Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

CHÂN DUNG MỘT “TAO NHÂN MẶC KHÁCH” QUA BÀI THƠ “CHÂN DUNG NHÀ THƠ TRẦN HÙNG THẮNG” CỦA TRẦN MỸ GIỐNG

 

       


 

       CHÂN DUNG NHÀ THƠ TRẦN HÙNG THẮNG


      Kính tặng nhà thơ Trần Hùng Thắng

 

      Vốn dòng Tả Hãn Tướng Quân(1)

 Hồn thêu nét bút, thơ văn dạt dào

      Kỹ sư lớp trước, tự hào

 Màng chi quan chức, thiết nào hư danh

      Cho đi muôn vạn nhánh cành

 Nhận về một lá trầu xanh cay nồng

      Ngỡ ngàng đứt gánh tơ hồng

 Còn hai trái ngọt trời không phụ người

      Lên xe, xuống ngựa một thời

 Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng

      Tao nhân mặc khách đãi đằng

 Túi thơ bầu rượu kém chăng Đào Tiềm(2)?

 

Trần Mỹ Giống

 ……………

Chú thích:

 (1) Tả Hãn tướng quân: tức cụ Trần Bá Khoản (tức Nghiễm) quê làng Trà Lũ. Cụ có sức khỏe hơn người, tinh thông võ nghệ, thường sử dụng thanh đao to bằng tàu lá chuối có cán bằng sắt luyện, hai người mới khênh nổi. Năm 1740 Trịnh Doanh thân chinh mộ quân đánh dẹp khởi nghĩa Ngân Già, cụ ứng mộ lập công lớn được phong Đô chỉ huy đồng tri cai hãn tả hùng hữu đẳng trung tiệp, kiêm chỉ huy đội thuyền tráng tiết tướng quân Nghiễm trung hầu, quan võ tứ phẩm triều Lê giữ chức thủy quân tứ cơ. Khi cụ giải giáp về quê, gia tư có hàng chục vạn. Dân gian có câu “Đệ nhất Thiêm Kì, Đệ nhì Hãn Tả” nói về sự giàu sang của cụ. Cuối thời Lê, kho nhà nước trống rỗng, triều đình quyên góp các xã, Trà Lũ phải nộp 80 vạn quan tiền, Cụ bỏ của nhà ra nộp thay dân làng. Hiện nay còn đền thờ quan Tả Hãn ở xã Xuân Trung (Xuân Trường – Nam Định). Con cháu cụ đều theo ngạch võ như: con trai cụ là Trần Đình Thạc làm Tham đốc vũ huân tướng quân, tước Trọng Nghĩa hầu; Cháu cụ là Trần Đình Lãm làm Đô chỉ huy sứ; Chắt, chút cụ có nhiều người đỗ Tú tài...

Nhà thơ Trần Hùng Thắng, bút danh HOÀI NGỌC ANH là hậu duệ của Tả Hãn Tướng quân. Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội khóa 9. Ra trường công tác ở Bộ Vật tư (nay là Bộ Công thương). Sau lần bị khốn khổ do viết truyện ngắn theo phương pháp sáng tác hiện thực phê phán, ông bỏ cơ quan về sống tự do và theo đuổi nghiệp thơ văn. Tác phẩm chính của ông là tập thơ “Trầu một lá”, ngoài ra còn hàng trăm bài đăng tạp chí và in trong nhiều tuyển thơ như “Hành Thiện tự ngàn xưa”, “Giáo sư Vũ Khiêu trong vòng tay bạn bè”, “Vũ Khiêu và bè bạn”, “Tuổi cao nêu gương sáng”…

Mảng thơ nổi nhất của ông là thơ tình. Thơ ông khi buồn não nuột, lúc say đắm dâng trào, có lúc như biển cả bão tố, có khi êm đềm dịu ngọt, sâu lắng như nước hồ lặng gió...

Tình duyên ông lận đận, bà vợ đầu là một y sĩ mà ông yêu sâu sắc đã bỏ ông vì “không chịu nổi cách sống văn nghệ sĩ” của ông. Ông có hai người con với bà vợ đầu (một trai và một gái đều thành đạt). Hiện ông sống cùng bà kế ở quê. Ông lấy việc thăm thú bạn bè, xướng họa thơ ca... làm vui.

(2) Đào Tiềm: tự Uyên Minh, người đời Tấn, nổi tiếng cao thượng, ham đọc sách, giỏi thơ văn, không màng danh lợi, an bần lạc đạo, lấy tiếng đàn, câu thơ, chén rượu làm vui...

 

       Lời bình của ChatGPT qua biên tập của Trần Mỹ Hạnh:

 

CHÂN DUNG MỘT TAO NHÂN MẶC KHÁCH

Qua bài thơ “Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống

 

       Trong đời sống văn học, thơ viết về một nhà thơ là một dạng sáng tác khá đặc biệt. Nếu thơ trữ tình thông thường hướng vào cái tôi của người viết, thì thơ chân dung lại có sự dịch chuyển điểm nhìn: cái tôi tác giả hướng sang một nhân vật khác để khám phá, ghi nhận và lý giải một đời sống tinh thần. Bởi vậy, một bài thơ chân dung thành công không đơn thuần là sự liệt kê những dữ kiện tiểu sử, mà phải biến những dữ kiện ấy thành hình tượng nghệ thuật, qua đó làm hiện lên một con người với tính cách, số phận, tài năng và quan niệm sống.

“Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống là một bài thơ như thế. Chỉ với mười hai câu lục bát, tác giả đã phác họa một chân dung khá toàn diện về Trần Hùng Thắng: từ nguồn gốc gia đình, nghề nghiệp, tài năng văn chương đến quan niệm về danh lợi, tình duyên và phong thái sống. Đằng sau những câu thơ ngắn gọn, có khi hóm hỉnh, là cái nhìn thân tình của một người viết đối với một người bạn trong đời sống văn chương.

Điều đáng chú ý là tác giả không xây dựng nhân vật theo kiểu một “tiểu sử bằng vần”. Những thông tin về cuộc đời được lựa chọn, cô đọng và chuyển hóa thành hình ảnh, biểu tượng, liên tưởng văn hóa. Nhờ đó, Trần Hùng Thắng hiện ra không chỉ như một cá nhân cụ thể mà còn như hình ảnh của một kiểu nhà thơ – một “tao nhân mặc khách” coi trọng thơ ca, tình bạn và đời sống tinh thần hơn danh vị, quyền lực.

                                  ***

       Bài thơ mở đầu bằng hai câu:

“Vốn dòng Tả Hãn Tướng Quân

       Hồn thêu nét bút, thơ văn dạt dào”

Cách mở đầu này có ý nghĩa tạo dựng “lai lịch tinh thần” cho nhân vật. “Tả Hãn Tướng Quân” trước hết gợi một truyền thống gia đình, một nguồn gốc có chiều sâu lịch sử. Nhưng điều đáng chú ý là tác giả không để nhân vật dừng lại ở cái bóng của tổ tiên. Sau một câu thơ nói về dòng dõi, câu tiếp theo lập tức chuyển sang “hồn” và “nét bút”.

Đây là sự chuyển đổi rất có ý nghĩa: từ nguồn gốc bên ngoài sang giá trị bên trong, từ huyết thống sang tâm hồn, từ truyền thống gia đình sang tài năng cá nhân. Nếu câu thơ đầu tạo cho nhân vật một nền tảng đáng tự hào thì câu thơ thứ hai mới thực sự xác định phẩm chất làm nên chân dung nhà thơ: “Hồn thêu nét bút”.

Động từ “thêu” được sử dụng khá đắt. Nhà thơ không chỉ “viết” mà “thêu” bằng “hồn”. Viết văn, làm thơ vì thế được hình dung như một công việc thủ công tinh tế, đòi hỏi sự chăm chút, nhưng đồng thời cũng là sự gửi gắm toàn bộ đời sống tâm hồn. “Thơ văn dạt dào” lại mở rộng hình tượng ấy: cảm hứng sáng tác không phải một hoạt động nhất thời mà là một dòng chảy liên tục.

Chỉ bằng hai câu, Trần Mỹ Giống đã tạo được hai nét cơ bản của nhân vật: có truyền thống và có tài năng. Nhưng quan trọng hơn, tác giả ngầm xác lập một thứ bậc giá trị: dòng dõi có thể tạo nên niềm tự hào, nhưng chính “hồn” và “nét bút” mới làm nên nhà thơ.

 

       Nếu hai câu đầu tạo dựng nền tảng của chân dung, thì hai câu:

“Kỹ sư lớp trước, tự hào

       Màng chi quan chức, thiết nào hư danh”

đã đi sâu vào quan niệm sống của nhân vật.

“Kỹ sư lớp trước” là một chi tiết có tính tiểu sử, nhưng được đưa vào thơ theo cách rất tự nhiên. Cụm từ “lớp trước” đồng thời gợi một thế hệ, một quá khứ nghề nghiệp và một chặng đường đời. Nhân vật từng bước vào đời bằng con đường khoa học – kỹ thuật, nhưng cuối cùng lại được người đời nhớ đến qua thơ ca.

       Đặc biệt, hai từ “màng chi” và “thiết nào” mang đậm sắc thái khẩu ngữ. Nếu thay bằng những từ ngữ trang trọng, câu thơ có thể trở nên nặng nề. Chính chất khẩu ngữ đã làm cho giọng thơ trở nên gần gũi, giống như lời một người bạn đang kể chuyện về bạn mình.

“Màng chi quan chức, thiết nào hư danh” cũng là một câu thơ quan trọng trong việc xác lập tính cách nhân vật. Ở đây, nhà thơ được nhìn từ thái độ đối với danh lợi. “Quan chức” và “hư danh” được đặt bên cạnh nhau như những giá trị mà nhân vật không lấy làm mục đích sống.

Cần lưu ý rằng đây không phải một lời tuyên ngôn triết học dài dòng. Tác giả chỉ dùng một câu thơ ngắn để gợi ra cả một cách sống. Chính sự cô đọng ấy làm nên hiệu quả của thơ chân dung.

Từ phương diện nghệ thuật, đây cũng là điểm gặp gỡ với hình tượng tao nhân mặc khách ở phần cuối bài. Nhân vật được định vị không phải bởi chức tước mà bởi thơ ca, bạn bè và đời sống tinh thần. Vì thế, “không màng quan chức” không chỉ là một nét tính cách cá nhân mà còn góp phần tạo nên phong thái nghệ sĩ của toàn bài.

 

       Bốn câu tiếp theo là phần giàu chất trữ tình nhất:

“Cho đi muôn vạn nhánh cành

       Nhận về một lá trầu xanh cay nồng

       Ngỡ ngàng đứt gánh tơ hồng

       Còn hai trái ngọt trời không phụ người”

Nếu bốn câu đầu chủ yếu thiên về giới thiệu và nhận diện nhân vật, thì đến đây bài thơ chuyển sang chiều sâu số phận.

Cấu trúc “cho đi – nhận về” tạo ra một thế đối lập. “Cho đi muôn vạn nhánh cành” gợi cảm giác rộng rãi, hào phóng, trao tặng nhiều. “Nhận về một lá trầu xanh cay nồng” lại thu hẹp không gian hình ảnh xuống một vật thể rất nhỏ: “một lá trầu”.

Sự đối lập về số lượng – “muôn vạn” và “một” – khiến câu thơ có sức gợi. Nhưng “lá trầu” không phải một hình ảnh ngẫu nhiên. Trong văn hóa Việt Nam, trầu cau gắn với tình yêu, hôn nhân, lễ nghĩa và duyên vợ chồng. Bởi vậy, “lá trầu xanh cay nồng” có thể được đọc ở cả nghĩa thực lẫn nghĩa biểu tượng. Nó vừa là hình ảnh của tình duyên, vừa gợi vị cay của những trải nghiệm tình cảm.

Từ “cay nồng” đặc biệt đáng chú ý. “Nồng” thường gợi sự đậm đà, tha thiết; “cay” lại gợi đau đớn, xót xa. Hai sắc thái ấy cùng tồn tại trong một hình ảnh, giống như chính đời sống tình cảm: có yêu thương, có đắm say nhưng cũng có tổn thương.

Đến câu:

“Ngỡ ngàng đứt gánh tơ hồng”

hình ảnh “tơ hồng” đưa câu thơ vào trường liên tưởng về duyên phận. “Đứt gánh” là một thành ngữ gợi sự dang dở. Đáng chú ý là tác giả dùng từ “ngỡ ngàng”. Nếu chỉ nói “đứt gánh tơ hồng”, câu thơ mới dừng ở sự kiện. “Ngỡ ngàng” đưa vào đó trạng thái tâm lý: sự bất ngờ, hụt hẫng trước biến cố.

Tuy nhiên, bài thơ không kết thúc ở bi kịch. Câu:

“Còn hai trái ngọt trời không phụ người”

đã tạo nên sự chuyển hướng bất ngờ. Sau “cay nồng” là “trái ngọt”; sau “đứt gánh” là “còn”. Từ “còn” ở đây có sức nâng đỡ rất lớn. Nó khẳng định rằng cuộc đời dù có mất mát vẫn còn những giá trị không bị lấy đi.

Nếu “lá trầu” tượng trưng cho duyên tình, thì “hai trái ngọt” có thể được hiểu như kết quả đẹp đẽ còn lại của một cuộc hôn nhân và là những người con. Cách diễn đạt “trời không phụ người” mang màu sắc dân gian, thể hiện một quan niệm khá đẹp: con người có thể gặp nghịch cảnh nhưng cuộc đời không hoàn toàn khước từ họ.

Nhờ thế, phần thơ này không chỉ kể chuyện riêng của Trần Hùng Thắng mà còn gợi một triết lý nhân sinh: đời sống luôn có sự đan xen giữa mất mát và bù đắp, giữa cay đắng và ngọt ngào.

 

       Hai câu tiếp mở rộng chân dung sang một bình diện mới:

“Lên xe, xuống ngựa một thời

       Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng”

“Lên xe, xuống ngựa” là hình ảnh giàu tính thành ngữ. Nó có thể gợi những bước thăng trầm, những trải nghiệm của một đời người. Cụm từ “một thời” lại khiến nhân vật hiện ra như người đã đi qua nhiều chặng đường.

Nhưng ngay sau đó, trí tưởng tượng của bài thơ được đẩy lên cao:

“Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng”

“Địa phủ” và “cung Hằng” thuộc hai thế giới đối lập: một bên là cõi âm, một bên là cung trăng. Việc đặt hai không gian ấy cạnh nhau tạo nên sắc thái kỳ ảo, hài hước và phóng túng. Nhân vật không còn chỉ tồn tại trong không gian đời thường mà bước vào một thế giới được mở rộng bởi trí tưởng tượng nghệ sĩ.

Ở đây, Trần Mỹ Giống đã sử dụng một thủ pháp rất phù hợp với thơ chân dung: phóng đại để làm nổi bật cá tính. Một người có thể “thăm địa phủ”, “chơi cung Hằng” trong thơ chính là người có một đời sống tinh thần vượt khỏi những giới hạn thông thường.

 

Hai câu kết:

“Tao nhân mặc khách đãi đằng

       Túi thơ bầu rượu kém chăng Đào Tiềm?”

đã hoàn tất hình tượng.

“Tao nhân mặc khách” là cách gọi giàu tính văn hóa, chỉ những con người sống trong thế giới của thơ ca, nghệ thuật, giao du và thú thưởng ngoạn. Cụm từ “túi thơ bầu rượu” tiếp tục gợi hình ảnh văn nhân truyền thống: thơ và rượu như hai biểu tượng của đời sống tinh thần tự do.

Câu hỏi “kém chăng Đào Tiềm?” có sắc thái vừa đùa vui vừa ngợi ca. Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) là một biểu tượng quen thuộc của văn nhân không màng danh lợi, yêu thích đời sống thanh đạm, thơ ca và rượu. Khi liên hệ Trần Hùng Thắng với Đào Tiềm, tác giả đã đưa chân dung cá nhân vào một truyền thống văn hóa rộng lớn hơn.

Điều quan trọng không nằm ở việc khẳng định hai con người ngang nhau về tài năng hay vị trí văn học. Giá trị của liên tưởng nằm ở phong thái sống. Trần Hùng Thắng được nhìn như một người lựa chọn thơ ca và tự do tinh thần thay cho sự bon chen danh lợi. Đây chính là điểm kết tinh của toàn bộ bài thơ.

 

       Một thành công quan trọng của bài thơ là việc lựa chọn thể lục bát. Lục bát vốn có khả năng chuyển tải nhiều sắc thái: trang trọng, trữ tình, dân dã, hài hước. Với một bài thơ chân dung, ưu thế này đặc biệt rõ.

Nhờ lục bát, những thông tin về cuộc đời nhân vật không mang vẻ khô cứng của tiểu sử. Chúng được hòa vào nhịp kể tự nhiên. Người đọc có cảm giác như đang nghe một người bạn kể về một người bạn khác bằng những câu thơ có vần.

Bên cạnh đó, bài thơ sử dụng khá linh hoạt ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ văn hóa. Những từ như “màng chi”, “thiết nào” đứng cạnh “Tả Hãn Tướng Quân”, “tơ hồng”, “Đào Tiềm”, tạo ra sự đan xen giữa khẩu ngữ và điển cố. Chính sự đan xen này làm nên sắc thái riêng của bài thơ.

Giọng điệu cũng có sự vận động rõ rệt. Đầu bài tương đối trang trọng; giữa bài trữ tình, cảm thông; cuối bài chuyển sang hóm hỉnh, tài tử. Sự vận động ấy tương ứng với quá trình khám phá nhân vật: từ lai lịch đến tài năng, từ số phận đến phong thái.

 

       Một đặc điểm đáng chú ý khác là bài thơ được tổ chức bằng nhiều cặp đối lập: dòng dõi / tài năng; kỹ sư / nhà thơ; quan chức / hư danh; cho đi / nhận về; muôn vạn / một; cay / ngọt; đứt / còn; - địa phủ / cung Hằng; đời thường / thế giới nghệ thuật.

Những cặp đối lập này không chỉ làm câu thơ có nhịp điệu mà còn tạo chiều sâu cho hình tượng.

Đặc biệt, cặp “cay – ngọt” và “đứt – còn” thể hiện khá rõ quan niệm của tác giả về cuộc đời nhân vật. Không ai có một đời sống chỉ toàn thuận lợi hay chỉ toàn mất mát. Con người được nhận diện trong chính khả năng vượt qua những nghịch cảnh để giữ lại những giá trị có ý nghĩa.

Ở tầng sâu hơn, có thể thấy bài thơ xây dựng Trần Hùng Thắng theo một cấu trúc vận động: từ cái bên ngoài đến cái bên trong, từ tiểu sử đến tính cách, từ biến cố đến phong thái, từ một cá nhân đến hình tượng văn nhân.

 

       Trong nhiều hình ảnh của bài thơ, “túi thơ bầu rượu” là hình ảnh cô đọng nhất cho toàn bài. “Túi thơ” trước hết là tài năng và niềm say mê sáng tác. “Bầu rượu” là thú vui, sự giao du và một cách sống mang màu sắc tài tử. Hai hình ảnh kết hợp với nhau tạo thành một quan niệm về đời sống nghệ sĩ: thơ không phải thứ tồn tại tách rời cuộc sống, mà nằm trong chính những cuộc gặp gỡ, những vui buồn, những trải nghiệm và cả những thăng trầm của con người. Vì thế, “túi thơ bầu rượu” cũng là hình ảnh biểu tượng cho sự tự do. Đó là sự tự do trước danh lợi, tự do trong tưởng tượng và tự do trong việc lựa chọn giá trị sống. Đặt hình ảnh này bên cạnh Đào Tiềm, tác giả đã hoàn tất một vòng liên tưởng. Từ Trần Hùng Thắng của đời sống hiện đại, bài thơ quay về truyền thống văn nhân phương Đông để tìm một mẫu hình tương ứng. Qua đó, nhân vật được đặt trong một dòng chảy văn hóa lâu dài.

 

       “Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” không phải là một bài thơ dài và cũng không đặt tham vọng tái hiện đầy đủ toàn bộ cuộc đời nhân vật. Sức hấp dẫn của tác phẩm nằm ở nghệ thuật chọn lọc và cô đọng.

Chỉ mười hai câu thơ, tác giả đã lựa chọn những chi tiết có khả năng đại diện: dòng dõi, nghề nghiệp, tài thơ, thái độ trước danh lợi, tình duyên, con cái, trải nghiệm và phong thái sống. Những dữ kiện ấy không đứng riêng lẻ mà được kết nối bằng một giọng thơ vừa thân mật vừa hóm hỉnh.

Đặc biệt, bài thơ tránh được một nguy cơ thường gặp của thơ viết chân dung: biến nhân vật thành một đối tượng được ca tụng một chiều. Trần Hùng Thắng trong bài thơ có tài năng nhưng cũng có những mất mát; có niềm tự hào nhưng cũng có cay đắng; có đời sống thực nhưng đồng thời có một thế giới tưởng tượng rộng lớn. Chính sự đan xen ấy làm cho chân dung trở nên có chiều sâu.

Đằng sau việc viết về một người bạn, tác giả cũng bộc lộ một quan niệm về nhà thơ và đời sống nghệ sĩ. Nhà thơ chân chính không nhất thiết được xác định bởi chức tước hay danh vị. Điều làm nên giá trị của họ là khả năng sống bằng tâm hồn, giữ được tình yêu với văn chương và duy trì tự do tinh thần trước những biến động của cuộc đời.

                                  ***

       “Chân dung nhà thơ Trần Hùng Thắng” của Trần Mỹ Giống là một bài thơ ngắn nhưng có cấu trúc chân dung khá hoàn chỉnh. Từ “Tả Hãn Tướng Quân” đến “túi thơ bầu rượu”, tác giả đã dựng nên hình ảnh một con người vừa có nền tảng gia đình, vừa có tài năng văn chương, từng trải qua những biến động của đời sống nhưng vẫn giữ được phong thái nghệ sĩ.

Giá trị của bài thơ trước hết nằm ở sự chân thành của cái nhìn. Trần Mỹ Giống không chỉ kể về Trần Hùng Thắng mà còn nhìn thấy phía sau những dữ kiện tiểu sử một đời sống tinh thần. Những hình ảnh “lá trầu xanh cay nồng”, “hai trái ngọt”, “địa phủ”, “cung Hằng”, thể thơ lục bát, ngôn ngữ khẩu ngữ xen điển cố, các cặp hình ảnh đối lập, câu hỏi tu từ và liên tưởng đến Đào Tiềm đã tạo “túi thơ bầu rượu” chuyển hóa cuộc đời cá nhân thành những biểu tượng giàu sức gợi.

Về nghệ thuật, thể lục bát, ngôn ngữ khẩu ngữ xen điển cố, các cặp hình ảnh đối lập, câu hỏi tu từ và liên tưởng đến Đào Tiềm đã tạo nên giọng điệu riêng: vừa thân tình, vừa tài tử, vừa có chiều sâu suy tưởng.

Sau cùng, điều còn lại từ bài thơ không chỉ là chân dung một nhà thơ cụ thể mà còn là hình ảnh một kiểu người nghệ sĩ: đi qua những cay đắng của đời sống nhưng vẫn giữ được “túi thơ”, vẫn coi trọng tình người và vẫn tìm thấy tự do trong thế giới của văn chương. Chính ở điểm ấy, bài thơ vượt khỏi phạm vi một lời phác họa chân dung cá nhân để trở thành một suy ngẫm nhỏ về nhà thơ, về số phận và về cách con người lựa chọn những giá trị để sống.

 

ChatGPT, TMH

 

Ảnh minh họa: Trần Hùng Thắng (Người cao bên phải) và Trần Mỹ Giống.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét