Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

NHÀ THƠ LÍ BẠCH



          Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ

          Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

Sách mới: NGUYÊN THANH : Thơ / Trần Hồng Giang



          Nhà thơ Trần Hồng Giang vừa trình làng cuốn sách mới xuất bản:




NGUYÊN THANH: Thơ / Trần Hồng Giang. – H.: Phụ Nữ, 2016. – 76 tr. : Nhiều tranh minh họa ; 17 cm.

SƯƠNG KHÓI MẶT NGƯỜI (Kì 4)

Nhà văn Phan Đạt Ninh
            Tiểu thuyết PHAN ĐẠT NINH

            Đã đăng:

          IV

          Sáng hôm sau Dũng chở Du đi chơi. Dũng muốn kiếm một chỗ vắng, tương đối yên tĩnh để trao đổi với Du được đầy đủ.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

LÁNG GIỀNG


Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên

Nguyễn Ngọc Kiên

“Lạnh lùng sao láng giềng ơi
Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều?”
Những mong gần gũi bao nhiêu
Tắt đèn tối lửa sớm chiều có nhau.
Bên tôi có lạnh nhạt đâu
Mà ai hờ hững rắc sầu sang tôi!

CHỌN TUỔI XÔNG ĐẤT NĂM ĐINH DẬU – 2017


KTS. Vũ Đình Phàm

KTS. Vũ Đình Phàm

Năm ĐINH DẬU - 2017
- Ngũ hành niên : HỎA ( Sơn hạ HỎA )
- Cửu tinh trực niên : Nhất bạch - Thủy tinh.
- Tiết Lập Xuân : Thời khắc chuyển tiết 22giờ35phút thứ Sáu ngày 3/02/2017, tức ngày 7 tháng Giêng năm Đinh Dậu.   

XUÂN HY KÝ SỰ NGUYỄN KIM TRÌ (Kì 1)


Luật sư Nguyễn Kim Trì

          Nguyễn Kim Trì

          Đi chợ

          Hồi còn bé không nhớ là mấy tuổi, tôi theo u tôi lên chợ Hành Thiện. Khi vào chợ thì có công chào, bên trên là ảnh Hồ Chủ tịch với lá cờ, cột tre luồng có dây bòng bong lá xanh cuốn xung quanh. Cổng thì lại chia làm đôi, một lối đi bình thường còn lối kia lại đổ nước với bùn đáng. Có một số người cầm cái mẹt đằng sau viết chữ, ai vào chợ cũng giơ ra hỏi, ai nói được thì cho đi cửa sạch mà họ nói với nhau là cửa sáng còn ai không nói được thì phải đi vào cửa có bùn đáng. U tôi cũng bị hỏi và bà nói được nên được đi vào cửa sáng và dắt tôi theo. Tôi hỏi thì u tôi bảo ai biết chữ thì được đi vào cửa sáng còn ai không biết chữ phai đi cửa tối, mày không đi học thì phải đi vào cửa tối đấy. Tôi hỏi chữ gì thì u tôi bảo chữ i tờ, tờ i ti, tao đọc được. Tôi thích thích nà, u mình biết chữ.

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

BÀI THƠ HỌ ĐINH



(Chi ông Đinh Văn Thứ thôn Phú Chử, xã Thanh Phú, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình)

Từ đường họ Đinh chi ông Đinh Văn Thứ thôn Phú Chử, xã Thanh Phú, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

  
功      本     祖    子    而    自    枝    丁
恩      固      考      孫      今    古      派      家
德      枝      前      後      富      唐      源      似
澤      長      人      世      渚      林      流      水
彩      傳      已      垂      社      人      世      水
光      世      紫      青      聲      發      世      滔
遥      世      袍      冕      髙      迹      豪      滔

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

VỚI LÃO… CÒM SĨ TRẦN NHƯƠNG



(Nhân kỉ niệm 10 năm trannhuong.net)

          Tản văn của Đinh Ba 
            (Nguyễn Ngọc Kiên)

          Ngày nào mình cũng vào trannhuong.com, đối với mình trang website này đã như một phần tất yếu cuộc sống. Cơm có thể mười ngày không ăn, nước có thể một tuần không uống chứ không thể một ngày không đọc trannhuong.com. Chủ của trang này cũng chính là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, họa sĩ Trần Nhương. Gần đây nghe nói lão còn là “lực sĩ” nữa. Kinh! Cái tên “lão Trần” là do lão tự nhận, mình cũng thích gọi lão như thế. Mặc dù về tuổi đời, lão cũng chỉ hơn mình từ ¾ đến ½ thế hệ mà thôi!

NGUYỄN THẾ VỴ - TIẾNG THƠ HỒN HẬU TÌNH QUÊ


Tác giả Nguyễn Thế Vỵ

          Nguyễn Mộng Nhưng
                                            
           Những người làm thơ, yêu thơ lớn tuổi ở Hải Hậu  đều biết Nguyễn Thế Vỵ, sinh năm 1946, quê xã Hải Phương (Hải Hậu, Nam Định), Cựu chiến binh QĐND Việt Nam, hội viên CLB thơ Quần Phương - một người có bề ngoài xuềnh xoàng, gầy yếu  dễ "nhoà" vào số đông, lại là người có nội lực sáng tạo văn học đầy đặn và đa dạng. Hiếm người đã gộp được nhiều "nhà" trong một "Nhà" như  ông.
          Còn có thể gọi ông là Nhà báo, nhà phê bình... bởi ông đã có hơn 100 tác phẩm báo chí, bao gồm: truyện ngắn, thơ, bình thơ, ghi chép, tạp văn, tiểu phẩm... đã đăng tải trên các báo, đài phát thanh địa phương và trung ương.
          Nguyễn Thế Vỵ là người có duyên với các cuộc thi viết về nhiều đề tài khác nhau do tỉnh Nam Định và các cơ quan Trung ương tổ chức. Ông đã đoạt Giải Ba cuộc thi về đề tài Dân số và KHH gia đình tỉnh Nam Định năm 2002, Giải Khuyến khích Bình thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam...
Nhưng đặc sắc nhất trong con người Nguyễn Thế Vỵ vẫn là phẩm chất của một Người thơ. Trong đó, phần lớn sáng tác thơ của ông là Lục bát. Một giọng Lục bát hồn hậu tình quê.
          Xin trân trọng giới thiệu một số bài thơ được nhiều người yêu thích của ông. 

Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố


Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên
                                  
TS Nguyễn Ngọc Kiên

          1) Khái niệm về thành ngữ
          Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu.
          Như vậy có thể hiểu thành ngữ là tổ hợp từ cố định, hoàn chỉnh, bền vững về hình thái - cấu trúc và bóng bẩy về ý nghĩa. Tức là nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc / và gợi cảm.

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

CHIỀU HỒ TÂY: Chùm thơ Trần Đăng Tính


Nhà thơ Trần Đăng Tính

           QUA HÀ NỘI

Đi qua Hà Nội một mùa xuân
Mưa dầm gió bấc rét nàng bân
Phố phường nườm nượp xe tuôn chảy
Người đi bươn trải ngoái ngại ngần...

Hà Nội mùa hè nắng rát lưng
Mưa rào ập đến nỗi lo mừng
Mặt trời nhăn nhó nhòm ai đó?
Phố hẹp người đông khó ung dung...

TÔI ĐI TẬP THỂ DỤC KARAOKE





          Từ khi tuyên bố treo bút nghiên cứu, tôi từ chối tham luận các cuộc hội thảo khoa học, các cuộc tham gia nghiệm thu phản biện khoa học, những lời mời thỉnh giảng... Việc viết lách chỉ còn dăm thì mười họa làm bài thơ, bài văn khi có hứng, đăng blog cho vui. Hầu hết thời gian tôi dành để đưa đón cháu đi học và giao lưu với bạn già.

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÁN) – Phần 2


Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên

          TS. Nguyễn Ngọc Kiên

(Tiếp theo và hết)
          4.4. Sử dụng so sánh tu từ biểu thị khoa trương
          (A) So sánh tu từ biểu thị khoa trương trong thành ngữ tiếng Việt
          Theo các tác giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú thì: “So sánh tu từ là sự đối chiếu về hai sự vật (về tính chất, trạng thái sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đó giống nhau. A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A. So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí”. (Dẫn theo[7, tr. 84])

Sách mới: ĐỒNG TIỀN NGHIỆT NGÃ : Tập truyện ngắn Vũ Việt Thắng



            Nhà thơ Vũ Việt Thắng, bút danh Việt Thắng, Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, vừa trình làng tác phẩm mới xuất bản:
             ĐỒNG TIỀN NGHIỆT NGÃ : Tập truyện ngắn / Vũ Việt Thắng. – H.” Hội Nhà văn, 2016. – 159 tr. ; 19 cm.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

THƠ VÕ TẮC THIÊN: Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ



            Chúng ta từng biết đến Võ Tắc Thiên武則天 (624-705), một hoàng đế khét tiếng trong lịch sử Trung Hoa. Võ Tắc Thiên còn có tên là Võ Chiếu 武曌, quê ở Văn Thuỷ (文水) quận Tinh Châu (幷州); nay thuộc thhành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây (山西. Năm 14 tuổi được tuyển vào cung, tên của bà ban đầu là cái tên không may mắn nên được Đường Thái Tông đổi tên thành Võ Mỵ Nương 武媚娘 khi bà còn làm Tài Nhân trong cung. Khi lên ngôi Hoàng đế bà đổi tên thành Võ Chiếu 武曌, chữ Chiếu trong tên bà vốn là chữ chiếu 照 nhưng để may mắn bà đã tự tạo chữ mới (nhật nguyệt đương không 日月當空) và là một trong những chữ trong Võ Hậu Tân tự. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã lập ra triều đại của riêng mình, nhà Võ Chu 武周, và cai trị dưới cái tên Thánh Thần Hoàng Đế 聖神皇帝 từ 690 đến 705.  

THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG HÁN) – Phần 1


Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên
                                           
TS Nguyễn Ngọc Kiên


          1 - Khái niệm thành ngữ tục ngữ

          Theo nhóm các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc / và gợi cảm.”
                                                               [1, tr.157]
          Theo “Từ điển giải thích ngôn ngữ học” thì: “Thành ngữ là cụm từ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.”
                                                     [12, tr.237]

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

GỬI CHÚ MỸ GIỐNG / Phạm Mạn – KÍNH TẶNG CỤ PHẠM MẠN / Trần Mỹ Giống

Tác giả Phạm Mạn
LÂU NGÀY GỬI CHÚ MỸ GIỐNG

Lang thang trên “net” vô tình
Gặp ai? Dung mạo như hình quen quen;
          Hay nhầm? ca sĩ giấu tên
Đang ca giọng hát bên em rỡ ràng!
          Giọng ca thổi gió xuân sang
Tấu cùng “Hoa đẹp” tình tang… tang tình!
          Nhìn lâu thì đúng, rõ hình
Là nhà nghiên cứu, cựu binh cổ thành:
          Văn thơ, sử liệu…, vốn rành
Giờ thêm ca hát, giọng thanh, giọng trầm…!
          Thôi thôi! Không thể nhận lầm;
“MỜ GỜ” chính xác cả trăm (%) “MỜ GỜ”!!! (1)

PHẠM MẠN

  (1) Trộm phép “đạo” văn phong Lãnh đạo!

MỘT LỖI BIÊN DỊCH THƠ TRONG CUỐN “THÀNH NAM ĐỊA DANH VÀ GIAI THOẠI”



            Nguyễn Quang Hoạt
Tác giả Nguyễn Quang Hoạt
Bài thơ “Hỗ giá Thiên Trường thư sự kỳ 2 - 扈駕天長書事其二” của Tiến sĩ – Nhà thơ Phạm Sư Mạnh và đôi điều bàn luận về việc sưu tầm biên dịch bài thơ của Cụ ở cuốn sách “Thành Nam – Địa danh và giai thoại” của Thành ủy – HĐND – UBND thành phố Nam Định, xuất bản năm 2012.


          I. Bài dịch của tác giả:
          Phạm Sư Mạnh - tên thật là Phạm Độ, tự Nghĩa Phu, hiệu Úy Trai, biệt hiệu Hiệp Thạch (Ngày sinh, ngày mất của cụ không rõ); làm quan nhà Trần qua 3 đời vua: Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông được vua Trần đổi tên là Phạm Sư Mạnh. Ông được cử làm: Chưởng bạ thư kiêm khu mật tham chính (1346). Nhập nội hành khiển tri khu mật viện sự (1358), Hành khiển tả tư lang trung (1359), Tri khu mật viện sự (1362), rồi thăng lên chức Nhập nội nạp ngôn.

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

LỐI CŨ / Chu Đình An – EM HÓT / Lê Mai


Nhà thơ Lê Mai

EM HÓT

Em hót: Vườn hoa
Anh thấy: Bãi tha ma
Em hót đi hót lại: Vườn hoa
Anh thấy: Bạt ngàn mộ nở,
                                     E ấp nắp quan tài!

Em hót: Sao Mai
Anh thấy: Nhờn nhợt sáng
Em hót đi hót lại: Sao Mai
Anh thấy: Đom đóm nhòe nhấp nháy
                                    Chập chờn ánh lửa ma trơi
Đến ngày mai Em khản giọng
Anh hốt hoảng hoang mang: Trước ngàn hoa,                
                                                     trước bạt ngàn sao sáng.

Lê Mai

TÚ XƯƠNG VỚI THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THUẦN VIỆT

Lê Văn Hy


Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

NGUYỄN NGỌC KIÊN DỊCH THƠ VƯƠNG DUY


                 
            Vương Duy (701-761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng. Ông cũng là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật giáo có Duy Ma Cật kinh, là kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho môn sinh. Vương Duy là người kính trọng Duy-ma-cật do ông có tên là Duy, tự là Ma Cật.

Tấm chăn của lính – Khoảng trời riêng ai: Chùm thơ Lưu Tuấn Hùng


Nhà văn Lưu Tuấn Hùng

TẤM CHĂN CỦA LÍNH

          Hai thằng đắp một tấm chăn
Đêm đông rừng lạnh tao giằng mày co
          Đắp dọc lưng hở bị ho
Đắp ngang duỗi thẳng, chân thò ngoài chăn
          Suốt đêm ngang dọc nhùng nhằng
Cuộc thi co kéo tấm chăn đều vừa

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

THƠ VŨ CHÍ THÀNH


Nhà thơ Đặng Quốc Việt

          Nhân đọc tập “20 năm một chặng đường”     
 (C.L.B.Thơ Long An – NXB  Thanh niên – 2014.)

          Đặng Quốc Việt

          Tôi và Thành chia tay nhau từ năm 1965, khi học xong Cấp 3 Xuân Trường (Nam Định), trong tâm trạng của hai kẻ cùng xao xuyến về một người bạn gái nào đó, hoặc có khi cùng nhớ nhung nhiều bạn gái cũng nên!? (Tất nhiên vẫn nhớ thầy, nhớ bạn, nuối tiếc ngôi trường nhiều kỉ niệm cháy lòng!). Tôi theo học Bách Khoa, còn Thành nhập ngũ, rồi vào chiến trường B!

KHOA TRƯƠNG TRONG CA DAO CỦA NGƯỜI VIỆT



Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên

           TS. Nguyễn Ngọc Kiên


          1. Khái niệm về ca dao

          Ca dao được Từ điển tiếng Việt [8 , tr. 96] giải thích như sau: “Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định”.
          Các tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên [1, tr. 304] cho rằng: “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú”. Hai ông còn giải thích thêm: “Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời ca các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca”.
          Theo từ nguyên, ca dao là một từ Hán-Việt, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu dùng để hát hoặc ngâm; dao là bài hát ngắn độ một vài câu. Ca dao là một bộ phận lớn của nền Văn học dân gian Việt Nam thường để diễn tả sinh hoạt cũng như đời sống nội tâm con người.                                     

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

NHỮNG LÁT CẮT CUỘC SỐNG (1 – 2)



          -1-

          Ông chủ tịch:
          - Mấy năm nay không thấy bài của bác trên Tạp chí nhà. Bác phải có trách nhiệm với Tạp chí Hội mình. Bác gửi bài cho Tạp chí nhé!
          - Tôi gửi nhiều bài rồi, có được đăng bài nào đâu!
          - Bác gửi lại cho em ngay nhé.
          Sau khi đọc bài của tôi, ông Chủ tịch bảo:
          - Tổng biên tập này kém quá. Bài của bác hay thế này mà lại không dùng. Em sẽ chỉ đạo Tổng biên tập đăng bài của bác ngay số này.
          Một thời gian sau, Tổng biên tập đến tận nhà tôi, nói:
          - Bác thông cảm, em không dùng bài của bác vào số này được ạ.
          - Tại sao?
          - Chủ tịch lệnh cho em loại bài của bác để đăng bài của một người khác...


ĐI GIỮA CÔN ĐẢO: Bút ký của Đào Vĩnh



 
Tác giả bên mộ Võ Thị Sáu ở nghĩa trang Hàng Dương
           Có người đã ví Côn Đảo như một giọt mực rơi trên bản đồ Tổ quốc. Với tôi, địa danh này trong tâm thức từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông qua tập truyện “Vượt Côn Đảo” của nhà thơ Phùng Quán. Thế nên, mơ ước một lần được đặt chân đến đây không khi nào nguôi ngoai trong năm tháng dằng dặc cuộc đời mình. Và điều ấy đã thành hiện thực, cho dù “Tôi đến chậm dẫu lòng không nấn ná” ( thơ - Phạm Ngọc Cảnh). 

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ / Hạ Tri Chương



          Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ

            Tiểu sử: Hạ Tri Chương (賀知章; 659 - 744), tự Quý Chân, khi từ quan về làng tự xưng là Cuồng Khách, là nhà thơ đời Đường, người Cối Kê, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ vào năm 695, được bổ làm Thái thường bác sĩ. Trong thời Khai Nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.
            Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại hai mươi bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
            (Theo Wikipedia)

GỎI CÁ MÈ LÀNG XUÂN HY



          Nguyễn Kim Trì

          Có một học giả, người Hà Nội xịn, cụ này là bố vợ anh bạn tôi, ngồi tù hơn chục năm vì nhân văn giai phẩm, lúc ấy cụ rất nghèo nên tôi mới được đến nhà và được hầu chuyện, cụ nói: “Kể mà miếng ngon nhớ lâu ở đời này thì tôi phải tính đến hồi tản cư kháng chiến hai năm bốn tháng, ăn gỏi cá mè sống ở nhà cụ hàn Xinh làng Hoành Nha”. Tôi xin nói về gỏi cá mè ở làng tôi hầu mọi người, làng  Hoành Nha ở mạn Giao Thủy, cách làng tôi mấy làng. Cũng là để ôn lại ngày xưa.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

SƯƠNG KHÓI MẶT NGƯỜI (Kì 3)



            Tiểu thuyết PHAN ĐẠT NINH

            Đã đăng:

          3

          Gửi con bên nhà bác cả, sáng nay vợ chồng Du cuốc bộ mấy cây số ra ga tàu. Cái ga nhỏ bé ở một vùng bán sơn địa thưa thớt người. Hành trang Du đem đi là một ba lô đựng hai bộ quần áo, gói cơm nếp, cái điếu cày, một chai nước và túi lạc nhân làm quà cho Dũng.

“Khi anh chết” thơ Lê Mai qua lời bình Nguyễn Ngọc Kiên


Nhà thơ Lê Mai

         KHI ANH CHẾT

Khi anh chết, anh vẫn còn thấy đói
Anh nhìn tôi như hỏi: Có còn gì?
Mắt lệ nhòa, tôi còn biết nói chi
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!

Khi anh chết anh vẫn còn muốn nói
Tâm sự gì với vòi vọi trời cao?
Gió thương anh nên cố sức phều phào
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!