ em gặp được chị? Chị
thì bận không có ngày nghỉ. Em mới ra công tác cũng tranh thủ rèn tay nghề, rồi
làm giúp các anh chị có tuổi về quê giỗ bố mẹ, đám cưới, đám ma. Gần nửa năm em
vào ty Bưu điện Thanh Hóa công tác, cách chị ở Sầm Sơn có hai chục cây số mà
chị em chưa gặp nhau. Em nhớ chị lắm. Chị bảo em đi.
- Chị còn nhớ em hơn ấy. Năm nay em
mười sáu rồi nhỉ, chắc xinh gái rồi. Chị xa em hơn một năm chưa gặp, chắc em
lớn lên nhiều, xinh gái nên mọi người hay đùa trêu em. Em thử hoán vị hai từ vu
khống xem là cái gì?...
- Vu khống, em hoán vị là… là… em ứ
nói đâu. Em ghét các anh chị nói em thế, bắt nạt em không biết…
- Ờ, tạm biệt em nhé! Hôm nào gặp em,
chị sẽ bảo em thêm nhiều điều cần cho tuổi mới lớn. Chúc em công tác tốt. Giặc
Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng. Chị nói em biết để bụng, không được nói với ai.
Nghe chị Nhũ nói Mỹ sắp ném bom cầu
Hàm Rồng, tôi hồi hộp chờ đợi. Hàng ngày bốn chúng tôi thay ca nhau, làm việc ở
hầm điện báo trực chiến Hàm Rồng. Ngoài bốn chúng tôi, còn có các anh bộ đội
thông tin của Tỉnh đội nữa. Công việc chuyển điện đi, nhận điện đến bận tối
mắt. Tôi thoáng nghĩ, khi giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng thì chắc còn nhiều bức
điện đến, chuyển điện đi dồn dập. Mới làm việc có hai tuần mà cả bốn thanh niên
chúng tôi gầy đi trông thấy. Các thủ trưởng thường xuyên nhắc chị em tôi trong
bữa ăn: phải ăn khỏe để có sức chiến đấu với giặc Mỹ. Nhưng chẳng ai ăn được
mấy. Bữa cơm nào cũng có thịt cá, rau xanh ngon lành hơn ở bếp ăn tập thể Bưu
điện, mà tôi nhai búng trong mồm vì mệt.
Ngày 1-4-1965 tổ điện báo trực chiến
Hàm Rồng chúng tôi gần chục người, làm việc, ăn ngủ ngay tại chỗ. Không nói ra,
nhưng ai cũng đoán giặc Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng. Ngoài đường phố vắng bóng
người. Chỉ những đoàn tàu, đoàn xe chở hàng, chở bộ đội qua cầu hối hả vào
Gần sáng ngày 3-4-1965, còi báo động
hú lên từng hồi. Sau mấy phút báo yên, còi báo động lại rúc lên. Tôi thấp thỏm
hồi hộp, lo lắng trong những đợt còi báo động, báo yên. Cả bốn chúng tôi ngồi
trực trước bàn máy. Trời sáng hẳn, tiếng còi báo động kéo dài, dồn dập. Tiếp đó
là tiếng ầm ầm như sấm to chớp giật của máy bay giặc Mỹ. Bốn chúng tôi lao ra
cửa hầm, nhìn lên bầu trời thấy những quả bom bằng bắp hoa chuối, chui từ bụng
máy bay Mỹ bay xuống dày đặc như đàn chim di trú từ phương bắc về phương nam
tránh rét mùa đông. Ai đó nói:
- Khéo đàn bom này rơi xuống đầu chúng
ta.
- Ối! Bom to quá sắp!...
Thủ trưởng quát:
- Các đồng chí, về vị trí chiến đấu!
Chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, căn hầm
rung chuyển nhưng ai cũng tập trung vào công việc, không để ý đến bom đạn chát
chúa chọi nhau trên bầu trời Thanh Hóa mù mịt khói. Qua những bức điện chuyển
đi, nhận đến, chúng tôi biết cuộc chiến đấu bên ngoài gay go ác liệt. Cầu Hàm
Rồng đứng vững, hiên ngang dưới mưa bom, rốc két của giặc Mỹ. Trung đội dân
quân súng 37 ly cũng bắn rơi “Con ma”, “Thần sấm” giặc Mỹ. Tên giặc lái nhảy dù
ra khỏi máy bay cháy, rơi xuống bờ Nam Ngạn bị dân quân bắt sống. Tim tôi luôn
thay đổi trạng thái theo từng bức điện. Những bức điện nào thông báo máy bay Mỹ
rơi, bắt sống giặc lái ở đâu, con tim mừng vui nhảy nhót trong lồng ngực. Những
bức điện báo cáo lên cấp trên tin buồn về khẩu pháo nào trúng đạn, bộ đội Hải
quân ta hy sinh… tim tôi đau nhói…
Nhập nhoạng tối, anh nuôi mang cơm ra
cho tổ điện báo. Cả ngày mới có một bữa. Chúng tôi thay nhau ăn cơm. Một điều
trùng hợp lạ kỳ, hơn chục anh em chúng tôi, chẳng một ai ăn cơm. Ai cũng múc
cháo, húp cho nhanh còn vào làm việc. Mắt anh nuôi đỏ hoe, lặng lẽ nhìn chúng
tôi ăn. Tôi hỏi anh:
- Anh ơi!... Bộ đội ta hy sinh nhiều
lắm phải không?
Anh nuôi lắc đầu.
- Anh sợ em buồn chứ gì? Qua những bức
điện em chuyển đi, em biết chứ! Mấy khẩu pháo trên núi Ngọc, núi Rồng trúng
bom. Tàu Hải quân ta trên sông Mã hẹp, tiến lui đều khó. Ở Lèn, Ghép, giặc Mỹ
cũng bắn phá ác liệt lắm!...
Nước mắt anh nuôi chảy ròng. Anh bảo
tôi:
- Anh múc thêm cho em muôi cháo. Em ăn
cố lên, lấy sức làm việc. Từ nãy, em toàn húp nước mắt của em chảy xuống bát.
Cháo của “Hội mẹ chiến sĩ” ủng hộ bộ đội ta chiến đấu, bảo vệ cầu Hàm Rống đấy.
Các mẹ quyên góp gà nhà nuôi, nấu cháo tặng chiến sĩ.
Ăn thêm muôi cháo anh nuôi tiếp, tôi
cảm nhận được tình sâu đậm nghĩa quân dân của các mẹ ở Hàm Rồng, nghĩ mình phải
làm việc tốt hơn.
* *
*
Tôi tỉnh dậy, nhìn thấy chị mặc áo Blu
trắng đứng cạnh giường. Chị nở nụ cười, ngồi xuống giường nắm tay tôi:
- Em thấy trong người thế nào?
- Em đau đầu, tiếng ù ù như say lúa.
Hình như hầm điện báo của em trúng bom giặc Mỹ à chị?
- Bom nổ gần hầm điện báo, bay mái vì
kèo.
- Ôi! Các anh chị trong tổ điện báo
em…
- Không sao, em yên tâm. Mỗi em bị
nặng nhất, máu mồm, máu mũi, máu tai em rỉ ra. Phải nửa tiếng sau dân quân, cứu
thương mới vào dỡ nóc hầm. Các anh chị xây xước nhẹ vẫn bám trụ làm việc. Em
nằm bất động, mọi người tưởng em chết đã khóc. Giặc Mỹ điên cuồng ném bom Hàm
Rồng hai ngày đêm không nghỉ. Dân quân cứu thương lao vào các ụ pháo cứu chiến sĩ bị thương cũng trúng bom, hy sinh.
Khốc liệt em ạ. À mà thôi, em nghỉ đi, chị…
Chị y tá đi ra, đưa ống tay áo lau
nước mắt.
Tôi từ từ ngồi dậy, nhìn xung quanh
giường bệnh. Giường nào cũng hai người nằm, chân tay, đầu băng trắng. Tôi ghé
mắt nhìn đồng hồ tay anh thương binh bị băng kín đầu, 22 giờ hơn. Nghĩ mình đi
lại được, chỉ đau đầu ù tai, hai ngày sau tôi xin ra viện bằng được.
Đi bộ về đơn vị, tôi nhìn cảnh thị xã
vắng teo, yên tĩnh như chưa hề có trận không kích của giặc Mỹ xuống cầu Hàm
Rồng. Người già, trẻ con đi sơ tán hết, chỉ ở lại dân quân, cùng bộ đội bắn máy
bay Mỹ. Dọc các ụ súng phòng không bên bờ sông Mã, có những vành khăn trắng.
Lòng tôi bâng khuâng… Hoa sen dưới ao chân cầu Hàm Rồng đỏ rực, như búp tay vẫy
chào đón tôi. Cầu Hàm Rồng nham nhở vết thương. Những thanh sắt bom Mỹ vặn
cong, xiêu vẹo thủng lỗ chỗ, cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững hiên ngang. Những đoàn
xe tải gạo chở vũ khí nối đuôi nhau đi qua cầu. Lòng tôi rưng rưng thầm gọi:
“Cầu Hàm Rồng thương yêu!”…
Về đến đơn vị, tôi mới biết trong hai
ngày 3, 4 – 4 - 1965 quân dân Thanh Hóa bắn rơi 47 máy bay “Thần sấm”, “Con ma”
của giặc Mỹ, bắt sống một số giặc lái. Ta cũng tổn thất lớn. Bộ đội Hải quân hy
sinh nhiều nhất. Tầu Hải quân neo dưới sông Mã, súng phòng không đợi lúc máy
bay Mỹ bổ nhào phóng rốc két, ném bom mới bắn thì rất trúng; đồng thời các
chiến sĩ ta phải hứng chịu những quả rốc két và chùm bom ấy. Bộ đội, dân quân
và nhân dân hết lời ca ngợi nữ dân quân Ngô Thị Tuyển vác đạn tiếp cho Hải quân
ta bắn máy bay Mỹ. Nghe chuyện, lòng tôi mến phục nữ dân quân Ngô Thị Tuyển
dũng cảm. Mấy ngày sau, tôi tìm gặp bằng được người con gái dũng cảm, gan dạ,
vác hòm đạn gần gấp đôi trọng lượng mình, chạy dưới làn mưa bom đạn nổ của
giặc. Tôi ngạc nhiên, chị Ngô Thị Tuyển chỉ nhỉnh hơn tôi một chút. Đôi má chị
sạm đen khói súng. Sao chị giỏi thế? Cha vẫn dạy mình thấy ai tài giỏi phải học
hỏi làm giỏi như người ta. Nhưng mình ở tổ điện báo trực chiến, không thể bỏ
máy ra vác đạn được…
Giữa lúc giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng,
Lèn, Ghép rải rác cả ngày đêm, một đoàn nhà văn từ Hà Nội vào Thanh Hóa, tìm
hiểu thực tế hai ngày mồng 3, mồng 4 tháng 4 - 1965 để viết văn. Một tối, thủ
trưởng đơn vị đi cùng đoàn nhà văn đến tổ điện báo trực chiến chúng tôi. Thủ
trưởng giới thiệu:
- Nhà văn Nguyễn Đình Thi.
- Nhà thơ Xuân Diệu.
- Nhà thơ Thái Giang.
- Nhà thơ Huyền Kiêu.
- Họa sĩ Trần Văn Cẩn.
- Họa sĩ Sĩ Ngọc.
Sau mấy phút giới thiệu, chào hỏi đoàn
nhà văn, chúng tôi làm việc bình thường. Chị Lanh tiếp chuyện các nhà văn chừng
hai mươi phút. Trước khi ra về, nhà thơ Thái Giang hỏi:
- Trong hai ngày chiến đấu ác liệt, có
bạn nào ghi nhật ký không?
Mọi người nhìn tôi. Tôi đỏ mặt cúi
đầu, hai tai nóng ran, chân di di xuống đất lúng túng. Nhà thơ Thái Giang đến
nắm tay tôi:
- Cháu có hai bím tóc dài đẹp thế nhỉ.
Cháu có hay ghi nhật ký không?... Đưa chú xem! Trông cháu như thiếu niên, chưa
phải thiếu nữ.
Anh chị em trong tổ nhao nhao lên:
- Ở đây, chỉ có Tân ghi nhật ký thôi.
Những đêm trực thưa việc, bạn ấy hí hoáy viết trong sổ tay.
Hai bạn Thu, Hương mở ba lô tôi, lấy
cuốn nhật ký đưa cho nhà thơ Thái Giang. Nhà thơ lật giở nhanh, đọc lướt các
trang nhật ký. Tôi sợ run người, nước mắt chảy ướt má. Chết rồi! Mình nghĩ gì,
thấy gì từ hôm vào đây công tác, ghi hết vào sổ. Nhà thơ đọc thấy có gì sai
phạm thì mình bị kỷ luật. Đoàn nhà văn im lặng, nhìn nhà thơ Thái Giang đọc
chăm chú những trang nhật ký cuối sổ. Nhà thơ ngẩng lên nhìn tôi xúc động:
- Chà!... Cháu viết hay quá!... Thơ
hay, văn cũng hay!
Tôi giật mình!... Có phải mình nghe
nhầm không?... Đoàn nhà văn nhìn nhau… Anh em tổ điện báo nhìn nhau.
- Chú sẽ chép mấy bài thơ thiếu nhi,
đem về Hà Nội đưa cho anh Quản Tập, anh Phong Thu in báo Thiếu niên tiền phong.
Còn đoạn nhật ký cháu ghi chép về anh công nhân nối đường dây điện thoại trên
cầu Hàm Rồng, cháu có thể viết thành phóng sự, hay truyện ký được đấy!
- Phóng sự, truyện ký là thế nào hả
chú?
- À… là… cháu viết lại cho dài hơn,
hay hơn trong nhật ký khoảng ba trang giấy thếp. Cháu có hay đọc truyện không?
- Có ạ! Cháu thích đọc “Thép đã tôi
thế đấy”, “Những người khốn khổ”, “Sông Đông êm đềm” v.v… cháu thấy hay lắm.
Mọi người cười. Tôi ngơ ngác, hay mình
nói sai?...
Cười xong, nhà thơ Thái Giang nắm tay
tôi:
- Thơ thiếu nhi cháu hồn nhiên, trong trẻo.
Có ai bảo cháu viết không? Ai bảo mà cháu viết bài con lươn, con trạch?...
- Không ạ. Hồi ở quê, cháu đi đào cáy,
bắt cua, tát cá thường ngày. Cháu bắt con lươn, con trạch nó lẩn xuống bùn,
cháu thích viết nó giống bạn lười học, cuối năm bị đúp các bạn cười chế cứ lẩn
đi ạ.
Mọi người lại cười. Nhà thơ Thái Giang
nói:
- Tôi đọc hai bài thơ, mọi người cùng
nghe nhé!
CON TRẠCH
Hay đi chơi rông
Quá giờ trốn học
Về nói dối ông
Không có bài tập
Cuối năm bị đúp
Các bạn cười chê
Gặp ai Trạch lẩn
Để khỏi bị ê!...
CON LƯƠN
Quen sống lách luồn
Da nhớt nhờn nhờn
Nắm vào trơn tuột
Rúc ngay xuống bùn
Ngủ ngày ngủ đêm
Mắt dài ti hí
Chỉ quen nhìn gần
Cái gì cũng bé.
Ai cũng gật đầu. Nhà thơ Thái Giang
nói tiếp:
- Từ nay, cháu thấy thích viết gì cháu
cứ viết nhé! Thơ đấy, cháu có năng khiếu. Còn truyện ký, cháu viết ngắn hai ba
trang giấy thôi, phải viết sao cho người đọc thích, cảm phục người mình viết.
Cháu viết về anh công nhân nối đường dây trên cầu Hàm Rồng, cháu gửi báo Thanh
Hóa in đấy. Chú đem mấy bài thơ CON LƯƠN, CON TRẠCH, QUẢ DỪA… về Hà Nội in báo
Thiếu niên tiền phong. Cháu sẽ thành nhà thơ tương lai.
Tôi xấu hổ đỏ bừng hai má. Nhà thơ
Xuân Diệu nói:
- Ông khen thế nó phổng mũi, lại tịt
mất thơ đấy!
Cháu tin chú. Cháu cứ thích gì ghi
nhật ký như từ hồi tám mười tuổi thế này là thơ đấy. Cháu chăm đọc sách báo sẽ
viết hay hơn.
Đoàn nhà văn về Hà Nội, tôi hồi hộp
đợi chờ, đón đọc báo Thiếu niên tiền phong số tới như lời nhà thơ Thái Giang
nói giọng Xứ Nghệ dặn sẽ in thơ tôi trầm vang, ấm áp giống giọng Bác Hồ,
làm tôi nhớ mãi…
Chương 12
Ăn cơm tối xong, tỉnh Đội trưởng bảo
tôi:
- Đồng chí Tân thu xếp tư trang, ba lô
về ty Bưu điện gặp cán bộ tổ chức nhé. Mai ăn sáng ở đơn vị rồi đồng chí hãy
đi.
Nghe thủ trưởng nói, người tôi nóng
ran, linh cảm điều gì chẳng lành. Đêm không ngủ được, phần vì còi báo động máy
bay giặc, phần vì tôi nghĩ ngợi mông lung. Tôi hết ngồi nhìn qua ô cửa sổ ngắm
trăng sao, lại đi từ đầu giường đến cuối giường. Chắc tay Chàm Bí thư Đảng bộ
xã Nghĩa Hòa, anh họ Đinh Lan Đô gửi công văn vu khống mình đây. Nó bảo thời
chiến, không ai hơi đâu điều tra với xác minh sự thật, nó sẽ cho mình chết khốn
chết khổ… Được, để xem cuối đời, ai là kẻ chết khốn chết khổ. Ta đã đội bom
giặc Mỹ không chết, thì không kẻ nào ám hại được ta. Giờ ta sẽ làm cho rõ ngọn
ngành, vạch mặt kẻ cơ hội, lợi dụng đất nước chiến tranh, chui vào hàng ngũ
Đảng để hại người chính trực yêu nước. Hôm nay ngày rằm… Sao chị Hằng mắt đỏ
nhòe!... Những đám mây xám lởn vởn quanh Hằng Nga, thỉnh thoảng lại che mất
gương mặt tròn vành vạnh. Một ông sao sáng… Hai ông sáng sao… Ngôi sao nào là
cha, ngôi sao nào là mẹ?... Mẹ ơi!... Mẹ có biết con mồ côi cha mẹ khổ như thế
nào không?... Đói khát, bị lừa, bị bắt nạt, bị khinh rẻ… Biết bao khổ ải con đã
vượt qua, Giờ đây, con tưởng mình toại nguyện đánh giặc Mỹ cùng nhân dân cả
nước. Nào ngờ giông bão ập xuống đầu con…
Tiếng kẻng báo sáng. Tôi cố giữ vẻ
bình thản đi ăn sáng rồi khoác ba lô về ty Bưu điện.
Bác trưởng phòng tổ chức nói:
- Sức khỏe cháu yếu. Cháu bị sức ép
bom Mỹ, chấn thương sọ não. Ban lãnh đạo thấy cháu không thể đảm đương được
nhiệm vụ điện báo trực chiến, nên quyết định cho cháu nghỉ việc. Bên tỉnh đội
báo sang ty Bưu điện nói cháu hay bị đổ máu cam, choáng trong khi làm nhiệm vụ.
- Thưa bác, những khi cháu bị chảy máu
cam, cháu lấy bông nút vào hai lỗ mũi, cháu vẫn làm việc đều, không nghỉ việc.
Cháu bị bệnh máu cam từ bé, không ảnh hưởng đến việc cháu làm. Nếu bác cho việc
chảy máu cam của cháu ảnh hưởng đến trực chiến thì chuyển cho cháu về bộ phận
phát hành báo chí, hay ngồi ghi sê.
Trưởng phòng tổ chức lắc đầu:
- Không được. Bác đã nói cháu không đủ
sức khỏe làm việc trong cơ quan.
- Thưa bác cháu thấy khó hiểu. Một năm
cháu làm việc chăm chỉ cả ngày nghỉ chủ nhật. Cháu làm giúp các bác già yếu về
quê đám ma, đám giỗ. Cháu chưa nghỉ một ngày ốm. Mỗi mấy ngày cháu nằm bệnh
viện, vì bom Mỹ. Khi tỉnh dậy, cháu trốn về đơn vị làm việc. Do bị chấn thương
sọ não, bệnh chảy máu cam của cháu có nhiều hơn trước, nhưng cháu quen rồi, vẫn
làm việc bình thường như không có chuyện chảy máu cam.
Trưởng phòng tổ chức cười:
- Cháu lý sự hay đấy! Cháu bị bệnh
chảy máu cam từ bé, mà cháu coi như cháu không có bệnh.
- Vâng! Thưa bác đúng thế ạ. Cháu học
giỏi toán, cháu giảng phụ đạo toán lý cho lớp học ở trường trung cấp Bưu điện
đấy ạ.
Trưởng phòng tổ chức nghiêm nét mặt:
- Cắt đứt nói chuyện nhé. Thời buổi
chiến tranh bận. Giờ là đầu tháng mười. Cháu lĩnh lương tháng chín rồi phải
không? Cháu nghỉ việc thì không có lương là điều dễ hiểu.
Ra khỏi phòng tổ chức, tôi gặp anh
Tiến ho sù sụ. Tay anh bưng miệng bằng chiếc khăn mặt. Tôi đỡ cánh tay trái anh
đi về nhà.Vợ anh Tiến kêu lên:
- Chết chửa! Sao anh không bảo cô Tân
cẩn thận, kẻo lây bệnh ho lao của anh?...
Tôi cầm khăn mặt đầy máu đưa cho vợ
anh Tiến. Chị nhanh tay cuộn tròn khăn cầm ra ngoài. Trở vào nhà, vợ anh Tiến
bảo tôi:
- Anh bệnh lao nặng em ạ. Anh phải cố
gắng làm việc để nuôi các cháu ăn học. Các bác ở ty Bưu điện thương hoàn cảnh
anh chị, không nỡ bắt anh nghỉ. Anh uống thuốc mấy năm nay không khỏi, càng
ngày càng nặng em ạ. Bệnh lao lây, phải kiêng giữ cẩn thận cho người khác…
Anh chị Tiến hỏi, tôi kể chuyện vừa
gặp bác trưởng phòng tổ chức. Anh Trần Văn Tiến bảo tôi:
- Theo anh, việc em nghỉ việc phải có điều
gì hệ trọng, tổ chức giữ kín không cho em biết đó thôi.
Tôi liền kể chuyện Đinh Lan Đô hại tôi
ở trường Bưu điện. Hắn đe tiếp tục bảo tay Chàm Bí thư Đảng bộ xã gửi công văn
vào tỉnh đội Thanh Hóa vu khống tôi là con phản động…
- Em viết ngay đơn kể sự việc gửi Viện
kiểm sát Thanh Hóa. Chế độ ta tươi đẹp, không để con sâu chui vào hàng ngũ Đảng
hãm hại người yêu nước. Trong thời gian chờ đợi các cơ quan pháp luật giải
quyết, em cứ ăn nghỉ nhà anh. Thêm người, thêm đũa thêm bát, em đừng ngại.
Nghe anh Tiến nói, lòng tôi rưng rưng.
Anh ốm nặng, ba cháu nhỏ đang học cấp một. Chị chạy chợ rau. Cảnh nhà nghèo
khó, anh dang rộng vòng tay nâng đỡ tôi khi ngã.
Ngay sáng sớm hôm sau tôi đến Viện
kiểm sát Thanh Hóa gặp ông Viện trưởng Lê Hồng Quế. Ông người tầm thước, khuôn
mặt chữ điền. Đôi mắt sáng quắc. Đôi lông máy rậm đen như hai vệt mực tầu tô đậm. Giọng ông ấm áp hỏi
tôi:
- Cháu có việc gì cần gặp bác, mà đến
trước giờ làm việc?
- Dạ thưa bác! – Tôi đưa đơn – Bác đọc
đơn của cháu ạ.
Tôi ngồi yên theo dõi gương mặt ông Lê
Hồng Quế đọc đơn của tôi. Khi mắt ông trợn tròn, khi nhăn mặt lắc đầu. Khi ông
nhíu lông mày. Tôi hồi hộp chờ đợi. Hôm qua viết xong đơn, tôi được anh Tiến
góp ý, sửa đi sửa lại cho ngắn gọn, rõ ràng.
Gương mặt ông Viện trưởng Viện kiểm
sát đỏ bừng nhìn tôi:
-
Bác chưa gặp người nào ác độc như Đinh Lan Đô. Cái giống con cháu địa chủ tàn
ác, liếm gót giày Tây giết hại dân làng, kẻ thù của cách mạng. Cháu chép đơn
này làm ba bản nữa. Cháu gửi đi các nơi:
- Một, Liên hiệp Công đoàn Việt Nam.
- Hai, Tổng cục Bưu điện Việt Nam.
- Ba, ty Bưu điện Thanh Hóa.
- Một bản Viện kiểm sát Thanh Hóa là
bốn nhé!
Tôi hỏi:
- Bác ơi, có gửi đơn cho Bác Hồ không
ạ?
Ông Viện trưởng cười hiền:
- Không nên cháu ạ. Chiến tranh. Bác
Hồ bận trăm công ngàn việc. Chỉ cần đơn cháu gửi mấy địa chỉ bác hướng dẫn là
cháu được giải quyết thấu đáo.
Về tới nhà, vợ chồng anh Tiến mừng cho
tôi gặp được ông Lê Hồng Quế Viện trưởng Viện kiểm sát Thanh Hóa có tâm. Tôi
phấn khởi, tin tưởng vào tấm lòng của những người lãnh đạo cấp cao ở Hà Nội sẽ
giải oan cho tôi, cùng với cán bộ tốt như ông Lê Hồng Quế ở Thanh Hóa. Trong
khi chờ đợi cấp trên trả lời, tôi giúp một tay vào gánh rau đi chợ của chị
Tiến, lo nấu hai bữa cơm. Tôi đong gạo đỡ anh chị. Tôi tính bình quân mức
lương, tôi “giàu” hơn anh chị nhiều. Anh chị đành chịu “thua” để tôi đong gạo.
* *
*
Tôi đang nhặt rau, bó xếp vào gánh cho
chị Tiến, có người lạ đến hỏi:
- Xin hỏi bác, có cô Trần Thị Nhật Tân
ở đây không ạ?
- Có, mời anh vào nhà…
Người lạ nói:
- Xin tự giới thiệu, tôi là Ngô Quốc
Tĩnh, cán bộ sở Văn hóa – Thông tin. Cuốn sách này… in những bài ký về tinh
thần chiến đấu của quân dân Thanh Hóa trong hai ngày mồng ba, mồng bốn tháng tư
năm 1965. Tôi lấy bài ký của Trần Thị Nhật Tân in trên báo Thanh Hóa đưa vào
sách.
Vợ chồng anh Tiến phấn khởi nhìn tôi:
- Em Tân có tài viết văn cơ à?...
Tôi lắc đầu:
- Không. Em có biết viết văn đâu. Hồi
học phổ thông em dốt văn, giỏi toán.
Anh Tĩnh hỏi tôi:
- Sao em viết về anh bưu điện nối dây
trên cầu Hàm Rồng, trong hai ngày chiến đấu ác liệt mồng ba, mồng bốn hay thế?
- Em cảm động trước lòng dũng cảm của
anh ấy, không sợ mưa bom đạn giặc trút xuống cầu, em viết nhật ký.
Mọi người cười vui. Tôi kể chuyện đoàn
nhà văn do nhà văn Nguyễn Đình Thi trưởng đoàn đến thăm tổ điện báo trực chiến
Hàm Rồng chúng tôi. Tôi đã đến phòng phát hành báo chí xem trộm tờ báo Thiếu
niên Tiền phong, in hai bài thơ của tôi và giấu mọi người như thế nào.
Anh Tĩnh kêu lên:
- Ơ, em không nhận được báo biếu à?...
Báo Thanh Hóa cũng không biếu em à?... Hôm nay em mới biết à?... Em có ghi địa
chỉ vào bài không?... Không à?...
Trong lúc tôi đang lo buồn, anh Tĩnh
đem tặng sách có in bài ký của tôi là nguồn động viên quý giá. Chị Tiến bảo: “Ở
hiền gặp lành”. Còn anh Tiến khẳng định: “Nhất định cấp trên điều tra, xác minh
sự thật, phục hồi công tác cho em”.
Ngoài việc giúp chị Tiến sửa soạn gánh
rau đi chợ, thỉnh thoảng tôi còn ra Hàm Rồng đào hầm hào, che lá xanh ngụy
trang cho pháo phòng không. Sự chờ đợi của tôi không phải lâu như tôi và anh
chị Tiến dự đoán. Chưa đầy một tháng, tôi nhận cùng một lúc hai công văn. Tôi
hồi hộp mở công văn của Liên hiệp Công đoàn Việt Nam. Anh chị Tiến cũng hồi hộp
lắng nghe tôi đọc nội dung công văn nói: Công đoàn Việt Nam đã cử cán bộ xác
minh sự thật. Ông cha tôi đi đánh Pháp hy sinh. Công văn của Đảng bộ xã Nghĩa
Hòa do Bí thư Chàm ký là vu khống. Đảng sẽ có hình thức kỷ luật Bí thư Đảng bộ
Chàm. Tôi được trở lại công tác bình thường… Tôi xúc động trào nước mắt. Vợ chồng
anh Tiến cũng xúc động không kém gì tôi. Đọc đến công văn của Tổng cục Bưu điện
thì vợ chồng anh Tiến cười rơi nước mắt:
- Ôi! Em được điều động về Tổng cục
Bưu điện Hà Nội 18 Nguyễn Du công tác, sướng quá! Đúng là trời có mắt!...
- Em thích ở tổ điện báo trực chiến
Hàm Rồng của Tỉnh đội cơ. Ở Hà Nội, giặc Mỹ không đánh phá ác liệt như đánh cầu
Hàm Rồng.
Anh Tiến kéo dài giọng:
- Em ơi, rồi giặc Mỹ sẽ điên cuồng
đánh phá Hà Nội cho mà xem. Em tha hồ đánh trả máy bay giặc Mỹ, trở thành dũng
sĩ diệt Mỹ cũng nên.
Tôi đến gặp trưởng phòng tổ chức ty
Bưu điện Thanh Hóa, ông tươi cười nói:
- Cháu Tân tí tuổi đầu đã gặp bao
nhiêu gian nan khổ cực nhỉ. Cháu mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không ai dạy bảo mà cháu
có chí thế. Bác có lỗi với cháu. Đáng lẽ, cháu không phải gửi đơn lên Công đoàn
Việt Nam, lên Tổng cục Bưu điện. Chính bác phải trực tiếp điều tra, xác minh
những điều Bí thư Chàm nói trong công văn. Đó mới đúng trách nhiệm cán bộ tổ
chức cháu ạ. Bác chưa điều tra, xác minh ai đúng, ai sai, đã tin lời trong công
văn của Chàm rằng cha cháu là “phản động bị ta bắn chết. Cháu khai tăng tuổi
chui vào bộ đội, chỉ điểm cho máy bay giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng”… Đọc công
văn của Bí thư Đảng bộ quê cháu viết như thế, ai mà không hoảng lên, tức thì
đuổi việc cháu.
Tôi giàn giụa nước mắt nói:
- Cha mẹ cháu mất sớm, nhưng sách dạy
cháu lớn khôn bác ạ. Ông ngoại cháu nhiều sách. Cháu ham đọc sách. Trong sách
dạy bao nhiêu điều tốt cháu học, những điều ác cháu tránh. Khi khó khăn, hoạn
nạn phải bình tĩnh nghĩ cách vượt qua, nghĩ nhiều cách thể nào cũng vượt khó.
Sách bổ ích, là người bạn tốt nhất của cháu. Trong ba lô cháu có cuốn “Thép đã
tôi thế đấy”. Cháu muốn học theo Pa Ven, sống sao cho không hổ thẹn với chính
mình ạ.
- Trời! Cháu chưa phải là Đoàn viên
thanh niên, mà trình độ chính trị cháu vững vàng quá!... Nếu đúng tuổi thì cháu
mười sáu nhỉ, tuổi mụ mười bảy. Cháu khôn trước tuổi.
- Vì cháu chưa phải là Đoàn viên nên
đến đâu cũng bị nghi ngờ. Cháu chỉ là cảm tình mãi ba năm nay chưa được kết nạp
Đoàn ạ.
- Lần này cháu đã qua thử lửa chiến
đấu với máy bay giặc Mỹ ác liệt, về công tác ở Tổng cục Bưu điện, chắc cháu sẽ
được đứng trong hàng ngũ Đoàn thanh niên…
Nói chuyện vui vẻ với trưởng phòng tổ
chức xong, tôi phấn chấn đi ra. Đường phố Thanh Hóa vắng bóng người. Bầu trời
đầu đông xanh trong không một gợn mây. Chân tôi bước đi tự nhiên đến cổng tỉnh
Đội khi nào chẳng hay. Đang ngẩn ngơ lưu luyến nhìn vào tỉnh Đội, thấy bạn
Hương đi qua, tôi gọi:
- Bạn Hương ơi!... Đúng Hương
không?...
Hương dừng chân đến trước mặt tôi lúng
túng:
- Ơ Nhật Tân sao đứng đây?...
- Tớ làm điện báo ở Hàm Rồng.
Hai chúng tôi vắn tắt kể cho nhau nghe
chuyện vào Thanh Hóa công tác. Hương ở xã Nghĩa Phú, quê chồng chị Trâm tôi.
Chúng tôi quen nhau trong đội văn nghệ, biểu diễn tiễn chân bộ đội lên đường hè
năm 1962. Hương học trung cấp xây dựng. Từ năm 1962 đến nay chúng tôi không gặp
nhau nên cả hai ngỡ ngàng. Tôi cứ trêu Hương con trai đặt tên con gái. Hương
không được vào bộ đội vì cha hy sinh ở Điện Biên Phủ. Hương công tác ở ty xây
dựng Thanh Hóa, đi xây ụ pháo, xây bệ phóng tên lửa, coi như được đánh giặc Mỹ.
Tôi nói với Hương:
- Bạn cho tớ mượn xe đạp được không?
Tớ đến Sầm Sơn thăm chị kết nghĩa. Mai tớ về trả xe bạn. Vào công tác Thanh Hóa
hơn một năm nay, hai chị em chưa gặp nhau.
Hương sốt sắng trao xe đạp cho tôi.
Lòng phơi phới, tôi hăm hở đạp xe về
khu nghỉ mát Sầm Sơn. Hàng dừa xanh trĩu quả, vươn tầu lá dài nghiêng che trên
đầu tôi. Cánh đồng lúa vàng tỏa hương thơm ngọt. Các bác nông dân đầu trần,
hoặc trùm khăn đen đang mải miết gặt lúa, bó lúa gánh về. Đàn cò trắng chao
liệng trên cánh đồng bắt con tép bên bờ mương. Ôi!... Cánh đồng lúa chín như
biển vàng mênh mông, thanh bình quá!...
Tiếng còi báo động rúc lên. Tiếng kêu
la gọi nhau xuống hầm. Các chị quăng liềm, chạy đến ụ súng chiến đấu. Tôi dựa
xe đạp vào gốc dừa, xuống hầm trú ẩn cá nhân tròn rải rác hai bên đường. Máy
bay Mỹ bay theo hình mũi tên, giống như một đàn quạ đen sì. Tiếng rú rít của
những “thần sấm”, “con ma” váng óc. Chúng bay cao, chưa nghiêng cánh bổ nhào,
chắc chúng đi ném bom ở mục tiêu nào, chứ không phải cầu Hàm Rồng. Bọn quạ sắt
giặc Mỹ này ma quái, nhiều khi chúng giả vờ lao xuống cắt bom cầu Hàm Rồng,
nhưng lại vụt đi, bổ nhào xuống bến phà Ghép, cầu Đò Lèn. Giặc Mỹ quỷ quyệt đến
đâu, cũng không đánh lừa được tinh thần bắn máy bay Mỹ của quân dân ta. Các cỡ
súng đã lên đạn, sẵn sàng đánh trả những “con ma”, “thần sấm” gieo thương vong.
Còi báo yên, các chị dân quân buông súng tay liềm tay hái thoăn thoắt. Mọi sinh
hoạt trở lại bình thường.
Tôi bước vào phòng Bưu điện Sầm Sơn.
Chị
Nhũ tròn xoe đôi mắt:
- Ô em Tân! Em tôi xinh gái quá!...
Mắt lóng lánh như sao Mai.
Chị nói nhỏ vào tai anh nhân viên, dắt
xe đạp đưa tôi về phòng ở.
- Em mượn xe đạp Thống Nhất nam của ai
mà đến chị giỏi thế? Sao em không gọi điện cho chị báo trước?
Chị Nhũ hái dừa trong vườn phòng Bưu
điện cho tôi uống mát ngọt. Còn chị dùng thìa nạo cùi dừa ăn ngon lành.
- Nào, em kể chuyện cho chị nghe. Chắc
em ở tổ điện báo trực chiến bận hơn chị rồi, không có thì giờ gọi điện cho chị.
Còn chị, đảng viên, lãnh đạo phải gương mẫu. Chị không dám gọi điện cho em, sợ
nhân viên xì xèo mình lợi dụng máy công nói chuyện riêng. Nhiều đêm trực, chị
mong đỏ mắt tiếng em gọi chị mà chẳng thấy. Nhớ em quá!...
Chị ngắm nghía, sờ nắn tay chân tôi,
khen tôi rắn chắc lên nhiều, gương mặt có nét cương nghị, không còn vẻ ngây ngô
như hồi học ở trường Bưu điện. Chị cười cười nói:
- Hai trái đào tiên em tôi mẩy chắc
thế này mà họ bảo em tôi “vu khống” có tức không cơ chứ!... Đây, chị mua sẵn
cho em mấy cái quang treo hai trái đào xinh. Em ra nhà tắm mặc thử xem có vừa
không.
- Úi, em không mặc đâu, vướng víu khó
chịu.
- Ơ con bé này, em không mặc, người ta
cười cho đấy, xấu lắm. Năm nay em mười bảy tuổi mụ nhỉ. Gái mười bảy bẻ gãy sừng
trâu đấy nhé!...
- Chị ơi, ra bãi biển ngắm đi. Mấy năm
em xa biển quê Nghĩa Hưng, em nhớ biển lắm. Rừng phi lao xanh tốt che mắt máy
bay giặc Mỹ. Chị em mình không sợ.
- Ừ, chị cũng thích ngắm biển. Người
ta, chết có số em ạ, sợ gì máy bay giặc Mỹ.
Ngoài khơi, lác đác thuyền đánh cá,
nhấp nhô cánh buồm nâu trên sóng mênh mông. Chị em tôi nắm tay nhau đi dưới
rừng phi lao vi vu hát. Tôi kể hết mọi chuyện cho chị Nhũ nghe. Nước mắt chị
chảy ướt má. Nghe xong chuyện, chị cười xòa:
- Em tôi trưởng thành rồi. Bom đạn
giặc Mỹ càng tôi thêm chất thép cứng cỏi trong đầu em. Tự em giải quyết mọi
việc, không phải hỏi chị, tìm đến chị giúp. Giỏi! Cây ngay không sợ chết đứng.
- Bà Bưu điện ơi!... Lại đây!...
Hai chị em chạy đến mấy con thuyền
đánh cá vừa neo bờ. Tôi ngạc nhiên, toàn các cụ già. Trên vai cụ nào cũng đeo
khẩu súng trường. Chị Nhũ thì thầm vào tai tôi: “Các ngư phủ là dân quân bắn
máy bay Mỹ”. Tôi vỗ tay:
- Hoan hô các cụ bô lão Diên Hồng vươn
khơi bắt cá, bắn máy bay giặc Mỹ…
Các cụ cười khà:
- Các lão tặng phòng Bưu điện ít cá
tươi ăn cho khỏe, mà giữ vững đường dây liên lạc thông suốt!
Chị Nhũ bẻ mấy cành phi lao đến đựng
cá ngư dân cho.
Tôi xúc động nhìn biển rộng xa hút tầm
nhìn, lòng nao nao nhớ về con đê lộng gió, lấn biển ở nông trường Rạng Đông,
Nghĩa Hưng, Nam Định quê hương. Những cánh buồm nâu chấp chới như đang bay lên
bầu trời xanh thẳm, nâng tâm hồn tôi bay theo…
Chương 13
Bác thường trực Tổng cục Bưu điện hỏi
tôi:
- Cháu gặp ai? Có việc gì?...
Tôi đặt ba lô xuống đất lấy tờ quyết
định điều động công tác. Đọc xong tờ quyết định, bác bảo vệ bỏ kính nhìn tôi:
- Chiến sĩ điện báo ở cầu Hàm Rồng?...
Xem nào… Mảnh khảnh gió thổi bay. Được nước da hồng tươi nụ cười… Đôi mắt long
lanh sức sống như hai ngôi sao… Còn mái tóc… mái tóc như… như dòng suối từ vai
đến gót chân. Người bé, tinh thần đánh Mỹ to… Bác dẫn cháu đến tổ chức.
Vào đến phòng tổ chức, tôi luôn bị bất
ngờ. Sau khi bác bảo vệ giới thiệu tôi, các bác, các chú ùa đến quanh tôi bắt
tay. Thuở bé đến giờ, chưa bao giờ tôi biết bắt tay ai. Nay được lãnh đạo Tổng
cục Bưu điện bắt tay, tôi xúc động lúng túng đưa cả hai tay nắm tay các bác,
các chú. Mọi người ân cần hỏi han sức khỏe tôi, mời tôi uống nước. Một lúc sau,
bác trưởng phòng tổ chức bảo:
- Bác gọi điện cho bệnh xá của Tổng
cục rồi, cháu gầy yếu lắm, phải kiểm tra sức khỏe đã, rồi bác sắp xếp công tác
cho phù hợp.
Anh y sĩ trạm xá Tổng cục Bưu điện đo
huyết áp, nghe tim mạch tôi xong, vẻ mặt lo lắng bảo:
- Anh giới thiệu em đến bệnh viện Bạch
Mai khám sức khỏe toàn diện. Bác trưởng phòng tổ chức nói em bị sức ép bom ở
Hàm Rồng, chấn thương sọ não.
- Em bị nhẹ thôi, chỉ mấy ngày nằm
viện, tỉnh dậy em về đơn vị chiến đấu ngay ạ. Em thấy em vẫn khỏe, không sao
đâu.
- Không được. Em không phải bác sĩ, em
không biết bệnh tật. Em phải đến Bạch Mai chụp sọ não, có gì chữa ngay, để lâu
khó chữa.
Dù tôi không muốn khám ở bệnh viện
Bạch Mai, nhưng phải chấp hành tổ chức. Tôi lấy thẻ khám bệnh đặc biệt của khoa
thần kinh cấp cho tôi năm 1962, kẹp vào sổ khám bệnh của trạm xá Tổng cục, anh
y sĩ vừa đưa cho. Đọc lại tấm thẻ khám bệnh đặc biệt, tôi mỉm cười. Trong thẻ
ghi rõ: “Ba tháng đến chụp phim sọ một lần”. Vậy mà từ tháng 6-1962 đến nay,
tôi không đến chụp sọ não, có làm sao đâu?...
Ông bác sĩ trưởng khoa thần kinh nhận
ra tôi ngay. Ông reo lên:
- Ồ!... Bé Tân!... Xinh gái quá!...
Tóc dài thướt tha!... Mảnh mai…
Bác sĩ Phạm Đình Thiện và tôi trò
chuyện một thôi mới vào việc khám bệnh. Tôi được biết anh Doãn, chị Vân, chị My
đang học trường đại học y. Bác sĩ trưởng khoa trực tiếp khám bệnh cho tôi rất
cẩn thận. Bác Thiện bảo tôi:
- Cháu phải nằm điều trị ít nhất một
tháng.
Tôi giãy nảy:
- Bác ơi, cháu không nằm đâu. Bác cho
cháu về công tác. Cháu vừa ở Hàm Rồng về, lại nằm bệnh viện lâu, cháu xấu hổ
lắm.
Bác Thiện trầm giọng, nhìn vào mắt
tôi:
- Muốn hay không, cháu vẫn phải điều
trị sọ não. Cháu vốn đã bị bệnh não, giờ cháu bị bom Mỹ làm chấn thương, càng
nặng hơn. Với lại, áp huyết cháu thấp lắm. Cháu có thấy hoa mắt chóng mặt
không? Có ngã không?
- Có ạ!... Nhiều lần, cháu đang đi, tự
nhiên thấy bầu trời ở dưới chân, cháu bị ngã ập xuống đất. Những lúc như thế
cháu rất tức. Rõ ràng cháu tỉnh táo mà bị ngã bất ngờ, không chống được.
Bác Thiện cười bảo tôi:
- Thế là chính xác, cháu phải nằm viện
để bác xem kết quả bốn cái phim sọ não. Trước mắt, trị cái bệnh áp huyết thấp
đã…
Một hôm tôi đang ngồi đọc báo dưới gốc
cây ngoài vườn hoa bệnh viện, nghe tiếng hỏi:
- Ơ, em Tân điều trị ở đây à?
Tôi ngẩng lên, nhận ra y sĩ Lê Văn
Sắc, bệnh viện Thanh Hóa, chữa chấn thương sọ não ngày 4-4-1965 cho tôi. Tôi
nói:
- Sức khỏe em yếu, được về Hà Nội chữa
trị.
- Dạo ấy, anh nghi em bị giãn xương
sọ, vì em kêu đau đầu, ngủ nói mê hét toáng phòng bệnh. Em không chịu nằm điều
trị, em trốn về đơn vị.
- Anh cũng điều trị ở Bạch Mai à?
- Anh học lên đại học, mỗi năm tập
trung ba tháng. Anh đi thực tập ở bệnh viện Bạch Mai. Một tuần nữa anh trở về
Thanh Hóa.
Vào phòng bệnh, xem bệnh án của tôi
rất kỹ anh Sắc nói:
- Cái đầu của em gay đấy, xương sọ
giãn, di dít chấm đen. Bác sĩ trưởng khoa có nói gì với em không?
- Bác bảo em phải nằm bệnh viện lâu
dài chữa bệnh. Em xin về công tác bác không cho. Mới nằm một tuần em chán lắm.
Em định trốn về cơ quan làm việc. Em khỏe mạnh, có sao đâu mà bác sĩ bắt em
phải nằm điều trị.
Anh Sắc cười đôn hậu:
- Em không phải thầy thuốc, không biết
xem bốn cái phim sọ não của em. Cả bốn phim: ngửa mặt, nằm úp, nghiêng phải,
nghiêng trái, đều có những đường nứt xương sọ và những chấm đen… đáng lo ngại…
- Em chẳng thấy người làm sao. Em mượn
báo bác trưởng khoa đọc rất hay. Ngồi chơi ngoài vườn hoa, nghe chim ríu rít
gọi nhau, hót vui, em làm mấy bài thơ thiếu nhi đây. Anh xem.
Đọc mấy bài thơ tôi mới sáng tác, anh
Sắc khen:
- Thơ em hồn nhiên như nhi đồng ấy
nhỉ. Ai bảo em làm?...
Tôi kể chuyện đoàn nhà văn Việt Nam,
do nhà văn Nguyễn Đình Thi làm trưởng đoàn, vào Hàm Rồng viết về cuộc chiến đấu
của quân dân Thanh Hóa với máy bay giặc Mỹ trong hai ngày 3, 4-4-1965 cho anh
Sắc nghe…
- Lạ nhỉ!... Sọ não em… em vẫn tỉnh
táo, thông minh…
Sáng thứ hai tôi đi xe điện từ cổng
bệnh viện Bạch Mai đến cổng Công viên Thống Nhất xuống. Đi bộ mười lăm phút tôi
đến tòa soạn báo Thiếu niên Tiền phong 15 Hồ Xuân Hương. Bước vào phòng “Ban
biên tập”, tôi run run giọng:
- Cháu… cháu chào các chú! Cháu là…
- Ồ!... Cô bé xinh tươi Trần Thị Nhật
Tân! Anh là Quản Tập. Đây anh Phong Thu. Kia, anh Ngô Viết Dinh. Em xưng hô anh
em cho thân mật. Các anh hơn em hơn chục tuổi thôi.
Sự đón tiếp niềm nở, thân tình của các
anh trong Ban biên tập giúp tôi bình tĩnh, đỡ hồi hộp, nói chuyện tự nhiên và
đưa các anh mấy bài thơ mới sáng tác.
Anh Ngô Viết Dinh đến bên tôi bảo:
- Em ký vào sổ lĩnh nhuận bút, từ
tháng năm nhà thơ Thái Giang đem thơ của em cho báo in. Em không ghi địa chỉ
nên tòa soạn không gửi nhuận bút, báo biếu cho em được…
Về đến bệnh viện Bạch Mai, tôi nài nỉ
bác sĩ trưởng khoa Phạm Đình Thiện cho ra viện bằng được.
* *
*
Xuống ô tô, tôi nôn thốc nôn tháo, hoa
mắt chóng mặt, lăn kềnh dưới đất. Mấy hành khách xúm lại đỡ tôi dậy. Người tôi
lảo đảo như lên đồng. Cây cối trước mặt tôi quay như chong chóng. Nhớ đến củ
gừng trong túi áo, tôi cho vào mồm nhai ngấu nghiến nuốt. Tôi tựa vào ba lô đeo
sau lưng, cố gắng chống chọi với chóng mặt. Mọi người hỏi tôi về đâu? Tôi nói
về xã Lập Xuân. Ai cũng lắc đầu: “Không cùng đường. Tiếc không giúp được cô bé
xinh đẹp”. Trên chuyến ô tô Hà Nội – Vĩnh Phúc tôi đi, chỉ có vài ba chị, còn
toàn nam. Họ tản đi hết, còn một mình tôi. Thấy đỡ chóng mặt, tôi quyết đứng
dậy hỏi đường về xã Lập Xuân, huyện Lập Thạch. Vừa xốc ba lô đứng lên, một chị
gánh lủng củng mấy cái bị cói đến hỏi tôi:
- Em gái về xã Lập Xuân, huyện Lập
Thạch à?... Chị cũng về đấy. Em về thăm ai, hay em về cơ quan nào sơ tán?
- Em về công ty Thiết kế của Tổng cục
Bưu điện công tác ạ.
Chị phụ nữ reo lên:
- Em gặp may rồi. Chị công tác ở công
ty Thiết kế đây. Em đưa ba lô chị gánh cho… Chị dồn mấy cái bị một bên… Ối!...
Ba lô em nặng thế?... Sách à? Thảo nào nặng… Chị gánh được. Em yếu mệt, đường
xa, đi bộ người không cũng mệt đấy.
- Chị ơi, giặc Mỹ có ném bom Hà Nội
đâu, mà các cơ quan đã đi sơ tán hết lên rừng núi?... Đường phố Hà Nội vắng
teo, buồn quá.
Chị cười:
- Em ngây thơ quá! Nhà nước mình phải
lo xa chứ, nước đến chân mới nhảy thì chết. Em không biết giặc Mỹ ném bom khốc
liệt cầu Hàm Rồng thế nào à? Mấy khẩu pháo quân ta trên núi Ngọc, núi Rồng bị
trúng bom Mỹ lăn xuống. Bộ đội hải quân ta hy sinh nhiều lắm!...
Tôi
buột miệng:
- Hôm ấy em làm điện báo phục vụ đơn
vị chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Em bị - Tôi định nói bị sức ép bom, nhưng kìm
lại được. Mình phải giấu chuyện bị thương, kẻo mọi người không cho mình làm
việc nặng nhọc.
Chị dừng chân, nhìn tôi vẻ thán phục:
- Thật à?... Em bé nhỏ mà giỏi nhỉ!...
Hai chị em vừa đi vừa nói chuyện, tôi
quên việc chóng mặt say ô tô lúc nào chẳng hay. Đến quán nước bên đường, chị
bảo vào nghỉ uống nước, ăn trưa. Chị mở gói cơm nắm. Tôi lấy bánh mì, bi đông
nước trong ba lô ra cùng ăn. Chị giới thiệu tên Sanh. Lúc này ngồi ăn cơm, tôi
mới để ý chị Sanh có đôi mắt đen buồn thăm thẳm. Chị kể nhà có hai chị em gái.
Cha mẹ chị mất sớm. Chị gái mười một tuổi bán lạc rang rong đường phố, nuôi em
bảy tuổi. Chị học đến lớp bốn phải nghỉ học đi bán lạc rang kiếm sống cho hai
chị em, vì chị gái bị bệnh lao. Không có tiền vào bệnh viện chữa lao, nên chị
gái chị ngày càng bị nặng. Hơn chục năm nay, chị gái chị Sanh gầy đét, yếu ớt.
Một mình chị tự lo sinh hoạt hàng ngày. Lương chị Sanh chia đều ba phần cho chị
gái và hai mẹ con.
Tôi hỏi chị:
- Chồng chị đâu?... Sao…
Chi Sanh quay đi nghẹn lời. Giọt nước
mắt lăn nhanh xuống má. Tôi ân hận vô ý hỏi vào nỗi đau của chị, cúi mặt nhai
bánh mì. Chị bảo tôi:
- Em ăn cơm nắm với chị, ăn bánh mì
nóng ruột. Em không sợ lây vi trùng lao đâu. Chị ở với chị gái chị lao, mà chị
có lây đâu. Quan trọng sống cách ly một phòng. Mọi đồ dùng riêng hết. Bát đũa
ăn xong rửa sạch, tráng nước sôi cẩn thận.
Chị Sanh mua bát nước chè xanh uống,
không uống nước đun sôi trong bi đông của tôi. Chị bảo uống nước chè xanh rất
tốt.
Chiều muộn chúng tôi mới về đến cơ
quan. Chị Sanh dẫn tôi đến gặp Chủ nhiệm công ty Thiết kế:
- Bác Hân ơi, cháu dẫn nhân viên mới
đến nhận công tác.
- Thế à?... A! Cháu Trần Thị Nhật Tân
phải không?...
Ơ, sao bác Chủ nhiệm công ty đã biết
tên mình nhỉ. Chị Sanh cũng ngạc nhiên:
- Sao bác bảo đây là cô Trần Thị Nhật
Tân? Không phải thì sao?
- Chính xác cô Tân. Vì tổ chức Tổng
cục đã gọi điện cho tôi mà. Cô Sanh dẫn cô Tân về ở nhà bà Hậu với cô The nhé!
Cháu Tân rửa mặt mũi chân tay rồi đến bếp tập thể ăn cơm. Bác báo suất cơm cho
cháu rồi. Sáng mai cháu mua phiếu ăn.
Vừa đi tôi vừa nghĩ mình gặp may, được
làm việc với một người lãnh đạo có tấm lòng thương yêu nhân viên. Bác Hân ân
tình như người thân từ lâu, quan tâm chu đáo quá. Sự cởi mở, thân thiện của bác
Chủ nhiệm công ty, làm tôi phấn khởi, vui tươi khỏe khoắn lên.
Sáng hôm sau tôi theo chị Sanh đến
phòng làm việc trong đình làng. Ngôi đình ba gian lợp ngói ta. Bốn chiếc bàn
vuông được kê gọn ở gian đầu phía tây. Đã có hai chị đến làm việc. Chị Sanh
giới thiệu tôi với chị Dung, chị Dắt. Vừa lúc ấy Bình bước vào. Chị Sanh thì
thầm vào tai tôi: “Cháu ông to trên Tổng cục, kiêu lắm. Làm việc yếu kém”. Bình
chau mày, làm hai đầu lông mày dính liền, trông như hai con sâu róm chụm đầu
vào nhau ở đỉnh sống mũi. Đuôi sâu róm vòng xuống cuối đôi mắt hấp háy, làm tôn
thêm sự phô trương của hàm răng vẩu khấp khểnh. Tôi tảng lờ cái nhìn coi thường
của Bình, nói với chị Sanh:
- Chị hướng dẫn em cách căn ke các bản
thiết kế đi.
Chị Sanh cười:
- Dễ ấy mà. Văn hóa lớp bốn các chị
còn làm được nữa là em, đã tốt nghiệp trung cấp điện báo.
- Mỗi việc một khác chị ơi. Trăm hay
không bằng tay quen. Chị cứ hướng dẫn em, bắt tay vào làm, em tránh sai sót.
Hỏng tờ giấy lãng phí. Đất nước đang chiến tranh phải cần kiệm.
- Cô nhân viên mới có ý thức nhỉ - Chị
Dung nói. Chị Dắt gật đầu với ánh mắt thiện cảm. Bình nguýt tôi, làm ba chị
bưng miệng cười.
Căn ke xong bản thiết kế, tôi đưa chị
Sanh kiểm tra, chị khen:
- Dung, Dắt xem này, cô Tân tiếp thu
nhanh nhạy chưa? Nét kẻ của cô ấy đậm đều tăm tắp, sắc nét một lần, không tô đi
dặm lại – Chị Sanh liếc sang Bình. Cô ta xỉ mũi.
Giờ
ăn trưa, tôi bước vào nhà ăn tập thể. Mọi người nhìn tôi với mọi ánh mắt: thân
thiện, dò xét… Mấy anh nam trêu đùa nhau gán ghép với tôi vui cười. Nhận suất
cơm tôi đến đầu bàn ở góc nhà lặng lẽ ăn. Bình cùng mấy bạn ngồi phía đối diện
tôi, nói cười hô hố… Một ông cụ cao gầy, râu tóc bạc bước vào. Ai cũng chào
“Bố!”. Tôi đứng lên “Chào bố”. Ông cụ đôi mắt sáng, nhìn tôi cười. Ăn xong, tôi
xếp bát đũa gọn, đem ra chậu rửa ngoài giếng nước. Ông cụ đem bát đũa ra sau
tôi, gặp nhau ngược chiều. Ông cụ bảo tôi:
- Con mới về công tác à? Đợi bố để bát
đũa rồi đi theo bố.
Tôi ngoan ngoãn vâng lời. Cụ nói giọng
Nam bộ, ấm áp, nhẹ nhàng. Xa vợ con, xa quê hương, cụ tập kết ra Bắc chắc nhớ
quê lắm. Hay mình giống con gái cụ ở quê miền Nam xa xôi, nên cụ cảm tình?...
Về đến nơi cụ làm việc là căn phòng
làm bằng vách nứa đan. Mái nhà cũng lợp bằng những tấm nứa đan. Phòng chừng hơn
chục mét. Trên chiếc bàn tre chất đầy những đống báo, công văn, giấy tờ v.v…
Chõng tre cụ nằm có chăn bông to đùng. Đã cuối năm 1965, trời rét đậm chắc cụ
không chịu được cái rét thấu xương miền Bắc…
Cụ pha trà vào cái ấm sành bé, bốn
chén sành cũng bé, rót nước mời tôi uống. Tôi xin lỗi cụ không biết uống trà.
Cụ nhâm nhi hết chén trà mới nhẩn nha thả từng tiếng trìu mến:
- Con có biết tại sao lần đầu gặp con,
bố lại xưng bố, gọi con không?
- Dạ, thưa bố không ạ.
- Thế tại sao con lại đứng lên, khoanh
tay: “Con chào bố?”
- Thưa bố, thấy mọi người chào bố, con
cũng chào theo ạ. Trong bụng con nghĩ: chắc bố là người đức độ lắm, nên ai cũng
kính nể ạ.
Cụ cười nheo đuôi mắt hiền từ:
- Chưa hẳn thế đâu. Bố rất khó tính.
Hàng mấy trăm nhân viên ở cơ quan, bố chỉ xưng bố với hai đứa. Đó là con Uyển,
con Điệp ở cục Bưu chính. Nay con là đứa con gái thứ ba bố kêu con xưng bố, từ
khi tập kết ra Bắc.
Nhấp liền mấy chén nước, ông cụ nói
tiếp:
- Bố tên Trần Trân, quê Rạch Giá. Bố
có thằng con trai theo tập kết, đang học bên nước bạn Hung – Ga – Ri. Về đài
điện tử, các nước xã hội chủ nghĩa, chỉ Hung – Ga – Ri nhất, nước tư bản thì
Nhật giỏi. Tại sao bố quý con ngay lần đầu? Bố quan sát thấy con ăn từ tốn.
Xương cá con để gọn cạnh bát canh. Ăn xong, con gạt mọi thức ăn thừa vào bát,
để ghế vào gầm bàn. Con có ý thức quan tâm đến chị em cấp dưỡng. Còn số đông,
họ ăn vung vãi cơm ra bàn, xuống đất. Xương cá họ vứt lung tung, bát đũa để
lỏng chỏng ở bàn, đi ra. Giờ ngồi nói chuyện, con nói năng lễ độ, phải nhẽ, bố
càng mến con. Chắc cha mẹ con là nhà giáo dạy dỗ cẩn thận lắm.
- Thưa bố, cha mẹ con mất sớm khi con
mười tuổi ạ. Con tự mò ốc, bắt cua bán lấy tiền ăn học ạ.
- Trời!... Tội nghiệp!... Thế con có
được ai dạy cách nói năng thưa gửi và cách sống thế nào không?
- Thưa bố, con học trong sách ạ. Cha
con có tủ sách cao hơn con, xếp chật sách. Nhiều nhất là sách chủ nghĩa Mác –
Lê – Nin, sách thuốc. Nhưng con thích nhất truyện Hai Bà Trưng đánh giặc Tô
Định. Quyển thứ hai là “Những tâm hồn cao thượng” ạ. Truyện nào cũng có người
tốt giúp người gặp khó gặp nạn ạ.
- Con thích đọc báo không?
- Có ạ.
- Bố rất nhiều loại báo của cơ quan.
Vậy hàng ngày, giờ nghỉ trưa con về phòng bố mà đọc báo. Sách báo là trí tuệ
của nhân loại. Ai chăm đọc sách báo, người ấy sống có văn hóa, giầu tình người.
Sách dạy ta những điều hay lẽ phải, chê trách điều xấu ta tránh…
Một hôm chị Dung hỏi tôi:
- Em Tân có thích vào đoàn không?
- Sao chị hỏi em thế? Là thanh niên,
ai chẳng có ước mơ được đứng trong đội ngũ đoàn thanh niên, cánh tay phải của
Đảng.
- Vậy sao em cảm tình mấy năm, chưa
được kết nạp vào đoàn?
- Em không biết. Chị tự hỏi trong Ban
chấp hành của công ty.
Bẵng đi mấy tháng, đầu năm 1966, chị
Dung vui vẻ nói với tôi:
- Em Tân này, chị báo tin vui với em,
vừa qua chi Đoàn công ty họp, bỏ phiếu kết nạp em vào đoàn. Em biết chị đi
ngược dòng thời gian, về trường trung cấp Bưu điện xác minh về em không? Tuổi
thơ em khổ quá. Em là đứa trẻ có nghị lực. Em bị cái “lý lịch vu khống” nó đeo
bám hại em. Em khai tăng tuổi để đi học điện báo, vào bộ đội đánh Mỹ. Kẻ xấu
nói em khai man tuổi. Thiếu niên cả nước khai tăng tuổi đi đánh Mỹ như em, thì
Mỹ chạy về nước rồi. Chi đoàn bỏ phiếu gần một trăm phần trăm. Mỗi cô Bình
không đồng ý kết nạp em vào Đoàn thôi. Lẽ thường em ạ. Cụ Nguyễn Du nói: “Trời
xanh quen thói má hồng đánh ghen”. Cô ta vừa xấu người vừa xấu nết. Bố Trân
ghét cô Bình nhất…
Được vào Đoàn, tôi hãnh diện đeo huy
hiệu Đoàn bên ngực trái tim mình. Lòng phấn khởi, tôi đến gặp bác Hân chủ nhiệm
Công ty:
- Bác ơi, dạo này bản thiết kế ít, mấy
chị em cháu làm việc buổi sáng xong, chiều ngồi chơi, lãng phí thời gian quá.
Bác cho cháu sang tổ đường dây đào lỗ chôn cột, kéo dây bác ạ.
Bác Hân lắc đầu xua tay:
- Không được, không được. Cháu bị chấn
thương sọ não. Sức khỏe cháu yếu, không làm được việc nặng.
- Thưa bác, dạo này cháu béo khỏe hơn
ngày mới về. Cháu là thanh niên, phải xung phong làm việc khó chứ ạ. Trong khi
cháu ngồi chơi, anh chị ở tổ đường dây làm việc quần quật, thiếu người. Cháu đi
làm vất vả là hợp lý ạ…
Tôi nì nèo mãi, bác Hân cười xòa:
- Con bé này nói khéo, bác đành chịu.
Thôi được, bác viết giấy cho cháu đi làm hỗ trợ tổ đường dây nhé. Nhưng khi nào
tổ căn ke cần người, gọi thì cháu phải về ngay đấy nhé!...
* *
*
Chương 14
Mặt trời đỏ ối đậu trên ngọn đồi phía
tây. Tổ đường dây chúng tôi vai vác cuốc xẻng, đeo vòng dây điện uể oải bước
đi. Thỉnh thoảng tiếng chim chích chòe gọi nhau ríu rít trên cây ven đường, làm
gương mặt chúng tôi nở ra, vơi bớt nỗi mệt nhọc. Trời nhá nhem tối, chúng tôi
về đến cơ quan.
Chúng tôi đang ăn cơm, bác Hân chủ
nhiệm bước vào:
- Chào anh em tổ đường dây, hoàn thành
tốt nhiệm vụ trước thời hạn một tuần!... Tôi sẽ đề nghị Tổng cục khen thưởng.
Cháu Tân, sáng mai đến gặp bác nhận chuyện vui nhé!...
Các anh chị trêu tôi:
- Bác Hân định gả em Tân cho anh nào ở
Công ty ta đấy?...
- Bác Hân ơi, con gái mà gả chồng gần,
có bát canh cần nó cũng đem cho. Ngay tổ đường dây ta, có anh Hải lái xe người
Thủ đô đẹp trai, hiền như cục đất, đẹp đôi bác ạ.
- Hải nó sắp đi bộ đội. Tớ có cậu em
trai làm ở bưu điện Sơn La. Nhà tớ đã có ba chiến sĩ đi giải phóng miền Nam
rồi. Cậu nó út ít, không phải vào chiến trường ác liệt – Chị Hòa nói.
Hôm sau ăn sáng xong, tôi đến gặp bác
Chủ nhiệm công ty. Bác Hân đưa cho tôi quyết định điều động công tác:
- Tổng cục Bưu điện điều cháu về Cục
Bưu chính, vừa đúng ngành cháu học, vừa lúc bên đó cần người. Cháu thấy thế
nào? Nếu cháu thích ở lại công ty ta, bác sẽ đề nghị với tổ chức.
Tôi
nói ngay:
- Thưa bác, cháu nghĩ nên chấp hành sự
điều động của cấp trên ạ. Cháu về công ty ta chưa đầy một năm, nhưng cháu rất
thích không khí đoàn kết, thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Cháu tiếc phải
xa bố Trân. Bố làm văn thư, có nhiều loại báo. Trưa nào cháu cũng đến phòng bố
Trân đọc báo. Hai bố con cùng bàn luận những chuyện trong nước và quốc tế. Bố
dạy con nhiều điều hay, lẽ phải ạ.
- Ông già Trân ai cũng quý nể. Cụ ấy
hoạt động cách mạng sớm lắm, lúc tuổi thiếu niên. Cháu đi, bác cũng nhớ cháu
ngoan, chịu thương chịu khó, được người được nết. Cục Bưu chính đóng ở xã bên,
cách nhau chưa đến chục cây số. Chủ nhật cháu về chơi với bố Trân. Mà bên ấy,
có chị Uyển, chị Điệp, họa sĩ vẽ tem, bố Trân cũng quý, gọi con. Thỉnh thoảng,
hai chị vẫn về thăm bố Trân…
Tôi
được hai tổ kết hợp, liên hoan tiễn chân. Buổi tối, chỉ có nước lá với mấy đĩa
kẹo vừng. Chẳng biết lá gì, dân địa phương vẫn nấu uống, hơi đăng đắng nhưng
ngon thơm, đọng ở cổ. Mới đầu uống chưa quen, chưa thích. Sau uống quen loại
nước lá đăng đắng này, ai cũng thích. Những ngày trời nắng nóng, uống một bát
nước lá tỉnh người.
Trên đường tôi đi đến cục Bưu chính,
nghe tiếng kẻng báo động của hợp tác xã mấy lần. Từng tốp phản lực “Thần sấm”
ầm ầm vút trên đầu. Hôm qua, giặc Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, Hà Nội. Ai
cũng lo lắng, nghĩ về Thủ Đô có Bác Hồ đang ở. Tôi băn khoăn, không biết bộ đội
có đào hầm tránh bom an toàn cho Bác Hồ, cho Tổng tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên
Giáp và các tướng lĩnh chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ không?... Bom rơi đạn
lạc biết thế nào. Tôi ngơ ngác nhìn quanh tìm người để hỏi thăm, một chị phụ nữ
xách làn cói đi đến.
- Chị ơi, về làng Nếnh đi lối nào?...
Nơi có cơ quan sơ tán…
- Em về cục Bưu chính à? Đi với chị…
Hai chị em nói chuyện tíu tít. Hóa ra
tôi gặp đúng chị Uyển họa sĩ vẽ tem. Chị bảo tôi về nhà chị ăn cơm trưa, chiều
hãy đến gặp bác Khánh cục trưởng. Con trai chị mới hơn một năm. Cụ chủ nhà đặt
cháu nằm võng ngủ ngon lành. Chị lôi trong làn cói ra nải chuối xanh, mấy quả
dứa xanh. Chị bảo miền trung du hiếm tôm cá. Tem phiếu thực phẩm tiêu chuẩn cán
bộ nhân viên chỉ ăn được vài ngày. Chị kho chuối xanh ăn. Thi thoảng đi chợ gặp
mớ cá vụn mới được bữa canh cá nấu chuối xanh. Chị bảo nuôi con thơ trong khi
đất nước chiến tranh đói ăn, nhưng thằng cu tí nhà chị bụ sữa, nặng như cối đá.
Ai cũng thích thơm vào đôi má trắng hồng của cháu. Cõ lẽ chuối xanh bổ, nhiều
hôm hết gạo, ngô, chị luộc chuối xanh ăn trừ bữa, sữa vẫn căng bầu.
Bác Nguyễn Văn Khánh ở trong ngôi nhà
rộng bốn gian. Chủ nhà là bà góa, có con trai duy nhất tình nguyện vào bộ đội.
Một mình bà ở trong buồng, ba gian ngoài cho cơ quan làm việc.
Bác Khánh bảo tôi:
- Cô thanh niên ba sẵn sàng, đảm nhiệm
điều tra viên. Cục ta có ba cán bộ điều tra các vụ “moi gan”, “móc ruột” không
xuể. Ba cán bộ đều ngoài năm mươi, giao liên thời chống Pháp, ốm đau tuổi già.
Hàng tháng, ba ông đi nằm chữa bệnh ở bệnh xá Tổng cục là chính.
Bác Khánh mở cánh tủ gỗ cao to, lấy ra
một tập hồ sơ:
- Cô nghiên cứu đống hồ sơ này, chọn
ra việc nào làm trước, việc nào làm sau. Cô nên đi cơ sở ngay ngày mai. Chiều
nay cô đến kho xe đạp công, chọn cái xe nào đỡ băng bó lốp mà đi.
Gần hết giờ chiều, tôi báo cáo với bác
Khánh:
- Thưa bác, cháu chọn hai hồ sơ: Hà
Nam, Thái Bình ạ. Vụ ở bưu cục Hà Nam, người gửi cân đường. Người nhận mở ra gói
cát ạ. Vụ bưu cục Tiền Hải, người nhận một tập báo cũ nhàu nát, thay cho năm
thếp giấy của bố gửi cho con từ giao dịch Bờ Hồ, Hà Nội ạ. Mai cháu đạp xe về
Hà Nội điều tra, đi tiếp xuống Hà Nam, rồi Thái Bình ạ.
Bác Khánh nhắm mắt nói chậm rãi:
- Cô trẻ người mà tính toán tiết kiệm
thời gian gớm nhỉ!... Tôi mừng có được nhân viên như cô.
Cuộc hành trình mở màn điều tra những
vụ “moi gan”, “móc ruột” gói bưu phẩm, gửi bằng đường bưu điện của tôi kéo dài
hai tuần mới xong. Gọi là xong, thực chất chỉ điều tra được một vụ moi cân
đường, nhét cát vào gói bưu phẩm ở Hà Nam. Tôi phải cất công đạp xe đi huyện
Duy Tiên, về tận nhà nhân viên dò hỏi hàng xóm và chính bà cụ mẹ đẻ nhân viên
giao dịch nói ra: “Trong lúc ốm tưởng chết, con gái đem về cho mẹ cân đường nấu
cháo ăn…” Tôi kể cho bác Khánh nghe, bác lim dim mắt, hỏi:
- Theo cô, xử lý tội nhân viên này thế
nào?
- Thưa bác, ăn cắp là tội xấu, vi phạm
lương tâm nghề nghiệp. Ai ngồi giao dịch nhận, phát cũng lấy cắp của người gửi
thì mất hết lòng tin của dân đối với Bưu điện ạ.
- Đanh thép nhỉ!... Sao nữa?... Cô nói
tiếp.
- Thưa bác, cháu đề nghị cảnh cáo, ghi
lý lịch, chuyển công việc khác ạ. Trong lúc khó khăn thiếu thốn, mẹ ốm nặng,
nhân viên làm liều ạ. Sự việc nhỏ, không phải tội to ạ.
- Cô xử nhân đạo quá!... Tôi nhất trí
ý kiến cô. Tôi đọc cô ghi công văn, đem đến văn thư đánh máy. Cô cầm văn bản về
tôi ký cho văn thư gửi đi cơ sở.
Bác Khánh đứng lên rót nước uống, hỏi
tôi:
- Vụ năm thếp giấy, hai bưu cục cù
nhầy, anh nào cũng chối không móc ruột à?...
-
Thưa bác, cháu xem xét kỹ gói bọc, dấu xi nguyên vẹn, khó phát hiện ở khâu nào
ạ. Có khi, cháu điều tra vụ khác, thăm dò dần dần, sẽ hé lộ vụ trước.
- Rồi!... Cô mưu trí…
* *
*
Ba chị em lặng lẽ đi. Mỗi người suy
ngẫm theo cách riêng. Thỉnh thoảng chị Uyển lại cất lên điệp khúc: “Chị tiếc
cho em Tân. Em làm điều tra viên đang có uy tín, dư luận các tỉnh đang nể trọng
em. Em được cảm tình Đảng”… Lòng tôi rối bời. Bác Khánh cục trưởng cũng tha
thiết muốn tôi ở lại cục Bưu chính. Nếu tôi đồng ý ở lại, Tổng cục trưởng sẽ
điều bạn Vân, bạn Dung thay tôi. Nhưng
tôi chấp hành sự điều động của cấp trên. Có lẽ tổ chức nghĩ tôi đã từng chiến
đấu với giặc Mỹ ở cầu Hàm Rồng, việc điều động tôi sang quân y viện 108 phù
hợp. Phần tôi, cũng muốn trở lại quân đội. Việc cảm tình Đảng là phấn đấu liên
tục. Chị Uyển phân tích quân y viện 108 họ phải theo dõi từ đầu sự phấn đấu của
tôi. Chị Điệp tính vô tư, nói: “Đến cơ quan nào em cũng làm việc tận tâm, ai
cũng quý. Chi bộ nào cũng muốn em vào Đảng để cống hiến tài năng”. Chị Điệp địu
cu tí con chị Uyển ở sau lưng. Hai cô cháu líu lô những câu chuyện chẳng đầu
không cuối.
Chúng tôi đến bố Trân đúng mười hai
giờ trưa. Chị Uyển lôi trong làn cói ra nải chuối tiêu trứng quốc thơm lừng
biếu bố. Cặp lồng Liên Xô hai ngăn đựng cơm nếp đỗ xanh. Ngăn bé, chị Uyển đơm
cơm ra đĩa để tối bố Trân ăn. Cơm ngăn to ba chị em ăn bữa trưa. Nghe chị Uyển
nói tôi được điều động sang quân y viện 108, bố Trân buồn thỉu. Bố gầy nhom,
không chịu nổi cái rét buốt miền Bắc. Nghe chuyện tôi đi, bố Trân buồn, da mặt
càng nhăn nheo xám xịt. Ai cũng nói mùa đông năm 1967 này rét đậm. Chị Uyển,
chị Điệp thu thập những áo quần cũ, khéo chắp vá, nhồi cho bố Trân cái đệm bông
gạo, cũng ấm áp được phần nào. Gói kẹo nhỏ, anh con trai bố Trân gửi bạn từ
nước ngoài về, bố để dành chờ hôm nay đem cho các con cháu ăn. Chị Điệp vơ mấy
áo quần bố Trân thay ra hôm qua đem đi giặt. Bố trầm ngâm uống nước. Tôi tranh
thủ đọc mấy tờ báo. Khi chúng tôi ra về, bố Trân mới bảo tôi:
- Con Tân nhớ luôn viết thư về cho bố
nhé! Nhìn nét chữ con đều đặn, rõ ràng, là bố mừng như gặp con.
Ba chị em tôi vừa đi vừa ngoái lại
nhìn bố Trân đứng ngoài sân vẫy theo, mắt rưng rưng…
Hôm sau, chị Uyển, chị Điệp lưu luyến
tiễn chân tôi gần đến bến xe Lập Thạch mới về.
Tôi gặp bác Bình Tổng cục trưởng ở
ngoài cổng, bác vừa nhảy lên xe đạp, thấy tôi bác xuống xe hỏi:
- Cháu Tân ở Vĩnh Phúc về đấy à? May
quá!... Tổ chức lo cháu không muốn đi. Cháu sang quân y viện 108 là phải. Cháu
giỏi nghề, dày dạn trong chiến đấu rồi. Tuổi hai mươi như cháu, khó tìm ra ở
Tổng cục ta. Cháu vào gặp tổ chức nhé, bác đi họp.
Nhìn thấy tôi, bác Trần Lâm reo lên:
- A cháu Tân! Quân y viện 108 vừa gọi
điện cho bác, hỏi sao chưa thấy cô điện báo viên giỏi đâu. Cháu sang ngay đi.
Quyết định điều động công tác đây. Cháu đi đường Hàm Long cho gần…
Đến cổng quân y viện 108, tôi thấy một
chiến sĩ cầm máy ảnh, đang bấm tách tách chụp cho một số anh em. Tôi trình giấy
bảo vệ. Đồng chí ấy tươi cười bảo tôi:
- Chiến sĩ thông tin xinh đẹp, chờ tôi
gọi thủ trưởng ra đón.
Nhìn các anh chụp ảnh, tôi thích quá,
rất muốn chụp một pô, kỷ niệm ngày về quân y viện 108 làm nhiệm vụ. Tôi mạnh
dạn hỏi anh cầm máy ảnh:
- Anh ơi, anh là phóng viên báo quân
đội à?
- Đúng! Em cần gì?
- Em muốn anh chụp cho em một ảnh. Hôm
nay em về làm điện báo ở quân y viện 108… Em từ Tổng cục Bưu điện sang…
- Anh sẵn sàng! Em đặt ba lô xuống.
Tôi để ba lô trong phòng bảo vệ, nhìn
sang bên kia đường có bà bán khoai lang luộc mặc áo cánh nâu sẫm màu. Tôi chạy
ào sang nói:
- Bà cho cháu mượn áo cánh nâu, cháu
chụp kiểu ảnh vấn tóc trần. Anh phóng viên báo quân đội chụp chắc đẹp.
Tôi vội cởi áo vét trao cho bà, nhận
áo cánh nâu vừa đi vừa mặc. Tôi nói với anh phóng viên:
- Anh chờ em một tí, em gỡ tóc đuôi
sam, quấn lên ba vòng tóc trần, chụp kiểu phụ nữ nông thôn duyên dáng.
Tôi dặn anh phóng viên gửi ảnh đồng
chí bảo vệ. Hàng ngày đi làm tôi dễ gặp để nhận ảnh. Anh phóng viên vừa đạp xe
đi thì thủ trưởng Nguyễn Văn Hùng ra đón tôi.
- Đâu?... Chiến sĩ điện báo đơn vị Hàm
Rồng đâu?... Đây à?... Đồng chí không có xe đạp à?... Gay đấy!... Em chờ, anh
vào xin cấp trên mượn xe đạp công cho em hoàn thành nhiệm vụ.
Trong lúc chờ thủ trưởng mượn xe đạp,
tôi băn khoăn suy nghĩ. Mình ngồi tổng đài, cần gì đến xe đạp?...
Thủ trưởng Hùng hai tay dắt hai xe đạp
Thống Nhất nam đi ra.
- Xe công em mượn đây, biển đỏ. Xe của
anh biển trắng. Ta lên xe. Vừa đi, anh vừa trao đổi nhiệm vụ.
Tôi ngơ ngác hỏi thủ trưởng Hùng:
- Anh em mình không làm việc ở đây à
anh?
- Mình làm việc ở phân hiệu hai Cầu
Giấy. Thương binh từ chiến trường B, C, K về nhiều lắm. Bước đầu cứu chữa ở
đấy, sau chuyển ra ngoài này. Nhiệm vụ em khá nặng nề. Em vừa trực tổng đài,
vừa ra ngoài này nhận công văn, thư từ vào sáng sớm, trước giờ làm việc. Em phải
cùng anh in tài liệu. Phòng hành chính có anh phụ trách, anh Khế, nay thêm em
là ba. Chưa có em, hai anh làm việc ngày mười mấy tiếng. Mỗi người làm việc
bằng ba.
Tôi thắc mắc:
- Sao không để thương binh ở hẳn Cầu
Giấy hả anh? Ngoại thành đỡ nguy hiểm. Nhỡ giặc Mỹ ném bom quân y viện 108 thì
sao?
- Quân y viện 108 ở ngoài này an toàn
hơn, có hầm hào tránh bom đạn. Với lại máy móc khám chữa bệnh tối tân khó di
chuyển. Phân hiệu hai mới thành lập để sơ cứu, chưa thể xây dựng hiện đại ngay
được…
Vừa đi vừa trao đổi công việc, tôi và
thủ trưởng Hùng nhanh chóng về tới phân hiệu hai Cầu Giấy. Những chiếc xe tải
chở thương binh đỏ bụi đường đang tiến vào sân cỏ. Các nữ thanh niên xung phong
đón thương binh vào cáng, hối hả khiêng vào tầng một, tầng hai mấy dãy nhà.
Thủ trưởng Hùng dẫn tôi vào phòng hành
chính trên tầng hai.
- Giới thiệu với đồng chí Khế, đồng
chí Trần Thị Nhật Tân, chiến sĩ mới ở phòng ta.
Anh Khế mừng vui đứng lên:
- Mời cô vào ghế trực tổng đài thay
tôi. Tôi in tài liệu.
Anh Khế ngồi bàn in thấp, sau lưng
tôi. Nửa tiếng sau thưa việc, tôi quay lại sắp tài liệu với anh Khế. Thủ trưởng
Hùng ra khỏi phòng từ khi nào. Nghe tiếng kẻng ăn cơm trưa, anh Khế bảo tôi:
- Cô Tân đi ăn cơm trước, tôi trực
tổng đài cho.
- Anh ăn trước. Em ăn sau.
Hai anh em đùn đẩy nhau đi ăn cơm.
Chẳng ai chịu đi, đã qua giờ ăn khi nào không biết. Thủ trưởng Hùng bước vào,
hai tay bưng cơm canh.
- Hai anh em mải làm quên ăn. Anh nuôi
bảo còn hai suất cơm của phòng hành chính, nhờ tôi đem về hộ…
Hai anh em ngồi ăn cơm. Thủ trưởng
Hùng kể:
- Từ sáng đến giờ, tôi làm chân y tá,
liên tục kim tiêm. Thương binh nặng nhiều lắm. Từ chiến trường miền Nam ra Bắc,
xe thương binh ta bị máy bay giặc Mỹ săn lùng ném bom, bắn phá. Có thương binh
nhẹ, bị nặng thêm. Nhiều anh em hy sinh. Thủ trưởng Hùng nghẹn lời. Tôi và anh
Khế không nuốt được lưng bát cơm ăn dở. Hạt bo bo khô khốc, nhai mỏi hàm. Có lẽ
vì đông người quá, anh nuôi không kịp ngâm bo bo từ tối hôm trước.
* *
*
Ngày đầu tháng 2-1968, lúc mười sáu
giờ chiều, anh Hùng hớt hải về gọi tôi:
- Nhật Tân xuống đây mau! Mọi việc,
Khế đảm đương nhé!
Thủ trưởng Hùng chạy, tôi chạy theo
sau.
Vào phòng cấp cứu, tôi thấy mấy nữ
thanh niên xung phong mắt đỏ hoe, đưa ống tay áo chấm nước mắt. Bác sĩ Nguyễn
Hữu Tuyển nói:
- Các cô nhìn lại này! Hai nhanh. Một
chậm. Nhớ chưa? Hai nhanh một chậm. Đầu óc các cô tập trung nhẩm có mấy từ
thôi, mà không nhớ. Cắm mũi tiêm nhanh. Bơm thuốc chậm. Rút kim nhanh. Đơn giản
thế, mà các cô day mãi da thịt thương binh đau thêm, họ la hét, chửi bới…
Bác sĩ Tuyển quay lại, nhận ra tôi và
thủ trưởng Hùng. Tôi gật đầu, tỏ ý đã hiểu, theo luôn bác sĩ và các nữ thanh
niên xung phong vào phòng bệnh. Anh Tuyển, anh Hùng, tay thoăn thoắt lấy thuốc
vào bơm tiêm, đưa cho các cô thanh niên xung phong. Cuối cùng, còn ba bơm tiêm,
anh Tuyển bảo tôi:
- Em Tân nhớ khi tiêm thực hiện hai
nhanh một chậm rồi. Em nắm chắc lấy bắp tay bệnh nhân nữa.
Đến giường bệnh, tôi hồi hộp nắm cánh
tay thương binh đầu băng kín mít. Hai thủ trưởng theo dõi từng động tác của
tôi. Trong bụng tôi nghĩ mình phải cắm thật nhanh vào bắp, rồi bơm thật chậm.
Hết thuốc, rút kim thật nhanh. Hai nhanh, một chậm.
Đợi tôi đặt ống tiêm vào khay, anh
Tuyển nở mặt nở mày:
- Em khéo tay lắm!... Tính cẩn thận,
sạch sẽ, thông minh như em, nên làm thầy thuốc…
Việc tôi học làm y tá nhanh chóng, đáp
ứng chuyên môn, lan khắp phân hiệu hai quân y viện 108. Mấy cô thanh niên xung
phong, giờ ăn trưa xúm bên tôi hỏi chuyện:
- Nhật Tân học hết lớp mấy rồi đi bộ
đội?
- Hết lớp bảy, vào trung cấp điện báo,
học một phần cấp ba và đại học nữa.
- Úi!... Chúng tao dân tộc miền núi,
chỉ học biết đọc biết viết thôi. Chúng tao bỏ học đi nương trồng ngô khoai sắn
ăn.
- Các bạn đi thanh niên xung phong là
quý lắm!... Yêu nước lắm!...
- Người Việt Nam, ai chẳng yêu nước.
Chúng tao thích làm đường, nơi có bom Mỹ nổ ùng oàng cơ. Bắt chúng tao tiêm cho
thương binh khó quá, không thích làm đâu…
Mấy anh thương binh mảnh đạn còn găm
trong đầu, thần kinh không bình thường, khi tiêm cứ đòi: “Cô em có bím tóc dài
đâu?”, “Cô em có bím tóc dài tiêm tôi mới chịu” v.v… Tôi làm việc không còn giờ
giấc nào cả. Đúng năm giờ sáng tôi đạp xe ra quân y viện 108 nhận công văn, thư
từ, về ăn sáng. Thủ trưởng Hùng thương tôi, có cân đường tiêu chuẩn mỗi tháng,
để dành pha cốc nước đường cho tôi uống dần. Có anh thương binh người Cần Thơ,
cứ bắt tôi hát ru anh ngủ lúc mười giờ đêm đến sáng. Giấc ngủ anh chập chờn,
khi ngủ khi tỉnh. Thức dậy mà không thấy tôi ngồi ghé cạnh giường là anh la
hét. Làm việc căng thẳng, chỉ vài ba ngày, bệnh máu cam của tôi lại ồng ộc tuôn
ra hai lỗ mũi. Tôi lấy bông nút chặt, giấu kín. May là máu cam hay chảy về đêm.
Nhưng rồi tôi không giấu được bệnh chảy máu cam mãi. Một đêm, bác sĩ Nguyễn Hữu
Tuyển vào thăm phòng bệnh, thấy cằm tôi gác lên vai ghế tựa, hai mũi nút bông
đỏ máu, đang xỉu… Bác sĩ vội xem mạch, bế tôi về phòng cấp cứu…
Sáng dậy, bác sĩ Tuyển hỏi tôi:
- Em bị bệnh chảy máu cam từ bao giờ?
- Giờ em mới bị ạ.
- Không phải. Em nói dối. Em bị bệnh
chảy máu cam mãn tính rồi. Tiêm thuốc gì cho em cũng không cầm được máu. Em nói
thật đi, em bệnh lâu chưa?
Tôi nghĩ nếu nói thật bệnh chảy máu
cam từ bé sáu bảy tuổi đào cáy, vó tép vó tôm thì sẽ bị chuyển ngành mất. Mình
nói bệnh chảy máu cam từ ngày 4 – 4 - 1965, bị sức ép bom Mỹ ở Hàm Rồng thì anh
Tuyển không nghi ngờ. Tôi ngập ngừng trả lời anh Tuyển:
- Hồi em làm điện báo ở đơn vị Hàm
Rồng, em bị sức ép bom. Máu chảy ra mũi, ra tai… Em được cứu chữa mấy ngày, trở
về đơn vị tiếp tục công tác bình thường ạ.
- Có thế chứ!... Em đánh lừa khoa học
làm sao được.
- Nhưng anh ơi, anh đừng nói với thủ
trưởng Hùng em nhé! Thủ trưởng lại lo lắng cho em. Làm việc vất vả quá, mỗi
ngày em thấy tóc thủ trưởng Hùng thêm bạc, gần trắng như bông.
- Em, anh đều vất vả như anh Hùng.
Thương binh nhiều, nhân viên y tế ít. Ngành y đâu có đào tạo chớp nhoáng được.
Đơn giản y tá tiêm cũng khó. Chục cô thanh niên xung phong học tiêm, chỉ đứng
được bốn cô, em là năm. Vậy mà nhiều lúc y, bác sĩ các anh làm thay cả việc y
tá. Mỗi chiến sĩ ở quân y viện ta, làm việc mỗi người bằng ba bằng bốn chứ
không phải bằng hai như các cơ quan dân chính.
* *
*
Chương 15
Chiều nay đợt không khí lạnh mới tràn
về. Ngồi trong phòng bệnh đóng kín các cửa, tôi vẫn nghe gió rít trên mái ngói.
Chân tay tôi tím ngắt, tê buốt. Tiếng thương binh mê sảng, rên đau như khứa vào
gan ruột tôi.
- Em Tân ơi, em ngâm thơ đi. Trời ơi,
rét quá à. – Anh thương binh tâm thần réo gọi.
Tôi đắp lại chăn, vén màn cho anh.
- Anh đừng la to, để cho đồng đội ngủ.
Em ngâm thơ lần này, anh nhắm mắt ngủ ngay nhé! Gần hai giờ sáng rồi.
- Ờ ờ... Em cứ hát bài thơ chúc Tết
năm 1968 của Bác Hồ là anh ngủ liền à.
Tôi cất giọng ngâm khe khẽ bên giường
anh:
Xuân
ngày hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng
trận tin vui khắp nước nhà
Nam
Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến
lên toàn thắng ắt về ta!...
Tôi ngâm đi ngâm lại mãi bài thơ chúc
Tết của Bác cho đến ba giờ mười bảy phút, anh thương binh tâm thần mới đi vào
giấc ngủ. Ở cuối phòng bệnh, thương binh Nông Văn Nghĩa cựa mình, ú ớ. Tôi mừng
chạy đến. Vừa lúc bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển đi vào.
- Em Tân, sao em không gọi anh lúc hai
giờ? Anh mệt quá ngủ quên.
- Mãi gần mười hai giờ anh mới ngủ. Anh
làm việc cả ngày, ngủ được vài tiếng. Em muốn để anh ngủ, có sức cứu chữa
thương binh. Còn em...
- Không nói, em vào phòng trực ngủ một
tí đi, sáng đến nơi rồi.
Anh Tuyển cúi xuống xem mạch thương
binh Nông Văn Nghĩa.
- Mừng quá!... Sống rồi!... Ơ em Tân,
còn ở đây à?...
- Em chờ xem bệnh tình bác Nghĩa thế
nào?
- Sống rồi em ạ. Bác Nghĩa đã có tuổi.
Bác là chiến sĩ Điện Biên, đã về phục viên sau năm 1954. Nhưng Tổ quốc gọi, bác
Nghĩa xin tái ngũ đi đánh Mỹ. Bác Nghĩa quê Cao Bằng em ạ.
Tiếng động cơ xe tải, tiếng bước chân
thình thịch hối hả trong sân bệnh viện. Hai anh em nhìn nhau. Chẳng ai bảo ai,
cùng chạy ra ngoài. Gió quất mưa bụi vào mặt tôi ràn rạt. Đội nữ thanh niên
xung phong đang khiêng cáng thương binh. Anh em tôi lao đến chiếc xe tải, đỡ
thương binh đưa vào phòng bệnh. Những chiếc xe tải bụi đất đỏ quạch bám vào,
gặp nước mưa rơi ra từng mảng như vữa nhà lâu đời mục nát. Một mảnh bụi đất rơi
xuống vai, làm tôi giật mình. Gần sáng, chúng tôi mới chuyển hết thương binh từ
tiền phương về. Một số thương binh không đợi được khám bệnh, đã ngừng thở từ
lâu. Các bạn thanh niên xung phong thương bộ đội hy sinh, khóc thút thít. Tôi
nén tiếng khóc để khỏi bật thành tiếng, nước mắt giàn giụa hòa cùng nước mưa
ướt đẫm từ đầu xuống chân. Bác sĩ Tuyển cũng như tôi, không kịp mặc áo mưa, anh
ướt sũng. Anh nuôi khiêng thùng nước uống vào. Ai cũng làm một hơi hết ca nước.
Đầu tôi ong ong, tai ù ù, mắt nảy đom đóm, nhìn mọi người rung rinh như cành
cây gặp gió.
- Em Tân uống nước cho đỡ mệt. Cả đêm
em chưa chợp mắt, làm việc quần quật – Anh Tuyển đưa cho tôi ca nước.
Tay run đỡ ca nước, tôi uống ừng ực.
Uống xong mới thấy nước có mùi B1, ngọt trong họng. Tôi nghĩ chắc anh Tuyển pha
đường và B1 cho tôi uống đỡ mệt chăng? Đang nghĩ ngợi, thủ trưởng Hùng vào bảo
tôi:
- Em Tân sáng nay nghỉ, để anh ra Viện
108 lấy công văn về cho.
- Đúng đấy – Anh Tuyển nói – Tôi đang
định gặp anh đề nghị thì...
- Thì tôi đã nói trúng cái bụng anh.
Đêm qua tôi với Khế in tài liệu, không thấy Tân về ngủ. Lúc xe thương binh về,
tôi và Khế ra cáng, đã thấy anh với Tân khiêng cáng đi như chạy. Mỗi hai anh em
mặc blu trắng, mũ trắng, tôi nhận ra ngay. Còn chúng tôi, ai cũng khoác áo mưa
nên đỡ ướt.
Cốc nước đường có mùi B1 đã giúp tôi
tỉnh táo, mắt đỡ hoa, tai đỡ ù. Tôi nghĩ, nên đi ra ngoài hít thở không khí
trong lành buổi sáng. Không giám chạy nhảy tập thể dục như mọi sáng, tôi lững
thững đi lại ngoài cổng bệnh viện. Chiếc loa công cộng treo trên cột điện đang
nổi còi thôi thúc tập thể dục buổi sáng. Trời đã tạnh mưa, gió nhẹ không rú rít
như lúc nửa đêm qua. Một thanh niên mặc áo quần đông xuân màu xanh, dáng cao
cao đang chạy ngược về phía tôi. Anh dừng sững trước mặt tôi, tròn mắt hỏi:
- Đúng em Tân không? Em chị Tâm học
Liễu Đề?...
Tôi ngạc nhiên, nhìn kỹ anh và lục
trong trí nhớ...
- Anh là Thám, học cùng lớp chị Tâm
em.
- A em nhớ rồi. Anh quê xã Nghĩa
Thịnh. Anh làm gì ở Cầu Giấy?
- Kia!... Viện nghiên cứu Vật lý. Anh
biết em học giỏi toán lý, dưới anh một lớp. Em đi trung cấp điện báo cơ mà. Sao
em ở đây? Trông em phờ phạc quá!...
Tôi kể vắn tắt cho anh Thám nghe quá
trình công tác của tôi từ năm 1964 đến giờ. Anh Thám cười tươi, để lộ hàm răng
trắng đều tăm tắp:
- Chà!... Em chị Tâm giỏi quá! Chiến
sĩ đội bom Mỹ cầu Hàm Rồng!...
Tôi xin phép anh Thám về nghỉ, lấy sức
làm việc buổi chiều.
Vào đến sân bệnh viện, gặp anh Khế vẻ
mặt xanh tái, tay trái anh kẹp vào nách, tôi hỏi anh:
- Anh hiến máu tiếp cho thương binh à?
Anh gật đầu buồn bã:
- Sau Tết Mậu Thân, địch tập trung lực
lượng vây đánh ta. Quân ta thương vong nặng. Nhiều thương binh do không có máu
để tiếp, đã hy sinh giữa đường vận chuyển từ nam ra bắc. Một số thương binh bị
bỏng bom napan, nhung nhúc giòi khắp người. Hôm nay, tất tật cán bộ, công nhân
viên ta, ai cũng hiến máu tiếp cho thương binh. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển, mới
hiến máu tháng trước, chưa đủ thời hạn, nhưng anh hết lòng với thương binh, anh
lại hiến máu cứu đồng đội.
Nghe anh Khế nói, lòng tôi dâng trào
xúc động. Tôi nhớ đến thầy thuốc bộ trưởng bộ y tế Nguyễn Lập Thạch, nhiều lần
hiến máu cứu chữa bệnh nhân. Anh Tuyển giống bộ trưởng Nguyễn Lập Thạch: “Lương
y như từ mẫu”. Mấy lần tôi xin hiến máu cho thương binh, nhưng bác sĩ Nguyễn
Hữu Tuyển kiên quyết không cho khoa xét nghiệm lấy máu của tôi. Anh bảo tôi hay
bị chảy máu cam, thiếu máu nặng, tinh thần làm việc bằng hai bằng ba như thế,
nghị lực lắm rồi. Trong đầu tôi thường nghĩ: lúc này toàn bệnh viện đang tập
trung cứu chữa thương binh. Mình vào khoa xét nghiệm nài nỉ, may ra nhân viên
xét nghiệm sẽ đồng ý lấy máu tiếp cho thương binh...
Mới đầu, anh trưởng khoa không đồng ý
lấy máu của tôi. Anh hỏi:
- Lệnh của bệnh viện là không được lấy
máu của Tân. Vì Tân đang thiếu máu.
- Anh ơi, viện ta hết máu. Em thiếu
máu, nhưng em vẫn khỏe mạnh, làm việc như mọi người đủ máu. Em có sao đâu.
Trong khi nhiều thương binh đang cần cứu sống, bằng những giọt máu nghĩa tình
đồng đội. Anh ơi! Anh...
Tôi nghẹn lời. Anh trưởng khoa và nhân
viên xét nghiệm chụm đầu thì thầm, rồi đồng ý lấy đơn vị máu của tôi.
Tôi mừng rỡ, mặt nóng bừng. Tôi tự nhủ
phải tươi lên, bình tĩnh để các anh chị yên tâm lấy máu...
* *
*
Không riêng gì mình tôi, mấy bạn nữ
thanh niên xung phong hiến máu trước thời hạn, cũng bị choáng sau khi lấy máu
cứu thương binh. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển cũng mệt, nhưng trước nguy kịch của
những thương binh nặng, anh gắng gượng cứu chữa, không chịu truyền huyết thanh
như chúng tôi. Nhìn sợi dây truyền từ chai huyết thanh đến cánh tay, tôi cười
trong bụng. Mình cứu thương binh, chẳng biết có cứu được ai không, mà làm phiền
bác sĩ phải cứu mình?...
- Ơ, Tân thức rồi hả - Nữ thanh niên
xung phong nằm cạnh giường bệnh hỏi tôi – Mấy đứa chúng tao vẫn tỉnh táo sau
khi lấy máu. Còn Tân, ngủ luôn. Chúng tao tưởng mày chết.
Tôi cười:
- Máu của chúng mình có cứu được
thương binh nặng không?
Có chứ, cứu được hết thương binh nặng.
Máu ở các bệnh viện khác đem đến hỗ trợ nữa.
Nghe bạn nói, tôi mừng. Vậy là những
giọt máu của tôi, của tất cả y bác sĩ, nhân viên, thanh niên xung phong ở phân
hiệu hai quân y viện 108 quý giá biết bao. Hiến máu cứu sống được thương binh,
mà mình chỉ bị choáng, truyền chai huyết thanh là khỏi, máu sẽ hồi phục. Từ nay
mình có thể tiếp tục hiến máu được rồi. Một giọt máu đào kịp cứu người...
- A!... Các cô tỉnh hết cả rồi!...
Mừng quá – Bác sĩ Tuyển đi vào xem mạch tôi, lắc đầu:
- Mạch của em chưa ổn.
- Em thấy khỏe lắm rồi. Em không làm
sao đâu.
Anh Tuyển lắc đầu:
- Lúc nào em cũng nói em không làm
sao. Vậy mà đang làm việc, em ngã lăn quay, máu cam chảy ồng ộc...
Thủ trưởng Hùng bưng vào một khay
những miếng cam ngọt.
- Mấy anh em nhà cô có gì vui thế?
Tôi nhanh nhảu trả lời:
- Bác sĩ Tuyển kể chuyện tiếu lâm ạ.
Tiếng cười nở rộ trong phòng.
Hai anh bóc vỏ từng miếng cam, đưa vào
miệng chúng tôi. Anh Hùng bảo:
- Cam của “Hội mẹ chiến sĩ” huyện Từ
Liêm tặng quân y viện ta.
Chúng tôi giãy nảy:
- Các anh đem vào phòng bệnh thương
binh cho các anh ấy ăn. Chúng em thanh niên khỏe mạnh, không ăn đâu.
Anh Tuyển cười:
- Chúng em khỏe mạnh mà phải truyền
huyết thanh.
- Chỉ hết chai huyết thanh, chúng em
làm việc được ngay.
Anh Hùng nói dứt khoát:
- Nhiệm vụ các cô bây giờ là phải ăn
hết khay cam này, không tranh cãi. Các cô yên tâm mà ăn cam. Các phòng bệnh
thương binh có đủ cam rồi. Còn có bưởi Diễn đặc sản Hà Nội nữa cơ...
Mấy hôm sau tôi vào phòng bệnh trực
đêm. Không thấy anh thương binh tâm thần ở giường bệnh. Thay vào đó là anh
thương binh băng bó toàn thân cứng nhắc. Tôi ngơ ngác nhìn quanh tìm kiếm. Bác
Nông Văn Nghĩa vẫy tay tôi lại.
Tôi nắm tay bác Nghĩa, ngồi xuống cạnh
giường:
- Ôi, cháu mừng quá! Bác đã khỏe lên
nhiều rồi!...
- Ờ, ai cũng mừng cho bác. Không ngờ
anh thương binh còn mấy mảnh đạn trong đầu, cứ bắt cháu tiêm, bắt cháu ngâm thơ
chúc Tết của Bác Hồ ấy, ra đi rồi cháu ạ. Thương anh ấy quá!...
Tôi bật khóc.
Để cho tôi vợi nước mắt, bác Nghĩa mới
nói:
- Cháu giầu lòng thương người. Dân tộc
ta vốn có truyền thống yêu nước. Quê bác có Kim Đồng. Nhỏ tuổi, Kim Đồng tham
gia kháng chiến. Gặp địch, đi lùng cán bộ Việt Minh, Kim Đồng mưu trí lừa địch
về phía mình, để cho cán bộ kịp chạy thoát. Bọn giặc chĩa những họng súng vào
Kim Đồng. Kim Đồng hy sinh ở tuổi thiếu niên.
- Bác ơi, Tết Mậu Thân 1968, bác chiến
đấu ở đâu?
- Bác ở chiến trường Khu 5. Mỹ, ngụy
liên tục mở những cuộc “Bình định cấp tốc” sau Tết, ở các địa bàn mà chúng xác
định là trọng điểm. Địch đánh phá vô cùng tàn khốc, xảo quyệt. Chúng san bằng
nhà cửa, xúc dân đem đi nơi khác, ném bom hóa học hủy diệt hoa màu, cây cỏ.
Bằng mọi cách, địch triệt phá những cơ sở cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn.
Bộ đội ta ở trong rừng, ăn rau rừng, đau không có thuốc, không đạn để chiến
đấu, phía nào cũng dày đặc quân địch. Các bác đã gọi là: “Thời kỳ 4 đê”: “Đói,
đau, đạn, địch”.
- Bác ơi, những ngày Tết đội ta có
được ăn bánh chưng, mứt bánh kẹo không bác?
- Chiến trường ác liệt, bộ đội ta
không mấy khi có bánh chưng, mứt bánh kẹo đâu cháu ạ. Nhưng đã là lính, dù hoàn
cảnh nào cũng giải quyết được. Tết nào đơn vị bác cũng bàn nhau tổ chức đàng
hoàng và “cỗ tết” thịnh soạn. Không có
bánh chưng thì kiếm củ mài giã thành bột làm bánh, giã ngô làm nhân bánh. Mỗi
chiến sĩ tự phát huy khả năng riêng. Anh đi kiếm lá rừng kết chữ Xuân..., kiếm
hoa. Anh kiếm “chè dây” nấu nồi nước trà uống đêm giao thừa. Bác giỏi làm món
măng thì không ai bằng được. Nào là măng khoanh chả lụa, măng khúc kho, măng
nướng bít tết, măng bún tàu, măng ca ri, măng cắt hình con tôm, con cá, con ếch
nấu sáo măng. Ôi chà, đủ trò vui vẻ. Cánh lính trẻ tếu táo. Chúng nhìn bác làm
các món măng, tự đặt tên cho oai nữa.
Tôi bật cười theo bác Nghĩa:
- Tuổi trẻ phải vui bác ạ. Chắc các
anh nhớ những ngày Tết xum họp gia đình lắm.
- Nhớ lắm cháu ạ. Nhớ nhất, mong đợi
nhất lúc giao thừa, đơn vị quây quần bên bếp lửa nồng ấm đón nghe thơ Bác Hồ
chúc Tết.
- Bác ơi, bác có đài bán dẫn đem theo
đi chiến trường cơ à?
- Đi chiến trường, bộ đội tái ngũ như
bác, ai cũng cố kiếm cho mình cái đài. Còn lính tuổi hai mươi, ba lô anh nào
cũng có cuốn “Thép đã tôi thế đấy”, tập Kiều của thi hào Nguyễn Du. Những lúc
nghỉ chân sau chặng đường hành quân gian khổ là cánh lính trẻ túm tụm đọc
truyện, lảy Kiều, ngâm Kiều, đàn hát như đoàn văn công tổng hợp. Niềm vui quên
hết mệt nhọc, gian khó cháu ạ.
- Cháu ước ao được ra mặt trận, cầm
súng đánh đuổi giặc Mỹ về nước, không được. Mới làm điện báo trực chiến ở cầu
Hàm Rồng, cháu đã bị bom Mỹ vùi, cháu buồn.
- Cháu mảnh mai, sức yếu, làm việc
ngày mười mấy tiếng ở bệnh viện là tinh thần cháu chiến thắng giặc Mỹ rồi. Cháu
đừng nghĩ ngợi buồn phiền, hại sức khỏe.
Bác sĩ Tuyển vào phòng bảo tôi:
- Em Tân về ngủ đi, hai hai giờ sáng
rồi.
Hôm nay tôi ngủ ngon, tiếng kèn gọi
tập thể dục buổi sáng đánh thức tôi dậy. Tôi chạy ù ra sân. Gần cổng, thấy anh
Thám đứng ngoài nghiêng ngó vào, tôi chạy ra hỏi:
- Anh Thám đi tập thể dục à?...
Anh Thám đỏ mặt lúng túng.
- Anh... Anh tập thể dục... À anh tìm
em. Sao một tuần nay anh không thấy bóng dáng em đâu?
- Em bận việc, thương binh về nhiều
anh ạ. Em sắp chuyển về Thạch Thất, Hà Tây. Ở đấy đang xây dựng cơ sở điều
dưỡng thương binh anh ạ.
- Em còn ra quân y viện 108 Hà Nội lấy
công văn, tài liệu nữa không?
- Có.
- Sao sáng nào anh cũng đến trước năm
giờ, chờ đến năm rưỡi vẫn không thấy em đâu?
- À!... Vì em... Hiến máu cứu thương
binh nặng.
- Thảo nào, anh trông em không hồng
hào như mấy tháng trước, môi em kém đỏ.
- Cơ quan anh có ai hiến máu không?
- Có. Thanh niên các anh hiến máu trăm
phần trăm. Các bác có tuổi cũng xung phong hiến máu hết. Nhưng khi xét nghiệm,
mấy bác già yếu quá, chất lượng máu không đạt yêu cầu.
- Chết rồi! Em vào lấy xe đi nhận công
văn ngoài quân y viện. Em tranh thủ tập mấy phút thôi.
Khi tôi dắt xe đạp ra cổng, vẫn thấy
anh Thám đứng đấy, gương mặt vẻ nghĩ ngợi...
- Anh chưa về à?
Nắm tay xe, anh Thám nói:
- Anh... Anh muốn nói với em...
- Anh cho phép em đi, kẻo muộn.
Anh Thám lắc đầu thở dài:
- Em vất vả quá, bận hơn cả việc
nghiên cứu của anh. Người bé, đi chiếc xe đạp công cao quá, lại cọc cạch cót
két. Tối em dắt xe sang anh lau dầu, sửa đi nhẹ em nhé!...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét