Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

CHẮT LỌC TỪ NGỮ TRONG THƠ / Việt Thắng

 



Người xưa có câu: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Đối với thơ ca, điều ấy càng đúng hơn. Một bài thơ hay không nằm ở số lượng chữ nghĩa được sử dụng, nó nằm ở khả năng cô đọng cảm xúc, tư tưởng và hình ảnh trong một dung lượng ngắn gọn. Cho nên việc lựa chọn từ ngữ luôn là công việc quan trọng bậc nhất của người làm thơ.

      Trong thực tế, không ít bài thơ mắc phải một hạn chế khá phổ biến: Lạm dụng những từ ngữ đã quá quen thuộc, đặc biệt là những từ Hán Việt mang tính sáo mòn hoặc những cụm từ đã được dùng đi dùng lại qua nhiều thế hệ. Trong thơ Đường luật và một số thể thơ chịu ảnh hưởng của thơ cổ, người đọc thường bắt gặp những từ như: Phong, hoa, tuyết, nguyệt, cố hương, thiên nhai, ly biệt, sầu muộn, tri âm, hồng nhan, khách lữ, trường giang, cô quạnh... Những từ ấy tự thân không có lỗi. Trái lại, chúng từng góp phần tạo nên nhiều tác phẩm bất hủ. Tuy nhiên, khi người viết chỉ quen lấy những chữ ấy ghép lại cho đúng niêm luật, đúng vần điệu mà thiếu sự suy tư và sáng tạo, bài thơ dễ trở thành khuôn sáo.

      Chẳng hạn, những câu như:

      Trường giang lặng chảy bóng tà dương,

      Lữ khách thiên nhai dạ vấn vương.

      Nghe có vẻ cổ kính, nhưng nếu tách lớp âm hưởng bên ngoài ra, nội dung thực chất khá mờ nhạt. Người đọc chỉ thấy những từ quen thuộc đứng cạnh nhau mà chưa cảm nhận được một trải nghiệm riêng biệt nào của tác giả.

      Ở chiều ngược lại, cũng có những bài thơ lại rơi vào tình trạng quá dễ dãi trong ngôn từ. Người viết nghĩ sao viết vậy, ghi lại cảm xúc một cách trực tiếp, thiếu chọn lọc. Ví dụ:

      Chiều nay tôi thấy buồn ghê

      Ngồi ăn cơm nguội nhớ quê lệ nhòa.

      Hoặc:

      Thấy người đi chợ ngoài đường

      Tự nhiên nhớ bạn nên buồn trong tâm

      Những câu như vậy có thể là cảm xúc thật, nhưng cảm xúc thật chưa đủ để thành thơ.

      Giữa cảm xúc và thi phẩm còn cần một quá trình gọt giũa, tinh luyện và tìm kiếm cách biểu đạt mới mẻ hơn.

      Nói như vậy không có nghĩa rằng từ Hán Việt là dở, còn từ thuần Việt là hay. Giá trị của thơ không nằm ở nguồn gốc của từ ngữ mà nằm ở cách sử dụng. Một chữ quen thuộc, nếu đặt đúng chỗ, vẫn có thể tỏa sáng. Một chữ bình dị, nếu được chọn lọc kỹ lưỡng, vẫn có thể tạo nên dư vị sâu xa. Điều quan trọng là người viết phải vượt qua thói quen dùng những “lối mòn ngôn ngữ”; không bằng lòng với những gì có sẵn.

      Thơ vốn là nghệ thuật của sự cô đọng. Mỗi chữ trong bài thơ nên mang một nhiệm vụ riêng, không thừa, không nhạt. Một bài thơ thành công thường khiến người đọc phải dừng lại suy nghĩ, phải ngẫm thêm sau khi đọc.

      Ví dụ hai câu thơ của Văn Thùy dị nhân:

      Bóng ta đổ dưới chân ta

      Cả đời ai đã bước qua bóng mình?

      Hai câu thơ dùng từ ngữ bình dị, nhưng ý nghĩa triết sâu sa. Khi người đọc xong và phải suy ngẫm. Và tất nhiên chỉ đọc một lần không bao giờ họ quên. Đó cũng là khi ngôn từ đã được chắt lọc đến mức tinh tế. Và có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với người làm thơ không phải là những lời khen ồn ào, mà là cái gật đầu lặng lẽ của người đọc cùng một tiếng thốt lên từ đáy lòng: Hay!

      Nói như lời lưu truyền Kim Thánh Thán đời nhà Minh: Chỉ cần để cho đời một câu thơ đã là toại nguyện. Tất nhiên những người cầm bút làm thơ, ai chả ước mong được như câu của Kim Thánh Thán.

 

      Việt Thắng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét