Hồi ức
của CCB Trần Thị Nhật Tân
Tôi sinh năm 1942, CCB đánh Mỹ. Ký ức về Thủ tưởng Phạm Văn Đồng tài ba còn in đậm trong tim tôi. Ấn tượng việc thủ tướng đến hội nghị Giơ ne vơ, lời lẽ mềm dẻo mà đanh thép buộc thực dân Pháp phải chấm dứt xâm lược Việt Nam. Hai mươi mốt năm chiến đấu đuổi để quốc Mỹ. Nhân dân cả nước vô cùng khó khăn mọi mặt, nhất là lương thực. Những năm sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước dân ta đói nghiêm trọng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng vác rá đi xin gạo tấm của Ấn Độ cứu đói cho dân. Chúng tôi CCB đánh Mỹ đã đói lả, giành được hoà bình còn bị đói. Chúng tôi và dân Việt Nam không bao giờ quên ơn cứu đói của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Riêng tôi có kỷ niệm nhớ đời với thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đó là vào một ngày cuối tháng 8 năm 1988 tôi vào Nxb Thanh Niên 64 Bà Triệu, nhà văn Chu Thành bảo: “A Nhật Tân! Em sang ngay TW đoàn gặp biên tập Trần Quốc Hưng buổi phát thanh thanh niên. Mấy tháng anh liên tục sang đây hỏi xem có tin gì về Trần Thị Nhật Tân chưa? Thư ký của bác Phạm Văn Đồng bảo Trần Quốc Hưng tìm Trần Thị Nhật Tân để Cụ hỏi tình hình Côn Đảo. Làm sao Nhật Tân đến được Côn Đảo? Viết bút ký “Đảo gọi” gửi ra Đài TNVN phát trên sóng. Cụ nghe được, Đảng, Chính phủ nghe được hỏi nhau Trần Thị Nhật Tân là ai? Ở đâu? Tìm ngay. Em sang gặp anh Trần Quốc Hưng ngay đi. Anh ở trong lều cót ép mấy mét sau lưng biệt thự 62 Bà Triệu. Tối rồi chắc anh Hưng đã ở Đài về rồi.” Tôi đến trúng túp lều của anh Hưng. Anh nằm sấp dưới nền gạch đọc bản thảo. Tôi chào: “Em chào anh Trần Quốc Hưng. Em là Trần Thị Nhật Tân tác giả “Đảo gọi” mà anh cần tìm”. “Ồ em trẻ nhỉ”. “Em bốn tư tuổi rồi trẻ gì”. “Sao em tóm trúng anh”. “Em lính đánh Mỹ 1964. Anh nói cho em biết đến số nhà phố nào để gặp bác Phạm Văn Đồng? Mai em đi. Giờ em về bên anh Chu Thành ngủ một giấc. Từ Côn Đảo về đây gian khó, rụng rời tay chân anh ơi”. “Gần 19 giờ rồi em ăn bát mì ống với anh, rồi anh đưa nhuận bút Đảo gọi cho em.” “Em không nhận. Em còn tiền”.
***
Tôi
đến số nhà 13T Lý Thường Kiệt, biệt thự mấy tầng, nhiều cửa. Tôi không biết ông
Hoàng Quốc Dũng ở phòng nào. Tôi nghĩ cứ vào cái phòng cánh cửa khép hờ. Một
ông cao to, mặt đen xì giống người Ấn Độ. Tôi khoanh tay chào: “Cháu chào ông.
Ông có phải là Hoàng Quốc Dũng không?” Ông ấy xua tay: “Không. Tôi là Phạm Thế
Duyệt chủ tịch mặt trận Việt Nam. Ông Dũng ở bên kia”. Tôi sang bấm chuông, một
phụ nữ mở cửa. “Cô hỏi ai?” “Thưa bà cháu hỏi ông Hoàng Quốc Dũng ạ.” “Cô Trần
Thị Nhật Tân từ Côn Đảo về phải không?” “Vâng ạ”. “Cháu vào nhà”. Bà rót nước mời
tôi: “Cháu uống nước đi. Cô sang phòng bên gọi chú ra tiếp cháu.” Cử chỉ ân cần
của vợ ông Dũng làm tôi bớt lo lắng. Bao năm tôi bị “mất dạy”, tôi đến kêu oan
các cửa công quyền bị gác cổng mắng thậm tệ, đuổi cút khỏi ngay. Tôi giật mình
cánh cửa phòng bên bật mở. Gương mặt hiền hậu nở nụ cười, tay cầm tập giấy. “Chú
chào cháu Nhật Tân”. Tôi đứng lên: “Cháu chào chú”. “Giờ chú cháu ta làm việc
nhá. Chú hỏi đến đâu cháu trả lời”. “Thưa chú anh Trần Quốc Hưng nói bác Phạm
Văn Đồng cần hỏi cháu sao lại là chú hỏi ạ?”. Ông Dũng cười, chìa tờ giấy đã
ghi một số câu hỏi: “Đây những câu hỏi của bác Đồng đây. Mắt bác Đồng không
nhìn thấy gì lâu rồi. Bác không muốn cháu gặp, xúc động không nói được hết việc
ở Côn Đảo. Nước mắt cháu đã tuôn thế kia. Cháu là thần đồng thơ thiếu nhi từ
năm sáu mươi, bác Đồng và chú biết rồi. Cả chuyện cháu bị oan ức nữa. Nhà văn
chân chính dễ xúc động lắm”. Vợ ông Hoàng Quốc Dũng đem ra một đĩa cam. Ông
Dũng bảo: cháu ăn cam uống chén trà cho bình tĩnh rồi trả lời bác Phạm Văn Đồng.
Chú Dũng cùng ăn cam uống nước, mủm mỉm cười. Chú cháu ta làm việc nhé. Cháu ra
Côn Đảo bằng cách nào? Cháu đi theo tàu đánh cá của dân ạ. Cháu đi từ Nam Định
vào Vũng Tàu với mục đích ra Côn Đảo tìm hiểu cảnh vật, con người ghi vào óc để
sau này viết tiểu thuyết. Tiền đâu mà cháu đi xa thế? Thưa chú, cháu cầm tập
báo Thiếu niên, quân đội, nhân dân, phụ nữ, văn nghệ in thơ, truyện, bút ký của
cháu. Gặp ô tô bộ đội, cháu vẫy. Bộ đội cho cháu đi nhờ. Đoạn hơn mười cây số.
Đoạn hơn trăm, hai trăm cây. Vào đến Sài Gòn cháu rửa bát thuê cho hàng cơm
đông khách. Có tiền cháu đi tiếp Vũng Tàu. Đến Vũng Tàu cháu nhờ được tàu đánh
cá ngư dân ra Côn Đảo ngay à. Chưa chú ạ. Cháu tìm nhà dân nghèo ở nhờ. Tìm việc
làm không có. Mỗi ngày cháu ăn hai bắp ngô. Ở Vũng Tàu lâu cháu lo lắm. Ngày
nào cháu cũng ra bến cảng, không có ngư dân ra Côn Đảo. Mãi ngày 24 tháng 6 năm
1988 bà chủ nhà bảo: Con ơi đêm nay có tàu ngư dân ra Côn Đảo. Con mua nải chuối,
năm tấm bánh mì, nhỡ gió bão tàu lạc mấy ngày. Không gặp bão thì nửa đêm nay
tàu chạy 4 giờ sáng mai tàu cập Côn Đảo. Tôi đi mua một buồng chuối, mười tấm
bánh mì. 19 giờ tôi khoác ba lô ra bến cảng. Chủ nhà hỏi: Con đi sớm thế. Con
đi sớm còn tìm cách mua vé ạ, hơn năm cây số chứ ít đâu. Cháu ra bến cảng, người
đông nghịt chen lấn nhau. Cháu cũng chen giơ tờ giới thiệu báo thiếu niên cô
giáo đi Côn Đảo tìm hiểu lịch sử ông cha về dạy học sinh. May quá, ông chủ tàu
cầm giấy của cháu đưa anh công an. Đọc xong công an nói: Nhà thơ đưa tiền mua
vé. Dân hò hét lôi cháu ra. Anh công an nói: Nhà báo ra Côn Đảo phản ánh thực tế
để Đảng cứu dân Côn Đảo khỏi bao vây, chết đói. Một tràng vỗ tay: Hoan hô nhà
báo. Bà con xách hộ cháu ba lô, buồng chuối đẩy cháu lên tàu. Một ngư dân kéo
cháu xuống hầm. Trong hầm chật ních người nằm ngồi.
Ngày thứ hai tôi đến làm việc với chú
Dũng đúng 7 giờ 30 phút. Trên bàn có hai cốc nước cam mới vắt. Chú Dũng bảo
cháu uống nước cam đi. Cam sành Bố Hạ Bắc Giang, bác Đồng cho đấy. Hôm qua nghe
chú kể chuyện cháu bác Đồng thốt lên: Thương con bé, thở dài thườn thượt.
Tàu chạy được vài tiếng ai cũng nôn thốc
tháo. Cháu nôn ra mật xanh mật vàng. Mùi hôi thối nồng nặc vì hầm đựng cá không
có chỗ đi… Ai cần thì hứng túi ni lông mang theo. Bà má cạnh cháu hỏi: Cháu ra
Côn Đảo với ai? Cháu nói như giới thiệu báo thiếu niên. Bà nói ra với con gái.
Quê bà ở Hải Phòng. Con gái tốt nghiệp kế toán tình nguyện ra Côn Đảo. Chồng bà
đã mất. Bà vào ở cùng con gái. Tự dưng tàu lắc lư như chao võng. Người nọ đè
lên người kia. Các túi ni lông bét nhè lẫn vào người. Bà má ôm cháu: Khổ thân
con bé, còn trẻ mà yếu hơn bà. Giờ mê sảng gọi đồng đội ơi. Khi cháu tỉnh thấy
người nóng ran, mùi dầu con hổ sực nức. Bà má hỏi: Con đói không. Ăn chuối hay
bánh mì. Bà nhờ ông ngồi bên đeo ba lô giữ buồng chuối cho cháu. Cháu mệt lắm,
vẫn nôn nao không ăn. Bà chia bánh mì, chuối cho bà con ăn hết đi. Cháu ơi bão
to quá, tàu bị gió đánh lạc hôm nay ngày thứ ba rồi chắc tàu vào được Côn Đảo…
Tàu cập Côn Đảo sáng sớm ngày 27.07.1988. Cháu sốt mê man không biết gì. Khi
cháu tỉnh dậy bà má reo: Ôi cháu sống rồi. Cháu mê ba ngày nay. Dân Côn Đảo lội
ra tàu cõng cháu cùng về nhà với má. Má kiếm lá xông đánh cảm, lau sạch người
cho con. Con gái má xin được mấy viên thuốc cảm nhét vào mồm cháu, đổ nước, vuốt
cuống họng, hy vọng cháu qua khỏi.
Bà má nấu cháo hành cho cháu ba ngày.
Cháu đi lại được, cháu đến UBND huyện gặp chủ tịch Mười Nhàn. Xem giấy giới thiệu
xong ông Mười Nhàn gọi: Lính đâu trói gô nhà báo này tống vô chuồng cọp. Đầu
cháu còn chòng chành say sóng nhưng thấy nguy hiểm. Cháu nói líu lưỡi: Em không
phải nhà báo. Em là nhà giáo, nhà thơ. Em ra Côn Đảo tìm hiểu gương anh hùng hy
sinh của Võ Thị Sáu, Lê Hồng Phong và các ông cha đã hy sinh cho nền độc lập.
Em viết thành thơ thiếu nhi dạy lịch sử học sinh dễ thuộc. Anh đọc lại giới thiệu
đi. Đọc xong, Mười Nhàn cho bảo vệ lui. Cháu hỏi: Anh cho em ăn nghỉ ở đâu? Ủa,
cô tự ra tự lo ăn ở, tôi hổng biết. Dân và bộ đội có hơn nghìn người sắp chết
đói, tàu giặc cao to chọc trời san sát nhau bao vây Côn Đảo. Mấy tháng nay
chúng ngăn tàu của ta chở gạo cho dân. Cháu đành trở lại bà má, khoác ba lô đến
thư viện xin ngủ nhờ bậc thềm. Nhặt quả bàng ăn no cháu đỡ mệt. Sáng sớm cháu đến
huyện đội. May cho cháu, chỉ huy trưởng quê Hải Hậu. Ba anh phó toàn người Hà
Nam Ninh. Các anh quý cháu từng đánh Mỹ. Các anh cho mượn màn, cho ăn hai bữa với
bộ đội. Sáng chiều mỗi bữa miệng bát. Chị thông cảm, bộ đội và dân Côn Đảo chỉ
còn gạo ăn cầm hơi. Hàng ngày cháu theo bộ đội tuần tra Côn Đảo. Gần tối về ăn
cơm, sau đó hát những bài ca cách mạng. Khi cháu đi từ Nam Định các anh sở văn
hoá bảo cháu vác 100 tập thơ Nguyễn Bính, dọc đường dài bán mà ăn. Về Nam Định
cô trả tiền chúng tôi. Nhưng đến đâu dân, cơ quan ai cùng chê giấy đen như gio.
Chữ in mờ. Cho họ không nhận. Họ khoe tập thơ Nguyễn Bình Nxb Sài Gòn in giấy
trắng tinh. Cháu đành cho người đi đường làm giấy gói đỡ nặng vai. Cháu giữ lại
vài chục tập mang ra Côn Đảo. Tặng thư viện mươi cuốn, còn cháu tặng hết huyện
đội. Đi tuần tra dừng chân ở tiểu đội nào cháu ngâm thơ Nguyễn Bính cho đồng đội
nghe. Anh em rất vui. Họ bới sắn non, khoai lang non chỉ bằng ngón chân cái luộc
đãi đội tuần tra. Cháu làm được 13 bài thơ về Côn Đảo vừa người lớn vừa thiếu
nhi. Cháu đọc cho bộ đội nghe. Hôm nào nghỉ tuần tra cháu ra chợ đọc thơ cho bà
con. Chợ lèo tèo vài nải chuối xanh chuối chín, vài mẹt khoai lang non sắn non.
Dân vui lắm. Lần sau thấy cháu ra chợ, người già trẻ con chạy đến cho quả chuối
chín, củ khoai nướng, nói: Cô thơ ơi, đọc thơ cho chúng tôi nghe với. Bà con
cho cháu mỗi người một ít thành một đống to chuối xanh khoai sống đựng trong ba
tàu lá chuối. Họ túm lại buộc bằng bẹ chuối đặt lên đầu cháu. Cô chịu khó đội về
huyện đội anh nuôi luộc cùng ăn cho đỡ đói.
Sau hai tuần cháu thắp đèn Hoa Kỳ con viết
ký “Đảo gọi” trong một đêm xong. Cháu cho phong bì đã dán tem sẵn mang từ Nam Định.
Cháu chờ dịp gặp thuyền chài nhờ dân về Vũng Tàu bỏ Bưu điện. Một sáng sớm rất
vui, có kiến trúc sư Hai Vĩnh, bác sĩ Hai Hoàn đến huyện đội tìm cháu. Bác sĩ
Hai Hoàn cho cháu mười viên thuốc bổ. Chú Hai Vĩnh nói: Mai chú theo tàu ngư
dân về Vũng Tàu. Chú thiết kế xây dựng Côn Đảo rồi nhưng tàu địch bao vây không
chở được vật liệu ra xây dựng. Chú đói lắm, phải về thôi. Cháu lấy ngay bì thư
ký “Đảo gọi” nhờ ông Hai Vĩnh bỏ Bưu điện Sài Gòn cho cháu. Vì chú Vĩnh nói nhà
chú ở Sài Gòn, hẹn khi cháu về Bắc nhớ đến chơi với cô chú. Chú tập kết ra Bắc
học kiến trúc sư ở Hà Nội, lấy vợ là nhạc sĩ dạy ở Học viện nhạc Thủ đô.
Cuối tháng 8-1988 có máy bay chuồn chuồn
chở gạo ra Côn Đảo. Mỗi cơ quan được mua một vé máy bay về đất liền. Huyện đội
mua vé xong cho cháu. Ô tô của UBND huyện chở mọi người ra sân bay Cỏ Ống. Cháu
lên máy bay ngồi, mừng nửa tiếng nữa sẽ về Vũng Tàu. Bỗng cháu thấy Mười Nhàn dắt
xe đạp đến máy bay. Ông ta vứt xe xuống bãi cát bước lên cửa máy bay. Thấy cháu
ông quát: Ai cho cô giáo thơ đi máy bay? Vé máy bay huyện đội cho tôi. Mười
Nhàn tức tối vào lôi xềnh xệch cháu ra khỏi máy bay. Ông ta vẫy tay một người ở
xa đến. Ông đẩy người ấy lên máy bay. Trời nắng chang. Cháu đứng giữa sân bay bỏng
cát nước mắt tuôn. Một lúc sau, thanh niên cao to đội mũ phi công đến trước mặt
cháu thốt lên: Ô cô Nhật Tân… Cô không nhận ra em à? Em là Hùng con bà Liên chủ
tịch hội phụ nữ, học cô lớp sáu năm 1973 Trường Trần Quốc Toản Nam Định. Sao cô
đứng khóc, trời nắng thế này? Cô ra Côn Đảo tìm hiểu truyền thống cách mạng để
viết tiểu thuyết. Mấy tháng nay huyện đội nuôi cô, mua vé cho cô về dạy học.
Ông Mười Nhàn lôi cô xuống, đưa người khác lên. Cô đi theo em. Này ông Mười
Nhàn. Cô giáo dạy học tôi ở Nam Định. Cô có vé huyện đội cho. Sao ông lôi cô xuống
đưa người khác lên. Ông có trả vé cho cô giáo tôi không? Không thì ông lên lái
máy bay về Vũng Tàu. Tôi nghỉ lại đây. Số đông phản đối Mười Nhàn. Ông ta đành
bảo người nãy xuống cho cháu lên.
Về đến Vũng Tàu cháu về ngay nhà bà cụ
cho ở nhờ. Người hàng xóm nói bà cụ đã bán nhà mua chỗ khác. Cháu buồn thất thểu
bước đi, gặp ông bán báo cháu mua tờ báo nhân dân. Đọc mục TBT Nguyễn Văn Linh
cởi trói cho nhà văn. TBT nói phải cởi mở văn chương muôn vẻ sắc màu. Nội dung
không chửi cộng sản, không chửi Đảng. Họ mua giấy phép bỏ tiền in phải tự bán
sách. Không chỉ có nhà nước in sách cho các hội viên nhà văn Việt Nam, viết đơn
điệu ta thắng địch thua, chính quyền tỉnh nào cũng tốt hết. Mừng quá, cháu tức
tốc về Sài Gòn. Đến thăm nhà chú Hai Vĩnh một tiếng, hỏi địa chỉ Lê Quang Vịnh.
Lê Quang Vịnh nói một mạch cả buổi chiều, cả tối. Vợ Lê Quang Vịnh bưng hai tô
bún riêu cua vào cho hai người ăn. Sáng hôm sau cháu ra ga Bình Triệu lên tàu về
Hà Nội. Cháu mong gặp Nxb Thanh Niên mua giấy phép tự in tiểu thuyết “Dòng xoáy”,
tự bán…
Ngày thư ba bác Phạm Văn Đồng hỏi Nhật
Tân học trường viết văn Nguyễn Du đã được học xem tướng mặt, giọng nói v.v… Nhật
Tân nhận xét thế nào về Mười Nhàn? Về Lê Quang Vịnh? Thưa chú, cháu thấy mắt Mười
Nhàn ánh nhìn sáng nhìn thẳng người đối thoại, váng vất lửa căm thù giặc ngoại
xâm. Mười Nhàn là cộng sản thật. Ông Lê Quang Vịnh đúng như bài hát “Lê Quang Vịnh
người con thân yêu. Tôi khắc tên anh vào trái tim tôi…” Nhiều tuổi hơn Mười
Nhàn nhưng mắt Lê Quang Vịnh sáng như sao Mai. Lê Quang Vịnh chính xác là cộng
sản. Không phải khi hai ông chửi nhau, ông nọ bảo ông kia mày là thằng phản động.
Mày là bí thư Côn Đảo mày gọi giặc đến cướp Côn Đảo. Mày chủ tịch huyện chính
là phản động. Mười Nhàn gọi lính vệ binh tống Lê Quang Vịnh vào chuồng cọp. Lần
thứ hai TBT Nguyễn Văn Linh lên máy bay ra Côn Đảo mở khoá chuồng cọp đưa Lê
Quang Vịnh ra. TBT Nguyễn Văn Linh vẫn nghe hai người chửi nhau như trước. TBT
kéo Lê Quang Vịnh lên máy bay về Sài Gòn quản thúc ở nhà. Theo cảm nhận của
cháu, hai tử tù ra toà án đế quốc Mỹ xử đều là cộng sản đích thực.
Chú cảm ơn cháu cung cấp tư liệu quý,
bác Phạm Văn Đồng sẽ trao đổi với TBT Nguyễn Văn Linh, Bộ chính trị, quân đội
cho Hải quân của ta đuổi tàu giặc đi. Chú nói với bác Phạm Văn Đồng cứu cháu trở
lại dạy học ạ. Khó cháu ạ. Tập thơ “Cửa mở” của Việt Phương thư kí số một của
thủ tướng Phạm Văn Đồng còn không cứu được bị “Nhân văn giai phẩm”. Chú tin oan
ức của cháu sẽ được giải cứu. TBT Nguyễn Văn Linh tác giả “Những việc cần làm
ngay” in báo nhân dân, lấy tên tác giả NVL. Bè lũ tham nhũng nói: Ông tự đốt lò
rồi ông nhảy vào lửa.,.
Xuân 2026
CCB Trần Thị Nhật Tân
- Hội viên Hội VHNT Trường Sơn, Hội viên Hội VHNT Ninh
Bình.
- Địa chỉ liên lạc: TRẦN THỊ NHẬT TÂN
Nhà
số 1 Ngõ 89 Đinh Công Tráng, phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét