Người xưa có câu: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Đối với thơ ca, điều ấy càng đúng hơn. Một bài thơ hay không nằm ở số lượng chữ nghĩa được sử dụng, nó nằm ở khả năng cô đọng cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh trong một dung lượng ngắn gọn. Cho nên việc lựa chọn từ ngữ luôn là công việc quan trọng bậc nhất của người làm thơ.
Trong
thực tế, không ít bài thơ mắc phải một hạn chế khá phổ biến: Lạm dụng những từ
ngữ đã quá quen thuộc, đặc biệt là những từ Hán Việt mang tính sáo mòn hoặc những
cụm từ đã được dùng đi dùng lại qua nhiều thế hệ. Trong thơ Đường luật và một số
thể thơ chịu ảnh hưởng của thơ cổ, người đọc thường bắt gặp những từ như:
Phong, hoa, tuyết, nguyệt, cố hương, thiên nhai, ly biệt, sầu muộn, tri âm, hồng
nhan, khách lữ, trường giang, cô quạnh... Những từ ấy tự thân không có lỗi.
Trái lại, chúng từng góp phần tạo nên nhiều tác phẩm bất hủ. Tuy nhiên, khi người
viết chỉ quen lấy những chữ ấy ghép lại cho đúng niêm luật, đúng vần điệu mà
thiếu sự suy tư và sáng tạo, bài thơ dễ trở thành khuôn sáo.
Chẳng
hạn, những câu như:
Trường giang lặng chảy bóng tà dương,
Lữ khách thiên nhai dạ vấn vương.
Nghe
có vẻ cổ kính, nhưng nếu tách lớp âm hưởng bên ngoài ra, nội dung thực chất khá
mờ nhạt. Người đọc chỉ thấy những từ quen thuộc đứng cạnh nhau mà chưa cảm nhận
được một trải nghiệm riêng biệt nào của tác giả.
Ở
chiều ngược lại, cũng có những bài thơ lại rơi vào tình trạng quá dễ dãi trong
ngôn từ. Người viết nghĩ sao viết vậy, ghi lại cảm xúc một cách trực tiếp, thiếu
chọn lọc. Ví dụ:
Chiều nay tôi thấy buồn ghê
Ngồi ăn cơm nguội nhớ quê lệ nhòa.
Hoặc:
Thấy người đi chợ ngoài đường
Tự nhiên nhớ bạn nên buồn trong tâm
Những
câu như vậy có thể là cảm xúc thật, nhưng cảm xúc thật chưa đủ để thành thơ.
Giữa
cảm xúc và thi phẩm còn cần một quá trình gọt giũa, tinh luyện và tìm kiếm cách
biểu đạt mới mẻ hơn.
Nói
như vậy không có nghĩa rằng từ Hán Việt là dở, còn từ thuần Việt là hay. Giá trị
của thơ không nằm ở nguồn gốc của từ ngữ mà nằm ở cách sử dụng. Một chữ quen
thuộc, nếu đặt đúng chỗ, vẫn có thể tỏa sáng. Một chữ bình dị, nếu được chọn lọc
kỹ lưỡng, vẫn có thể tạo nên dư vị sâu xa. Điều quan trọng là người viết phải
vượt qua thói quen dùng những “lối mòn
ngôn ngữ”; không bằng lòng với những gì có sẵn.
Thơ
vốn là nghệ thuật của sự cô đọng. Mỗi chữ trong bài thơ nên mang một nhiệm vụ
riêng, không thừa, không nhạt. Một bài thơ thành công thường khiến người đọc phải
dừng lại suy nghĩ, phải ngẫm thêm sau khi đọc.
Ví dụ
hai câu thơ của Văn Thùy dị nhân:
Bóng ta đổ dưới chân ta
Cả đời ai đã bước qua bóng mình?
Hai
câu thơ dùng từ ngữ bình dị, nhưng ý nghĩa triết sâu sa. Khi người đọc xong và
phải suy ngẫm. Và tất nhiên chỉ đọc một lần không bao giờ họ quên. Đó cũng là
khi ngôn từ đã được chắt lọc đến mức tinh tế. Và có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối
với người làm thơ không phải là những lời khen ồn ào, mà là cái gật đầu lặng lẽ
của người đọc cùng một tiếng thốt lên từ đáy lòng: Hay!
Nói như lời lưu truyền Kim Thánh Thán đời
nhà Minh: Chỉ cần để cho đời một câu thơ
đã là toại nguyện. Tất nhiên những người cầm bút làm thơ, ai chả ước mong
được như câu của Kim Thánh Thán.
Việt Thắng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét