Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

DÒNG ĐỜI : Tập 1 / Trần Thị Nhật Tân

 

TRẦN THỊ NHẬT TÂN

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dòng đời

 

 

Tiểu thuyết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày 2 – 1 – 2014

Trần Thị Nhật Tân

 

 

 

 

 

 

Mẹ Tổ quốc sinh tôi

Nhân dân nuôi dưỡng tôi

Thành nhà văn nổi tiếng

Tôi ơn mẹ ơn đời.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 1

 

1961

 

            Xuống bến ô tô Nam Định ở đầu phố Cổng Hậu, lòng tôi nao nao nhớ về ngôi nhà số 55 thời thơ ấu của tôi. Chân tôi muốn rảo bước về ngôi nhà thân thương, nhưng đầu tôi lại nghĩ: Cần phải ra ga xe lửa đi Hà Nội nhập học. Ngày mai sang tháng mười rồi. Trong giấy báo gọi học có mặt ngày 15 – 9 – 1961, tôi đành quay gót ra phía nhà ga. Mỗi bước đi, tôi ngoái lại nhìn dòng chữ: “Phố Cổng Hậu” thân yêu của tôi.

          Chiều đến ga Hàng Cỏ, tôi hỏi thăm cụ bán nước đường đến bờ hồ Hoàn Kiếm. Cụ bảo:

          - Cháu đi thẳng đường Trần Hưng Đạo. Đến ngã tư Bà Triệu, cháu rẽ tay trái, cứ đi thẳng cháu gặp hồ Hoàn Kiếm. Xe điện đi Hà Đông đỗ ở bên kia hồ, phố Đinh Tiên Hoàng.

          Nhớ lời cụ bán nước chỉ dẫn, tôi cắm đầu rảo bước trên hè phố Hà Nội. Người đi đường ngạc nhiên nhìn tôi vã mồ hôi như tắm. Có người còn dừng lại nhìn chằm chằm tôi. Tôi nghĩ: Chắc mình xấu xí quá, nên người Hà Nội nhìn mình như kẻ lạc loài. Đi mãi, đi mãi tôi chưa thấy Bà Triệu đâu, lòng tôi hoang mang, hay mình đi lạc? Không, mình vẫn đi thẳng, không rẽ đâu, sao lâu đến Bà Triệu thế? Tôi đặt phịch tay nải xuống gốc cây xà cừ ngồi nghỉ. Một bà cụ tay xách làn mây đựng rau đi đến, vuốt má tôi:

          - Ôi! Cháu bé xinh đi đâu một mình với cái tay nải to thế?... Bà nhấc thử xem nào. Ối giời!... Nặng quá! Cháu bé gầy như cây sậy, sao mang được nặng thế? Cháu đi đâu?

          - Cháu thưa bà, cháu đến trường trung cấp Bưu điện ở cây số 10 đường Hà Nội - Hà Đông ạ.

          - Cháu đi thăm ai?

          - Dạ thưa bà, cháu vào học ạ.

          Bà cụ tròn mắt ngạc nhiên:

          - Cháu đi học trung cấp Bưu điện ư?... Cháu mười mấy tuổi?

          - Dạ, cháu mười ba. À quên, cháu mười tám ạ.

          Bà cụ cười rũ:

          - Cháu nói dối 18 tuổi. Không phải tuổi thật nên cháu không nhớ. Tuổi thật cháu 13 phải không?

          - Dạ vâng ạ!

          - Bố mẹ, anh em cháu đâu không đưa cháu đi học? Cháu ở tỉnh nào?

          Tôi rơm rớm nước mắt:

          - Thưa bà… mẹ cháu mất… bố cháu ốm. Cháu không có anh em ạ. Thầy giáo Hiến khai tăng tuổi cho cháu học trung cấp Bưu điện. Thầy Hiến bảo cháu là em bé chăm ngoan, học giỏi, ít tuổi cũng làm việc được ạ. Cháu quê Nam Định ạ.

          Bà cụ xúc động nắm cổ tay tôi:

          - Thương quá! Đôi mắt cháu sáng như hai ngôi sao thế kia là thông minh lắm. Cháu gầy gò quá. Gương mặt cháu lại hồng hào như thiên thần.

          Bà cụ nhìn ra xa vẫy gọi:

- Xích lô!... Ới xích lô!... Xích lô!... 

Bác xích lô đạp xe nhanh về phía chúng tôi. Bà cụ hỏi:

- Bác chở cháu bé này đến bến xe điện bờ hồ đi Hà Đông, bằng nào tiền?... Đây, tôi trả tiền trước bác. Bác chở cháu đến đúng đường xe điện đi Hà Đông nhá! Cháu lên xe đi – Bà cụ dắt tay tôi kéo lên xe.

Tôi ngần ngừ chùn lại:

- Cháu không đi xích lô. Cháu…

- Bà cho tiền xe cháu. Bà trả tiền bác xích lô rồi.

- Không! Bố mẹ, thầy giáo dạy cháu không được lấy tiền của ai.

Bà cụ, bác xe xích lô bật cười.

- Đúng là bé ngoan. Cháu có lấy tiền của bà đâu. Bà cho cháu như cho cháu bà. Cháu nhận tình cảm của bà cho bà vui.

Bác xe nhấc tay nải tôi lên xe:

- Cháu không lên xe thì bác chở tay nải cháu đi.

Tôi cuống lên. Bà cụ nắm tay tôi đỡ lên xe, nở nụ cười hiền hậu:

- Cháu đi nhé! Bà chúc cháu học giỏi!...

 

                                        *

                                     *       *

 

Xe điện đỗ đúng cổng trường trung cấp Bưu điện. Tôi vác tay nải lên vai bước xuống đường. Đứng thở một lát cho đỡ hồi hộp, tôi mở tay nải lấy giấy báo trúng tuyển vào trình bảo vệ. Tôi hỏi luôn bác bảo vệ:

- Bác ơi, lớp 3D ở dãy nhà nào ạ?

- Cháu đi vào sâu trong trường, có biển đề tên lớp đấy.

Các anh chị đi lại trong trường đông ơi là đông. Đi qua chỗ bóng chuyền, tôi dừng lại nghỉ cho đỡ mệt. Chợt tôi nhận ra anh Lại Xuân Tiến. Tôi gọi toáng:

- Anh Tiến ơi! Anh Tiến ơi!...

Anh Tiến chạy bổ ra chỗ tôi, không kịp đỡ bóng, làm quả bóng rơi xuống đất. Tất cả các anh đang chơi bóng ngạc nhiên nhìn anh Tiến nắm tay tôi xúc động chảy nước mắt:

- Ôi em Tân! Em đi một mình à? Chị Trâm, chị Tâm không đưa em đi à?

Nước mắt tôi giàn giụa tủi thân, lắc đầu.

- Khổ thân em bé bỏng. Các chị em tệ quá, cùng mẹ đẻ ra. Mà bố em nuôi chị Tâm ăn học, sau làm cô giáo cũng không biết nghĩ. Chị Tâm bạc quá! Nếu biết em đi một mình, anh xin phép nghỉ học về đón em. Em đi đến trường một mình giỏi quá!

Các anh bỏ chơi bóng, xúm đến chỗ tôi nghe chuyện. Các anh nói:

- Tội nghiệp con bé!

- Tôi chưa gặp hoàn cảnh khổ thế này bao giờ.

- Chị em ruột không có tình thương bằng người ngoài.

- Tiến ơi, cậu đưa bé Tân về rửa mặt, chuẩn bị ăn cơm chiều.

- Để tớ nói chị cấp dưỡng có khách đột xuất, xin thêm miếng cháy ngô…

Dẫn tôi đi rửa mặt, tay chân xong, anh Tiến đưa tôi vào nhà ăn tập thể đông nghịt. Các anh trong lớp 3D đang chờ hai anh em tôi. Anh nào cũng tranh đòi tôi ngồi cạnh. Thức ăn được bày trên bàn gỗ dài. Sáu người một mâm cơm. Riêng mâm cơm anh Tiến có thêm tôi là bảy. Mỗi mâm cơm cách nhau một liễn cơm bằng sắt tráng men. Hai bát canh bí đỏ ngon quá. Hai đĩa rau muống luộc, bát nước rau, đĩa tép riu thơm hương đồng thân quen với tôi quá. Khi các anh mở nắp vung liễn cơm, tôi reo lên:

- Ơ trứng nhiều thế?

Mọi người cười ồ. Tôi ngơ ngác không hiểu. Mấy anh ở bàn bên đổ mấy muôi trứng vào liễn cơm chúng tôi.

- Anh cho thêm mấy muôi trứng em ăn ngon nhé!

Lại một trận cười vỡ nhà. Anh Tiến quát:

- Các cậu trêu bé Tân tội nghiệp. Hoàn cảnh mồ côi mẹ, nó phải tự lập, sống đói khổ lắm, cơm không có ăn.

Tiếng cười dịu xuống, tắt hẳn. Anh Tiến đơm cho tôi đầy bát cơm trắng, nói:

- Không phải trứng em ạ. Ngô đỏ, cấp dưỡng xay ra, nấu thành bánh đúc cho dễ ăn. Tiêu chuẩn học sinh mỗi tháng được mười ba cân rưỡi lương thực. Hai phần ba là ngô, gạo có một phần thôi. Em ăn cơm đi kẻo đói.

Nhìn bát các anh trong mâm toàn ngô, tôi rơm rớm nước mắt:

- Em ứ ăn cơm đâu. Em ăn ngô với các anh cơ!

Một anh xúc thìa tép rang ấn vào bát cơm tôi:

- Ngày đầu tiên đến trường ăn cơm trắng. Em ăn ngô bị phạt không cho học đâu. Nội quy nhà trường đấy!

Anh Tiến và mọi người gật đầu giục tôi ăn. Tôi tưởng thật ăn cơm ngon lành. Khi bát cơm vơi, anh Tiến múc muôi canh bí đỏ vào đầy bát tôi. Chưa bao giờ tôi ăn một bữa no cơm, ngon như thế.

Về phòng anh Tiến ở, giường sắt hai tầng giống như chị Tâm tôi học trung cấp sư phạm Nam Định. Anh Tiến hỏi:

- Sao em lên trường chậm thế?

Tôi kể chuyện chú bạn Dung cùng lớp, nhận làm con nuôi cho đi học cấp ba. Chú lừa bán tôi cho người miền núi. Tôi trốn về Liễu Đề cất vó tép, đào cáy. Gặp mẹ Nhất ở nhà thờ Bùi Chung rủ về cho tôi đi học. Sau một tháng hầu hạ cơm nước, giặt áo quần cho mẹ Nhất vẫn không được vào trường học, tôi trốn như thế nào… Anh Tiến chảy nước mắt thương tôi. Các anh trong phòng cũng lặng nghe chuyện tôi, ai cũng thương cảm. Một anh nói:

- Bé Tân thông minh. Em trốn khỏi nhà thờ Bùi Chung giỏi!

Anh Tiến hỏi:

- Em có đủ tiền nộp ăn ba tháng để xét cấp học bổng không?

- Em có thừa tiền.

- Ai cho em nhiều thế? Em bán đôi hoa tai mẹ cho kỷ niệm à?

- Không. Đôi hoa tai em vẫn gửi chị Trâm giữ. Tiền em cất vó tôm vó tép, bắt cua, câu cáy, em để giành phòng khi cần. Hàng ngày em chỉ mua đầu mẩu khoai họ bán nuôi lợn, em nấu với những con cua cáy chết ăn. Thỉnh thoảng em đong bơ gạo, bốc một nắm nấu cháo với những mẩu khoai, ăn hai bữa trưa tối…

- Giờ anh dẫn em về lớp, gặp lớp trưởng 5E của em. Anh sốt ruột quá, mong mãi không thấy em đến trường. Anh tưởng ba em nghĩ lại, thấy em giỏi toán, nuôi em học cấp ba. Anh không ngờ em khổ quá…

Dẫn tôi tới dãy nhà nam lớp 5E của tôi, anh Tiến bảo tôi ngồi chờ. Anh lớp trưởng và anh Tiến đi ra ngoài nói chuyện. Một lúc sau, hai anh đi vào nhà. Anh Tiến nói với tôi:

- Anh Lành, lớp trưởng 5E của em. Anh trao đổi với anh Lành rồi. Anh Lành là nhân viên bưu điện Bắc Giang được cử đi học. Anh Lành coi em như em gái giống anh. Em có bằng nào tiền gửi tất anh Lành giữ hộ kẻo mất. Hàng tháng em mua phiếu ăn, mua sách vở bút mực, em nói anh Lành mua cho. Khi cần, anh Lành gọi anh đến gặp em. Thỉnh thoảng, anh tranh thủ sang thăm em. Giờ anh về học.

Anh Lành bảo tôi:

- Anh Tiến nói hoàn cảnh em mồ côi, khổ như thế nào anh biết cả rồi. Em vui lên. Trong lớp có nhiều nhân viên bưu điện các tỉnh được cử đi học. Nhiều anh chị lớn tuổi, thương yêu em như con em trong nhà. Em đừng lo lắng gì. Giờ anh dẫn em về nhà tập thể nữ.

Các chị trong phòng đông đủ. Người chải tóc. Người hát. Người đọc báo. Mấy chị cười đùa đấm nhau thùm thụp đuổi nhau.

Anh Lành lên tiếng:

- Chị em vui quá nhỉ!

Mọi người nhìn tôi ngạc nhiên.

- Xin giới thiệu với chị em, đây là bé Tân học viên lớp ta. Do hoàn cảnh khó khăn, hôm nay em mới lên trường. Nhờ chị em giúp đỡ, chỉ bảo cho bé Tân trong sinh hoạt. Giường nào còn chỗ trống?

- Đây!... Giường em Tuyết. Em ở tầng trên, Tân tầng dưới.

- Tốt rồi! Tôi về nhé, chào chị em!

Anh Lành ra về, chị em trong phòng xúm lại hỏi tôi đủ thứ: em quê tỉnh nào? Em mười mấy tuổi? Sao em bé thế? Ôi, cổ tay em như que sậy. Chắc em đói ăn à? Sao má em hồng, mắt em sáng thế?… Chị Tuyết dấp nước bọt ra ngón tay, quệt má tôi:

- Hình như nó đánh phấn hồng hay sao ấy… Ơ không. Nhưng sao má hồng như đánh phấn văn công ấy. Cậu có bôi gì màu đỏ lên má không?...

Tôi sợ sệt im lặng trước câu hỏi dồn dập của các chị.

Một chị lớn tuổi đi đến, ngồi xuống bên tôi nắm tay hỏi:

- Em có muốn đi tắm cho mát không? Chị lấy chậu, dẫn em đến nhà tắm nhé!

Nói rồi chị lôi trong gầm giường ra chiếc chậu tôn to. Tôi cắp áo quần đi theo chị. Vừa đi chị vừa nói:

- Chị là Phạm Thị Nhũ. Cha chị hy sinh ở Điện Biên Phủ. Mẹ chị mất rồi. Chị được nhà nước cho vào học trường Bổ túc công nông. Hết lớp bảy, chị thi vào trung cấp bưu điện. Chị thiếu điểm, nhưng được ưu tiên con liệt sĩ nên vẫn được học. Điểm thi của em vào trường cao nhất. Cả lớp cứ hỏi nhau mãi, sao Trần Thị Nhật Tân làm bài toán lý giỏi thế lại không đến học? Chị mồ côi cha mẹ, thiếu tình cảm, chị thèm tình cảm gia đình cha mẹ lắm.

Nghe chị Nhũ nói, chạm đến niềm đau thèm tình cảm cha mẹ của tôi. Tôi tuồn tuột kể hết hoàn cảnh cho chị nghe. Nước mắt chị giàn giụa. Chị ôm tôi vào lòng khóc.

- Tội nghiệp em! Người em gầy giơ xương ra thế này. Chị nhận em làm em kết nghĩa. Từ nay vui buồn gì có hai chị em chia sẻ.

Chị Nhũ mở cánh cửa nhà tắm bằng gỗ, vắt áo quần của tôi lên cánh cửa. Chị mở vòi nước chảy vào chậu tôn. Tôi ngạc nhiên nhìn vòi nước chảy, hỏi:

- Chị ơi, nước ở đâu chảy ra vòi này?

Chị cười bảo:

- Nước máy em ạ. Nước từ nhà máy lọc nước, lấy từ sông Hồng dẫn vào đường ống chảy đi khắp phố phường. Ở nông thôn tắm sông ngòi, nước ao, nước giếng. Em thấy lạ à? Người ở thành phố dùng nước máy sạch hơn ở nông thôn. Chị ra ngoài chờ, em tắm xong chị giặt áo quần cho.

Tôi ở trong tắm nhanh, mặc áo quần xong gọi chị Nhũ. Chị bước vào, thấy mắt chị ướt nhòe, tôi hỏi:

- Chị khóc à?... Sao chị khóc?

Lấy khăn mặt của tôi thấm nước mắt, chị nói:

- Nhìn qua khe cửa, nhìn xương sống xương sườn em nhô ra, chị thương em quá! Em có đau ở đâu trong người không?

- Em chỉ đau đầu thôi. Em hay đau đầu. Nhiều lúc em thấy như có nhiều mũi kim châm ở trong đầu em.

- Giờ em có đau đầu không?

- Có!

- Tí nữa về phòng chị bôi dầu con hổ cho em. Em đi đường mệt, bị cảm đấy.

Về đến phòng nghỉ, chị Nhũ phơi áo quần tôi lên dây thép phía sau dãy nhà. Chị lấy lọ dầu con hổ tròn to bằng ngón chân cái bôi vào hai thái dương tôi, lấy ngón tay day day. Chị bôi dầu vào cả sau gáy, sống lưng, hai bàn tay bàn chân tôi. Bôi dầu đến đâu, chị day đến đấy. Người tôi nóng lên, dễ chịu. Tôi nghe tiếng thì thầm:

- Chúng bay ơi, gầy chưa kìa!...

- Bộ xương nạn chết đói năm bốn nhăm.

- Ê, chưa có vú chúng mày ạ.

- Mười tám tuổi gì mà người bé như thiếu nhi.

- Không đến mười tám.

- Không mười tám sao đủ tuổi thi vào trung cấp?

- Ở nhà quê nghèo đói khổ, người quắt lại đấy.

- Ừ, da trắng má hồng, khi cười thì tươi, không cười thì trông nét mặt khắc khổ như bà cụ.

Lần đầu tiên tôi được bàn tay người chị kết nghĩa chăm sóc, yêu thương, trong tôi dâng trào niềm xúc động. Đầu tôi đỡ đau, thấy người tỉnh táo dễ chịu. Tai tôi không ù ù như xay lúa nữa. Mắt chị Nhũ đỏ hoe. Thỉnh thoảng chị ra ngoài xỉ mũi, lau mặt rồi vào đánh cảm tiếp cho tôi.

Ngoài trời lất phất mưa, các chị hò nhau đóng cửa sổ. Chị Nhũ lôi trong tay nải của tôi ra tấm chăn chiên nhà máy dệt Nam Định, đắp lên người tôi:

- Em ngủ đi. Sáng mai nhà trường gõ kẻng dậy, ăn sáng, chị em mình lên lớp học chính trị. Mấy hôm nữa lên Yên Bái, lao động xây dựng công trình thủy điện Thác Bà em ạ.

Mùi dầu con hổ thơm dễ chịu, đầu tôi không còn buốt như trước nữa. Tôi ngủ ngon trong cảm nhận tình thương yêu của chị Nhũ…

 

                                      *

                                   *       *

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2

 

Thói quen dậy sớm ở nhà từ 4 giờ sáng, tôi thức giấc trở mình. Ơ, sao mình nằm trên giường con thế này? Mở mắt, nhìn thấy tầng giường trên mặt, tôi nhớ ra hôm qua mình đã đến trường trung cấp Bưu điện. Im ắng quá. Không nghe tiếng chuông nhà thờ rung, cùng những bước chân trần vội vã thình thịch trên đường đất của những con chiên đi cầu nguyện ở Liễu Đề.

Tôi vén màn bước xuống đất vươn vai, nhún nhảy tại chỗ. Tôi sờ then cửa cài chặt quá. Nếu cố mở tôi cũng mở được, nhưng sợ phát ra tiếng động, các chị thức dậy thì chết. Mọi người còn ngủ im thít. Tôi đành chui vào màn cho muỗi khỏi đốt, vặn vẹo người, nắn bóp tay chân chờ sáng. Lâu lắm tôi mới nghe tiếng kẻng nhà trường báo thức. Tiếp theo là tiếng nhạc gọi tập thể dục buổi sáng: “Mau mau lên các bạn ơi!...”

Chị Nhũ đến giường tôi:

- Ơ em Tân đã dậy, gấp chăn màn gọn ghẽ rồi à? Đêm qua em ngủ ngon không?

Tôi gật đầu, theo chị ra sân tập thể dục. Học viên xếp hàng ngay thẳng trước nhà ở của lớp mình, tập thể dục theo loa phóng thanh ở cột đầu nhà. Khi tôi theo chị Nhũ đi rửa mặt về, đã thấy anh Tiến cầm hai gói xôi đứng chờ.

- Anh mua cho em gói xôi, anh một gói. Em ăn đi rồi lên lớp. Anh về đây.

Chị Nhũ tay cầm một hào, cười với tôi:

- Chị định đi mua xôi cho em, thì em đã có anh cho rồi. Anh ấy có họ với em à?

- Không. Anh Tiến phụ trách thiếu nhi ở trường cấp hai Liễu Đề quê em, hồi em mới vào học. Anh quý em như em. Chị ơi, mấy hào gói xôi?

- Năm xu em ạ.

- Úi, từ mai em không ăn đâu, tốn tiền.

- Em gầy lắm, ăn sáng ngồi học đỡ đói, mới tiếp thu được lời thầy giảng.

- Em ăn hai bữa trưa tối quen rồi. Em chẳng ăn sáng bao giờ.

- Từ giờ em tập ăn sáng sẽ quen, chị cho tiền. Chị có học bổng mỗi tháng 22 đồng. Chị mua phiếu ăn tháng hết 15 đồng. Chị còn 7 đồng, ăn xôi sáng có 5 xu, một tháng hết 1 đồng rưỡi. Chị còn thừa 5 đồng rưỡi cơ mà. Chị nhận em làm em kết nghĩa, chị phải có trách nhiệm như chị ruột của em. Em không được chống đối việc chị mua xôi cho em ăn sáng.

Nghe chị Nhũ nói, tôi cảm động, tim thổn thức rưng rưng. Hai chị ruột mình chưa bao giờ có lời nói thân thương với mình như chị Nhũ là người dưng…

- Chị ơi, học bổng được toàn phần là bao nhiêu?

- Ai được toàn phần học bổng cũng 22 đồng  như chị. Tùy mỗi hoàn cảnh nhà trường xét. Em mồ côi mẹ, còn bố chưa chắc nhà trường đã cho học bổng toàn phần.

- Nhưng bố đuổi em ra khỏi nhà từ năm em học lớp bảy, không nuôi em cơ mà.

- Thực tế là vậy, nhưng trong lý lịch vẫn còn bố, tổ chức làm sao biết được bố em không nuôi, em phải tự lập?...

Vào lớp học, thầy giáo chủ nhiệm nói:

- Đến hôm nay, lớp ta đủ quân số. Em Trần Thị Nhật Tân, điểm bài thi toán lý cao nhất trường, do hoàn cảnh khó khăn hôm nay mới có mặt. Đề nghị cả lớp vỗ tay mừng lớp ta tròn sĩ số!

Tôi xấu hổ đỏ mặt, nước mắt lưng tròng. Mọi con mắt đổ dồn về tôi. Những tiếng thì thầm:

- Trắng như ngó cần.

- Trắng như trứng gà bóc.

- Xinh gái.

- Gầy quá!

- Bằng con gái đầu tớ.

- Đôi mắt… cửa sổ tâm hồn sáng như sao!...

Chị Tuyết ngồi đầu bàn phía trong nhìn tôi ngấm nguýt.

Thầy chủ nhiệm nhắc nhở chúng tôi học chính trị cho tốt để mấy ngày nữa lên công trình thủy điện Thác Bà, Yên Bái lao động.

 

                             *       *

                                  *

 

Ròng rã một ngày. Chiếc xe tải già nua luôn hỏng hóc cũng cõng được 50 học viên lớp 5E chúng tôi đến công trường thủy điện Thác Bà.

Tôi ngơ ngác trước cảnh núi rừng âm u trùng điệp. Cán bộ phụ trách công trường dẫn chúng tôi về nơi ở của những người lao động. Những dãy nhà vách nứa, mái nứa chạy dài san sát. Học sinh chúng tôi rủ nhau ra xem công trường làm việc như thế nào.

Đứng ở trên bờ nhìn xuống sâu hút một vùng đất rộng, người đông trông bé nhỏ như đàn cáy bò trong đầm bãi sú vẹt dưới biển quê tôi. Học sinh, sinh viên của 12 trường đại học và trung cấp ở Hà Nội lên lao động. Ai được chứng nhận lao động giỏi mới được tiếp tục học. Ai không lao động tốt sẽ bị trả về quê. Nhìn xuống một lát mắt tôi đã hoa, chóng mặt. Tôi lùi lại phía sau ngồi xuống tảng đá.

Chị Nhũ đến ngồi xuống bên tôi, quàng tay qua vai.

- Họ đào những tảng đất, tảng đá to thế, ngày mai đi làm, em vác sao được? Các anh chị mười tám đôi mươi vác đất còn chực ngã. Chị đang nghĩ cách gì cho em vẫn lao động…

- Không khó chị ạ. Cho tảng đất vào thúng em đội được. Ở quê Nghĩa Hưng Nam Định em, người ta toàn đội. Thóc, gạo, muối, cái gì cũng cho vào thúng đội. Ngày mùa em đi gặt, đã đội lúa về nhà.

- Nhưng lấy đâu ra thúng?...

- À… chị ơi, em thấy rất nhiều đoạn nứa ở đầu nhà mình ấy. Ăn cơm tối xong, em lấy nứa chặt dài nửa mét, chẻ đôi ống nứa, buộc hình vuông. Mình cắt cỏ làm lót đầu cho êm. Cho đất vào khung nứa em đội tốt.

Chị Nhũ cười:

- Con bé này sáng kiến hay. Để chị làm cho, tay chị khỏe, buộc khung nứa mới chắc,

Vậy là ăn cơm xong, chị Nhũ mượn con dao nhà bếp chẻ nứa, chẻ lạt buộc cho tôi mấy khung nứa. Tôi cùng làm với chị. Thấy tôi chẻ lạt mềm, chị Nhũ khen:

- Em chẻ lạt khéo thế? Ai dạy em chẻ lạt?

- Chẳng ai dạy em. Ở nông thôn, nhà nào cũng tự đan rổ rá, dần sàng để dùng. Ông cụ hàng xóm hay đan rổ rá, dần sàng, thỉnh thoảng em sang để ý ông làm em học được. Thấy ông chặt cây tre bánh tẻ chẻ lạt cạp rổ rá chắc chắn. Cụ bảo: “Lạt mềm buộc chặt”. Tre bánh tẻ chẻ lạt mềm. Em bắt chước cụ, xin những đoạn tre thừa, đan rổ rá. Rổ rá em đan không đẹp như cụ hàng xóm, nhưng mẹ em bảo đỡ tốn tiền mua.

- Hay nhỉ, em chịu khó học hỏi. Chị con nhà nông chính tông mà không biết đan rổ rá đâu.

- Em còn biết quay xa, dệt chiếu cói nữa.

- Ơ con bé này giỏi giang thế? Em học bao giờ?

- Hồi nhà em ở phố mới về Quỹ Nhất, Nghĩa Hưng Nam Định, thấy nhà hàng xóm dệt chiếu cói, em sang xem, cùng làm. Em tập vài ngày là em biết dệt chiếu, quay xa làm sợi dệt chiếu.

Chị Nhũ ngừng tay, ôm đầu tôi hôn hai má.

- Yêu em quá! Em tí tuổi đầu đã biết làm những việc như người lớn.

- Chị nhớ phải dấu tuổi thật của em mười ba đấy nhé! Chị cứ phải nói em 18 tuổi.

- Ừ chị nhớ. Em không phải nhắc.

Miệng chị Nhũ cười, nhưng mắt chị lại có những giọt nước lăn xuống má. Tôi không dám hỏi tại sao chị khóc, lặng ngắt chẻ lạt…

Trời chưa sáng tôi đã thức giấc theo thói quen dậy sớm. Nhìn ra ngoài, tôi thấy mây trắng mỏng tang. Lán ngủ ở công trường không đóng cửa. Mọi người còn say giấc. Nhìn sang giường chị Nhũ, một chân chị dưới đất, tôi bịt mồm cười thầm. Giường ngủ chỉ là tấm phên nứa, gác lên hai khúc gỗ ở hai đầu cao chừng 30 cm. Tôi rón rén bước ra ngoài. Mây trắng như bụi bông bay là là quanh các dãy lán. Gió mát rượi thơm hương rừng vuốt má tôi. Toàn công trường im phắc. Tôi sợ ma rừng, không dám đi xa, đứng ngay ở cửa ra vào tập thể dục. Tập mãi vẫn chưa sáng, tiếng sột soạt ở bụi cây đầu nhà làm tôi giật mình, chạy tót lên giường ngồi ôm đầu gối sợ hãi. Một lúc lâu sau, tiếng kẻng công trường báo thức to quá lại làm tôi giật thót tim. Toàn công trường náo động. Các dãy lán hò nhau tập thể dục. Chị Nhũ ngạc nhiên thấy tôi ngồi thu lu trên giường.

- Đêm qua lạ nhà, em không ngủ được à?

- Em ngủ được, nhưng em dậy 4 giờ từ bé quen rồi. Nhà em về Quỹ Nhất, giáo dân toàn tòng. Cứ 4 giờ sáng chuông nhà thờ binh boong là giáo dân đi lễ nhà thờ, rồi về đi làm ruộng. Ba em bảo họ tiết kiệm thời gian, ngủ ít, chăm chỉ làm lụng nhiều. Em và ba em sáng thức dậy theo tiếng chuông nhà thờ. Ba em dọn đồ nghề cắt tóc mang ra lều ngoài chợ. Em tập thể dục, nhảy dây cho người cao, xong xuống sông tắm, bơi vài vòng bên bờ này sang bên bờ kia. Còn mẹ với hai chị em ngủ cho đến sáng bạch mới dậy. Chị Tâm em vẫn mắng em: “Cụ non dậy sớm”, làm mất giấc ngủ ngon của chị. Chị ấy cốc đầu em đau nhói.

Tập thể dục xong, chúng tôi nhanh chóng ăn sáng đi làm. Mỗi người một tấm bánh đúc ngô bằng bát ăn cơm. Các chị cán bộ đi học và học sinh nhà quê chúng tôi ăn bánh đúc ngô ngon lành. Còn học sinh Hà Nội và các thành phố không muốn ăn bánh đúc ngô. Họ bẻ một mẩu nhai uể oải, còn cho người khác.

Tiếng kẻng gọi ra công trường. Lớp tôi xếp hàng đôi đi trật tự. Các anh chị cười tôi với chị Nhũ cầm mấy cái khung nứa và đệm cỏ. Xuống được đến lòng hồ, ai cũng mệt thở ra đằng tai. Các anh chị ngạc nhiên nhìn tôi nhanh nhẹn chạy xuống dốc thoăn thoắt. Công trường phân công mỗi lớp đào đất một góc, thi đua đào được nhiều khối đất. Đơn vị nào có khối đất nhiều sẽ được thưởng. Để chuyển đất lên bờ, người ta đóng những khung nứa to, đựng được vài khối đất, buộc dây mây vào bốn góc khung, nối với ròng rọc trên bờ. Khi ở dưới đổ đầy đất vào khung nứa thì trên bờ có người kéo dây ròng rọc lên. Việc này do cán bộ phụ trách công trường đảm nhiệm.

Lớp tôi nhanh chóng bắt tay vào việc. Các anh nam đào đất, nữ bốc, vác đổ vào khung nứa. Chị Nhũ và mấy chị nữ khỏe nhận việc bốc đất đặt vào vai chúng tôi. Khi chị Nhũ đặt tảng đất lên đầu tôi, mọi người chăm chú theo dõi. Chị bảo tôi đứng cách chị mấy bước. Chị bốc đất, bước nhanh, rồi đặt nhẹ lên đầu tôi. Tôi thận trọng bấm đầu ngón chân đi cho khỏi ngã. Tôi thấy cũng vừa sức, đội được tảng đất như mọi người vác. Đổ đất vào khung nứa, tôi quay vào gặp chị Tuyết đi đôi giầy ba ta xanh bê bết đất dính khó đi. Chị rơm rớm nước mắt. Tôi nghĩ thương chị, người Hà Nội sống sung sướng, chẳng lao động chân lấm tay bùn bao giờ. Chắc chị Tuyết đang thấy khổ lắm. Khi đặt tảng đất thứ hai lên đầu tôi, chị Nhũ hỏi nhỏ:

- Có nặng quá không em? Để chị nói các anh đào tảng đất bé cho em.

- Không nặng đâu, em đội được. Em đội lúa, đội rạ ở quê quen rồi.

Làm được một lúc, chị Tuyết và mấy chị khác nước mắt lã chã. Các chị vội lấy vạt áo lau đi, giấu mọi người. Tôi nhìn thấy thế thương quá. Các chị phải cố gắng, không thì bị đuổi về nhà, bị khai trừ khỏi đoàn. Chị Tuyết nằm giường tầng trên tôi, tôi thấy thương chị hơn. Tôi nói với chị:

- Chị Tuyết ơi, chị bỏ giầy ra, đi chân đất dễ hơn. Chị đội như em này. Em còn đệm cỏ, khung nứa dự trữ kia.

- Eo ơi!... Tớ… Tớ không đội. Đội gẫy cổ, đau đầu lắm. Bỏ giầy ra á? Gai đâm vào chân chảy máu, ngứa chân, sợ lắm!

Anh Lành khen tôi:

- Bé Tân con nhà nghèo lao động quen, đội đất ngon nhỉ!

Mọi người cười ồ. Chị Tuyết ngấm nguýt tôi, dùng que cậy đất dính chặt vào giầy nặng chân.

Chị Nhũ lên tiếng:

- Ta hò lờ mấy câu cho vui lớp trưởng nhé!

- Đúng đấy, hò hát đi cho khí thế lao động hăng say.

- Nhũ hò đi, mọi người hò theo.

Chị Nhũ cất giọng oang oang:

- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò lờ…

- Thi đua đào đất hăng say.

- Ai đi hò lờ.

- Tinh thần lao động mỗi ngày thêm cao.

- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò lờ…

- Núi rừng có điện thay sao.

- Ai đi hò lờ.

- Nông thôn điện sáng vui nào vui hơn.

- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò lờ…

Ở góc đằng kia, một giọng nam cao cất lên:

- Này người bưu điện anh em!

- Ai đi hò lờ.

- Thi đua đào đất cả đêm cả ngày.

- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò lờ…

- Giành cờ quyết thắng mới hay.

- Ai đi hò lờ.

- Vui ngày tổng kết nắm tay hát mừng.

- Hò lơ, hó lơ, anh em ơi lắng tai nghe tiếng ai đi hò lờ…

- Hoan hô!...

Tiếng reo hò vang rừng núi. Khí thế lao động sôi nổi hẳn lên. Chị Tuyết đã bỏ đôi giầy ba ta từ khi nào, bặm môi bước băng băng.

11 giờ 30 phút kẻng công trường báo nghỉ, nhưng toàn công trường vẫn làm mê say. Phải hơn hai mươi phút sau, anh chị em mới lác đác leo lên bờ. Chúng tôi ra sông rửa mặt mũi tay chân, về lán thay vội vàng áo quần, ngồi vào mâm cơm. Mâm của chúng tôi được làm bằng nứa hình vuông, có bốn chân cao nửa mét. Sáu người chúng tôi ngồi quây quần quanh mâm cơm. Liễn cơm độn ngô, nhưng gạo ít nên chỉ thấy toàn ngô. Bữa trưa nay, mỗi mâm cơm có thêm sáu khúc sắn luộc thơm phức. Nhà bếp nói đồng bào các dân tộc Yên Bái tặng các sinh viên, học viên ở Hà Nội lên lao động công trường. Thức ăn cũng giống như ở trường: canh bí đỏ, cá kho. Nhưng cá ở công trường to hơn, đĩa cá đầy hơn đĩa cá ở trường. Biết tôi ăn chậm, chị Nhũ dồn hai bát canh đã vơi vào làm một, múc muôi cơm cho vào bát đưa tôi:

- Bé Tân ăn chậm, chưa hết nửa bát cơm. Mọi người đã đơm bát thứ hai. Chị phần sẵn, em cứ nhẩn nha ăn. Khúc sắn nữa phần của em. Đào đất làm nặng, ai cũng ăn khỏe. Cơm canh hết vèo, mỗi người cầm khúc sắn về giường mình nằm ăn. Còn một mình tôi ngồi ăn cơm. Ăn thế này là sướng lắm rồi. Suốt năm học lớp bảy ở Liễu Đề, tôi bắt cua, cất vó tôm vó tép cả ngày đêm, chưa bao giờ tôi được ăn no. Tôi chỉ ước có tiền, mua một mớ khoai về luộc ăn no một bữa, mà không thực hiện được. Tôi cố gắng lắm mới đủ tiền giấy mực, tiền đóng học phí. Tôi chỉ mua mẩu khoai vụn họ bán cho lợn ăn, về nấu với con cua con cáy chết. Vài tháng tôi về thăm chị Trâm ở xã Nghĩa Phú, chị cho miệng bơ gạo tám lạng, tôi chỉ bốc một nắm cho vào nồi khoai vụn ăn hai bữa. Tôi ăn đến bát cơm thứ hai chị Nhũ phần thì chẳng còn thức ăn. Tôi trộn ít muối rang ăn, thấy bùi bùi, ngọt ngọt, ngon. No quá, tôi không ăn được khúc sắn. Tôi đưa chị Nhũ. Chị lắc đầu:

- Chiều đi làm em ăn, lúc ấy đói bụng rồi, sắn ngon lắm em ạ.

Ai cũng đã đi vào giấc ngủ trưa. Tôi đặt mình xuống giường được một tí thì kẻng công trường gọi đến giờ làm.

Buổi chiều, không khí lao động sôi nổi ngay từ đầu. Chỗ này thách đố chỗ kia đào nhiều đất, hò hát đối nhau, náo nhiệt công trường. Mỗi trường Bưu điện chúng tôi nhiều nữ nhất. Trường Bách khoa, Tổng hợp, Kiến trúc, Thủy lợi v.v… chủ yếu là nam, nữ chỉ có vài người. Nhờ tiếng hát hò, chúng tôi quên hết mệt nhọc, trong lòng hừng hực khí thế thi đua vượt mức quy định, giành cờ Quyết Thắng. Gương mặt người nào cũng rạng rỡ niềm vui lao động.

Hết giờ lao động buổi chiều, chúng tôi phấn khởi nhìn thông báo trên bảng đen, trường nào cũng đào vượt khối đất đã quy định. Mọi người bàn tán:

- Sau ba tháng lao động, đội đào đất nào cũng vượt mức ngang nhau, thì ai nhất ai nhì? Khó phân xử.

- Khó gì. Tất cả các trường đều được tặng cờ Quyết Thắng.

- Hoan hô!...

Tôi đang vỗ tay thì máu cam ở mũi ồng ộc chảy xuống ngực. Tôi vội vụm bàn tay hứng, ngồi thụp xuống. Mọi người cuống lên bảo đưa tôi vào phòng y tế của công trường. Chị Nhũ bế thốc tôi lên chạy. Vào đến phòng y tế, y sĩ, y tá lấy vi-ta-min K tiêm cho tôi ngay. Họ nút bông vào mũi tôi, nhưng máu cam vẫn thấm qua bông chảy ra ngoài. Anh y sĩ và anh y tá hỏi tôi:

- Em đã bị chảy máu cam bao giờ chưa?

- Em bị chảy máu cam từ năm em bảy tuổi.

- Chết, từ bấy đến giờ, em có hay bị chảy máu cam nữa không?

- Có. Cứ mỗi khi em đi bắt cua, đào cáy trưa nắng về là em bị chảy máu cam. Em nút giẻ vào mũi, nó vẫn chảy thấm qua giẻ ra ngoài, chán nó thôi.

- Bố mẹ không cho em đến bệnh viện huyện chữa bệnh à?

- Không. Em mồ côi…

Chị Nhũ thì thầm với anh y sĩ. Anh thở dài:

- Tội nghiệp! Chị cứ để em Tân ở đây chúng tôi theo dõi, nếu không có diễn biến gì, tôi cho về.

Chị Nhũ bảo tôi:

- Em thấy trong người thế nào? Có sao không?

- Em không sao đâu. Em vẫn hay chảy máu cam như thế. Em chỉ nghỉ một lúc lại đi làm bình thường. Hồi ở quê, em bắt cáy ở nông trường Rạng Đông, em bị chảy máu cam. Anh y sĩ nông trường cũng tiêm vi-ta-min K cho em, nó vẫn không cầm. Anh ấy bảo bệnh chảy máu cam của em bó tay.

Mọi người cười trong nước mắt. Chị Nhũ nói:

- Con bé khổ cực quen rồi. Nó quen với bệnh chảy máu cam. Em ở đây nghỉ ngơi. Chị về đem cơm cho em.

- Ơ không, em về với chị. Em không sao đâu.

Tôi bước xuống giường đi theo chị Nhũ về, mặc cho anh y sĩ ngăn cản. Trong phòng, các chị đã ăn xong cơm lên giường ngủ. Còn phần hai chị em vẫn ở mâm, đậy nón. Hai chị em lặng lẽ ăn cơm. Tôi cố gắng ăn hết hai bát cơm để sáng mai đi lao động.

Tôi vẫn thức giấc sớm theo thói quen, nhưng không dám ra ngoài tập thể dục. Đầu tôi đau, tôi thấy mệt. Tôi lo lắng. Mình phải cố gắng, không lao động tốt, bị đuổi về nhà thì khổ. Mình có nhà đâu mà về?... Tôi bóp đầu, day hai thái dương cho đến lúc kẻng báo thức công trường.

Sáng dậy, các chị xúm lại hỏi tôi có mệt không? Lúc mọi người đang ăn cơm để đi làm, anh lớp trưởng đến bảo tôi:

- Bé Tân hôm nay nghỉ ở nhà. Giấy của y sĩ công trường đây. Em đổ máu cam mất nhiều máu, y sĩ cho em nghỉ ba ngày và…

- Ơ em đi làm được, em không nghỉ đâu. Việc chảy máu cam của em là thường ấy mà. Ở nhà, em xay thóc mậu dịch lấy cám, em vẫn chảy máu cam. Nghỉ một lúc, em lại xay lúa được.

Mắt anh Lành đỏ hoe. Anh quát:

- Em không được chống lệnh y tế. Em ở nhà nghỉ hôm nay đã.

Tôi khóc hu hu:

- Em không ở nhà. Em nghỉ lao động, em bị… bị đuổi học hi hi!...

- Tinh thần lao động của em rất tốt. Toàn công trường ai cũng khen em bé như cây sậy, mà đội đất giỏi như người to cao gấp mấy em…

Mọi người đi làm, tôi lặng lẽ chờ các anh chị đi một đoạn rồi theo sau. Phát hiện ra tôi, anh Lành, chị Nhũ quay lại. Chị Nhũ bảo:

- Em Tân nghỉ đi, trông em xanh lắm. Bệnh của em nguy hại đến sức khỏe. Chị và anh Lành đang bàn tính chuyển việc cho em làm gì nhẹ hơn. Em cứ đội đất nặng quá sức, máu cam lại chảy, nguy hiểm tính mạng. Tinh thần yêu lao động của em rất tốt. Nghe chị, em về nằm nghỉ đi.

Tôi sụt sùi, đành quay về lán nằm dài. Chỉ một lát tôi chán ngán, dậy đi loanh quanh. Thấy nhà bếp nấu nướng tất bật, tôi xà vào thái bí đỏ với các chị cấp dưỡng. Một chị bảo tôi:

- Em ngồi chơi thôi, đừng làm kẻo chảy máu cam.

- Em hết máu cam rồi. Phải lâu lâu nữa nó mới chảy. Không làm gì, em buồn chán lắm.

Công việc bận rộn, chẳng ai còn để ý ngăn cản tôi nữa. Thái bí xong, tôi bưng từng rổ đem vào cho chị nấu canh. Khi chia cơm canh cho các lán, tôi bưng mâm cơm của lán tôi về làm hai chuyến. Các chị cấp dưỡng nhìn tôi thì thầm vẻ cảm tình.

Khi chúng tôi đang ăn cơm trưa thì lớp trưởng đến.

- Hoan hô em Tân nhé!... Các chị nhà bếp khen em lắm: “Con bé làm nhanh, sạch sẽ, gọn gàng”.

Mọi người ngớ ra cười, nhìn tôi. Anh Lành nói tiếp:

- Bé Tân tự xuống nhà bếp thái rau, làm với các chị cấp dưỡng. Mấy chị xung phong vào lớp ta lao động thay bé Tân, đổi bé Tân về làm ở nhà bếp cho phù hợp sức yếu. Tân đồng ý không?

Chị Nhũ:

- Hay quá rồi. Em Tân không đồng ý không được. Y tế công trường đề nghị sức em yếu, không làm được việc đào vác đất.

- Thế em có được chứng nhận lao động tốt không?

- Có chứ! Thế nhá! Trong ba ngày y tế cho nghỉ, em thích thì cứ vào nhà bếp làm với các chị.

Ngày hôm sau, thấy tôi vào nhà bếp, mấy chị tranh nhau thay tôi ra công trường đào đất với lớp 5E của tôi.

Sau ba tháng lao động, lớp tôi và nhiều lớp trường khác được nhận cờ thi đua Quyết Thắng. Ai cũng khen tôi béo lên nhiều. Má tôi bầu bĩnh, che bớt cái “trán giô” mà chị Tuyết hay gọi tôi: “Tân trán giô”.

 

                                      *       *

                                           *

 

 

 

 

 

Chương 3

 

Từ công trình thủy điện Thác Bà về trường, chúng tôi đem theo ít củ sắn làm quà. Tối, chị Nhũ và tôi mượn nhà bếp cái nồi thật to luộc sắn. Tôi bưng đĩa sắn to tướng bốc hơi ngùn ngụt đến lớp anh Tiến. Các anh reo lên:

- Ơ em Tân! Em nhớn hẳn lên. Trông em ra dáng thiếu nữ rồi!

Bây giờ là những ngày đầu tháng 1 – 1962, lớp tôi học văn hóa. Thầy chủ nhiệm bảo chúng tôi chỉ học ba môn: toán, lý, văn hết chương trình cấp ba và một phần toán lý của đại học. Lớp 5E của tôi học khoa bưu chính. Nghe thầy phổ biến, tôi buồn xỉu. Mơ ước tôi vào ngành bưu điện học khoa vô tuyến. Tôi thích vô tuyến để sửa chữa đài, tự lắp cái đài nhỏ nghe đài tiếng nói Việt Nam, biết thời sự trong nước và thế giới. Chị Nhũ động viên tôi:

- Em học đánh moóc cho giỏi. Mắt em tinh, tai em thính, học xong có khi em được vào bộ đội thông tin, ra chiến trường đánh Mỹ. Hai chị em mình thi đua học giỏi, cùng vào bộ đội đánh Mỹ cho vui.

Anh Lại Xuân Tiến cũng gặp tôi động viên:

- Em phấn đấu học giỏi, sau này ra công tác, em tiếp tục học khoa vô tuyến, khó gì đâu. Học suốt đời em ạ.

- Nhưng em muốn ngay từ giờ học vô tuyến cơ. Em cứ tưởng ba em cho học lên đại học, em vào khoa chế tạo máy để em chế tạo ra máy cày cho nông dân đỡ vất vả dắt trâu cày ruộng. Ba em nghe dì ghẻ đuổi em ra khỏi nhà, em không thực hiện được ước mơ. Em tưởng em làm bài điểm toán lý cao nhất thì nhà trường xếp cho em học vô tuyến mới đúng.

- Khoa vô tuyến chỉ có nam, không có nữ.

- Sao vô lý thế anh? Hay em lên gặp thầy hiệu trưởng xin vào học khoa vô tuyến?

- Theo anh, em cứ chấp hành phân công của nhà trường. Em đòi chuyển từ bưu chính sang vô tuyến, anh sợ nhà trường xem xét lại, phát hiện việc em khai tăng tuổi đi học thì em bị đuổi về. Em ở đâu, làm gì để sống? Nay em đã ổn định học ở trường. Em được học bổng toàn phần 22 đồng một tháng. Tính em cần kiệm, mỗi tháng cũng để dành được ít tiền, nhỡ khi cần…

Nghe lời anh Tiến, tôi yên tâm học tập. Chỉ hai tuần học văn hóa, thầy giáo dạy toán, lý đã quý mến tôi. Giờ học hai môn toán, lý hầu như chỉ có tôi giơ tay phát biểu, trả lời những câu hỏi của thầy. Cũng chỉ có tôi lên giải trình những bài toán khó. Không ngờ chị Tuyết học toán, lý còn kém hơn cả chị Nhũ. Tối nào chị Tuyết cũng nhờ tôi giảng giải những bài toán, lý thầy ra làm bài tập trong sách. Chị không còn lườm nguýt tôi như xưa. Giọng chị Tuyết nhẹ như hơi thở, ngọt ngào hấp dẫn mỗi khi đến bên tôi: “Em Nhật Tân, em giảng giải cho chị bài toán này với!...” Sau mỗi lần tôi hướng dẫn chị Tuyết làm bài toán tập, chị lại cho tôi chơi búp bê. Chị có con búp bê to bằng cái phích, biết nhắm mắt khi đặt nằm. Chị bảo búp bê Liên Xô. Chị có ông chú họ làm việc trong đại sứ của Việt Nam ở Liên Xô, Năm ngoái ông về phép, tặng chị con búp bê. Tôi thích thú ru búp bê ngủ. Nhiều hôm tôi ôm búp bê ngủ đến sáng. Ba năm học cấp hai tôi mải câu cáy bắt cua kiếm sống, không có lúc nào nghĩ đến vui chơi. Việc tôi hướng dẫn chị Tuyết làm toán đã gây được cảm tình của chị. Giờ tôi thấy chị Tuyết đáng yêu thế. Răng chị trắng đều tăm tắp. Mỗi khi chị đến giường hỏi bài tôi, miệng chị xinh như bông hoa hồng. Môi chị lúc nào cũng đỏ như cánh hồng nhung. Các chị ở lớp cứ gọi chị Tuyết là “Tuyết Tây đen”. Nhưng tôi thấy chị đen giòn, xinh mỗi khi chị cười với tôi. Tôi phấn khởi từ nay chị Tuyết quý mến tôi, không còn gọi tôi “Tân trán giô” nữa. Chị thường gọi tôi “Bé Tân” như các anh chị trong lớp.

Gần Tết Nguyên Đán năm 1962 tôi nhận thư bạn Hạt ở chợ Quỹ nói ba tôi ốm. Dì ghẻ và đứa con riêng bà ta ăn cắp mấy bộ tông đơ cắt tóc dự trữ của ba tôi cuốn xéo. Bạn Hạt và bà con hàng xóm sang nấu cháo cho ba tôi. Đọc thư bạn Hạt nước mắt tôi trào ra ướt vạt áo. Chị Nhũ, chị Tuyết đến bên cầm thư đọc. Các chị thương tôi cũng ứa nước mắt. Chị Tuyết nghẹn lời:

- Giờ chị mới biết hoàn cảnh bé Tân khổ thế! Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng. Trong dân gian vẫn nói thế.

Chị Nhũ gạt nước mắt:

- Sao đời em khổ thế? Em khổ từ bé đến giờ vẫn chưa hết khổ. Chị thương em…

- Chị ơi, em phải về chăm ba em. Một mình không ai chăm, ba em chết mất. Em mồ côi cả cha mẹ khổ lắm!...

- Để chị bàn với anh Tiến xem đã. Các anh chị nghĩ cho em cách nào hay nhất để em vẫn chăm ba, vẫn tiếp tục học.

Giờ nghỉ trưa, tôi và chị Nhũ gặp anh Tiến. Ba anh em đi bộ ra thị xã Hà Đông, vào mậu dịch ăn chè đỗ đen nóng hổi. Tôi lặng lẽ ăn chè thơm ngon, để chị Nhũ và anh Tiến trao đổi nho nhỏ với nhau. Khi đứng lên ra về, anh Tiến bảo tôi:

- Em Tân, anh và chị Nhũ đã tính kỹ rồi. Em đang học tập thuận lợi. Việc chăm cha mẹ là người con có hiếu, cần làm. Bạn Hạt nói bà con hàng xóm hàng ngày vẫn sang nấu cháo giúp đỡ ba. Vậy ta cứ thư vài ngày nữa, anh Doãn anh về quê sẽ đến thăm ba em. Lúc ấy tình hình bệnh tật ba em thế nào, anh em mình lo tiếp. Anh Doãn là y sĩ, sẽ biết được bệnh ba em nặng hay nhẹ…

Chiều hôm ấy tôi ngồi học không yên, trong lòng cồn cào nghĩ thương cha ốm. Cuối buổi học, thầy giáo chủ nhiệm gọi:

- Em Tân!

Tôi giật mình đứng lên sợ hãi, mặt đỏ bừng.

- Từ nay, buổi học chiều phụ đạo hai môn toán, lý, thầy giao việc cho em. Em hướng dẫn cả lớp làm những bài tập toán, bài tập vật lý. Thầy dạy toán và vật lý nói em thuộc lòng các công thức, các định lý, quy tắc giải toán. Em áp dụng linh hoạt các phương pháp giải những bài toán khó, không có trong sách giáo khoa mà hai thầy đã thử trí thông minh của em.

Cả lớp nổ một tràng pháo tay. Tôi sợ run lên:

- Thưa thầy, em không biết dạy đâu ạ.

Cả lớp cười ồ. Thầy chủ nhiệm bảo tôi:

- Em giảng giải những bài tập ở nhà cho các anh chị như thế nào, thì ở lớp em cũng nói như thế, có khác gì nhau?... Vậy nhé! Em bắt đầu phụ đạo toán, lý lớp ta từ buổi học chiều mai.

Tan học về phòng nghỉ, tôi nghe các anh chị thì thầm với nhau:

- Con bé chăm ngoan thế, tại sao ba năm học cấp hai không được kết nạp vào Đoàn thanh niên lao động nhỉ?

- Ờ, cũng lạ, một thanh niên học giỏi, lao động tốt lại chưa phải là Đoàn viên. Hay nó có phốt gì chăng?

 - Chúng mình đề nghị với Bí thư chi đoàn cho bé Tân vào diện cảm tình đi…

Vào một tối, tôi đang hướng dẫn mấy chị làm toán tập, anh Tiến gọi tôi ra ngoài. Hai anh em ra cổng trường đã thấy anh Doãn dắt xe đạp đứng chờ. Vừa đi, anh Doãn vừa kể chuyện về quê, đến thăm ba tôi như thế nào. Anh đã khám bệnh cho ba tôi. Ba tôi bệnh phổi, bệnh thận nặng lắm. Anh kết luận:

- Ba em bị giặc Pháp bắt tù tra tấn dã man. Nói chung cán bộ Viêt Minh hoạt động nội thành như ba em, ai cũng bị giặc dùng mọi cực hình tra tấn, bắt khai bí mật cơ sở. Hòa bình ra tù, chẳng ai được chữa bệnh nên càng ngày bệnh càng nặng. Ba em… Anh bàn với anh Tiến viết cho em cái đơn xin phép về thăm bố ốm nặng có một mình. Anh bảo chú Thành em họ anh, cầu thủ bóng đá đội Thể Công đèo em về thăm ba bằng xe đạp của anh đây. Chú ấy có đôi chân khỏe, đèo em từ Hà Nội về quê chỉ sáng sớm đến chiều tới nhà. Em phải về ngay kẻo không kịp gặp ba. Em xếp hàng ba ngày chưa chắc mua được vé ô tô.

Tôi òa khóc. Hai anh dỗ tôi:

- Em nín đi, giữa đường khóc xấu hổ!...

- Anh em mình vào mậu dịch ăn chè đỗ đen nóng cho ấm bụng.

- Em không ăn, tốn tiền.

- Tốn gì, có một hào một cốc chè to tướng ăn no, khỏe người.

Ngồi ăn chè, nước mắt tôi vẫn lã chã. Anh Doãn bảo:

- Ba năm nữa em ra công tác thành người lớn rồi. Em dũng cảm lên, tập làm người lớn từ giờ đi. Người lớn, gặp khó khăn không hoảng sợ, không khóc, bình tĩnh giải quyết sẽ được việc. Em khóc nó lú hết trí khôn đi. Ngày mai em trình đơn ban Giám hiệu, ngày kia là em về gặp ba rồi. Ba em còn dặn anh đừng nói chuyện ốm cho em biết, để không ảnh hưởng đến việc học của em. Ba em thương em lắm!...

                                      *       *

                                           *

 

Mọi kế hoạch anh em anh Tiến nghĩ cho tôi đều kết quả. Tôi được nhà trường đồng ý cho về thăm cha một tuần. Buổi sáng tôi vẫn lên lớp học, chiều tôi vẫn phụ đạo hai môn toán, lý cho lớp như thường lệ. Tối, tôi sắp xếp áo quần vào tay nải để sáng mai anh Thành đến sớm đèo tôi về quê. Anh Lành lớp trưởng dúi vào tay tôi nắm tiền:

- Đây là ít tiền của các anh chị trong lớp ủng hộ em về mua thuốc cho cha.

Tôi dãy nảy rụt tay vào:

- Em không lấy đâu. Em được học bổng toàn phần, mỗi tháng em vẫn để dành được 5 đồng. Em còn gần một trăm đồng tiền nhà trường trả lại hôm nhập học, chưa có học bổng. Tổng cộng, em có hơn 100 đồng, đủ mua thuốc cho cha em.

Chị Nhũ đến nói:

- Anh Lành đưa tôi cầm hộ em Tân. Tôi gói tiền trong bọc quần áo cho cẩn thận. Em nhận tình cảm của cả lớp cho các anh chị vui. Riêng chị, chị cho em 1 đồng nữa. Chị kết nghĩa chị em với em, chị góp tiền thuốc cho cha.

Chị Nhũ đang cuộn tiền vào giữa bộ áo quần của tôi thì anh Tiến đến.

- Em Tân, anh Doãn cho em 5 đồng. Anh cho em 1 đồng, em về mua thuốc chữa bệnh cho cha. Em cất tiền cẩn thận kẻo đi đường đánh rơi. Sáng mai 6 giờ anh Thành đến đây. Anh mua xôi cho hai anh em ăn rồi về quê. Anh mua thêm hai hào xôi, đến trưa hai anh em ăn. Chiều tối về nhà ăn cơm, các em không tốn tiền ăn hàng dọc đường…

Đêm hôm ấy tôi trăn trở nghĩ thương cha không ngủ được. Mẹ tôi ốm có tôi và cha tôi chăm đến lúc chết. Còn cha chỉ có một mình. Hàng xóm vẫn nói dì ghẻ tôi là gái giang hồ, cốt bám lấy cha tôi để ăn. Mang tiếng mua móng giò về nấu cháo đỗ đen cho cha tôi thì mụ ăn phần nhiều. Nước mắt tôi chảy ướt đầm gối. Sáng dậy, chị Nhũ đến bên tôi ôm chặt tôi nấc lên:

- Khổ thân em, đêm qua chắc em không ngủ, trông em phờ phạc. Chắc ba không làm sao đâu. Em ngồi sau xe phải bám sau yên xe cho chắc, kẻo ngã em nhá. Đường xa gần hai trăm cây số, em chưa ngồi xe đạp đèo bao giờ, tê chân đau đít lắm. Cố gắng chịu đựng về với ba em nhá!...

Hơn sáu giờ tôi và anh Thành lên xe. May chị Nhũ căn dặn tôi ngồi xe cẩn thận, không thì tôi đã ngã. Anh Thành đạp xe nhanh. Tôi nhìn nhà bên đường chạy vun vút về phía sau đến chóng mặt. Tôi định nói anh đi chậm lại, nhưng sợ “không kịp về gặp ba” như anh Doãn nói. Tôi thắc mắc trong đầu: ba tôi đi đâu mà tôi “không kịp gặp”, nhưng tôi không dám hỏi anh Doãn.

Nghe tiếng còi tàu hỏa, tôi nhìn lên: “Ga Thường Tín”. Xe bò kéo gạch trước mặt tôi ì ạch. Anh Thành đạp xe vun vút vượt bên phải, chân tôi đập vào bánh xe bò, vạt áo tôi vướng vào chân chống xe đạp. Tôi bị kéo lê trên đường một đoạn. Mắt tôi nảy đom đóm. Tôi nghe tiếng quát:

- Anh đi xe đạp Thống Nhất đứng lại! Con bé ngã mà không biết. Ới anh đi xe đạp Thống Nhất!...

Có ai bế tôi vào quán nước. Họ lau mặt, rửa đầu gối cho tôi. Tôi thấy đau rát má phải, nhức nhối mắt phải và đầu gối. Tôi cố mở mắt không nhìn thấy gì, mãi sau mắt trái tôi mới nhìn thấy anh Thành lờ mờ. Anh hỏi tôi:

- Em Tân thấy trong người thế nào?

- Em đau đầu, đau đầu gối lắm.

- Hay anh đèo em về trường Bưu điện, chữa khỏi vết thương rồi hãy về thăm ba em?

Tôi nhỏm dậy:

- Ơ không! Anh đèo em về thăm ba em đi.

Tôi tụt từ giường xuống đất đau nhói đầu gối, bước đi tập tễnh. Bà bán nước nói:

- Mặt cháu xưng vù, mắt phải húp híp bầm tím thế kia, đầu gối cháu máu còn chảy thấm đỏ băng, không đi được đâu.

- Bà ơi cháu phải về với cha cháu!... Cháu chịu đựng đau quen rồi. Cái gì làm cháu đau, cháu coi như không đau.

Bà chủ quán bật cười:

- Con bé này nói hay thật, chịu đau quen rồi, lần đầu trong đời bà nghe một đứa trẻ nói thế.

Anh Thành nói:

- Hoàn cảnh em khổ từ bé bà ạ, chuyện dài lắm. Xin phép bà, cảm ơn bà rất nhiều. Cháu cũng là người ngoài, nhưng thấy em là đứa bé chăm ngoan, có hiếu với cha mẹ cháu giúp em.

- Nhưng anh đi cẩn thận đấy nhá. Anh muốn vượt xe gì nhớ vượt bên trái, thì em mới không bị ngã.

Bà cụ đỡ tôi ngồi sau xe, bảo tôi bám chặt áo bên sườn anh Thành cho chắc. Anh Thành đạp xe từ từ. Anh bảo:

- Anh đạp vừa thôi, kẻo xe sóc em đau. Em đỡ đau đầu chưa? Mắt phải em nhìn thấy chưa? Anh ân hận quá, thiếu cẩn thận anh làm em khổ thêm. Nhìn hai vết thương ở mặt, ở đầu gối chân phải em, anh biết em đau lắm. Em là đứa bé có nghị lực lắm. Anh Doãn kể về em, anh biết cả rồi. Anh thương em nên mới đèo em về thăm cha. Đội bóng đá Thể Công của anh đang bận tập luyện để cuối năm đá giao hữu với đội Liên Xô ở sân vận động Hàng Đẫy. Anh phải nói dối mẹ anh ốm nặng, mới xin được nghỉ hai ngày.

Tôi lặng yên nghe anh Thành rủ rỉ nói chuyện. Những vết thương của tôi dịu dần, tôi cảm giác đỡ đau hơn. Cảm động trước lòng tốt của anh Thành, tôi nghĩ phải cố gắng chịu đau. Về nhà, nếu ba hỏi các vết thương, nói dối ba mình không đau, vui vẻ chăm ba chóng khỏi bệnh…

- Anh đèo em về đến nhà là anh đi ngay đấy nhá. Anh tranh thủ về thăm bố mẹ ở Nghĩa Hồng. Em về chơi nhà anh Doãn, anh Tiến bao giờ chưa?... Chưa à!... Ờ, làm gì có thời gian mà đi chơi được. Thế à? Hai anh hồi trước nghỉ hè vẫn về nhà em chơi à?... Ừ, anh Doãn, anh Tiến thương em lắm. Anh cũng thương em. Em đói khổ mà sao học giỏi thế?...

 

                                      *       *

                                           *

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 4

 

Chúng tôi về Nam Định gần một giờ chiều, anh Thành bảo tôi vào quán nước ăn xôi, uống nước. Lúc này tôi nhai mới thấy đau xương hàm bên phải. Tôi sờ tay lên má bì bì sưng đau. Anh Thành hỏi:

- Em có đau lắm không? Anh để em ngã, anh ân hận quá! Giúp em lại hóa làm em khổ thêm…

- Lúc nãy đi đường em mải nghĩ về cha ốm một mình, em thương ba em không thấy đau. Giờ em mới thấy đau một ít.

- Em nói dối cho anh đỡ buồn chứ gì?

- Em nói thật. Từ bé em chịu đau quen rồi. Cha em nổi tiếng dữ đòn ở chợ Quỹ. Hễ cha mẹ em tức nhau lôi em ra đánh: “Cho mày chết đi…” Em quen bị đánh nhiều nên chẳng thấy đau gì. Hàng xóm bảo cha mẹ em giận cá chém thớt, nhưng em không thấy cha mẹ chém thớt bao giờ.

Bà cụ bán nước và anh Thành bật cười.

Tôi giục anh Thành:

- Anh ăn nốt chỗ xôi, uống nước rồi đi. Em nóng lòng về với cha em lắm. Em no rồi.

Anh Thành thở dài, mắt đỏ hoe. Bà cụ đưa cho tôi cốc nước chè xanh, uống vào thấy ngọt, tôi đưa anh Thành:

- Nước chè pha đường, anh uống cho khỏe đèo em về nhà.

- Anh cũng uống như em. Hai anh em mình cùng bồi dưỡng cốc nước chè xanh pha đường cho đỡ mệt.

Khi đi qua trường cấp hai Liễu Đề, học sinh đang tập thể dục giữa giờ chiều. Tôi nhận ra thầy Quân dạy thể dục đứng thổi còi. Người tôi nao nao nhớ về những kỷ niệm ba năm học ở Liễu Đề…

Tới cổng nhà, tôi nhảy xuống xe, chạy ào vào gọi:

- Ba ơi con về đây! Ba ơi!...

Cha tôi đưa bàn tay xanh xao nắm tay tôi, nói yếu ớt:

- Con làm sao mặt sưng vù như cái niêu đất thế này?

Anh Thành dựa xe ngoài sân vào nói chuyện với cha tôi. Tôi vơ đống quần áo của cha ở cuối giường đem ra bến sông ngâm nước. Tôi vào nhà thì anh Thành dắt xe ra cổng.

- Anh nói chuyện với ba em rồi. Ba thương em lắm, khen em là đứa con có hiếu. Anh tranh thủ về thăm bố mẹ ở Nghĩa Hồng, mai anh lên Hà Nội. Anh gặp anh Doãn anh Tiến nói lại mọi việc ở nhà em cho các anh biết.

Tôi vào hỏi cha:

- Ba ơi! Ba ăn gì để con nấu? Ngày hôm nay ai cho ba ăn?

Cha kéo tôi ngồi xuống giường:

- Con nghỉ tí đã. Khổ thân con. Giờ ba mới biết thương con thì muộn quá rồi!...

- Không muộn ba ạ. Ngày trước mẹ ốm con chăm, mẹ cũng bảo khi biết thương con thì muộn quá. Sao ba mẹ nói giống nhau thế? Ba mẹ thương con, không đánh đuổi con ra khỏi nhà là con sung sướng lắm. Từ nay con được ở trong nhà mình. Con không phải lang thang bắt cáy ở nhờ khắp nơi nữa. Con sướng rồi!...

Cha tôi vuốt mắt khóc. Lần thứ hai tôi thấy cha khóc, tôi thương cha quá. Lần đầu cha tôi khóc khi mẹ tôi chết, cha nói lời vĩnh biệt rồi khóc. Giờ cha lại khóc, vì sao?...

Cha tôi nói đứt quãng:

- Con còn ít tuổi, chưa hiểu ý cha nói. Khi nào con mười tám, hai mươi con sẽ hiểu. Cha ân hận vì đánh con ác quá, mà con chẳng có tội gì. Con chỉ là đứa con ngoan, chăm làm, học giỏi, yêu kính cha mẹ.

- Sắp tối rồi, con đi nấu cháo cho ba. Con cũng ăn cháo. Con nhai cơm đau mặt lắm.

Tôi vào buồng mở nắp vò gạo, khoắng tay không có một hạt. Tôi hỏi cha:

- Ba ơi nhà mình không còn gạo từ khi nào? Ba nhịn đói à?

- Bạn Hạt con, bà con hàng xóm vẫn đem cho ba bát cháo.

- Ba không còn tiền đong gạo à ba?...

Ba tôi lặng ngắt ứa nước mắt. Tôi nói ngay:

- Ba ơi, con được học bổng toàn phần hai mươi hai đồng một tháng. Con ăn cơm hết 15 đồng. Còn 7 đồng, tháng nào con nhịn ăn sáng, không phải mua nhiều sách vở, con tiết kiệm được năm sáu đồng. Hôm nay con mang về hơn một trăm đồng. Các anh chị trong lớp góp tiền cho, cộng với tiền con dành dụm hồi cất vó tép, bắt cáy ở Liễu Đề. Mai con đi chợ đong gạo, mua thịt về nấu cháo cho ba.

Tôi chạy ù sang nhà Hạt. Cả nhà bạn vừa đi làm đồng về. Hai chúng tôi ôm nhau òa khóc. Hạt xuýt xoa: “Trông đằng ấy xí gái đi!”. Tôi vay gạo Hạt về ngay, hẹn tối mai sang đọc kinh nói chuyện.

Nồi cháo sôi được một lúc tôi vùi than, ra bến sông giặt đống áo quần cho cha. Phơi xong áo quần, tôi cầm đèn dầu vào buồng thắp hương mẹ. Ban thờ mẹ đầy cứt gián, cứt chuột, không có một nén hương, lạnh ngắt. Ảnh mẹ, tôi đưa chị Tâm đem truyền hình năm 1961, chẳng hiểu chị truyền hình chưa? Lòng buồn thắt ruột, nước mắt tôi ứa ra. Tôi mở tủ áo quần, rỗng không. Những bộ vét tông của cha tôi, những tấm áo dài gấm, nhung của mẹ tôi đâu mất?... Chạn bát mốc trắng hôi xì. Tôi không dám hỏi ba, lặng lẽ đem mấy bát to đi rửa múc cháo.

Trưa hôm sau ăn cháo, cha tôi khen:

- Con hầm xương sườn rừ quá! Lâu lắm ba mới được ăn bát cháo sườn ngon.

Tôi mừng nói với cha:

- Ba ơi, ăn cơm xong, con lấy sách thuốc đọc những bài thuốc về bệnh phổi, bệnh thận, ba chọn bài thuốc nào hay, con chép vào giấy, sang Phát Diệm bốc thuốc cho ba uống khỏi bệnh ba ạ.

Cha nhìn tôi ngạc nhiên:

- Sao con biết ba bị bệnh phổi, bệnh thận?

Anh Doãn anh anh Tiến bảo khám bệnh cho ba, biết ba bị bệnh phổi, bệnh thận.

Cha tôi lặng ngắt húp bát cháo, chảy nước mắt.

 

                                      *       *

                                           *

 

Tôi sang Phát Diệm cắt thuốc bắc cho cha, về đến nhà đã tối từ lâu. Cha tôi bảo:

- Bạn Hạt con nấu hộ cháo. Nó đem cho ít củi gộc tre. Nồi cháo vẫn vùi tro nóng, con ăn đi, ba ăn rồi.

Tôi xuống bếp gầy củi nhóm lửa sắc thuốc cho cha, tranh thủ ăn cháo. Ấm thuốc sôi, tôi rút bớt củi, rắc trấu xung quanh bếp cho lửa cháy âm ỉ.

Ngồi bóp chân cho cha, tôi nói:

- Ba ơi, chân ba sưng to như chân voi. Con hái ngải cứu rang muối chườm cho ba, khỏi ngay ba ạ.

- Ai bảo thế?

- Ông Sơn chủ nhà con trọ học ở Liễu Đề ba ạ. Mấy lần con đi cất vó tôm đêm về, hai đầu gối con sưng đỏ, đau nhức. Ông Sơn bảo con hái ngải cứu rang với muối chườm. Con làm mấy lần như thế khỏi sưng đầu gối chân.

- Khổ thân con, con bị thấp khớp. Con đưa tay ba xem mạch nào… Con bị thấp khớp đớp tim rồi. Trơi ơi!... Ba ân hận quá, để con lội bùn bắt cua từ bảy tuổi lầm lũi. Về già con bị thấp khớp nặng, đau nhức xương lắm. Hai chân ba do bệnh phù thũng, không phải bệnh thấp khớp như con. Ngải cứu chườm không khỏi, ba phải uống thuốc bắc.

- Ba ơi, sao bụng ba to như bụng bà chửa thế?

- Cán bộ Việt Minh bị giặc Pháp bắt tù, tra tấn, ăn khổ thiếu chất, ai cũng bị bệnh gan, thận, phổi con ạ. Nước mình bị ngoại xâm triền miên, chưa bao giờ bình yên.

- Ba ơi ba, hay ba lên bệnh viện huyện chữa bệnh ba ạ.

- Tiền đâu mà vào bệnh viện hả con?

Tôi xuống bếp chắt thuốc ra bát bưng lên cho cha uống. Trong đầu tôi nghĩ: giờ sang nhà Hạt đọc kinh, gửi tiền bạn Hạt mai mua hộ sườn nấu cháo, sắc thuốc giúp. Tôi đi lên huyện thật sớm xin cho cha vào bệnh viện. Tôi giấu không cho cha biết. Tôi dặn bạn Hạt nếu cha hỏi tôi đi đâu thì nói không biết.

Bốn giờ sáng tiếng chuông nhà thờ binh boong gọi con chiên đi cầu nguyện, tôi bật dậy bốc nắm đậu đen, nắm gạo nấu cháo cho cha. Nồi cháo sôi, tôi vần xuống cạnh chân kiềng, đặt ấm thuốc lên. Ấm thuốc sôi, tôi vun trấu xung quanh bếp, lặng lẽ ra khỏi nhà. Sương trắng bay là là, con đường đất nhớp nháp. Chốc nữa bạn Hạt đi nhà thờ về sẽ múc cháo, chắt thuốc cho cha tôi.

Tôi đến bệnh viện Nghĩa Hưng mới chín giờ sáng. May mắn cho tôi gặp bác sĩ giám đốc bệnh viện vừa đi giao ban về. Tôi trình bày:

- Thưa bác sĩ, cha cháu là cán bộ Việt Minh nội thành bị giặc Pháp bắt tù tra tấn. Cha cháu bị bệnh phổi, gan, thận, bụng to như bụng bà chửa, chân to như chân voi. Cháu xin bác sĩ cho cha cháu vào bệnh viện chữa nợ tiền thuốc. Hai năm nữa cháu học xong trung cấp điện báo ra công tác, cháu có tiền lương trả bệnh viện ạ.

Bác sĩ giám đốc bệnh viện cười bảo tôi:

- Không được cháu ạ. Cha cháu bảo cháu đến nói với bác à? Hay ai?

- Thưa bác, không ai bảo ạ, tự cháu nghĩ cháu đi từ bốn giờ sáng lên đây nói bác cứu cha cháu.

- Mẹ cháu đâu? Cháu có anh chị không?

- Thưa bác, mẹ cháu mất ba năm nay ạ. Cháu có ba anh, hai chị, một chị lấy chồng, một chị mới ra dạy học ở huyện Hải Hậu ạ. Các chị ấy với cháu là người dưng ạ.

Bác sĩ bật cười:

- Cháu nói gì lạ vậy? Chị cháu có cùng mẹ cháu đẻ ra không?

- Có ạ. Nhưng bố các chị bỏ mẹ cháu đi lấy vợ khác. Cha cháu lấy mẹ cháu nên các chị bảo cháu là người dưng không thương cháu, ghét cha cháu ạ.

Bác sĩ chau mày thở dài:

- À!... Hoàn cảnh cháu éo le nhỉ… Bác rất thương cháu. Cháu ít tuổi mà có hiếu với cha mẹ quá. Nhưng quy định của bệnh viện, ai vào chữa bệnh phải trả ngay tiền thuốc cháu ạ.

Nước mắt tôi tuôn như suối. Bác sĩ cũng lấy khăn mùi xoa trong túi áo thấm mắt.

- Bác thương cháu quá, nhưng không thể nhận chữa bệnh cho cha cháu không có tiền được. Bệnh cha cháu nặng lắm, có chữa cũng… Bác cho cháu năm hào về mua thịt nạc nấu cháo cho cha.

- Bác sĩ – Một thanh niên chạy vào phòng – Thưa bác sĩ, có bệnh nhân cấp cứu ạ!...

- Chia tay cháu nhé! Cháu về nhà kẻo cha mong.

Nước mắt tôi chảy ròng, mắt hoa, tai ù ù như xay lúa đi ra khỏi bệnh viện huyện. Chợt tôi nhớ đến ông Chủ tịch huyện Nguyễn Văn Khoan, hàng năm ông trao phần thưởng cho tôi vào ngày tổng kết năm học. Từ đây lên ủy ban huyện chưa đầy hai cây số, mình thử đến gặp bác Khoan nói bác giúp đỡ cho cha vào bệnh viện…

Nghe tôi trình bày, Chủ tịch Nguyễn Văn Khoan nắm cổ tay tôi:

- Bác thương cha cháu, thương cháu lắm! Bác biết cha cháu hoạt động bí mật nội thành. Hoạt động bí mật không ai biết ai làm gì, chỉ một thủ trưởng biết và phân công nhiệm vụ. Thủ trưởng hy sinh là đồng đội chịu, có ai biết ai được giao nhiệm vụ gì đâu. Cha cháu và chú Sơn anh em kết nghĩa trong tù, rủ nhau về quê chú Sơn ở Nghĩa Hòa. Cái đận cải cách… rõ khổ… Cha cháu và chú Sơn bất mãn, không sinh hoạt đảng nữa, thiệt thòi.

Ông Khoan sụt sùi.

- Bác ơi, bác nói bác sĩ giám đốc bệnh viện huyện cho cha cháu được chữa bệnh nợ tiền được không?

- Không được cháu ạ, nguyên tắc tài chính. Chỉ có cách… giờ bác đèo cháu xuống bệnh viện huyện.

Gặp bác sĩ giám đốc, bác Khoan nói:

- Bé Tân đây là học sinh giỏi của huyện ta ba năm cấp hai. Năm 1961 cháu Tân lên tỉnh thi học sinh giỏi toán lý, đoạt giải nhất toàn tỉnh. Cháu hoàn cảnh gia đình khổ, nhưng là đứa bé chăm ngoan, học giỏi. Bác sĩ nghe cháu kể bệnh của cha, kê đơn, cấp thuốc theo tiêu chuẩn của tôi, Chủ tịch huyện. Cha cháu là cán bộ hoạt động nội thành, bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man, anh kết nghĩa với ông Sơn ở chợ Quỹ. Anh bà con với ông Sơn thì thấu hiểu. Ông Sơn chết rồi. Hoàn cảnh này nên giúp, cần giúp bác sĩ ạ.

- Vâng! Thưa Chủ tịch huyện, bác linh hoạt giải quyết trường hợp đặc biệt này chính đáng ạ.

Hai người bảo tôi ngồi chờ, đi ra ngoài một lúc quay lại. Đưa cho tôi gói giấy, bác sĩ bảo:

- Cháu đem thuốc về cho cha uống. Bác kê đơn thuốc, liều uống có đủ trong đơn. Cháu đọc cho cha cháu nghe nhé!

- Nhưng hôm qua cháu sang Phát Diện cắt ba chén thuốc bắc, cha cháu uống hôm nay mới hết một chén. Cha cháu bảo may ra uống thuốc bắc thuốc nam sẽ đỡ bệnh.

Bác Khoan reo lên:

- A, ở huyện Hải Hậu có ông lang gia truyền chữa bệnh hay lắm. Nhưng nhà cháu không có tiền thì chịu.

Tôi cảm ơn bác Khoan Chủ tịch huyện và bác sĩ ra về.

Đang cắm đầu đi trên con đê sông Ninh, tôi nghe tiếng ai gọi phía sau:

- Bé Tân! Bé Tân đứng lại!

Anh thanh niên mặc áo blu trắng vẫy tôi. Đến nơi anh bảo:

- Bác Khoan Chủ tịch huyện đưa xe đạp bảo anh đèo em về đến nhà thờ Lạc Đạo, đỡ cho em đoạn đường đi bộ. Em đi bộ giỏi thế. Hơn hai chục cây số từ chợ Quỹ lên huyện. Em đi từ mấy giờ đêm mà chín giờ em đã đến bệnh viện?

- Bốn giờ chuông nhà thờ gọi con chiên đi lễ em dậy, nấu cháo, sắc thuốc cho cha xong em mới đi.

 - Bác Khoan bảo có khi từ sáng đến giờ, em chưa có gì cho vào bụng. Chắc em chưa ăn phải không?

- Vâng! Ơ, sắp đến nhà thờ Lạc Đạo rồi kìa anh.

- Em cứ ngồi yên, anh đèo đến cầu xã Nghĩa Phong.

Anh y tá đèo tôi đến chợ Lạc Đạo, quá trưa vẫn còn lưa thưa mấy bà hàng xén, mấy hàng bánh đa bánh đúc. Anh dừng xe bảo:

- Anh em mình vào ăn bánh đúc. Anh đói lắm.

Từ ngày tôi đi học ở Hà Nội, không ăn bánh đúc, nay về quê ăn bánh đúc mắm tôm ngon tuyệt. Tôi ăn hai bát bánh đúc no căng bụng. Anh y tá ăn ba bát. Năm bát bánh đúc có một hào, rẻ ơi là rẻ. Giá ở cổng trường Bưu điện Hà Nội có hàng bánh đúc thế này thì tôi ăn mỗi ngày một hào, tiết kiệm được nhiều tiền gửi về cho cha uống thuốc…

Hơn năm giờ chiều tôi về đến nhà. Thấy cha ngồi tựa lưng vào tường, tôi mừng reo lên:

- Ơ, ba ngồi được rồi à ba? Ai đỡ ba dậy?

- Anh Thắng nhà bạn Hạt. Con đi đâu từ sớm đến giờ?

Tôi kể chuyện lên bệnh viện huyện, mở gói thuốc, đọc đơn thuốc cho cha nghe. Trầm ngâm một lúc cha tôi nói:

- Con cả nghĩ, chịu khó, định làm gì con làm bằng được. Con là con trai thì phải. Lúc sắp ra đi, mẹ thường nói với ba con là đứa con có hiếu nhất nhà. Mỗi con út chăm mẹ giường cứt chiếu đái. Cha mẹ tức nhau lôi con ra đánh ác quá, cốt đánh cho con chết để mỗi người một ngả. Mẹ con mê muội ông chồng Thái bạc bẽo. Ông ta đã bỏ mẹ con, đi lấy mấy vợ khác rồi. Ba giai tân lấy nạ dòng, mẹ vẫn ghét bỏ cha con mình. Cha uất quá mất khôn đánh con đau, đày đọa con – Cha ôm mặt khóc.

- Ba ơi, hàng xóm nói ba đẹp trai giai tân, sao lại lấy nạ dòng hả ba?

- Vì ba hoạt động nội thành. Ba lấy bà chồng bỏ, có con thì địch nó không để ý. Nó cho ba là thanh niên lẩn thẩn mới lấy bà bốn con chứ. Ba bị bắt, đồng đội hy sinh là có kẻ phản bội. Như cụ Đề Thám bị hai tên phản bội chặt đầu nộp giặc Pháp lấy tiền thưởng ấy con ạ. Giặc tra tấn ba và chú Sơn trong tù dã man lắm. Ba dạy võ chú Sơn đỡ đòn giặc, không thì hai người chết trong tù rồi.

- Ba ơi con rót cốc nước cho ba uống thuốc bệnh viện.

- Để ba uống hết thuốc bắc, nghỉ một ngày mới uống thuốc tây. Một lúc uống hai loại thuốc khác nhau nguy hiểm chết người. Bệnh viện cho ba toàn thuốc bổ.

Bác Cống bưu điện vào nhà tôi:

- Cháu Trần Thị Nhật Tân có thư này.

Cầm phong thư tôi mừng rỡ khoe với ba:

- Chị Nhũ kết nghĩa chị em với con gửi thư ba ạ.

- Con mở thư đọc cho ba nghe.

Tôi cẩn thận lấy kéo cắt mép đầu thư rút ra cái ruột dày cộm. Mở ra hai tờ giấy trắng mới thấy lá thư gấp làm tư ở giữa, tôi reo lên:

- Ơ, có năm hào chị Nhũ kẹp trong thư ba ạ.

- Con đọc thư chị đi.

 

                                Hà Nội ngày 23 tháng Chạp năm 1961.

Em Tân thương nhớ!

Nhà trường cho phép em về thăm cha một tuần. Đã hai tuần chưa thấy em lên học. Sắp nghỉ Tết. Hôm nay ông Táo lên trời, em đã mua gì cúng chưa? Trong lớp ai cũng thương em, nhớ em, mong em lên phụ đạo toán lý cho lớp. Chị Tuyết không có em kèm toán, bị điểm kém lắm, nhắc đến em luôn. Một trăm phần trăm đoàn viên họp chi đoàn, đồng ý đưa em vào diện cảm tình. Em vui lên nhé! Nghỉ Tết xong em lên học nhé! Chị nhớ và thương em lắm. Anh Tiến ngày nào cũng gặp chị hỏi tin em. Chị gửi cho em năm hào, em mua gì cho cha hộ chị. Tạm biệt em.

  Chị: Phạm Thị Kim Nhũ.

 

Cha nhìn tôi trìu mến:

- Con giỏi toán lý, nhiệt tình hướng dẫn các anh chị học kém, được mọi người quý mến. Chị Nhũ người ngoài mà tốt quá. Mấy năm trước con hay nói với ba cho con học đến đại học, để con nghĩ ra máy cày cho nông dân đỡ vất vả dắt trâu đi cày. Giờ con còn mơ ước nữa không?

- Có ba ạ. Anh Tiến bảo con ra trường tiếp tục học vô tuyến. Con sẽ nghĩ lắp cái đài thật tốt để nghe đài tiếng nói Việt Nam.

Cha tôi cười:

- Đúng là con của ba. Không vào được đại học thực hiện ước mơ chế tạo ra máy cày cho nông dân, con lại ước mơ lắp đài vô tuyến để nghe tin tức trong ngoài nước. Con có ý chí tốt. Ra trường công tác rồi, con cần tiếp tục học cao hơn mữa. Học suốt đời vẫn thấy mình dốt con ạ.

 

                                      *       *

                                           *

  

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 5

 

Chiều 30 Tết năm 1961.

Tôi ngồi gốc cây la ngoài bến sông nhìn dòng nước lững lờ trôi, lòng tôi cồn cào như sóng biển. Nhớ tuổi chín mười tôi nhảy xuống sông quyết tự tử, để khỏi bị “hai ông bà dì ghẻ” đánh chết. Nhưng người nổi lên, tôi đành bơi vào bờ. Lần thứ hai xin được đoạn thừng trâu, tôi treo cổ lên cây la bến nhà ông Long thì chắc chắn chết. Đêm ông Long ra bến sông thấy tôi, ông cắt dây thừng bế tôi xuống. Nhà thầy Hiến bờ bên kia, nay gia đình thầy đã chuyển lên phố. Học sinh cấp hai ở Liễu Đề, đứa nào cũng yêu quý thầy Hiến dạy sử. Giờ sử thầy dạy chỉ mười lăm, hai mươi phút là xong. Cả lớp thích thú lắng nghe, thuộc ngay bài sử thầy dạy. Còn thì giờ, thầy kể chuyện: “Chiếc khuy đồng”, “Ai van hô”, “Những người khốn khổ” v.v… Mấy tháng mới hết truyện. Học sinh lớp nào cũng háo hức, mong ngóng đến giờ dạy sử của thầy Hiến. Lòng bâng khuâng tôi nhớ thầy Hiến dáng cao gầy, má hóp giống cha. Ánh mắt thầy hiền từ vui cười. Biết khi nào tôi mới gặp lại thầy kính mến của tôi?... Sông ơi!... Sông còn nhớ ta không?... Hơn một năm ta không cất vó tôm đêm ở bờ sông, nhớ quá. Sông còn cho dân chợ Quỹ nhiều tôm cá như mấy năm ta ở nhà không?... Thầy Hiến ơi!... Thầy ở đâu?... Nếu không có thầy Hiến giúp đỡ, thì mình lang bạt ở đâu? Như đám bèo trôi trên dòng nước kia, không biết dạt vào bến bờ nào?... Ngày hôm nay ba mươi Tết. Mai mồng một Tết năm 1962. Ban thờ mẹ không có được nải chuối. Mình chỉ mua thẻ hương thắp ba ngày Tết cho mẹ đỡ buồn. Chắc mẹ biết mình dành tiền mua thuốc chữa bệnh cho cha. Khi mẹ ốm ba năm nằm liệt, còn có ba cắt tóc nuôi cả nhà. Hai cha con chăm mẹ. Nay cha ốm nặng có một mình mình chăm. Tết chẳng có gì ăn…

- Em Tân!

Tôi giật mình quay lại. Anh Tiến mắt đỏ hoe nhìn tôi. Tôi ôm chầm anh Tiến khóc nức nở. Anh Tiến kéo tôi ngồi xuống gốc cây la, anh cũng khóc. Một lúc lâu anh Tiến nói:

- Anh và anh Doãn về quê ăn Tết từ hôm qua. Mồng hai Tết các anh đèo xe đạp nhau lên Hà Nội, anh Doãn trực đêm ở bệnh viện. Các anh bàn nhau đến thăm ba em. Anh Doãn đang khám bệnh cho ba em. Khổ thân em bị ngã, mắt em còn tím bầm. Cái vết xước ở má em thành sẹo thì xấu gái đi. Em bôi nghệ à?... Ừ, các cụ bảo bôi nghệ vào chỗ ngã xây xước chóng  lành da không bị sẹo…

Tôi và anh Tiến vào nhà, thấy anh Doãn đang dìu ba tôi đi chầm chậm. Anh Doãn nói:

- Ba em khá lên nhiều rồi Tân ạ. Ba bảo nhờ bàn tay khéo của con gái nấu cháo thịt, sắc thuốc cho ba uống chóng khỏi bệnh. Em là cô Tấm thảo hiền.

Ngồi xuống giường, cha bảo tôi:

- Con lấy con dao rựa bổ củi, dẫn anh Doãn ra bụi tre đầu nhà chặt cho ba hai cái gậy, ba tập đi.

Hai anh em mang gậy vào nhà, cha tôi cầm hai gậy đi thử.

- Ơ hay đấy! Tôi đi được rồi, mừng quá!... Cảm ơn hai anh đối tốt với tôi.

Anh Doãn nói:

- Thưa bác không có gì đâu ạ. Anh em cùng học một trường, người cùng một huyện phải thương nhau. Ai cũng thương bé Tân học giỏi, ngoan mà hoàn cảnh khổ quá.

- Tại tôi!... Tại tôi tất cả… Tôi ân hận lắm – Cha tôi khóc.

- Anh em cháu xin phép bác về kẻo tối ạ.

Ra đến cổng, anh Doãn ôm tôi thơm vào hai má:

- Em ít tuổi mà có hiếu với cha mẹ quá! Em giỏi giang lắm – Nước mắt anh Doãn chảy ướt má tôi – Anh kể chuyện em, các bác sĩ ở khoa anh thương em, cho ít thuốc anh mang về cho ba. Anh đưa cho ba em gói thuốc rồi. Các anh về nhé!...

Tôi vào nhà cha bảo:

- Hai anh cho quà, quả bưởi con đem vào thắp hương mẹ. Cái đùi gà luộc con cất đi để mai cha ăn cháo sáng.

- Ba ơi, hai anh Tiến, Doãn là người ngoài mà tốt ba nhỉ. Chị Trâm, từ hôm con về chẳng thấy chị đến. Tết, chị Tâm không về, chắc chị về nhà ông Thái ở Phủ Lý.

- Nó đi chơi nhà bạn nào ăn ngon, chứ nó không về ông Thái đâu. Cái ông bố keo kiệt. Mẹ con là vợ cũ dẫn hai con về chơi, ông ta còn không cho bữa cơm rau nữa là… Khi sắp chết, mẹ con nói lời xin lỗi ba, đối xử không tốt với cha con mình. Mẹ hắt hủi hai cha con. Cuối cùng, chỉ hai cha con ta chăm mẹ cho đến khi chết trên tay.

Tôi chắt bát thuốc lá mà cha tôi bảo đi kiếm bên vườn ông lang Phúc đã mất từ lâu. Uống xong bát thuốc, cha tôi bảo:

- Ba phải nói lời cảm ơn con. Không có con về chăm ba ăn uống, thuốc men thì ba… Con là đứa con có hiếu nghĩa. Con phải học anh Doãn, anh Tiến sống tốt với mọi người. Ai đói khát, con nhường cơm sẻ áo. Ai gặp nạn giữa đường con giúp. Con đã sống tốt nên con được mọi người thương quý. Ba ân hận bắt con làm quá sức, đánh ác, đuổi con ra khỏi nhà.

Cha ôm mặt khóc.

- Ba ơi, ba đừng nói nữa.

- Ba phải nói, không thì ba không nhắm mắt được con ơi!... Sao ba có học mà ngu thế… Con mình không nuôi, toàn đi nuôi con người. Hết nuôi con Trâm, con Tâm ăn học ra làm cô giáo, đến nuôi con mụ Vợi quỷ dạ xoa… Hu! Hu!...

Tôi chạy ra ngoài lau nước mắt rồi sang nhà bạn Hạt.

 

                                      *       *

                                           *

 

Mùng năm Tết tôi sang Hải Hậu tìm ông lang chữa bệnh có tiếng cắt thuốc cho cha. Tiện thể, tôi hỏi thăm chị Tâm dạy học ở đâu. Mấy bà đội thúng đi chợ trưa về gọi nhau:

- Bà Lạng ơi bà Lạng, có cô bé hỏi thăm cô giáo Tâm trọ nhà bà đây này. Bà rảo chân lên!...

- Lạy Chúa! Có cô bé nào hỏi tôi à?... Giê Su, hai chị em sao chẳng giống nhau thí gì. Chị béo tốt tắng tẻo. Em gầy còm như que thậy. Giờ này chị Tâm cháu chưa về. Cháu theo bà về nhà thổi cơm. Đến bữa chị cháu về ăn.

Ăn cơm trưa xong, tôi rủ chị Tâm ra ngồi bờ ao chủ nhà nói chuyện. Tôi kể hết bệnh tình của cha. Chị Tâm nghe thờ ơ, trong khi nước mắt tôi chảy ướt vạt áo. Im lặng lúc lâu chị Tâm nói:

- Năm ngoái tao về chị Trâm, chị nói ông ba ốm nặng. Mụ dì ghẻ ăn cắp hết mọi thứ trong nhà rồi cuốn xéo. Ông ba nằm đói lả mấy ngày mê man, đái ỉa ra giường kinh lắm. Ông Thang đóng vai Thạch Sanh hồi ông ba làm tổ trưởng văn nghệ xã, ông ấy sang thu dọn, cho bát cháo. Bạn Hạt mày biết ông ba hết tiền hết gạo, cũng nấu cháo cho ăn mới sống đấy. Họ tốt thật!

- Ảnh mẹ em đưa chị truyền thần đâu? Chị đưa em đem về lồng khung kính ban thờ mẹ.

- Tao chưa truyền, ảnh hỏng, chỉ còn tờ giấy ố vàng tao bỏ đi rồi.

Tôi bật khóc:

- Mẹ ơi!... Chị không yêu quý mẹ mà mẹ yêu quý chị thế. Mẹ ơi!... Mất ảnh mẹ rồi mẹ ơi!...

- Con này, hơi tí khóc. Ảnh mẹ hỏng có gì phải khóc thảm thiết. Con trai mới phải thờ cúng cha mẹ. Con gái đi lấy chồng thờ cúng nhà chồng.

- Nhà mình các anh Tây bắn chết hồi bắt ba, còn mỗi con gái phải cúng cha mẹ. Con gái cũng cúng cha mẹ.

- Mày đi mà cúng cha mẹ, tao không cúng.

- Chị ăn Tết ở đâu? Chị về nhà chị Trâm à?

- Con ngu, tao về chị Trâm có gì ăn mà tao về. Tao ở đây ăn Tết với chủ nhà. Ở nhà quê họ quý cô giáo dạy con họ lắm. Ba mươi Tết nhà họ mổ lợn, bốn nhà đụng một con. Nhà họ nuôi gà, làm thịt, ăn Tết to ngon. Tao ăn ở đây mỗi tháng chỉ góp với chủ nhà mười lăm cân gạo. Tao để dành được ối tiền lương.

- Sao ba ốm chị không về thăm, cho tiền ba uống thuốc?

- Ông ấy không phải bố tao, người dưng tao không cho.

- Mẹ chết, ba nuôi chị năm lớp bảy đến đi học sư phạm là gì.

- Lấy mẹ tao thì ông ấy phải nuôi tao. Tao dành tiền khi lấy chồng nuôi con. Tao với mày người dưng, không quan hệ gì.

Tôi buồn rũ ra về. Đến xã Nghĩa Phú tôi vào nhà chị Trâm, chị đang gọt dong riềng luộc ăn tối. Cháu Hưng mới được mấy tháng, nằm đập chân trên giường bồm bộp.

- Cái Tân về bao giờ thế?

- Em về từ trước Tết mấy tuần. Sao chị không đi chợ Quỹ? Chị không vào thăm ba? Tết anh chị không về? Có ba cây số.

- Cháu còn bé tao không gửi ai được mà đi. Ông ba hồi mới lấy mẹ đánh tao ác lắm. Tao căm thù ông. Hễ tao làm hỏng cái gì là ông đánh bét đít.

- Nhưng ba ốm chẳng có ai chăm. May bạn Hạt em và bà con hàng xóm hằng ngày cho ba bát cháo. Mẹ con mụ Vợi ăn cắp mọi thứ chuồn mất tăm. Em con đẻ ba còn đánh ác cho chết đi.

- Tự ông ba chuốc nợ vào thân. Ai bảo lấy loại giang hồ. Gái giang hồ bạ đâu xà vào lợi dụng ăn bám. Trên làng Quỹ có bà Bấc gù, nhưng mặt xinh. Người đi giáo hiền lành thật thà, muốn lấy ông ba không lấy. Chú Điệp thân thế, xui ông ba lấy bà Bấc gù bà ấy quý bà ấy chăm thì không nghe. Giờ ông ba trắng mắt ra, bị con mụ giang hồ già cóc đế nó lừa, ăn hết nó xéo.

Tôi tủi thân khóc. Cha tôi ốm chị không chăm, không thăm, còn riếc móc. Tết chị không về. Bà Thang hàng xóm nói: “Cha sinh không tày mẹ dưỡng”. Bố đẻ các chị không nuôi một ngày. Cha tôi nuôi, các chị bạc thế. Tôi ra về, chị Trâm chạy ra ngõ gọi:

- Tân ơi, tao cho ít củ tróc đem về luộc ăn. Tao đẻ cũng ăn củ tróc, thỉnh thoảng mới độn mấy hạt gạo. Anh Lương dạy học bên Hải Hậu không đủ ăn. Chủ nhật nào anh cũng về lấy mấy cân gạo đi ăn, không thì đói.

Về tới nhà, tôi kể cho ba nghe chuyện gặp chị Tâm, chị Trâm. Ba tôi thở dài:

- Con Tâm bạc cả với mẹ đẻ nữa là cha dượng. Mẹ con yêu chiều, vun vén nhất con Tâm. Con Trâm khổ. Đúng là ba hay đánh con Trâm. Ba dạy bảo nó như con đẻ. Ngay con là con đẻ, cha còn đánh ác nữa là. Nó hậu đậu, đụng làm gì là hỏng là vỡ. Con Tâm, ba không dám động chạm vì nể mẹ con. Mẹ con yêu chiều con Tâm, không để làm gì. Mọi việc nhà, con Trâm phải làm hết. Con Trâm đi lấy chồng thì mọi việc đổ lên đầu con.

Chú Điệp tập tễnh đi vào nhà tôi.

- Anh, em trông anh khá lên rồi, da đã khởi sắc. Ngày trước anh bắt cháu quay máy tông đơ lúc bảy tuổi, cháu không quay nổi, anh cộc cờ lê vào đầu máu chảy cháu ngất. Em can ngăn anh không nghe. Giờ cháu có tiền chăm cha.

Cha tôi ôm mặt khóc. Tôi xuống bếp sắc thuốc cho cha, vẫn nghe tiếng chú Điệp lắp bắp nói chuyện với cha.

- Chú ơi, tôi tức mẹ nó mất khôn chú ạ. Cái loại viên chức tham, phán của giặc Pháp nó bạc bẽo, thay vợ như thay áo. Thấy gái đẹp nó lấy, chán nó bỏ tìm lấy gái khác. Đâu như tôi đảng viên Đảng lao động thủy chung. Gần chết, mẹ nó có lời xin lỗi bố con tôi. Bà ấy nói con Tân sẽ khổ. Mọi chuyện đã qua, càng nói càng đau lòng chú ạ.

- Mỗi người một cảnh khổ khác nhau. Hôm nay em định vào nói với anh, sau lễ Phục sinh em làm mâm cơm cúng cụ báo cáo bà con hàng xóm, em lấy cô Lài trên làng Quỹ. Cô Lài hiền lành, thật thà. Từ ngày con vợ lăng loàn em đi theo giai, các cháu còn bé em vất vả lắm. Em sức yếu, tay chân lẩy bẩy không chăm các cháu cẩn thận được. Người đi giáo ở Quỹ họ tốt.

- Chú lấy vợ là phải. Chợ Quỹ ai cũng thương chú tốt tính, chữa đồng hồ giỏi, nuôi vợ con ăn trắng mặc trơn béo hú, đú đởn theo giai.

Tôi đọc kinh bên nhà bạn Hạt về, gặp chú Điệp đi ra sân.

- Cháu Tân đọc kinh bên nhà Hạt về đấy à? Dân chợ Quỹ nói cháu là người đi đạo rồi. Ai cũng thương cháu, quý cháu. Giờ cha cháu quý cháu hơn vàng rồi cháu ạ. Chú về nhá!...

Tôi bần thần ngồi xuống bậu cửa. Sao con người khổ thế? Người chồng bỏ, người vợ bỏ, chả hiểu thế nào. Giá chị Trâm đừng đi lấy chồng thì việc gì phải làm nuôi chồng nuôi con? Lớn lên, mình không lấy chồng cho khỏi bị khổ…

- Con ơi con chắt thuốc cho ba uống rồi đi ngủ, khuya rồi con ạ.

Tôi không thấy buồn ngủ, ngồi bóp chân cho cha để máu lưu thông, đi được dễ dàng. Im lặng lâu lắm, cha nói:

- Con có giận ba không?... Không à?... Ba đánh con ác, đuổi con ra khỏi nhà. Con tự kiếm sống học hết cấp hai. Giờ cha ân hận quá. Mười ba tuổi mà con còi cọc, bé bằng đứa lên mười. Con ngoan quá!... Con yêu kính cha à…

 

                                      *       *

                                           *

 

Hôm nay tôi vào xã Nghĩa Tân kiếm củi.

Lúc đi qua nhà cụ lang Trần Văn Hiện, tôi đứng nhìn vào ngõ. Cây bưởi đơm hoa trắng xóa, ong bướm bay tíu tít. Lòng bồi hồi xúc động nhớ cách đây năm năm tôi được cụ cứu sống. Tôi nghĩ đi kiếm củi xong, lúc về vào thăm cụ. Hương bưởi ngan ngát đuổi theo sau lưng tôi, làm tinh thần phấn chấn. Chân tôi bước nhanh đi khắp các đường làng, nhặt nhạnh củi. Chẳng mấy chốc tôi đã kiếm được bó củi to.

Bước chân vào cổng nhà cụ lang Hiện, tôi thấy ấm áp hẳn lên. Hương bưởi vấn vít quanh người. Đàn ong vo ve như lời chào khách. Yên ắng quá. Đặt bó củi dưới gốc cây bưởi, tôi rón rén bước đến cửa nhà. Cụ Hiện đang ăn cơm với hai người, một nam, một nữ bế con trên tay.

- Cháu chào cụ!... Cháu chào… anh chị.

Ba người bật cười. Cụ Hiện nheo mắt nhìn tôi giây lát rồi nói to:

- A!... Ông nhận ra cháu rồi! Cháu Tân kiếm củi ở chợ Quỹ. Cháu vào đây. Ông có vợ chồng cháu nội về ở. Cháu gọi anh chị thôi, mới ngoài hai mươi. Bà mất bốn năm nay rồi, không ai cơm nước cho ông. Hai cháu phải về ở với ông để chăm ông. Năm năm nay, mà trông cháu chả nhớn được mấy. Cháu đi đâu qua đây, hay cháu đi kiếm củi rồi vào ông? Cháu còn nhớ ông nhỉ.

- Thưa ông, cha cháu dạy ai làm việc tốt cho mình phải biết ơn. Ông đã cứu cháu sống, cháu nhớ ông suốt đời.

Tôi kể hết chuyện từ ngày mẹ chết tôi sống như thế nào. Giờ cha tôi ốm nặng tôi đem tiền về chăm, cũng sắp hết tiền rồi. Tôi nghỉ mấy tháng thế này lo nhà trường không cho học tiếp. Cụ Hiện nghe chuyện, đôi mắt nhìn đâu xa xăm buồn. Im lặng lâu, tôi định bụng đứng lên xin phép cụ lang ra về thì cụ bảo:

- Ông nghĩ rồi, cháu chờ ông một chút.

Cụ lang Hiện đứng lên bốc lá thuốc nam ở những cái giỏ to trên sàn tre. Cụ gói một chục gói đưa cho tôi.

- Cháu hết tiền cắt thuốc bắc cho cha thì cháu sắc thuốc nam của ông. Đây là bài thuốc chữa phù chân to.

Xúc động trước lòng tốt của cụ lang Hiện, tôi nghẹn ngào không nói được lên lời, những giọt nước mắt lăn xuống má.

- Con bé này dễ cảm động. Làm lương y cốt để cứu người cháu ạ. Người bệnh nào có tiền thì lấy chút công. Ai nghèo khó như hoàn cảnh cha con cháu, ông biếu. Lương y như từ mẫu cháu ạ. Chắc ông nội cháu là ông lang giỏi mới có quyển sách thuốc của ngài Tuệ Tĩnh to dầy biếu ông năm xưa.

- Ông ơi, nhà cháu còn nhiều quyển sách thuốc nhỏ. Cha cháu bảo ông nội cháu ở Hải Phòng chữa bệnh thuốc đông y nổi tiếng. Cha cháu và hai chú hoạt động Việt Minh. Cha cháu trốn giặc Pháp truy lùng phải về Nam Định. Hai chú giặc bắn chết. Cha cháu giặc bắt tù, chẳng ai học được nghề thuốc gia truyền của ông nội cháu. Cha cháu tiếc lắm.

Cụ lang Hiện tiễn chân tôi ra tận ngoài đường. Cụ nắm tay tôi:

- Không ai dạy cháu chăm ngoan hiếu nghĩa, mà sao cháu ngoan thế, hiếu nghĩa với cha mẹ quá! Cha mẹ đối xử ác với cháu mà cháu không thù hận, cháu vẫn yêu kính cha mẹ.

- Cháu học trong sách cụ ạ. Nhà cháu có tủ sách to lắm. Quyển sách “Những tâm hồn cao thượng” toàn chuyện tốt cụ ạ. Có người chịu chết để cứu người khác sống. Có những em bé dũng cảm không sợ thú dữ, vào rừng hái lá thuốc về chữa bệnh cho mẹ sống. Toàn những người làm việc tốt cụ ạ. Cháu học những người tốt trong sách.

Cụ lang Hiện gật đầu cười:

- Cháu nói đúng! Sách là người bạn tốt nhất cháu ạ. Cháu ham đọc sách, học điều tốt trong sách, ông tin cháu sẽ là người có ích cho xã hội sau này.

Tôi về đến sân, cha tôi chống gậy ra bảo:

- Con để ba cầm đỡ bó thuốc cho. Chắc cụ lang Hiện ở Nghĩa Tân cho ba đây. Con ăn cháo đi. Cháo ba nấu đấy. Trưa nay bạn Hạt sang nấu hộ cháo như con dặn. Ba bảo bạn con về, ba tập nấu cháo cho quen để tự nấu được mà ăn. Con phải chuẩn bị lên trường học, kẻo nhà trường thấy con nghỉ lâu gạch tên đi.

Tôi đói ngấu vào bếp múc cháo ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ sắc cho cha hết mười gói thuốc lá cụ lang Hiện. Nếu cha tôi đi lại được như mấy hôm nay thì tôi lên trường.

Tôi ngồi bóp chân cho cha, tôi nói ý nghĩ của mình:

- Ba ơi, gần hết tháng Giêng âm lịch con đi lên trường. Con không sợ học yếu. Con sẽ làm được những bài toán lý khó.

- Ba dặn con, khi con định làm việc gì quan trọng, con phải nghĩ trước nghĩ sau, lật đi lật lại như giải bài toán khó. Con phải giả thiết sự việc xấu thì làm gì? Bài toán khó đến đâu, nhưng con giả thiết thế này, giả thiết thế kia, con áp dụng mọi công thức, quy tắc rồi con cũng giải được.

- Ơ, sao ba biết con làm thế?

- Ba biết con giỏi toán từ năm lớp ba học thầy Ninh. Con giải bài toán đố bằng phép tính nhân nhanh gọn hơn thầy Ninh làm phép tính cộng. Thầy dốt hơn trò, chị Tâm mách lẻo con khai tăng tuổi đi học sớm. Thế là thầy đuổi con xuống lớp hai. Ba dọa đánh con cho con ngoan, con không tự cao tự đại. Ai giỏi mà tự cao tự đại thành người dốt ngay con ạ. Mình giỏi phải khiêm tốn học hỏi nhiều hơn nữa mới bớt dốt con ạ.

- Ba ơi, con đem cây đàn thập lục sang Phát Diệm bán lấy tiền cho ba uống thuốc và đong gạo.

- Con bán cây đàn nguyệt của ba. Đàn thập lục ba mua cho con học, con đã đánh được ba mươi sáu câu vọng cổ rồi. Con mang lên trường bưu điện, thỉnh thoảng con đánh đàn cho các anh chị trong lớp nghe vui.

- Bán đàn thập lục được nhiều tiền hơn ba ạ, hôm nọ con hỏi thử ông bán đàn ở Phát Diệm rồi. Cây đàn nguyệt để khi ba khỏi, ba đàn hát cho vui nhà. Con ra công tác có tiền lương, con mua cây đàn sau. Phải có tiền cho ba ở nhà ăn. Mỗi tháng con gửi cho ba năm đồng.

- Con tính thế cũng được. Thôi, đi ngủ đi con, khuya rồi. Ba nhắc con khi đi ngủ, con đặt tay lên trán nghĩ xem ngày hôm nay con làm việc gì tốt, việc gì chưa tốt để tránh điều sai mai làm tốt hơn.

Mười ngày trôi đi nhanh, tôi chuẩn bị lên trường. Chú Điệp vào chơi, ba tôi còn lấy đồ nghề ra cắt tóc cho chú.

- Con thấy chưa, ba nhúc nhắc việc được rồi. Mai ba có thể mở cửa đón khách cắt tóc. Con đã kiếm cho ba đống củi to, đun nửa năm chưa hết. Vò mắm cáy con mới làm, cha ăn ba tháng chưa hết đâu.

Chú Điệp nói theo ba tôi:

- Cháu yên tâm đi học cho giỏi. Ba cháu ở nhà đã có bà con hàng xóm, có bạn Hạt cháu, có chú thường ngày qua lại.

- Tôi nói với cháu rồi, mẹ con bà Vợi có về đây ăn bám tôi đuổi. Tôi đã tự nấu ăn được. Vài tháng nữa cháu nghỉ hè về. Hai năm nữa cháu ra trường công tác. Cháu ở đâu tôi theo đấy. Hai cha con nương tựa nhau.

- Em rất mừng anh cắt đứt hai mẹ con tầm gửi ăn bám anh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 6

 

Tôi bước vào phòng như người hết hơi, ngồi phịch xuống giường thở. Chị Nhũ kêu lên:

- Ơ em Tân à?... Ôi! Trông em như người sắp chết. Chắc em đói à?

Chị Tuyết từ giường tầng hai tụt xuống:

- Eo ơi!... Em Tân gầy thế?...

Chị Nhũ lẳng lặng đi ra ngoài. Tôi nằm xuống giường, không còn hơi sức trả lời những câu hỏi của các anh chị. Nghe tin tôi lên trường, dù đã mười giờ đêm các anh ở phòng nam cũng chạy sang. Tai tôi như có đàn ve kêu, mắt nảy hoa cà hoa cải.

Chị Nhũ mở ra gói xôi:

- Em ăn đi cho đỡ mệt.

Chị Tuyết pha cốc nước đường cho tôi.

- Em uống cốc nước đường rồi ăn xôi. Em đi đường xa khát nước mệt.

Tôi uống ừng ực hết cốc nước đường tỉnh người. Ăn hết gói xôi, tôi mới kể chuyện cho các chị nghe. Tôi để lại hết tiền cho cha ở nhà đong gạo. Sáng nay tôi bốc mấy nắm gạo thổi cơm, được hai miệng bát. Tôi ăn miếng cháy còn bát cơm nắm đến trưa ăn. Chỉ có một đồng ba hào, đủ mua vé tàu hỏa và vé xe điện từ bờ hồ Hoàn Kiếm về trường. Tôi đi bộ từ nhà lên ga Nam Định gần sáu chục cây số. Đói nhưng không có tiền, tôi phải cố gắng chịu. Lúc bước xuống xe điện, tôi ngã dúi dụi vì hoa mắt. Chị Nhũ nắm cánh tay tôi xuýt xoa thương tôi gầy. Chị nói:

- Anh Tiến về quê ăn Tết, lên nói em chăm cha lắm. Hàng ngày em nấu cháo thịt cho cha, còn em chỉ ăn cháo với rau luộc chấm mắm cáy. Em gầy xanh đi nhiều, không hồng hào như ở trường. Khuya rồi ngủ đi, để chị mắc màn cho em.

Sáng hôm sau anh Tiến đến sớm mua cho tôi một hào xôi lạc ăn no. Anh bảo tôi phải lên gặp bác Khuôn trình bày lý do về chăm cha ốm nặng gần hai tháng. Ban giám hiệu nhà trường thường đến trước giờ làm việc.

Nghe tôi trình bày hoàn cảnh, mọi người lắng nghe. Thầy hiệu trưởng thỉnh thoàng bỏ kính cận dầy cộm ra thấm mắt, lau kính. Bác Khuôn trưởng phòng tổ chức nhìn tôi chăm chú. Mắt bác đỏ hoe, rút khăn mùi xoa trong túi quần ra xỉ mũi liên tục. Sau phút im lặng, bác Khuôn nói:

- Ban giám hiệu nhà trường nghe lớp trưởng 5E báo cáo, đã biết hoàn cảnh của cháu. Nay trực tiếp nghe cháu trình bày, bác rất thương cháu. Nói về nguyên tắc thì cháu bị gạch tên khỏi lớp. Nhưng xét thực tế, cháu học giỏi, cán sự phụ đạo toán lý cho lớp, là người có hiếu với cha mẹ. Do hoàn cảnh đặc biệt nên nhà trường giải quyết đặc biệt, cho cháu tiếp tục học. Liệu cháu có đảm bảo tự học hỏi các môn trong thời gian nghỉ để thi học kỳ không?

Tôi mừng quá nói ngay:

- Thưa bác, cháu hứa kỳ thi cháu đạt điểm giỏi các môn ạ!

Tôi về lớp học, các anh chị ùa ra vui mừng đón tôi.

- Bé Tân gầy xanh quá!

- Đi lao động ở công trình thủy điện Thác Bà về, em đã lên cân, xinh ra bao nhiêu, nay em…

- Bé Tân chăm ba sắp khỏi ốm là mừng rồi.

- Chiều nay, bé Tân tiếp tục phụ đạo toán lý cả lớp.

- Mừng nhất chị Tuyết đấy nhé. Cân đường chị Tuyết uống dở, cho nốt bé Tân bồi dưỡng chóng khỏe…

Ngay chiếu hôm ấy tôi phụ đạo hai môn toán lý cho cả lớp như hồi cuối năm ngoái. Các anh chị trong lớp rất ngạc nhiên. Tôi không nói cho ai biết đem theo sách về nhà tự học. Những hôm cha ngủ sớm, tôi lặng lẽ ra sân học dưới ánh trăng. Tôi không thắp đèn dầu học, sợ cha thức giấc, tốn tiền dầu. Lúc này mọi chi tiêu phải tiết kiệm, dành tiền chạy chữa bệnh cho cha. Suốt năm học lớp bảy ở Liễu Đề, tôi chuyên học bài, làm bài dưới ánh trăng. Ai cũng bảo tôi có đôi mắt bồ câu sáng như hai ngôi sao. Tôi mải miết tự học và giải hết các bài toán lý của chương trình mà không nói với ai. Tôi nghĩ, muốn được tiếp tục học thì mình phải học giỏi. Nếu nhà trường bảo tôi nghỉ quá hạn không theo học với lớp được, tôi xin giải hết những bài toán lý trong sách, chứng minh mình tiếp tục học được. Sự lo xa của tôi không cần đến, tôi càng yên tâm học cho giỏi.

Lĩnh hai tháng học bổng xong, tôi ra bưu điện Hà Đông gửi cho cha 10 đồng. Tôi nghĩ thầm cha đủ tiền uống thuốc bắc. Yến gạo tôi đong trước khi đi cha ăn cháo phải hai tháng mới hết. Mấy tháng nữa tôi nghỉ hè về với cha. Chắc cha vui lắm. Tôi viết mấy dòng ở phần thư chuyển tiền nói với cha vẫn học tốt, buổi chiều vẫn phụ đạo toán lý cho lớp như trước để cha mừng.

 

*        *

     *

 

Nhận điện báo cha chết, tôi bàng hoàng không tin sự thật. Tôi móc trong túi áo cánh lấy ra sổ lịch con xem. Hôm nay mồng 8 âm. Hôm mình lên trường 29 tháng giêng. Hôm ấy cha vui vẻ, khỏe, còn cắt tóc cho chú Điệp…

- Em Tân! Nội dung bức điện nói gì đấy? Sao em ngồi thừ ra vậy?

Chị Nhũ ở dưới lớp đi lên bảng, cầm bức điện từ tay tôi đọc: “Bố chết về ngay”. Chị Nhũ khóc òa:

- Khổ thân em!... Cha chết rồi em ơi!... Em đi chưa được chục ngày. Hu hu!... Em ơi cha chết rồi!...

Anh Lành lớp trưởng nói:

- Lớp ta nghỉ học chiều nay. Anh chị em về phòng tự học. Bé Tân nỗi đau lớn quá không khóc được. Tôi lên báo cáo nhà trường cho bé Tân nghỉ phép về chịu tang cha. Nhũ đi gọi anh Tiến lớp 3Đ, bàn việc cho em Tân về nhà ngay.

Anh Tiến đi vội, vấp ngã bổ nhào vào cửa phòng, nước mắt sướt mướt, tay cầm bức điện của tôi.

- Em Tân khổ quá! Tí tuổi đầu em mồ côi cả cha mẹ.

Đầu tôi trống rỗng như không có óc. Nhận bức điện từ tay bác bưu tá, tôi tưởng tượng ra cảnh nhà mái rạ tiêu điều, cha nằm chết cứng một mình trên giường. Cha chết khổ quá, không vợ không con ở bên, ai vuốt mắt? Không ai khóc thương. Từ lớp về phòng, chị Tuyết sụt sịt khoác tay tôi. Tôi cảm giác như đang bước hẫng hụt chỗ không có mặt đất. Ai nói gì tôi không để ý, chỉ tưởng tượng ra cảnh mẹ chết có cha vuốt mắt, nói lời vĩnh biệt, tôi ôm mẹ khóc. Cha chết âm thầm một mình chẳng ai biết. Chị Trâm, chị Tâm có biết cha chết không? Một chị thù cha đánh hồi bé. Một chị nói cha người dưng không biết…

- Em Tân!... Anh mua vé tầu cho em về Nam Định rồi đây. Nửa tiếng nữa tầu chạy – Anh Tiến dúi vé tầu hỏa vào tay tôi.

Chị Nhũ giằng lấy vé tầu:

- Đưa tôi nhét vào túi áo cài kim băng cho nó. Từ nãy đến giờ nó như người mất hồn. Tôi với anh chờ, đưa nó lên tầu rồi ta về anh Tiến ạ.

Ấn tôi ngồi xuống ghế tầu, chị Nhũ hai tay lay vai tôi dặn:

- Em đi đường cẩn thận nhé! Em nhớ túi bên này đựng tiền, túi tay trái đựng vé tầu, chị cài kim băng rồi. Túi có mỗi bộ áo quần em đeo vào vai kẻo quên trên tầu.

Chị Nhũ anh Tiến nghe tiếng còi tầu báo rời ga Hàng Cỏ vội vã đi xuống.

Tầu hỏa về đến ga Nam Định gần nửa đêm. Tôi đi như chạy tới bến ô tô xếp hàng mua vé về Liễu Đề, Nghĩa Hưng. Đến nơi, tôi đã thấy người xếp hàng ngồi rồng rắn. Lòng lo lắng liệu có mua được vé ô tô về Liễu Đề không, hay mình đi bộ từ giờ đến sáng cũng về đến Liễu Đề. Mình đi bộ đến trưa về chợ Quỹ. Đang nghĩ miên man, chú thương binh chống nạng đến hỏi:

- Cháu bé về đâu?

- Cháu về chợ Quỹ cha cháu chết ạ.

Xem bức điện báo của tôi, chú thương binh nói:

- Đến sáng bán vé, chú nhường cháu mua trước, sau đến mấy chị con thơ kia, đến chú ưu tiên, rồi mới đến các bác xếp hàng đây.

Ô tô về đến Liễu Đề hơn 9 giờ, vào chợ ăn một hào bánh đúc, tôi rảo bước. Khi đi qua trường cấp hai Liễu Đề thân yêu, tôi bồi hồi xúc động nhưng không dám dừng chân. Đến lối rẽ vào nhà thờ Lạc Đạo qua nghĩa địa có bạn Liên nằm, tôi dừng chân thì thầm: “Bạn Liên ơi, bạn là người tốt, chắc bạn đã được lên thiên đàng. Cha tớ mất rồi. Cha tớ là Việt Minh đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, cũng là người tốt, chắc cũng được lên thiên đàng. Bên lương chúng tớ gọi là về cõi Phật. Bạn sẽ gặp cha tớ, tha hồ trò chuyện…”

Tôi về đến làng Quỹ, những người đi đường gặp tôi thì thầm với nhau:

- Giê Su, con út ông Văn học ở Hà Nội giờ mới về.

- Khốn khổ thân con bé, gầy quắt queo.

- Nhà đi lương mà nó kính Chúa, hay đi lễ nhà thờ với con Hạt nhà bà Hoan.

- Nó lam làm lấm lem hơn cả con nhà nông dân mình.

- Thương hại nó quá!...

Về đến cổng nhà, tôi bủn rủn chân tay, các khớp xương như muốn rời ra. Cảm giác như tim tôi ngừng đập, có gì chẹn cổ, tôi thấy nghẹt thở…

Bát hương có ít chân nhang đặt trên bàn cắt tóc của cha tôi. Cửa liếp ngoài mặt đường đã đóng lại, bàn cắt tóc được kê sát vào cửa liếp. Chiếc giường cha nằm vẫn yên chỗ cũ. Sát cửa buồng là cái phản mấy chị em tôi ngày trước nằm. Trong buồng còn nguyên giường mẹ tôi. Nhà trống vắng lạnh lẽo. Đặt túi áo quần xuống giường, tôi đến bàn cắt tóc cha, thấy khăn trắng vải màn gấp dài tôi liền đội lên đầu. Một nắm hương to và mấy bao diêm để bên bàn. Khi châm hương cắm vào bát hương, nước mắt tôi tuôn chảy, gục đầu xuống bàn tôi gọi: “Cha ơi!...” Khóc một thôi, tôi chợt nhớ chị Nhũ dặn phải cúng người chết 49 ngày. Không biết cha chết ngày nào?... Tôi đi hỏi ông Hoan trưởng xóm. Ông Hoan bảo:

- Cháu lên trường ngày 29 tháng giêng thì mồng 6 tháng hai cha cháu mất. Cũng không ai ngờ cha cháu mất, tưởng cháu đem tiền về chăm cha uống thuốc, ăn uống có chất, cha cháu dần hồi phục. Hóa ra ông cụ đánh lừa hàng xóm, trốn cháu ra đi một mình. Mẹ con bà vợ ông Sơn nghe tin ông Văn mất liền chạy vào. Lúc liệm cha cháu cũng có mấy mẹ con bà Sơn chít khăn tang. Trọn nghĩa vẹn tình anh em đồng đội kết nghĩa với cha cháu trong nhà tù thực dân Pháp. Hàng xóm tiễn đưa cha cháu đông đủ. Xe tang đi được nửa đường thì chị Trâm cháu trên Nghĩa Phú xuống. Không có con đẻ thì con riêng vợ tiễn chân cha dượng cũng là. Cháu gặp thêm chú Điệp mà hỏi.

Nghe ông Hoan trưởng xóm nói, lòng tôi vơi đi nỗi đau. Cha được bà con xóm giềng lo đám tang đặt bên cạnh mẹ, trong nghĩa địa giáo dân chợ Quỹ.

Tôi vào nhà chú Điệp đã nhập nhoạng tối.

- Lạy chúa! Cháu Tân – Chú Điệp kêu lên – Sao giờ cháu mới về?

- Chú ơi, chiều hôm qua cháu mới nhận được điện báo.

- Trời ơi! Sao điện đến chậm thế? Chú vào nhà, thấy cha cháu thổ ra máu. Chú chạy ra bưu điện đánh điện ngay cho cháu chiều ngày mồng 6 tháng hai. Chú bảo thím lên Nghĩa Phú gọi chị Trâm. Chị ấy xuống dọn dẹp, thay áo quần cho cha cháu rồi về vì con thơ. Một mình chú túc trực chờ cha cháu trút hơi thở cuối cùng. Chú vuốt mắt cho cha cháu. Khổ thân cháu – Chú Điệp khóc.

Thím Điệp bưng mâm cơm lên. Lần đầu tiên tôi biết vợ hai chú. Thím đeo chiếc thánh giá bạc to  trước ngực. Gương mặt trái xoan, nước da bánh mật, sống mũi cao thẳng, trông thím dịu hiền như bà Maria. Thím tươi cười bảo tôi:

- Cháu mới về chắc chưa nấu ăn, tiện bữa cháu ăn cơm với chú thím. Nhà này ăn ngày ba bữa cơm, chứ không nhịn đói tối như các nhà khác mà cháu lo chú thiếu gạo.

Lúc này tôi mới thấy đói cồn cào. Sáng nay tôi ăn một hào bánh đúc ở chợ Liễu Đề. Đi bộ hơn hai chục cây số, đầu óc lo buồn thương cha, tôi quên đói. Giờ nói đến ăn cơm tôi mới nhớ cả ngày chưa có hạt cơm vào bụng.

- Hùng, Hoa đâu về ăn cơm các con – Thím Điệp ra đường gọi hai con vợ trước chú Điệp.

Ngay lập tức hai đứa dạ ran chạy về. Tôi ngạc nhiên thằng Hùng lớn, cao hơn tôi cái đầu. Năm nay nó 12 tuổi, kém tôi 2 tuổi. Nhìn thấy tôi nó chợt ngạc nhiên sững lại. Sau nó reo lên, nắm tay tôi:

- A chị Tân con bác Văn! Chị ơi dân làng chôn bác rồi. Sao hôm nay chị mới về?...

Tôi, chú thím Điệp mắt mọng nước.

- Chị ở Hà Nội xa, không về ngay được em ạ.

Chú Điệp nói:

- Các con rửa tay ăn cơm cho chị về nhà kẻo tối rét.

Thím Điệp làm dấu xong, hai con bưng bát cơm mời ba mẹ, mời chị lễ phép mới ăn cơm. Tôi đói ngấu, thức ăn ngon miệng: tôm rang, rau cải luộc đập gừng. Tôi ăn liền ba bát cơm no căng bụng. Lúc tôi ra về, chú Điệp tập tễnh đi cùng tôi một đoạn đường.

- Bác Hoan trưởng xóm có nói với cháu chuyện bà Vợi không?

- Không chú ạ. Sao hả chú? Bà Vợi làm sao?

- Cha cháu chết, chôn xong thì hai ngày sau bà ta về. Hàng xóm thấy sớm hôm sau mẹ con bà ta mỗi người gánh một gánh nặng đi đâu không biết. Từ hôm cha cháu mất, ngày nào chú cũng đem bát cơm vào thắp hương cha cháu. Mỗi ngày một bữa thôi, chú bận làm, với lại đi đứng khó khăn. Dân chợ Quỹ đi giáo không thắp hương, không thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ. Họ chỉ thờ Chúa thôi. Họ bảo Chúa sinh ra muôn loài, không phải cha mẹ sinh ra mình. Không máu mủ ruột rà, nhưng chú với cha cháu thương quý nhau như anh em một nhà. Cháu học ở xa, chú cúng cha cháu đủ 49 ngày, kẻo tội cha cháu…

Nghe chú Điệp nói, tôi mới nhớ cảm giác khi bước vào nhà thấy trống rỗng, lạnh lẽo. Chào chú, tôi chạy về nhà kiểm tra đồ đạc xem sao.

Bật diêm thắp đèn dầu, châm nén hương cắm vào ban thờ cha, tôi thấy lưng bát cơm. Lúc mới về tôi không để ý, chắc bát cơm chú Điệp cúng cha bữa trưa. Cầm đèn vào buồng, trước tiên tôi sờ vò gạo xem có thì thổi cơm cúng cha. Vò gạo rỗng không. Mở tủ áo quần, chỉ còn cái áo rách bươm, cái quần vá của cha. Tủ sách. Ôi thôi! Sách biến đâu mất? Bao nhiêu sách thuốc quý mình đọc bài thuốc cho cha chọn để chữa bệnh, mất hết. Con mụ yêu tinh Vợi ăn trộm gánh đi bán rồi. Soi đèn vào ban thờ mẹ. Thôi chết! Mất cái kính của mẹ để thờ rồi. Chị Tâm để hỏng ảnh mẹ, còn vật kỷ niệm cái kính thờ mẹ cũng mất. Chắc con yêu quái Vợi nó bán đi rồi. Mình phải sang nhà bạn Hạt, chị Phê, ông bà Thục, ông bà Long, ông bà Thang hỏi.

Quá nửa đêm tôi mới về nhà. Mệt mỏi, tôi ngả lưng xuống tấm phản. Nhớ lời cha dạy trước khi nằm ngủ, đặt tay lên trán kiểm điểm xem ngày hôm nay làm việc gì đúng, việc gì sai để sửa chữa. Qua những câu chuyện của các ông bà hàng xóm, mới biết mụ Vợi quỷ quái yêu ma y như trong truyện cổ tích mình đọc. Sáng mai, mình đi chợ mua mấy nắm hương để chú Điệp thắp cho cha. Ra mộ cha mẹ thắp hương. Thổi cơm cúng cha. Ăn no lên chị Trâm. Chiều sang Phát Diệm chuộc lại sách. Mọi việc mình phải tranh thủ để lên Hà Nội học. Cha chết rồi, mình nấn ná ở nhà chẳng làm gì lãng phí thời gian. Sắp xếp mọi việc trong đầu xong, tôi thiếp đi lúc nào không biết.

 

                                      *       *

                                           *

 

- Tân dậy!... Ngủ gì ngủ khiếp thế? Gọi mãi không tỉnh giấc - Chị Trâm kéo tay tôi.

- Ôi chị Trâm! Em về chiều hôm qua. Khi đi qua Nghĩa Phú, em không vào chị, vội về nhà xem sao. Em ngủ mê mệt, định dậy sớm mà giờ muộn quá rồi. Em không nghe được chuông nhà thờ đánh thức nữa, em ngủ say thật.

- Tao đi chợ Quỹ bán ít củ tróc, tiện thể ghé vào thắp cho ông Văn nén hương. Chú Điệp tốt với ông Văn lắm, ngày nào cũng cúng ông Văn bát cơm. Tao ở xa, con thơ, có ở gần thì chẳng có cơm mà cúng. Cháu mới được ba tháng tao chỉ ăn tróc. Sữa mẹ xấu, nó đi tướt, suốt ngày thuốc. Tao bán tróc có tiền mua thuốc cho nó.

- May quá gặp chị, em không phải lên. Giờ em đi chợ mua hương, đong bơ gạo thổi cơm ra mộ cúng cha mẹ. Em sang Phát Diệm chuộc lại một số quyển sách quý, vật kỷ niệm của ông nội và cha em. Hàng xóm nói mẹ con mụ Vợi gánh sách sang Phát Diệm bán, cả cái chậu thau đồng rửa mặt nữa. Cái kính để thờ mẹ, mụ bán cho bà Hoan bốn hào. Việc làm xấu của mụ quỷ quái Vợi, hàng xóm biết hết chị ạ. Hồi ba mới ốm, mụ gánh hai chậu đồng to với áo quần đẹp của ba mẹ sang Phát Diệm bán rồi biến.

Hai chị em cùng ra khỏi nhà.

Trước khi đi, tôi nghĩ thắp cho cha nén hương, đeo túi áo quần lên vai, nhỡ không về nhà nữa. Việc trước tiên, tôi vào nhà ông Hoan chuộc lại kính đeo mắt của mẹ. Bà Hoan nói:

- Mắt bác toét nhoèn, đùn dỉ cả ngày, cần đeo kính. Cháu giữ kính mẹ, đợi khi có chỗ ở lập ban thờ thì chắc gì còn mà thờ. Cháu công tác nay đây mai đó dễ mất lắm.

- Bác làm ơn cho cháu xin chuộc lại vật kỷ niệm của mẹ để cháu thờ, cháu nhớ mẹ vẫn ở bên cháu. Cha cháu có hai tấm ảnh còn lại trong tủ sách. Cháu sẽ khâu cái túi vải đựng kính của mẹ, ảnh của cha, cháu thờ khi ra công tác. Còn từ giờ, cháu cất trong cặp sách…

Chuộc được kính của mẹ, tôi rảo bước đến nhà chú Điệp. Chú ngừng tay chữa đồng hồ, nghe tôi kể những việc làm xấu xa của mẹ con mụ Vợi vơ vét hết sách quý đi bán. Những truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Hai Bà Trưng đánh quân Tô Định, bà Triệu cưỡi voi đánh giặc, tôi đọc đi đọc lại lần nào cũng thích. Nghe xong chú bảo tôi:

- Cháu tiết kiệm thời gian thì chú tính thế này cho nhanh: giờ thổi cơm, ăn cơm ở nhà chú. Cháu đem cơm ra mộ cúng bố mẹ. Cháu sang Phát Diệm chuộc sách, đi ô tô lên thị xã Ninh Bình, cháu đi xe lửa lên Hà Nội trong ngày hôm nay.

Tôi mừng quá, chạy ra chợ đong bơ gạo nếp, mua nải chuối, thẻ hương về nhà chú Điệp thổi cơm. Mùi cơm nếp thơm thơm, biết cơm đã chín, tôi đơm đĩa cơm đầy đặt vào rổ cùng nải chuối thẻ hương ra mộ bố mẹ. Khi trở về nhà chú Điệp, tôi đã thấy thím dọn mâm cơm dưới bếp. Một mình tôi ăn cơm trước để đi. Ăn xong cơm mới hơn chín giờ. Tôi nghĩ ra chợ cảm ơn chị Tâm Tài. Chia tay chú thím Điệp lưu luyến. Chú Điệp nắm tay tôi khóc sướt mướt. Tôi chắp tay lạy cảm ơn chú ở nhà thắp hương cho cha.

Quầy thịt lợn chị Tâm Tài bán đã hết, chỉ còn vài khúc xương. Thấy tôi, chị Tâm Tài òa khóc:

- Ối em Tân ơi!... Khổ thân em, giàu con út khó con út. Từ nay em mồ côi cả cha lẫn mẹ rồi em ơi!...

Tôi nói lời cảm ơn chị quyên góp tất cả các anh chị, cô chú trong đội văn nghệ xã góp tiền đóng áo quan cho cha tôi. Chị bảo:

- Tình nghĩa bà con hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau mà em. Ai cũng nhớ cha em làm đội trưởng văn nghệ xã, dựng vở Thạch Sanh đánh trăn tinh, vở Trương Chi. Cha em dạy mọi người biết hát cải lương hay, biết đánh đàn bầu, kéo nhị, đàn nguyệt. Hồi ấy đội văn nghệ đi diễn ở xã nào em cũng theo đi xem.

- Tại em mê chị đóng vai công chúa, bác Thang vai Thạch Sanh.

- À này, em còn nhớ đánh đàn thập lục ba mươi sáu câu vọng cổ không?

- Em bán đàn chạy thuốc cho cha rồi. Còn cây đàn nguyệt, mụ Vợi bán mất rồi chị ạ. Xin phép chị em sang Phát Diệm…

Tôi vào nhà thím Sơn ở cống Quỹ, gọi mãi chẳng thấy ai. Bước vào trong nhà, thím Sơn đắp chiếu đang rên trong ổ rơm, tôi gọi:

- Thím Sơn ơi, cháu Tân con ông Văn về đây!

Thím vén chiếu lên, đôi mắt sưng mọng, đưa tay quờ quạng:

- Giê Su!... Cháu Tân à?... Thím đau mắt quá phải nằm nhà. Các em đi làm đồng hết rồi.

Tôi kể chuyện về từ hôm qua đến nay cho thím biết.

- Lạy Chúa! Bà Vợi không khác quỷ rữ. Chị Trâm cháu cũng thờ ơ, bố dượng chết, nhà trống trải, không dòm ngó có gì quý đem về nhà cất đi cho em nó dùng, để người ta phá tán hết sách quý. Cháu đi mạnh giỏi, cầu Chúa phù hộ cho cháu.

Tôi dúi vào tay thím năm hào:

- Cháu biếu thím mua thuốc đau mắt.

- Ơ này, thím không lấy đâu. Cháu đi học, làm gì có tiền.

- Cháu có học bổng toàn phần. Cháu ăn hàng tháng không hết, còn để dành gửi về cho cha cháu uống thuốc. Nay cha cháu chết rồi…

Đến Phát Diệm, tôi hỏi dò dân phố mách đức cha trong nhà thờ Đá mua tất hai gánh sách của mẹ con bà bên chợ Quỹ.

Đi vào cổng nhà thờ, tôi rợn người, dừng chân ngước nhìn lên tháp chuông. Tôi chợt nhớ đến nhà thờ Bùi Chung, mẹ Nhất nói dối nuôi tôi ăn học cấp ba. Nhưng mẹ Nhất không cho đi học, bắt tôi hầu hạ cơm nước, giặt giũ khăn váy bại cánh tay. Nhà thờ Đá bên này không giống các nhà thờ bên huyện Nghĩa Hưng tôi, chỉ có ngọn tháp vút cao. Ở đây mái cổng uốn cong như cổng chùa, cũng trạm hoa sen. Im ắng quá. Tôi nghe rõ tiếng bước chân mình đặt nhẹ lên từng tảng đá xanh hình chữ nhật.

- Cháu kia đi đâu? – Một ông già như từ trên trời hiện trước mặt tôi.

- Thưa ông, cháu gặp đức Cha để chuộc sách ạ.

- À!... Vậy vào đây!...

Ông già dẫn tôi vào căn phòng rộng. Đức Cha đang đọc sách.

- Trình đức Cha, cháu đến xin chuộc lại sách mà hai mẹ con bà ăn trộm đem bán khi cha chết, nhà không có ai ở. Cháu học trên Hà Nội mới về hôm qua ạ.

Đức Cha bỏ kính xuống bàn, chăm chú nhìn tôi rồi nói:

- Cháu bé nói rắn rỏi ghê!... Cháu có đủ tiền để chuộc sách không?... Á à!... Cháu có 13 đồng à?... Ít lắm cháu ạ. Cha mua hết 86 đồng, sách còn xếp trên bàn kia. Cha đang đọc quyển Mác Ăngghen. Ông cha cháu học rộng lắm, tiếng Tàu tiếng Tây đủ cả. Tôi đến bàn sách đặt tay lên chồng sách khóc tấm tức.

Đức Cha đến bên nói:

- Cháu xem, chọn vài quyển sách làm vật kỷ niệm thôi. Cháu làm sao mang được hết chỗ sách này? Ai giữ gìn sách cho cháu?...

Tìm mãi không thấy những truyện cổ tích, quyển “Những tâm hồn cao thượng” đâu, tôi buồn rầu nói với đức Cha:

- Cháu lấy hai quyển “Từ điển tiếng Việt” của Đào Duy Anh, “Pháp Việt từ điển” của Đào Duy Từ, bao nhiêu tiền ạ?

Đức Cha hiền từ nắm tay tôi:

- Cháu yêu quý sách như thế, Cha tặng lại, không phải tiền. Cháu ra ngay bến xe đi ô tô chuyến chiều lên Ninh Bình cho kịp.

Đức Cha bảo ông già lấy tờ báo cũ gói sách cho tôi.

Suốt đường đi Hà Nội, tôi thầm cảm ơn những hàng xóm đối tốt với cha, giận buồn chị Tâm không về thắp nén hương cha, chị Trâm thờ ơ nhạt nhẽo. Tôi căm thù mụ Vợi cáo quỷ. Nếu gặp nó, tôi phải băm vằm con yêu tinh ra làm trăm mảnh…

Lên trường Bưu điện học đến ngày thứ hai, máu cam tôi ồng ộc chảy vũng ra bàn học. Tôi gục đầu xuống bàn nghe đánh cộc. Tôi ngất đi không biết gì nữa.

 

                                      *       *

                                           *

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 7

 

Giật mình đập chân xuống giường, tôi mở mắt thấy màu trắng toát quay chong chóng liền nhắm mắt lại. Xung quanh tôi nghe tiếng nói ồn ào. Sau này tôi mới biết đó là niềm vui mừng của y bác sĩ chữa bệnh cho tôi, của anh Doãn. Họ reo lên:

- A tỉnh rồi!...

- Sống rồi!...

- Xem lòng tử mắt…

Tôi được nhà trường đưa vào bệnh viện Hà Đông cấp cứu ngay khi ngất gục xuống vũng máu cam trên bàn học. Do mất nhiều máu, tôi thiếu máu nặng, áp huyết tụt, mạch yếu, hôn mê sâu, lòng tử mắt bắt đầu giãn. Không mấy hy vọng tôi sống. Anh Tiến ra bệnh viện Bạch Mai gọi anh Doãn vào. Các anh xin chuyển tôi ra bệnh viện Bạch Mai cứu chữa. Anh Doãn khai hồ sơ bệnh án tôi là em ruột: “Lại Thị Nhật Tân”. Các y bác sĩ trong khoa tinh thần kinh tận tình cứu chữa tôi như người thân. Hơn một tháng tôi đã mở mắt được mấy giây, đập chân giật mình làm ai cũng mừng. Tôi cảm nhận mơ hồ, xung quanh tôi có nhiều người nói.

Phải hai tuần sau, tôi mới cảm nhận được có ai bóp nhẹ hai bên mép, đổ nước vào mồm, tôi nuốt ực. Đầu tôi đau buốt như ai gõ búa ong ong trong sọ não. Hễ mở mắt là tôi lại thấy màu trắng toát quay chong chóng. Sợ quá, tôi nhắm ngay mắt lại. Nhiều lúc tôi cảm giác bay lên cao tít trời xanh rồi rơi tụt xuống vực sâu. Khi tôi thấy mình đang cất vó tép ngoài đồng lúa xanh mênh mông. Nghe tiếng gọi tên mình, dừng tay cất vó nhìn tôi thấy cha chạy đến. Mỗi khi tôi đến gần, cha lại bay xa trên hồ sen đỏ thắm ngào ngạt hương. Tôi bay theo cha một đoạn thì cha biến mất hút. Tôi thét gọi: “Ba!...” Có vật gì đè lên người tôi nặng nặng. Mở mắt, tôi thấy gương mặt phụ nữ nước mắt đầm đìa, gần áp mặt tôi. Mấy ngày sau, mỗi khi tôi mở mắt đều bắt gặp gương mặt phụ nữ hiền hiền ấy. Tôi nghe tiếng hỏi như ở xa xôi, thoảng trong gió:

- Em Tân!... Em Tân!... Em có nghe tiếng chị gọi không?...

          Sau hơn hai tháng, được bác sĩ tận tình cứu chữa tôi mới tỉnh lại.  Lương y sĩ hàng tháng của anh Doãn chỉ để mua thịt, xương, đỗ xanh, hạt sen hầm lấy nước đổ cho tôi uống. Gương mặt người phụ nữ hiền hiền luôn ở bên tôi chăm sóc là chị Vân y tá yêu anh Doãn. Một hôm tôi đang ngủ mê mệt, chị Vân lay gọi tôi:

          - Em Tân!... Em tỉnh dậy!... Ban ngày mà em mơ gì hét to thế.

          - Em gặp cha, mừng quá!... Cha em lại đi, hu hu!...

          - Anh Doãn ơi!... Em Tân nói được rồi! Mừng quá anh Doãn ơi!

          Anh Doãn vào nắm tay tôi:

          - Em Tân! Em nhận ra anh Doãn không?

          - Có!... Anh Doãn ơi, em đang nằm ở đâu mà tường trắng thế?

          - Em đang nằm trong bệnh viện Bạch Mai. Giờ em thấy trong người thế nào?

          - Em đau đầu chóng mặt lắm.

          - Không sao đâu, dần dần em sẽ hết đau đầu. Em chịu khó ăn nhiều chóng khỏi ốm, về trường học.

          - Em nghỉ học lâu chưa anh?

          - Hơn hai tháng rồi.

          - Hu hu!... – Tôi khóc.

          - Em đừng khóc đau đầu thêm. Em không lo nghĩ gì hết thì mới chóng khỏi bệnh về học.

          Nghe anh Doãn khuyên bảo, tôi cố nuốt hết bát cháo mà bữa nào chị Vân cũng dỗ dành bón cho tôi. Mỗi tuần có vài buổi rất đông sinh viên đến giường bệnh tôi thực tập. Có sinh viên tên Vũ Quần Phương thường nán lại hỏi chuyện học của tôi. Họ thì thầm với nhau về bệnh tình của tôi: “Histerie”. “Cảm xúc, hay ngất ngã lăn quay”. “Tội nghiệp con bé một thân một mình”, “Huyết áp thấp quá”, “Mạch yếu khó cứu” v.v…

          Một hôm sinh viên thực tập Vũ Quần Phương hỏi tôi:

          - Em có hay đọc truyện cổ tích không?

          - Có. Em thích truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Tô Định. Trong quyển “Những tâm hồn cao thượng” có nhiều truyện hay anh nhỉ.

          - Ừ… Em có đọc thơ không?

          - Tủ sách nhà em không có thơ, chỉ có mỗi truyện Kiều, em đọc đi đọc lại, lần nào em cũng khóc thương Kiều bán mình chuộc cha.

          - Em dễ xúc động. Từ giờ, khi gặp việc gì buồn, em đừng lo lắng nghĩ ngợi nhiều, kẻo em ngất ngã đấy. Em vui lên nhé!

          Lần sau, anh Vũ Quần Phương tặng tôi bài thơ dài, tôi đọc một lượt thuộc ngay đoạn gần cuối bài thơ:

          “… Em gái ơi cành cao anh vin quả

          Trái đời ngon em cứ hái mà ăn

          Tuy cuộc sống giờ đây còn vất vả

          Đi với người em phải kiễng bàn chân

          Kiễng bàn chân nhưng em không sợ ngã

          Khi trong lòng em đã vững niềm tin…”

          Được anh Vũ Quần Phương sinh viên y khoa động viên, tôi vui vẻ, cố gắng mỗi bữa ăn hết bát cơm. Đi lại được, tôi chuyển sang phòng đông bệnh nhân, không nằm một mình một phòng như khi mê man nữa. Ở đây, tôi làm quen với chị Duyên, chị Dậu, chị Mỹ. Chị Dậu thỉnh thoảng lên cơn co giật sùi bọt mép. Chúng tôi xúm lại nắn bóp chân tay cho chị. Vào ngày chủ nhật, ba chị rủ tôi ra hồ Bảy Mẫu chụp ảnh kỷ niệm. Bốn chị em mặc áo quần trắng bệnh viện chụp ảnh, những người đi chơi công viên nhìn chúng tôi cười.

 

                                      *        *

                                           *

 

          Anh Doãn cầm phim chụp sọ não của tôi về phòng bệnh với gương mặt rầu rầu. Kẹp phim vào bệnh án treo đầu giường, anh ngồi thở dài nhìn tôi. Một lát sau đoàn sinh viên thực tập đến xem bệnh án. Họ thì thầm với nhau:

          - Phim chụp ngày đầu với lần này giống nhau.

          - Lạ nhỉ, sao nhiều khối u thế?

          - Trưởng khoa nói phải đục sọ cắt khối u à?

          - Mạch yếu, thiếu máu nặng làm sao đục sọ được?

          - Thời chiến, máu để cứu chữa thương binh ngoài chiến trường còn không có. Tất cả ra tiền tuyến còn chưa đủ, hậu phương làm gì có máu tiếp cho bệnh nhân…

          - Tội nghiệp!...

          Xem đi xem lại bốn tấm phim của tôi trong phòng bệnh, các sinh viên còn ra hành lang bàn luận một hồi lâu. Trở vào phòng bệnh, treo lại phim vào bệnh án họ nhìn tôi với ánh mắt buồn, mấy người thở dài thượt. Anh sinh viên Vũ Quần Phương nán lại, mở cặp lấy ra quyển sách cho tôi:

          - Anh tìm được cho em truyện Thạch Sanh đây! Rồi anh sẽ tìm các truyện cổ tích khác cho em. Em vui lên nhé! Em sắp khỏi bệnh, ra viện được rồi em gái bé bỏng ạ. Còn đây là tờ báo in bài thơ của anh, anh cho em đọc cho vui…

          Hôm sau anh Doãn cùng chị Vân, chị My bạn anh Doãn đón tôi về phòng ở tập thể trong bệnh viện. Hai chị quý mến tôi, hay mua quà bắt tôi ăn chóng khỏe về trường học. Nhưng mọi thứ tôi ăn vào mồm không có cảm giác gì, chỉ thấy đắng ngắt không muốn nuốt. Ngày hai bữa cơm, tôi chan nước canh cố nuốt được miệng bát. Các anh chị nhường bát cơm cho tôi, ba người ăn toàn ngô. Tôi xúc động trước lòng tốt của mọi người, rưng rưng nước mắt. Anh Doãn nhăn mặt bảo tôi:

          - Bữa cơm nào em cũng khóc, làm mọi người ăn mất ngon. Anh nói mãi em không chừa. Từ nay…

          Tôi òa khóc nấc lên. Chị Vân ôm tôi dỗ dành:

          - Em Tân ngoan nín đi! Anh Doãn yêu quý em, không mắng em đâu. Anh Doãn muốn em vui lên, ăn khỏe để chóng đi học.

          - Nhưng các anh chị ăn ngô, nhường bát cơm cho em, em thương các anh chị, em cảm động nước mắt nó tự chảy ra chứ em có khóc đâu.

          Các anh chị nhìn nhau mắt đỏ hoe. Vừa lúc ấy anh Thanh, người yêu chị My đến.

          - Ồ, cả nhà ăn cơm, chuyện gì xúc động thế? Mình đến chào mọi người lên đường.

          Ai nấy nhìn nhau ngơ ngác. Anh Thanh nói tiếp:

          - Thời gian gấp lắm, mình không thể về quê Nam Định thăm mẹ được. Mình mượn xe đạp thủ trưởng về đây chào các bạn, chia tay My. Mình đi đây! Tạm biệt! Hẹn ngày chiến thắng!

          Chị My sụt sịt đứng lên đi theo anh Thanh. Anh Doãn nói:

          - Tháng trước Thanh bảo đơn vị huấn luyện hai tháng nữa mới đi B cơ mà!

          Chị Vân:

          - Chiến trường gọi thì đi, chứ chờ huấn luyện xong làm sao được.

          - Ờ…

          - Anh Thanh mua quà cho bé Tân này. Ôi, một túi táo thơm quá! Em Tân ăn đi, anh Doãn, táo ngon lắm.

          Ngày chủ nhật, chị Nhũ và anh Tô Ngọc Long nhân viên văn phòng trường Bưu điện đến thăm tôi. Vừa nhìn thấy tôi chị Nhũ nước mắt ròng ròng. Anh Doãn gọi anh Tiến ra ngồi ghế đá vườn hoa bệnh viện nói chuyện. Chị Nhũ, anh Long xem đi xem lại bốn tấm phim chụp sọ não của tôi thở dài, thì thầm vào tai nhau. Tôi ù tai chẳng nghe thấy gì. Một lúc sau anh Tiến gọi chị Nhũ. Ba người vừa đi vừa nói chuyện. Còn lại tôi và anh Long ngồi trong phòng. Anh bảo tôi:

          - Em Tân nghỉ ốm hơn hai tháng, cộng thời gian em chăm cha ốm nữa, mất hơn bốn tháng trong một năm học. Em phải chuyển xuống lớp 6E. Hoàn cảnh em khổ quá, em học giỏi nên nhà trường mới chiếu cố thế. Học sinh khác, nhà trường gạch tên rồi.

          Nghe anh Long nói tôi hoang mang. Còn mấy tháng nữa nghỉ hè tôi về đâu? Khóa sáu tháng chín mới gọi tập trung. Không có học bổng tôi sống bằng gì. Sức yếu ốm đau, làm sao tôi đi câu cáy bắt cua sống được? Tôi nói với anh Long:

          - Anh nói với bác Khuôn cho em học tiếp khóa năm đi.

          - Em học sao được. Em còn đau đầu ù tai hoa mắt, ăn em còn chưa ăn được thì học làm sao. Học đánh ma níp tích tích tích tà ầm cả lớp, em ù tịt tai điếc luôn.

          Tôi buồn thiu, nước mắt ứa ra. Anh Long lúng túng đi ra ngoài. Một lúc sau cả bốn người trở lại với gương mặt buồn.

          Anh Doãn nói:

          - Em Tân, các anh và chị Nhũ đã bàn, em về quê nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho khỏe lên may ra mới tiếp tục học lớp 6E. Anh Long sẽ giúp em việc học hành. Nay anh đánh điện cho chị Trâm lên đón em về.

          - Chị Trâm không nuôi được em đâu. Chị phải nuôi chồng con. Nuôi con thơ mà chị toàn ăn tróc thôi. Chị đi làm hợp tác xã ít điểm, ít thóc lắm.

          - Chị ruột phải có trách nhiệm khi em ốm nặng chứ. Chị ăn gì em ăn nấy.

          - Em sợ không có củ tróc cho phần ăn của em ấy. Chị em trồng tróc ở bờ sông được ít lắm.

          - Không bàn đến việc có gì ăn hay không. Anh nói để em biết, lương mấy tháng nay của anh tập trung tiền thuốc và ăn uống cho em để cứu em sống. Em sống được là mừng lắm. Chị Nhũ cũng thường ra thăm em, gửi anh tiền mua thuốc tốt cứu em. Mọi người dồn hết công sức chăm sóc em. Giờ em tạm về với chị Trâm. Chị em cùng mẹ sinh ra, trong lúc hoạn nạn phải cứu giúp nhau. Chả nhẽ chị Tâm lương giáo viên cấp hai, không góp được mỗi tháng lấy mấy đồng cho chị Trâm nuôi em à? Em bệnh nặng thì các chị cũng phải thương chứ.

          - Chị Trâm em đẻ con ăn củ tróc chị Tâm còn không cho mấy hào đong gạo nữa là em, chị Tâm bảo em người dưng không cho đâu.

          - Người dưng như tất cả các anh và chị Nhũ đây thương yêu chăm sóc em như em ruột, tốn tiền tốn công mong cứu em sống. Chắc giờ chị Tâm nghĩ khác rồi, em cứ về với chị Trâm, biết đâu chị Tâm đón đến trường dạy ở Hải Hậu nuôi em thì sao?

          - Chị Trâm vẫn bảo chị Tâm em bệnh kiết nặng chỉ biết vơ tiền của người khác, không bao giờ móc tiền trong túi cho ai đâu. Chị ấy để dành tiền chữa bệnh kiết không nuôi em đâu. Bệnh kiết khó chữa lắm anh ạ. Ở chợ Quỹ có ông Nấm bệnh kiết nặng, đi chữa mãi trên bệnh viện huyện Nghĩa Hưng không khỏi, về chết.

          Mọi người cười chảy nước mắt, ho sặc sụa.

          Chị Nhũ vỗ vai tôi:

          - Chị và anh Long về đây. Em chịu khó ăn nhiều cho chóng khỏe. Mấy hôm nữa chị Trâm lên đón em về quê mát mẻ không khí trong lành, em chóng khỏi bệnh lên trường học. Nhớ viết thư cho chị em nhé!

          Ra đến cổng bệnh viện gặp xe điện, anh Long chị Nhũ vẫy chào chúng tôi. Chị Nhũ ho vẫn bưng miệng cười khi bước lên xe điện.

          Hai tuần sau chị Trâm bế con lên bệnh viện Bạch Mai đón tôi. Vào đến phòng anh Doãn, thấy tôi nằm còng queo, chị Trâm òa khóc:

          - Ối em Tân ơi!... Khổ thân em… Ông giời không có mắt!...

          Cháu bé chị bế khóc váng nhà. Chị vạch vú cho cháu bú cháu không bú cứ ưỡn người khóc. Chị mở túi vải lấy gói thuốc nói với anh Doãn:

          - Cháu bị đi tướt đau bụng. Nhận được điện của anh, tôi phải thu xếp, bán mấy con gà mới có tiền đi tàu xe lên đón em. Rồi cháu đi tướt phải cho cháu uống thuốc nó đỡ mới lên được.

          Anh Doãn cầm thuốc xem:

          - Chị cho cháu uống tạm thuốc này. Sáng mai em cho cháu vào khoa nhi khám xin thuốc cho cháu.

          Chi Trâm và anh Doãn đi ra ngoài nói chuyện lâu lắm mới vào nhà. Chiếc khăn mặt vắt vai, chị luôn tay thấm nước mắt, nhìn tôi thở dài. Cháu bé bú no ngủ, chị Trâm đặt nằm cạnh tôi.

          - Hễ cháu trở mình, em vỗ vỗ vào mông cho cháu ngủ nhé!

          Chi Vân vào rủ chị Trâm đi.

          Bữa cơm tối hôm ấy có tôm rảo biển rang chị Trâm đem lên cùng mấy cân gạo ri thơm. Chị Vân thổi một bò gạo ri cho tôi ăn bát cơm, còn ba người ăn cơm tập thể độn ngô. Hai chị và anh Doãn cứ nhường nhau ăn nốt chỗ cơm gạo ri. Cuối cùng cơm vẫn còn nguyên trong xoong.

          Trưa hôm sau, anh Doãn, chị Vân tiễn chân hai chị em tôi lên tầu về Nam Định. Anh Doãn, chị Vân dặn đi dặn lại tôi:

          - Em Tân vui lên nhé!

          - Em không được nghĩ gì buồn là ngất đấy.

          - Em chịu khó ăn khỏe vào thì chóng khỏi bệnh đau đầu chóng mặt.

          Chị Trâm nước mắt chảy ướt má, nghẹn ngào nắm tay anh Doãn, chị Vân:

          - Cảm ơn chú, cảm ơn cô nhiều. Tôi không biết nói thế nào đáp lại được lòng tốt của chú của cô đối với em nó… Tôi đội ơn chú, đội ơn cô suốt đời. Không biết bao giờ tôi làm được ra tiền trả nợ chú, cô – Chị khóc nấc lên – Số chị em tôi khổ. Nuôi con thơ, tôi không có cơm ăn. Số tiền thuốc chạy chữa cứu em sống lớn quá. Tôi… Tôi đội ơn…

          Anh Doãn gạt đi:

          - Tình quê hương, nghĩa đồng bào mà chị. Chị đừng nói nữa. Hoàn cảnh em Tân, ai gặp cũng phải giúp chị ạ…

          Con tầu rúc hồi còi dài báo hiệu rời ga Hàng Cỏ. Tiếng bánh sắt nghiến vào đường ray ken két, xình xịch xình xịch, tôi vẫn thấy anh Doãn chị Vân đứng ở sân ga nhìn theo.

 

                                      *       *

                                           * 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 8

 

          Về quê bế cháu được một tuần tôi chán ngắt, nhớ thầy, nhớ các anh chị lớp 5E. Cháu Hưng luôn đi tướt ra áo quần tôi. Mỗi khi cháu khóc, tôi cho cháu miếng củ tróc dỗ cháu nín. Một tối, tôi nói với chị Trâm:

          - Chị ơi, mai chị ở nhà bế cháu. Em đi làm hợp tác xã thay chị.

          Chị mắng tôi:

          - Mày nói vớ vẩn. Ai cho trẻ con đi làm thay người nhớn? Bác sĩ bảo không cho mày làm việc nặng. Trong đầu mày nhiều khối u nên hay chóng mặt, ngất ngã đổ máu cam. Anh Doãn dặn kỹ tao rồi, không quát mắng to kẻo mày ngất.

          - Mấy tuần nay em có ngất đâu. Em cào cỏ lúa nhẹ nhàng. Em làm nhanh hơn xã viên cho chị xem.

          - Không nặng nhưng tháng bảy ta mưa nắng thất thường, mày cảm ngất lăn quay thì khổ tao. Ông ba mới mất nửa năm nay, mày phải giữ gìn sức khỏe – Chị khóc.

          - Nhưng ở nhà em buồn chán lắm. Cháu quấy khóc em đau đầu lắm.

          - Không nói, đi ngủ.

          Chị tắt phụt ngọn đèn dầu, bế con lên giường. Tôi mò mẫm trong tối mắc màn cá nhân trên cái giường to. Nằm xuống giường, tôi khóc một mình. Oán trách ông trời bắt tôi đau ốm lâu. À, mình nghĩ cách khác. Mai ru cháu ngủ, mình ra bờ sông móc bùn trồng khoai nước. Mình phải làm việc tay chân cho quên đau đầu buốt óc…

          Một cơn gió mạnh giật bung cánh cửa, tung màn lên. Mái nhà tốc một đám rạ, lộ ra bầu trời xám xám.

- Tân thức hay ngủ đấy em?

- Em vẫn thức từ tối đến giờ.

          - Em sang nằm với cháu để chị dậy chặn cửa. Gió khiếp quá, giông bão gì đây. Cả ngày hôm nay thi thoảng mưa lác đác như rong bão.

          Lâu lắm chị Trâm mới chằng buộc cửa xong. Gió mỗi lúc một mạnh hơn, rít qua khe cửa ken két. Một cơn gió lùa vào khoảng trống mái rạ, kéo theo mưa ào ào đổ xuống góc nhà chỗ đầu giường chị. Tôi ôm cháu chạy sang giường tôi. Chị bế cháu Trụ ba tuổi đặt nằm cạnh bé Hưng, gọi tôi khiêng giường ra khỏi chỗ giột. Chị làu bàu:

          - Tại ông ba mày lôi cả nhà về nông thôn nên đời tao khổ. Ở trên phố, bao đời nhà cao cửa rộng. Mẹ buôn to bán lớn sung sướng. Tao lấy chồng ở phố đâu khổ thế này? Ba gian bếp nhà chồng ngăn cho được hơn một gian, cửa hướng tây, bốn mùa như cái hang chuột bị hun khói.

          Nói đến cha tôi buồn, lặng ngắt lên giường ôm cháu. Chị Trâm thu dọn mấy thứ vặt rồi lên giường ngủ. Tôi nằm nghe gió rít từng cơn. Mưa xối xả chui tọt vào lỗ hổng mái nhà. Chị Trâm ngủ say không nghe tiếng nước mưa ngập lõng bõng trong nhà. Gió hú hét, tiếng cành tre sau nhà gẫy răng rắc, tiếng cò kêu nháo nhác thảm thương. Cháu Hưng trở mình oe oe, chị Trâm thức giấc.

          - Thôi chết!... Trời sáng bạch rồi – Chị nhóm dậy - Ối!... Nhà như cái ao Tân ơi. Em bế cháu cho chị đục lỗ bậu cửa để nước thoát ra sân.

          Hì hục một lúc lâu chị Trâm mới khoét được một lỗ bằng cổ chân. Nước thi nhau chui qua lỗ bậu cửa nhảy túa ra sân, trông thật vui mắt. Tôi cầm hai bàn tay nhỏ xíu của cháu vỗ vào nhau hoan hô nước thoát. Hàng xóm, nhiều nhà bị tốc mái rạ, ai cũng bận dặm lại mái, quét dọn nhà cửa. Chị Trâm nói với bác Ong ông anh chồng:

          - Bác cho em mượn thang em dặm chỗ mái nhà bị gió cuốn.

          - Nhà tôi cũng bị gió bốc thủng nóc to hơn mái nhà thím, tôi đang sửa, không cho mượn thang được.

          Chị Trâm mặt ỉu xịu lặng ngắt ra đống rạ rút một bó to ôm vào nhà. Chị bảo tôi:

          - Em đặt cháu xuống giường chơi với anh Trụ, đưa rạ cho chị.

          Chị vừa lôi đám rạ lùng nhùng ướt sũng chỗ thủng thì một bọc giấy to rơi xuống, tôi đưa tay bắt được, để xuống giường. Dặm xong mái nhà, chị tôi hì hụi thu dọn mấy cái nồi đất bị nước trôi lăn lóc khắp nơi. Tôi bế cháu Hưng ngồi mở bọc giấy xem đựng gì? Ôi, toàn thư của các cô gái ở nơi anh rể Lương tôi dạy học bên Hải Hậu gửi cho anh: “Anh ơi! Anh hẹn đưa em lên phố phá thai, sao em chờ mãi không thấy anh đến?...” Người tôi nóng ran như muôn vàn con kiến đốt khắp cơ thể. Tim tôi đập loạn xạ. Tôi mở lá thư tên cô gái khác: “Anh yêu dấu! Hai tháng nay em không thấy tháng, chắc chửa rồi. Anh phải đưa em đến chỗ nạo thai tư trên phố, không thì thầy mẹ em giết chết!!!” Tôi kinh hoàng, nhìn chị tôi ứa nước mắt, thương chị cực nhọc lam lũ nuôi chồng nuôi con, mà chồng lăng nhăng. Nghỉ một lát cho bình tĩnh, tôi đọc hết hơn chục lá thư na ná giống như hai cô gái trên. Tôi khinh anh rể làm cho các cô gái chửa.

          Chị Trâm bưng rổ tróc luộc vào giường hỏi tôi:

          - Bọc giấy đựng thư ai đấy em?

          Tôi bật khóc:

          - Chị ơi!... Thư của hơn mười cô gái tên khác nhau gửi cho anh Lương, hẹn anh đưa lên phố Nam Định phá thai.

          Chị Trâm tròn mắt hỏi lại tôi:

          - Thật không?... Em đọc chưa?...

          - Thật! Em đọc hết rồi, cả một tập ảnh đây này. Chị đọc đi, mách bác Ong cho bác dạy bảo anh Lương khỏi hư thân.

          Chị bảo tôi ăn tróc còn chị đọc thư. Nước mắt nước mũi chị chảy ròng ròng. Nhìn những bức ảnh anh Lương bá vai các cô gái cười tươi, chị càng nức nở. Đằng sau mỗi tấm ảnh ghi: “Em Cúc yêu dấu của anh”, “Em Thoa yêu dấu của anh”, “Em Nụ yêu dấu của anh” v.v… Chị Trâm khóc nấc lên. Cháu Trụ nhìn mẹ ngơ ngác.

          - Chị ơi, chị đừng khóc. Chị mách bác Ong tội anh Lương lăng nhăng để bác ấy đánh cho anh Lương chừa.

          Vừa lúc ấy bác Ong vác cây tre từ vườn sau đi qua, chị Trâm cầm tập thư ra hè nói:

          - Bác Ong ơi, nhà em dạy học bên Hải Hậu, lăng nhăng với hơn chục cô gái. Thư của các cô…

          Ông Ong vứt cây tre đánh bịch xuống đất, vung dao chém chị Trâm:

          - Mày bảo em ông lăng nhăng ông chém chết!...

          Chị Trâm vứt nắm thư chạy vụt ra sau vườn. Cháu Trụ khóc thét lên. Ông Ong đuổi chị đến khóm chuối. Tôi lo cho chị, chạy sau ông Ong. Nhìn ông vung dao bổ xuống đầu chị Trâm, tôi nhắm mắt lại, nghe đánh “hự”. Mở mắt ra, tôi bàng hoàng bủn rủn chân tay, cây chuối bị chém đứt nằm vật dưới vườn cà. Hú vía! Chị Trâm xé rào chạy sang nhà bà Xuân. Hai người đứng ở hè ôm nhau run cầm cập, nhìn ông Ong đứng ở gốc chuối cụt dứ dứ con dao về phía chị Trâm. Tôi chạy vào nhà bế cháu Hưng, dắt cháu Trụ đi vòng từ cổng nhà sang ngõ bà Xuân, cắp theo rổ củ tróc cho chị ăn. Chị dọn nhà cửa từ sáng đến giờ chắc đói.

          Bà Xuân bảo chị Trâm:

          - Cháu đừng về nhà lúc này, ông Ong còn tức, nhỡ ra khổ thân. Chốc nữa bà sang nói chuyện cho ông ấy nguội cơn nóng, chiều cháu hãy về.

          Ra ngoài đường tôi gặp đoàn thanh niên đi khơi mương tháo nước ngập đồng cứu lúa. Tôi nói:

          - Các anh chị cho em đi với!...

          Anh Hiền bí thư Đoàn hỏi:

          - Em khỏe hẳn chưa, đi dầm nước mưa em ốm thêm.

          - Em khỏe rồi.

          Tôi chạy ù về nhà lấy cuốc đuổi theo các anh chị. Nước ngập trắng đồng mênh mông. Mấy anh dùng móng xắn đất bờ mương thành một cái rãnh to. Còn tất cả nữ dùng cuốc xẻ bờ cho nước thoát. Mải miết làm việc cứu lúa không ai để ý giờ giấc, đói mệt. Khi công việc xong, chúng tôi ra về mới thấy đói và khát. Mắt tôi hoa, chân bủn rủn, nhưng tôi cố gắng đi cho vững. Đầu tôi luôn nhẩm: “Mình khỏe rồi, sắp lên trường học…” Về tới nhà không bị ngã, tôi mừng quá, vào bếp rót bát nước vối uống một hơi. Tôi sang nhà bà Xuân, chị Trâm ôm con ngủ ở cái chõng tre đầu hè. Bà Xuân đang cho lợn ăn dưới bếp. Bà vẫy tôi:

          - Cháu đi khơi mương sao không hỏi chị? Chị cháu lo cháu ngất ngoài đồng, sao về muộn vậy? Cháu ăn cơm đi, chắc đói rồi.

          Tôi xới bát cơm củ tróc, thỉnh thoảng mới có hạt cơm ăn ngon lành. Cà muối bà Xuân cho chua giòn ngon quá. Mỗi miếng cơm tôi ăn một quả cà chấm mắm cáy. Ăn một lèo ba bát cơm tôi no căng bụng. Nhìn chị ôm cháu ngủ tôi thương thắt ruột. Mình lao động tay chân ăn khỏe. Đúng rồi, từ mai mình ra bờ sông móc bùn trồng khoai nước. Dọc khoai bán, củ ăn ngon mát hơn củ tróc. Cha vẫn bảo: “Lao động là vinh quang”. Lao động tay chân mình đói, ăn khỏe mới chóng khỏi bệnh trở về trường bưu điện học. Tôi lặng lẽ về nhà quét dọn, luộc củ tróc để tối ăn. Nhìn ngọn lửa rạ cháy bập bùng tôi nghĩ lung tung. Nhớ câu nói tối qua chị Trâm oán trách cha làm cả nhà khổ, đúng thật. Mẹ ở phố quen buôn bán, về nông thôn không biết cày cấy khổ thật. Cha mẹ cãi nhau, không thương nhau như hồi cha mới đi tù giặc Pháp về. Vì khổ nên mẹ ghét cha, ghét cả mình. Cha tính sai đành chịu khổ. Mình phải khỏe mới học được. Ăn củ tróc không bằng ăn ngô. Mình ăn ở trường còn có canh bí ngô, con tép, con cá lẹp kho. Nhà chị ăn khổ quá, củ tróc thay cơm, thức ăn chỉ rau muống luộc, nấu canh mắm tôm. Mình phải nhanh nhanh lên trường bưu điện thôi.

          Sáng hôm sau tôi móc bùn ở bờ sông, chị Ngoan đi dạy học về gọi:

          - Em Tân chăm chỉ thế? Trưa rồi, nghỉ thôi em!

          Tôi xuống sông rửa tay chân, cắp ấm nước vối về nhà. Chị Trâm quần vẫn xắn trên đầu gối, tay bế con, tay dọn mâm cơm. Cháu Trụ bưng bát cơm trộn củ tróc chỉ chỉ vào đĩa cá kho.

          - Hôm nay chị bắt được mấy con cá rô lách, chị kho với sung xanh.

          Chị Trâm nhìn tôi bằng ánh mắt lo ngại. Ngồi vào mâm, tôi vui vẻ khoe với chị:

          - Chị ơi, sáng nay em móc được luống bùn dài lắm. Em đem ấm nước vối ra, uống hết chị ạ. Em không chóng mặt.

          - Em làm buối sáng thôi, chiều nay nghỉ bế cháu. Gửi cháu nhà trẻ đông, các cô không chăm cháu bằng mình em ạ. Em lao động nặng từ từ thôi. Em bế cháu vừa sức hơn.

          Chị Trâm không hiểu tôi lo nghĩ. Hơn một tháng nay tôi ăn củ tróc chị nuôi. Tôi muốn làm việc gì bù lại số củ tróc chị cho tôi ăn. Nhưng chị chỉ thích tôi bế cháu cho chị yên tâm đi làm hợp tác xã, được nhiều điểm, đến mùa được nhiều thóc. Cháu Trụ ba tuổi rất ngoan, sáng dậy sớm đi lớp mẫu giáo. Có trưa mẹ đi làm về muộn chưa kịp đón, cháu tự về nhà.

 

                                      *       *

                                           *

 

          Hôm nay nắng gắt, tôi mải miết móc bùn, trồng khoai nước, về đến giữa sân nghe tiếng nói:

          - Em Tân chăm làm quá!... Chân em trắng như ngó cần, bùn dính vào xấu đi.

          Tôi nhìn lên, một anh to béo, mặt đỏ như gà chọi đứng ở cửa nhà bác Ong. Tôi xấu hổ bước nhanh vào nhà.

          Chị Trâm đón cháu từ nhà trẻ về hỏi tôi:

          - Hôm nay em về sớm thế? Em trồng xong khoai rồi à? Giỏi!... Em còn móc thêm bùn trồng hết mấy bó cây giống à?... Em làm giỏi hơn chị nông dân. Hết việc. Từ mai em ở nhà bế cháu cho chị đi làm. Vài tháng nữa chị em mình có khoai nước ăn ngon.

          Mặt trời xế bóng, tôi ru cháu ngủ đặt xuống giường, định ra bờ sông xem luống khoai trồng ban sáng có cây nào xiêu vẹo trồng lại. Vừa mở cửa, thấy anh mặt đỏ đứng lù lù. Tôi giật mình lùi lại. Anh ta cười, miệng rộng ngoác tận mang tai, nhe hàm răng to như răng bò, làm tôi khiếp sợ.

          - Anh là Đinh Lan Đô, con trai cả bác Ong anh ruột ông Lương anh rể em, đừng sợ. Anh về mấy tuần nay, em đi làm suốt ngày không gặp anh đấy thôi. Hôm nay anh không đi chơi, vào thăm em.

          Tôi ngồi mép giường dưới chân cháu đang ngủ, run sợ nhìn anh Đô mặt đỏ.

          - Em chưa biết anh, nhưng anh biết em rất rõ. Dân chợ Quỹ nói em khổ nhất nhà, nhưng có hiếu nhất nhà. Cha em mới mất thì em ốm nặng, khổ thân em… Anh thương em…

          Đinh Lan Đô nhỏ nhẹ rót vào tai tôi những lời thương cảm, quý mến. Tôi xúc động nước mắt lăn dài xuống vạt áo. Anh Đô rút khăn mùi xoa trong túi áo thấm nước mắt cho tôi:

          - Em nín đi!... Từ nay đã có anh thương yêu em như em gái Thúy nhà anh. Em khó khăn gì anh giúp đỡ, chăm sóc em. Chị gái em là thím anh. Ông Lương là chú ruột anh. Anh em mình càng gắn bó tình cảm. Anh là giáo viên dạy thể dục, trông có vẻ thô ráp, sần sùi, nhưng tính anh rất thương người. Anh hay giúp đỡ ai có hoàn cảnh khó khăn như em.

          - Sao anh không dạy văn, dạy toán, lại đi dạy thể dục?

          - Ông Đông Sắc đẻ ra bố anh và chú Lương là địa chủ gian ác. Ông chỉ điểm cho giặc bắt Việt Minh giết. Sợ ta trả thù, ông theo giặc vào Nam năm 1954. Anh là cháu đích tôn địa chủ gian ác, không được đi bộ đội, không được dạy học văn hóa. Anh phải thi trung cấp thể dục. Anh dạy ở miền núi lương cao hơn ở dưới xuôi…

          Hôm sau ru cháu ngủ, mắt tôi cứ díp vào, ngủ lúc nào chẳng biết. Anh Đô đẩy cửa vào. Tôi giật mình nhỏm dậy. Anh Đô đưa tay ấn ngực tôi xuống.

          - Em cứ nằm nghỉ. Anh ngồi chơi tí thôi. Mấy hôm nữa anh lên Tây Bắc. Anh nghĩ rồi, anh không cưới chị Thu. Anh chờ em nhớn, học xong trường bưu điện, đủ tuổi anh lấy em.

          - Em không lấy chồng. Em không lấy anh. Em thích đi bộ đội vào miền Nam đánh Mỹ cơ.

          - Ừ… Không lấy anh thì anh lấy người khác. Anh không lấy chị Thu. Vị cây dây cuốn, anh làm anh kết nghĩa với em vậy. Bao giờ em lên trường bưu điện?

          - Khoảng giữa tháng chín em đi.

          - Anh hỏi để anh mua sách vở, áo quần mới cho em mặc. Là anh, anh phải có trách nhiệm chăm sóc em tận tình.

          Nghe anh Đô nói, lòng tôi xúc động. Trông bề ngoài anh Đô dữ tợn, da mặt sần sùi như da cóc, mắt trố như mắt trâu, môi dầy bì bì như hai con đỉa trâu hút no máu cắm vào mép. Vậy mà trong lòng anh tốt thế!…

          Bất chợt anh Đô ôm ghì tôi, tay bóp vú:

          - Ti em chưa có à?... Để anh xem… Chết rồi, em bị hai cái mụn nhọt ở hai vú, nó sưng rắn như quả cau non… Anh chữa cho… Để anh nặn mủ…

          - Buông em ra… Ối!... Đau, đau quá!... Ối làng nước!... – Tôi hét to, vùng vằng cậy cánh tay anh Đô như hai khúc gỗ lim.

          Anh Đô buông tôi ra, tôi vội mở toang cửa, bế cháu. Ông Ong đứng ở đầu hè nhìn tôi, hai mắt long sòng sọc như mắt chó sói. Tôi sợ xanh mặt. Anh Đô lẳng lặng đi ra.

          Sau hai ngày, anh Đô vào nhà tôi. Sợ anh bóp vú đau, tôi bế cháu ngủ trên tay. Im lặng một lúc lâu, anh Đô nói:

          - Em còn đau ti không?... Anh định nặn mụn cho em thì em cứ kêu đau.

          - Không phải mụn. Chị Nhũ kết nghĩa với em bảo em đang mọc vú, không phải mụn.

          - Đã có anh nào tập thể dục vú em chưa?

          - Tập thể dục buổi sáng, chứ em chẳng nghe ai nói tập thể dục vú bao giờ.

          - Em ngố ạ. Con gái phải tập thể dục vú cho to, mới đựng sữa cho con bú. Phải là anh trai tập cho em gái. Cái Thúy em gái anh nhờ anh tập thể dục vú to, nó đi hai vú rung rinh, nó lấy được chồng. Anh là anh kết nghĩa em, anh tập thể dục vú em cho nó to, em càng xinh gái. Ngực em lép thế kia mất xinh…

          Anh Đô ôm cả hai cô cháu, hôn tới tấp vào mặt tôi, luồn tay vào ngực bóp vú:

          - Anh xoa nhẹ thôi, không đau…

          - Không! Anh buông tôi ra! Tôi hét toáng lên giờ!...

          - Mai anh mua sách vở, áo quần cho em.

          - Không thèm. Không anh em gì. Chị ơi!... Bà Xuân!...

          Anh Đô ngồi xuống giường. Ông mặt trời chiếu thẳng những tia nắng chói chang vào mắt, anh đưa tay che. Tôi thấy giọt nước mắt anh lăn xuống má. Anh khóc?... Anh Đô khóc thật, nước mắt ròng ròng…

          - Anh yêu thương em mà em chẳng hiểu lòng anh. Anh buồn lắm. Tất cả mọi chuyện em đừng nói với chị Trâm nhé. Cả việc anh mua sách vở áo quần cho em, em cũng đừng nói nhé. Mai anh đi chợ Quỹ mua sắm các thứ cho em. Ngày kia anh đi… Anh chờ em…

          Ngày hôm sau không thấy bóng anh Đô, tối ngồi ăn củ tróc tôi kể chuyện cho chị Trâm nghe. Chị trợn mắt quát:

          - Con ngu! Sao không nói ngay? Hè năm ngoái, nó về đặt trầu, ăn hỏi cô Thu xinh nhất làng. Hai nhà chuẩn bị lợn làm cỗ cưới. Nhưng không có giấy giới thiệu của trường đi đăng ký kết hôn, nhà cô Thu không cho cưới. Cô Thu buồn thành xấu đi. Hè năm nay nó lại đòi bác Ong đặt trầu, ăn hỏi cô Én đang học sư phạm. Định ngày cưới rồi, nhưng không có giấy đăng ký kết hôn, nhà cô Én không cho cưới. Dân làng họ nói nó có vợ trên Tây Bắc rồi. Rau nào sâu ấy. Giống nhà nó địa chủ gian ác, máu dê ức hiếp nông dân. Nó đánh lừa hai nhà cô Thu, cô Én không được, nó đi lừa đứa trẻ ốm nặng. Đểu giả, bịa ra tập thể dục vú. Con gái phải mười bảy mười tám mới có vú. Mày mười bốn trẻ con, làm sao đã có vú được. May mà…

          Chị nghẹn củ tróc, tôi rót cho chị bát nước vối.

          - Thế sách vở, áo quần nó cho đâu?

          - Anh Đô bảo sáng mai đi chợ Quỹ mua.

          - Đểu quá!... Nó lừa em. Nó nói mồm, chứ móc túi bảy ngày không có một xu. Bà Ong hôm qua bán mấy con gà cho nó có tiền đi ca nô sáng nay.

          - Chị ơi, em sang ủy ban tập văn nghệ, mấy hôm nữa liên hoan tiễn chân thanh niên xã ta nhập ngũ. Anh Hiền bảo em lúc chiều…

          Ba hôm sau tôi nhận được giấy báo tập trung của trường bưu điện. Anh Long, chị Nhũ gửi kèm thư cho tôi. Đọc giấy báo của trường tôi mừng vui, chạy sang nhà chị Ngoan anh Vinh khoe. Chị Ngoan nói:

          - Tối mai biểu diễn văn nghệ tiễn chân bộ đội lên đường xong chị em mình với anh Vinh ra hồ bơi chơi, ngắm trăng nói chuyện nhé! Anh Vinh là con liệt sĩ chống Pháp, đáng lẽ không phải đi bộ đội. Nhưng anh Vinh năn nỉ mãi, mẹ anh cũng xin xã cho đứa con duy nhất vào chiến trường giải phóng miền Nam, mới được đi em ạ.

          Tối hôm sau, bà con xã viên ngồi chật sân ủy ban xem thanh thiếu niên biểu diễn văn nghệ. Người đi, người ở lại cùng múa hát vui. Tôi và anh Hiền bí thư Đoàn xã song ca bài “Trước ngày hội bắn” được bà con hò reo hoan nghênh, bắt hát đi hát lại ba lần. Điệu múa sạp, chúng tôi cũng phải múa lại mãi. Mọi người quên cả trời khuya quá nửa đêm. Ông Xương Bí thư đảng bộ xã phải đề nghị bà con cho đội văn nghệ nghỉ, sáng mai giao quân.

          Vợ chồng anh Vinh và tôi ra hồ bơi ngồi bậc đá ngắm trăng, nói chuyện mùa màng, ôn lại những kỉ niệm thanh niên làm thủy lợi. Tiếng chuông nhà thờ Giáo Dục binh boong báo trời sáng. Chị Ngoan nói:

          - Bốn giờ sáng rồi, mấy anh em ta về thôi!

          Anh Vinh bảo chị Ngoan:

          - Em về lấy thẻ hương, ba anh em ta ra nghĩa trang liệt sĩ thắp hương…

 

                                      *       *

                                           *

         

 

 

Chương 9

 

          Tôi đứng chôn chân liền mấy ngày sau buổi học chiều ở sân chơi thể thao, xem chị Nguyệt chơi xà lệch. Hai tay chị khỏe, nổi bắp như tay nam giới. Chị đi đứng, nhào lộn trên xà nhanh nhẹn, mềm mại như con mèo. Người chị đẫm mồ hôi, nhảy nhẹ nhàng xuống cạnh chỗ tôi.

          - Bé Tân có thích tập chơi xà lệch không?

          - Em thích!

          - Nào, cởi áo len ra, chị tập cho em. Bước đầu, em tập đu bằng hai cánh tay. Em kéo người lên!... A!... Khá lắm, em kéo được 5 lần cơ à?... Cánh tay em mảnh khảnh mà khỏe ghê!

          - Ở nhà, sáng nào em cũng tập thể dục, đu cành cây la ở bờ sông, rồi nhảy ùm xuống bơi mấy vòng.

          - Em yêu thể thao nhỉ.

          - Cha em bảo tập thể dục buổi sáng là liều thuốc bổ không mất tiền. Tập thể dục buổi sáng thân thể đẹp, khỏe mạnh. Cha bắt em tập thể dục buổi sáng từ ba tuổi, cả bơi nữa.

          - Ơ, thế em đăng ký thi bơi chưa? Đầu mùa xuân 1963 nhà trường tổ chức thi đấu các môn thể thao. Em bơi giỏi, em đăng ký thi bơi đi. Hôm nào trời nắng ấm, thầy Triều dạy thể dục sẽ đưa ra sông Nhuệ luyện bơi…

          Ăn cơm tối về phòng, tôi bàn với chị Nhũ tập chơi xà lệch, tập bơi để đi thi. Chị Nhũ phấn khởi, không ngờ tôi lại yêu thể thao đến thế. Hai chị em nhất trí sau buổi học chiều, ra sân chơi thể thao tập xà lệch. Tôi mơ ước biết chơi xà lệch như chị Nguyệt.

          Một hôm tôi và chị Nhũ đang chơi xà lệch, anh Trần Ngọc Bội đi đến gọi:

          - Bé Tân!

          Tôi nhảy xuống đất reo lên:

          - Ơ anh Bội! Anh lên trường bưu điện có việc gì?

          - Anh học lớp chuyên tu.

          - Em giới thiệu với chị Nhũ, anh Bội là nhân viên bưu điện huyện Nghĩa Hưng quê em. Còn chị Nhũ là chị kết nghĩa của em ở lớp 5E. Em nghỉ ốm mất nửa năm học, nên xuống lớp 6E.

          - Anh học cùng trường, có gì vướng mắc khó khăn, em sang lớp gọi anh giúp đỡ. Anh em đồng hương xa quê, nương tựa nhau…

          Từ hôm gặp anh Bội, tôi phấn khởi, mừng có thêm người anh tốt như anh Tiến. Anh Tiến ra trường nhận công tác, có anh Bội thay thế giúp đỡ. Sức khỏe tôi ổn định nhanh chóng. Chỉ sau khi nhập trường hơn một tháng, tôi lại được các thầy dạy toán, lý giao nhiệm vụ giảng phụ đạo buổi chiều cho lớp 6E. Anh Long cán bộ văn phòng nhà trường, bạn thân chị Nhũ cho giấy bút tôi học tập. Anh bảo tiền học bổng để tôi ăn sáng đều chóng khỏe. Thỉnh thoảng viết thư cho chị Trâm, báo cáo tình hình sức khỏe và học tập, tôi bỏ vào vài hào cho chị. Tôi thương chị, cháu Trụ mới ba tuổi ăn cơm độn củ tróc khổ quá. Chị Ngoan viết thư cho tôi nói bỏ dạy học vì lương thấp quá. Từ ngày anh Vinh đi bộ đội, một mình chị nuôi hai con thơ không đủ ăn. Chị đi làm hợp tác xã được nhiều điểm, đến mùa được chia thóc gần đủ ăn. Chị tranh thủ vạt tép, bắt cáy bán, nuôi lợn, nuôi gà thì ba mẹ con không đói. Hồi anh Vinh ở nhà, một đêm anh đi đặt lờ cá, cua cũng đong được vài cân gạo. Mẹ anh chỉ việc trông cháu, lo cơm nước cho anh chị dạy học. Từ ngày anh Vinh đi bộ đội, bà lặn lội ngoài đồng kiếm con cáy con ốc đem bán đỡ tiền mắm muối cho con dâu. Chị nhớ anh Vinh, thương mẹ chồng, chị quyết nghỉ dạy học để lam làm nuôi mẹ chồng, nuôi con cho anh Vinh yên tâm đánh giặc. Thư chị Ngoan làm tôi xúc động. Có lần chị Nhũ đến chơi, thấy má tôi ngấn nước mắt. Chị hỏi:

          - Em đọc thư ai mà xúc động thế?

          - Thư chị Ngoan ở Nghĩa Phú. Thời gian em ở nhà dưỡng bệnh, vợ chồng chị Ngoan dạy học rất quý mến em.Chị nói bỏ dạy học để kiếm sống nuôi mẹ chồng nuôi con khỏi đói. Em tiếc cho chị ấy bỏ nghề dạy học.

          Chị Nhũ xua tay:

          - Lao động vất vả no đủ hơn dạy học đói em ạ. Chị Ngoan bỏ dạy học là đúng. Em không nghe câu: “Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, nông lâm thông qua, sư phạm bỏ xó” đấy à? Dạy cấp một mỗi tháng có mươi cân gạo, đói lắm em ạ.

          - Thảo nào chị Trâm em cứ phải nhịn ăn, cho chồng chủ nhật về xúc gạo đem đi. Anh rể em không chịu khó làm gì thêm kiếm sống, cứ đẽo vợ gầy con thơ ốm yếu…

          Một hôm chị Nhũ cảm cúm, tôi đi kiếm lá xông xung quanh trường, phát hiện ra phía sau nhà vệ sinh có một mảnh đất cỏ mọc cao. Tôi về nói chuyện với chị Huệ trong lớp muốn nhổ sạch cỏ, trồng rau cải mùa đông, có thêm rau xanh ăn. Chị Huệ tròn mắt nắm tay tôi:

          - Ôi! Sao em nghĩ giống chị thế! Chị phát hiện mảnh đất hoang ấy lâu rồi, chị định làm cỏ trồng rau, nhưng sợ chị em ở phố cười mình nhà quê, khinh mình.

          - Không sợ chị ạ. Các chị ở phố con nhà giàu, họ sợ lao động. Mình con nhà nghèo nông thôn, mình chăm làm, tiếc đất bỏ hoang, mình trồng. Câu ca trong dân: “Tấc đất tấc vàng”.

          - Ừ, chủ nhật này chị em mình làm cỏ, cuốc đất. Chủ nhật sau chị về quê Vĩnh Phúc đem hạt cải lên gieo.

 

                                                *       *

                                                     *

 

          Nhìn đàn chim én chấp chới trời xanh, báo hiệu mùa xuân ấm áp sắp về, lòng tôi dâng lên niềm nhớ thương cha. Bằng giờ năm ngoái mình ở nhà chợ Quỹ, lặn lội tìm thầy lang giỏi mua thuốc sắc cho cha uống. Tết đến, nhà chẳng có gì cúng mẹ. Chị Tâm, chị Trâm chẳng ai về hỏi cha một câu. Sao các chị tệ bạc đến thế?... Chim ơi! Chim có về chợ Quỹ thì chim bay đến nghĩa trang nói với cha ta rằng: Tết này ta ở lại trường chim nhé!...

          - Em Tân! Em nghĩ gì đấy?... Chị mua đủ gạo nếp, đỗ xanh. Tối ba mươi Tết chị em mình thổi cơm nếp cúng cha. Con đâu cha mẹ đấy em ạ. Em đừng buồn. Hai chị em mình cùng mồ côi cha mẹ, nương tựa vào nhau mà sống. Cha chị nằm nghĩa trang liệt sĩ, đã có chính quyền xã thắp hương, chị không phải lo. Em về nhà chị Trâm, chị nghèo đói, em làm sao có tiền mua nhiều gạo nếp đỗ xanh, cúng cha xong hạ lộc cho cả gia đình chị ăn.

          Tôi lặng lẽ vơ những lọn củi đã nhặt ở bụi tre xếp vào một đống. Chị Nhũ bó củi vác lên vai, bảo tôi cắp rổ gạo nếp đỗ xanh. Sân trường im ắng vắng tanh. Học viên đã về nghỉ Tết hôm qua. Chị Nhũ nói đúng. Mình về một tuần ở nhà chị, góp tiền ăn tốn kém. Mình ghét anh rể lăng nhăng không muốn gặp. Anh Đinh Lan Đô, cháu gọi chị Trâm bằng thím trông dữ như con hùm. Bố anh ta, ông Ong có đôi mắt long sòng sọc như mắt chó sói, sợ. Còn chị Nhũ, mấy ngày Tết đi lang thang đến nhà họ hàng ăn bữa cơm cũng ngượng. Hai chị em ở lại trường đong gạo, tự thổi cơm ăn nóng sốt ba ngày Tết. Mồng một Tết, nhảy xe điện có một hào ra Hà Nội chơi, ngắm cảnh hồ Gươm.

          Tôi ra luống cải nhổ mấy cây về luộc ăn cơm tối. Chị Nhũ khen:

          - Rau cải em với chị Huệ trồng ngọt quá! Chỉ có người lười chứ đất không lười. Mình đến đâu chịu khó tăng gia, có rau tươi ăn ngon, bổ. Tính em chịu khó hơn chị.

          - Em ở nhà ăn nhiều rau quen rồi. Ăn rau là chính, em làm gì có tiền đong gạo thổi cơm. Nhiều bữa, em chỉ có mấy con cua cá chết nấu một bát tô canh rau lang ăn. Bắt được cua cá còn tươi ngon em bán lấy tiền mua sách vở, đóng học phí. Em ước có tiền mua khoai luộc ăn no không được.

          - Khổ trước sướng sau em ạ. Về già em hết khổ.

          - Em vào học trường bưu điện được ăn no, em thấy sung sướng lắm rồi. Ăn miếng bánh đúc ngô, em thấy ngọt bùi, ngon hơn bánh đúc gạo quê chị ạ.

          Sáng ngày 30 tháng chạp năm 1962, tôi làm mấy bông hoa giấy cắm vào cốc thủy tinh. Hai chị em bày ban thờ cha ở cái bàn đầu giường tôi nằm. Một nải chuối, quả bưởi vàng thơm với hoa giấy trông cũng đẹp mắt. Loa phóng thanh ở cột điện đầu nhà tôi ở đưa tin nhân dân cả nước vui xuân, đón năm mới tiết kiệm. Chị Nhũ bắc nồi lên ba viên gạch đặt trong phòng nấu cơm nếp. Mùi nếp chín thơm lan tỏa, làm tôi chạnh lòng nhớ quê. Hồi nhà tôi mới về chợ Quỹ, giáp Tết, hàng xóm xôn xao rủ nhau đụng lợn, mua lá dong, đong gạp nếp đỗ xanh gói bánh chưng. Ba chị em tôi ngồi canh nồi bánh chưng luộc. Đặt nồi đồng to đựng nước đậy nồi bánh chưng để tiếp nước khi cạn. Chị em tôi tắm gội sạch sẽ. Gần đến giao thừa, bánh chưng chín, chị Trâm vớt ra ép cho ráo nước. Sáng mồng một, mẹ mừng tuổi cho chị em tôi mỗi đứa một hào. Chúng tôi chúc ba mẹ mạnh khỏe sống lâu. Vậy mà giờ đây, mình mồ côi cha mẹ. Không biết có nhiều trẻ con mồ côi như mình không? Các bạn có khổ như mình không?... Người không cha mẹ như chim non không tổ bơ vơ…

          - Đồng báo cả nước… Nghe thơ chúc Tết Xuân Quý Mão của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh! – Tiếng loa trên cột điện phát ra giọng phát thanh viên trang nghiêm.

          Chị Nhũ đơm cơm nếp ra đĩa đặt lên ban thờ, thắp hương.

          Hai chị em ngồi lắng nghe Bác Hồ chúc Tết nhân dân:

          Mừng năm mới

          Cố gắng mới

          Tiến bộ mới

          Chúc Quý Mão là năm nhiều thắng lợi.

                                      Hồ Chí Minh.

          Giọng Bác ấm áp, vang xa. Tiếng pháo nổ vang thành phố. Lòng tôi xốn xang, xúc động trong nỗi buồn mênh mang. Chị Nhũ lặng lẽ nhìn về đâu xa xăm, những giọt nước mắt lăn xuống má…

          Ba ngày Tết trôi nhanh như chiếc lá bay vèo. Học viên tấp nập tựu trường, tay xách quà quê quen thuộc: bánh chưng, bánh tét, bánh dày, bánh gù, bánh nếp. Phòng nào cũng tíu tít lời chúc năm mới thi đua học giỏi.

          Chiều thứ hai cuối tháng 3 – 1963, loa phóng thanh nhà trường đọc bản tin thành tích học tập của từng lớp. Tôi và chị Nhũ được nêu tên trong tin thể thao: Phạm Thị Kim Nhũ lớp 5E, đoạt giải nhất môn chạy… Trần Thị Nhật Tân lớp 6E, đoạt giải nhì môn bơi 200 mét. Trong phòng vang lên tiếng vỗ tay. Chị Lan Minh yêu thầy Triều dạy thể dục nói:

          - Bé Tân vinh dự, tự hào cho lớp ta. Chị thưởng cho em gói kẹo lạc. Kẹo anh Triều cho chị, chị tặng lại em.

          Tôi bóc túi kẹo chia cho các chị cùng ăn. Đang ăn kẹo ngọt thơm, bản tin nhà trường phát trên loa:

          - Chiều chủ nhật vừa qua, anh Duyến và chị Lý đi với nhau trên đường phố Hà Đông, không có người thứ ba, Đoàn trường cảnh cáo. Nếu lần sau vẫn chỉ có hai người đi với nhau, Đoàn trường sẽ khai trừ…

          Tôi ngạc nhiên, thắc mắc trong đầu: một nam một nữ đi với nhau mà bị nêu ra toàn trường?.. Họ có làm gì xấu đâu?...

          Trong phòng xôn xao tiếng nói cười của các chị:

          - Lan Minh khôn nhá! Anh Triều chỉ đến phòng, ngồi giường thì thầm với nhau, chẳng ai biết mà phê bình.

          - Đoàn đề ra khẩu hiệu: “Khoan yêu, khoan cưới, khoan đẻ”, Lan Minh yêu là vi phạm nội quy nhá!...

          - Thầy Triều hiền lành, đạo đức thế, thầy mà yêu tớ, tớ yêu ngay.

          - Cậu xấu thế, đời nào thầy yêu. Thầy yêu Lan Minh hoa khôi của trường mới xứng đôi…

          Nhà trường thưởng cho học viên đoạt giải nhất, giải nhì các môn thi thể thao là tấm vé xem bóng đá ở sân vận động Hàng Đẫy. Đội bóng đá Liên Xô sang đấu giao hữu với đội bóng đá Thể Công Việt Nam. Một số chị nữ cho lại tấm vé các anh nam mê bóng đá. Còn tôi, chị Nhũ hào hứng, phấn khởi chờ chủ nhật đi xem bóng đá. Tôi háo hức đi xem bóng đá để được ngắm nhìn cầu thủ đến từ đất nước Lê – nin, tôi đã từng đọc những cuốn sách “Mác – Lê-nin” trong tủ sách ông nội từ hồi bé tí. Điều quan trọng nữa là tôi sẽ thấy anh Thành, em họ anh Tiến đèo tôi từ Hà Nội về quê chăm cha ốm. Từ ngày anh Tiến xung phong lên miền núi công tác, anh chẳng viết thư về. Tôi muốn gặp anh Thành hỏi thăm về anh Tiến.

          Hai chị em tôi cầm vé vào cổng B sân vận động Hàng Đẫy, người soát vé ngạc nghiên: “Con gái cũng đi xem bóng đá?” Chị em tôi cười. Chúng tôi đi trước giờ thi đấu gần một tiếng, vậy mà trong sân vận động người đã ngồi kín ghế. Chị em tôi tìm số ghế của mình toát mồ hôi. Đi đến đâu, mọi người “ồ” lên cười với chúng tôi vui vẻ.

          Khi hai đội bóng đá đứng thành hàng, chào cờ, hát quốc ca của mỗi nước, lòng tôi xúc động rưng rưng. Không biết tiếng Liên Xô, nhưng nghe tiếng nhạc, tôi thấy hùng tráng, thiêng liêng như nhạc Quốc ca Việt Nam. Tôi nhìn thấy anh Thành cao nhất trong đội bóng đá Việt Nam. Ở xa nhau, tôi ngồi lẫn chỗ đông người, chắc anh Thành không nhận ra tôi. Mà anh Thành làm sao biết được tôi có mặt trong sân vận động Hàng Đẫy hôm nay.

          Mới vào cuộc đá bóng mươi phút, trên sân đã náo nhiệt tiếng hò hét cổ vũ vang trời. Tiếng hò reo cùng tiếng vỗ tay của khán giả, tôi cảm tưởng như những đợt sóng triều dâng ở biển quê tôi. Thỉnh thoảng, chị em tôi bị người ngồi phía sau đá bốp vào lưng. Chúng tôi giật mình quay lại, họ cười xin lỗi. Trong đầu tôi thắc mắc: sao khán giả mê say bóng đá thế? Chỉ có một quả bóng trên sân, hai đội tranh nhau đá mà ai cũng thích thú, hò hét khản cổ. Chị em tôi muốn ra về không được, nhức đầu vì tiếng la hét của khán giả…

 

                                                *      *

                                                    *

 

          Một sáng tháng 5 – 1963, đài tiếng nói Việt Nam đưa tin ngày Phật đản, các tăng ni Phật tử thành phố Huế mít tinh biểu tình, phản đối Chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm kỳ thị đạo Phật, đàn áp người theo Phật giáo, bắt theo Ki-tô giáo. Mấy cô chú cán bộ học trong lớp tôi bàn luận:

          - Luật mười năm chín, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam, chặt đầu cộng sản và những ai có hơi hướng cộng sản. Nay Ngô Đình Diệm bắn giết, đàn áp tăng ni Phật tử, càng gây phẫn nộ trong dân chúng khắp miền Nam.

          - Phải đánh mạnh quân bán nước Ngô Đình Diệm như hai trận thắng lớn Ấp Bắc, Bình Giã, không thể đấu tranh chính trị mãi với chúng được…

          Tối chị Nhũ đến gặp tôi nói:

          - Đảng viên các chị vừa họp nghe phổ biến tình hình chiến sự miền Nam. Mỹ muốn thay anh em bù nhìn Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Miền Bắc cần chi viện sức người, vũ khí cho quân giải phóng miền Nam. Các lớp học điện báo chị em mình rút ngắn lý thuyết, thực hành là chính để có chiến sĩ thông tin ra mặt trận…

          Nghe chị Nhũ nói, lòng tôi sung sướng, hồi hộp. Ước mơ được vào bộ đội, ra tiền tuyến đánh Mỹ của chị em tôi không còn xa nữa. Tôi nắm tay chị nói nhỏ:

          - Chị em mình sắp thực hiện được ước mơ đánh Mỹ rồi!

          Anh Bội vào gọi chị Nhũ ra ngoài.

          Nửa tiếng sau, chị Nhũ quay lại gặp tôi kéo ra sân trường. Chị bảo:

          - Em gặp nạn mà không biết. Anh Bội vừa ở quê em lên. Nhờ anh Bội tận tình giúp đỡ, em tai qua nạn khỏi.

          Tôi hốt hoảng, hai tai nóng ran:

          - Ở quê em sao chị? Mồ mả cha mẹ em làm sao à?...

          - Không. Có một công văn của Đảng bộ xã Nghĩa Hòa, do Bí thư Chàm ký. Nội dung nói cha em đảng viên Quốc dân Đảng ở phố trốn về Quỹ. Hôm anh Bội lên văn phòng lĩnh lương cho lớp, bác Khuôn hỏi về em, đưa công văn cho anh Bội xem. Đọc xong, anh Bội nói nội dung công văn vu khống gia đình em. Anh Bội nhận về Nam Định xác minh sự thật về em và gia đình. Em là đứa bé chăm ngoan nổi tiếng, cán bộ các cơ quan huyện Nghĩa Hưng ai cũng thương mến, quý em. Trong công văn vu khống em là đứa trẻ chuyên đi ăn cắp để sống. Anh Bội rất tức. Anh Bội gặp chị Trâm em ở xã Nghĩa Phú mới biết Đinh Lan Đô gọi anh rể em là chú ruột, mưu mô. Tết 1963 nó ở Tây Bắc về quê ăn Tết. Nó nói với chị Trâm đặt vấn đề lấy em. Nó đợi ba năm nữa em mười tám tuổi nó cưới làm vợ. Chị em không đồng ý. Nó đe hại em. Tay Chàm Bí thư Đảng bộ xã Nghĩa Hòa là anh họ Đinh Lan Đô. Ông Tĩnh Chủ tịch xã Nghĩa Hòa xác nhận cha em là cán bộ Việt Minh, gia đình ba đời cách mạng. Em là học sinh tiêu biểu chăm ngoan, học giỏi ở trường cấp hai Liễu Đề. Em chưa phải là đoàn viên vì em còn tuổi thiếu nhi. Hoàn cảnh em mồ côi nên khai tăng tuổi đi học trung cấp. Công văn tay Chàm nói sai sự thật.

          Tôi kể chuyện hè năm ngoái về dưỡng bệnh ở nhà chị Trâm, gặp Đinh Lan Đô như thế nào. Nghe xong, chị Nhũ kết luận:

          - Địa chủ gian ác, bắn giết dân làng là kẻ thù của Việt Minh, nên tay Đô rắp tâm hại em. Giờ mọi tai nạn đã qua, em yên tâm học thật tốt để được ra chiến trường…

          Thời gian thấm thoát thoi đưa, đàn chim cu gáy vang trong dãy tre làng xung quanh trường bưu điện báo hiệu mùa gặt tháng mười thóc chất đầy kho.

          Mấy tuần nay, bộ đội về trường bưu điện khám sức khỏe tuyển quân. Chị Nhũ và một số chị không đủ sức khỏe vào bộ đội, khóc sưng mắt. Tôi buồn lây. Các chị 40 kilôgam trở lên, còn không đủ sức khỏe. Tôi có 33 kilôgam thì bị loại khỏi bộ đội là chắc. Ai cũng buồn, đến bữa chẳng ai thiết ăn, cơm ế lưng nồi. Tôi đem về phòng, sáng dậy sớm nhổ mấy cây rau cải nấu cháo. Các chị thức dậy xì xụp húp bát cháo trước khi lên lớp học. Ai cũng khen tôi sáng kiến, nấu cơm nguội độn ngô với rau cải tươi ngon ngọt, cháo đặc biệt chưa ăn bao giờ.

          Trong lúc học viên toàn trường đang nhộn nhạo vui, buồn, người trúng tuyển bộ đội, người không, thì đài tiếng nói Việt Nam đưa tin: Ngày 1 – 11 – 1963, quân lực Việt Nam cộng hòa dưới sự chỉ huy của tướng Dương Văn Minh đảo chính, lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, xử bắn Ngô Đình Cẩn. Trong trường học viên xôn xao bàn tán về gia đình trị Ngô Đình Diệm bán nước hại dân, ôm chân đế quốc Mỹ, bị chính quan thầy lập kế hoạch cho bọn tay sai mới giết hại.

          Tối ngày 20 – 11 – 1963, nhà trường tổ chức liên hoan văn nghệ tiễn chân các anh chị vào bộ đội và lên miền núi nhận công tác. Một lần nữa chị Nhũ lại khóc sướt mướt, than vãn với tôi:

          - Chị không trúng tuyển vào bộ đội, chị đã làm đơn xin lên Điện Biên công tác, nơi cha chị hy sinh mà không được. Nhà trường lại điều chị về làm trưởng phòng bưu điện Sầm Sơn, Thanh Hóa. Ông Bí thư Đảng còn nói Mỹ sắp tiến đánh Thanh Hóa và miền Bắc. Thanh Hóa là nơi vị trí quan trọng để giặc Mỹ làm bàn đạp ném bom miền Bắc. Chị nghe lời giải thích của ông Bí thư Đảng không vào tai. Sầm Sơn là bãi biển nghỉ mát cảnh đẹp, không có gì gian khó. Giặc Mỹ chỉ là con hổ giấy, nó chẳng dám đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 10

 

          Năm 1964.

          Tin anh Nguyễn Văn Trỗi đặt mìn phá cầu Công Lý, ám sát phái đoàn quân sự cấp cao của Hoa Kỳ, do bộ trưởng quốc phòng Mắc - na - ma - ra dẫn đầu không thành, làm chúng tôi nuối tiếc. Anh bị địch bắt lúc 22 giờ ngày 9 - 5 - 1964. Ngụy quyền Sài Gòn kết án tử hình anh. Ngay lập tức, một tổ chức ở Vê - nê - zuê - la muốn cứu anh tuyên bố: Trao đổi anh Nguyễn Văn Trỗi với trung tá Smo - len, không quân Mỹ mà họ bắt giữ. Trong lòng tôi sục sôi căm thù quân xâm lược và bè lũ tay sai chưa nguôi thì ngày 2 – 8 – 1964 đài tiếng nói Việt Nam đưa tin: tầu Ma Đốc của Mỹ vào Lạch Trường, Thanh Hóa bắn phá. Hải quân ta cùng nhân dân Thanh Hóa đánh trả quyết liệt, tầu Ma Đốc trúng đạn phải chạy. Tôi lo phòng Bưu điện Sầm Sơn chị Nhũ phụ trách có làm sao không?

          Lớp 6E chúng tôi học trên lớp ngày hai buổi tập đánh điện. Thầy chủ nhiệm phổ biến năm nay toàn trường không nghỉ hè, học cấp tốc để cung cấp chiến sĩ thông tin ra mặt trận. Chúng tôi háo hức thi đua luyện tập cả buổi tối cho cổ tay dẻo, nhanh nhạy, mắt tinh tai thính chuyển điện nhanh. Tin vui chiến thắng của quân dân Hồng Gai ùa vào lớp 6E chúng tôi. Ngày 5-8-1964 giặc Mỹ ném bom Hồng Gai. Quân dân ta bắn cháy máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái An-va-rết, nức lòng nhân dân cả nước. Tiếng tích tích tà tích lớp tôi vang trong đêm khuya:

          - Hoan hô Hải quân Việt Nam!

          - Hoan hô quân dân Quảng Ninh!

          - Mỹ nhất định thua.

          - Ta nhất định thắng!

          Chị Huệ đánh cho tôi bức điện:

          Tích tích tà tích

          Tân chuyển điện nhanh

          Miền Nam đánh mạnh

          Mỹ giơ tay hàng!...

          Chúng tôi say mê học tập, quên ngày quên tháng. Ngày cuối cùng thi xong các môn học, lớp 6E chúng tôi vỡ òa tiếng cười nói:

          - Các cậu ơi, liệu bộ đội có về trường ta tuyển quân không nhỉ?

          - Chắc có chứ!

          - Tớ khỏe mạnh béo tốt thế này, trúng tuyển bộ đội là chắc!

          - Học ngày học đêm, cắm đầu thi mệt bở hơi tai mà trông ai cũng tươi như hoa nở ban mai…

          Đã lâu lắm, bận học thi tốt nghiệp, tôi không có thì giờ chơi xà lệch. Hôm nay được nghỉ, tôi ra sân chơi thể thao. Chỉ có mấy đội bóng chuyền, bóng đá và mấy anh chị tập nhảy cao, nhảy xa. Chỗ xà ngang, xà lệch vắng hoe. Tôi đến bên xà lệnh, đặt tay lên xà bồi hồi nhớ chị Nguyệt, chị Nhũ. Chị Nguyệt người Hà Nội xinh tươi, dịu dàng, chơi xà lệch giỏi nhất trường. Chị xung phong lên tận miền núi Lai Châu công tác. Chị đã dạy tôi chơi xà lệch. Từ ngày chị Nhũ ra trường, tôi không có bạn chơi xà lệch. Một mình tôi chơi thể thao không hứng thú. Nhưng trong khi chờ nhà trường chấm bài thi, phân công công tác, chẳng có việc gì làm tôi chơi xà lệch cho khỏe, may ra đủ sức vào bộ đội. Thỉnh thoảng tôi gặp anh Long nhờ anh mượn sách trong thư viện Hà Nội giúp. Tôi đọc ngấu nghiến cuốn “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Liên Xô. Chị Nhũ gọi điện thoại cho anh Long, nói chị vẫn khỏe, công tác tốt. Chị rất nhớ “Bé Tân”. Đạn pháo tầu Ma Đốc giặc Mỹ chưa động đến bờ biển Sầm Sơn. Thấy tôi ham đọc sách, anh Long mượn thư viện Hà Nội cho tôi một số tác phẩm của các nhà văn lớn thế giới như: “Sông Đông êm đềm”, “Chiến tranh và hòa bình”, “Những người khốn khổ”, “Thằng gù trong nhà thờ Đức Bà”, “Miếng da lừa” v.v… Anh Long rất ngạc nhiên trước sự cảm nhận tác phẩm của tôi. Mỗi lần tôi đọc xong một cuốn sách, đưa anh trả thư viện, lần nào anh cũng hỏi: “Em thấy quyển sách này hay không?”, “Em thấy quyển này thế nào?” v.v… Tôi trả lời, anh Long cốc nhẹ vào trán tôi: “Cái trán giô nhận xét giỏi”…

          Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin: ngày 15-10-1964, Mỹ ngụy bắn anh Nguyễn Văn Trỗi ở sân sau nhà lao Khám Chí Hòa. Giặc đưa linh mục đến dụ dỗ anh xưng tội. Anh trả lời chúng anh yêu nước không có tội gì hết. Giặc bịt mắt anh để bắn, anh giật mảnh vải nói:

          - Tôi muốn nhìn mảnh đất thân yêu của Tổ quốc lần cuối.

          Anh Nguyễn Văn Trỗi hô những lời cuối cùng của tuổi đời hai mươi bốn:

          Hãy nhớ lấy lời tôi:

          Đả đảo đế quốc Mỹ

          Đả đảo Nguyễn Khánh

          Hồ Chí Minh muôn năm

          Hồ Chí Minh muôn năm

          Hồ Chí Minh muôn năm

          Việt Nam muôn năm!

          Trước lúc hy sinh, anh Nguyễn Văn Trỗi gọi Bác ba lần. Tôi bật khóc. Học viên trường Bưu điện nháo nhác gọi nhau, nước mắt đầm đìa tiếc thương anh Nguyễn Văn Trỗi. Mỹ và bọn tay sai lật lọng. Sau khi du kích Vê-nê-zuê-la thả trung tá Mỹ Smo-len thì địch bắn anh Nguyễn Văn Trỗi. Lớp 6E chúng tôi làm đơn tình nguyện vào bộ đội chiến đấu, trả thù cho anh Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều người trong chúng tôi phải viết đơn lại mấy lần, vì nước mắt nhòe chữ. Lớp trưởng Nguyễn Hoàng Kiên cầm đơn của chúng tôi lên Trung ương Đoàn. Trở về anh kể:

          - Các đồng chí trên Trung ương Đoàn hoan nghênh tinh thần sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc của thanh niên lớp ta. Chắc chắn ngoài chiến trường đang cần chiến sĩ thông tin như chúng ta.

          Nghe lớp trưởng nói, chúng tôi háo hức chờ đợi và hy vọng sớm được vào bộ đội. Hai ngày sau, toàn trường tôi mừng không tả xiết, bộ đội đến khám sức khỏe tuyển quân. Học viên chúng tôi náo nức như ngày Hội, túm năm tụm ba cười nói, khoe với nhau kết quả khám sức khỏe. Gương mặt ai cũng rạng ngời tươi vui. Lớp 6E chỉ có tôi, bạn Thụ, bạn Xưởng là không trúng vào bộ đội. Tôi khóc đã đành. Hai bạn nam cũng tuôn nước mắt. Chúng tôi nhẹ cân quá, chỉ có ba mươi ba, ba tư ki lô gam. Riêng tôi, còn bị thiếu máu nặng. Ba chúng tôi hoàn cảnh giống nhau đều mồ côi cha mẹ từ bé. Hai bạn kia có ông bà nội, ngoại nuôi, nhưng nhà nghèo, ăn rau cháo đói như tôi. Chúng tôi khóc như mưa trước mặt đông người, làm ai cũng ngỡ ngàng xúc động. Chúng tôi không kìm nén được lòng mình, khi không được đứng trong hàng ngũ thanh niên đi cứu nước. Tôi xấu hổ ôm mặt khóc nấc lên. Chị Huệ bế tôi chạy về lớp, sợ tôi ngất. Mọi người an ủi, động viên tôi công tác tốt cũng là đánh Mỹ. Nhưng tôi không thể nguôi nỗi buồn. Cầm tờ quyết định về công tác tại Bưu điện Bờ Hồ, Hà Nội tôi ỉu xịu, lên Ban giám hiệu nhà trường đề nghị cho đi Tây Bắc. Bác Khuôn, trưởng phòng tổ chức buông kính nhìn tôi ngạc nhiên:

          - Con bé này lạ thật!... Bao nhiêu người mơ ước được công tác ở Hà Nội không được, cháu lại đòi lên núi rừng Tây Bắc gian khổ.

          - Bác ơi!... Sức khỏe cháu không đủ tiêu chuẩn vào bộ đội, cháu xấu hổ lắm. Bác đổi cho cháu lên miền núi gian khổ cho cháu đỡ xấu hổ với bạn bè.

          Thầy hiệu trưởng Hồng Phi bước vào:

          - Cháu Tân nên chấp hành sự phân công của nhà trường, đó cũng là tinh thần đánh Mỹ. Ai cũng vào miền Nam chiến đấu, hỏi lấy ai làm việc, xây dựng chủ nghĩa xã hội hậu phương miền Bắc vững mạnh? Cháu về phòng mình thu xếp tư trang đến Bưu điện Bờ Hồ nhận công tác.

          Vừa buồn vừa ức, người tôi run lên, nước mắt ứa ra, đất dưới chân như tụt xuống. Tôi bước bập bõm ra khỏi văn phòng nhà trường. Chả hiểu thế nào, tôi ngã sập xuống đất, máu cam ồng ộc chảy. Anh Long, cán bộ văn phòng nhà trường, bạn thân chị Nhũ bế tôi chạy vào phòng y tế…

 

                                                *       *

                                                     *

 

          Ngày nào tôi cũng đi xe điện ra bờ hồ Hoàn Kiếm, đến cơ quan Trung ương Đoàn ở 62 Bà Triệu xin đi bộ đội. Gặp ai tôi cũng nài nỉ giúp tôi được vào bộ đội. Mọi người nhìn tôi thương cảm. Ai cũng nói một câu giống nhau: “Em gầy xanh, bé thế, đeo ba lô vượt Trường Sơn làm sao được?” Ròng rã một tuần, tôi khóc sưng húp mắt, đầu tóc phờ phạc như người ốm đói. Tối thứ bảy, bước xuống xe điện tôi gặp thầy Triều ở cổng Trường. Thầy hỏi:

          - Em Tân lên Trung ương Đoàn về đấy à?

          Tôi ngẩng lên nhìn thầy. Mắt thầy đỏ hoe. Sao thầy biết mình lên Trung ương Đoàn?... Tôi buột miệng:

          - Thầy ơi, mắt thầy đỏ thế? Thầy bị đau mắt à?

          Thầy Triều quay mặt đi, lấy khăn mùi xoa lau nước mắt, lặng lẽ đi bên tôi. Một lúc sau, thầy Triều nói giọng buồn:

          - Chị Lan Minh lấy chồng rồi em ạ.

          Tôi sửng sốt:

- Ơ, sao lại thế?

- Anh không ngờ Lan Minh lừa anh tài thế.

- Ba năm học, thầy nuôi chị Lan Minh công cốc.

          - Nuôi thì anh chẳng tiếc công tiếc của, chỉ đau ở chỗ bị lừa tình. À mà thôi, chuyện buồn của người lớn, em không nên biết làm gì. Còn việc của em, hình như chị Nhũ ở Sầm Sơn gọi điện ra trao đổi với anh Long. Nhà trường đổi quyết định cho em về ty Bưu điện Thanh Hóa. Nhà trường đã bàn mãi chuyện em xung phong vào bộ đội. Nhưng em thiếu máu, nhẹ cân quá, không đủ sức trèo đèo vượt được núi rừng Trường Sơn đâu em ạ. Còn bệnh chảy máu cam của em rất nặng nữa. Ban giám hiệu nhà trường đã trao đổi kỹ với các đồng chí ở Trung ương Đoàn. Giặc Mỹ và bọn tay sai bán nước hô hào vượt sông bến Hải, tiến đánh ra miền Bắc. Chúng có thực hiện mưu đồ đó hay không thì chưa biết, nhưng giặc Mỹ sẽ ném bom miền Bắc. Cầu Hàm Rồng Thanh Hóa là mục tiêu Mỹ ném bom đầu tiên. Giặc muốn cắt đứt con đường vận tải từ Bắc vào Nam

          Hôm sau tôi lên văn phòng nhà trường nhận quyết định điều động công tác. Anh Long bảo:

          - Em chấp nhận về ty Bưu điện Thanh Hóa công tác đi. Em gần chị Nhũ, có khó khăn gì đã có chị chăm lo. Ty Bưu điện đang thành lập tổ điện báo trực chiến, giao cho tỉnh đội. Em đánh moóc giỏi, em vào là được tuyển bộ đội ngay. Giặc Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng Thanh Hóa. Thanh Hóa là tiền tuyến rồi, đáp ứng mong mỏi em ước ao được ra tiền tuyến.

          Nghe anh Long nói, lòng tôi cũng nguôi ngoai. Đọc xong quyết định điều động công tác, tôi thắc mắc:

          - Ơ, em lĩnh lương tháng mười ở ty Bưu điện Thanh Hóa à anh? Đâu phải là bộ đội? Bộ đội làm gì có lương? Chỉ có phụ cấp mấy đồng một tháng, anh nói dối em.

          Anh Long cười:

          - Em chẳng biết gì hết. Em ăn lương bộ đội chuyên nghiệp trung cấp Bưu điện, bảy mươi nhăm phần trăm một tháng, trong hai năm đầu thực tập. Em công tác tốt đến năm thứ ba mới được hưởng tròn 45 đồng một tháng. Lúc ấy em về trường gặp anh nhận bằng tốt nghiệp.

          Hiểu ra, tôi phấn khởi thu xếp tư trang về quê nghỉ một tuần như ghi trong quyết định công tác.

          Về đến nhà chị Trâm ở Nghĩa Phú, Nghĩa Hưng Nam Định vào ngày chủ nhật, tôi gặp anh rể Lương. Chị Trâm đi làm đồng. Tôi chạy sang nhà chị Ngoan. Tôi đi qua bể bơi nước trong veo, mấy em thiếu nhi đang vùng vẫy bơi lặn. Sông Nghĩa Phú lững lờ trôi. Thỉnh thoảng có con cá nhảy lên mặt nước như ai ném thia lia, nước tóe thành bông hoa trắng. Chị Ngoan đang nhặt rau làm bữa cơm tối. Thấy tôi, chị mừng reo lên:

          - Ơ em Tân, dạo này em khỏe, nhớn lên rồi! Em ở đây ăn cơm tối với chị. Chị nấu canh cá với dọc mùng. Cá chị tát vũng ngoài đồng.

Hai con chị chơi đá bóng bằng quả bưởi rụng ở góc sân. Tôi bế cháu gái lên thơm vào má:

- Bố Vinh bé có hay gửi thư về không?... Chắc bố nhớ bé lắm.

Chị Ngoan rơm rớm nước mắt:

- Em ơi, cuối năm ngoái chị nhận thư anh nói đơn vị hành quân vào Nam chiến đấu. Từ bấy đến nay không có tin tức gì.

Mẹ chồng chị Ngoan cắp rổ rau cho lợn đi từ ngoài cổng vào. Tôi ghé tai chị thì thầm:

- Mẹ anh Vinh trông sút quá. Anh Vinh đi bộ đội mới hơn một năm, em thấy bà gầy tọp, má hóp, mắt quầng thâm.

- Người mẹ nào chả thương nhớ, lo lắng cho đứa con ngoài chiến trường. Đến chị là thanh niên còn sút cân đi, nữa là mẹ già làm lụng vất vả.

- Ơ, sao bà cụ hái những ngọn rau muống non tãi ra sân thế chị?

- Để gửi ra tiền tuyến em ạ. Hội phụ nữ xã phát động gửi rau muống phơi khô ra tiền tuyến cho bộ đội ăn. Chả biết trong bữa cơm, anh Vinh có được ăn rau muống khô của mẹ của vợ gửi cho không – Chị Ngoan lấy ống tay áo quệt nước mắt.

Tôi về, nhà chị Trâm đang ăn cơm tối. Chị bảo tôi:

- Em cầm rổ ra sân ủy ban vơ rau muống về cho chị, mấy ngày nữa cô Hội trưởng phụ nữ xã gom lại gửi cho bộ đội ngoài chiến trường.

Tôi mừng, chị Trâm có tinh thần làm theo khẩu hiệu dăng khắp lối đi ngõ xóm: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ thống nhất đất nước” v.v…

Cắp rổ rau khô về, tôi hỏi anh rể Lương:

- Anh không vào bộ đội đánh Mỹ à? Ở trường em, mấy thầy giáo có tuổi rồi vẫn tái ngũ vào Nam chiến đấu. Học viên chúng em, ai cũng làm đơn tình nguyện vào bộ độ đánh giặc, trả thù cho anh Nguyễn Văn Trỗi.

Anh rể tôi lặng ngắt. Chị Trâm lườm chồng, trề môi nói:

- Người nhát hơn cáy, sợ chết, chỉ thích chúi đầu vào gái thôi.

Anh Lương mặt đỏ bừng đáp lại chị Trâm:

- Ừ đấy! cả xã vắng bóng con trai, chỉ còn cụ già, gái măng tơ, tớ vơ bao nhiêu cô chẳng được.

Không muốn nghe anh chị khích bác nhau, tôi kéo hai cháu lên giường hát ru.

Hôm sau đi chợ Quỹ thắp hương mộ cha mẹ về, tôi nói với chị Trâm:

- Chị Trâm ơi, bác Hoan trưởng xóm bảo em làm giấy tờ xã cấp đất cho ba sang tên em, kẻo bà Vợi ở lâu ngày bán nhà mình. Cán bộ xã đến tuổi nghỉ hưu, lớp trẻ lên thay không biết nguồn gốc. Bác Hoan bảo hai chị đi lấy chồng. Em là con ruột ông Văn, có quyền thừa kế ngôi nhà hợp pháp. Sang tên giấy tờ xong, em viết giấy ủy quyền cho chị sử dụng quản lý nhà đất, không ai xâm phạm được.

Chị Trâm quát:

- Sang tên làm gì? Tao ở đây, ai dám cướp được nhà đất của bố mẹ? Cho bà Vợi ở, bà ấy thắp hương bố mẹ ngày một ngày rằm.

- Thì cứ cho bà ta ở nhờ, nhưng em sợ mụ yêu tinh này bán nhà lấy tiền ăn rồi cuốn xéo. Em đi công tác ở nhà tập thể, chị đông con sau này các cháu ở. Em không cần nhà, chỉ cần cho con chị thôi. Mình không làm giấy tờ hợp pháp, đứa ở nhờ ma quỷ làm giấy nhà tên nó, nó bán đi, mình kiện thành đuối lý, thua.

- Không nói nữa, tao đảm bảo với mày, đứa nào bán nhà đất của ông Văn, tao vặn cổ.

- Vâng!... Giờ nó chưa bán nhà mình. Dăm mười năm nữa, nó làm giấy tờ hợp pháp tên nó mới bán ạ. Bà chị chẳng hiểu pháp luật, nhắm mắt nói bừa…

Nghỉ ở quê một tuần, biết bao niềm vui nỗi buồn ập đến trong tôi. Tôi đi khắp mọi nhà ở chợ Quỹ chào chia tay. Con trai chú Điệp học bên Phát Diệm, Ninh Bình tôi không gặp. Chú Điệp nói:

- Cháu không nhớn được là mấy, vẫn đôi mắt sáng thông minh, gương mặt cứng cỏi. Thằng Hùng nhà chú năm nay mười bốn, kém cháu hai tuổi. Nó thích đi bộ đội đánh Mỹ. Nó ăn khỏe, to cao hơn cháu nhiều.

Một số bạn nam trong đội thiếu niên với tôi ở chợ Quỹ cũng xung phong vào bộ đội hết. Tôi đến chào ông Trần Văn Tĩnh Chủ tịch xã đã nghỉ hưu. Ông ốm nặng. Thấy tôi ông cố nhỏm dậy không được. Nằm nghe tôi báo cáo kết quả học tập và đi nhận công tác, ông Tĩnh mừng nắm chặt tay tôi. Ông chúc tôi lên đường may mắn…

Sáng chủ nhật, tôi đang sắp tư trang đến trưa sang Phát Diệm, đi Ninh Bình để vào Thanh Hóa, Đinh Lan Đô bước vào nhà. Hắn không chào anh rể Lương tôi là chú ruột, gọi ngay tôi:

- Cô Tân! Giờ cô học xong ra công tác. Tôi hỏi cô: Cô có lấy tôi không? Trả lời ngay!

Tôi tức sôi máu quát:

- Đồ chó đẻ! Không ai đi lấy loại chó đẻ mày!

Đô cười khẩy:

- Được rồi! Cô nhớ lấy! Tôi sẽ hại cô điêu đứng từ giờ đến phút chết. Mỹ ngụy sắp đánh ra miền Bắc. Cô tưởng tôi không biết cô làm ở tổ điện báo trực chiến à? Sẽ có ngay công văn của Đảng bộ xã gửi vào, với nội dung bố cô là phản động, thì cô bị đuổi việc ngay.

- Đảng không tin vào công văn bịa đặt vu khống của con cháu địa chủ gian ác, liếm gót giầy Tây, đi càn bắn giết đốt nhà người làng xã. Đảng sẽ cử người điều tra, xác minh sự thật.

- Trong chiến tranh mải chiến đấu, không ai hơi đâu đi điều tra với xác minh. Cô hãy đợi đấy! Cô cứ tin vào Đảng đi, không ai cứu cô đâu. Cô sẽ chết khốn khổ.

- Tôi tin Đảng, tin Bác Hồ. Anh không được nói láo. Câm họng!

Tôi ra khỏi nhà, đến anh Xương Bí thư Đảng bộ xã Nghĩa Phú kể chuyện vừa cãi nhau với Đinh Lan Đô. Anh Ngũ coi kho hợp tác xã đang làm việc với anh Xương, nghe chuyện tôi, anh nói:

- Ông Xương còn lạ gì tay Chàm về làm Bí thư xã Nghĩa Hòa mấy năm nay?

- Ờ, nó là cháu họ tôi. Hôm nay cô Tân nói chuyện đã bị Chàm gửi công văn lên trường Bưu điện tôi mới biết. Chị Lương không nói chuyện Đinh Lan Đô đòi lấy cô Tân không được, trả thù hèn hạ.

Anh Ngũ động viên tôi:

- Em Tân cứ yên tâm vào Thanh Hóa công tác. Nếu thằng Đô nó mưu mô gì hại em, thì các anh làm chứng, tố tội nó.

Anh Xương nhìn tôi, nghĩ ngợi, thở dài:

- Trong lúc đất nước chiến tranh, kẻ ác rắp tâm hại mình, cũng gian nan mới sáng tỏ. Em về chuẩn bị đi kẻo muộn. Các anh sẽ trao đổi với chị Lương em việc này. Anh rể Lương em ở giữa khó xử, cứ ngồi ngây như phỗng đá nghe hai người đối đáp chứ gì?

- Vâng! Anh rể Lương em cứ ngồi rót nước uống, hết chén này đến chén khác, im lặng…

Tôi nghĩ cần phải nói chuyện tay Đô đe dọa với chị Ngoan. Nghe chuyện, chị Ngoan tức thay cho tôi:

- Cái thằng ngu như thế chứ! Trai gái phải yêu nhau mới lấy nhau. Nó bắt ép người khác lấy nó làm sao được. Cái thằng đểu, một lúc yêu mấy người, ăn hỏi mấy người rồi không cưới ai. Quân chó má. Em không sợ, mình cây ngay không sợ chết đứng. Em cứ vui vẻ phấn khởi công tác tốt, để chứng minh mình là người đạo đức.    

 

             

 

 

 

 

 

 

Chương 11

 

          Đầu năm 1965, tổ điện báo ty Bưu điện Thanh Hóa làm việc hết sức căng thẳng. Tết Nguyên Đán, chúng tôi không được nghỉ như các bộ phận khác. Trong ca làm việc, lá thuê bao đổ rào rào như mưa. Tai nghe, mắt nhìn, tay thoăn thoắt cắm phít, khi giao ca ai cũng mệt nhoài, lăn ra ngủ.

          Một ngày đầu tháng 3-1965 cán bộ Tỉnh đội đến tổ điện báo chúng tôi đọc danh sách những người vào tổ điện báo trực chiến. Chúng tôi hồi hộp, đưa mắt nhìn nhau, ai là người vinh dự được đứng trong đội ngũ chiến đấu với giặc Mỹ trận đầu?...

          Trước khi gọi tên, anh cán bộ giải thích:

          - Tiêu chuẩn trong danh sách điện báo trực chiến: phải là điện báo viên giỏi, mắt tinh, tai thính, đánh móoc nhanh…

          Mọi con mắt đổ dồn về phía tôi. Tôi xấu hổ đỏ mặt, con tim đập dồn như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tôi mừng thầm, không phải khám sức khỏe như những đợt tuyển quân ở trường Bưu điện. Lần này, chắc mình được nằm trong danh sách tổ điện báo trực chiến… Mải nghĩ, tôi giật nảy người khi nghe gọi tên mình, mọi người cười ồ. Tôi vội giơ tay:

          - Có em!...

          Bốn thanh niên chúng tôi nằm trong danh sách tổ điện báo Hàm Rồng. Chúng tôi nhảy lên vui sướng. Tổ trưởng là chị Lanh 24 tuổi, đảng viên. Hai bạn: Thu, Hương là đoàn viên. Mỗi tôi chưa phải đoàn viên. Nỗi buồn thoáng qua trong đầu tôi. Ai cũng đặt dấu hỏi tại sao tôi học giỏi, ngoan hiền, sao chưa phải đoàn viên?... Chắc tôi phải có chấm đen gì đấy. Về chuyên môn, tôi thành thạo cả lý thuyết lẫn thực hành. Lương tháng tôi cao nhất. Ba người kia chỉ là con em nhân viên Bưu điện, vào làm thay thế bố mẹ nghỉ hưu, chưa qua lớp đào tạo nghề như tôi. Ba chúng tôi đều bằng tuổi nhau: tròn hai mươi. Hai bạn Thu, Hương tuổi 20 thật. Còn tôi, tuổi 20 giả nên ai cũng bảo tôi như “thiếu niên”, chưa ra dáng thiếu nữ. Hồi mới về nhận công tác, nhiều lần, có anh, hay chị trong ty Bưu điện gọi tôi:

          - Em Tân!... Anh Thanh bảo em vu khống anh ấy đấy!

          - Em Tân! Hôm qua em vu khống anh Hà cái gì đấy?

          - Em Tân!... Sao em lại vu khống anh Sùng?...

          Tôi cố cãi tôi không vu khống ai. Tôi càng cãi, càng bị các anh chị khẳng định tôi là “người vu khống”, cười vui với nhau.

          Bốn chúng tôi được cán bộ Tỉnh đội dẫn về nhận tư trang. Tiếp đó, chúng tôi ra cầu Hàm Rồng làm quen với hầm điện báo trực chiến của mình, để ngày hôm sau ra làm việc.

          22 giờ đêm, tôi gọi điện cho chị Nhũ:

          - Chị Nhũ ơi, em được vào tổ điện báo trực chiến của tỉnh đội rồi!

          - Giờ thì em thỏa nguyện ước được đánh giặc Mỹ nhé!

          - Chị ơi, em chẳng vu khống ai cái gì, sao mấy anh, mấy chị ở cơ quan cứ bảo em vu khống họ?...

          Chị Nhũ cười giòn tanh tách:

          - Mọi người trêu em đấy. Họ không có ý định nói xấu em đâu. Để khi nào chị em mình gặp nhau, chị bảo.

          - Biết bao giờ em gặp được chị? Chị thì bận không có ngày nghỉ. Em mới ra công tác cũng tranh thủ rèn tay nghề, rồi làm giúp các anh chị có tuổi về quê giỗ bố mẹ, đám cưới, đám ma. Gần nửa năm em vào ty Bưu điện Thanh Hóa công tác, cách chị ở Sầm Sơn có hai chục cây số mà chị em chưa gặp nhau. Em nhớ chị lắm. Chị bảo em đi.

          - Chị còn nhớ em hơn ấy. Năm nay em mười sáu rồi nhỉ, chắc xinh gái rồi. Chị xa em hơn một năm chưa gặp, chắc em lớn lên nhiều, xinh gái nên mọi người hay đùa trêu em. Em thử hoán vị hai từ vu khống xem là cái gì?...

          - Vu khống, em hoán vị là… là… em ứ nói đâu. Em ghét các anh chị nói em thế, bắt nạt em không biết… 

          - Ờ, tạm biệt em nhé! Hôm nào gặp em, chị sẽ bảo em thêm nhiều điều cần cho tuổi mới lớn. Chúc em công tác tốt. Giặc Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng. Chị nói em biết để bụng, không được nói với ai.

          Nghe chị Nhũ nói Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng, tôi hồi hộp chờ đợi. Hàng ngày bốn chúng tôi thay ca nhau, làm việc ở hầm điện báo trực chiến Hàm Rồng. Ngoài bốn chúng tôi, còn có các anh bộ đội thông tin của Tỉnh đội nữa. Công việc chuyển điện đi, nhận điện đến bận tối mắt. Tôi thoáng nghĩ, khi giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng thì chắc còn nhiều bức điện đến, chuyển điện đi dồn dập. Mới làm việc có hai tuần mà cả bốn thanh niên chúng tôi gầy đi trông thấy. Các thủ trưởng thường xuyên nhắc chị em tôi trong bữa ăn: phải ăn khỏe để có sức chiến đấu với giặc Mỹ. Nhưng chẳng ai ăn được mấy. Bữa cơm nào cũng có thịt cá, rau xanh ngon lành hơn ở bếp ăn tập thể Bưu điện, mà tôi nhai búng trong mồm vì mệt.

          Ngày 1-4-1965 tổ điện báo trực chiến Hàm Rồng chúng tôi gần chục người, làm việc, ăn ngủ ngay tại chỗ. Không nói ra, nhưng ai cũng đoán giặc Mỹ sắp ném bom cầu Hàm Rồng. Ngoài đường phố vắng bóng người. Chỉ những đoàn tàu, đoàn xe chở hàng, chở bộ đội qua cầu hối hả vào Nam nối đuôi nhau ngày đêm.

          Gần sáng ngày 3-4-1965, còi báo động hú lên từng hồi. Sau mấy phút báo yên, còi báo động lại rúc lên. Tôi thấp thỏm hồi hộp, lo lắng trong những đợt còi báo động, báo yên. Cả bốn chúng tôi ngồi trực trước bàn máy. Trời sáng hẳn, tiếng còi báo động kéo dài, dồn dập. Tiếp đó là tiếng ầm ầm như sấm to chớp giật của máy bay giặc Mỹ. Bốn chúng tôi lao ra cửa hầm, nhìn lên bầu trời thấy những quả bom bằng bắp hoa chuối, chui từ bụng máy bay Mỹ bay xuống dày đặc như đàn chim di trú từ phương bắc về phương nam tránh rét mùa đông. Ai đó nói:

          - Khéo đàn bom này rơi xuống đầu chúng ta.

          - Ối! Bom to quá sắp!...

          Thủ trưởng quát:

          - Các đồng chí, về vị trí chiến đấu!

          Chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, căn hầm rung chuyển nhưng ai cũng tập trung vào công việc, không để ý đến bom đạn chát chúa chọi nhau trên bầu trời Thanh Hóa mù mịt khói. Qua những bức điện chuyển đi, nhận đến, chúng tôi biết cuộc chiến đấu bên ngoài gay go ác liệt. Cầu Hàm Rồng đứng vững, hiên ngang dưới mưa bom, rốc két của giặc Mỹ. Trung đội dân quân súng 37 ly cũng bắn rơi “Con ma”, “Thần sấm” giặc Mỹ. Tên giặc lái nhảy dù ra khỏi máy bay cháy, rơi xuống bờ Nam Ngạn bị dân quân bắt sống. Tim tôi luôn thay đổi trạng thái theo từng bức điện. Những bức điện nào thông báo máy bay Mỹ rơi, bắt sống giặc lái ở đâu, con tim mừng vui nhảy nhót trong lồng ngực. Những bức điện báo cáo lên cấp trên tin buồn về khẩu pháo nào trúng đạn, bộ đội Hải quân ta hy sinh… tim tôi đau nhói…

          Nhập nhoạng tối, anh nuôi mang cơm ra cho tổ điện báo. Cả ngày mới có một bữa. Chúng tôi thay nhau ăn cơm. Một điều trùng hợp lạ kỳ, hơn chục anh em chúng tôi, chẳng một ai ăn cơm. Ai cũng múc cháo, húp cho nhanh còn vào làm việc. Mắt anh nuôi đỏ hoe, lặng lẽ nhìn chúng tôi ăn. Tôi hỏi anh:

          - Anh ơi!... Bộ đội ta hy sinh nhiều lắm phải không?

          Anh nuôi lắc đầu.

          - Anh sợ em buồn chứ gì? Qua những bức điện em chuyển đi, em biết chứ! Mấy khẩu pháo trên núi Ngọc, núi Rồng trúng bom. Tàu Hải quân ta trên sông Mã hẹp, tiến lui đều khó. Ở Lèn, Ghép, giặc Mỹ cũng bắn phá ác liệt lắm!...

          Nước mắt anh nuôi chảy ròng. Anh bảo tôi:

          - Anh múc thêm cho em muôi cháo. Em ăn cố lên, lấy sức làm việc. Từ nãy, em toàn húp nước mắt của em chảy xuống bát. Cháo của “Hội mẹ chiến sĩ” ủng hộ bộ đội ta chiến đấu, bảo vệ cầu Hàm Rống đấy. Các mẹ quyên góp gà nhà nuôi, nấu cháo tặng chiến sĩ.

          Ăn thêm muôi cháo anh nuôi tiếp, tôi cảm nhận được tình sâu đậm nghĩa quân dân của các mẹ ở Hàm Rồng, nghĩ mình phải làm việc tốt hơn.

 

                                      *       *

                                           *

 

          Tôi tỉnh dậy, nhìn thấy chị mặc áo Blu trắng đứng cạnh giường. Chị nở nụ cười, ngồi xuống giường nắm tay tôi:

          - Em thấy trong người thế nào?

          - Em đau đầu, tiếng ù ù như say lúa. Hình như hầm điện báo của em trúng bom giặc Mỹ à chị?

          - Bom nổ gần hầm điện báo, bay mái vì kèo.

          - Ôi! Các anh chị trong tổ điện báo em…

          - Không sao, em yên tâm. Mỗi em bị nặng nhất, máu mồm, máu mũi, máu tai em rỉ ra. Phải nửa tiếng sau dân quân, cứu thương mới vào dỡ nóc hầm. Các anh chị xây xước nhẹ vẫn bám trụ làm việc. Em nằm bất động, mọi người tưởng em chết đã khóc. Giặc Mỹ điên cuồng ném bom Hàm Rồng hai ngày đêm không nghỉ. Dân quân cứu thương lao vào các ụ pháo cứu  chiến sĩ bị thương cũng trúng bom, hy sinh. Khốc liệt em ạ. À mà thôi, em nghỉ đi, chị…

          Chị y tá đi ra, đưa ống tay áo lau nước mắt.

          Tôi từ từ ngồi dậy, nhìn xung quanh giường bệnh. Giường nào cũng hai người nằm, chân tay, đầu băng trắng. Tôi ghé mắt nhìn đồng hồ tay anh thương binh bị băng kín đầu, 22 giờ hơn. Nghĩ mình đi lại được, chỉ đau đầu ù tai, hai ngày sau tôi xin ra viện bằng được.

          Đi bộ về đơn vị, tôi nhìn cảnh thị xã vắng teo, yên tĩnh như chưa hề có trận không kích của giặc Mỹ xuống cầu Hàm Rồng. Người già, trẻ con đi sơ tán hết, chỉ ở lại dân quân, cùng bộ đội bắn máy bay Mỹ. Dọc các ụ súng phòng không bên bờ sông Mã, có những vành khăn trắng. Lòng tôi bâng khuâng… Hoa sen dưới ao chân cầu Hàm Rồng đỏ rực, như búp tay vẫy chào đón tôi. Cầu Hàm Rồng nham nhở vết thương. Những thanh sắt bom Mỹ vặn cong, xiêu vẹo thủng lỗ chỗ, cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững hiên ngang. Những đoàn xe tải gạo chở vũ khí nối đuôi nhau đi qua cầu. Lòng tôi rưng rưng thầm gọi: “Cầu Hàm Rồng thương yêu!”…

          Về đến đơn vị, tôi mới biết trong hai ngày 3, 4 – 4 - 1965 quân dân Thanh Hóa bắn rơi 47 máy bay “Thần sấm”, “Con ma” của giặc Mỹ, bắt sống một số giặc lái. Ta cũng tổn thất lớn. Bộ đội Hải quân hy sinh nhiều nhất. Tầu Hải quân neo dưới sông Mã, súng phòng không đợi lúc máy bay Mỹ bổ nhào phóng rốc két, ném bom mới bắn thì rất trúng; đồng thời các chiến sĩ ta phải hứng chịu những quả rốc két và chùm bom ấy. Bộ đội, dân quân và nhân dân hết lời ca ngợi nữ dân quân Ngô Thị Tuyển vác đạn tiếp cho Hải quân ta bắn máy bay Mỹ. Nghe chuyện, lòng tôi mến phục nữ dân quân Ngô Thị Tuyển dũng cảm. Mấy ngày sau, tôi tìm gặp bằng được người con gái dũng cảm, gan dạ, vác hòm đạn gần gấp đôi trọng lượng mình, chạy dưới làn mưa bom đạn nổ của giặc. Tôi ngạc nhiên, chị Ngô Thị Tuyển chỉ nhỉnh hơn tôi một chút. Đôi má chị sạm đen khói súng. Sao chị giỏi thế? Cha vẫn dạy mình thấy ai tài giỏi phải học hỏi làm giỏi như người ta. Nhưng mình ở tổ điện báo trực chiến, không thể bỏ máy ra vác đạn được…

          Giữa lúc giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng, Lèn, Ghép rải rác cả ngày đêm, một đoàn nhà văn từ Hà Nội vào Thanh Hóa, tìm hiểu thực tế hai ngày mồng 3, mồng 4 tháng 4 - 1965 để viết văn. Một tối, thủ trưởng đơn vị đi cùng đoàn nhà văn đến tổ điện báo trực chiến chúng tôi. Thủ trưởng giới thiệu:

          - Nhà văn Nguyễn Đình Thi.

          - Nhà thơ Xuân Diệu.

          - Nhà thơ Thái Giang.

          - Nhà thơ Huyền Kiêu.

          - Họa sĩ Trần Văn Cẩn.

          - Họa sĩ Sĩ Ngọc.

          Sau mấy phút giới thiệu, chào hỏi đoàn nhà văn, chúng tôi làm việc bình thường. Chị Lanh tiếp chuyện các nhà văn chừng hai mươi phút. Trước khi ra về, nhà thơ Thái Giang hỏi:

          - Trong hai ngày chiến đấu ác liệt, có bạn nào ghi nhật ký không?

          Mọi người nhìn tôi. Tôi đỏ mặt cúi đầu, hai tai nóng ran, chân di di xuống đất lúng túng. Nhà thơ Thái Giang đến nắm tay tôi:

          - Cháu có hai bím tóc dài đẹp thế nhỉ. Cháu có hay ghi nhật ký không?... Đưa chú xem! Trông cháu như thiếu niên, chưa phải thiếu nữ.

          Anh chị em trong tổ nhao nhao lên:

          - Ở đây, chỉ có Tân ghi nhật ký thôi. Những đêm trực thưa việc, bạn ấy hí hoáy viết trong sổ tay.

          Hai bạn Thu, Hương mở ba lô tôi, lấy cuốn nhật ký đưa cho nhà thơ Thái Giang. Nhà thơ lật giở nhanh, đọc lướt các trang nhật ký. Tôi sợ run người, nước mắt chảy ướt má. Chết rồi! Mình nghĩ gì, thấy gì từ hôm vào đây công tác, ghi hết vào sổ. Nhà thơ đọc thấy có gì sai phạm thì mình bị kỷ luật. Đoàn nhà văn im lặng, nhìn nhà thơ Thái Giang đọc chăm chú những trang nhật ký cuối sổ. Nhà thơ ngẩng lên nhìn tôi xúc động:

          - Chà!... Cháu viết hay quá!... Thơ hay, văn cũng hay!

          Tôi giật mình!... Có phải mình nghe nhầm không?... Đoàn nhà văn nhìn nhau… Anh em tổ điện báo nhìn nhau.

          - Chú sẽ chép mấy bài thơ thiếu nhi, đem về Hà Nội đưa cho anh Quản Tập, anh Phong Thu in báo Thiếu niên tiền phong. Còn đoạn nhật ký cháu ghi chép về anh công nhân nối đường dây điện thoại trên cầu Hàm Rồng, cháu có thể viết thành phóng sự, hay truyện ký được đấy!

          - Phóng sự, truyện ký là thế nào hả chú?

          - À… là… cháu viết lại cho dài hơn, hay hơn trong nhật ký khoảng ba trang giấy thếp. Cháu có hay đọc truyện không?

          - Có ạ! Cháu thích đọc “Thép đã tôi thế đấy”, “Những người khốn khổ”, “Sông Đông êm đềm” v.v… cháu thấy hay lắm.

          Mọi người cười. Tôi ngơ ngác, hay mình nói sai?...

          Cười xong, nhà thơ Thái Giang nắm tay tôi:

          - Thơ thiếu nhi cháu hồn nhiên, trong trẻo. Có ai bảo cháu viết không? Ai bảo mà cháu viết bài con lươn, con trạch?...

          - Không ạ. Hồi ở quê, cháu đi đào cáy, bắt cua, tát cá thường ngày. Cháu bắt con lươn, con trạch nó lẩn xuống bùn, cháu thích viết nó giống bạn lười học, cuối năm bị đúp các bạn cười chế cứ lẩn đi ạ.

          Mọi người lại cười. Nhà thơ Thái Giang nói:

          - Tôi đọc hai bài thơ, mọi người cùng nghe nhé!

         

           CON TRẠCH

 

          Hay đi chơi rông

          Quá giờ trốn học

          Về nói dối ông

          Không có bài tập

 

          Cuối năm bị đúp

          Các bạn cười chê

          Gặp ai Trạch lẩn

          Để khỏi bị ê!...

 

          CON LƯƠN

 

          Quen sống lách luồn

          Da nhớt nhờn nhờn

          Nắm vào trơn tuột

          Rúc ngay xuống bùn

 

          Ngủ ngày ngủ đêm

          Mắt dài ti hí

          Chỉ quen nhìn gần

          Cái gì cũng bé.

 

          Ai cũng gật đầu. Nhà thơ Thái Giang nói tiếp:

          - Từ nay, cháu thấy thích viết gì cháu cứ viết nhé! Thơ đấy, cháu có năng khiếu. Còn truyện ký, cháu viết ngắn hai ba trang giấy thôi, phải viết sao cho người đọc thích, cảm phục người mình viết. Cháu viết về anh công nhân nối đường dây trên cầu Hàm Rồng, cháu gửi báo Thanh Hóa in đấy. Chú đem mấy bài thơ CON LƯƠN, CON TRẠCH, QUẢ DỪA… về Hà Nội in báo Thiếu niên tiền phong. Cháu sẽ thành nhà thơ tương lai.

          Tôi xấu hổ đỏ bừng hai má. Nhà thơ Xuân Diệu nói:

          - Ông khen thế nó phổng mũi, lại tịt mất thơ đấy!

          Cháu tin chú. Cháu cứ thích gì ghi nhật ký như từ hồi tám mười tuổi thế này là thơ đấy. Cháu chăm đọc sách báo sẽ viết hay hơn.

          Đoàn nhà văn về Hà Nội, tôi hồi hộp đợi chờ, đón đọc báo Thiếu niên tiền phong số tới như lời nhà thơ Thái Giang nói giọng Xứ Nghệ dặn sẽ in thơ tôi trầm vang, ấm áp giống giọng Bác Hồ, làm tôi nhớ mãi…

 

 

Chương 12

 

          Ăn cơm tối xong, tỉnh Đội trưởng bảo tôi:

          - Đồng chí Tân thu xếp tư trang, ba lô về ty Bưu điện gặp cán bộ tổ chức nhé. Mai ăn sáng ở đơn vị rồi đồng chí hãy đi.

          Nghe thủ trưởng nói, người tôi nóng ran, linh cảm điều gì chẳng lành. Đêm không ngủ được, phần vì còi báo động máy bay giặc, phần vì tôi nghĩ ngợi mông lung. Tôi hết ngồi nhìn qua ô cửa sổ ngắm trăng sao, lại đi từ đầu giường đến cuối giường. Chắc tay Chàm Bí thư Đảng bộ xã Nghĩa Hòa, anh họ Đinh Lan Đô gửi công văn vu khống mình đây. Nó bảo thời chiến, không ai hơi đâu điều tra với xác minh sự thật, nó sẽ cho mình chết khốn chết khổ… Được, để xem cuối đời, ai là kẻ chết khốn chết khổ. Ta đã đội bom giặc Mỹ không chết, thì không kẻ nào ám hại được ta. Giờ ta sẽ làm cho rõ ngọn ngành, vạch mặt kẻ cơ hội, lợi dụng đất nước chiến tranh, chui vào hàng ngũ Đảng để hại người chính trực yêu nước. Hôm nay ngày rằm… Sao chị Hằng mắt đỏ nhòe!... Những đám mây xám lởn vởn quanh Hằng Nga, thỉnh thoảng lại che mất gương mặt tròn vành vạnh. Một ông sao sáng… Hai ông sáng sao… Ngôi sao nào là cha, ngôi sao nào là mẹ?... Mẹ ơi!... Mẹ có biết con mồ côi cha mẹ khổ như thế nào không?... Đói khát, bị lừa, bị bắt nạt, bị khinh rẻ… Biết bao khổ ải con đã vượt qua, Giờ đây, con tưởng mình toại nguyện đánh giặc Mỹ cùng nhân dân cả nước. Nào ngờ giông bão ập xuống đầu con…

          Tiếng kẻng báo sáng. Tôi cố giữ vẻ bình thản đi ăn sáng rồi khoác ba lô về ty Bưu điện.

          Bác trưởng phòng tổ chức nói:

          - Sức khỏe cháu yếu. Cháu bị sức ép bom Mỹ, chấn thương sọ não. Ban lãnh đạo thấy cháu không thể đảm đương được nhiệm vụ điện báo trực chiến, nên quyết định cho cháu nghỉ việc. Bên tỉnh đội báo sang ty Bưu điện nói cháu hay bị đổ máu cam, choáng trong khi làm nhiệm vụ.

          - Thưa bác, những khi cháu bị chảy máu cam, cháu lấy bông nút vào hai lỗ mũi, cháu vẫn làm việc đều, không nghỉ việc. Cháu bị bệnh máu cam từ bé, không ảnh hưởng đến việc cháu làm. Nếu bác cho việc chảy máu cam của cháu ảnh hưởng đến trực chiến thì chuyển cho cháu về bộ phận phát hành báo chí, hay ngồi ghi sê.

          Trưởng phòng tổ chức lắc đầu:

          - Không được. Bác đã nói cháu không đủ sức khỏe làm việc trong cơ quan.

          - Thưa bác cháu thấy khó hiểu. Một năm cháu làm việc chăm chỉ cả ngày nghỉ chủ nhật. Cháu làm giúp các bác già yếu về quê đám ma, đám giỗ. Cháu chưa nghỉ một ngày ốm. Mỗi mấy ngày cháu nằm bệnh viện, vì bom Mỹ. Khi tỉnh dậy, cháu trốn về đơn vị làm việc. Do bị chấn thương sọ não, bệnh chảy máu cam của cháu có nhiều hơn trước, nhưng cháu quen rồi, vẫn làm việc bình thường như không có chuyện chảy máu cam.

          Trưởng phòng tổ chức cười:

          - Cháu lý sự hay đấy! Cháu bị bệnh chảy máu cam từ bé, mà cháu coi như cháu không có bệnh.

          - Vâng! Thưa bác đúng thế ạ. Cháu học giỏi toán, cháu giảng phụ đạo toán lý cho lớp học ở trường trung cấp Bưu điện đấy ạ.

          Trưởng phòng tổ chức nghiêm nét mặt:

          - Cắt đứt nói chuyện nhé. Thời buổi chiến tranh bận. Giờ là đầu tháng mười. Cháu lĩnh lương tháng chín rồi phải không? Cháu nghỉ việc thì không có lương là điều dễ hiểu.

          Ra khỏi phòng tổ chức, tôi gặp anh Tiến ho sù sụ. Tay anh bưng miệng bằng chiếc khăn mặt. Tôi đỡ cánh tay trái anh đi về nhà.Vợ anh Tiến kêu lên:

          - Chết chửa! Sao anh không bảo cô Tân cẩn thận, kẻo lây bệnh ho lao của anh?...

          Tôi cầm khăn mặt đầy máu đưa cho vợ anh Tiến. Chị nhanh tay cuộn tròn khăn cầm ra ngoài. Trở vào nhà, vợ anh Tiến bảo tôi:

          - Anh bệnh lao nặng em ạ. Anh phải cố gắng làm việc để nuôi các cháu ăn học. Các bác ở ty Bưu điện thương hoàn cảnh anh chị, không nỡ bắt anh nghỉ. Anh uống thuốc mấy năm nay không khỏi, càng ngày càng nặng em ạ. Bệnh lao lây, phải kiêng giữ cẩn thận cho người khác…

          Anh chị Tiến hỏi, tôi kể chuyện vừa gặp bác trưởng phòng tổ chức. Anh Trần Văn Tiến bảo tôi:

          - Theo anh, việc em nghỉ việc phải có điều gì hệ trọng, tổ chức giữ kín không cho em biết đó thôi.

          Tôi liền kể chuyện Đinh Lan Đô hại tôi ở trường Bưu điện. Hắn đe tiếp tục bảo tay Chàm Bí thư Đảng bộ xã gửi công văn vào tỉnh đội Thanh Hóa vu khống tôi là con phản động…

          - Em viết ngay đơn kể sự việc gửi Viện kiểm sát Thanh Hóa. Chế độ ta tươi đẹp, không để con sâu chui vào hàng ngũ Đảng hãm hại người yêu nước. Trong thời gian chờ đợi các cơ quan pháp luật giải quyết, em cứ ăn nghỉ nhà anh. Thêm người, thêm đũa thêm bát, em đừng ngại.

          Nghe anh Tiến nói, lòng tôi rưng rưng. Anh ốm nặng, ba cháu nhỏ đang học cấp một. Chị chạy chợ rau. Cảnh nhà nghèo khó, anh dang rộng vòng tay nâng đỡ tôi khi ngã.

          Ngay sáng sớm hôm sau tôi đến Viện kiểm sát Thanh Hóa gặp ông Viện trưởng Lê Hồng Quế. Ông người tầm thước, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng quắc. Đôi lông máy rậm đen như  hai vệt mực tầu tô đậm. Giọng ông ấm áp hỏi tôi:

          - Cháu có việc gì cần gặp bác, mà đến trước giờ làm việc?

          - Dạ thưa bác! – Tôi đưa đơn – Bác đọc đơn của cháu ạ.

          Tôi ngồi yên theo dõi gương mặt ông Lê Hồng Quế đọc đơn của tôi. Khi mắt ông trợn tròn, khi nhăn mặt lắc đầu. Khi ông nhíu lông mày. Tôi hồi hộp chờ đợi. Hôm qua viết xong đơn, tôi được anh Tiến góp ý, sửa đi sửa lại cho ngắn gọn, rõ ràng.

          Gương mặt ông Viện trưởng Viện kiểm sát đỏ bừng nhìn tôi:

          - Bác chưa gặp người nào ác độc như Đinh Lan Đô. Cái giống con cháu địa chủ tàn ác, liếm gót giày Tây giết hại dân làng, kẻ thù của cách mạng. Cháu chép đơn này làm ba bản nữa. Cháu gửi đi các nơi:

          - Một, Liên hiệp Công đoàn Việt Nam.

          - Hai, Tổng cục Bưu điện Việt Nam.

          - Ba, ty Bưu điện Thanh Hóa.

          - Một bản Viện kiểm sát Thanh Hóa là bốn nhé!

          Tôi hỏi:

          - Bác ơi, có gửi đơn cho Bác Hồ không ạ?

          Ông Viện trưởng cười hiền:

          - Không nên cháu ạ. Chiến tranh. Bác Hồ bận trăm công ngàn việc. Chỉ cần đơn cháu gửi mấy địa chỉ bác hướng dẫn là cháu được giải quyết thấu đáo.

          Về tới nhà, vợ chồng anh Tiến mừng cho tôi gặp được ông Lê Hồng Quế Viện trưởng Viện kiểm sát Thanh Hóa có tâm. Tôi phấn khởi, tin tưởng vào tấm lòng của những người lãnh đạo cấp cao ở Hà Nội sẽ giải oan cho tôi, cùng với cán bộ tốt như ông Lê Hồng Quế ở Thanh Hóa. Trong khi chờ đợi cấp trên trả lời, tôi giúp một tay vào gánh rau đi chợ của chị Tiến, lo nấu hai bữa cơm. Tôi đong gạo đỡ anh chị. Tôi tính bình quân mức lương, tôi “giàu” hơn anh chị nhiều. Anh chị đành chịu “thua” để tôi đong gạo.

 

                                      *       *

                                            * 

 

          Tôi đang nhặt rau, bó xếp vào gánh cho chị Tiến, có người lạ đến hỏi:

          - Xin hỏi bác, có cô Trần Thị Nhật Tân ở đây không ạ?

          - Có, mời anh vào nhà…

          Người lạ nói:

          - Xin tự giới thiệu, tôi là Ngô Quốc Tĩnh, cán bộ sở Văn hóa – Thông tin. Cuốn sách này… in những bài ký về tinh thần chiến đấu của quân dân Thanh Hóa trong hai ngày mồng ba, mồng bốn tháng tư năm 1965. Tôi lấy bài ký của Trần Thị Nhật Tân in trên báo Thanh Hóa đưa vào sách.

          Vợ chồng anh Tiến phấn khởi nhìn tôi:

          - Em Tân có tài viết văn cơ à?...

          Tôi lắc đầu:

          - Không. Em có biết viết văn đâu. Hồi học phổ thông em dốt văn, giỏi toán.

          Anh Tĩnh hỏi tôi:

          - Sao em viết về anh bưu điện nối dây trên cầu Hàm Rồng, trong hai ngày chiến đấu ác liệt mồng ba, mồng bốn hay thế?

          - Em cảm động trước lòng dũng cảm của anh ấy, không sợ mưa bom đạn giặc trút xuống cầu, em viết nhật ký.

          Mọi người cười vui. Tôi kể chuyện đoàn nhà văn do nhà văn Nguyễn Đình Thi trưởng đoàn đến thăm tổ điện báo trực chiến Hàm Rồng chúng tôi. Tôi đã đến phòng phát hành báo chí xem trộm tờ báo Thiếu niên Tiền phong, in hai bài thơ của tôi và giấu mọi người như thế nào.

          Anh Tĩnh kêu lên:

          - Ơ, em không nhận được báo biếu à?... Báo Thanh Hóa cũng không biếu em à?... Hôm nay em mới biết à?... Em có ghi địa chỉ vào bài không?... Không à?...

          Trong lúc tôi đang lo buồn, anh Tĩnh đem tặng sách có in bài ký của tôi là nguồn động viên quý giá. Chị Tiến bảo: “Ở hiền gặp lành”. Còn anh Tiến khẳng định: “Nhất định cấp trên điều tra, xác minh sự thật, phục hồi công tác cho em”.

          Ngoài việc giúp chị Tiến sửa soạn gánh rau đi chợ, thỉnh thoảng tôi còn ra Hàm Rồng đào hầm hào, che lá xanh ngụy trang cho pháo phòng không. Sự chờ đợi của tôi không phải lâu như tôi và anh chị Tiến dự đoán. Chưa đầy một tháng, tôi nhận cùng một lúc hai công văn. Tôi hồi hộp mở công văn của Liên hiệp Công đoàn Việt Nam. Anh chị Tiến cũng hồi hộp lắng nghe tôi đọc nội dung công văn nói: Công đoàn Việt Nam đã cử cán bộ xác minh sự thật. Ông cha tôi đi đánh Pháp hy sinh. Công văn của Đảng bộ xã Nghĩa Hòa do Bí thư Chàm ký là vu khống. Đảng sẽ có hình thức kỷ luật Bí thư Đảng bộ Chàm. Tôi được trở lại công tác bình thường… Tôi xúc động trào nước mắt. Vợ chồng anh Tiến cũng xúc động không kém gì tôi. Đọc đến công văn của Tổng cục Bưu điện thì vợ chồng anh Tiến cười rơi nước mắt:

          - Ôi! Em được điều động về Tổng cục Bưu điện Hà Nội 18 Nguyễn Du công tác, sướng quá! Đúng là trời có mắt!...

          - Em thích ở tổ điện báo trực chiến Hàm Rồng của Tỉnh đội cơ. Ở Hà Nội, giặc Mỹ không đánh phá ác liệt như đánh cầu Hàm Rồng.

           Anh Tiến kéo dài giọng:

          - Em ơi, rồi giặc Mỹ sẽ điên cuồng đánh phá Hà Nội cho mà xem. Em tha hồ đánh trả máy bay giặc Mỹ, trở thành dũng sĩ diệt Mỹ cũng nên.

          Tôi đến gặp trưởng phòng tổ chức ty Bưu điện Thanh Hóa, ông tươi cười nói:

          - Cháu Tân tí tuổi đầu đã gặp bao nhiêu gian nan khổ cực nhỉ. Cháu mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không ai dạy bảo mà cháu có chí thế. Bác có lỗi với cháu. Đáng lẽ, cháu không phải gửi đơn lên Công đoàn Việt Nam, lên Tổng cục Bưu điện. Chính bác phải trực tiếp điều tra, xác minh những điều Bí thư Chàm nói trong công văn. Đó mới đúng trách nhiệm cán bộ tổ chức cháu ạ. Bác chưa điều tra, xác minh ai đúng, ai sai, đã tin lời trong công văn của Chàm rằng cha cháu là “phản động bị ta bắn chết. Cháu khai tăng tuổi chui vào bộ đội, chỉ điểm cho máy bay giặc Mỹ ném bom cầu Hàm Rồng”… Đọc công văn của Bí thư Đảng bộ quê cháu viết như thế, ai mà không hoảng lên, tức thì đuổi việc cháu.

          Tôi giàn giụa nước mắt nói:

          - Cha mẹ cháu mất sớm, nhưng sách dạy cháu lớn khôn bác ạ. Ông ngoại cháu nhiều sách. Cháu ham đọc sách. Trong sách dạy bao nhiêu điều tốt cháu học, những điều ác cháu tránh. Khi khó khăn, hoạn nạn phải bình tĩnh nghĩ cách vượt qua, nghĩ nhiều cách thể nào cũng vượt khó. Sách bổ ích, là người bạn tốt nhất của cháu. Trong ba lô cháu có cuốn “Thép đã tôi thế đấy”. Cháu muốn học theo Pa Ven, sống sao cho không hổ thẹn với chính mình ạ.

          - Trời! Cháu chưa phải là Đoàn viên thanh niên, mà trình độ chính trị cháu vững vàng quá!... Nếu đúng tuổi thì cháu mười sáu nhỉ, tuổi mụ mười bảy. Cháu khôn trước tuổi.

          - Vì cháu chưa phải là Đoàn viên nên đến đâu cũng bị nghi ngờ. Cháu chỉ là cảm tình mãi ba năm nay chưa được kết nạp Đoàn ạ.

          - Lần này cháu đã qua thử lửa chiến đấu với máy bay giặc Mỹ ác liệt, về công tác ở Tổng cục Bưu điện, chắc cháu sẽ được đứng trong hàng ngũ Đoàn thanh niên…

          Nói chuyện vui vẻ với trưởng phòng tổ chức xong, tôi phấn chấn đi ra. Đường phố Thanh Hóa vắng bóng người. Bầu trời đầu đông xanh trong không một gợn mây. Chân tôi bước đi tự nhiên đến cổng tỉnh Đội khi nào chẳng hay. Đang ngẩn ngơ lưu luyến nhìn vào tỉnh Đội, thấy bạn Hương đi qua, tôi gọi:

          - Bạn Hương ơi!... Đúng Hương không?...

          Hương dừng chân đến trước mặt tôi lúng túng:

          - Ơ Nhật Tân sao đứng đây?...

          - Tớ làm điện báo ở Hàm Rồng.

          Hai chúng tôi vắn tắt kể cho nhau nghe chuyện vào Thanh Hóa công tác. Hương ở xã Nghĩa Phú, quê chồng chị Trâm tôi. Chúng tôi quen nhau trong đội văn nghệ, biểu diễn tiễn chân bộ đội lên đường hè năm 1962. Hương học trung cấp xây dựng. Từ năm 1962 đến nay chúng tôi không gặp nhau nên cả hai ngỡ ngàng. Tôi cứ trêu Hương con trai đặt tên con gái. Hương không được vào bộ đội vì cha hy sinh ở Điện Biên Phủ. Hương công tác ở ty xây dựng Thanh Hóa, đi xây ụ pháo, xây bệ phóng tên lửa, coi như được đánh giặc Mỹ. Tôi nói với Hương:

          - Bạn cho tớ mượn xe đạp được không? Tớ đến Sầm Sơn thăm chị kết nghĩa. Mai tớ về trả xe bạn. Vào công tác Thanh Hóa hơn một năm nay, hai chị em chưa gặp nhau.

          Hương sốt sắng trao xe đạp cho tôi.

          Lòng phơi phới, tôi hăm hở đạp xe về khu nghỉ mát Sầm Sơn. Hàng dừa xanh trĩu quả, vươn tầu lá dài nghiêng che trên đầu tôi. Cánh đồng lúa vàng tỏa hương thơm ngọt. Các bác nông dân đầu trần, hoặc trùm khăn đen đang mải miết gặt lúa, bó lúa gánh về. Đàn cò trắng chao liệng trên cánh đồng bắt con tép bên bờ mương. Ôi!... Cánh đồng lúa chín như biển vàng mênh mông, thanh bình quá!...

          Tiếng còi báo động rúc lên. Tiếng kêu la gọi nhau xuống hầm. Các chị quăng liềm, chạy đến ụ súng chiến đấu. Tôi dựa xe đạp vào gốc dừa, xuống hầm trú ẩn cá nhân tròn rải rác hai bên đường. Máy bay Mỹ bay theo hình mũi tên, giống như một đàn quạ đen sì. Tiếng rú rít của những “thần sấm”, “con ma” váng óc. Chúng bay cao, chưa nghiêng cánh bổ nhào, chắc chúng đi ném bom ở mục tiêu nào, chứ không phải cầu Hàm Rồng. Bọn quạ sắt giặc Mỹ này ma quái, nhiều khi chúng giả vờ lao xuống cắt bom cầu Hàm Rồng, nhưng lại vụt đi, bổ nhào xuống bến phà Ghép, cầu Đò Lèn. Giặc Mỹ quỷ quyệt đến đâu, cũng không đánh lừa được tinh thần bắn máy bay Mỹ của quân dân ta. Các cỡ súng đã lên đạn, sẵn sàng đánh trả những “con ma”, “thần sấm” gieo thương vong. Còi báo yên, các chị dân quân buông súng tay liềm tay hái thoăn thoắt. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường.

          Tôi bước vào phòng Bưu điện Sầm Sơn.

          Chị Nhũ tròn xoe đôi mắt:

          - Ô em Tân! Em tôi xinh gái quá!... Mắt lóng lánh như sao Mai.

          Chị nói nhỏ vào tai anh nhân viên, dắt xe đạp đưa tôi về phòng ở.

          - Em mượn xe đạp Thống Nhất nam của ai mà đến chị giỏi thế? Sao em không gọi điện cho chị báo trước?

          Chị Nhũ hái dừa trong vườn phòng Bưu điện cho tôi uống mát ngọt. Còn chị dùng thìa nạo cùi dừa ăn ngon lành.

          - Nào, em kể chuyện cho chị nghe. Chắc em ở tổ điện báo trực chiến bận hơn chị rồi, không có thì giờ gọi điện cho chị. Còn chị, đảng viên, lãnh đạo phải gương mẫu. Chị không dám gọi điện cho em, sợ nhân viên xì xèo mình lợi dụng máy công nói chuyện riêng. Nhiều đêm trực, chị mong đỏ mắt tiếng em gọi chị mà chẳng thấy. Nhớ em quá!...

          Chị ngắm nghía, sờ nắn tay chân tôi, khen tôi rắn chắc lên nhiều, gương mặt có nét cương nghị, không còn vẻ ngây ngô như hồi học ở trường Bưu điện. Chị cười cười nói:

          - Hai trái đào tiên em tôi mẩy chắc thế này mà họ bảo em tôi “vu khống” có tức không cơ chứ!... Đây, chị mua sẵn cho em mấy cái quang treo hai trái đào xinh. Em ra nhà tắm mặc thử xem có vừa không.

          - Úi, em không mặc đâu, vướng víu khó chịu.

          - Ơ con bé này, em không mặc, người ta cười cho đấy, xấu lắm. Năm nay em mười bảy tuổi mụ nhỉ. Gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu đấy nhé!...

          - Chị ơi, ra bãi biển ngắm đi. Mấy năm em xa biển quê Nghĩa Hưng, em nhớ biển lắm. Rừng phi lao xanh tốt che mắt máy bay giặc Mỹ. Chị em mình không sợ.

          - Ừ, chị cũng thích ngắm biển. Người ta, chết có số em ạ, sợ gì máy bay giặc Mỹ.

          Ngoài khơi, lác đác thuyền đánh cá, nhấp nhô cánh buồm nâu trên sóng mênh mông. Chị em tôi nắm tay nhau đi dưới rừng phi lao vi vu hát. Tôi kể hết mọi chuyện cho chị Nhũ nghe. Nước mắt chị chảy ướt má. Nghe xong chuyện, chị cười xòa:

          - Em tôi trưởng thành rồi. Bom đạn giặc Mỹ càng tôi thêm chất thép cứng cỏi trong đầu em. Tự em giải quyết mọi việc, không phải hỏi chị, tìm đến chị giúp. Giỏi! Cây ngay không sợ chết đứng.

          - Bà Bưu điện ơi!... Lại đây!...

          Hai chị em chạy đến mấy con thuyền đánh cá vừa neo bờ. Tôi ngạc nhiên, toàn các cụ già. Trên vai cụ nào cũng đeo khẩu súng trường. Chị Nhũ thì thầm vào tai tôi: “Các ngư phủ là dân quân bắn máy bay Mỹ”. Tôi vỗ tay:

          - Hoan hô các cụ bô lão Diên Hồng vươn khơi bắt cá, bắn máy bay giặc Mỹ…

          Các cụ cười khà:

          - Các lão tặng phòng Bưu điện ít cá tươi ăn cho khỏe, mà giữ vững đường dây liên lạc thông suốt!

          Chị Nhũ bẻ mấy cành phi lao đến đựng cá ngư dân cho.

          Tôi xúc động nhìn biển rộng xa hút tầm nhìn, lòng nao nao nhớ về con đê lộng gió, lấn biển ở nông trường Rạng Đông, Nghĩa Hưng, Nam Định quê hương. Những cánh buồm nâu chấp chới như đang bay lên bầu trời xanh thẳm, nâng tâm hồn tôi bay theo… 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 13

 

          Bác thường trực Tổng cục Bưu điện hỏi tôi:

          - Cháu gặp ai? Có việc gì?...

          Tôi đặt ba lô xuống đất lấy tờ quyết định điều động công tác. Đọc xong tờ quyết định, bác bảo vệ bỏ kính nhìn tôi:

          - Chiến sĩ điện báo ở cầu Hàm Rồng?... Xem nào… Mảnh khảnh gió thổi bay. Được nước da hồng tươi nụ cười… Đôi mắt long lanh sức sống như hai ngôi sao… Còn mái tóc… mái tóc như… như dòng suối từ vai đến gót chân. Người bé, tinh thần đánh Mỹ to… Bác dẫn cháu đến tổ chức.

          Vào đến phòng tổ chức, tôi luôn bị bất ngờ. Sau khi bác bảo vệ giới thiệu tôi, các bác, các chú ùa đến quanh tôi bắt tay. Thuở bé đến giờ, chưa bao giờ tôi biết bắt tay ai. Nay được lãnh đạo Tổng cục Bưu điện bắt tay, tôi xúc động lúng túng đưa cả hai tay nắm tay các bác, các chú. Mọi người ân cần hỏi han sức khỏe tôi, mời tôi uống nước. Một lúc sau, bác trưởng phòng tổ chức bảo:

          - Bác gọi điện cho bệnh xá của Tổng cục rồi, cháu gầy yếu lắm, phải kiểm tra sức khỏe đã, rồi bác sắp xếp công tác cho phù hợp.

          Anh y sĩ trạm xá Tổng cục Bưu điện đo huyết áp, nghe tim mạch tôi xong, vẻ mặt lo lắng bảo:

          - Anh giới thiệu em đến bệnh viện Bạch Mai khám sức khỏe toàn diện. Bác trưởng phòng tổ chức nói em bị sức ép bom ở Hàm Rồng, chấn thương sọ não.

          - Em bị nhẹ thôi, chỉ mấy ngày nằm viện, tỉnh dậy em về đơn vị chiến đấu ngay ạ. Em thấy em vẫn khỏe, không sao đâu.

          - Không được. Em không phải bác sĩ, em không biết bệnh tật. Em phải đến Bạch Mai chụp sọ não, có gì chữa ngay, để lâu khó chữa.

          Dù tôi không muốn khám ở bệnh viện Bạch Mai, nhưng phải chấp hành tổ chức. Tôi lấy thẻ khám bệnh đặc biệt của khoa thần kinh cấp cho tôi năm 1962, kẹp vào sổ khám bệnh của trạm xá Tổng cục, anh y sĩ vừa đưa cho. Đọc lại tấm thẻ khám bệnh đặc biệt, tôi mỉm cười. Trong thẻ ghi rõ: “Ba tháng đến chụp phim sọ một lần”. Vậy mà từ tháng 6-1962 đến nay, tôi không đến chụp sọ não, có làm sao đâu?...

          Ông bác sĩ trưởng khoa thần kinh nhận ra tôi ngay. Ông reo lên:

          - Ồ!... Bé Tân!... Xinh gái quá!... Tóc dài thướt tha!... Mảnh mai…

          Bác sĩ Phạm Đình Thiện và tôi trò chuyện một thôi mới vào việc khám bệnh. Tôi được biết anh Doãn, chị Vân, chị My đang học trường đại học y. Bác sĩ trưởng khoa trực tiếp khám bệnh cho tôi rất cẩn thận. Bác Thiện bảo tôi:

          - Cháu phải nằm điều trị ít nhất một tháng.

          Tôi giãy nảy:

          - Bác ơi, cháu không nằm đâu. Bác cho cháu về công tác. Cháu vừa ở Hàm Rồng về, lại nằm bệnh viện lâu, cháu xấu hổ lắm.

          Bác Thiện trầm giọng, nhìn vào mắt tôi:

          - Muốn hay không, cháu vẫn phải điều trị sọ não. Cháu vốn đã bị bệnh não, giờ cháu bị bom Mỹ làm chấn thương, càng nặng hơn. Với lại, áp huyết cháu thấp lắm. Cháu có thấy hoa mắt chóng mặt không? Có ngã không?

          - Có ạ!... Nhiều lần, cháu đang đi, tự nhiên thấy bầu trời ở dưới chân, cháu bị ngã ập xuống đất. Những lúc như thế cháu rất tức. Rõ ràng cháu tỉnh táo mà bị ngã bất ngờ, không chống được.

          Bác Thiện cười bảo tôi:

          - Thế là chính xác, cháu phải nằm viện để bác xem kết quả bốn cái phim sọ não. Trước mắt, trị cái bệnh áp huyết thấp đã…

          Một hôm tôi đang ngồi đọc báo dưới gốc cây ngoài vườn hoa bệnh viện, nghe tiếng hỏi:

          - Ơ, em Tân điều trị ở đây à?

          Tôi ngẩng lên, nhận ra y sĩ Lê Văn Sắc, bệnh viện Thanh Hóa, chữa chấn thương sọ não ngày 4-4-1965 cho tôi. Tôi nói:

          - Sức khỏe em yếu, được về Hà Nội chữa trị.

          - Dạo ấy, anh nghi em bị giãn xương sọ, vì em kêu đau đầu, ngủ nói mê hét toáng phòng bệnh. Em không chịu nằm điều trị, em trốn về đơn vị.

          - Anh cũng điều trị ở Bạch Mai à?

          - Anh học lên đại học, mỗi năm tập trung ba tháng. Anh đi thực tập ở bệnh viện Bạch Mai. Một tuần nữa anh trở về Thanh Hóa.

          Vào phòng bệnh, xem bệnh án của tôi rất kỹ anh Sắc nói:

          - Cái đầu của em gay đấy, xương sọ giãn, di dít chấm đen. Bác sĩ trưởng khoa có nói gì với em không?

          - Bác bảo em phải nằm bệnh viện lâu dài chữa bệnh. Em xin về công tác bác không cho. Mới nằm một tuần em chán lắm. Em định trốn về cơ quan làm việc. Em khỏe mạnh, có sao đâu mà bác sĩ bắt em phải nằm điều trị.

          Anh Sắc cười đôn hậu:

          - Em không phải thầy thuốc, không biết xem bốn cái phim sọ não của em. Cả bốn phim: ngửa mặt, nằm úp, nghiêng phải, nghiêng trái, đều có những đường nứt xương sọ và những chấm đen… đáng lo ngại…

          - Em chẳng thấy người làm sao. Em mượn báo bác trưởng khoa đọc rất hay. Ngồi chơi ngoài vườn hoa, nghe chim ríu rít gọi nhau, hót vui, em làm mấy bài thơ thiếu nhi đây. Anh xem.

          Đọc mấy bài thơ tôi mới sáng tác, anh Sắc khen:

          - Thơ em hồn nhiên như nhi đồng ấy nhỉ. Ai bảo em làm?...

          Tôi kể chuyện đoàn nhà văn Việt Nam, do nhà văn Nguyễn Đình Thi làm trưởng đoàn, vào Hàm Rồng viết về cuộc chiến đấu của quân dân Thanh Hóa với máy bay giặc Mỹ trong hai ngày 3, 4-4-1965 cho anh Sắc nghe…

          - Lạ nhỉ!... Sọ não em… em vẫn tỉnh táo, thông minh…

          Sáng thứ hai tôi đi xe điện từ cổng bệnh viện Bạch Mai đến cổng Công viên Thống Nhất xuống. Đi bộ mười lăm phút tôi đến tòa soạn báo Thiếu niên Tiền phong 15 Hồ Xuân Hương. Bước vào phòng “Ban biên tập”, tôi run run giọng:

          - Cháu… cháu chào các chú! Cháu là…

          - Ồ!... Cô bé xinh tươi Trần Thị Nhật Tân! Anh là Quản Tập. Đây anh Phong Thu. Kia, anh Ngô Viết Dinh. Em xưng hô anh em cho thân mật. Các anh hơn em hơn chục tuổi thôi.

          Sự đón tiếp niềm nở, thân tình của các anh trong Ban biên tập giúp tôi bình tĩnh, đỡ hồi hộp, nói chuyện tự nhiên và đưa các anh mấy bài thơ mới sáng tác.

          Anh Ngô Viết Dinh đến bên tôi bảo:

          - Em ký vào sổ lĩnh nhuận bút, từ tháng năm nhà thơ Thái Giang đem thơ của em cho báo in. Em không ghi địa chỉ nên tòa soạn không gửi nhuận bút, báo biếu cho em được…

          Về đến bệnh viện Bạch Mai, tôi nài nỉ bác sĩ trưởng khoa Phạm Đình Thiện cho ra viện bằng được.

 

                                      *       *

                                            *

 

          Xuống ô tô, tôi nôn thốc nôn tháo, hoa mắt chóng mặt, lăn kềnh dưới đất. Mấy hành khách xúm lại đỡ tôi dậy. Người tôi lảo đảo như lên đồng. Cây cối trước mặt tôi quay như chong chóng. Nhớ đến củ gừng trong túi áo, tôi cho vào mồm nhai ngấu nghiến nuốt. Tôi tựa vào ba lô đeo sau lưng, cố gắng chống chọi với chóng mặt. Mọi người hỏi tôi về đâu? Tôi nói về xã Lập Xuân. Ai cũng lắc đầu: “Không cùng đường. Tiếc không giúp được cô bé xinh đẹp”. Trên chuyến ô tô Hà Nội – Vĩnh Phúc tôi đi, chỉ có vài ba chị, còn toàn nam. Họ tản đi hết, còn một mình tôi. Thấy đỡ chóng mặt, tôi quyết đứng dậy hỏi đường về xã Lập Xuân, huyện Lập Thạch. Vừa xốc ba lô đứng lên, một chị gánh lủng củng mấy cái bị cói đến hỏi tôi:

          - Em gái về xã Lập Xuân, huyện Lập Thạch à?... Chị cũng về đấy. Em về thăm ai, hay em về cơ quan nào sơ tán?

          - Em về công ty Thiết kế của Tổng cục Bưu điện công tác ạ.

          Chị phụ nữ reo lên:

          - Em gặp may rồi. Chị công tác ở công ty Thiết kế đây. Em đưa ba lô chị gánh cho… Chị dồn mấy cái bị một bên… Ối!... Ba lô em nặng thế?... Sách à? Thảo nào nặng… Chị gánh được. Em yếu mệt, đường xa, đi bộ người không cũng mệt đấy.

          - Chị ơi, giặc Mỹ có ném bom Hà Nội đâu, mà các cơ quan đã đi sơ tán hết lên rừng núi?... Đường phố Hà Nội vắng teo, buồn quá.

          Chị cười:

          - Em ngây thơ quá! Nhà nước mình phải lo xa chứ, nước đến chân mới nhảy thì chết. Em không biết giặc Mỹ ném bom khốc liệt cầu Hàm Rồng thế nào à? Mấy khẩu pháo quân ta trên núi Ngọc, núi Rồng bị trúng bom Mỹ lăn xuống. Bộ đội hải quân ta hy sinh nhiều lắm!... 

          Tôi buột miệng:

          - Hôm ấy em làm điện báo phục vụ đơn vị chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng. Em bị - Tôi định nói bị sức ép bom, nhưng kìm lại được. Mình phải giấu chuyện bị thương, kẻo mọi người không cho mình làm việc nặng nhọc.

          Chị dừng chân, nhìn tôi vẻ thán phục:

          - Thật à?... Em bé nhỏ mà giỏi nhỉ!...

          Hai chị em vừa đi vừa nói chuyện, tôi quên việc chóng mặt say ô tô lúc nào chẳng hay. Đến quán nước bên đường, chị bảo vào nghỉ uống nước, ăn trưa. Chị mở gói cơm nắm. Tôi lấy bánh mì, bi đông nước trong ba lô ra cùng ăn. Chị giới thiệu tên Sanh. Lúc này ngồi ăn cơm, tôi mới để ý chị Sanh có đôi mắt đen buồn thăm thẳm. Chị kể nhà có hai chị em gái. Cha mẹ chị mất sớm. Chị gái mười một tuổi bán lạc rang rong đường phố, nuôi em bảy tuổi. Chị học đến lớp bốn phải nghỉ học đi bán lạc rang kiếm sống cho hai chị em, vì chị gái bị bệnh lao. Không có tiền vào bệnh viện chữa lao, nên chị gái chị ngày càng bị nặng. Hơn chục năm nay, chị gái chị Sanh gầy đét, yếu ớt. Một mình chị tự lo sinh hoạt hàng ngày. Lương chị Sanh chia đều ba phần cho chị gái và hai mẹ con.

          Tôi hỏi chị:

          - Chồng chị đâu?... Sao…

          Chi Sanh quay đi nghẹn lời. Giọt nước mắt lăn nhanh xuống má. Tôi ân hận vô ý hỏi vào nỗi đau của chị, cúi mặt nhai bánh mì. Chị bảo tôi:

          - Em ăn cơm nắm với chị, ăn bánh mì nóng ruột. Em không sợ lây vi trùng lao đâu. Chị ở với chị gái chị lao, mà chị có lây đâu. Quan trọng sống cách ly một phòng. Mọi đồ dùng riêng hết. Bát đũa ăn xong rửa sạch, tráng nước sôi cẩn thận.

          Chị Sanh mua bát nước chè xanh uống, không uống nước đun sôi trong bi đông của tôi. Chị bảo uống nước chè xanh rất tốt.

          Chiều muộn chúng tôi mới về đến cơ quan. Chị Sanh dẫn tôi đến gặp Chủ nhiệm công ty Thiết kế:

          - Bác Hân ơi, cháu dẫn nhân viên mới đến nhận công tác.

          - Thế à?... A! Cháu Trần Thị Nhật Tân phải không?...

          Ơ, sao bác Chủ nhiệm công ty đã biết tên mình nhỉ. Chị Sanh cũng ngạc nhiên:

          - Sao bác bảo đây là cô Trần Thị Nhật Tân? Không phải thì sao?

          - Chính xác cô Tân. Vì tổ chức Tổng cục đã gọi điện cho tôi mà. Cô Sanh dẫn cô Tân về ở nhà bà Hậu với cô The nhé! Cháu Tân rửa mặt mũi chân tay rồi đến bếp tập thể ăn cơm. Bác báo suất cơm cho cháu rồi. Sáng mai cháu mua phiếu ăn.

          Vừa đi tôi vừa nghĩ mình gặp may, được làm việc với một người lãnh đạo có tấm lòng thương yêu nhân viên. Bác Hân ân tình như người thân từ lâu, quan tâm chu đáo quá. Sự cởi mở, thân thiện của bác Chủ nhiệm công ty, làm tôi phấn khởi, vui tươi khỏe khoắn lên.

          Sáng hôm sau tôi theo chị Sanh đến phòng làm việc trong đình làng. Ngôi đình ba gian lợp ngói ta. Bốn chiếc bàn vuông được kê gọn ở gian đầu phía tây. Đã có hai chị đến làm việc. Chị Sanh giới thiệu tôi với chị Dung, chị Dắt. Vừa lúc ấy Bình bước vào. Chị Sanh thì thầm vào tai tôi: “Cháu ông to trên Tổng cục, kiêu lắm. Làm việc yếu kém”. Bình chau mày, làm hai đầu lông mày dính liền, trông như hai con sâu róm chụm đầu vào nhau ở đỉnh sống mũi. Đuôi sâu róm vòng xuống cuối đôi mắt hấp háy, làm tôn thêm sự phô trương của hàm răng vẩu khấp khểnh. Tôi tảng lờ cái nhìn coi thường của Bình, nói với chị Sanh:

          - Chị hướng dẫn em cách căn ke các bản thiết kế đi.

          Chị Sanh cười:

          - Dễ ấy mà. Văn hóa lớp bốn các chị còn làm được nữa là em, đã tốt nghiệp trung cấp điện báo.

          - Mỗi việc một khác chị ơi. Trăm hay không bằng tay quen. Chị cứ hướng dẫn em, bắt tay vào làm, em tránh sai sót. Hỏng tờ giấy lãng phí. Đất nước đang chiến tranh phải cần kiệm.

          - Cô nhân viên mới có ý thức nhỉ - Chị Dung nói. Chị Dắt gật đầu với ánh mắt thiện cảm. Bình nguýt tôi, làm ba chị bưng miệng cười.

          Căn ke xong bản thiết kế, tôi đưa chị Sanh kiểm tra, chị khen:

          - Dung, Dắt xem này, cô Tân tiếp thu nhanh nhạy chưa? Nét kẻ của cô ấy đậm đều tăm tắp, sắc nét một lần, không tô đi dặm lại – Chị Sanh liếc sang Bình. Cô ta xỉ mũi.

          Giờ ăn trưa, tôi bước vào nhà ăn tập thể. Mọi người nhìn tôi với mọi ánh mắt: thân thiện, dò xét… Mấy anh nam trêu đùa nhau gán ghép với tôi vui cười. Nhận suất cơm tôi đến đầu bàn ở góc nhà lặng lẽ ăn. Bình cùng mấy bạn ngồi phía đối diện tôi, nói cười hô hố… Một ông cụ cao gầy, râu tóc bạc bước vào. Ai cũng chào “Bố!”. Tôi đứng lên “Chào bố”. Ông cụ đôi mắt sáng, nhìn tôi cười. Ăn xong, tôi xếp bát đũa gọn, đem ra chậu rửa ngoài giếng nước. Ông cụ đem bát đũa ra sau tôi, gặp nhau ngược chiều. Ông cụ bảo tôi:

          - Con mới về công tác à? Đợi bố để bát đũa rồi đi theo bố.

          Tôi ngoan ngoãn vâng lời. Cụ nói giọng Nam bộ, ấm áp, nhẹ nhàng. Xa vợ con, xa quê hương, cụ tập kết ra Bắc chắc nhớ quê lắm. Hay mình giống con gái cụ ở quê miền Nam xa xôi, nên cụ cảm tình?...

          Về đến nơi cụ làm việc là căn phòng làm bằng vách nứa đan. Mái nhà cũng lợp bằng những tấm nứa đan. Phòng chừng hơn chục mét. Trên chiếc bàn tre chất đầy những đống báo, công văn, giấy tờ v.v… Chõng tre cụ nằm có chăn bông to đùng. Đã cuối năm 1965, trời rét đậm chắc cụ không chịu được cái rét thấu xương miền Bắc…

          Cụ pha trà vào cái ấm sành bé, bốn chén sành cũng bé, rót nước mời tôi uống. Tôi xin lỗi cụ không biết uống trà. Cụ nhâm nhi hết chén trà mới nhẩn nha thả từng tiếng trìu mến:

          - Con có biết tại sao lần đầu gặp con, bố lại xưng bố, gọi con không?

          - Dạ, thưa bố không ạ.

          - Thế tại sao con lại đứng lên, khoanh tay: “Con chào bố?”

          - Thưa bố, thấy mọi người chào bố, con cũng chào theo ạ. Trong bụng con nghĩ: chắc bố là người đức độ lắm, nên ai cũng kính nể ạ.

          Cụ cười nheo đuôi mắt hiền từ:

          - Chưa hẳn thế đâu. Bố rất khó tính. Hàng mấy trăm nhân viên ở cơ quan, bố chỉ xưng bố với hai đứa. Đó là con Uyển, con Điệp ở cục Bưu chính. Nay con là đứa con gái thứ ba bố kêu con xưng bố, từ khi tập kết ra Bắc.

          Nhấp liền mấy chén nước, ông cụ nói tiếp:

          - Bố tên Trần Trân, quê Rạch Giá. Bố có thằng con trai theo tập kết, đang học bên nước bạn Hung – Ga – Ri. Về đài điện tử, các nước xã hội chủ nghĩa, chỉ Hung – Ga – Ri nhất, nước tư bản thì Nhật giỏi. Tại sao bố quý con ngay lần đầu? Bố quan sát thấy con ăn từ tốn. Xương cá con để gọn cạnh bát canh. Ăn xong, con gạt mọi thức ăn thừa vào bát, để ghế vào gầm bàn. Con có ý thức quan tâm đến chị em cấp dưỡng. Còn số đông, họ ăn vung vãi cơm ra bàn, xuống đất. Xương cá họ vứt lung tung, bát đũa để lỏng chỏng ở bàn, đi ra. Giờ ngồi nói chuyện, con nói năng lễ độ, phải nhẽ, bố càng mến con. Chắc cha mẹ con là nhà giáo dạy dỗ cẩn thận lắm.

          - Thưa bố, cha mẹ con mất sớm khi con mười tuổi ạ. Con tự mò ốc, bắt cua bán lấy tiền ăn học ạ.

          - Trời!... Tội nghiệp!... Thế con có được ai dạy cách nói năng thưa gửi và cách sống thế nào không?

          - Thưa bố, con học trong sách ạ. Cha con có tủ sách cao hơn con, xếp chật sách. Nhiều nhất là sách chủ nghĩa Mác – Lê – Nin, sách thuốc. Nhưng con thích nhất truyện Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định. Quyển thứ hai là “Những tâm hồn cao thượng” ạ. Truyện nào cũng có người tốt giúp người gặp khó gặp nạn ạ.

          - Con thích đọc báo không?

          - Có ạ.

          - Bố rất nhiều loại báo của cơ quan. Vậy hàng ngày, giờ nghỉ trưa con về phòng bố mà đọc báo. Sách báo là trí tuệ của nhân loại. Ai chăm đọc sách báo, người ấy sống có văn hóa, giầu tình người. Sách dạy ta những điều hay lẽ phải, chê trách điều xấu ta tránh…

          Một hôm chị Dung hỏi tôi:

          - Em Tân có thích vào đoàn không?

          - Sao chị hỏi em thế? Là thanh niên, ai chẳng có ước mơ được đứng trong đội ngũ đoàn thanh niên, cánh tay phải của Đảng.

          - Vậy sao em cảm tình mấy năm, chưa được kết nạp vào đoàn?

          - Em không biết. Chị tự hỏi trong Ban chấp hành của công ty.

          Bẵng đi mấy tháng, đầu năm 1966, chị Dung vui vẻ nói với tôi:

          - Em Tân này, chị báo tin vui với em, vừa qua chi Đoàn công ty họp, bỏ phiếu kết nạp em vào đoàn. Em biết chị đi ngược dòng thời gian, về trường trung cấp Bưu điện xác minh về em không? Tuổi thơ em khổ quá. Em là đứa trẻ có nghị lực. Em bị cái “lý lịch vu khống” nó đeo bám hại em. Em khai tăng tuổi để đi học điện báo, vào bộ đội đánh Mỹ. Kẻ xấu nói em khai man tuổi. Thiếu niên cả nước khai tăng tuổi đi đánh Mỹ như em, thì Mỹ chạy về nước rồi. Chi đoàn bỏ phiếu gần một trăm phần trăm. Mỗi cô Bình không đồng ý kết nạp em vào Đoàn thôi. Lẽ thường em ạ. Cụ Nguyễn Du nói: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”. Cô ta vừa xấu người vừa xấu nết. Bố Trân ghét cô Bình nhất…

          Được vào Đoàn, tôi hãnh diện đeo huy hiệu Đoàn bên ngực trái tim mình. Lòng phấn khởi, tôi đến gặp bác Hân chủ nhiệm Công ty:

          - Bác ơi, dạo này bản thiết kế ít, mấy chị em cháu làm việc buổi sáng xong, chiều ngồi chơi, lãng phí thời gian quá. Bác cho cháu sang tổ đường dây đào lỗ chôn cột, kéo dây bác ạ.

          Bác Hân lắc đầu xua tay:

          - Không được, không được. Cháu bị chấn thương sọ não. Sức khỏe cháu yếu, không làm được việc nặng.

          - Thưa bác, dạo này cháu béo khỏe hơn ngày mới về. Cháu là thanh niên, phải xung phong làm việc khó chứ ạ. Trong khi cháu ngồi chơi, anh chị ở tổ đường dây làm việc quần quật, thiếu người. Cháu đi làm vất vả là hợp lý ạ…

          Tôi nì nèo mãi, bác Hân cười xòa:

          - Con bé này nói khéo, bác đành chịu. Thôi được, bác viết giấy cho cháu đi làm hỗ trợ tổ đường dây nhé. Nhưng khi nào tổ căn ke cần người, gọi thì cháu phải về ngay đấy nhé!...

 

                                      *        *

                                           *

 

 

 

 

 

 

 

Chương 14

 

          Mặt trời đỏ ối đậu trên ngọn đồi phía tây. Tổ đường dây chúng tôi vai vác cuốc xẻng, đeo vòng dây điện uể oải bước đi. Thỉnh thoảng tiếng chim chích chòe gọi nhau ríu rít trên cây ven đường, làm gương mặt chúng tôi nở ra, vơi bớt nỗi mệt nhọc. Trời nhá nhem tối, chúng tôi về đến cơ quan.

          Chúng tôi đang ăn cơm, bác Hân chủ nhiệm bước vào:

          - Chào anh em tổ đường dây, hoàn thành tốt nhiệm vụ trước thời hạn một tuần!... Tôi sẽ đề nghị Tổng cục khen thưởng. Cháu Tân, sáng mai đến gặp bác nhận chuyện vui nhé!...

          Các anh chị trêu tôi:

          - Bác Hân định gả em Tân cho anh nào ở Công ty ta đấy?...

          - Bác Hân ơi, con gái mà gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng đem cho. Ngay tổ đường dây ta, có anh Hải lái xe người Thủ đô đẹp trai, hiền như cục đất, đẹp đôi bác ạ.

          - Hải nó sắp đi bộ đội. Tớ có cậu em trai làm ở bưu điện Sơn La. Nhà tớ đã có ba chiến sĩ đi giải phóng miền Nam rồi. Cậu nó út ít, không phải vào chiến trường ác liệt – Chị Hòa nói.

          Hôm sau ăn sáng xong, tôi đến gặp bác Chủ nhiệm công ty. Bác Hân đưa cho tôi quyết định điều động công tác:

          - Tổng cục Bưu điện điều cháu về Cục Bưu chính, vừa đúng ngành cháu học, vừa lúc bên đó cần người. Cháu thấy thế nào? Nếu cháu thích ở lại công ty ta, bác sẽ đề nghị với tổ chức.

          Tôi nói ngay:

          - Thưa bác, cháu nghĩ nên chấp hành sự điều động của cấp trên ạ. Cháu về công ty ta chưa đầy một năm, nhưng cháu rất thích không khí đoàn kết, thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Cháu tiếc phải xa bố Trân. Bố làm văn thư, có nhiều loại báo. Trưa nào cháu cũng đến phòng bố Trân đọc báo. Hai bố con cùng bàn luận những chuyện trong nước và quốc tế. Bố dạy con nhiều điều hay, lẽ phải ạ.

          - Ông già Trân ai cũng quý nể. Cụ ấy hoạt động cách mạng sớm lắm, lúc tuổi thiếu niên. Cháu đi, bác cũng nhớ cháu ngoan, chịu thương chịu khó, được người được nết. Cục Bưu chính đóng ở xã bên, cách nhau chưa đến chục cây số. Chủ nhật cháu về chơi với bố Trân. Mà bên ấy, có chị Uyển, chị Điệp, họa sĩ vẽ tem, bố Trân cũng quý, gọi con. Thỉnh thoảng, hai chị vẫn về thăm bố Trân…

          Tôi được hai tổ kết hợp, liên hoan tiễn chân. Buổi tối, chỉ có nước lá với mấy đĩa kẹo vừng. Chẳng biết lá gì, dân địa phương vẫn nấu uống, hơi đăng đắng nhưng ngon thơm, đọng ở cổ. Mới đầu uống chưa quen, chưa thích. Sau uống quen loại nước lá đăng đắng này, ai cũng thích. Những ngày trời nắng nóng, uống một bát nước lá tỉnh người.

          Trên đường tôi đi đến cục Bưu chính, nghe tiếng kẻng báo động của hợp tác xã mấy lần. Từng tốp phản lực “Thần sấm” ầm ầm vút trên đầu. Hôm qua, giặc Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, Hà Nội. Ai cũng lo lắng, nghĩ về Thủ Đô có Bác Hồ đang ở. Tôi băn khoăn, không biết bộ đội có đào hầm tránh bom an toàn cho Bác Hồ, cho Tổng tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ không?... Bom rơi đạn lạc biết thế nào. Tôi ngơ ngác nhìn quanh tìm người để hỏi thăm, một chị phụ nữ xách làn cói đi đến.

          - Chị ơi, về làng Nếnh đi lối nào?... Nơi có cơ quan sơ tán…

          - Em về cục Bưu chính à? Đi với chị…

          Hai chị em nói chuyện tíu tít. Hóa ra tôi gặp đúng chị Uyển họa sĩ vẽ tem. Chị bảo tôi về nhà chị ăn cơm trưa, chiều hãy đến gặp bác Khánh cục trưởng. Con trai chị mới hơn một năm. Cụ chủ nhà đặt cháu nằm võng ngủ ngon lành. Chị lôi trong làn cói ra nải chuối xanh, mấy quả dứa xanh. Chị bảo miền trung du hiếm tôm cá. Tem phiếu thực phẩm tiêu chuẩn cán bộ nhân viên chỉ ăn được vài ngày. Chị kho chuối xanh ăn. Thi thoảng đi chợ gặp mớ cá vụn mới được bữa canh cá nấu chuối xanh. Chị bảo nuôi con thơ trong khi đất nước chiến tranh đói ăn, nhưng thằng cu tí nhà chị bụ sữa, nặng như cối đá. Ai cũng thích thơm vào đôi má trắng hồng của cháu. Cõ lẽ chuối xanh bổ, nhiều hôm hết gạo, ngô, chị luộc chuối xanh ăn trừ bữa, sữa vẫn căng bầu.

          Bác Nguyễn Văn Khánh ở trong ngôi nhà rộng bốn gian. Chủ nhà là bà góa, có con trai duy nhất tình nguyện vào bộ đội. Một mình bà ở trong buồng, ba gian ngoài cho cơ quan làm việc.

          Bác Khánh bảo tôi:

          - Cô thanh niên ba sẵn sàng, đảm nhiệm điều tra viên. Cục ta có ba cán bộ điều tra các vụ “moi gan”, “móc ruột” không xuể. Ba cán bộ đều ngoài năm mươi, giao liên thời chống Pháp, ốm đau tuổi già. Hàng tháng, ba ông đi nằm chữa bệnh ở bệnh xá Tổng cục là chính.

          Bác Khánh mở cánh tủ gỗ cao to, lấy ra một tập hồ sơ:

          - Cô nghiên cứu đống hồ sơ này, chọn ra việc nào làm trước, việc nào làm sau. Cô nên đi cơ sở ngay ngày mai. Chiều nay cô đến kho xe đạp công, chọn cái xe nào đỡ băng bó lốp mà đi.

          Gần hết giờ chiều, tôi báo cáo với bác Khánh:

          - Thưa bác, cháu chọn hai hồ sơ: Hà Nam, Thái Bình ạ. Vụ ở bưu cục Hà Nam, người gửi cân đường. Người nhận mở ra gói cát ạ. Vụ bưu cục Tiền Hải, người nhận một tập báo cũ nhàu nát, thay cho năm thếp giấy của bố gửi cho con từ giao dịch Bờ Hồ, Hà Nội ạ. Mai cháu đạp xe về Hà Nội điều tra, đi tiếp xuống Hà Nam, rồi Thái Bình ạ.

          Bác Khánh nhắm mắt nói chậm rãi:

          - Cô trẻ người mà tính toán tiết kiệm thời gian gớm nhỉ!... Tôi mừng có được nhân viên như cô.

          Cuộc hành trình mở màn điều tra những vụ “moi gan”, “móc ruột” gói bưu phẩm, gửi bằng đường bưu điện của tôi kéo dài hai tuần mới xong. Gọi là xong, thực chất chỉ điều tra được một vụ moi cân đường, nhét cát vào gói bưu phẩm ở Hà Nam. Tôi phải cất công đạp xe đi huyện Duy Tiên, về tận nhà nhân viên dò hỏi hàng xóm và chính bà cụ mẹ đẻ nhân viên giao dịch nói ra: “Trong lúc ốm tưởng chết, con gái đem về cho mẹ cân đường nấu cháo ăn…” Tôi kể cho bác Khánh nghe, bác lim dim mắt, hỏi:

          - Theo cô, xử lý tội nhân viên này thế nào?

          - Thưa bác, ăn cắp là tội xấu, vi phạm lương tâm nghề nghiệp. Ai ngồi giao dịch nhận, phát cũng lấy cắp của người gửi thì mất hết lòng tin của dân đối với Bưu điện ạ.

          - Đanh thép nhỉ!... Sao nữa?... Cô nói tiếp.

          - Thưa bác, cháu đề nghị cảnh cáo, ghi lý lịch, chuyển công việc khác ạ. Trong lúc khó khăn thiếu thốn, mẹ ốm nặng, nhân viên làm liều ạ. Sự việc nhỏ, không phải tội to ạ.

          - Cô xử nhân đạo quá!... Tôi nhất trí ý kiến cô. Tôi đọc cô ghi công văn, đem đến văn thư đánh máy. Cô cầm văn bản về tôi ký cho văn thư gửi đi cơ sở.

          Bác Khánh đứng lên rót nước uống, hỏi tôi:

          - Vụ năm thếp giấy, hai bưu cục cù nhầy, anh nào cũng chối không móc ruột à?...

          - Thưa bác, cháu xem xét kỹ gói bọc, dấu xi nguyên vẹn, khó phát hiện ở khâu nào ạ. Có khi, cháu điều tra vụ khác, thăm dò dần dần, sẽ hé lộ vụ trước.

          - Rồi!... Cô mưu trí…

 

                                      *         *

                                            *

 

          Ba chị em lặng lẽ đi. Mỗi người suy ngẫm theo cách riêng. Thỉnh thoảng chị Uyển lại cất lên điệp khúc: “Chị tiếc cho em Tân. Em làm điều tra viên đang có uy tín, dư luận các tỉnh đang nể trọng em. Em được cảm tình Đảng”… Lòng tôi rối bời. Bác Khánh cục trưởng cũng tha thiết muốn tôi ở lại cục Bưu chính. Nếu tôi đồng ý ở lại, Tổng cục trưởng sẽ điều bạn Vân, bạn Dung thay tôi.  Nhưng tôi chấp hành sự điều động của cấp trên. Có lẽ tổ chức nghĩ tôi đã từng chiến đấu với giặc Mỹ ở cầu Hàm Rồng, việc điều động tôi sang quân y viện 108 phù hợp. Phần tôi, cũng muốn trở lại quân đội. Việc cảm tình Đảng là phấn đấu liên tục. Chị Uyển phân tích quân y viện 108 họ phải theo dõi từ đầu sự phấn đấu của tôi. Chị Điệp tính vô tư, nói: “Đến cơ quan nào em cũng làm việc tận tâm, ai cũng quý. Chi bộ nào cũng muốn em vào Đảng để cống hiến tài năng”. Chị Điệp địu cu tí con chị Uyển ở sau lưng. Hai cô cháu líu lô những câu chuyện chẳng đầu không cuối.    

          Chúng tôi đến bố Trân đúng mười hai giờ trưa. Chị Uyển lôi trong làn cói ra nải chuối tiêu trứng quốc thơm lừng biếu bố. Cặp lồng Liên Xô hai ngăn đựng cơm nếp đỗ xanh. Ngăn bé, chị Uyển đơm cơm ra đĩa để tối bố Trân ăn. Cơm ngăn to ba chị em ăn bữa trưa. Nghe chị Uyển nói tôi được điều động sang quân y viện 108, bố Trân buồn thỉu. Bố gầy nhom, không chịu nổi cái rét buốt miền Bắc. Nghe chuyện tôi đi, bố Trân buồn, da mặt càng nhăn nheo xám xịt. Ai cũng nói mùa đông năm 1967 này rét đậm. Chị Uyển, chị Điệp thu thập những áo quần cũ, khéo chắp vá, nhồi cho bố Trân cái đệm bông gạo, cũng ấm áp được phần nào. Gói kẹo nhỏ, anh con trai bố Trân gửi bạn từ nước ngoài về, bố để dành chờ hôm nay đem cho các con cháu ăn. Chị Điệp vơ mấy áo quần bố Trân thay ra hôm qua đem đi giặt. Bố trầm ngâm uống nước. Tôi tranh thủ đọc mấy tờ báo. Khi chúng tôi ra về, bố Trân mới bảo tôi:

          - Con Tân nhớ luôn viết thư về cho bố nhé! Nhìn nét chữ con đều đặn, rõ ràng, là bố mừng như gặp con.

          Ba chị em tôi vừa đi vừa ngoái lại nhìn bố Trân đứng ngoài sân vẫy theo, mắt rưng rưng…

          Hôm sau, chị Uyển, chị Điệp lưu luyến tiễn chân tôi gần đến bến xe Lập Thạch mới về.

          Tôi gặp bác Bình Tổng cục trưởng ở ngoài cổng, bác vừa nhảy lên xe đạp, thấy tôi bác xuống xe hỏi:

          - Cháu Tân ở Vĩnh Phúc về đấy à? May quá!... Tổ chức lo cháu không muốn đi. Cháu sang quân y viện 108 là phải. Cháu giỏi nghề, dày dạn trong chiến đấu rồi. Tuổi hai mươi như cháu, khó tìm ra ở Tổng cục ta. Cháu vào gặp tổ chức nhé, bác đi họp.

          Nhìn thấy tôi, bác Trần Lâm reo lên:

          - A cháu Tân! Quân y viện 108 vừa gọi điện cho bác, hỏi sao chưa thấy cô điện báo viên giỏi đâu. Cháu sang ngay đi. Quyết định điều động công tác đây. Cháu đi đường Hàm Long cho gần…

          Đến cổng quân y viện 108, tôi thấy một chiến sĩ cầm máy ảnh, đang bấm tách tách chụp cho một số anh em. Tôi trình giấy bảo vệ. Đồng chí ấy tươi cười bảo tôi:

          - Chiến sĩ thông tin xinh đẹp, chờ tôi gọi thủ trưởng ra đón.

          Nhìn các anh chụp ảnh, tôi thích quá, rất muốn chụp một pô, kỷ niệm ngày về quân y viện 108 làm nhiệm vụ. Tôi mạnh dạn hỏi anh cầm máy ảnh:

          - Anh ơi, anh là phóng viên báo quân đội à?

          - Đúng! Em cần gì?

          - Em muốn anh chụp cho em một ảnh. Hôm nay em về làm điện báo ở quân y viện 108… Em từ Tổng cục Bưu điện sang…

          - Anh sẵn sàng! Em đặt ba lô xuống.

          Tôi để ba lô trong phòng bảo vệ, nhìn sang bên kia đường có bà bán khoai lang luộc mặc áo cánh nâu sẫm màu. Tôi chạy ào sang nói:

          - Bà cho cháu mượn áo cánh nâu, cháu chụp kiểu ảnh vấn tóc trần. Anh phóng viên báo quân đội chụp chắc đẹp.

          Tôi vội cởi áo vét trao cho bà, nhận áo cánh nâu vừa đi vừa mặc. Tôi nói với anh phóng viên:

          - Anh chờ em một tí, em gỡ tóc đuôi sam, quấn lên ba vòng tóc trần, chụp kiểu phụ nữ nông thôn duyên dáng.

          Tôi dặn anh phóng viên gửi ảnh đồng chí bảo vệ. Hàng ngày đi làm tôi dễ gặp để nhận ảnh. Anh phóng viên vừa đạp xe đi thì thủ trưởng Nguyễn Văn Hùng ra đón tôi.

          - Đâu?... Chiến sĩ điện báo đơn vị Hàm Rồng đâu?... Đây à?... Đồng chí không có xe đạp à?... Gay đấy!... Em chờ, anh vào xin cấp trên mượn xe đạp công cho em hoàn thành nhiệm vụ.

          Trong lúc chờ thủ trưởng mượn xe đạp, tôi băn khoăn suy nghĩ. Mình ngồi tổng đài, cần gì đến xe đạp?...

          Thủ trưởng Hùng hai tay dắt hai xe đạp Thống Nhất nam đi ra.

          - Xe công em mượn đây, biển đỏ. Xe của anh biển trắng. Ta lên xe. Vừa đi, anh vừa trao đổi nhiệm vụ.

          Tôi ngơ ngác hỏi thủ trưởng Hùng:

          - Anh em mình không làm việc ở đây à anh?

          - Mình làm việc ở phân hiệu hai Cầu Giấy. Thương binh từ chiến trường B, C, K về nhiều lắm. Bước đầu cứu chữa ở đấy, sau chuyển ra ngoài này. Nhiệm vụ em khá nặng nề. Em vừa trực tổng đài, vừa ra ngoài này nhận công văn, thư từ vào sáng sớm, trước giờ làm việc. Em phải cùng anh in tài liệu. Phòng hành chính có anh phụ trách, anh Khế, nay thêm em là ba. Chưa có em, hai anh làm việc ngày mười mấy tiếng. Mỗi người làm việc bằng ba.

          Tôi thắc mắc:

          - Sao không để thương binh ở hẳn Cầu Giấy hả anh? Ngoại thành đỡ nguy hiểm. Nhỡ giặc Mỹ ném bom quân y viện 108 thì sao?

          - Quân y viện 108 ở ngoài này an toàn hơn, có hầm hào tránh bom đạn. Với lại máy móc khám chữa bệnh tối tân khó di chuyển. Phân hiệu hai mới thành lập để sơ cứu, chưa thể xây dựng hiện đại ngay được…

          Vừa đi vừa trao đổi công việc, tôi và thủ trưởng Hùng nhanh chóng về tới phân hiệu hai Cầu Giấy. Những chiếc xe tải chở thương binh đỏ bụi đường đang tiến vào sân cỏ. Các nữ thanh niên xung phong đón thương binh vào cáng, hối hả khiêng vào tầng một, tầng hai mấy dãy nhà.

          Thủ trưởng Hùng dẫn tôi vào phòng hành chính trên tầng hai.

          - Giới thiệu với đồng chí Khế, đồng chí Trần Thị Nhật Tân, chiến sĩ mới ở phòng ta.

          Anh Khế mừng vui đứng lên:

          - Mời cô vào ghế trực tổng đài thay tôi. Tôi in tài liệu.

          Anh Khế ngồi bàn in thấp, sau lưng tôi. Nửa tiếng sau thưa việc, tôi quay lại sắp tài liệu với anh Khế. Thủ trưởng Hùng ra khỏi phòng từ khi nào. Nghe tiếng kẻng ăn cơm trưa, anh Khế bảo tôi:

          - Cô Tân đi ăn cơm trước, tôi trực tổng đài cho.

          - Anh ăn trước. Em ăn sau.

          Hai anh em đùn đẩy nhau đi ăn cơm. Chẳng ai chịu đi, đã qua giờ ăn khi nào không biết. Thủ trưởng Hùng bước vào, hai tay bưng cơm canh.

          - Hai anh em mải làm quên ăn. Anh nuôi bảo còn hai suất cơm của phòng hành chính, nhờ tôi đem về hộ…

          Hai anh em ngồi ăn cơm. Thủ trưởng Hùng kể:

          - Từ sáng đến giờ, tôi làm chân y tá, liên tục kim tiêm. Thương binh nặng nhiều lắm. Từ chiến trường miền Nam ra Bắc, xe thương binh ta bị máy bay giặc Mỹ săn lùng ném bom, bắn phá. Có thương binh nhẹ, bị nặng thêm. Nhiều anh em hy sinh. Thủ trưởng Hùng nghẹn lời. Tôi và anh Khế không nuốt được lưng bát cơm ăn dở. Hạt bo bo khô khốc, nhai mỏi hàm. Có lẽ vì đông người quá, anh nuôi không kịp ngâm bo bo từ tối hôm trước.

 

                                                *       *

                                                     *

 

          Ngày đầu tháng 2-1968, lúc mười sáu giờ chiều, anh Hùng hớt hải về gọi tôi:

          - Nhật Tân xuống đây mau! Mọi việc, Khế đảm đương nhé!  

          Thủ trưởng Hùng chạy, tôi chạy theo sau.

          Vào phòng cấp cứu, tôi thấy mấy nữ thanh niên xung phong mắt đỏ hoe, đưa ống tay áo chấm nước mắt. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển nói:

          - Các cô nhìn lại này! Hai nhanh. Một chậm. Nhớ chưa? Hai nhanh một chậm. Đầu óc các cô tập trung nhẩm có mấy từ thôi, mà không nhớ. Cắm mũi tiêm nhanh. Bơm thuốc chậm. Rút kim nhanh. Đơn giản thế, mà các cô day mãi da thịt thương binh đau thêm, họ la hét, chửi bới…

          Bác sĩ Tuyển quay lại, nhận ra tôi và thủ trưởng Hùng. Tôi gật đầu, tỏ ý đã hiểu, theo luôn bác sĩ và các nữ thanh niên xung phong vào phòng bệnh. Anh Tuyển, anh Hùng, tay thoăn thoắt lấy thuốc vào bơm tiêm, đưa cho các cô thanh niên xung phong. Cuối cùng, còn ba bơm tiêm, anh Tuyển bảo tôi:

          - Em Tân nhớ khi tiêm thực hiện hai nhanh một chậm rồi. Em nắm chắc lấy bắp tay bệnh nhân nữa.

          Đến giường bệnh, tôi hồi hộp nắm cánh tay thương binh đầu băng kín mít. Hai thủ trưởng theo dõi từng động tác của tôi. Trong bụng tôi nghĩ mình phải cắm thật nhanh vào bắp, rồi bơm thật chậm. Hết thuốc, rút kim thật nhanh. Hai nhanh, một chậm.

          Đợi tôi đặt ống tiêm vào khay, anh Tuyển nở mặt nở mày:

          - Em khéo tay lắm!... Tính cẩn thận, sạch sẽ, thông minh như em, nên làm thầy thuốc…

          Việc tôi học làm y tá nhanh chóng, đáp ứng chuyên môn, lan khắp phân hiệu hai quân y viện 108. Mấy cô thanh niên xung phong, giờ ăn trưa xúm bên tôi hỏi chuyện:

          - Nhật Tân học hết lớp mấy rồi đi bộ đội?

          - Hết lớp bảy, vào trung cấp điện báo, học một phần cấp ba và đại học nữa.

          - Úi!... Chúng tao dân tộc miền núi, chỉ học biết đọc biết viết thôi. Chúng tao bỏ học đi nương trồng ngô khoai sắn ăn.

          - Các bạn đi thanh niên xung phong là quý lắm!... Yêu nước lắm!...

          - Người Việt Nam, ai chẳng yêu nước. Chúng tao thích làm đường, nơi có bom Mỹ nổ ùng oàng cơ. Bắt chúng tao tiêm cho thương binh khó quá, không thích làm đâu…

          Mấy anh thương binh mảnh đạn còn găm trong đầu, thần kinh không bình thường, khi tiêm cứ đòi: “Cô em có bím tóc dài đâu?”, “Cô em có bím tóc dài tiêm tôi mới chịu” v.v… Tôi làm việc không còn giờ giấc nào cả. Đúng năm giờ sáng tôi đạp xe ra quân y viện 108 nhận công văn, thư từ, về ăn sáng. Thủ trưởng Hùng thương tôi, có cân đường tiêu chuẩn mỗi tháng, để dành pha cốc nước đường cho tôi uống dần. Có anh thương binh người Cần Thơ, cứ bắt tôi hát ru anh ngủ lúc mười giờ đêm đến sáng. Giấc ngủ anh chập chờn, khi ngủ khi tỉnh. Thức dậy mà không thấy tôi ngồi ghé cạnh giường là anh la hét. Làm việc căng thẳng, chỉ vài ba ngày, bệnh máu cam của tôi lại ồng ộc tuôn ra hai lỗ mũi. Tôi lấy bông nút chặt, giấu kín. May là máu cam hay chảy về đêm. Nhưng rồi tôi không giấu được bệnh chảy máu cam mãi. Một đêm, bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển vào thăm phòng bệnh, thấy cằm tôi gác lên vai ghế tựa, hai mũi nút bông đỏ máu, đang xỉu… Bác sĩ vội xem mạch, bế tôi về phòng cấp cứu…

          Sáng dậy, bác sĩ Tuyển hỏi tôi:

          - Em bị bệnh chảy máu cam từ bao giờ?

          - Giờ em mới bị ạ.

          - Không phải. Em nói dối. Em bị bệnh chảy máu cam mãn tính rồi. Tiêm thuốc gì cho em cũng không cầm được máu. Em nói thật đi, em bệnh lâu chưa? 

          Tôi nghĩ nếu nói thật bệnh chảy máu cam từ bé sáu bảy tuổi đào cáy, vó tép vó tôm thì sẽ bị chuyển ngành mất. Mình nói bệnh chảy máu cam từ ngày 4 – 4 - 1965, bị sức ép bom Mỹ ở Hàm Rồng thì anh Tuyển không nghi ngờ. Tôi ngập ngừng trả lời anh Tuyển:

          - Hồi em làm điện báo ở đơn vị Hàm Rồng, em bị sức ép bom. Máu chảy ra mũi, ra tai… Em được cứu chữa mấy ngày, trở về đơn vị tiếp tục công tác bình thường ạ.

          - Có thế chứ!... Em đánh lừa khoa học làm sao được.

          - Nhưng anh ơi, anh đừng nói với thủ trưởng Hùng em nhé! Thủ trưởng lại lo lắng cho em. Làm việc vất vả quá, mỗi ngày em thấy tóc thủ trưởng Hùng thêm bạc, gần trắng như bông.

          - Em, anh đều vất vả như anh Hùng. Thương binh nhiều, nhân viên y tế ít. Ngành y đâu có đào tạo chớp nhoáng được. Đơn giản y tá tiêm cũng khó. Chục cô thanh niên xung phong học tiêm, chỉ đứng được bốn cô, em là năm. Vậy mà nhiều lúc y, bác sĩ các anh làm thay cả việc y tá. Mỗi chiến sĩ ở quân y viện ta, làm việc mỗi người bằng ba bằng bốn chứ không phải bằng hai như các cơ quan dân chính.

 

                                                *      *

                                                    *

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 15

 

          Chiều nay đợt không khí lạnh mới tràn về. Ngồi trong phòng bệnh đóng kín các cửa, tôi vẫn nghe gió rít trên mái ngói. Chân tay tôi tím ngắt, tê buốt. Tiếng thương binh mê sảng, rên đau như khứa vào gan ruột tôi.

          - Em Tân ơi, em ngâm thơ đi. Trời ơi, rét quá à. – Anh thương binh tâm thần réo gọi.

          Tôi đắp lại chăn, vén màn cho anh.

          - Anh đừng la to, để cho đồng đội ngủ. Em ngâm thơ lần này, anh nhắm mắt ngủ ngay nhé! Gần hai giờ sáng rồi.

          - Ờ ờ... Em cứ hát bài thơ chúc Tết năm 1968 của Bác Hồ là anh ngủ liền à.

          Tôi cất giọng ngâm khe khẽ bên giường anh:

          Xuân ngày hơn hẳn mấy xuân qua

          Thắng trận tin vui khắp nước nhà

          Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

          Tiến lên toàn thắng ắt về ta!...

          Tôi ngâm đi ngâm lại mãi bài thơ chúc Tết của Bác cho đến ba giờ mười bảy phút, anh thương binh tâm thần mới đi vào giấc ngủ. Ở cuối phòng bệnh, thương binh Nông Văn Nghĩa cựa mình, ú ớ. Tôi mừng chạy đến. Vừa lúc bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển đi vào.

          - Em Tân, sao em không gọi anh lúc hai giờ? Anh mệt quá ngủ quên.

          - Mãi gần mười hai giờ anh mới ngủ. Anh làm việc cả ngày, ngủ được vài tiếng. Em muốn để anh ngủ, có sức cứu chữa thương binh. Còn em...

          - Không nói, em vào phòng trực ngủ một tí đi, sáng đến nơi rồi.

          Anh Tuyển cúi xuống xem mạch thương binh Nông Văn Nghĩa.

          - Mừng quá!... Sống rồi!... Ơ em Tân, còn ở đây à?...

          - Em chờ xem bệnh tình bác Nghĩa thế nào?

          - Sống rồi em ạ. Bác Nghĩa đã có tuổi. Bác là chiến sĩ Điện Biên, đã về phục viên sau năm 1954. Nhưng Tổ quốc gọi, bác Nghĩa xin tái ngũ đi đánh Mỹ. Bác Nghĩa quê Cao Bằng em ạ.

          Tiếng động cơ xe tải, tiếng bước chân thình thịch hối hả trong sân bệnh viện. Hai anh em nhìn nhau. Chẳng ai bảo ai, cùng chạy ra ngoài. Gió quất mưa bụi vào mặt tôi ràn rạt. Đội nữ thanh niên xung phong đang khiêng cáng thương binh. Anh em tôi lao đến chiếc xe tải, đỡ thương binh đưa vào phòng bệnh. Những chiếc xe tải bụi đất đỏ quạch bám vào, gặp nước mưa rơi ra từng mảng như vữa nhà lâu đời mục nát. Một mảnh bụi đất rơi xuống vai, làm tôi giật mình. Gần sáng, chúng tôi mới chuyển hết thương binh từ tiền phương về. Một số thương binh không đợi được khám bệnh, đã ngừng thở từ lâu. Các bạn thanh niên xung phong thương bộ đội hy sinh, khóc thút thít. Tôi nén tiếng khóc để khỏi bật thành tiếng, nước mắt giàn giụa hòa cùng nước mưa ướt đẫm từ đầu xuống chân. Bác sĩ Tuyển cũng như tôi, không kịp mặc áo mưa, anh ướt sũng. Anh nuôi khiêng thùng nước uống vào. Ai cũng làm một hơi hết ca nước. Đầu tôi ong ong, tai ù ù, mắt nảy đom đóm, nhìn mọi người rung rinh như cành cây gặp gió.

          - Em Tân uống nước cho đỡ mệt. Cả đêm em chưa chợp mắt, làm việc quần quật – Anh Tuyển đưa cho tôi ca nước.

          Tay run đỡ ca nước, tôi uống ừng ực. Uống xong mới thấy nước có mùi B1, ngọt trong họng. Tôi nghĩ chắc anh Tuyển pha đường và B1 cho tôi uống đỡ mệt chăng? Đang nghĩ ngợi, thủ trưởng Hùng vào bảo tôi:

          - Em Tân sáng nay nghỉ, để anh ra Viện 108 lấy công văn về cho.

          - Đúng đấy – Anh Tuyển nói – Tôi đang định gặp anh đề nghị thì...

          - Thì tôi đã nói trúng cái bụng anh. Đêm qua tôi với Khế in tài liệu, không thấy Tân về ngủ. Lúc xe thương binh về, tôi và Khế ra cáng, đã thấy anh với Tân khiêng cáng đi như chạy. Mỗi hai anh em mặc blu trắng, mũ trắng, tôi nhận ra ngay. Còn chúng tôi, ai cũng khoác áo mưa nên đỡ ướt.

          Cốc nước đường có mùi B1 đã giúp tôi tỉnh táo, mắt đỡ hoa, tai đỡ ù. Tôi nghĩ, nên đi ra ngoài hít thở không khí trong lành buổi sáng. Không giám chạy nhảy tập thể dục như mọi sáng, tôi lững thững đi lại ngoài cổng bệnh viện. Chiếc loa công cộng treo trên cột điện đang nổi còi thôi thúc tập thể dục buổi sáng. Trời đã tạnh mưa, gió nhẹ không rú rít như lúc nửa đêm qua. Một thanh niên mặc áo quần đông xuân màu xanh, dáng cao cao đang chạy ngược về phía tôi. Anh dừng sững trước mặt tôi, tròn mắt hỏi:

          - Đúng em Tân không? Em chị Tâm học Liễu Đề?...

          Tôi ngạc nhiên, nhìn kỹ anh và lục trong trí nhớ...

          - Anh là Thám, học cùng lớp chị Tâm em.

          - A em nhớ rồi. Anh quê xã Nghĩa Thịnh. Anh làm gì ở Cầu Giấy?

          - Kia!... Viện nghiên cứu Vật lý. Anh biết em học giỏi toán lý, dưới anh một lớp. Em đi trung cấp điện báo cơ mà. Sao em ở đây? Trông em phờ phạc quá!...

          Tôi kể vắn tắt cho anh Thám nghe quá trình công tác của tôi từ năm 1964 đến giờ. Anh Thám cười tươi, để lộ hàm răng trắng đều tăm tắp:

          - Chà!... Em chị Tâm giỏi quá! Chiến sĩ đội bom Mỹ cầu Hàm Rồng!...

          Tôi xin phép anh Thám về nghỉ, lấy sức làm việc buổi chiều.

          Vào đến sân bệnh viện, gặp anh Khế vẻ mặt xanh tái, tay trái anh kẹp vào nách, tôi hỏi anh:

          - Anh hiến máu tiếp cho thương binh à?

          Anh gật đầu buồn bã:

          - Sau Tết Mậu Thân, địch tập trung lực lượng vây đánh ta. Quân ta thương vong nặng. Nhiều thương binh do không có máu để tiếp, đã hy sinh giữa đường vận chuyển từ nam ra bắc. Một số thương binh bị bỏng bom napan, nhung nhúc giòi khắp người. Hôm nay, tất tật cán bộ, công nhân viên ta, ai cũng hiến máu tiếp cho thương binh. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển, mới hiến máu tháng trước, chưa đủ thời hạn, nhưng anh hết lòng với thương binh, anh lại hiến máu cứu đồng đội.

          Nghe anh Khế nói, lòng tôi dâng trào xúc động. Tôi nhớ đến thầy thuốc bộ trưởng bộ y tế Nguyễn Lập Thạch, nhiều lần hiến máu cứu chữa bệnh nhân. Anh Tuyển giống bộ trưởng Nguyễn Lập Thạch: “Lương y như từ mẫu”. Mấy lần tôi xin hiến máu cho thương binh, nhưng bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển kiên quyết không cho khoa xét nghiệm lấy máu của tôi. Anh bảo tôi hay bị chảy máu cam, thiếu máu nặng, tinh thần làm việc bằng hai bằng ba như thế, nghị lực lắm rồi. Trong đầu tôi thường nghĩ: lúc này toàn bệnh viện đang tập trung cứu chữa thương binh. Mình vào khoa xét nghiệm nài nỉ, may ra nhân viên xét nghiệm sẽ đồng ý lấy máu tiếp cho thương binh...

          Mới đầu, anh trưởng khoa không đồng ý lấy máu của tôi. Anh hỏi:

          - Lệnh của bệnh viện là không được lấy máu của Tân. Vì Tân đang thiếu máu.

          - Anh ơi, viện ta hết máu. Em thiếu máu, nhưng em vẫn khỏe mạnh, làm việc như mọi người đủ máu. Em có sao đâu. Trong khi nhiều thương binh đang cần cứu sống, bằng những giọt máu nghĩa tình đồng đội. Anh ơi! Anh...

          Tôi nghẹn lời. Anh trưởng khoa và nhân viên xét nghiệm chụm đầu thì thầm, rồi đồng ý lấy đơn vị máu của tôi.

          Tôi mừng rỡ, mặt nóng bừng. Tôi tự nhủ phải tươi lên, bình tĩnh để các anh chị yên tâm lấy máu...

 

                                                *       *

                                                     *

 

          Không riêng gì mình tôi, mấy bạn nữ thanh niên xung phong hiến máu trước thời hạn, cũng bị choáng sau khi lấy máu cứu thương binh. Bác sĩ Nguyễn Hữu Tuyển cũng mệt, nhưng trước nguy kịch của những thương binh nặng, anh gắng gượng cứu chữa, không chịu truyền huyết thanh như chúng tôi. Nhìn sợi dây truyền từ chai huyết thanh đến cánh tay, tôi cười trong bụng. Mình cứu thương binh, chẳng biết có cứu được ai không, mà làm phiền bác sĩ phải cứu mình?...

          - Ơ, Tân thức rồi hả - Nữ thanh niên xung phong nằm cạnh giường bệnh hỏi tôi – Mấy đứa chúng tao vẫn tỉnh táo sau khi lấy máu. Còn Tân, ngủ luôn. Chúng tao tưởng mày chết.

          Tôi cười:

          - Máu của chúng mình có cứu được thương binh nặng không?

          Có chứ, cứu được hết thương binh nặng. Máu ở các bệnh viện khác đem đến hỗ trợ nữa.

          Nghe bạn nói, tôi mừng. Vậy là những giọt máu của tôi, của tất cả y bác sĩ, nhân viên, thanh niên xung phong ở phân hiệu hai quân y viện 108 quý giá biết bao. Hiến máu cứu sống được thương binh, mà mình chỉ bị choáng, truyền chai huyết thanh là khỏi, máu sẽ hồi phục. Từ nay mình có thể tiếp tục hiến máu được rồi. Một giọt máu đào kịp cứu người...

          - A!... Các cô tỉnh hết cả rồi!... Mừng quá – Bác sĩ Tuyển đi vào xem mạch tôi, lắc đầu:

          - Mạch của em chưa ổn.

          - Em thấy khỏe lắm rồi. Em không làm sao đâu.

          Anh Tuyển lắc đầu:

          - Lúc nào em cũng nói em không làm sao. Vậy mà đang làm việc, em ngã lăn quay, máu cam chảy ồng ộc...

          Thủ trưởng Hùng bưng vào một khay những miếng cam ngọt.

          - Mấy anh em nhà cô có gì vui thế?

          Tôi nhanh nhảu trả lời:

          - Bác sĩ Tuyển kể chuyện tiếu lâm ạ.

          Tiếng cười nở rộ trong phòng.

          Hai anh bóc vỏ từng miếng cam, đưa vào miệng chúng tôi. Anh Hùng bảo:

          - Cam của “Hội mẹ chiến sĩ” huyện Từ Liêm tặng quân y viện ta.

          Chúng tôi giãy nảy:

          - Các anh đem vào phòng bệnh thương binh cho các anh ấy ăn. Chúng em thanh niên khỏe mạnh, không ăn đâu.

          Anh Tuyển cười:

          - Chúng em khỏe mạnh mà phải truyền huyết thanh.

          - Chỉ hết chai huyết thanh, chúng em làm việc được ngay.

          Anh Hùng nói dứt khoát:

          - Nhiệm vụ các cô bây giờ là phải ăn hết khay cam này, không tranh cãi. Các cô yên tâm mà ăn cam. Các phòng bệnh thương binh có đủ cam rồi. Còn có bưởi Diễn đặc sản Hà Nội nữa cơ...

          Mấy hôm sau tôi vào phòng bệnh trực đêm. Không thấy anh thương binh tâm thần ở giường bệnh. Thay vào đó là anh thương binh băng bó toàn thân cứng nhắc. Tôi ngơ ngác nhìn quanh tìm kiếm. Bác Nông Văn Nghĩa vẫy tay tôi lại.

          Tôi nắm tay bác Nghĩa, ngồi xuống cạnh giường:

          - Ôi, cháu mừng quá! Bác đã khỏe lên nhiều rồi!...

          - Ờ, ai cũng mừng cho bác. Không ngờ anh thương binh còn mấy mảnh đạn trong đầu, cứ bắt cháu tiêm, bắt cháu ngâm thơ chúc Tết của Bác Hồ ấy, ra đi rồi cháu ạ. Thương anh ấy quá!...

          Tôi bật khóc.

          Để cho tôi vợi nước mắt, bác Nghĩa mới nói:

          - Cháu giầu lòng thương người. Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước. Quê bác có Kim Đồng. Nhỏ tuổi, Kim Đồng tham gia kháng chiến. Gặp địch, đi lùng cán bộ Việt Minh, Kim Đồng mưu trí lừa địch về phía mình, để cho cán bộ kịp chạy thoát. Bọn giặc chĩa những họng súng vào Kim Đồng. Kim Đồng hy sinh ở tuổi thiếu niên.

          - Bác ơi, Tết Mậu Thân 1968, bác chiến đấu ở đâu?

          - Bác ở chiến trường Khu 5. Mỹ, ngụy liên tục mở những cuộc “Bình định cấp tốc” sau Tết, ở các địa bàn mà chúng xác định là trọng điểm. Địch đánh phá vô cùng tàn khốc, xảo quyệt. Chúng san bằng nhà cửa, xúc dân đem đi nơi khác, ném bom hóa học hủy diệt hoa màu, cây cỏ. Bằng mọi cách, địch triệt phá những cơ sở cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn. Bộ đội ta ở trong rừng, ăn rau rừng, đau không có thuốc, không đạn để chiến đấu, phía nào cũng dày đặc quân địch. Các bác đã gọi là: “Thời kỳ 4 đê”: “Đói, đau, đạn, địch”.

          - Bác ơi, những ngày Tết đội ta có được ăn bánh chưng, mứt bánh kẹo không bác?

          - Chiến trường ác liệt, bộ đội ta không mấy khi có bánh chưng, mứt bánh kẹo đâu cháu ạ. Nhưng đã là lính, dù hoàn cảnh nào cũng giải quyết được. Tết nào đơn vị bác cũng bàn nhau tổ chức đàng hoàng và “cỗ tết” thịnh soạn.  Không có bánh chưng thì kiếm củ mài giã thành bột làm bánh, giã ngô làm nhân bánh. Mỗi chiến sĩ tự phát huy khả năng riêng. Anh đi kiếm lá rừng kết chữ Xuân..., kiếm hoa. Anh kiếm “chè dây” nấu nồi nước trà uống đêm giao thừa. Bác giỏi làm món măng thì không ai bằng được. Nào là măng khoanh chả lụa, măng khúc kho, măng nướng bít tết, măng bún tàu, măng ca ri, măng cắt hình con tôm, con cá, con ếch nấu sáo măng. Ôi chà, đủ trò vui vẻ. Cánh lính trẻ tếu táo. Chúng nhìn bác làm các món măng, tự đặt tên cho oai nữa.

          Tôi bật cười theo bác Nghĩa:

          - Tuổi trẻ phải vui bác ạ. Chắc các anh nhớ những ngày Tết xum họp gia đình lắm.

          - Nhớ lắm cháu ạ. Nhớ nhất, mong đợi nhất lúc giao thừa, đơn vị quây quần bên bếp lửa nồng ấm đón nghe thơ Bác Hồ chúc Tết.

          - Bác ơi, bác có đài bán dẫn đem theo đi chiến trường cơ à?

          - Đi chiến trường, bộ đội tái ngũ như bác, ai cũng cố kiếm cho mình cái đài. Còn lính tuổi hai mươi, ba lô anh nào cũng có cuốn “Thép đã tôi thế đấy”, tập Kiều của thi hào Nguyễn Du. Những lúc nghỉ chân sau chặng đường hành quân gian khổ là cánh lính trẻ túm tụm đọc truyện, lảy Kiều, ngâm Kiều, đàn hát như đoàn văn công tổng hợp. Niềm vui quên hết mệt nhọc, gian khó cháu ạ.

          - Cháu ước ao được ra mặt trận, cầm súng đánh đuổi giặc Mỹ về nước, không được. Mới làm điện báo trực chiến ở cầu Hàm Rồng, cháu đã bị bom Mỹ vùi, cháu buồn.

          - Cháu mảnh mai, sức yếu, làm việc ngày mười mấy tiếng ở bệnh viện là tinh thần cháu chiến thắng giặc Mỹ rồi. Cháu đừng nghĩ ngợi buồn phiền, hại sức khỏe.

          Bác sĩ Tuyển vào phòng bảo tôi:

          - Em Tân về ngủ đi, hai hai giờ sáng rồi.

          Hôm nay tôi ngủ ngon, tiếng kèn gọi tập thể dục buổi sáng đánh thức tôi dậy. Tôi chạy ù ra sân. Gần cổng, thấy anh Thám đứng ngoài nghiêng ngó vào, tôi chạy ra hỏi:

          - Anh Thám đi tập thể dục à?...

          Anh Thám đỏ mặt lúng túng.

          - Anh... Anh tập thể dục... À anh tìm em. Sao một tuần nay anh không thấy bóng dáng em đâu?

          - Em bận việc, thương binh về nhiều anh ạ. Em sắp chuyển về Thạch Thất, Hà Tây. Ở đấy đang xây dựng cơ sở điều dưỡng thương binh anh ạ.

          - Em còn ra quân y viện 108 Hà Nội lấy công văn, tài liệu nữa không?

          - Có.

          - Sao sáng nào anh cũng đến trước năm giờ, chờ đến năm rưỡi vẫn không thấy em đâu?

          - À!... Vì em... Hiến máu cứu thương binh nặng.

          - Thảo nào, anh trông em không hồng hào như mấy tháng trước, môi em kém đỏ.

          - Cơ quan anh có ai hiến máu không?

          - Có. Thanh niên các anh hiến máu trăm phần trăm. Các bác có tuổi cũng xung phong hiến máu hết. Nhưng khi xét nghiệm, mấy bác già yếu quá, chất lượng máu không đạt yêu cầu.

          - Chết rồi! Em vào lấy xe đi nhận công văn ngoài quân y viện. Em tranh thủ tập mấy phút thôi.

          Khi tôi dắt xe đạp ra cổng, vẫn thấy anh Thám đứng đấy, gương mặt vẻ nghĩ ngợi...

          - Anh chưa về à?

          Nắm tay xe, anh Thám nói:

          - Anh... Anh muốn nói với em...

          - Anh cho phép em đi, kẻo muộn.

          Anh Thám lắc đầu thở dài:

          - Em vất vả quá, bận hơn cả việc nghiên cứu của anh. Người bé, đi chiếc xe đạp công cao quá, lại cọc cạch cót két. Tối em dắt xe sang anh lau dầu, sửa đi nhẹ em nhé!... 

 

 

 

 (Hết tập 1)

 

 

 

 

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét