Lý
Bạch 李白
(701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh,
nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây
ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học
đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi
"chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi
Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi
Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc
khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô
Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng"
nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.
Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016
Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016
Sách mới: NGUYÊN THANH : Thơ / Trần Hồng Giang
Nhà thơ Trần Hồng Giang vừa trình làng cuốn sách mới xuất
bản:
NGUYÊN THANH: Thơ / Trần Hồng Giang. –
H.: Phụ Nữ, 2016. – 76 tr. : Nhiều tranh minh họa ; 17 cm.
SƯƠNG KHÓI MẶT NGƯỜI (Kì 4)
Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016
LÁNG GIỀNG
CHỌN TUỔI XÔNG ĐẤT NĂM ĐINH DẬU – 2017
XUÂN HY KÝ SỰ NGUYỄN KIM TRÌ (Kì 1)
![]() |
| Luật sư Nguyễn Kim Trì |
Nguyễn Kim Trì
Đi
chợ
Hồi
còn bé không nhớ là mấy tuổi, tôi theo u tôi lên chợ Hành Thiện. Khi vào chợ
thì có công chào, bên trên là ảnh Hồ Chủ tịch với lá cờ, cột tre luồng có dây
bòng bong lá xanh cuốn xung quanh. Cổng thì lại chia làm đôi, một lối đi bình
thường còn lối kia lại đổ nước với bùn đáng. Có một số người cầm cái mẹt đằng
sau viết chữ, ai vào chợ cũng giơ ra hỏi, ai nói được thì cho đi cửa sạch mà họ
nói với nhau là cửa sáng còn ai không nói được thì phải đi vào cửa có bùn đáng.
U tôi cũng bị hỏi và bà nói được nên được đi vào cửa sáng và dắt tôi theo. Tôi
hỏi thì u tôi bảo ai biết chữ thì được đi vào cửa sáng còn ai không biết chữ
phai đi cửa tối, mày không đi học thì phải đi vào cửa tối đấy. Tôi hỏi chữ gì
thì u tôi bảo chữ i tờ, tờ i ti, tao đọc được. Tôi thích thích nà, u mình biết
chữ.
Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016
BÀI THƠ HỌ ĐINH
Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016
VỚI LÃO… CÒM SĨ TRẦN NHƯƠNG
Tản
văn của Đinh Ba
(Nguyễn Ngọc Kiên)
Ngày
nào mình cũng vào trannhuong.com, đối với mình trang website này đã như một phần
tất yếu cuộc sống. Cơm có thể mười ngày không ăn, nước có thể một tuần không uống
chứ không thể một ngày không đọc trannhuong.com. Chủ của trang này cũng chính
là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, họa sĩ Trần Nhương. Gần đây nghe nói lão còn là
“lực sĩ” nữa. Kinh! Cái tên “lão Trần” là do lão tự nhận, mình cũng thích gọi
lão như thế. Mặc dù về tuổi đời, lão cũng chỉ hơn mình từ ¾ đến ½ thế hệ mà
thôi!
NGUYỄN THẾ VỴ - TIẾNG THƠ HỒN HẬU TÌNH QUÊ
![]() |
| Tác giả Nguyễn Thế Vỵ |
Nguyễn Mộng Nhưng
Những
người làm thơ, yêu thơ lớn tuổi ở Hải Hậu đều biết Nguyễn Thế Vỵ, sinh
năm 1946, quê xã Hải Phương (Hải Hậu, Nam Định), Cựu
chiến binh QĐND Việt Nam, hội viên CLB thơ Quần Phương - một người có bề ngoài
xuềnh xoàng, gầy yếu dễ "nhoà" vào số đông, lại là người có
nội lực sáng tạo văn học đầy đặn và đa dạng. Hiếm người đã gộp được nhiều
"nhà" trong một "Nhà" như ông.
Còn
có thể gọi ông là Nhà báo, nhà phê bình... bởi ông đã có hơn 100 tác phẩm báo
chí, bao gồm: truyện ngắn, thơ, bình thơ, ghi chép, tạp văn, tiểu phẩm... đã
đăng tải trên các báo, đài phát thanh địa phương và trung ương.
Nguyễn Thế Vỵ là người có duyên với các
cuộc thi viết về nhiều đề tài khác nhau do tỉnh Nam Định và các cơ quan Trung ương
tổ chức. Ông đã đoạt Giải Ba cuộc thi về đề tài Dân số và
KHH gia đình tỉnh Nam Định
năm 2002, Giải Khuyến khích Bình thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam...
Nhưng
đặc sắc nhất trong con người Nguyễn Thế Vỵ vẫn là phẩm chất của một Người thơ.
Trong đó, phần lớn sáng tác thơ của ông là Lục bát. Một giọng Lục bát hồn hậu
tình quê.
Xin trân trọng giới thiệu một số bài thơ
được nhiều người yêu thích của ông.
Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố
![]() |
| Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên |
TS Nguyễn Ngọc Kiên
1) Khái
niệm về thành ngữ
Thành
ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một
chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu
thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong
câu.
Như
vậy có thể hiểu thành ngữ là tổ hợp từ cố định, hoàn chỉnh, bền vững về hình
thái - cấu trúc và bóng bẩy về ý nghĩa. Tức là nghĩa của chúng có tính hình tượng
hoặc / và gợi cảm.
Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016
CHIỀU HỒ TÂY: Chùm thơ Trần Đăng Tính
TÔI ĐI TẬP THỂ DỤC KARAOKE
Từ
khi tuyên bố treo bút nghiên cứu, tôi từ chối tham luận các cuộc hội thảo khoa
học, các cuộc tham gia nghiệm thu phản biện khoa học, những lời mời thỉnh
giảng... Việc viết lách chỉ còn dăm thì mười họa làm bài thơ, bài văn khi có
hứng, đăng blog cho vui. Hầu hết thời gian tôi dành để đưa đón cháu đi học và
giao lưu với bạn già.
Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016
THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÁN) – Phần 2
![]() |
| Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên |
TS.
Nguyễn Ngọc Kiên
(Tiếp theo và hết)
4.4. Sử dụng so sánh tu từ biểu thị khoa trương
(A)
So sánh tu từ biểu thị khoa trương trong thành ngữ tiếng Việt
Theo các tác giả Đinh Trọng
Lạc, Cù Đình Tú thì: “So sánh tu từ là sự
đối chiếu về hai sự vật (về tính chất, trạng thái sự việc) A và B cùng có một dấu
hiệu chung nào đó giống nhau. A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết
A hoặc hiểu thêm về A. So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự
so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là một nét tương đồng
nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí”. (Dẫn theo[7, tr. 84])
Sách mới: ĐỒNG TIỀN NGHIỆT NGÃ : Tập truyện ngắn Vũ Việt Thắng
Nhà thơ Vũ Việt Thắng, bút danh Việt
Thắng, Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, vừa trình làng tác phẩm mới
xuất bản:
ĐỒNG TIỀN NGHIỆT NGÃ : Tập truyện
ngắn / Vũ Việt Thắng. – H.” Hội Nhà văn, 2016. – 159 tr. ; 19 cm.
Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016
THƠ VÕ TẮC THIÊN: Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ
Chúng
ta từng biết đến Võ Tắc Thiên武則天 (624-705), một hoàng đế
khét tiếng trong lịch sử Trung Hoa. Võ Tắc Thiên còn có tên là Võ Chiếu 武曌,
quê ở Văn Thuỷ (文水) quận Tinh Châu (幷州);
nay thuộc thhành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây (山西.
Năm 14 tuổi được tuyển vào cung, tên của bà ban đầu là cái tên không may mắn
nên được Đường Thái Tông đổi tên thành Võ Mỵ Nương 武媚娘
khi bà còn làm Tài Nhân trong cung. Khi lên ngôi Hoàng đế bà đổi tên thành Võ
Chiếu 武曌,
chữ Chiếu trong tên bà vốn là chữ chiếu 照 nhưng để may mắn bà đã
tự tạo chữ mới (nhật nguyệt đương không 日月當空) và là một trong những
chữ trong Võ Hậu Tân tự. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã lập
ra triều đại của riêng mình, nhà Võ Chu 武周, và cai trị dưới cái
tên Thánh Thần Hoàng Đế 聖神皇帝 từ 690 đến 705.
THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI THÀNH NGỮ KHOA TRƯƠNG TRONG TIẾNG HÁN) – Phần 1
![]() |
| Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên |
TS Nguyễn Ngọc Kiên
1
- Khái niệm thành ngữ tục ngữ
Theo
nhóm các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì: “Thành ngữ
là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính
hình tượng hoặc / và gợi cảm.”
[1,
tr.157]
Theo “Từ điển giải thích
ngôn ngữ học” thì: “Thành ngữ là cụm từ cố
định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý
nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có
nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.”
[12, tr.237]
Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016
GỬI CHÚ MỸ GIỐNG / Phạm Mạn – KÍNH TẶNG CỤ PHẠM MẠN / Trần Mỹ Giống
![]() |
| Tác giả Phạm Mạn |
LÂU NGÀY GỬI
CHÚ MỸ GIỐNG
Lang thang trên “net” vô tình
Gặp
ai? Dung mạo như hình quen quen;
Hay
nhầm? ca sĩ giấu tên
Đang
ca giọng hát bên em rỡ ràng!
Giọng
ca thổi gió xuân sang
Tấu
cùng “Hoa đẹp” tình tang… tang tình!
Nhìn
lâu thì đúng, rõ hình
Là
nhà nghiên cứu, cựu binh cổ thành:
Văn
thơ, sử liệu…, vốn rành
Giờ
thêm ca hát, giọng thanh, giọng trầm…!
Thôi
thôi! Không thể nhận lầm;
“MỜ
GỜ” chính xác cả trăm (%) “MỜ GỜ”!!! (1)
PHẠM MẠN
(1) Trộm phép “đạo” văn phong Lãnh đạo!
MỘT LỖI BIÊN DỊCH THƠ TRONG CUỐN “THÀNH NAM ĐỊA DANH VÀ GIAI THOẠI”
Nguyễn Quang Hoạt
![]() |
| Tác giả Nguyễn Quang Hoạt |
Bài thơ “Hỗ giá
Thiên Trường thư sự kỳ 2 - 扈駕天長書事其二” của Tiến sĩ – Nhà thơ Phạm Sư Mạnh và đôi điều bàn luận
về việc sưu tầm biên dịch bài thơ của Cụ ở cuốn sách “Thành Nam – Địa danh và
giai thoại” của Thành ủy – HĐND – UBND thành phố Nam Định, xuất bản năm 2012.
I. Bài dịch của tác giả:
Phạm
Sư Mạnh - tên thật là Phạm Độ, tự Nghĩa Phu, hiệu Úy Trai, biệt
hiệu Hiệp Thạch (Ngày sinh, ngày mất của cụ không rõ); làm quan nhà Trần qua
3 đời vua: Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông được vua Trần đổi tên
là Phạm Sư Mạnh. Ông được cử làm: Chưởng bạ thư kiêm khu mật tham chính (1346). Nhập nội hành khiển
tri khu mật viện sự (1358),
Hành khiển tả tư lang trung (1359), Tri khu mật viện sự (1362), rồi thăng lên chức
Nhập nội nạp ngôn.
Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016
LỐI CŨ / Chu Đình An – EM HÓT / Lê Mai
![]() |
| Nhà thơ Lê Mai |
EM HÓT
Em hót: Vườn hoa
Anh thấy: Bãi tha ma
Em hót đi hót lại: Vườn hoa
Anh thấy: Bạt ngàn mộ nở,
E ấp nắp
quan tài!
Em hót: Sao Mai
Anh thấy: Nhờn nhợt sáng
Em hót đi hót lại: Sao Mai
Anh thấy: Đom đóm nhòe nhấp
nháy
Chập chờn
ánh lửa ma trơi
Đến ngày mai Em khản giọng
Anh hốt hoảng hoang mang: Trước
ngàn hoa,
trước bạt ngàn sao sáng.
Lê Mai
Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016
NGUYỄN NGỌC KIÊN DỊCH THƠ VƯƠNG DUY
Vương Duy (701-761), tự Ma Cật, người
huyện Kỳ, Tấn
Trung, Sơn Tây, Trung
Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ,
một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch
(Thi Tiên) và Đỗ
Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay
còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã.
Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng.
Ông cũng là người tinh thông về Phật
học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật
giáo có Duy Ma Cật kinh, là kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho
môn sinh. Vương Duy là người kính trọng Duy-ma-cật do ông có tên là Duy, tự là
Ma Cật.Tấm chăn của lính – Khoảng trời riêng ai: Chùm thơ Lưu Tuấn Hùng
Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016
THƠ VŨ CHÍ THÀNH
![]() |
| Nhà thơ Đặng Quốc Việt |
Nhân
đọc tập “20 năm một chặng đường”
(C.L.B.Thơ
Long An – NXB Thanh niên – 2014.)
Đặng Quốc Việt
Tôi và Thành chia tay nhau từ năm 1965, khi học xong Cấp 3 Xuân Trường (Nam Định), trong tâm trạng của hai kẻ cùng xao xuyến về một người bạn gái nào đó, hoặc có khi cùng nhớ nhung nhiều bạn gái cũng nên!? (Tất nhiên vẫn nhớ thầy, nhớ bạn, nuối tiếc ngôi trường nhiều kỉ niệm cháy lòng!). Tôi theo học Bách Khoa, còn Thành nhập ngũ, rồi vào chiến trường B!
KHOA TRƯƠNG TRONG CA DAO CỦA NGƯỜI VIỆT
![]() |
| Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên |
TS. Nguyễn Ngọc Kiên
1. Khái niệm về ca dao
Ca
dao được Từ điển tiếng Việt [8 ,
tr. 96] giải thích như sau: “Thơ ca dân
gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định”.
Các
tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên [1,
tr. 304] cho rằng: “Ca dao là những
bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát và phong
phú”. Hai ông còn giải thích thêm: “Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời ca các bài dân ca đã tước
bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược
lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca”.
Theo
từ nguyên, ca dao là một từ Hán-Việt, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu
dùng để hát hoặc ngâm; dao là bài hát ngắn độ một vài câu. Ca dao là một bộ phận
lớn của nền Văn học dân gian Việt Nam thường để diễn tả sinh hoạt cũng như đời sống nội
tâm con người.
Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016
NHỮNG LÁT CẮT CUỘC SỐNG (1 – 2)
Ông chủ tịch:
-
Mấy năm nay không thấy bài của bác trên Tạp chí nhà. Bác phải có trách nhiệm
với Tạp chí Hội mình. Bác gửi bài cho Tạp chí nhé!
- Tôi gửi nhiều bài rồi, có được đăng bài nào đâu!
- Bác gửi lại cho em ngay nhé.
Sau khi đọc bài của tôi, ông Chủ tịch bảo:
- Tổng biên tập này kém quá. Bài của bác hay thế này mà lại
không dùng. Em sẽ chỉ đạo Tổng biên tập đăng bài của bác ngay số này.
Một thời gian sau, Tổng biên tập đến tận nhà tôi, nói:
- Bác thông cảm, em không dùng bài của bác vào số này được
ạ.
- Tại sao?
- Chủ tịch lệnh cho em loại bài của bác để đăng bài của một
người khác...
ĐI GIỮA CÔN ĐẢO: Bút ký của Đào Vĩnh
Có người đã ví Côn Đảo như một giọt mực
rơi trên bản đồ Tổ quốc. Với tôi, địa danh này trong tâm thức từ khi còn đang
ngồi trên ghế nhà trường phổ thông qua tập truyện “Vượt Côn Đảo” của nhà thơ
Phùng Quán. Thế nên, mơ ước một lần được đặt chân đến đây không khi nào nguôi
ngoai trong năm tháng dằng dặc cuộc đời mình. Và điều ấy đã thành hiện thực,
cho dù “Tôi đến chậm dẫu lòng không nấn ná” ( thơ - Phạm Ngọc Cảnh).
Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016
HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ / Hạ Tri Chương
Tiểu sử: Hạ Tri Chương (賀知章;
659 - 744), tự Quý Chân, khi từ quan về làng tự xưng là Cuồng Khách, là nhà thơ
đời Đường, người Cối Kê, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ vào năm 695,
được bổ làm Thái thường bác sĩ. Trong thời Khai Nguyên, đời vua Đường Huyền
Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân
khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.
Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại hai mươi bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
(Theo Wikipedia)
Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Ông là bạn vong niên với Lý Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại hai mươi bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
(Theo Wikipedia)
GỎI CÁ MÈ LÀNG XUÂN HY
Có
một học giả, người Hà Nội xịn, cụ này là bố vợ anh bạn tôi, ngồi tù hơn chục
năm vì nhân văn giai phẩm, lúc ấy cụ rất nghèo nên tôi mới được đến nhà và được
hầu chuyện, cụ nói: “Kể mà miếng ngon nhớ
lâu ở đời này thì tôi phải tính đến hồi tản cư kháng chiến hai năm bốn tháng,
ăn gỏi cá mè sống ở nhà cụ hàn Xinh làng Hoành Nha”. Tôi xin nói về gỏi cá
mè ở làng tôi hầu mọi người, làng Hoành Nha ở mạn Giao Thủy, cách làng
tôi mấy làng. Cũng là để ôn lại ngày xưa.
Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016
SƯƠNG KHÓI MẶT NGƯỜI (Kì 3)
Đã đăng:
3
Gửi
con bên nhà bác cả, sáng nay vợ chồng Du cuốc bộ mấy cây số ra ga tàu. Cái ga
nhỏ bé ở một vùng bán sơn địa thưa thớt người. Hành trang Du đem đi là một ba
lô đựng hai bộ quần áo, gói cơm nếp, cái điếu cày, một chai nước và túi lạc
nhân làm quà cho Dũng.
“Khi anh chết” thơ Lê Mai qua lời bình Nguyễn Ngọc Kiên
![]() |
| Nhà thơ Lê Mai |
KHI ANH CHẾT
Khi anh chết, anh vẫn còn thấy
đói
Anh nhìn tôi như hỏi: Có còn gì?
Mắt lệ nhòa, tôi còn biết nói chi
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!
Anh nhìn tôi như hỏi: Có còn gì?
Mắt lệ nhòa, tôi còn biết nói chi
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!
Khi anh chết anh vẫn còn muốn
nói
Tâm sự gì với vòi vọi trời cao?
Gió thương anh nên cố sức phều phào
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!
Tâm sự gì với vòi vọi trời cao?
Gió thương anh nên cố sức phều phào
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)























