THAM
Nguyễn Văn Nhiếp
Đê mẹ chúng bay một lũ tham
Tham ăn, tham uống, tham đủ
thứ
Tham sắc, tham tiền, tham Hiếu
danh…
Ông bảo thợ rèn đánh cuốc lại
Tráng lớp men gương để soi
hình
Mặt mày méo mó ngỡ là xinh
Xem ra chỉ một loài thảo khấu
Phật Tiên bảo rằng:
“Muốn sống trường tồn con chớ
tham”.
Nguyễn Văn Nhiếp
(Nguồn: Nguyễn Văn Nhiếp thơ và đời. Trang 83)
LỜI BÌNH
Bài thơ “Tham” của nhà thơ Nguyễn Văn Nhiếp là một bài
thơ có sức đả kích và cảnh tỉnh mạnh mẽ. Cảm xúc của tác giả tập trung phê phán
lòng tham bằng giọng điệu châm biếm, mỉa mai, khiến một vấn đề đạo đức vốn quen
thuộc trở nên sắc bén và giàu sức gợi.
Tôi đồ rằng ban đầu tác giả dự định làm bài thơ theo
luật Đường. Nhưng khi bắt tay vào thực hiện, liên tưởng đến những nhân vật tham
cụ thể thì cảm xúc dâng trào, khiến cho lời thơ bất tuân niêm luật, cảm xúc
tuôn chảy qua lời thơ tự nhiên thốt ra. Tôi coi bài thơ này thuộc thể thơ tự
do, nhưng mang âm hưởng thất ngôn bát cú Đường luật…
Ngay
câu mở đầu đã thể hiện cảm xúc của tác giả trước hiện tượng tham nhũng rất rõ:
“Đê mẹ chúng bay một lũ tham”
Tác giả sử dụng một lời chửi rất trực diện, thô ráp, mạnh
bạo, thể hiện sự phẫn nộ trước căn bệnh “tham” của con người. Nó không mang vẻ
trang trọng, khuôn phép của một lời giáo huấn đạo đức mà giống như lời nói đời
thường. Vì thế cảm xúc của tác giả trở nên chân thật, dữ dội và có phần ngang
tàng.
Đến câu thứ hai và ba, tác giả cụ thể hóa và mở rộng
phạm vi của chữ “tham”:
“Tham ăn, tham uống, tham đủ thứ
Tham sắc, tham tiền, tham Hiếu danh…”
Điệp từ “tham” được lặp lại liên tiếp tạo cảm giác
lòng tham không có điểm dừng. Từ những ham muốn vật chất rất đời thường như ăn,
uống, tiền bạc đến sắc đẹp và hư danh, con người dường như luôn muốn chiếm hữu
nhiều hơn. Cụm từ “tham đủ thứ” nghe bình dân, đơn giản nhưng lại có sức khái
quát, đã tham thì chẳng bao giờ thấy đủ. Đặc biệt, câu “tham Hiếu danh” có thể hiểu theo hướng tham
danh, háo danh, tức khao khát được người khác biết đến, ca tụng. Như vậy, bài
thơ không chỉ phê phán lòng tham vật chất mà còn chạm tới một dạng tham tinh thần
rất tinh vi: tham quyền, tham danh, tham sự ngưỡng mộ.
Hai câu tiếp:
“Ông bảo thợ rèn đánh cuốc lại
Tráng lớp men gương để soi
hình”
Hình ảnh cái
“cuốc” và cái “gương” là một sáng tạo khá thú vị, khá đắt, độc đáo. Cuốc vốn là
công cụ lao động, gắn với việc khai phá đất đai, tạo ra giá trị bằng sức lao động.
Nhưng ở đây, cái cuốc lại được tráng lớp men gương để soi hình. Một vật dùng để
lao động bỗng biến thành vật phục vụ cho việc soi chiếu bản thân. Chi tiết này
có tính biểu tượng và trào phúng rất rõ. Thay vì dùng công cụ để làm việc, con
người lại quay sang soi mình, tô vẽ mình, mê đắm hình ảnh của mình. Hình ảnh
này gợi cho người đọc liên tưởng đến câu chuyện Narcissus trong thần thoại Hy Lạp.
Khi ngắm hình ảnh mình dưới nước, nhân vật say mê hình ảnh của chính mình. Ý tưởng
ấy được nhà thơ Nguyễn Văn Nhiếp đưa về một hình thức rất dân dã: “đánh cuốc”
và “men gương”. Chính sự kết hợp tưởng như khập khiễng ấy lại tạo nên tiếng cười
châm biếm.
Câu tiếp:
“Mặt mày méo mó ngỡ là xinh”
Đây có lẽ là một trong những câu thơ có sức châm biếm
rõ nhất. Từ “méo mó” đối lập với “xinh” tạo nên một nghịch lý hài hước. Điều
đáng cười không chỉ là diện mạo, mà là khả năng tự đánh giá sai lệch của con
người, cái xấu lại tưởng là đẹp, cái đáng hổ thẹn lại tưởng đáng tự hào. Bởi vậy,
tiếng cười trong bài thơ thực chất là tiếng cười phê phán. Tác giả cười vào sự
tự mãn, háo danh, tự huyễn của con người. Trước con mắt của tác giả, bọn tham
chẳng qua cũng chỉ là một loại “thảo khấu”.
“Xem ra chỉ một loài thảo khấu”
Hình ảnh “thảo khấu” vốn chỉ kẻ cướp, kẻ sống ngoài
vòng đạo lý. Gọi một con người tham lam là “thảo khấu” khiến sự phê phán có sức
nặng hơn, lòng tham không còn là một khuyết điểm nhỏ mà có thể làm méo mó nhân
cách con người.
Từ tiếng cười châm biếm mỉa mai phê phán thói tham đủ
thứ và sự tự huyễn, tác giả chuyển thái độ bằng lời cảnh tỉnh.
“Phật
Tiên bảo rằng:
“Muốn sống trường tồn con chớ
tham.”
Hai câu thơ kết bài làm giọng thơ thay đổi, mang màu sắc triết lý và giáo huấn, đồng thời
gợi tư tưởng của Phật giáo, muốn có một đời sống an lành, bền vững thì phải biết
tiết chế dục vọng và lòng tham.
Bài thơ mở đầu bằng một câu chửi rất đời thường, cuối
bài lại là một lời răn mang tính triết lý. Cái hài và cái bi, tính chất dân
gian và tính triết lý cùng tồn tại trong một bài thơ “Tham” của nhà thơ Nguyễn
Văn Nhiếp. Điều đó làm cho cảm nhận của bạn đọc thêm phần thú vị.
Về nghệ thuật, nhan đề “Tham” cực ngắn, chỉ một từ
nhưng là từ khóa chi phối toàn bộ bài thơ. Điệp từ “tham” được sử dụng dồn dập,
tạo nhịp điệu mạnh và nhấn mạnh tính không có điểm dừng của dục vọng. Từ “tham”
khái quát, tác giả liệt kê tham ăn, tham uống, tham sắc, tham tiền, tham danh…
mở rộng phạm vi lòng tham cụ thể sinh động.
Ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, thậm chí có phần dữ dội,
tạo nên giọng thơ riêng, không kiểu cách. Nghệ thuật tương phản: “méo mó”, “xinh”,
cuốc lao động, gương soi, tiếng chửi, lời Phật Tiên… Giọng điệu biến đổi linh
hoạt: từ phẫn nộ, châm biếm, hài hước đến triết lý, cảnh tỉnh. Mở đầu rất mạnh,
giữa bài tạo tiếng cười, cuối bài khép lại bằng một lời răn. Chính sự chuyển giọng
này khiến bài thơ ngắn nhưng dư âm kéo dài.
Kết luận:
Điểm đáng quý nhất của “Tham” là tác giả không nói về
lòng tham bằng một bài giảng đạo đức khô khan. Ông chửi, cười, giễu, rồi răn.
Vì thế, đằng sau vẻ ngang tàng và hài hước là một thái độ lo lắng trước sự xuống
cấp của con người và một mong muốn con người biết dừng lại trước những ham muốn
vô tận. “Tham” lấy tiếng cười châm biếm làm phương tiện, lấy sự phẫn nộ làm cảm
xúc khởi nguồn và lấy lời cảnh tỉnh về nhân cách làm đích đến. Cái hay của bài
thơ chính là sự kết hợp giữa chất khẩu ngữ dân gian, tiếng cười trào phúng và
chiều sâu triết lý về cách sống, con người muốn giữ được nhân phẩm và một đời sống
bền vững thì phải biết thắng lòng tham của chính mình. Ngày nay tham phát triển
như cỏ dại. Đặc biệt tham nhũng ở những kẻ chức quyền có sức tàn phá xã hội rất
lớn. Bài “Tham” của nhà thơ Nguyễn Văn Nhiếp đã phản ánh trúng vấn đề bức xúc
xã hội quan tâm…
TMG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét