Bàn về cung vô chính diệu, sách TỬ VI CHÂN TRUYỀN viết: “Đối với trường hợp Mệnh vô chính diệu hoặc cung vô chính diệu nói chung đều lấy chính tinh ở cung xung chiếu làm căn bản để luận đóan cho đến khi bước vào đại vận có chính tinh thì lại lấy chính tinh của đại vận để luận đoán (không sử dụng được chính tinh ở các cung tam hợp vì không nằm trong trục đối xứng xung khắc về Ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh). Nếu không thể lấy chính tinh cung xung chiếu thì bắt buộc phải xem mệnh nằm trong trạng thái nào của vòng Trường sinh để luận đoán sự thọ yểu của Mệnh có kéo dài được đến đại vận tiếp theo hay không và sử dụng sao đó để luận đoán về hình thức cơ bản của Mệnh. Cung vô chính diệu giống như một hố đen của vũ trụ câu hút được năng lượng từ các cung xung chiếu và tam hợp cho dù các cung đó có Tuần - Triệt hay không. Như một tổ chức chưa được định hình, một đội quân chưa có người lãnh đạo vì vậy tính chất của các phụ tinh thể hiện một cách tự do không có định hướng, khi gặp vận có chính tinh hoặc cung xung chiếu có chính tinh thì đó chính là sự định hướng sự phát triển cho cung đó.
Trường hợp cung vô chính diệu có Tuần - Triệt thì cũng
không sử dụng được các sao xung chiếu cũng như tam hợp như khi cung Vô chính diệu
không có Tuần - Triệt mà phải căn cứ vào trạng thái vượng suy của cung theo
vòng Trường sinh và chỉ sử dụng các sao tại bản cung để xét đoán cho đến khi nhập
vận có chính tinh.
Trường hợp Mệnh hoặc Cung vô chính diệu có Tuần (Triệt)
và cung đối xứng có Triệt (Tuần) thì khi đại vận chưa nhập vào cung Vô chính diệu
thì vẫn chỉ sử dụng các sao tại bản cung để luận cho đến khi vận nhập vào cung
Vô chính diệu thì cách luận như đối với trường hợp Tuần - Triệt tháo gỡ nhau.”
Nhưng như thế thì khái quát quá, sẽ khó khăn cho người
mới chập chững làm quen với khoa Tử Vi. Vì thế, người viết đã soạn ĐÔI ĐIỀU BÀN
VỀ 12 CUNG VÔ CHÍNH DIỆU để cụ thể hơn, đơn giản hơn cho việc tự học và ứng dụng
kiến thức khoa Tử Vi vào cuộc sống với người chập chững làm quen với môn khoa học
“huyền diệu” này.
A. VÀI NÉT
CHUNG CỦA CUNG VÔ CHÍNH DIỆU:
Thế nào gọi
là cung vô chính diệu?
Cung Vô Chính Diệu là cung không có chính tinh tọa thủ.
Cung nào không có chính tinh tọa thủ thì cung đó gọi
là cung Vô Chính Diệu, chẳng hạn: Mệnh Vô Chính Diệu, Bào Vô Chính Diệu, Quan
Vô Chính Diệu, Điền Vô Chính Diệu...
Khi luận giải, thường áp dụng: Lấy chính tinh tọa thủ
của cung xung chiếu làm chính tinh tọa thủ cho cung vô chính diệu nhưng dù có
được chính tinh sáng sủa xung chiếu, được Tuần Triệt án ngữ thì cũng chỉ đưa đến
sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu ở mức 7 hoặc 8 phần, chứ không thể rực rỡ cả
10 phần như có chính tinh sáng sủa tọa thủ được.
Tuy nhiên, nếu rơi vào 3 trường hợp dưới đây thì không
áp dụng theo thông lệ:
1. Vô Chính
Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ:
Trường hợp này hung tinh đắc địa phải là hành Hỏa hoặc
hành Kim, hợp với hành bản Mệnh và không bị Tuần Triệt án ngữ, mới được hưởng
thế đẹp của hung tinh đó đem đến.
2. Chỉ khi
nào rơi vào hai trường hợp:
Được Nhật Nguyệt xung chiếu hoặc tam hợp chiếu (Nhật
Mão, Nguyệt Mùi) thì mới sử dụng bộ Nhật Nguyệt làm nòng cốt, còn các trường hợp
khác dù có Nhật Nguyệt chiếu cũng lấy chính tinh xung chiếu làm chính tinh tọa
thủ.
3. Vô Chính
Diệu Đắc Tam Không:
Chỉ khi nào vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt thủ, được
2 trong 3 sao là Tuần, Triệt, Thiên Không chiếu thì mới là cách Vô Chính Diệu Đắc
Tam Không. Với cách này mệnh Hỏa đẹp hơn Mệnh Kim, các Mệnh khác tuy không giàu
có nhưng cuộc sống không đến nỗi xấu, cũng được tạm đủ hoặc kha khá. Trường hợp
này, nếu có hung tinh tọa thủ dù lạc hãm cũng chỉ làm xấu một chút, không đáng
lo ngại lắm về họa của sao này gây ra.
Những điểm cần lưu ý với cung vô chính diệu:
- Ngoại trừ trường hợp cung Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ thì không nên có Tuần, Triệt án ngữ, còn các trường hợp khác của cung Vô Chính Diệu đều rất cần có Tuần hoặc Triệt án ngữ. Nếu không có Tuần, Triệt án ngữ thì ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu yếu đi, và dù có nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì sự tốt đẹp cũng chỉ ở mức độ trung bình khá. Khi cung Vô Chính Diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ thì ban đầu tuy có gặp khó khăn, trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi, tốt đẹp. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu chiếu về cung Vô Chính Diệu, và giải cứu được trường hợp “phi yểu tắc bần” nếu Mệnh Vô Chính Diệu.
- Vô Chính Diệu được Tuần án ngữ tốt đẹp hơn được Triệt
án ngữ. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cung thì cung Vô Chính Diệu này chỉ ở mức độ
trung bình, không tốt cũng không xấu. Trường hợp này không cần quá chú trọng đến
các sao hội chiếu vì ảnh hưởng của các sao này không nhiều vì Tuần đã ngăn các
sao tốt chiếu về, còn Triệt thì ngăn cản các hung tinh chiếu tới trong khi các
sao tại bản cung thì bị cả Tuần lẫn Triệt vây trảm.
- Chỉ khi nào ở Tứ Mộ thì cung Vô Chính Diệu mới được
hưởng những cách hay của các sao tam hợp chiếu. Còn tại các cung khác, cung Vô
Chính Diệu chỉ chịu ảnh hưởng của các sao trực chiếu. Đặc biệt, tại Tứ Mộ thì
Vô Chính Diệu rất cần Tuần Triệt án ngữ.
- Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt,
Thiên Không hợp chiếu mà không có Tuần, Triệt án ngữ thì là cách Kiến Không.
- Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt và Địa
Không hợp chiếu thì không tính là cách đắc tam không.
- “Trường hợp cung vô chính diệu có Tuần - Triệt thì
cũng không sử dụng được các sao xung chiếu cũng như tam hợp như khi cung Vô
chính diệu không có Tuần - Triệt mà phải căn cứ vào trạng thái vượng suy của
cung theo vòng Trường sinh và chỉ sử dụng các sao tại bản cung để xét đoán cho
đến khi nhập vận có chính tinh.” (theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN)
- Trường hợp vô chính diệu mà không có Tuần, Triệt án
ngữ, lại có sao Thiên Không thủ là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn
ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu gặp thêm các sao Không khác hội
chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại
có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm
hơn.
- “Trường hợp Mệnh hoặc Cung vô chính diệu có Tuần
(Triệt) và cung đối xứng có Triệt (Tuần) thì khi đại vận chưa nhập vào cung Vô
chính diệu thì vẫn chỉ sử dụng các sao tại bản cung để luận cho đến khi vận nhập
vào cung Vô chính diệu thì cách luận như đối với trường hợp Tuần - Triệt tháo gỡ
nhau.” (theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN)
B. KHÁI QUÁT
VỀ CÁC CUNG VÔ CHÍNH DIỆU
Ở phần trên, người viết đã khái quát những nét chung của cung Vô Chính Diệu để bạn đọc lưu ý khi coi số.
Ở phần này, người viết trình bày khái quát về 12 cung Vô Chính Diệu để bạn đọc
khi lướt qua lá số, có thể “nhìn thấy” được “VẤN ĐỀ” nằm ở đâu trên 12 cung của
lá số mà đưa ra vài lời nhận xét khái quát về cung đó.
Đánh giá về sự tốt xấu của các cung (vô chính diệu)
thì tùy từng trường hợp mà luận giải, nhưng cơ bản cũng dựa vào cách đánh giá
cung vô chính diệu như đã trình bày ở phần trên. Khi luận giải, sự gia giảm mức
độ tốt xấu phải dựa trên bối cảnh Mệnh - Thân - Phúc - Hạn và các sao khác thủ
chiếu tại cung vô chính diệu đó để gia giảm mức độ tốt xấu.
Vài nét sơ
luận về 12 cung:
1. MỆNH:
Mấy lưu ý về người Mệnh Vô Chính Diệu:
- Lúc còn nhỏ thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu,
khó nuôi. Lớn lên, giảm thiểu được bệnh tật, tai họa do nhạy bén hoặc linh cảm
được được sự việc sắp xảy ra. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nếu
gần cha mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo hèn.
- Thường là con vợ hai, vợ lẽ hoặc nàng hầu. (Điều này
người viết thấy không mấy đúng nhưng vì sách Tử Vi nói vậy nên cứ liệt kê.)
- Cuộc sống trôi nổi, cho dù đắc cách thì cũng hoặc
phú quý chỉ một thời, hoặc đáng được hưởng phú quí thì lại chết.
- Làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền. Vì thế
nên hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh đi là cách tốt nhất.
- Không có lập trường vững vàng, tư tưởng không ổn định
(trừ một số trường hợp đặc biệt đã nêu ở phần A) nhưng dễ thích ứng với hoàn cảnh.
- Nữ Mệnh Vô Chính Diệu thì đỡ xấu hơn Nam Mệnh Vô
Chính Diệu
- Mệnh Vô Chính Diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì Mệnh
Vô Chính Diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẽ cứng cỏi làm
nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt.
- Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không thì khi đương số
sinh ra, bố mẹ thường hoặc sẽ phát đạt hoặc bị khủng hoảng, tai nạn trong một
thời gian. Và cuộc đời đương số bao giờ cũng có sự thay đổi bất ngờ.
- Mệnh Vô Chính Diệu có hung tinh độc thủ thì cần đồng
hành với bản Mệnh mới là thật tốt.
- Mệnh Vô Chính Diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại
có sao Thiên Không thủ, gọi là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan
nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu thêm các sao Không khác hội chiếu thì
càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung
tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn.
- Mệnh Vô Chính Diệu có tam không (Thiên không, Địa
không, Địa kiếp), được nhiều cát tinh hội họp, lại có các vận liên tiếp tốt đẹp
thì đương số thường được sung sướng từ bé nhưng dễ bị yểu tử.
- Mệnh Vô Chính Diệu nếu có sao Thiên Tướng, Tướng
Quân... đóng mà gặp Tuần Triệt án ngữ thì dễ đưa đến tai họa bất ngờ cho đương
số.
- Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì
cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con cái.
2. QUAN LỘC
Nếu Quan Lộc vô chính diệu, có hung tinh độc thủ thì
hoạch phát công danh nhưng cũng không được bền
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì công danh
tuy chậm nhưng cũng tạm khá, đương số
thường hoạt động trên lĩnh vực chính trị hoặc kinh tế. Trường hợp này nếu được
Tuần hoặc Triệt án ngữ sẽ làm tăng vẻ tốt đẹp của công danh, càng về sau công
danh càng tốt tuy ban đầu có gặp trắc trở. (Cũng cần lưu ý rằng: gặp Tuần thì
công danh tuy buổi đầu có trắc trở nhưng sau vẫn sáng lạn còn gặp Triệt thì chỉ
khá hơn chút chút và công danh không bền.)
Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ và được nhiều sao sáng
sủa hội chiếu thì công danh cũng trước bị trở ngại, sau tuy có khá nhưng sự
nghiệp cũng không được bền, thường hoạnh phát hoạnh phá. Nếu Tuần Triệt án ngữ
đồng cũng thì công danh chỉ ở mức bình thường cho dù có được các yếu tố khác
như Mệnh Thân Phúc Hạn… tốt đẹp.
3. TÀI BẠCH
Nếu Tuần Triệt án ngữ thì đương số may mắn hơn trong
việc kiến tạo tiền bạc cho mình. Trường hợp này, nếu được nhiều sao tốt đẹp hội chiếu thì ban đầu kiếm
tiền thường khó khăn, sau mới thuận lợi nhưng cũng không thể giàu có được.
Nếu có hung tinh đắc địa độc thủ thì sẽ hoạnh phát
nhưng thường hoạnh phá, không bền, chỉ giàu có một giai đoạn.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp,
may mắn về tiền bạc, nhất là càng về già càng nhiều tiền của. Trường hợp này, nếu
được thêm Tuần, Triệt án ngữ, đặc biệt là Tuần, thì đương số sẽ thêm nhiều may
mắn, thuận lợi trong việc kiếm tiền và chắc chắn là người giàu có lớn.
4. THIÊN DI
Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì cuộc sống sẽ tốt hơn
nhưng lại dễ chết xa nhà.
Nếu Hung sát tinh độc thủ thì ra ngoài dễ kiếm tiền,
thường kiếm được tiền một cách bất ngờ, nhưng lại hao hụt nhanh chóng, kiểu hoạnh
phát hoạnh phá vậy.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì khá tốt đẹp,
đương số sẽ gặp nhiều may mắn, thuận lợi khi ra ngoài. Trường hợp này, nếu được
Tuần, Triệt án ngữ (nhất là Tuần) thì sự may mắn, thuận lợi tăng lên nhiều.
5. PHÚC ĐỨC
Nếu Phúc cung vô chính diệu đắc tam không tất sẽ được
hưởng phúc lộc dồi dào. Tuy nhiên, chỉ những người Mệnh Kim, Mệnh Hỏa mới được
hưởng hết những ưu điểm của cách này, kỳ dư các Mệnh khác, được hưởng không nhiều.
Nếu Hung Tinh đắc địa độc thủ thì đương số cũng được
hưởng phúc lộc nhưng chỉ trong một giai đoạn mà thôi. Tại Dần Thân nếu gặp Đà
La độc thủ thì thường hưởng phúc, sống lâu.
Nếu Phúc vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp
chiếu thì rất tốt, đương số được hưởng phúc, sống lâu, được nhờ cậy họ hàng.
Trường hợp này, nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì số mệnh của đương số càng tốt đẹp
ở nhiều phương diện.
Phúc vô chính diệu rất cần gặp Tuần, không nên gặp Triệt.
Nếu gặp Tuần thì hưởng phúc, sống lâu, gặp Triệt thì họ hàng khá giả nhưng
không bền cho dù được nhiều sao tốt hội chiếu, còn bản thân dễ phải ly hương lập
nghiệp, xa cách người thân.
6. ĐIỀN TRẠCH
Người có cung Điền vô chính diệu thường hay thay đổi
chỗ ở, điền sản, cuộc đời cũng thăng trầm bất định, khi lên khi xuống, nhà đất
khó giữ, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. (Có quan điểm cho rằng: Điền vô
chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn,
sau đó mới giàu có dần.)
Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ (hoặc Tuần, Triệt đồng cung)
thì buổi đầu tuy gặp trắc trở trong việc tạo dựng điền sản, như: thường phải
thay đổi chỗ ở, mua rồi lại phải bán đi, thành bại thất thường... nhưng sau dễ
dàng thuận lợi. Tuy vậy, về già mới được ổn định nhưng nhà đất chỉ ở mức trung
bình.
Nếu cung Điền vô chính diệu đắc tam không thì điền sản
tuy khá nhưng cũng không bền.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì trước gặp
trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, nhiều nhà đất, điền sản. Trường hợp
này nếu được Tuần Triệt án ngữ sẽ càng tốt hơn, đương số sẽ rất giàu có và có rất
nhiều nhà đất.
Nếu Hung sát tinh độc thủ thì tài sản tạo nên bất ngờ
nhanh chóng, nhưng cũng lại suy bại khá nhanh, đặc biệt là Hỏa Linh Không Kiếp.
Còn Kình Đà độc thủ thì tuy hoạnh phát hoạnh phá nhưng sau cùng vẫn được hưởng
khá giả.
7. NÔ BỘC
Nếu Nô cung vô chính diệu, được Hung sát tinh độc thủ
thì tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn át chủ. Đương số có nhiều bạn bè
tài giỏi, làm ăn táo bạo, nhưng thường nằm trong giới giang hồ, xã hội đen.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp:
Người giúp việc đắc lực, trung thành và có nhiều bạn bè khá giả, tận tâm giúp đỡ
đương số.
8. PHỤ MẪU
Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cha mẹ tuy được tốt
hơn nhưng đương số dễ khắc cha hoặc khắc mẹ, hoặc đương số phải sớm xa cách cha
mẹ, như xa quê vì mưu sinh hay đến làm con nuôi người khác.
Dù cung Phụ - Mẫu (vô chính diệu) có được nhiều cát
tinh hội họp thì đương số cũng nên sớm xa gia đình, tốt nhất là xuất ngoại thì
hậu vận mới mong có thể có công danh được.
9. PHU THÊ
Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì buổi đầu tuy khó khăn,
trắc trở nhưng sau được tốt hơn, tuy vậy cũng nên lập gia đình trễ, không nên lập
gia đình sớm. Gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt.
Người Hỏa Mệnh, nếu được Đắc Tam Không thì rất tốt, vợ
chồng may mắn, hòa thuận.
Nếu Hung Sát tinh độc thủ thì vợ chồng tuy đều giỏi
giang nhưng không hòa thuận, dễ hình khắc hoặc chia ly.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì vợ chồng tốt
đẹp, hòa thuận.
10. TỬ TỨC
Nếu Hung tinh đắc địa độc thủ thì con cái khá giả
nhưng khó nuôi con hoặc muộn sinh con, hoặc con cái không hợp với cha mẹ.
Nếu Tử Tức vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp
chiếu thì đương số sẽ thuận lợi, may mắn về đường con cái và con cái sau này
khá giả, quí hiển. Trường hợp này nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, nhất là Tuần,
thì sự may mắn về đường con cái của đương số sẽ tăng thêm nhiều.
Nếu Tử Tức vô chính diệu mà Mệnh lại vô chính diệu nữa
thì chắc chắn đương số cả đời vất vả về đường con cái, rất dễ rơi vào khả năng
tuyệt tự, không có con.
11. HUYNH ĐỆ
Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì tốt lên, nhưng anh (hoặc
chị) trưởng thường chết sớm. Trường hợp này, anh chị em lúc tiền vận thường
long đong nhưng về hậu vận sẽ khá giả.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì anh chị em
thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Trường hợp này có thêm Tuần Triệt án ngữ thì
càng tốt, anh chị em thuận hòa, quý hiển.
12. TẬT ÁCH
LỜI KẾT
Hy vọng, những cố gắng của người viết sẽ (ít nhiều)
giúp ích cho bạn đọc trong việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào cuộc
sống!
Làng Đá, Quang Vinh, Ân Thi, Hưng Yên
ĐẶNG
XUÂN XUYẾN
(Trích từ TỬ VI VẤN ĐÁP của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất
bản Thanh Hóa 2009)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét