CHÂN
DUNG NHÀ THƠ TRẦN
HÙNG THẮNG
Kính tặng nhà thơ Trần Hùng Thắng
Vốn
dòng Tả Hãn Tướng Quân(1)
Hồn thêu nét bút, thơ văn dạt
dào
Kỹ
sư lớp trước, tự hào
Màng chi quan chức, thiết nào hư
danh
Cho đi muôn vạn nhánh cành
Nhận về một lá trầu xanh cay nồng
Ngỡ
ngàng đứt gánh tơ hồng
Còn hai trái ngọt trời không phụ
người
Lên xe, xuống ngựa một thời
Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung
Hằng
Tao
nhân mặc khách đãi đằng
Túi thơ bầu rượu kém chăng Đào
Tiềm(2)?
Trần Mỹ Giống
……………
(1) Tả
Hãn tướng quân: tức cụ Trần Bá Khoản (tức Nghiễm) quê làng Trà Lũ. Cụ có sức khỏe
hơn người, tinh thông võ nghệ, thường sử dụng thanh đao to bằng tàu lá chuối có
cán bằng sắt luyện, hai người mới khênh nổi. Năm 1740 Trịnh Doanh thân chinh mộ
quân đánh dẹp khởi nghĩa Ngân Già, cụ ứng mộ lập công lớn được phong Đô chỉ huy
đồng tri cai hãn tả hùng hữu đẳng trung tiệp, kiêm chỉ huy đội thuyền tráng tiết
tướng quân Nghiễm trung hầu, quan võ tứ phẩm triều Lê giữ chức thủy quân tứ cơ.
Khi cụ giải giáp về quê, gia tư có hàng chục vạn. Dân gian có câu “Đệ nhất
Thiêm Kì, Đệ nhì Hãn Tả” nói về sự giàu sang của cụ. Cuối thời Lê, kho nhà nước
trống rỗng, triều đình quyên góp các xã, Trà Lũ phải nộp 80 vạn quan tiền, Cụ bỏ
của nhà ra nộp thay dân làng. Hiện nay còn đền thờ quan Tả Hãn ở xã Xuân Trung
(Xuân Trường – Nam Định). Con cháu cụ đều theo ngạch võ như: con trai cụ là Trần
Đình Thạc làm Tham đốc vũ huân tướng quân, tước Trọng Nghĩa hầu; Cháu cụ là Trần
Đình Lãm làm Đô chỉ huy sứ; Chắt, chút cụ có nhiều người đỗ Tú tài...
Nhà thơ Trần Hùng Thắng, bút danh HOÀI NGỌC
ANH là hậu duệ của Tả Hãn Tướng quân. Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội
khóa 9. Ra trường công tác ở Bộ Vật tư (nay là Bộ Công thương). Sau lần bị khốn
khổ do viết truyện ngắn theo phương pháp sáng tác hiện thực phê phán, ông bỏ cơ
quan về sống tự do và theo đuổi nghiệp thơ văn. Tác phẩm chính của ông là tập
thơ “Trầu một lá”, ngoài ra còn hàng trăm bài đăng tạp chí và in trong nhiều
tuyển thơ như “Hành Thiện tự ngàn xưa”, “Giáo sư Vũ Khiêu trong vòng tay bạn
bè”, “Vũ Khiêu và bè bạn”, “Tuổi cao nêu gương sáng”…
Mảng thơ nổi nhất của ông là thơ tình. Thơ
ông khi buồn não nuột, lúc say đắm dâng trào, có lúc như biển cả bão tố, có khi
êm đềm dịu ngọt, sâu lắng như nước hồ lặng gió...
Tình duyên ông lận đận, bà vợ đầu là một y sĩ
mà ông yêu sâu sắc đã bỏ ông vì “không chịu nổi cách sống văn nghệ sĩ” của ông.
Ông có hai người con với bà vợ đầu (một trai và một gái đều thành đạt). Hiện
ông sống cùng bà kế ở quê. Ông lấy việc thăm thú bạn bè, xướng họa thơ ca...
làm vui.
(2) Đào Tiềm: tự Uyên Minh, người đời Tấn, nổi
tiếng cao thượng, ham đọc sách, giỏi thơ văn, không màng danh lợi, an bần lạc đạo,
lấy tiếng đàn, câu thơ, chén rượu làm vui...
Lời bình của ChatGPT qua biên tập của Trần
Mỹ Hạnh:
CHÂN DUNG MỘT TAO NHÂN MẶC KHÁCH
Qua
bài thơ “Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống
Trong
đời sống văn học, thơ viết về một nhà thơ là một dạng sáng tác khá đặc biệt. Nếu
thơ trữ tình thông thường hướng vào cái tôi của người viết, thì thơ chân dung lại
có sự dịch chuyển điểm nhìn: cái tôi tác giả hướng sang một nhân vật khác để
khám phá, ghi nhận và lý giải một đời sống tinh thần. Bởi vậy, một bài thơ chân
dung thành công không đơn thuần là sự liệt kê những dữ kiện tiểu sử, mà phải biến
những dữ kiện ấy thành hình tượng nghệ thuật, qua đó làm hiện lên một con người
với tính cách, số phận, tài năng và quan niệm sống.
“Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống
là một bài thơ như thế. Chỉ với mười hai câu lục bát, tác giả đã phác họa một
chân dung khá toàn diện về Trần Hùng Thắng: từ nguồn gốc gia đình, nghề nghiệp,
tài năng văn chương đến quan niệm về danh lợi, tình duyên và phong thái sống. Đằng
sau những câu thơ ngắn gọn, có khi hóm hỉnh, là cái nhìn thân tình của một người
viết đối với một người bạn trong đời sống văn chương.
Điều đáng chú ý là tác giả không xây dựng nhân vật
theo kiểu một “tiểu sử bằng vần”. Những thông tin về cuộc đời được lựa chọn, cô
đọng và chuyển hóa thành hình ảnh, biểu tượng, liên tưởng văn hóa. Nhờ đó, Trần
Hùng Thắng hiện ra không chỉ như một cá nhân cụ thể mà còn như hình ảnh của một
kiểu nhà thơ – một “tao nhân mặc khách” coi trọng thơ ca, tình bạn và đời sống
tinh thần hơn danh vị, quyền lực.
***
Bài
thơ mở đầu bằng hai câu:
“Vốn dòng Tả Hãn Tướng Quân
Hồn
thêu nét bút, thơ văn dạt dào”
Cách mở đầu này có ý nghĩa tạo dựng “lai lịch tinh thần”
cho nhân vật. “Tả Hãn Tướng Quân” trước hết gợi một truyền thống gia đình, một
nguồn gốc có chiều sâu lịch sử. Nhưng điều đáng chú ý là tác giả không để nhân
vật dừng lại ở cái bóng của tổ tiên. Sau một câu thơ nói về dòng dõi, câu tiếp
theo lập tức chuyển sang “hồn” và “nét bút”.
Đây là sự chuyển đổi rất có ý nghĩa: từ nguồn gốc bên
ngoài sang giá trị bên trong, từ huyết thống sang tâm hồn, từ truyền thống gia
đình sang tài năng cá nhân. Nếu câu thơ đầu tạo cho nhân vật một nền tảng đáng
tự hào thì câu thơ thứ hai mới thực sự xác định phẩm chất làm nên chân dung nhà
thơ: “Hồn thêu nét bút”.
Động từ “thêu” được sử dụng khá đắt. Nhà thơ không chỉ
“viết” mà “thêu” bằng “hồn”. Viết văn, làm thơ vì thế được hình dung như một
công việc thủ công tinh tế, đòi hỏi sự chăm chút, nhưng đồng thời cũng là sự gửi
gắm toàn bộ đời sống tâm hồn. “Thơ văn dạt dào” lại mở rộng hình tượng ấy: cảm
hứng sáng tác không phải một hoạt động nhất thời mà là một dòng chảy liên tục.
Chỉ bằng hai câu, Trần Mỹ Giống đã tạo được hai nét cơ
bản của nhân vật: có truyền thống và có tài năng. Nhưng quan trọng hơn, tác giả
ngầm xác lập một thứ bậc giá trị: dòng dõi có thể tạo nên niềm tự hào, nhưng
chính “hồn” và “nét bút” mới làm nên nhà thơ.
Nếu
hai câu đầu tạo dựng nền tảng của chân dung, thì hai câu:
“Kỹ sư lớp trước, tự hào
Màng
chi quan chức, thiết nào hư danh”
đã đi
sâu vào quan niệm sống của nhân vật.
“Kỹ sư lớp trước” là một chi tiết có tính tiểu sử,
nhưng được đưa vào thơ theo cách rất tự nhiên. Cụm từ “lớp trước” đồng thời gợi
một thế hệ, một quá khứ nghề nghiệp và một chặng đường đời. Nhân vật từng bước
vào đời bằng con đường khoa học – kỹ thuật, nhưng cuối cùng lại được người đời
nhớ đến qua thơ ca.
Đặc
biệt, hai từ “màng chi” và “thiết nào” mang đậm sắc thái khẩu ngữ. Nếu thay bằng
những từ ngữ trang trọng, câu thơ có thể trở nên nặng nề. Chính chất khẩu ngữ
đã làm cho giọng thơ trở nên gần gũi, giống như lời một người bạn đang kể chuyện
về bạn mình.
“Màng chi quan chức, thiết nào hư danh” cũng là một
câu thơ quan trọng trong việc xác lập tính cách nhân vật. Ở đây, nhà thơ được
nhìn từ thái độ đối với danh lợi. “Quan chức” và “hư danh” được đặt bên cạnh
nhau như những giá trị mà nhân vật không lấy làm mục đích sống.
Cần lưu ý rằng đây không phải một lời tuyên ngôn triết
học dài dòng. Tác giả chỉ dùng một câu thơ ngắn để gợi ra cả một cách sống.
Chính sự cô đọng ấy làm nên hiệu quả của thơ chân dung.
Từ phương diện nghệ thuật, đây cũng là điểm gặp gỡ với
hình tượng tao nhân mặc khách ở phần cuối bài. Nhân vật được định vị không phải
bởi chức tước mà bởi thơ ca, bạn bè và đời sống tinh thần. Vì thế, “không màng
quan chức” không chỉ là một nét tính cách cá nhân mà còn góp phần tạo nên phong
thái nghệ sĩ của toàn bài.
Bốn
câu tiếp theo là phần giàu chất trữ tình nhất:
“Cho đi muôn vạn nhánh cành
Nhận
về một lá trầu xanh cay nồng
Ngỡ
ngàng đứt gánh tơ hồng
Còn
hai trái ngọt trời không phụ người”
Nếu bốn câu đầu chủ yếu thiên về giới thiệu và nhận diện
nhân vật, thì đến đây bài thơ chuyển sang chiều sâu số phận.
Cấu trúc “cho đi – nhận về” tạo ra một thế đối lập.
“Cho đi muôn vạn nhánh cành” gợi cảm giác rộng rãi, hào phóng, trao tặng nhiều.
“Nhận về một lá trầu xanh cay nồng” lại thu hẹp không gian hình ảnh xuống một vật
thể rất nhỏ: “một lá trầu”.
Sự đối lập về số lượng – “muôn vạn” và “một” – khiến
câu thơ có sức gợi. Nhưng “lá trầu” không phải một hình ảnh ngẫu nhiên. Trong
văn hóa Việt Nam, trầu cau gắn với tình yêu, hôn nhân, lễ nghĩa và duyên vợ chồng.
Bởi vậy, “lá trầu xanh cay nồng” có thể được đọc ở cả nghĩa thực lẫn nghĩa biểu
tượng. Nó vừa là hình ảnh của tình duyên, vừa gợi vị cay của những trải nghiệm
tình cảm.
Từ “cay nồng” đặc biệt đáng chú ý. “Nồng” thường gợi sự
đậm đà, tha thiết; “cay” lại gợi đau đớn, xót xa. Hai sắc thái ấy cùng tồn tại
trong một hình ảnh, giống như chính đời sống tình cảm: có yêu thương, có đắm
say nhưng cũng có tổn thương.
Đến câu:
“Ngỡ ngàng đứt gánh tơ hồng”
hình ảnh
“tơ hồng” đưa câu thơ vào trường liên tưởng về duyên phận. “Đứt gánh” là một
thành ngữ gợi sự dang dở. Đáng chú ý là tác giả dùng từ “ngỡ ngàng”. Nếu chỉ
nói “đứt gánh tơ hồng”, câu thơ mới dừng ở sự kiện. “Ngỡ ngàng” đưa vào đó trạng
thái tâm lý: sự bất ngờ, hụt hẫng trước biến cố.
Tuy nhiên, bài thơ không kết thúc ở bi kịch. Câu:
“Còn hai trái ngọt trời không phụ người”
đã tạo
nên sự chuyển hướng bất ngờ. Sau “cay nồng” là “trái ngọt”; sau “đứt gánh” là
“còn”. Từ “còn” ở đây có sức nâng đỡ rất lớn. Nó khẳng định rằng cuộc đời dù có
mất mát vẫn còn những giá trị không bị lấy đi.
Nếu “lá trầu” tượng trưng cho duyên tình, thì “hai
trái ngọt” có thể được hiểu như kết quả đẹp đẽ còn lại của một cuộc hôn nhân và
là những người con. Cách diễn đạt “trời không phụ người” mang màu sắc dân gian,
thể hiện một quan niệm khá đẹp: con người có thể gặp nghịch cảnh nhưng cuộc đời
không hoàn toàn khước từ họ.
Nhờ thế, phần thơ này không chỉ kể chuyện riêng của Trần
Hùng Thắng mà còn gợi một triết lý nhân sinh: đời sống luôn có sự đan xen giữa
mất mát và bù đắp, giữa cay đắng và ngọt ngào.
Hai
câu tiếp mở rộng chân dung sang một bình diện mới:
“Lên xe, xuống ngựa một thời
Khi
thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng”
“Lên xe, xuống ngựa” là hình ảnh giàu tính thành ngữ.
Nó có thể gợi những bước thăng trầm, những trải nghiệm của một đời người. Cụm từ
“một thời” lại khiến nhân vật hiện ra như người đã đi qua nhiều chặng đường.
Nhưng ngay sau đó, trí tưởng tượng của bài thơ được đẩy
lên cao:
“Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng”
“Địa phủ” và “cung Hằng” thuộc hai thế giới đối lập: một
bên là cõi âm, một bên là cung trăng. Việc đặt hai không gian ấy cạnh nhau tạo
nên sắc thái kỳ ảo, hài hước và phóng túng. Nhân vật không còn chỉ tồn tại
trong không gian đời thường mà bước vào một thế giới được mở rộng bởi trí tưởng
tượng nghệ sĩ.
Ở đây, Trần Mỹ Giống đã sử dụng một thủ pháp rất phù hợp
với thơ chân dung: phóng đại để làm nổi bật cá tính. Một người có thể “thăm địa
phủ”, “chơi cung Hằng” trong thơ chính là người có một đời sống tinh thần vượt
khỏi những giới hạn thông thường.
Hai câu kết:
“Tao nhân mặc khách đãi đằng
Túi
thơ bầu rượu kém chăng Đào Tiềm?”
đã
hoàn tất hình tượng.
“Tao nhân mặc khách” là cách gọi giàu tính văn hóa, chỉ
những con người sống trong thế giới của thơ ca, nghệ thuật, giao du và thú thưởng
ngoạn. Cụm từ “túi thơ bầu rượu” tiếp tục gợi hình ảnh văn nhân truyền thống:
thơ và rượu như hai biểu tượng của đời sống tinh thần tự do.
Câu hỏi “kém chăng Đào Tiềm?” có sắc thái vừa đùa vui
vừa ngợi ca. Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) là một biểu tượng quen thuộc của văn nhân
không màng danh lợi, yêu thích đời sống thanh đạm, thơ ca và rượu. Khi liên hệ
Trần Hùng Thắng với Đào Tiềm, tác giả đã đưa chân dung cá nhân vào một truyền
thống văn hóa rộng lớn hơn.
Điều quan trọng không nằm ở việc khẳng định hai con
người ngang nhau về tài năng hay vị trí văn học. Giá trị của liên tưởng nằm ở
phong thái sống. Trần Hùng Thắng được nhìn như một người lựa chọn thơ ca và tự
do tinh thần thay cho sự bon chen danh lợi. Đây chính là điểm kết tinh của toàn
bộ bài thơ.
Một
thành công quan trọng của bài thơ là việc lựa chọn thể lục bát. Lục bát vốn có
khả năng chuyển tải nhiều sắc thái: trang trọng, trữ tình, dân dã, hài hước. Với
một bài thơ chân dung, ưu thế này đặc biệt rõ.
Nhờ lục bát, những thông tin về cuộc đời nhân vật
không mang vẻ khô cứng của tiểu sử. Chúng được hòa vào nhịp kể tự nhiên. Người
đọc có cảm giác như đang nghe một người bạn kể về một người bạn khác bằng những
câu thơ có vần.
Bên cạnh đó, bài thơ sử dụng khá linh hoạt ngôn ngữ đời
thường và ngôn ngữ văn hóa. Những từ như “màng chi”, “thiết nào” đứng cạnh “Tả
Hãn Tướng Quân”, “tơ hồng”, “Đào Tiềm”, tạo ra sự đan xen giữa khẩu ngữ và điển
cố. Chính sự đan xen này làm nên sắc thái riêng của bài thơ.
Giọng điệu cũng có sự vận động rõ rệt. Đầu bài tương đối
trang trọng; giữa bài trữ tình, cảm thông; cuối bài chuyển sang hóm hỉnh, tài tử.
Sự vận động ấy tương ứng với quá trình khám phá nhân vật: từ lai lịch đến tài
năng, từ số phận đến phong thái.
Một
đặc điểm đáng chú ý khác là bài thơ được tổ chức bằng nhiều cặp đối lập: dòng
dõi / tài năng; kỹ sư / nhà thơ; quan chức / hư danh; cho đi / nhận về; muôn vạn
/ một; cay / ngọt; đứt / còn; - địa phủ / cung Hằng; đời thường / thế giới nghệ
thuật.
Những cặp đối lập này không chỉ làm câu thơ có nhịp điệu
mà còn tạo chiều sâu cho hình tượng.
Đặc biệt, cặp “cay – ngọt” và “đứt – còn” thể hiện khá
rõ quan niệm của tác giả về cuộc đời nhân vật. Không ai có một đời sống chỉ
toàn thuận lợi hay chỉ toàn mất mát. Con người được nhận diện trong chính khả
năng vượt qua những nghịch cảnh để giữ lại những giá trị có ý nghĩa.
Ở tầng sâu hơn, có thể thấy bài thơ xây dựng Trần Hùng
Thắng theo một cấu trúc vận động: từ cái bên ngoài đến cái bên trong, từ tiểu sử
đến tính cách, từ biến cố đến phong thái, từ một cá nhân đến hình tượng văn
nhân.
Trong
nhiều hình ảnh của bài thơ, “túi thơ bầu rượu” là hình ảnh cô đọng nhất cho
toàn bài. “Túi thơ” trước hết là tài năng và niềm say mê sáng tác. “Bầu rượu”
là thú vui, sự giao du và một cách sống mang màu sắc tài tử. Hai hình ảnh kết hợp
với nhau tạo thành một quan niệm về đời sống nghệ sĩ: thơ không phải thứ tồn tại
tách rời cuộc sống, mà nằm trong chính những cuộc gặp gỡ, những vui buồn, những
trải nghiệm và cả những thăng trầm của con người. Vì thế, “túi thơ bầu rượu”
cũng là hình ảnh biểu tượng cho sự tự do. Đó là sự tự do trước danh lợi, tự do
trong tưởng tượng và tự do trong việc lựa chọn giá trị sống. Đặt hình ảnh này
bên cạnh Đào Tiềm, tác giả đã hoàn tất một vòng liên tưởng. Từ Trần Hùng Thắng
của đời sống hiện đại, bài thơ quay về truyền thống văn nhân phương Đông để tìm
một mẫu hình tương ứng. Qua đó, nhân vật được đặt trong một dòng chảy văn hóa
lâu dài.
“Chân
dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” không phải là một bài thơ dài và cũng không đặt
tham vọng tái hiện đầy đủ toàn bộ cuộc đời nhân vật. Sức hấp dẫn của tác phẩm nằm
ở nghệ thuật chọn lọc và cô đọng.
Chỉ mười hai câu thơ, tác giả đã lựa chọn những chi tiết
có khả năng đại diện: dòng dõi, nghề nghiệp, tài thơ, thái độ trước danh lợi,
tình duyên, con cái, trải nghiệm và phong thái sống. Những dữ kiện ấy không đứng
riêng lẻ mà được kết nối bằng một giọng thơ vừa thân mật vừa hóm hỉnh.
Đặc biệt, bài thơ tránh được một nguy cơ thường gặp của
thơ viết chân dung: biến nhân vật thành một đối tượng được ca tụng một chiều.
Trần Hùng Thắng trong bài thơ có tài năng nhưng cũng có những mất mát; có niềm
tự hào nhưng cũng có cay đắng; có đời sống thực nhưng đồng thời có một thế giới
tưởng tượng rộng lớn. Chính sự đan xen ấy làm cho chân dung trở nên có chiều
sâu.
Đằng sau việc viết về một người bạn, tác giả cũng bộc
lộ một quan niệm về nhà thơ và đời sống nghệ sĩ. Nhà thơ chân chính không nhất
thiết được xác định bởi chức tước hay danh vị. Điều làm nên giá trị của họ là
khả năng sống bằng tâm hồn, giữ được tình yêu với văn chương và duy trì tự do
tinh thần trước những biến động của cuộc đời.
***
“Chân
dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống là một bài thơ ngắn nhưng có cấu
trúc chân dung khá hoàn chỉnh. Từ “Tả Hãn Tướng Quân” đến “túi thơ bầu rượu”,
tác giả đã dựng nên hình ảnh một con người vừa có nền tảng gia đình, vừa có tài
năng văn chương, từng trải qua những biến động của đời sống nhưng vẫn giữ được
phong thái nghệ sĩ.
Giá trị của bài thơ trước hết nằm ở sự chân thành của
cái nhìn. Trần Mỹ Giống không chỉ kể về Trần Hùng Thắng mà còn nhìn thấy phía
sau những dữ kiện tiểu sử một đời sống tinh thần. Những hình ảnh “lá trầu xanh
cay nồng”, “hai trái ngọt”, “địa phủ”, “cung Hằng”, thể thơ lục bát, ngôn ngữ
khẩu ngữ xen điển cố, các cặp hình ảnh đối lập, câu hỏi tu từ và liên tưởng đến
Đào Tiềm đã tạo “túi thơ bầu rượu” chuyển hóa cuộc đời cá nhân thành những biểu
tượng giàu sức gợi.
Về nghệ thuật, thể lục bát, ngôn ngữ khẩu ngữ xen điển
cố, các cặp hình ảnh đối lập, câu hỏi tu từ và liên tưởng đến Đào Tiềm đã tạo
nên giọng điệu riêng: vừa thân tình, vừa tài tử, vừa có chiều sâu suy tưởng.
Sau cùng, điều còn lại từ bài thơ không chỉ là chân
dung một nhà thơ cụ thể mà còn là hình ảnh một kiểu người nghệ sĩ: đi qua những
cay đắng của đời sống nhưng vẫn giữ được “túi thơ”, vẫn coi trọng tình người và
vẫn tìm thấy tự do trong thế giới của văn chương. Chính ở điểm ấy, bài thơ vượt
khỏi phạm vi một lời phác họa chân dung cá nhân để trở thành một suy ngẫm nhỏ về
nhà thơ, về số phận và về cách con người lựa chọn những giá trị để sống.
ChatGPT, TMH
Ảnh minh họa: Trần Hùng Thắng (Người cao bên phải) và Trần Mỹ
Giống.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét