Khổng Tử sống cách chúng ta hơn hai nghìn năm; trong một thời đại mà vua chúa, tông tộc và trật tự trên dưới là nền móng của xã hội. Vì vậy, muốn nhìn Khổng Tử hôm nay, cần phân biệt tư tưởng của ông với thứ Nho giáo đã được các triều đại phong kiến tiếp nhận, mở rộng và sử dụng như một hệ thống đạo lý để giữ gìn trật tự cai trị.
Có những điều Khổng Tử nói vẫn còn nguyên giá trị.
“Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân”,người quân tử trước hết phải tự
xét mình, không đổ lỗi cho người khác. Tư tưởng tu thân ấy đến hôm nay vẫn đáng
trọng. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; biết giữ chữ tín, biết tự sửa mình, biết sống
có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, đó là những giá trị không thuộc riêng
một chế độ nào.
Từ đạo lý tu thân đến trật tự phong kiến là một bước
chuyển rất lớn. Nho giáo về sau xây dựng những quan hệ tôn ti như quân thần, phụ
tử, phu phụ; trong đó người dưới phải giữ bổn phận đối với người trên. Từ đây,
chữ “trung” có thể được đẩy từ lòng trung thành với nghĩa lý sang lòng trung
thành với vua, chúa. Câu “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”; thường được
người đời sau dùng để diễn tả thứ trung quân tuyệt đối ấy, dù không phải lời của
Khổng Tử trong Luận Ngữ. Khi một câu như vậy được đặt thành khuôn phép, mạng sống
của bề tôi dường như cũng có thể nằm trong bàn tay nhà vua.
Đối với phụ nữ, sự bất bình đẳng còn rõ hơn. “Tại gia
tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”: ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng,
chồng chết theo con. Quan niệm “tam tòng” này thuộc hệ thống lễ giáo Nho giáo về
sau và đã trở thành khuôn phép đối với phụ nữ trong xã hội phong kiến. “Công, dung, ngôn, hạnh” cũng từng được dùng
làm chuẩn mực giáo hóa phụ nữ. Một xã hội mà đàn ông có thể có nhiều vợ nhưng người
đàn bà góa lại bị xem là “thất tiết” nếu tái giá thì rõ ràng không thể đứng vững
trước nguyên tắc bình đẳng nam nữ ngày nay.
Đáng nói hơn, những tư tưởng tôn ti ấy từng rất có lợi
cho chế độ quân chủ. Khi dân chúng tin rằng vua là người ở trên, quan là người ở
giữa, dân là người ở dưới; khi trung thành được nâng thành đạo đức và phục tùng
được khoác chiếc áo lễ nghĩa. Quyền lực không chỉ có quân đội và luật lệ để bảo
vệ mà còn có cả một thứ “đạo lý” đứng phía sau. Bởi vậy, Nho giáo được các chế
độ phong kiến tôn sùng không chỉ vì nó dạy con người sống có đạo đức, mà còn vì
nó giúp xã hội giữ nguyên những vị trí mà quyền lực đã sắp đặt.
Ngày nay, những quan niệm tuyệt đối hóa vua tôi, cha
con, chồng vợ. Coi sự phục tùng người trên là phẩm chất đạo đức; đề cao trung
thành với một cá nhân hơn quyền sống và quyền tự quyết của con người đều đã lỗi
thời trước tư tưởng dân chủ và bình đẳng. Dân chủ không cần một ông vua thật tốt
để ban phát ân huệ. Dân chủ cần một thể chế trong đó ngay cả người tốt nhất
cũng không được đứng trên pháp luật.
Vì thế, cái còn của Khổng Tử và Nho Giáo nên được giữ
trong việc tu thân, trọng chữ tín, trọng nhân nghĩa, biết tự xét mình và biết sống
có trách nhiệm. Cái mất phải là những chiếc vòng tôn ti từng trói con người vào
thân phận. Một học thuyết cổ có thể soi sáng đạo làm người, nhưng không thể
dùng nó để khóa cánh cửa dân chủ. Bởi đạo đức chân chính phải làm cho con người
có phẩm giá hơn; nếu đạo đức bị dùng để bắt con người cúi đầu trước quyền lực,
thì khi ấy cái còn lại không còn là đạo nữa, mà chỉ là chiếc bóng của quyền lực
khoác áo đạo.
Việt Thắng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét