TRẦN MỸ GIỐNG
TRUYỆN NHẶT
Tản văn
Tập 2
(Bản thảo)
Nhà xuất bản Hội Nhà văn
NGƯỜI NAM ĐỊNH VỚI PHAN BỘI CHÂU
Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước, bậc anh
hùng xả thân vì độc lập, được nhân dân ta tôn sùng, lịch sử ghi nhận. Phan Bội
Châu phất cao ngọn cờ Duy Tân với chủ trương vũ trang bạo động và tạo dựng khối
đoàn kết toàn dân. Năm 1905, Phan Bội Châu đi Nhật Bản tìm đường cứu nước, khởi
xướng phong trào Đông Du, dấy lên một phong trào xuất dương yêu nước mạnh mẽ
chưa từng có trong lịch sử lúc bấy giờ, thu hút hàng trăm thanh niên bất chấp mọi nguy hiểm để qua Nhật, qua Xiêm
du học, cùng lo việc đánh Tây.
Người Nam Định tự hào có hai nhân vật,
người phát hiện và tạo điều kiện cho Phan Bội Châu hoạt động yêu nước, người
xin chết thay cho Phan Bội Châu sống tiếp tục sự nghiệp vì nước vì dân.
NGƯỜI PHÁT HIỆN TÀI NĂNG PHAN BỘI CHÂU
Đó
là Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh.
Khiếu
Năng Tĩnh (1835 - 1920) quê xã Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã
Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình nông dân
nghèo, Khiếu Năng Tĩnh rất chăm chỉ học tập và sớm bộc lộ trí thông minh, học
giỏi. Khoa Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử nhân. Khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức
33(1880) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này ông đỗ Hội nguyên
(đỗ đầu kỳ thi Hội). Ông làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội,
thăng Quốc tử giám Tế tửu.
Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh là một học giả
uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng, tác gia Hán - Nôm tiêu biểu thời cận đại.
Sách địa phương chí của ông hiện còn đến nay là những tài liệu rất có giá trị đối
với bạn đọc nói chung và các nhà dân tộc học, nhà địa phương học, nhà nghiên cứu
lịch sử nói riêng, như Đại An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh
chí, Quốc đô cổ kim chí, Thăng Long chư
thần ký, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Tiên phả dịch lục...
Khi làm Chủ khảo Trường thi Nghệ An,
ông đã phát hiện tài năng Phan Bội Châu, hết lòng giúp đỡ để Phan Bội Châu đỗ
thủ khoa.
Năm
1898, Phan Bội Châu bị cái án oan "hoài hiệp văn tự" (mang tài liệu
vào trường thi) và "chung thân bất đắc ứng thí" (suốt đời không được
thi nữa). Ông vào Huế dạy học. Một hôm, trường Quốc tử giám ra cho học sinh một
bài phú đầu đề là "Bái thạch vi huynh" (Lạy đá làm anh), Phan Bội
Châu không phải là Cử nhân "tọa giám", nhưng cũng làm bài và nhờ người
nạp cho Tế tửu Khiếu Năng Tĩnh chấm. Tế tửu Khiếu Năng Tĩnh rất tán thưởng bài
phú, quý phục tác giả. Khiếu Năng Tĩnh đứng đầu nhóm văn sĩ đã can thiệp với
triều đình xin vua Thành Thái xóa bỏ án cấm thi cho Phan Bội Châu. Đến kỳ thi
Hương khoa Canh Tý (1900) Phan Bội Châu được Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh lấy
đỗ Giải nguyên đứng riêng một bảng. Cần nói thêm là đang giữa kỳ thi thì Phan Bội
Châu ốm phải bỏ thi. Nhờ Khiếu Năng Tĩnh ưu ái chăm sóc và cho thi tiếp mà Phan
Bội Châu đạt được danh hiệu Giải nguyên.
Sự
việc đó đã chứng tỏ Khiếu Năng Tĩnh có con mắt tinh đời và tấm lòng ưu ái đối với
những tài năng của đất nước. Với danh hiệu Giải nguyên, Phan Bội Châu có thêm
uy tín, danh tiếng rất thuận lợi cho hoạt động cứu nước. Các sĩ tử khoa ấy ai nấy
đều vui mừng thừa nhận Phan Bội Châu đỗ Thủ khoa là xứng đáng. Phan Bội Châu đã
trở thành một yếu nhân của phong trào Đông Du, một chí sĩ yêu nước được nhân
dân vô cùng cảm phục cũng một phần có công đóng góp của quan nghè Khiếu Năng
Tĩnh.
NGƯỜI XIN CHẾT THAY CHO PHAN BỘI CHÂU
Đó là nhà thơ Nguyễn Khách Doanh.
Nguyễn
Khách Doanh còn gọi là Nguyễn Khắc Doanh, hiệu Hải Đàm, thường gọi Tú Khắc, Tú
Khách, Tú Doanh.
Không
rõ năm sinh. Chỉ biết ông mất năm 1930.
Ông quê thôn Đầm, làng Tang Trữ, huyện
Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
Ông đỗ Tú tài năm 1906. Khoa này ông được
vào phúc hạch nhưng vì bài làm có mấy câu văn “láo xược” nên bị đánh rớt xuống
Tú tài. Sau ông có đi thi một lần nữa nhưng vẫn không đỗ Cử nhân.
Ông là người giàu lòng yêu nước,
chán ghét thời thế, quyết không ra cộng tác với giặc Pháp. Sau khi đỗ Tú tài
ông về sống bình thường ở quê, thường giao du với các bạn nhà nho bất đắc chí,
làm thơ đả kích chế độ thực dân.
Năm 1925 bọn thực dân Pháp bắt cóc
cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải đem về nước xử án. Trước đó, năm 1912 thực dân
Pháp đã kết án vắng mặt cụ Phan Bội Châu. Nguyễn Khách Doanh đã cưỡi bò đi xem
xử án. Giữa công đường, ông tha thiết xin chết thay cho cụ Phan Bội Châu. Ông bị
giặc Pháp bắt giam. Sau khi được thả về, ông lại đón xe Toàn quyền Varenne, một
lần nữa đòi được tù thay cho cụ Phan Bội Châu. Cùng với phong trào đấu tranh mạnh
mẽ của nhân dân đòi thực dân Pháp phải thả cụ Phan Bội Châu, hành động khảng
khái của Nguyễn Khách Doanh góp phần gây sức ép buộc tòa án Pháp kết án cụ Phan
Bội Châu tù chung thân, không dám xử tử cụ. Toàn quyền Varenne phải can thiệp để
cụ Phan Bội Châu được về an trí tại Bến Ngự - Huế.
Nguyễn Khách Doanh là một nhà thơ
trào phúng nổi tiếng của Nam Định chuyển sang sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Thơ
ông đả kích sâu cay bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, được nhân
dân hào hứng đón nhận. Ông có tập thơ trào phúng “Chim oanh học nói” đả
kích chế độ thực dân cướp nước. Bọn thực dân Pháp phải ra lệnh tịch thu và cấm
lưu hành những sáng tác của ông.
Hầu hết các sáng tác của ông đã bị
chính quyền đô hộ Pháp tịch thu tiêu hủy. Chỉ còn một bài của ông lưu truyền đến ngày nay. Đó là bài phú nổi tiếng
“Thi
trường thảm trạng” được in trong một số sách tuyển tập văn học (Hợp tuyển
thơ văn Việt Nam. – Nxb. Văn hóa, 1963. – Tập 4 ; Tổng tập văn học Việt nam.
Nxb. Khoa học xã hội, 1996. – Tập 21. – Tr. 823 – 825…).
Chỉ một bài “Thi trường thảm trạng”
cũng đủ đưa ông vào hàng các tác giả yêu nước chống Pháp của đất Nam Định văn
hiến và của cả nước hồi đầu thế kỷ hai mươi.
…………….
- Nguồn:
Văn Nhân. – Số 139 (Tháng 9 & 10). – 2021
VỀ QUÊ NGÀY KỊ MẸ ĐẺ, DÌ RUỘT
Ba ngày về quê 1 – 3/3/2019, tổ chức
giỗ Mẹ hôm trước, hôm sau đi giỗ Dì hai. Bọn trẻ Hội Trần gia, mang lễ về cúng
bà.
Thắp hương tưởng nhớ cậu Mộc (gọi mẹ
bằng chị) mới mất sau Tết.
Thăm nghĩa trang liệt sĩ xã, có hai
liệt sĩ của gia đình. Nghĩa trang đêm điện sáng lung linh. Gặp mẹ con bà Trần
Thị Xuân đang chăm sóc cây hoa trong nghĩa trang. Đề nghị được chụp ảnh người
có tâm đóng góp tri ân liệt sĩ nổi tiếng của làng, nhưng bà Xuân không đồng ý với
lý do “Người em xấu như ma, bác chụp lên làm gì”.
Thôi vậy, bụng nghĩ: Người xấu nhưng tâm sáng lắm, đẹp
lắm.
Không thấy hai hàng cây cảnh đẹp
hai bên đường trung tâm nghĩa trang, thay vào đó là hai hàng cây hoa èo uột,
không trổ hoa. Hỏi bà Xuân, bà bảo:
- Xã họ đánh chuyển hàng cây cũ đi rồi.
Họ trồng cây mới còi đẹt không lên được. Em xin trồng hai hàng cây mới nhưng họ
chưa cho phép.
- Tưởng làm đẹp cho nghĩa trang phải
khuyến khích chứ sao phải xin phép và chờ đợi nhiêu khê vậy?
- Không đâu! Em làm bất cứ việc gì
cũng phải xin phép UBND rồi chờ họ họp quyết định mới được làm bác ạ.
Tự
nhiên thấy lòng buồn man mác.
Ngày
bố tôi còn sống, cụ là quản trang nghĩa trang liệt sĩ xã. Hồi ấy hai xã Xuân
Trung và Xuân Phương chung nghĩa trang liệt sĩ. Tôi còn nhớ các bác lãnh đạo xã
Xuân Phương cấp cho bố tôi hai sào ruộng để cày cấy lấy hoa lợi, coi như trả
công trông coi chăm sóc nghĩa trang. Ngày lễ, các bác thăm tặng quà bố tôi rất
chu đáo. Bố tôi toàn tâm toàn ý chăm sóc nghĩa trang. Cụ được báo Hà Nam Ninh
đăng bài ca ngợi là Người quản trang tiêu biểu. Bây giờ xã Xuân Phương đã di
chuyển liệt sĩ của mình về xây dựng nghĩa trang liệt sĩ riêng. Không biết bây
giờ ai là quản trang xã Xuân Trung.
Thắp hương xong, chụp cho vợ hai kiểu
kỷ niệm rồi đi ăn giỗ Dì hai.
Con cháu đông tới gần hai chục mâm. Cậu
Trần Hùng Thắng – nhà thơ Hoài Ngọc Anh tức cảnh sinh tình đọc ngẫu hứng bài
thơ Nhớ chị (tức Dì hai):
NHỚ
CHỊ
Chị ơi!
Chị đi thoáng đã tròn năm
Để
cho con cháu âm thầm tiếc thương
Nhớ chị em thắp tuần hương
Gửi
về bến Giác Tây phương Niết Bàn
Đời chị vất vả gian nan
Mẹ
cha mất sớm trăm ngàn đắng cay
Oằn vai từ thuở thơ ngây
Chị
em nước mắt mưa bay trắng đồng
Xung phong tải đạn lập công
Lời
ca bay bổng nức lòng quân reo
Đò ngang anh đứt tay chèo
Sông
sâu sóng cả thác đèo nuôi con
Nhìn đàn con cháu lớn khôn
Chị
vui trẻ lại sớm hôm thỏa lòng
Tháng năm công đức chị trồng
Hoa
thơm gửi lại nối dòng Lưu gia
Nhớ ngày chị bỏ đi xa
Anh
em con cháu hương hoa nhớ người
Chị về Tây Trúc cửa trời
Phù
cho con cháu vui tươi mạnh giàu
Em: Trần Hùng
Thắng
Nghe cậu tôi đọc thơ, mắt tôi cay
cay, trong đầu vang lên lời ca:
“Mẹ
ơi! Con đã già rồi
Con
ngồi nhớ Mẹ khóc như trẻ thơ
Mẹ
ơi! Con đã già rồi
Con
ngồi ngơ ngẩn nhớ ngôi nhà xưa…”
Về quê ngày kị các cụ làm cho tình họ
hàng máu mủ thêm gắn kết.
CHUYỆN
TÂM LINH
Tôi là Đảng viên từ năm 1975, Cử nhân
chuyên ngành Văn hóa, nguyên cán bộ Thư viện nghỉ hưu lại kể những chuyện mà
người cộng sản cho là mê tín hoang đường. Nhưng chuyện xảy ra với chính tôi hoặc tôi chứng
kiến, làm tôi không thể đứng vững trên lập trường vô thần, thôi thúc tôi phải kể
lại. Ai tin thì tin, không tin thì thôi.
Chuyện không có đầu cuối mạch lạc,
không theo thứ tự thời gian.
1 – ĐIỀM BÁO
14 h 30 ngày 17 – 2 - 2013 tức mồng 8
tháng Giêng năm Quý Tỵ, tôi đến thăm nhà thơ Chu Đình An, mở trang blog của tôi
theo yêu cầu của nhà thơ. Trang blog của tôi bình thường như mọi ngày, các bài viết, ảnh
minh họa rõ nét. Nhưng tự nhiên tôi thấy tâm trạng bất an, nóng ruột rất lạ.
Nghĩ là mình lên cơn huyết áp vì căng thẳng nên tôi vẫn lướt các bài mới đăng
cho bác An xem. Khi tôi mở tới bài “Chủ nhân blog Trần Mỹ Giống vừa nhận giải
thưởng VHNT Lương Thế Vinh” thì đột nhiên các tấm ảnh trong bài xô lệch chờm
lên nhau, sau đó vài giây thì toàn màn hình bị che mờ không đọc được nữa. Hiện
tượng này tôi chưa gặp lần nào. Tôi thoát ra vào lại mấy lần, hiện tượng trên lại
diễn ra y như vậy. Tôi bảo bác An:
- Lạ thật, em chưa gặp tình huống như
thế này bao giờ. Cứ như điềm báo gở ấy bác ạ. Thường ngày máy tính của bác có xảy
ra tình trạng như thế không?
Bác An bảo:
- Không! Máy dùng vẫn tốt cơ mà!
Đột nhiên vang lên tiếng chuông điện
thoại của tôi. Tôi bấm phím nghe. Tiếng vợ tôi gấp gáp:
- Anh về ngay thu xếp về quê. Chú Đằng
vừa gọi điện bảo bà Mạo ngã xuống sông, đang cấp cứu nhưng không có hy vọng.
Bà Mạo là cô ruột tôi. Tôi chỉ kịp
nói với bác An: “Bác tắt máy giúp em. Cô em gặp nạn. Em phải về quê ngay!” rồi
chạy vội về nhà.
Hai vợ chồng tôi vội vã về quê. Vừa mở
khóa xe, chưa kịp đề thì chuông điện thoại máy tôi lại reo. Cháu Văn là con chú
em tôi báo tin:
- Bác ơi, bà Mạo mất lúc 15h 15 rồi.
Bác về ngay đi...
***
Khi lo xong việc cô tôi, tôi gọi điện
hỏi bác An:
- Bác mở máy xem lại bài em mở hôm ấy
hiện tượng xô lệch che đen màn hình thế nào rồi.
Bác An nói luôn:
- Tôi mở máy vẫn bình thường, hình vẫn đẹp.
Hồn cô tôi báo điềm gở cho tôi chăng?
2 – TÔI NHÌN THẤY TÔI
Thời ấy chưa có trạm y tế như bây giờ.
Nhà nghèo nên ốm đau chẳng có điều kiện lên bệnh viện tỉnh. Năm tôi học lớp 6 bị
ốm nặng. Gần tháng trời tôi cứ sốt liên miên, mỗi bữa chỉ húp được mấy thìa
cháo loãng. Cô y tá làng kê đơn. U tôi mua thuốc cho tôi uống, mãi mà bệnh
không thuyên giảm, càng ngày càng nặng hơn. Đến một ngày tôi tự bay được lơ lửng
trên xà nhà, nhìn xuống giường tôi nằm, thấy U tôi khóc gọi bố tôi:
- Ông chọn bộ áo quần nào còn khá thay cho con, nó
không qua khỏi được…
Khi bố tôi đang thay quần áo cho tôi thì ông Đằng –
người cùng xóm đi làm xa về qua vào chơi. Ông banh mắt, cậy miệng, vén áo tôi lên
xem xét. Ông nói với bố tôi:
- Đậu lào đấy, thuốc nào khỏi được. Ông đi mua cho tôi
cái lưỡi dao bào.
Tôi lơ lửng ở trên xà nhà nhìn rõ, nghe rõ tất cả. Ông Đằng cởi áo quần tôi, dùng củ nghệ chà xát
khắp lưng và bụng tôi. Tôi nhìn cơ thể mình gầy da bọc xương, ghét bẩn như những
ruột bút chì gẫy rơi xuống chiếu theo từng cú chà xát mạnh của ông Đằng. Ông
dùng kim khêu thịt tôi lên rồi dùng dao bào cắt đầu thịt tôi trên mũi kim. Khêu
hết ở lưng, ông lại lật tôi lại khêu ở ngực. Khi ông khêu đến chỗ lõm dưới họng,
tôi cảm thấy đau rát liền kêu lên. Ông Đằng reo:
- Sống rồi! Sống rồi! Bố anh!
Hôm sau tôi hết sốt, đòi ăn. Một tuần
sau tôi đi học.
3 – MẸ CẢ VÀ U TÔI
Năm học lớp 4, tôi đua diều, cầm dây
chạy lùi bị ngã gẫy tay. U tôi nhờ cụ lang Cận ở làng bó bột cho tôi. Hơn chục
ngày tay tôi sưng húp, ngứa và đau, người sốt hầm hập, đêm đau không ngủ được,
rên rỉ cả trong khi thiếp đi. U tôi ngồi bên giường lặng lẽ như cái bóng, xoa
cái tay đau cho tôi từ nửa đêm đến gần sáng. Bàn tay U tôi mát lạnh làm dịu sự
đau đớn của tôi rất nhiều. Mấy đêm liền U tôi thức xoa tay cho tôi như thế, cho
đến khi tôi cắt cơn sốt, tay không đau nhiều nữa U tôi mới thôi.
Một buổi sáng khi tôi tỉnh dậy, U tôi hỏi:
- Con còn đau lắm không?
Tôi bảo:
- Không ạ! Đêm U xoa tay cho con, tay
U lạnh làm con không thấy đau nữa.
Nghe tôi nói thế, U tôi quay ra nói
nhỏ với bố tôi:
- Bà mẹ già lại về đấy ông ạ!
Thì ra không phải U tôi thức xoa tay
cho tôi. Số là bố tôi hai vợ. Bà cả là bà Trần Thị Tý, mất khi tôi chưa được
sinh ra. Bà hai là U tôi. Nghe bố U tôi nói bà cả thiêng lắm. U tôi thường gọi
bà là Mẹ già. Khi bố tôi lấy U tôi, đêm đêm bà cả thường về ngồi cuối giường bố
U tôi. Nhiều lần tôi chứng kiến bố tôi ngủ mơ, co chân đạp mạnh vào thành giường.
Bố tôi bảo mơ thấy bà cả về, bố tôi đạp đuổi bà đi.
***
Một lần tôi hư, bị bố đánh đòn. Bố
tôi cầm roi đuổi đánh tôi. Tôi chạy quanh bàn giữa nhà. Bỗng dưng U tôi thét lạc
giọng:
- Ối! Con rắn, con rắn!
Hai bố con tôi cùng quay lại sau, đều
thấy rõ con rắn đuổi theo bố tôi. Hai bố con tôi nhảy lên bàn. Khi U tôi khêu
to đèn hoa kỳ soi tìm thì không thấy con rắn đâu cả. U tôi lẩm bẩm: “Mẹ già đấy!
Mẹ già đấy!”
***
Có lần U tôi đánh đòn tôi. Bỗng nhiên
U tôi cứng người, hai tay ở tư thế như người bị trói, không còn đánh được tôi nữa.
Có lần U tôi đánh tôi xong thì tự nhiên U cứ tự tát vào mặt mình, miệng nói giọng
khác thường: “Tao phạt vì dám đánh thằng cả này!” Sau mỗi câu nói, U tôi lại tự
tát vào mặt hoặc tự đấm ngực bình bịch. Những lúc như thế, cô tôi và các dì tôi
xúm vào khấn vái van xin Mẹ già. U tôi bảo đốt cho U một nắm hương. U đưa nắm
hương đang cháy bùng bùng vào miệng. Sau đó U tôi mới ngã vật ra sau. Khi tỉnh
lại U không nhớ chuyện gì vừa xảy ra. Từ đó về sau U tôi không còn dám đánh đòn
tôi nữa.
***
U tôi có tính đồng bóng. U thường đi
hầu bóng ở chùa đền. Năm nào U cũng đi chùa Hương, đền Trần, đền Bảo Lộc. Thỉnh
thoảng U lên đồng ở nhà. Dì tôi bảo là Mẹ già nhập vào U tôi. U tôi đốt một nắm
hương to, nhảy múa uyển chuyển trước ban thờ Mẹ già, uống rượu, cắn cả nắm
hương cháy vào miệng. Mỗi lần U lên đồng, các bà bạn đi chợ của U và hàng xóm
xúm lại kêu cầu, xin Mẹ già phù hộ.
Cậu Hòa tôi thời ấy là du kích từng
tham gia phá chùa miếu, bài trừ mê tín dị đoan. Khi U tôi lên đồng, cậu báng bổ:
“Mê tín, bịa ra ma quỷ, có giỏi thì về phạt tôi đi”. U tôi đang lên đồng, quắc
mắt nhìn cậu: “Về bên nhà ngay không lại không kịp.” Cậu tôi vừa về đến nhà thì
bụng đau dữ dội, lăn lộn trên giường xuống đất. Mợ tôi biết chuyện vội thắp
hương kêu cầu Mẹ già tha cho cậu. U tôi liền cầm chén rượu và lá giầu không
sang nhà cậu. U nhai giầu lẫn rượu, nhổ nước bôi vào rốn cậu tôi. Lạ thay, cậu
tôi đột ngột hết đau. Từ đó cậu không dám báng bổ thần thánh nữa.
***
Hồi tôi đi chiến đấu ở Quảng Trị
(1972 – 1973), bom đạn dường như tránh tôi. Năm lần bị B52 vùi nhưng tôi vẫn sống.
Ba bốn lần lẽ ra tôi chết, nhưng tình cờ có đồng đội tình nguyện làm thay nhiệm
vụ hoặc đổi nhiệm vụ cho tôi mà hy sinh.
Ví như lần tôi được phân công gác hầm
Trung đoàn trưởng. Nguyễn Xuân Trắc (người Phú Thọ) được giao gác hầm Chính ủy.
Tới hầm Trung đoàn trưởng phải lội qua tràn ruộng. Tôi đi giày vải nên rất lúng
túng. Trắc đi dép đã đổi vị trí gác cho tôi. Khi lội qua tràn ruộng Trắc còn
quay đầu cười với tôi. Bữa ấy B52 rải thảm. Trắc hy sinh vì hầm Trung đoàn trưởng
trúng bom. Cậu cần vụ và Trung đoàn trưởng bị thương nặng được chuyển ra Bắc
nhưng đều không qua khỏi. Tôi thoát chết nhờ được Trắc đổi cho gác hầm Chính ủy.
Một lần khác, đến phiên tôi gác canh
máy bay. Tôi đứng ở vị trí gác mà tự nhiên bụng cồn cào lo lắng không yên, cứ
ra ra vào vào. Cậu Thắng người thị xã Hải Dương cùng tiểu đội thấy tôi như vậy
liền sờ lên trán tôi, bảo: “Anh sốt cao rồi, trán nóng như lửa. Để em gác thay
anh. Anh cho em mảnh lương khô. Anh vào hầm nằm nghỉ đi!” Tôi mở ba lô lấy cho
Thắng bánh lương khô. Chỉ ít phút sau pháo địch cấp tập nã vào vị trí gác của
chúng tôi. Thắng hy sinh.
Nhớ
lại hơn một tháng giữ chốt An Tiêm ở Quảng Trị, 13 cán bộ đại đội thương vong,
ngày nào cũng có người trúng đạn. Nhiều lần nhận lính bổ sung buổi chiều, đêm
đi tập kích họ hy sinh, tôi không còn kịp biết tên và quê quán.
Hơn một tháng ở chốt là hơn một tháng
không được tắm giặt, ngủ ngồi, có đêm mưa vừa tát nước trong hầm ra vừa ngủ gật.
Hàng đêm vận tải đem cơm vào và chuyển thương binh ra. Nếu vận tải vào được
bình thường thì mỗi người chúng tôi được một nắm cơm kèm ít ca – la - thầu (rau
sấy khô của Trung Quốc) để ăn bữa tối. Còn bữa trưa hôm sau là một bánh lương
khô 701. Có lần vận tải dính pháo, chúng tôi phải ăn những nắm cơm còn dính máu
đồng đội. Nước uống lấy từ hố bom, bỏ vào mỗi bi đông hai viên thuốc lọc nước.
Hơn một tháng giữ chốt là hơn một
tháng đánh tập kích, đánh chặn các cuộc tấn công của địch để giữ vững chốt. Các
trận chiến như cơm bữa diễn ra hàng ngày. Quân số bổ sung không bù được quân số
hao hụt. Trung đội tôi chỉ còn 5 tay súng đã là trung đội mạnh của đơn vị.
Trong
hoàn cảnh như vậy, với trọng lượng 39 kg khi nhập ngũ, tôi vẫn sống sót. Tôi
may mắn hay là sống chết có số? Sau này ra Bắc đi học Trường sỹ quan lục quân
tôi được biết: U tôi đi khắp các chùa đền cầu khấn trời Phật phù hộ và đốt cơ
man là lính giấy đi bảo vệ con trai cả của bà…
***
Trở lại chuyện hiện tại. Hồi cuối năm
2012 tôi bị đau vùng cạnh sườn, đau thắt
lưng, đau lan cả bụng. Ba bốn lần đi khám bảo hiểm ở phòng khám Minh Đức, lần
nào cũng được chụp chiếu, xét nghiệm và kết luận là đau do viêm đại tràng co thắt.
Uống thuốc hai tháng không khỏi, được con cháu đưa đi Bệnh viện Bạch Mai khám
theo yêu cầu. Các giáo sư tiến sĩ khám và kết luận tôi bị thoái hóa thoát vị
đĩa đệm. Về nhà uống thuốc theo đơn trong một tháng, bệnh không thuyên giảm, có
chiều hướng nặng lên, đến nỗi mỗi sáng phải 15 phút tìm mọi cách mới bò dậy được.
Tôi luôn phải gồng mình chịu đau không dám kêu rên. Bởi đồng thời với tôi thì
con dâu cả cũng bị bệnh lạ: luôn có cảm giác đói cồn cào, thường xuyên tụt huyết
áp xỉu đi, cả tháng phải bỏ việc. Có lần trường có việc buộc con bé phải đi
làm, nó xỉu ở trường, đồng nghiệp phải đưa về nhà. Chạy chữa ở Nam Định mãi
không khỏi, con dâu tôi cũng đi khám ở Bệnh viện Bạch Mai. Người ta kết luận “Rối
loạn thần kinh thực vật”. Cũng gần tháng trời uống thuốc theo đơn mà bệnh tình
không chuyển.
Vợ tôi cùng con dâu bí mật đi “xem
xét”. Sau đó vợ tôi bảo: “Vợ chồng thằng cả đi “xem” họ bảo nhà nội có ngôi mộ
độc lập ở giữa cánh đồng nước bị động. Phải tu sửa lại thì bố con ông mới khỏi
bệnh. Ông tính sao?” Tôi bảo: “Chuyện tâm linh, cứ để con nó về xem sao!” Hôm
sau thằng Hưng lai mẹ về quê. Thì ra ngôi mộ Mẹ già tôi bị nứt nẻ, trên nắp đổ
bê tông kín. Mộ mẹ cả tôi độc lập giữa đồng nước. Trước đây nhà tôi đã xây quây
mộ một mét vuông. Năm ngoái chú Giang – em ruột tôi là thượng tá công an, nhà
báo, bảo: “Mẹ cả báo mộng cho em: Trên mộ cây cối quấn vào mặt mẹ không chịu được”.
Chú Đằng ra xem thấy ai đó trồng đầy cây sả tàu trên mộ. Một thời gian sau chú
Đằng đổ bê tông mộ để khỏi phải lo người ta trồng cấy trên đó nữa.
Vợ tôi làm lễ xin phép bà cả cho tu sửa
lại mộ và nhờ chú Đằng thuê thợ làm. Mấy hôm sau chú Đằng gọi điện báo: “Em đã
thuê được thợ, sáng mai anh chị về làm”. Cả đêm ấy tôi vẫn đau lưng không muốn
trở mình. Vợ tôi thắp hương cầu khấn Mẹ cả phù hộ cho tôi khỏe để về xây mộ mẹ.
Khuya tôi mệt thiếp đi. Sáng tỉnh dậy thấy mình không còn đau lưng nữa. Tôi
phóng xe máy bốn chục cây số về quê bình thường. Ba ngày xây mộ tôi cũng không
thấy đau. Ngày thứ ba tôi mời thầy chùa làm lễ tạ theo đúng phong tục ở quê. Mộ
mới to gấp ba mộ cũ, ốp lát hẳn hoi.
Từ thành phố, con dâu tôi gọi điện về
báo tin: “Bố ơi! Con phi xe máy sang chơi với vợ chồng Minh Thu, con khỏe rồi bố
ạ!”
Tôi hết đau lưng, con dâu tôi đi làm
bình thường. Tôi không muốn tin, nhưng thực tế ngẫu nhiên trùng lặp nhiều lần
buộc tôi phải tin có thế giới linh hồn.
4- BỐ TÔI BÁO MỘNG CHO TÔI
Một đêm thứ bảy, tôi trằn trọc khó ngủ,
gần sáng vẫn trong trạng thái nửa ngủ nửa thức. Chợt thấy bố tôi nói với tôi,
giọng rất rõ ràng: “Anh phải trông nom con anh cẩn thận, đừng để nó ra đường xe
pháo tai nạn”. Tôi giật mình tỉnh hẳn thì hóa ra tôi mơ. Sáng hôm sau, thấy thằng
cả dắt xe máy đi chơi, nhớ lại giấc mơ đêm qua, tôi cản: “Chủ nhật thì ở nhà
chơi với vợ con, không nên cứ đi chơi suốt ngày như vậy”. Thằng cả vùng vằng cứ
đi. Từ lúc thằng cả đi, tôi bứt rứt khó chịu bất an. Hay là tôi giận thằng cả
vì nó không nghe lời? Nửa tiếng sau thì được tin thằng cả tai nạn xe máy gần
ngã tư Hùng Vương – Trường Chinh.
Bữa ấy có một thằng say rượu đi xe
máy tông vào đít xe thằng cả. Cả hai ngã xe, xe hỏng, người đều bị thương. May
thằng cả bị nhẹ hơn thằng say. Thằng say phải vào viện. Công an xác định lỗi
hoàn toàn thuộc về thằng say. Nhưng anh thằng say cậy mình là cán bộ ngành kiểm
sát, liên tục đến nhà ép thằng cả đền bù thương tật cho em nó. Chuyện rồi cũng
qua, nhưng làm cả nhà tôi rất khó chịu, bức xúc một thời gian.
Đúng là bố tôi báo mộng cho tôi biết
trước sự việc. Tôi lặng lẽ thắp hương khấn bố tôi.
BỨC
TRANH CẦU TRƯỜNG
Dịp về quê giỗ mẹ năm 2016 tôi qua
thăm chú tôi, cũng là thầy dạy văn tôi hồi tôi học cấp hai, ông Trần Hùng Tuyền
ở xóm Đông Thành (nay là xóm 6) xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Khi bước qua cửa nhà chú Trần Hùng Tuyền, tôi sững người nhìn những bức tranh
treo trên tường với cảm xúc lâng lâng dào dạt. Đó là những bức tranh vẽ phong cảnh
theo cách tả thực quê tôi. Nhìn bức Cầu Trường vẽ y thực ngày tôi còn nhỏ, óc
tôi lóe lên những kỷ niệm thời thơ ấu gắn với cây cầu này.
Cây cầu được gọi là Cầu Trường vì ở
đó trước kia có ngôi trường dạy chữ Nho của làng.
Cây cầu là nơi bọn trẻ chúng tôi thường
dùng làm cầu bơi trong những ngày hè nóng nực. Chúng tôi tha hồ bơi thi, lặn ngụp
trong dòng nước trong mát chảy quanh làng. Những tối trăng sáng, chúng tôi thường
ngồi trên cầu hát và thổi sáo, đánh măng-đô-lin. Đầu cầu bên này là đường làng
và nhà trường học, bên kia là sân họp của xóm, cạnh đó là nhà đòn (nơi để kiệu
rước trong lễ hội làng hoặc đưa đám khi có người tạ thế). Bọn trẻ trai chơi trận
giả, mô đầu, đánh khăng, đánh đáo, chơi bi, đánh vành xe... Bọn trẻ gái chơi
chuyền, chơi ô ăn quan... Chân cầu và nhà đòn cũng là nơi hồi cải cách ruộng đất,
du kích hành hạ địa chủ.
Tôi không sao quên hình ảnh cậu Hòa
tôi bị cùm chân, bị đánh gẫy răng, bị giam trong nhà đòn chỉ vì cậu đi du kích
bị Pháp bắt đưa đi Lào, dọc đường trốn về được, người ta vu cho cậu theo địch về
làm gián điệp. U tôi thương em, đem cơm cho cậu, bị các ông du kích quát: “Đem
thuốc độc cho thằng phản động tự sát à” và đá phăng nắm cơm khoai đi. Sau này sửa
sai, cậu tôi được thưởng Huân chương kháng chiến, được giới thiệu vào Đảng,
nhưng cậu quyết không chấp nhận.
Hình ảnh cụ Riễn đã gần tám mươi tuổi
bị dìm dưới chân Cầu Trường trong đêm mùa đông lạnh buốt vì cụ bị quy là địa chủ,
cứ ám ảnh trong tâm trí tôi. Cụ run rẩy van xin các ông cốt cán được nằm ôm
trên đầu khúc gỗ dưới sông cho đỡ lạnh. Mỗi lần cụ trèo lên khúc gỗ, lại bị các
ông cốt cán đạp xuống nước. Sau được hạ thành phần trung nông thì cụ đã mất.
Chính chân Cầu Trường là nơi cô ruột tôi ngã
và ngạt nước qua đời.
Một cây cầu mỏng manh nhỏ bé mà chứng
kiến biết bao kỷ niệm vui, buồn, đau khổ của tôi.
Ngày nay cây cầu vẫn gọi là Cầu Trường
nhưng đã khác xưa nhiều lắm. Người ta xây nhà khang trang hai bên mố cầu, xây
nhiều cầu lớn qua con sông nhỏ, con sông ô nhiễm đến mức không còn ai dám tắm
như ngày xưa. Lũ trẻ hậu sinh không biết gì về cây cầu trước đây nữa. Chính vì
thế mà khi nhìn bức tranh Cầu Trường tôi xúc động mạnh thế chăng?
Ngoài bức Cầu Trường còn bức Lò vôi,
Xóm Nam Long cùng làng, cũng theo cách tả thực gây được cảm xúc thẩm mỹ mạnh
trong tôi.
Chú Trần Hùng Tuyền nói cho tôi biết
tác giả của những bức tranh này là cố Họa sĩ Nguyễn Gia Hoàn, rể làng tôi. Họa
sĩ Nguyễn Gia Hoàn tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, giảng dạy tại Trường
Đại học Kiến trúc Hà Nội. Năm 1976 về thăm quê vợ, ông đã ký họa chân dung chú
Trần Hùng Tuyền, vẽ các bức tranh phong cảnh làng Trà Lũ Trung tặng chú Trần
Hùng Tuyền. Chú Trần Hùng Tuyền lồng khung và treo trang trọng trên các mảng tường
trong nhà, giữ gìn như báu vật những bức tranh này đến ngày nay. Được chú Trần
Hùng Tuyền cho phép, tôi chụp lại các bức tranh, treo lên blog TMG giới thiệu
cùng bạn đọc.
CHUYỆN TÔI ĐƯỢC NGƯỜI TA ĐẠO
VĂN
(Phiếm)
Tôi từng được người ta đạo văn
mình. Khi phát hiện ra vụ việc, cảm xúc đầu tiên của tôi là bực bội, như là
mình bị mất của vậy. Nhưng rồi mọi chuyện theo thời gian lắng dịu đi, tôi chẳng
còn cái cảm giác đó nữa. Bạn bè tôi an ủi: “Người ta có thích thơ văn ông người
ta mới đạo. Ông phải vui vì thơ văn mình ít ra cũng có người thích. Mà văn có
hay thì họ mới thích. Chả hơn là vô số tác giả viết bao nhiêu là tác phẩm mà chả
bao giờ được ai đạo cả...”
Ngẫm thấy lời bạn nói cũng có lý. Tự
nhiên tôi lại thấy vui và có phần tự hào vì mình được đạo văn. Nhân đây tôi
khoe với bạn đọc chuyện tôi được đạo văn, không chỉ một lần, mà có tới ba lần.
1 - Hồi còn là thành viên thực hiện trang
vannghenamdinh.com, tôi có nhận được một bài viết về cuộc đời và sự nghiệp Trạng
nguyên Đào Sư Tích của một tác giả ký tên là Nguyễn Quang Phi, hội viên Hội
Khoa học Lịch sử và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hòa Bình, với lời mở đầu đại ý
thế này: Nhiều tác giả viết về Trạng nguyên Đào Sư Tích như Trần Mỹ Giống...
không đạt, nay tôi biên soạn hoàn chỉnh, yêu cầu đăng lên trang
vannghenamdinh.com để làm tài liệu giáo dục nhân dân.
Khi đọc chính văn bài viết của tác giả
này, tôi liên tục phải cúi chào... văn của mình. Hóa ra vị này bệ nguyên bài
“Trạng nguyên Đào Sư Tích cuộc đời và giai thoại” của tôi đã đăng trên nhiều
trang mạng và in trong sách, cắt ra từng đoạn rồi thêm tiêu đề phụ. Ông ta có thêm
vào bài viết một hai chỗ thì tất cả đều sai toét. Tất nhiên là chúng tôi không
thể đăng bài đó lên vannghenamdinh.com được. Tôi liền phúc đáp cảm ơn tác giả gửi
bài, xin lỗi không dùng được vì bài đó làm hỏng bài của tôi. Một thời gian sau,
tôi tình cờ phát hiện ra một blog cá nhân đăng toàn văn bài đó. Tôi buộc phải
viết bài chứng minh là tác giả đã đạo văn tôi, comments lên blog của tác giả
đó. Nhiều người đồng tình với tôi, comments phê phán tác giả đạo văn. Có cháu
viết: “Bác là một tên trộm táo tợn!” Ít lâu sau, tôi mở lại xem blog của tác giả
này thế nào, thì chỉ thấy thông báo của nhà mạng: “Blog đã bị xóa vì vi phạm...”
2 – Tôi có bài thơ làm từ năm 1968, đã đăng trên
trang Việt văn Mới (Newvietart.com) và in trong tuyển thơ “Thơ Nam Định 5 năm đầu
thế kỷ” của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn
hành. Vậy mà tự nhiên Tạp chí Văn Nhân lại đăng bài này nhưng đề tên tác giả
khác. Tôi ngạc nhiên không phải vì chuyện người ta đạo văn, mà ở chỗ cuốn tuyển
thơ của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định có in bài của tôi còn trưng bày
trong tủ kính tại hội trường Hội, mà tôi là hội viên, Văn Nhân lại là Tạp chí của
Hội. Cả một Ban biên tập trình độ cử nhân hùng hậu như vậy lẽ nào lại đi in bài
thơ đạo? Chỉ có thể giải thích rằng họ không đọc mạng, cũng không thèm đọc sách
của chính Hội mình xuất bản. Chuyện lùm xùm một dạo. Có nhà thơ, nhà viết kịch
cao niên kể với tôi rằng một vị nhạc sĩ từng đàn hát khoe ca khúc mới sáng tác,
lời đúng là bài thơ của tôi. Cuối cùng chuyện cũng được giải quyết ổn. Tổng
biên tập Văn Nhân đăng bài xin lỗi, đính chính sai lầm, và in lại toàn bộ bài
thơ trả về cho tác giả đích thực, ngay chính trang đã in bài thơ đạo ở số tạp
chí trước đúng theo luật định.
3 – Một lần, nhà nghiên cứu cao niên Bùi Văn Tam
điện cho tôi: “Một người bạn là chủ cơ sở xuất bản in ấn nhờ tôi biên tập giúp
bản thảo cuốn Địa chí của anh ta. Tôi góp ý rằng để bản thảo chơi thì không
sao, nhưng in ấn là không được đâu. Bởi vì anh ta lấy của tôi rất nhiều bài viết
mà không đề tên tôi. Anh ta còn đạo nguyên cả cuốn Các nhà khoa bảng Nam Định của
ông nữa. Tôi báo để ông biết theo dõi vụ việc...”
Ôi, cuốn Các nhà khoa bảng Nam Định của tôi đã công bố trên trang Việt văn Mới,
sách đã được Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh rồi mà sao có vị lại
còn đạo vậy?
Tôi cũng có ý chờ xem sự việc thế nào,
nhưng đến giờ chưa phát hiện ra tác giả đạo văn nọ có xuất bản hay không.
Lại một ông bạn tặng tôi cuốn sách
nghiên cứu mới xuất bản. Tôi đọc thấy ông bạn cắt dán từng đoạn của nhiều tác
phẩm, trong đó có một số đoạn ở bài Trạng nguyên Đào Sư tích của tôi. Nể ông bạn
nên tôi không nói gì. Nhưng rồi dư luận trên báo nhà nước và mạng xã hội đã
phanh phui cuốn đó.
Một
số bài viết của tôi được mấy blog cá nhân, thậm chí có trang mang danh của một
dòng họ, đăng lên, nhưng không đề tên tác giả, nhập nhèm như đó là tác phẩm của
họ. Có lần tôi comments nhắc nhở nhưng họ coi như không có chuyện gì hết. Chán,
tôi tự nhủ: coi như họ sơ ý quên tên tác giả. Mà họ có đạo cũng vì họ thích. Được
người thích văn mình thì thật tự hào. Ở một góc độ nào đó, người bị đạo phải mừng
vì được đạo, thậm chí còn nên cám ơn người đạo văn mình ấy chứ!
HAI
TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU
1- Ngày còn công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định, tôi
có nhận 4 tập thơ của nhà thơ Phạm Trường Thi tặng Thư viện tỉnh. Theo thông lệ,
chúng tôi sẽ giới thiệu tác giả tác phẩm trong Thư mục nhân vật Nam Định (nếu
tác giả là người Nam Định), giới thiệu trên báo tạp chí. Tôi viết bài bình bài
thơ Đèn sen của tác giả. Một Nhà văn Việt Nam bảo:
- Tại sao ông lại bình bài thơ đạo của
người khác vậy? Ông Lê Hồng Thiện đã có đơn kiện ông Phạm Trường Thi gửi báo
Văn nghệ, và cơ quan Bảo vệ bản quyền Việt Nam…
2- “Tôi đã bị ông Phạm Trường Thi đạo văn”
“Tôi là: Lê Hồng Thiện, Hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam. Hiện đang sinh sống tại thị xã Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên. Tôi kính
đề nghị Báo Văn nghệ trẻ một việc như sau:
Cách đây 30 năm, Báo Văn nghệ của Hội
Nhà văn Việt Nam có in bài thơ “Hoa sen” của tôi viết cho thiếu nhi. Sau này
bài “Hoa sen” còn được các tuyển thơ chọn in lại. Tôi cũng đưa bài này vào tập
“Nắng trong vườn” của mình. Bài thơ ấy như sau:
HOA SEN
Lấy
thân làm bấc
Lấy
nước làm dầu
Hoa
thành ngọn lửa
Đỏ
hồng bên nhau
Bông
vươn lên trời
Bông
in mặt nước
Bông
chìm, bông nổi
Trông
đẹp cả đôi
Mặc
mưa, mặc nắng
Không
gì chở che
Thắp
suốt mùa hè
Thơm
tròn ba tháng.
Thời gian gần đây vô tình tôi có
trong tay tập thơ “Cây mùa hè, cây mùa đông” của ông Phạm Trường Thi hiện đang
công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định. Tôi đọc thì bỗng giật mình
phát hiện ra bài “Đèn sen” trong tập của ông Thi rất giống bài “Hoa sen” của
tôi. Nó giống cả về ý tưởng, hình ảnh, hình tượng, cách ví von. Ông Phạm Trường
Thi chỉ khôn khéo làm cho nó có vẻ khác đi về hình thức: Bài “Hoa sen” của tôi
viết theo thể thơ bốn chữ, bài “Đèn sen” của ông Thi viết theo thể lục bát. Hai
câu cuối ông Thi thêm hình ảnh đàn cá đua bơi, mở hội dưới trời đèn sao thì nó
cũng không che đậy được sự giống nhau giữa hai bài thơ. Bài “Đèn sen” của ông
Phạm Trường Thi như sau:
ĐÈN SEN
Hoa sen như thể ngọn đèn
Cuống
sen là bấc, buông trên mặt hồ
Đèn sen ngọn nhỏ, nhọn to
Dầu
là nước, chẳng bao giờ cạn vơi
Trong hồ đàn cá đua bơi
Ngày
ngày mở hội dưới trời đèn sao.
Tôi
rất mong báo công bố bài viết này của tôi để bạn đọc thấy được một kiểu đạo thơ
rất tinh vi đang thịnh hành. Qua báo Văn nghệ trẻ tôi muốn Hãng bảo hộ quyền
tác giả của Hội Nhà văn Việt Nam vào cuộc phân định giúp. Với ông Phạm Trường
Thi tôi mong một lời xin lỗi của ông trên báo và đề nghị ông kể từ nay không
đưa bài “Đèn sen” vào bất cứ tập thơ nào nữa”. (Hết trích)
3- Năm
2011 trang Trannhuong.com đăng bài “Thư ngỏ gửi các Văn Nhân Nam Định”, có nhắc
tới vụ kiện Phạm Trường Thi đạo thơ của Lê Hồng Thiện. Ngay sau đó, trang
Trannhuong.com đăng thư của nhà thơ Lê Hồng Thiện nói về vụ này như sau:
“Kính
gửi: ông Trần Nhương
Tôi là Lê Hồng Thiện, Hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hưng Yên.
Vừa
qua tôi có đọc trên Trannhuong.com có bài của một số anh em văn nghệ sĩ Nam Định
gửi một bức thư ngỏ cho tôi (Lê Hồng Thiện) trong đó có đoạn:
“Hiện nay công chúng yêu thơ ở Nam
Định lưu truyền một văn bản “Tôi đã bị ông Phạm Trường Thi đạo văn...” kí tên
nhà thơ Lê Hồng Thiện”.
Nội dung cụ thể và nguồn gốc bức
thư này tôi sẽ trình bầy khi cần thiết.
Để trả lời bạn đọc và một số anh em
văn nghệ Nam Định hiểu rõ vấn đề trên, tôi xin được công bố những tư liệu sau:
(hiện nay trong tay tôi đang giữ)
I- Bài thơ “Hoa sen” của tôi được
công bố đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ Hải Hưng (tỉnh Hải Hưng cũ) vào năm
1974, sau đó đăng ở Báo Văn Nghệ số ra ngày 31-5-1976, đăng cạnh bài thơ Gà Trống
của nhà thơ Văn Đức Khiêm. Sau đó bài thơ Hoa sen của tôi được in trong tập
“Trăng của mỗi người” do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hải Hưng xuất bản năm
1988. Năm 1989, tập thơ “Trăng của mỗi người” là tập thơ duy nhất được nhận giải
thưởng về thơ của Hội nhà văn Việt Nam (giải C, không có giải A, B) nên nhiều
báo đưa tin “trăng của mỗi người” đạt giải A là như vậy. Các giải còn lại là
văn xuôi.
II- Bài thơ “Đèn sen” của ông Phạm Trường
Thi, in ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội số tháng 6 năm 1980, sau đó in trong tập
“Cây mùa hè, cây mùa đông” do nhà xuất bản Thanh niên 1994. Tiếp đó được in
trong tập “Quà tuổi thơ” do nhà xuất bản Lao Động in năm 2004 (nhóm biên soạn,
tuyển chọn gồm: Phạm Trọng Thanh, Trần Đắc Trung, Phạm Trường Thi, Vũ Minh
Nam).
Kính thưa ông Trần Nhương và bạn đọc!
Khi đọc được trên Trannhuong.com bức
thư ngỏ, tôi định không lên tiếng và công bố những tư liệu này, nhưng thiết
nghĩ: Bảo vệ những “đứa con” tinh thần của mình được “lành lặn” đó là trách nhiệm
không của riêng ai! Trước hết là ở những người cầm bút. Có lẽ bạn đọc quan tâm
đã tự tìm được câu trả lời “Ai đạo” và “Đạo ai”?
Xin cảm ơn Trannhuong.com
Thứ
4 ngày 23/3/2011
Địa
chỉ: Lê Hồng Thiện
Email: lehongthien_hungyen@yahoo.com.vn
ĐT: 03213.863.116
Dđ: 0974.811.620
(Hết trích)
4- Sau đó nhà thơ Lê Hồng Thiện còn gửi thư nội
dung tương tự tới Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, yêu cầu xử
lý kỷ luật Phạm Trường Thi. Vụ việc được đưa ra xem xét nội bộ trong Ban Thường
vụ và Ban Kiểm tra của Hội. Trong cuộc họp này một số hội viên có thư tố cáo Phạm
Trường Thi tội khai man lý lịch và đạo văn cũng được mời như Nhà văn Trần Thị
Nhật Tân, Nhà văn Lưu Tuấn Hùng, Nhà thơ Chu Đình An… Tôi được mời với tư cách
quan sát viên để trả lời bạn đọc qua blog TMG. Thành phần chính là Chủ tịch Trần
Đắc Trung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Biên tập Văn Nhân Phạm Trường Thi, Nghệ sĩ
Nhiếp ảnh Đăng Thanh, Trưởng phòng hành chính Trần Văn Sản, Ban Kiểm tra gồm
Hoàng Dương Chương, Hoàng Ngọc Trúc, Bùi Văn Khang. Chủ trì Hội nghị là Nhà
nghiên cứu Hoàng Dương Chương.
Hội
nghị có hai quan điểm đối lập nhau: Một là căn cứ hai bài thơ xác định đúng là
đạo văn. Một bên bảo vệ Phạm Trường Thi, phủ nhận đạo văn. Thanh tra viên Bùi
Văn Khang trình bày rằng ông cùng Phạm Trường Thi sang tận nhà Lê Hồng Thiện ở
Hưng Yên, kết quả mang về một tờ giấy chữ viết tay có chữ ký của Lê Hồng Thiện
xác nhận “Không ai đạo văn ai, đây chỉ là hai tư tưởng lớn gặp nhau”. Nhà thơ
Chu Đình An đòi xem tờ giấy nhưng nhà thơ Bùi Văn Khang không cho xem với lý do
“Đưa cho các ông để các ông xé đi à?”
Kết
quả, về vụ đạo văn hội nghị không đi đến một kết luận nào.
Tôi
tiếp thu tinh thần hội nghị, soạn bài đưa lên blog theo đúng tinh thần HAI TƯ
TƯỞNG LỚN GẶP NHAU. Bất ngờ tôi được tin Phạm Trường Thi vu cáo tôi trong hội
nghị Ban Chấp hành rằng Chủ tịch đã quyết định không được phép đăng mạng nhưng
tôi vẫn đăng để làm mất danh dự Thi.
Ai đúng ai sai, tư cách người ta thế nào thì bây giờ
đã rõ. Nhưng tôi cứ lởn vởn trong đầu: Tại sao các bê bối đạo văn thường diễn
ra trong số các nhà văn Việt Nam? Tại sao khi đã đạo văn người ta cứ bảo là những
tư tưởng lớn gặp nhau? Ai biết xin trả lời giúp tôi với.
HOAN HÔ
TỔNG BIÊN TẬP TỪ CHỨC
Giọng ông bạn văn vang lên cấp tập trong
điện thoại của tôi:
- Ông biết tin chưa? Tổng biên tập Tạp
chí Văn từ chức rồi! Bà này yếu bóng vía quá, hạ súng đầu hàng ngay từ loạt đạn
đầu. Chức Tổng biên tập do Bộ Thông tin truyền thông đề bạt. Chỉ có Bộ Thông
tin truyền thông mới có quyền cách chức. Vậy mà mới bị cái cấp hạng bét - Ban
chấp hành Hội họp phê phán đã sợ rồi. Thằng Tổng biên tập kỳ trước tội rề rề,
mà nó chiến đấu đến cùng. Bố khỉ!
Tôi cắt ngang:
- Tin có chính xác không?
- Chính xác một trăm phần trăm.
Tôi ngẩn ngơ nghĩ ngợi về tin Tổng biên
tập tạp chí Văn từ chức. Thật tình, tôi chẳng hứng thú gì với cái Tạp chí của Hội
tôi. Tôi gửi bài họ chả đăng. Mấy lần tay Chủ tịch bảo: “Bác gửi bài em đăng
ngay số này!” Tôi bảo: “Tôi gửi tạp chí có đăng đâu!” Một lần tôi quyết định gửi
bài, hắn đọc rồi bảo: “Bài của bác hay thế này mà Tổng biên tập không đăng là
sao. Để em bảo Tổng biên tập phải đăng bài của bác ngay số này!” Chờ mãi chả thấy
bài đăng đâu. Tôi càng ngán Tạp chí của Hội mình. Tay Chủ tịch nó nhiệt tình với
mình, nhưng đăng hay không lại do Tổng biên tập quyết định. Nghĩ vậy, tôi đâm
ra ghét ghét Tổng biên tập. Thế rồi, cái Tạp chí Văn liên tiếp xảy ra sai sót.
Trong hội viên bắt đầu hình thành “phong trào” phản đối Tổng biên tập. Các sai
phạm của Tạp chí đều được quy kết trách nhiệm về Tổng biên tập. Tuy không tham
gia vào phong trào công kích Tổng biên tập, nhưng tôi cũng chẳng ngăn cản bạn
văn làm việc đó. Tôi thờ ơ bàng quan như mình là kẻ ngoài Hội, chả có trách nhiệm
gì với Tạp chí và Tổng biên tập. Bây giờ Tổng biên tập từ chức rồi, sao tôi chỉ
thấy thương mà chẳng thấy vui? Gợn lên trong đầu tôi cảm xúc như ân hận vì mình
vô trách nhiệm, cứ như là thái độ bàng quan vô trách nhiệm của tôi cũng góp phần
vào hậu quả từ chức của Tổng biên tập.
Rồi tôi lại nghĩ: Khối người thèm rỏ rãi
cái chức Tổng biên tập Tạp chí Văn. Có những thằng khi đã chiếm được chức vị rồi
thì tìm mọi cách kéo dài thời gian tại vị để hưởng thụ và gây thêm nhiều tiếng
xấu cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà, chả có thằng nào tự nguyện thôi chức cả.
Chuyện từ chức là bình thường ở nước ngoài, chứ Việt Nam ta đã có văn hóa từ chức
đâu. Vậy thì Tổng biên tập Tạp chí Văn từ chức phải coi là chuyện lạ, là lập dị
đáng kính nể. So với khối thằng Tổng biên tập khác, Tổng biên tập Tạp chí Văn từ
chức có văn hóa, có nhân cách hơn nhiều. Nghĩ thế tự nhiên những lăn tăn về Tổng
biên tập biến đâu mất, chỉ còn lại trong tôi sự kính trọng và niềm thương mến Tổng
biên tập. Tôi bật hô lên một mình:
- Hoan hô Tổng biên tập từ chức!
KẺ ĐẠO VĂN DƯƠNG MINH NGỌC LÀ
AI?
Văn Nhân số 81 Xuân Nhâm Thìn 2012 tại
trang 57 đăng bài “Bạn nhỏ đánh giầy” của tác giả Dương Minh Ngọc:
BẠN NHỎ ĐÁNH GIẦY
Mùa
thu đã về trên phố
Hương cốm thơm nói bao lời
Tiếng trống trung thu rộn rã
Mà sao bạn buồn bạn ơi?
Bạn tóc râu ngô, chân đất
Tay xách đồ đi đánh giầy
Dáng đơn côi trong ngõ nhỏ
Ngước nhìn trời thu mây bay…
Có em bé đang hờn dỗi
Đòi mẹ mua quà trung thu
Bước chân bạn thêm vội vã
Sợ nghĩ về mẹ ngày xưa…
Mình đang tung tăng đi học
Cặp sách bỗng nặng trĩu vai
Bạn vẫn chân trần, cháy nắng
Có gì chờ bạn ngày mai?
Vàng thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ
Mà sao lòng lại thấy bình yên
Đôi mắt nâu của bạn rất hiền
Chắc thế khiến trái tim mình thổn thức?
Mình yêu mãi mùa thu, yêu lá bàng đỏ rực
Khoảng trời xanh tha thiết gọi mây về
Nhưng mình biết
Có một tình yêu chẳng bao giờ có thể
Chia sẻ với mọi người như mình đã yêu
thu…
Dương Minh Ngọc
Đọc bài thơ trên ai là người võ vẽ biết
thơ cũng nhận thấy đây là bài thơ dở. Phần đầu và phần cuối bài thơ cảm xúc chẳng
ăn nhập với nhau, hẳn không thể là cảm xúc nhất quán của một tác giả. Phần đầu
bài thơ là cảm xúc của một học sinh, ưu tư, đồng cảm với người bạn nhỏ đánh
giày trên phố. Nhưng 9 câu thơ cuối, lại mang một tâm trạng hoàn toàn khác, được
diễn tả bằng một thể thơ khác, không ăn nhập với toàn bài thơ.
Đọc bài thơ trên Văn Nhân, tôi nhớ
ngay tới bài "Mùa thu và tình yêu" của tác giả Bùi Thị Thu Hương trên
trang vannghenamdinh.com.vn ngày 07 tháng 10 năm 2011.
Nguyên
văn bài thơ như sau:
MÙA THU VÀ TÌNH YÊU
Mùa
thu đã chao mình vào hơi thở
Nắng bỗng hồng, ấm như một cánh tay
Khoảng trời mênh mang ru cỏ dại ngủ
say
Bướm trắng giận hờn chỉ bay thật khẽ.
Chẳng
hiểu vì sao yêu mùa thu đến thế
Dẫu biết, bao người cũng đã từng yêu
Trái tim mình dù dào dạt bao nhiêu
Cũng có những tình yêu không-thể-nào-chia-sẻ…
Mùa
thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ
Mà sao lòng lại thấy bình yên
Đôi mắt nâu của bạn rất hiền
Sao lại thấy trái tim mình thổn thức?
Mình
yêu mãi mùa thu, yêu lá bàng đỏ rực
Khoảng trời xanh tha thiết gọi mây về
Nhưng mình biết
Có một tình yêu chẳng bao giờ có thể
Chia sẻ với mọi người như mình đã yêu
thu…
Bùi Thị Thu
Hương
Tác giả Bùi Thị Thu Hương, sinh năm
1981, công tác tại Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ tỉnh Nam Định. Điện
thoại: 0988622643. Email: votumasong3001@yahoo.com
Tôi điện trao đổi với tác giả Bùi Thị
Thu Hương thì được chị cho biết: Chị không có bút danh là Dương Minh Ngọc và
cũng không gửi bài cho Văn Nhân.
Vậy là đã rõ: Tác giả Dương Minh Ngọc
đã đạo hai khổ thơ ở bài “Mùa thu và tình yêu” của tác giả Bùi Thị Thu Hương để
ghép vào bài “Bạn nhỏ đánh giầy” của mình. Dương Minh Ngọc có thay vài từ, một
từ ở câu “Mùa thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ” thành “Vàng thu cũng nồng nàn như
tuổi trẻ” và ba từ ở câu “Sao lại thấy trái tim mình thổn thức?” thành “Chắc thế
khiến trái tim mình thổn thức?” Tuy nhiên sự thay đổi này làm cho câu thơ thành
ngô nghê.
Tôi gửi thư ngỏ tới Tạp chí Văn
Nhân, yêu cầu Tổng biên tập phải xử lý vụ việc theo pháp luật, công bố cho bạn
đọc biết kẻ đạo văn Dương Minh Ngọc là ai. Nhưng cho đến nay Văn Nhân vẫn còn nợ
câu trả lời.
KHOẢNH
KHẮC BẠN GIÀ GẶP NHAU
8
giờ sáng.
Cụ
họa sĩ Đặng Nam điện:
- Ông đang làm gì đấy?
- Đang nằm khoèo nghe các video mình
hát tự sướng.
- Nắng rồi, không đi chơi đâu à?
- Đang dịch cúm Vũ Hán hoành hành, chả
dám đi nhà hàng, quán cà phê, karaoke gì sất. Ra đường cũng sợ nữa là.
10
giờ 30.
Cụ
họa sĩ Đặng Nam lại điện:
- Cụ Thi đang trên tàu về Nam Định.
- Cụ Thi về Nam Định? Thật không? Sao cụ
biết?
-
Cụ Thường vừa điện cho tôi nói cụ Thi đi không nói cho ai biết. Cụ Thường lo cụ
ông bát tuần rồi, đi xa giữa lúc dịch thế này… Tôi điện cho cụ Thi thì biết cụ
đã đến ga Nam Định rồi. Tôi điện cho cụ Quang cùng đón cụ Thi ra luôn quán Lý
Quốc Sư ở phố Bến Ngự. Cụ có đi thì ra luôn quán đợi nhé!
-
Đi ngay!
Tôi vội thay quần áo đi luôn.
Thế là cánh già chúng tôi gồm cụ Trần
Quang (cửu tuần), cụ Đặng Nam và tôi (ngoại thất tuần) gặp gỡ bù khú với cụ Trần
Thi (bát tuần). Mới mươi ngày xa cụ Thi mà ngỡ cả năm xa cách rồi. Chuyện nở
như ngô rang. Mấy cháu khách ăn bàn bên thấy các cụ vui cũng bỏ ăn ra chụp ảnh
cho các cụ.
Cụ Trần Thi lấy cớ về Nam Định thay
kính, cụ bà lo lắng thúc giục phải về Hà Nam ngay. Chiều nay mồng ba hàng tháng
các cụ phải họp chi bộ, chỉ gặp nhau được buổi trưa.
Cụ họa sĩ mời đi quán cà phê, nhưng sắp
đến giờ họp chi bộ nên đành chia tay nhau.
Cụ Thi khoe: “Bộ dàn karaoke, micro được
anh con rể Hàn Quốc chỉnh sửa hay lắm. Các cụ thể nào cũng phải lên hát, mỗi tuần
một ngày thôi cũng được”. Vâng, hôm nào trời đẹp, hết dịch cúm, nhất định phi
xe máy cùng các cụ lên Hà Nam thăm hai cụ Thi Thường và hát từ sáng đến chiều.
Những
khoảnh khắc gặp gỡ bạn già thật vui và nhớ.
3
- 3 - 2020
BÀI
THƠ TRÒ TẶNG THẦY
Trong số hàng nghìn học trò học tôi,
nhiều em có năng khiếu văn, thơ. Em Đoàn Văn Mật, học Thư viện khóa 3 (2000 –
2002), hiện công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã thành nhà thơ. Năm 2008 tôi
nhận được tập thơ đầu tay em gửi tặng. Đó là tập thơ “Giữa hai chiều thời
gian”, trong đó có những câu rất ấn tượng như “Cạnh chiếc bình không hoa / Thấy
có ngàn hương tỏa”.
Em Trần Minh Tiến khóa Thư viện 6 tặng
tôi một bài thơ rất hay, lấy tên là “Bài thơ không vần kính tặng thầy Trần Mỹ
Giống”, cùng tập bản thảo thơ gần trăm bài. Tôi cứ tự trách mình không cẩn thận
để tập bản thảo bị thất lạc trong lúc người thu dọn thuê vận chuyền về nhà khi
tôi nghỉ hưu.
Trong số thơ văn học trò tặng, có
bài thơ của một em học trò rất đặc biệt. Lúc bấy giờ là khoảng chín giờ tối 30
Tết năm 2004, trời lạnh và mưa lâm thâm. Đột nhiên xuất hiện trước cửa nhà tôi
một cô bé gầy gầy, hai tay ôm bức tranh sơn mài gói trong giấy báo. Cô gái
không nói, chỉ cúi đầu chào tôi. Tôi dắt em vào nhà, thăm hỏi thân mật. Em nhẹ
nhàng mở gói giấy chỉ vào bức tranh và tờ giấy đánh máy dán bên phải phía dưới,
miệng nói không rõ lời, dáng vẻ rất xúc động. Nhìn tờ giấy dán trên bức tranh
tôi thấy đó là một bài thơ đề tặng tôi. Tôi vừa đọc bài thơ, vừa cố nén cảm xúc
dâng trào trong ngực, lên mắt.
Cô gái ấy là em Phạm Thị Diệu Thúy,
học sinh Thư viện khóa 4 năm 2002 – 2004 Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật tỉnh
Nam Định. Những ngày đầu lên lớp, tôi chú ý đến cô bé cứ nhìn tôi không chớp mắt
suốt buổi. Khi đối thoại với học trò, tôi chỉ định cô bé trả lời. Cô bé đứng dậy,
mặt tái đi, miệng ú ớ như sắp khóc. Linh tính cho tôi biết em này có gì đặc biệt
đây. Tôi vội vẫy tay ra hiệu cho em ngồi xuống, rồi làm như không có chuyện gì,
tôi tiếp tục giảng bài. Giờ nghỉ, tôi hỏi lớp trưởng thì được biết: Em Thúy bị
tật câm điếc bẩm sinh, nhưng rất ham học. Tôi đề nghị lớp bố trí em ngồi bàn đầu.
Khi giảng bài, những phần quan trọng, tôi nói chậm, rành rọt, cố thể hiện khẩu
hình thật rõ ràng, mắt thường xuyên giao lưu với Thúy, trong lòng luôn cảm nghĩ
mình đang nói với đứa con gái nhỏ yêu thương. Thường khi nghỉ giữa giờ, tôi
chuyện trò với Thúy. Thúy nhìn miệng tôi để đoán hiểu tôi nói gì và dùng động
tác giao lưu là chính. Bài học có chỗ nào chưa rõ, Thúy viết ra giấy hỏi tôi.
Tôi trả lời tỉ mỉ, còn viết ra giấy cho em đọc. Cuối khóa, Thúy đỗ tốt nghiệp
loại khá. Sau đó em còn thi đỗ và theo học khóa Đại học Thư viện tại chức do
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mở tại Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật tỉnh
Nam Định.
Bài thơ cùng bức tranh sơn mài em Thúy tặng
là kỷ vật quý giá đối với tôi. Bài thơ đó như sau:
VIẾT TRƯỚC NGÀY XA TRƯỜNG
Kính tặng thầy Trần Mỹ Giống
Thầy
chẳng đòi hỏi những gì được mất
Những
gì cho và nhận ở lớp trò
Cần
mẫn chở chuyến đò tới đích.
Sang
sông rồi con gửi lại vần thơ.
Con
viết vần thơ trong ngày xa cách
Nước
mắt con rơi trên trang giấy chữ nhòa
Tìm
chẳng thấy lời hay tứ đẹp
Chỉ
tấm lòng trò nhỏ trước khi xa.
Phạm Thị Diệu Thúy
Lớp Thư viện 4 khóa 2002 –
2004
Tái
bút:
Mãi mãi con không bao giờ quên thầy –
một người thầy đã hết lòng quan tâm giúp đỡ và để lại cho con ấn tượng sâu sắc.
Năm học vừa qua nếu con có điều gì để thầy buồn thì xin thầy bỏ qua cho con…
(Tối 30 Tết Giáp Thân 2004)
Bài thơ giản dị, không cầu kì, thuộc
loại thơ thoại. Nhưng tôi rất trân trọng bởi nó là tấm tình chân thực của cô học
trò nhỏ, lại là một học trò đặc biệt. Tôi muốn nói với em: “Diệu Thúy ơi! Thầy
cũng không bao giờ quên hình ảnh của em. Cảm ơn em đã đem lại cho thầy niềm hạnh
phúc và tự hào về lớp trò của mình. Chúc em hạnh phúc và may mắn trong cuộc sống”.
NGỒI BUỒN XEM ẢNH CŨ
Ảnh
chụp chung tôi với anh Lê Thanh Oai. Anh là thủ trưởng đơn vị chiến đấu của tôi
ở Quảng Trị năm 1972. Ảnh chụp sau hơn bốn mươi năm gặp lại anh. Anh Lê Thanh
Oai nguyên là bộ đội kháng Pháp tái ngũ, làm Trưởng ban 5, trực tiếp quản lý Trung
đội vệ binh Trung đoàn 101 Sư đoàn 325. Khi ấy tôi là sinh viên năm thứ tư Đại
học Thư viện nhập ngũ theo lệnh tổng động viên…, nặng 39 kg, được biên chế về Trung
đội vệ binh B23 E101 F325.
Trước
khi đi chiến trường, tôi được về phép cưới vợ. Anh Lê Thanh Oai tặng tôi mấy
tút thuốc lá Drao và Trường Sơn. Ngày ấy thuốc lá phân phối.
Ngày
ở chiến trường Quảng Trị, anh Lê Thanh Oai đã có quyết định thăng lên làm Phó
chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn. Nhưng rồi lại bị hạ chức trở về Trưởng ban 5. Sau
anh đi lo trại sản xuất và phục viên. Số là ngày ấy, tay Phó chủ nhiệm Chính trị
xuống chỉ huy đôn đốc đơn vị chiến đấu, sợ chết bỏ nhiệm vụ chạy về Trung đoàn
bộ. Anh Lê Thanh Oai đã phê phán sự hèn nhát của tay này trước Đảng ủy. Tay này
lý luận rằng hắn là bộ não chứ không phải lính trực tiếp chiến đấu. Chiến trận
ác liệt, hắn chạy là để bảo vệ bộ não của Đảng, của Trung đoàn chứ không phải hắn
hèn nhát sợ chết. Cái sự ngụy biện dở như cứt của hắn, lạ thay lại thắng. Hắn
không hề hấn gì, còn anh Lê Thanh Oai thì không được trao Quyết định thăng chức.
Nhớ
trận bảo vệ cửa Việt, không thể quên hình ảnh anh Lê Thanh Oai người nhỏ thó,
hai mắt sáng quắc, tay vung vẩy khẩu súng lục, đốc thúc lính vệ binh tiến lên
giữ cảng cửa Việt. Dáng vẻ đằng đằng dũng khí của anh Lê Thanh Oai tác động mạnh
vào tâm lý chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng ở người chỉ huy và vững tâm tiến lên
trong mưa đạn của đối phương, quyết giữ cảng đến cùng.
Hơn
bốn mươi năm sau, tôi tìm về xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đến nhà
thăm anh, thấy anh đã là một cụ già, đang ngồi đan rổ rá trong sân. Tôi nhắc lại
trận Tăng-gô-xy-ty (trận Cửa Việt trước giờ đình chiến), anh Lê Thanh Oai trầm
ngâm: “Khi ấy anh biết rằng, anh em mình chỉ có tiểu liên và súng lục thì khó
lòng mà chặn được đối phương có mấy chục xe tăng, pháo cối, hỏa lực mạnh. Cũng
may, đối phương dừng lại chứ nó cứ tiến lên thì chắc anh em mình hy sinh cả rồi.
Bởi vì khi ấy chúng mình không còn con đường nào khác, chỉ có tiến lên, chứ quyết
không bỏ chạy…”
Cũng
như tôi, anh Lê Thanh Oai cũng chẳng được hưởng chế độ nhiễm chất độc da cam và
các chế độ khác đối với bộ đội đi chiến trường Quảng Trị năm xưa. Tôi đôi lúc ấm
ức và oán thán đời thiếu công bằng, chứ anh Lê Thanh Oai thì trái lại, chả thèm
xin xỏ gì hết. Anh bảo: “Mình đi chiến đấu có đòi nhà nước điều kiện gì đâu. Mà
có bao giờ nghĩ đi chiến đấu để hưởng chế độ. Không có chế độ anh em mình vẫn sống
tốt kia mà. Quên đi cho thanh thản em ạ. Anh em mình còn sống đến nay là may mắn,
phúc lớn lắm rồi…”
Cuối
năm ngoái tôi lên thăm anh thì anh đã được con cái đón đi Hà Nội chữa bệnh. Tôi
nhắn hàng xóm rằng khi nào anh về thì gọi điện cho tôi. Nhưng không thấy anh gọi
điện. Chắc anh vẫn ở với con cái trên Hà Nội để tiện chữa bệnh. Quay đi quay lại
anh đã ngoài tám mươi rồi, còn tôi cũng bảy mươi… già cả rồi. Già rồi, chẳng
ham hố gì nữa, lẩn thẩn sống với kỷ niệm qua ngày…
13-8-2017
“LẠI” HAY “CÒN”
Trước hết, ta hãy đọc lại bài thơ của cụ
Tú Xương:
SÔNG LẤP
Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Từ nhiều năm nay, bài thơ “Sông lấp” của cụ Tú Xương
được khắc trên tấm bia mộ cụ đã nhầm từ
“còn” ở câu thơ số bốn trong bài thành từ “lại”. Cụ thể, câu khắc sai là
“Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi
đò”. Một số người quan tâm đến nhà thơ Tú Xương đã góp ý nên sửa lại cho đúng,
nhưng không hiểu sao tấm bia vẫn không được sửa lại.
Trao đổi với một số bạn thơ, có người
cho rằng bia được khắc đúng cho nên lãnh đạo Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Nam Định
không có ý kiến gì, không sửa. Cá nhân tôi vẫn khẳng định họ khắc sai bài thơ của
cụ Tú, bởi:
- Thứ nhất: “Lại” là từ biểu thị sự lặp
lại nhiều lần của một sự việc, một hành động, một trạng thái, nghĩa là đã xảy
ra rồi, lại xảy ra tiếp…
“Lại
tưởng” trong bài thơ của cụ Tú thể hiện cụ đã nhiều lần nghe tiếng ếch, mà mỗi
lần nghe tiếng ếch là cụ lại liên tưởng đến tiếng gọi đò trong quá khứ. Nhưng
đã là việc từng xảy ra nhiều lần, đã khắc sâu và lặp đi lặp lại trong tâm tưởng
cụ Tú thì cụ Tú chẳng thể “giật mình” được. Vậy nên từ “lại” làm cho thơ cụ Tú
thành ra thiếu lô gic đến buồn cười, làm câu thơ mất hay.
“Còn” là từ biểu thị sự kéo dài của một
sự việc, một hành động, một trạng thái, nghĩa là chưa hết, chưa chấm dứt.
Thực
tế hiện tại sông Vị đã bị lấp, đã biến thành “Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô
khoại” mà hàng ngày cụ Tú chứng kiến, khiến cụ liên tưởng đến cảnh thay đổi thời
thế, nhân tâm. Dù con sông Vị đã bị lấp nhưng trong tâm tưởng, từ đáy lòng cụ
Tú vẫn chưa quên nó, tiếng gọi đò vẫn còn trong nỗi nhớ của cụ. Cho nên, bất chợt
“Vẳng nghe tiếng ếch bên tai” cụ bỗng “giật mình” mà “còn tưởng tiếng ai gọi
đò”. Trong mối liên hệ nhận thức tình cảm giữa hiện thực và quá khứ như nêu
trên thì từ “còn” là phù hợp, lô gic.
-
Thứ hai: Ta hãy đọc to lên câu “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” và “Giật
mình lại tưởng tiếng ai gọi đò” để thưởng thức âm điệu của câu thơ (thể lục
bát). Rõ ràng từ “còn” làm cho câu thơ nhịp nhàng, ngọt ngào, êm tai bởi cụ Tú
đã sử dụng các thanh bằng trắc rất cân đối với tỷ lệ 4/4. Còn từ “lại” đọc lên
thấy câu thơ nặng nề, khổ độc (ba thanh trắc liền nhau), mất sự nhịp nhàng êm
ái bởi nó mất sự cân bằng thanh qua tỷ lệ bằng trắc 3/5. Lẽ nào nhà thơ tài
năng xuất chúng Tú Xương lại bỏ qua cái hay mà dùng cái dở?
- Thứ ba: Tôi đã nhờ Phó Giám đốc Thư viện tỉnh
Nam Định Lê Thị Sáu trực tiếp tra cứu hơn hai chục cuốn sách trong thư viện xem
có chỗ nào chép bài “Sông lấp” của cụ Tú dùng từ “lại” không. Kết quả tất cả
các sách đều chép từ “còn” mà không có bất cứ tài liệu nào chép từ “lại”.
Tôi đề nghị Sở Văn hóa Thể thao Du
lịch sửa lại bài thơ “Sông lấp” khắc trên bia mộ Tú Xương cho đúng nguyên bản
thơ cụ Tú để tỏ ra tôn trọng Cụ. Thiết nghĩ việc làm này là cần thiết, cần làm
ngay và không khó.
MÁU
CA HÁT DI TRUYỀN
Bác ruột tôi là cụ Trần Mỹ Vượng từng
hoạt động cách mạng, bị giặc Pháp bắt tra tấn 6 tháng. Cụ quyết không khai một
lời. Cuối cùng chúng phải thả cụ về. Nhưng do đòn thù cụ bị bệnh kinh niên mất
khi bảy mươi tuổi. Cụ từng là Đội trưởng đội văn nghệ xã.
Ngày tôi còn bé, mỗi lần xã tổ chức
diễn kịch phục vụ nhân dân là tôi lại háo hức, mang gạch xếp nhận chỗ ngồi từ
chiều. Vở cải lương Bao công xử án Trần Sĩ Mỹ diễn đi diễn lại mà tối nào cũng
rất đông người xem. Bác tôi đóng vai Trần Sĩ Mỹ. Dì Ngọ tôi đóng vai Tần Thị
Hương Liên. Ông Ru, bạn hàng sắt với bố tôi thủ vai Bao Công. Tôi, anh Hữu và
dì Ngót tôi được bác tôi cho thử vào vai hai con Tần Thị Hương Liên. Tôi bị loại.
Anh Hữu và dì Ngót vào vai rất đạt. Tôi cứ nắc nỏm anh Hữu khóc trên sân khấu
như thật. Sau anh Hữu bảo khóc thật vì bố (tức bác tôi) dun hai con ngã mạnh
làm anh Hữu đau bật khóc.
Tuồng, chèo, cải lương môn nào bác
tôi cũng thạo. Giọng bác tôi vang như chuông. Chẳng hạn như câu ca cụ làm mẫu
cho bạn diễn: “Trần Sĩ Mỹ kia mi là một kẻ… gian hùng”. Từ “kẻ” được bác tôi
kéo dài mãi làm tôi như nghẹt thở, rồi bác đổ giọng xuống xề ở từ “hùng” làm
tôi như bật thở ra thật khoái vô cùng.
Cái khiếu ca hát của bác tôi di truyền
đời chúng tôi. Các chị tôi ai cũng hát hay. Chị Xuân lại truyền cái máu ca hát
cho cậu con trai. Ấy là cháu Trần Phong. Cháu Trần Phong đàn hát đều hay. Có lần
nghe Trần Phong hát trên mạng FB, chị cả tôi bảo: “Nghe thằng Phong hát hay hơn
ca sĩ Tùng Dương”. Ấy là chị tôi yêu quý cháu mình mà nói vậy. Nhưng đúng là
cháu Phong hát hay thật, phong cách rất chuyên nghiệp.
Chị cả tôi trục trặc chuyện tình
duyên. Đi thanh niên xung phong ba năm chuyển ngành học trung cấp kế toán rồi
làm ở hợp tác xã nông nghiệp đến về hưu. Nhiều người tỏ tình nhưng chị đều từ
chối, ở vậy nuôi các cháu. Ngày trẻ và giờ ở tuổi bảy nhăm, chị vẫn say mê sinh
hoạt câu lạc bộ ca hát ở quê. Chị là cây soạn lời cho các điệu chèo, dân ca nội
dung sát hợp từng nhiệm vụ của địa phương. Chị thuộc nhiều điệu chèo và hát
cũng rất “siêu”.
Hôm rồi chị bảo: “Thấy cậu hát trên
FB rất hay, chị vui lắm. Cậu cứ hát cho lạc quan và khỏe mạnh sống lâu nhé!”
Vâng. Em nhớ lời chị. Em sẽ hát cho tới
khi không hát được nữa mới thôi chị ạ. Cái máu ca hát truyền từ thế hệ trước
cho chị em mình không thể nào khác được. Hôm nay hát lại nhớ tới hoạt động văn
nghệ của bác Vượng, dì Ngọ sinh thời đến nao lòng.
MÌNH HẾT THỜI
RÔI!
Ngày
còn đương công tác, mình được đồng nghiệp gọi là “cuốn từ điển sống” về phân loại
sách, học trò mình coi mình là ông thầy giỏi chuyên môn. Vậy mà từ khi vào tuổi
65, mình bắt đầu nhớ nhớ quên quên. Nhiều hôm quên đi đón cháu. Khi đưa cháu đi
học, tới trường cháu rồi mà vẫn phóng tuột qua. Cháu hỏi: - “Ông lai cháu đi
đâu vậy?” mình mới chợt nhớ ra, quay lại.
Mấy lần đón cháu về cứ thản nhiên đi qua ngõ nhà mình. Cháu lại hỏi: -
“Ông cho cháu đi đâu vậy?” mới nhớ ra đưa cháu về nhà.
Có bận ông bạn văn đưa cho mình một
bài viết bảo đọc biên tập hộ ông ấy. Đọc cứ thấy nó quen quen, thấy tâm đắc với
người viết. Hỏi ông bạn:
-
Bài của thằng nào vậy?
Ông bạn bảo:
-
Bài của chính ông, tôi muốn đưa vào tuyển tập đấy!
Cãi:
-
Sao lại ký tên là Thanh Minh. Đâu phải tên tôi?
Bạn
thở dài:
- Thanh Minh là một trong số hơn chục bút danh của ông
mà ông quên à?
-
Vậy à?
Có
bạn hỏi xin lại bài bình tác phẩm của họ mà mình đăng lên FB từ lâu. Rõ khổ, mạng
cứ bị phá mất, làm mới lại từ đầu, chả nghĩ ra cóp lưu lại các bài ấy sau này
in thành tập kiểu “Văn chương và cảm nhận” có khi được giải cũng nên, bởi đọc
thấy sách được giải cũng chả hơn gì. Thì lỗi tại cái… não thoái hóa quên quên
nhớ nhớ mà mình chả làm sao chống lại được.
Một
ông đồng nghiệp, vào tuổi trên bát tuần rồi mà vẫn say mê làm nghiên cứu. Rồi
tìm mọi cách chạy chọt, ép báo tạp chí đăng. Khổ nỗi bài nào của ông đăng tạp
chí cũng bị bạn đọc phê bình là thiếu khoa học, râu ông nọ cắm cằm bà kia, sai
toét về lịch sử.
Lại
nghĩ về mình, đã bắt đầu lẩm cẩm, não thoái hóa rồi thì nên thôi làm nghiên cứu.
Nghĩ thông rồi, mình công bố “Treo bút nghiên cứu” và chỉ thi thoảng viết mẩu
truyện nhặt, vài câu thơ tùy hứng, có dở cũng không chết ai. Phần lớn thời gian
còn lại mình đi thể dục karaoke cho khỏe.
Còn
có cái giọng hát cho khuây khỏa hàng ngày. Vậy mà tự nhiên thấy đau nóng bỏng cổ
họng rồi mất tiếng. Ông trời cho sao được vậy. Biết làm sao bây giờ.
Thế
mới thấy việc ông bạn họa sĩ Đặng Nam thỉnh thoảng hứng lên quay video clip
mình hát karaoke bằng điện thoại, rồi tung lên mạng thật quý hóa. Bây giờ mất
tiếng, mở các video đó nghe lại, cảm ơn ông bạn họa sĩ Đặng Nam nhiều lắm.
Vào
tuổi “xưa nay hiếm” sức khỏe giảm sút với tốc độ tên lửa. Ốm đau, tai nạn liên
miên. Năm trước tai nạn gẫy xương đòn, phải mổ đóng nẹp. Năm nay chỗ đóng đinh
sưng đau, phải mổ tháo nẹp. Dấu nhẹm bạn bè, họ hàng, tránh phiền hà cho họ phải
thăm nom vất vả.
Mỗi
người có cái thời của mình. Thời của lớp cánh già bọn mình đã qua rồi. Thức thời
lui về sau cánh gà, để sân khấu cho bọn trẻ diễn. Chớ dại mà cố đấm ăn xôi, có
khi danh bại thân liệt như chơi!
THĂM NHÀ LƯU NIỆM NAM CAO,
BÁ KIẾN
Sáng 8 - 7 - 2014 tôi cùng nhà thơ Chu
Đình An và nhà thơ Nguyễn Hữu Thức (Phó chủ tịch Câu lạc bộ thơ Non Côi Sông Vị)
đi thăm nhà lưu niệm nhà văn liệt sĩ Nam Cao ở Nhân Hậu (Lý Nhân - Hà
Nam). Nhìn từ trên đường cái xuống nhà
lưu niệm thấy khá đẹp. Ngõ nhỏ dốc từ trên đường cái xuống xây bậc gạch, giữa
có gờ khoảng một gang tay. Mộ nhà văn bên ngoài, nhà lưu niệm bên trong.
Sân gạch ẩm ướt do mưa, rêu lờ mờ xanh.
Tôi dắt xe máy cua trong sân, trượt bánh xuýt đổ. Vườn trước sân, bên ao cá, có
hai cây của bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trồng lưu niệm, nhỏ và còi cọc
giữa lớp cỏ xanh um phát triển tự do. Bên trái góc vườn có cây đa xanh tốt xum
xuê treo biển Tỉnh ủy Hà Nam trồng.
Trong nhà lưu niệm trưng bày đơn sơ. Bác
trông coi nhà lưu niệm không thuyết minh, vui vẻ chụp hộ tôi mấy tấm ảnh lưu niệm.
Bác An yêu cầu tôi ghi sổ lưu niệm.
Chúng tôi dâng hoa và thắp hương tưởng
nhớ nhà văn. Nhà thơ Chu Đình An tặng nhà lưu niệm tác phẩm thơ "Chí
Phèo" chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao.
Khi ra về, tôi mắc giữa dốc lên đường
cái, lùi xe xuống không được mà đẩy lên thì không đủ sức. Bác An và bác Thức
xúm vào đẩy giúp. Bác An cưỡi xe từ trong sân, cua ra ngõ, xe trượt bánh đổ
nghiêng.
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình thăm
nhà Bá Kiến.
Theo biển chỉ dẫn đã lả tả chữ còn chữ mất,
chúng tôi vào thăm nhà Bá kiến cách nhà lưu niệm Nam Cao khoảng 2 km. Nhìn nhà
Bá Kiến từ nhiều góc độ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: "Đâu rồi nhà ngang dãy dọc
với nhiều người làm thuê ở mướn của ông Bá nổi tiếng giàu và quyền thế nhất
làng? Hóa ra địa chủ ngày xưa cũng chỉ giàu đến thế này thôi ư? So với quan chức
thời nay thì ông Bá Kiến chỉ là con tép!"
Sau cú điện thoại hai phút, chị trông
coi nhà Bá Kiến đã có mặt mở cổng mời chúng tôi vào nhà.
Vườn trước vườn sau cỏ rả tranh đua với ổi,
chuối.
Vào nhà, cảm giác hơi lạnh lạnh. Đơn sơ,
chỉ có gian giữa bày bàn thờ cụ Bá. Gian
bên có mấy cái nồi đất và tấm biển quảng cáo xếp xó, ghi: "Bán cá bống kho".
Thấy tôi chăm chú nhìn tấm biển, bác Thức nói nhỏ: "Cá bống kho nổi tiếng ở
đây đấy, có dùng không, hai triệu một niêu thôi!"
Nhìn lại căn nhà, thấy hàng cột lim nhẵn
bóng rất giá trị, tôi đo bằng tay chu vi cột được 5 gang tay.
Chị chủ nhà rót nước mời khách rồi bắt đầu
thuyết minh theo bản chuẩn bị sẵn y như trẻ con đọc thuộc lòng bài học. Tôi hỏi:
- Chị có lương không? Chị là con cháu cụ
Bá à?
- Dạ không ạ. Chúng cháu là người làng tự
nguyện trông coi. Không ai trả lương cả. Chỉ khách tham quan cho đồng nào được
đồng ấy thôi ạ.
- Thế nhà đất cụ Bá bây giờ ai quản lý?
- Sở Văn hóa Hà Nam mua rồi ạ.
- Nhà cụ Bá còn nguyên cũ hay làm lại rồi?
- Nhà cũ đấy ạ. Cách đây 147 năm rồi.
Còn dãy nhà ngang 5 gian thì không còn ạ.
- Ồ, dãy nhà đó, bà Ba và anh Chí...
Truyện của Nam Cao đúng thực tế không, có gì khác không?
-
Dạ, truyện nói cụ Bá 3 vợ, thực tế cụ 5 vợ cơ ạ. Cũng không phải anh Chí đâm chết
cụ, mà cụ chết tự nhiên thôi, sau khi bà Ba treo cổ tự vẫn ạ. Cụ có bắt anh Chí
đi tù một thời gian ngắn.
Tôi thấy gai gai lạnh, bèn bỏ ra ngoài
nhìn ngó ngẩn ngơ. Đâu rồi hình bóng cụ Bá, bà Ba, anh Chí...
8 – 7 – 2014
CÒN
DUYÊN
Nhớ thời sinh viên hơn nửa thế kỷ trước,
Đại học thư viện K6 sinh hoạt văn nghệ rất sôi nổi. Có lần thi hát, ông Nhân
hát bài “Tầm Vu” rất hay, nhưng ông ấy không chịu nhận giải nhất, cứ nhường cho
tôi. Không rõ ông Nhân có còn không? Từ ngày đi bộ đội, tôi không biết một
thông tin gì về ông Nhân. Nhớ bà Tám hay hát bài “Hoa thơm bướm lượn”, bà Lan
Trẩm hát quan họ “Giã bạn”, “Kẻ Bắc người Nam’… Cứ thấy bà Lan là nghe “Hự ới hừ
là hự ới hừ”. Thoắt cái mà giờ thành cụ cả rồi. Các bạn K6 ơi, cùng nhớ về các
bạn đã đi xa nhé: Hiền (Hà Nội), Châu (Thanh Hóa), Yến (Thái Bình), Lý (Nam Định),
Trẩm, Tình, Toàn, Khải, Bổng…
Nhớ trước khi lên đường nhập ngũ, tôi
còn cùng đội văn nghệ K6 diễn vở “Diễn viên không chuyên nghiệp”. Tiết mục của
K6 nổi đình đám trong đêm hội diễn của trường Văn hóa. Ông Tứ Lý vừa là đạo diễn,
vừa là diễn viên. Tôi đóng vai Thiếu tá tỉnh trưởng. Phúc đóng vai Trung úy hầu
cận. Bà Liễu tân đảo về, nói tiếng Pháp sõi hơn tiếng Việt, người đẹp quý phái,
đóng vai nhà báo nước ngoài. Ông Bút đóng vai anh lính cộng hòa, diễn tả thay đổi
tâm lý tình cảm ăn nhập với giọng ca thiết tha ngọt ngào ngang ngửa với ca sĩ
Thu Hiền của bà Thúy: “Quay về đi thôi hỡi anh người lính cộng hòa…” Bà Hải hoa
khôi của lớp và các bà Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương… đóng vai nhóm sinh viên do
ông Tứ cầm đầu. Còn văng vẳng bên tai tôi tiếng của Thiếu tá tỉnh trưởng:
- Xin chào các bạn sinh viên!
Im lặng.
- Xin chào các bạn sinh viên!
Im lặng.
- Chào các bạn sinh viên! Xin chào!
Chào!
Vẫn im lặng.
- Ồ! Thế ra dưới chân tôi là một sa mạc
trầm tư đấy ử?
Tiếng của ông Tứ đóng vai lãnh đạo nhóm
sinh viên đáp trả:
- Và trên đầu ông là cả một trời sao
sáng chói đấy!
Những chuyện vui buồn của K6 thành kỷ niệm
đẹp da diết theo tôi từ ấy đến giờ các ông các bà ạ.
Giờ thì mời bà Lan bà Tám cùng “hự ôi hừ
là hự ôi hừ” với tôi để ta cùng quay về thời tuổi trẻ đẹp nhất đời người nhé!
Chúng mình vẫn “còn duyên” phải không các ông các bà đồng môn K6 của tôi!
NHÂN BÀ CỤC TRƯỞNG CỤC BẢO
VỆ VĂN HÓA ĐÒI CẤM QUẢNG CÁO “MỞ LON…”
Nhân
bà Cục trưởng Cục bảo vệ Văn hóa đòi cấm chỉ quảng cáo “Mở lon” vì cho như thế
là “Mở lon = mở lồn là thiếu văn hóa”, tôi có comments phản đối thì bị một số bạn
chửi bới tôi và binh bà Cục trưởng rằng dùng từ “LON = LỒN” là vô văn hóa, là tục
tĩu, là xấu. Tôi xin được thưa như sau:
Một sự vật, hiện tượng, con người… đều
được nhân dân ta từ ngàn đời nay gắn cho một cái tên để phân biệt loại sự vật,
hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác, cá thể này với cá thể khác. Cái
tên gọi nó là một loại phù hiệu để phân biệt các sự vật và hiện tượng. Mục đích
của ngôn ngữ chỉ có vậy. Bản thân ngôn ngữ không xấu, không tốt như cá nhân nào
đó áp đặt. Chẳng hạn cô Loan khác cô Khang, cái lồn khác với cái buồi, gió khác
với sét… Tất cả chúng đều là phù hiệu riêng của cá thể (danh từ riêng) hoặc của
loại nhóm giống nhau nào đó (danh từ chung). Tại sao khi gọi tên cái lồn thì bạn
bảo là xấu, là vô văn hóa, là tục, còn các tên khác thì không? Nghĩa là bạn đã
áp đặt cái cảm tính của mình cho cái tên này là tốt đẹp, còn cái tên kia là xấu
xa. Nhưng bạn phải biết rằng cái tên – phù hiệu của mỗi cá thể nó không hề phụ
thuộc vào cảm tính áp đặt của bạn. Bạn tên là Nguyễn Thị Đẹp nhưng có thể nhìn
mặt bạn lại rất xấu. Cô bạn thời trẻ của tôi tên là Trần Thị Xấu, nhưng cô ấy lại
có hình thể đẹp như tiên nữ. Hình thức xấu đẹp ở đây không liên quan gì đến cái
tên. Khi nói đến một anh chàng tráo trở chuyên lừa gái thì người ta bảo là thằng
Sở Khanh. Nhưng cái tên Sở Khanh chẳng làm nên cái tráo trở lừa gái mà do chính
nhân cách đạo đức hành động của người sở hữu cái tên Sở Khanh quyết định.
Giờ quay lại chủ đề cái LỒN. Tôi xin hỏi
bạn, cái lồn có tội tình gì, nó chỉ là phù hiệu chỉ bộ phận sinh dục sinh sản nữ
mà thôi. Nếu cái lồn nó là xấu xa, là thiếu văn hóa thì thử hỏi bạn, và bà Cục
trưởng Cục bảo vệ Văn hóa phát ngôn tầm bậy bệnh hoạn (LON = LỒN xấu xa, vô văn hóa) không từ cái lồn
của mẹ mình chui ra làm người sao? Tại sao cái vú để bạn bú mớm lớn lên thì lại
được tôn vinh, còn cái lồn để bạn chui ra làm người lại bị miệt thị? Tôi có lần
được tham quan đền thờ, tháp Chăm, thấy người ta thờ tượng phụ nữ khỏa thân mà
cái lồn chính là vật thờ! Khách đến tham quan bằng mọi giá phải sờ tay được vào
cái lồn thờ để cầu hạnh phúc.
Bạn là nam giới, vậy bạn có lấy một người
không có cái lồn làm vợ không?
Tóm lại tên gọi – phù hiệu của sự vật hiện
tượng chỉ để phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, nó chẳng
liên quan gì đến cái ý nghĩa mà bạn áp đặt cảm tính. Hãy tôn trọng cái tên gọi
và thái độ công bằng với mọi cái tên. Hãy gọi đúng tên của sự vật. Đó mới là
thái độ văn hóa, tôn trọng tiếng nói của dân tộc, cha ông. Ngược lại, gán cho
cái tên một ý nghĩa chủ quan vốn không phải mục đích của cha ông khi sáng tạo
ra nó, liên tưởng xuyên tạc bệnh hoạn theo cảm tính của mình, là thái độ thiếu
tôn trọng tiếng nói dân tộc, làm méo mó ý nghĩa của tên gọi - phù hiệu riêng mà
thôi.
1-7-2019
VỀ
THĂM NHÀ
Về thăm nhà chịu tang ông cậu. Nằm trên
chính chiếc giường mẹ tôi, rồi bố tôi nằm trước lúc ra đi. Ngủ một mình trong
ngôi nhà thân thiết của cha mẹ mà xúc động thao thức cả đêm. Ngôi nhà 24 mét
vuông này được làm từ thời kháng Pháp. Mấy lần giặc đốt, mấy lần dựng lại. Hồi ấy
nhà tường đất, mái bổi. Năm 1974 bố mẹ tôi mới xây gạch, lợp ngói. Nơi đây, năm
anh em tôi sống trọn tuổi thơ.
Bố mẹ tôi làm nghề bán hàng sắt (khóa,
dao kéo, cày cuốc, bản lề…). Chợ gần một hai cây số như chợ Trung, chợ Bắc, chợ
Cầu…, chợ xa trên dưới hai mươi cây số như chợ Bể, chợ Thanh Nhang, chợ Bến… Bố
tôi gánh hai thúng hàng nặng 50 ký đi chợ từ nửa đêm, xẩm tối mới về tới nhà.
Đòn gánh đè nặng trên vai năm này qua năm khác làm hai vai bố tôi nổi hai cục u
to như bát ăn cơm. Mẹ tôi gầy liêu xiêu đội thúng hàng sắt đi bộ cùng bố tôi. Bố
mẹ tôi nuôi năm anh em tôi ăn học trưởng thành nhờ gánh hàng sắt ấy.
Cô em họ vào chơi cứ băn khoăn: Không hiểu
ngày xưa các cụ làm sao mà sống được trong ngôi nhà bé tẹo này? Bây giờ nhà mấy
tầng, diện tích gấp nhiều lần ngôi nhà này mà con cháu vẫn kêu chật.
Sáng sớm, ra nhìn trời nhìn đất, nơi nào
cũng thấy thân quen, gắn bó. Nhà thờ Phú Nhai cách nhà tôi ba trăm mét đường
chim bay, mờ mờ trong sương sớm. Nghia trang liệt sĩ bên nhà, có hai liệt sĩ của
gia đình trong đó. Dòng sông hiền hòa chảy quanh làng, nhưng giờ bị thu hẹp và
ô nhiễm. Cầu bến này là nơi tôi từng ngồi câu cá rô, cá rói. Chiếc Cầu Trường
ngày trước làm bằng gỗ, hiện nay người ta thay bằng thanh sắt đường tàu. Cây cầu
này ngày xưa là nơi tôi thường ngồi thổi sáo đêm trăng, chiều thì cùng bọn trẻ
thi nhảy cầu, bơi lặn.
Nhìn bức tranh Cầu Trường của họa sĩ Nguyễn Gia Hoàn vẽ
từ nửa thế kỷ trước mà nao nao trong lòng đến lạ. Ký ức tuổi thơ dào dạt sống dậy
trong lòng.
Hơn nửa thế kỷ xa quê, lúc nào tôi cũng
đau đáu nỗi nhớ quê. Mỗi lần có dịp về thăm quê là mỗi lần sung sướng, xúc động.
Ngôi nhà nhỏ bé của bố mẹ tôi là nơi tôi luôn hướng về, là nơi níu giữ tình yêu
của tôi, là nguồn năng lượng tiếp cho tôi hy vọng, mong mỏi và sống.
Xuân Trung, ngày 11 - 6 - 2019
TÌM XUẤT XỨ VÀ TÁC GIẢ
BỨC THƯ HỌA VÀ BÀI THƠ NÔM
Ngày còn bé tôi có đọc được một bài thơ
Nôm in trên một trang tạp chí (hay báo) dùng gói bánh rán mà mẹ tôi mua về làm
quà cho các con. Tôi rất ấn tượng bức tranh và bài thơ. Lâu rồi nên tôi nhớ
không chính xác. Đại để bức thư họa vẽ tranh phong cảnh sơn thủy, có kèm theo một
bài thơ minh họa theo trí nhớ của tôi như sau:
Bốn cảnh đều nhau một cảnh con
Ba xuân nho nhỏ một xuân tròn
Hồ rộng mênh mang ngư lộn ngược
Núi cao chót vót dựng sườn non
Tôi mang máng nhớ là bài báo có nói về
hoàn cảnh ra đời bức thư họa và bài thơ của hai tác giả là những nhà nho thời
phong kiến. Đây là một giai thoại hay về hai tác giả. Nhưng tôi không thể nhớ
ra tác giả bài thơ, bức thư họa là ai?
Có lần tôi hỏi nhà thơ Phạm Trọng Thanh,
được anh chỉnh lý câu thứ tư bài thơ là:
Núi cao chót vót điểu nằm ngang
Còn nhà thơ Trần Khắc Cánh lại đọc câu
này là:
Núi cao chót vót ngựa chồn chân
Theo hai dị bản này thì bức tranh phải
thêm chữ “điểu” (chim) viết nằm ngang hoặc chữ “mã” (ngựa) cạnh phía trên chữ
“sơn” (núi). Song cả hai nhà thơ đều không cung cấp được cho tôi xuất xứ bài
thơ và tác giả là ai.
Trong cuốn “Truyền thông phát triển
trong nền kinh tế nối kết” của Ts. Lê Thanh Hải, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội năm 2017, trang 69 có đoạn viết:
“Tôi từng được nghe một ví dụ tương tự
như vậy thời còn học đại học, về một bức họa bằng thư pháp. Người họa sĩ Hà Nội
lúc đó viết một chữ Hồ bằng tiếng Hán thật rộng với một chữ Ngư nằm lật ngược,
bên cạnh chữ Sơn thật cao và chữ Điểu bé tí ở trên. Hai bên cạnh bức họa thư
pháp là mấy chữ Xuân có một chữ được khoanh tròn, và mấy chữ Cảnh giống nhau
kèm theo một chữ Cảnh bé hơn. Ngồi trong lớp học tiện nghi còn đơn sơ, cậu sinh
viên non nớt là tôi bỗng được giác ngộ về một thế giới đẹp nằm ở đâu đó ngay
bên kia tấm bảng đen, bức họa cũng chính là bài thơ mà người thầy chỉ đọc
thoáng qua mà đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ:
Ba xuân nho nhỏ một xuân tròn
Bốn cảnh đều nhau một cảnh con
Hồ rộng thênh thang ngư lộn ngược
Núi
cao chót vót điểu nằm ngang.” (Hết trích)
Theo
như tác giả Lê Thanh Hải thì câu bốn của bài thơ cũng giống như câu nhà thơ Phạm
Trọng Thanh cung cấp cho tôi. Câu một và hai đổi chỗ. Ở câu ba thì có từ “thênh
thang” khác với “mênh mang” do tôi nhớ có thể không chính xác. Tinh thần toàn
bài không có gì khác với bài tôi nhớ. Riêng về bố cục bức thư họa, thay vì bốn
chữ “cảnh” viết thành hàng ngang phía trên bên phải, trên bốn chữ này lại thêm
một chữ “cảnh” nhỏ hơn, và ba chữ “xuân” nho nhỏ cộng một chữ “xuân” khoanh
tròn viết theo cột dọc bên phải bức thư họa, lại thay bằng “Hai bên cạnh bức họa
thư pháp là mấy chữ Xuân có một chữ được khoanh tròn, và mấy chữ Cảnh giống
nhau kèm theo một chữ Cảnh bé hơn”. Tác giả Lê Thanh Hải cũng không đưa ra
thông tin gì về xuất xứ tác giả cụ thể bức thư pháp và bài thơ.
Suy nghĩ kỹ thì tôi thấy các dị bản thêm
hình ảnh “điểu nằm ngang” tả chim bay ngang núi hoặc “Ngựa chồn chân” nói được
sự cao của núi. Nhưng về nghệ thuật thì vần “ang” trong từ “Ngang” và vần “ân”
trong từ “chân” đều không phải vần chính với vần “on” của bài thơ. Tôi cứ băn
khoăn: Các cụ nhà Nho xưa rất giỏi và coi trọng niêm luật trong thơ, không lẽ
các cụ lại bỏ vần chính mà dùng vần không phải vần chính?
Nhờ các bạn đọc kiến văn rộng cho biết
nguyên bản và xuất xứ bài thơ. Tác giả bức thư họa và tác giả bài thơ là ai.
Thành thật cảm ơn các bạn.
NHẬT
KÝ ĐI VIỆN
Tầm
này năm ngoái (6-9-2017) mình bị tai nạn xe máy gẫy xương đòn, phải mổ nẹp sắt
đóng đinh. Nằm viện 8 ngày, về kiêng đi xe đạp ba tháng. Bác sĩ hẹn một năm sau
vào mổ tháo nẹp gỡ đinh.
11
- 9 – 2018
Ăn
sáng cơm ruốc hoặc miến cà chua thịt băm mãi cũng chán, vợ đi mua cho đĩa bánh
cuốn chả ở quán đầu ngõ. Lâu không ăn bánh cuốn, ngon miệng ăn hết đĩa bánh vẫn
còn thòm thèm.
Chợt
con gái gọi điện:
-
Hôm nay con được nghỉ tiết đầu, lại là ngày tốt (2-8 âm lịch), bố vào luôn viện
chờ con đưa đi làm thủ tục mổ gỡ đinh.
- Ừ! Nhưng 11- 8 âm bố phải đi dự đám cưới con gái bác
Thi Thường, 14 – 8 về quê giỗ bác Vượng gái, 21 – 8 về Thái Bình ăn cưới con cậu
Sa… có kịp không?
- Thoải mái mà bố. Bố chỉ cần vào người ta mổ 15 phút,
xong về luôn ạ.
- Nhanh thế à? Hay quá. Bố đi luôn.
8 giờ đã có mặt ở Phòng khám Bệnh viện đa khoa tỉnh. Lấy
phiếu khám, rồi vào cửa phòng 116 chờ con gái. 8 giờ 30 con gái đến làm thủ tục
khám xong dẫn bố đi chụp phim, siêu âm, xét nghiệm máu, điện tim đồ. Nhờ bạn của
con gái làm trong viện giúp mà các thao tác chụp chiếu, xét nghiệm rất nhanh gọn.
Mang kết quả về phòng 116 được bác sĩ dẫn lên Khoa chấn thương chỉnh hình, bàn
giao bệnh nhân cho Khoa. Bụng mừng thầm: mọi việc cứ nhanh gọn thế này thì tuyệt
quá, mai kia có thể về nhà rồi.
Bác
sĩ phòng đón tiếp bệnh nhân tại Khoa chấn thương chỉnh hình chưa xem hồ sơ đã bảo:
-
Bác phải mượn quần áo Bệnh viện đã chứ!
Con
gái bảo:
- Chị không biết. Lúc nãy ở Phòng khám, bác sĩ dẫn thẳng
bố chị lên đây nên chị chưa mượn được quần áo.
Xem
hồ sơ xong, bác sĩ phán:
- Trường hợp của
bác không mổ được!
- Tại sao?
- Lượng đường trong máu của bác quá cao, những trên 11
phẩy, không cho phép mổ.
-
Mình chưa bao giờ bị bệnh tiểu đường. Sao lại thế?
Con gái bảo:
- Do bố chị không biết nên ăn sáng rồi… lượng đường
cao, chứ bố chị không tiểu đường đâu.
- Thế này vậy. Bác về nhịn ăn, sáng mai vào đây chúng
cháu thử máu lại.
- Đành vậy.
12
– 9
7
giờ đã có mặt ở Phòng đón tiếp bệnh nhân. Bác sĩ bận giao ban, 8 giờ 30 mới có
người lấy máu. Cô bác sĩ trẻ có cái môi trên vá, nhưng trông cũng xinh, bảo:
-
Bác cứ về nhà nghỉ. Bác để số điện thoại lại, cháu sẽ gọi cho bác.
-
Cảm ơn cô.
Đầu
giờ chiều, con gái gọi điện:
-
Bác sĩ gọi điện cho con bảo thử máu lại thì lượng đường trong máu của bố có hơn
7 phẩy thôi, vẫn trong khung mổ được. Họ hẹn bố tầm 5 giờ chiều vào nhập viện để
sáng mai mổ ạ.
Mừng
quá, 3 giờ chiều đã vào viện, mượn quần áo bệnh nhân và vào Phòng đón tiếp. Cô
bác sĩ trẻ có cái môi trên vá nhưng trông cũng xinh, bảo:
-
Bác vào sớm thế ạ. Thôi bác cứ về nhà tắm giặt, ăn uống đầy đủ rồi tầm 6 giờ tối
bác vào nhận giường, nhịn ăn, mai mổ sớm.
Lại
khăn gói quả mướp ra bắt tắc xi về nhà. Khổ, đi tắc xi có 3 cây số mà người nôn
nao suýt thì ọe ra xe.
6
giờ tối. Con trai cả đi làm về liền lai bố vào viện. Vào thẳng Phòng hành
chính, gặp bác sĩ Trưởng khoa. Năm ngoái chính ông bác sĩ Trưởng khoa mổ cho
mình. Trưởng khoa hỏi:
-
Ông Mỹ Giống phải không?
- Phải ạ.
Ông
bác sĩ Trưởng khoa bảo một bác sĩ trẻ:
- Đưa ông về phòng.
Lại về nằm chính cái Phòng cấp cứu mà một năm trước
mình đã nằm cái giường số 16 này. Nửa năm sau, ông em trai bị tai nạn gẫy 2
xương cẳng chân cũng nằm chính cái giường này. Và bây giờ mình… Cả đêm thao thức
không sao ngủ được. Sao đêm dài quá vậy. Mong trời sáng để được mổ cho nhanh.
Cùng phòng có một ông ở Giao Hải, Giao Thủy chờ tháo đinh khớp gối, hai ông
tháo đinh tay, một người tháo đinh xương đòn, một người tháo đinh ống xương chân.
Tất cả sáu ông bệnh nhân già, trẻ được báo chuẩn bị 8 giờ sáng mai lên bàn mổ.
13 – 9
7
giờ sáng, bà xã và các con trai, con gái, con dâu đã túc trực chờ đưa bố đi mổ.
8
giờ. Bác sĩ nam trung niên cầm tập hồ sơ bệnh án đến phòng cấp cứu gọi to tên từng
bệnh nhân:
-
Bác Trần Mỹ Giống.
- Có! – Mình kêu to như hồi điểm danh trong quân đội.
- Các bác theo tôi đến phòng mổ.
- Rõ!
Sáu bệnh nhân hàng một kéo theo một đám đông người nhà
phục vụ hành tiến về Phòng mổ. Tới cửa Phòng mổ, mấy bác sĩ mặc áo bờ lu xanh
ngăn người nhà lại, đưa bệnh nhân vào Phòng mổ.
Trước
khi lên bàn mổ, mỗi bệnh nhân đều được truyền một chai nước thuốc.
Bác sĩ đeo giây đo huyết áp vào tay trái mình, rồi lấy
vải xanh che kín cả người cả mặt người bệnh, chỉ chừa vai trái để mổ. Trong khi
bác sĩ chuẩn bị điều chỉnh cột đèn chùm (ấy là mình nghe tiếng xê dịch chân đèn
và người nói mà đoán thế) thì mình nhắm mắt lắng nghe máy đo huyết áp cứ bơm
hơi, xả hơi theo chu kỳ. Hình như có cục bông bôi nước lên khu xương đòn trái
làm da mình nóng bỏng.
-
Sáng nay cụ có ăn uống gì không?
- Không!
Nhói. Hình như lưỡi dao mổ nháy xuống thịt chạm vào nẹp
sắt nghe tiếng “cạch”. Hơi rùng mình.
-
Cụ có uống gì không?
- Có uống một viên hạ huyết áp.
- Đấy, là cụ có uống chứ! Cụ uống nhiều không?
- Uống một ít nước lọc.
Ro…ẹt… roẹt… Hình như lưỡi dao mổ cắt ngược lên như rọc
giấy. Lại cảm giác nắm bông ướt chùi qua chùi lại theo vết mổ nóng bỏng da.
- Chưa được. Chỗ này còn… - Tiếng một bác sĩ.
-
Được. - Bác sĩ mổ trả lời.
Lại
một riếng roẹt nữa. Chỗ mổ hơi đau. Chỉ hơi đau mà mình cứ sợ, đã lên gồng ngay
từ đầu, hóa ra không cần thiết. Thế là mình mơ mơ màng màng thiu thiu.
-
Cụ phải thức nhé! Cụ thở đều nào.
Không
biết bác sĩ tháo ốc vít ra sao mà cảm thấy như ta dùng tô vít xoáy mũ đinh vít.
Lần đóng đinh năm ngoái, nghe tiếng ốc vít xoáy vào xương như người ta khoan
đinh vào tường. Lần này chỉ cảm thấy ốc được xoáy ra mà không nghe tiếng kêu. Mỗi
khi một cái ốc vít được xoáy ra khỏi xương thì tự nhiên cả vai và tay mình bỗng
co giật lên một cái, tê tê. Cái tê tê không hề khó chịu. Tất cả sáu lần tay vai
giật lên như vậy. Hình như bác sĩ cầm dao mổ gõ lên mảnh nẹp sắt phát ra những
tiếng cạch cạch cạch. Rồi lại có cục bông chùi đi chùi lại. Bắt đầu kim khâu
móc vào hai bên vết mổ.
-
Xong! Nào đưa cụ xuống giường.
Mình
đang mơ màng thì giật mình: Đã xong rồi cơ à. Nhanh phết!
Chờ
chai nước truyền hết, bác sĩ lại truyền tiếp cho mình chai thứ hai. Mình có bệnh
tiểu nhiều lần. Bắt đầu buồn tiểu. Thót hậu môn lại để kìm cơn mót tiểu. Trời ạ,
chờ hết chai nước này thì mình tè ra quần mất. May sao bác sĩ đã gọi người nhà
ra cửa đón bệnh nhân về buống bệnh.
Các
con vừa đưa bố về đến buồng cấp cứu, mình nhỏm dậy định vào nhà vệ sinh thì bác
sĩ trực phòng, một cô trung niên có khuôn mặt bầu, người hơi béo béo, ngăn lại:
-
Không được! Yêu cầu bệnh nhân nằm im. Vừa gây mê tủy sống đã dậy, nhỡ bệnh nhân
gục xuống trong nhà vệ sinh chúng tôi không chịu trách nhiệm.
- Nhưng bố em có bệnh tiểu đêm. - Con dâu bảo bác sĩ.
- Thế thì mua con vịt cho bệnh nhân tiểu tại giường.
Trời ạ. Khổ! Mình cảm thấy khỏe, chả cần gì phải tiểu
tại giường. Lại cố lên gồng, thót hậu môn.
Con
dâu mua con vịt về. Con trai bảo bố nằm nghiêng tiểu vào con vịt. Nhưng mà giữa
chỗ hơn ba chục bệnh nhân và người nhà chen chúc trong phòng, xấu hổ, tiểu làm
sao được. Hơn nữa nó cứ rụt như chui tuột vào bụng, kéo mãi nó ngoan cố chẳng
chịu ra thì làm sao đút nó vào mỏ con vịt mà tè được. Trời ạ. Không có cái khổ
nào bằng cái khổ này.
Thót hậu môn, thót hậu môn. Chờ cho các bác sĩ ra hết
khỏi phòng, mình nhỏm dậy bảo con trai kèm vào nhà vệ sinh. Ối trời đất ơi, nước
trong bụng nhiều vậy không biết. Chờ 5 phút mới hết. Nhẹ cả người. Sướng thật.
Bác sĩ mặt bầu, người hơi béo béo bảo bà xã mình và
các con mình:
- Nên cho bệnh nhân uống sữa và uống thuốc thay cơm. Nếu
cần mua thì đến phòng tôi mua.
Con trai bảo:
- Bố em ăn uống bình thường, không cần đâu ạ.
Buổi chiều. Bác sĩ trực phòng mặt bầu, người hơi béo
béo đến bên giường bảo:
- Người nhà thu dọn đưa bệnh nhân về buồng bệnh nhé!
Rồi quay sang gọi một bác sĩ trẻ (Bác sĩ thực tập thì
phải):
- Cháu đưa bệnh nhân đến phòng 211 nhé!
Tặng ông cụ bệnh nhân nặng bên cạnh con vịt vừa mua
chưa kịp dùng.
Đến
phòng 211. Chỉ còn hai giường: Một trong góc cùng không cửa sổ, một ngay trước
cửa nhà vệ sinh. Bà xã mình chọn gường trong góc cùng.
Phòng
này 11 giường bệnh, người phục vụ và người bệnh ồn ào chật chội, nhếch nhác.
- Phòng vệ sinh bẩn lắm ông ạ. Ông hay đi vệ sinh mà cứ
cảnh chầu chực đợi nhau như thế này thì khổ quá.
- Đành vậy, biết sao giờ.
Đang than vãn thì thấy cô bác sĩ nhỏ nhắn, mặt thanh
thoát dễ thương đến bảo:
- Bà thu dọn đưa ông sang phòng 210 ạ. Để cháu mang đồ
cho.
Ừ! Phòng 210 có 5 giường bệnh. Nhà vệ sinh sạch sẽ, có
sẵn xà phòng và giấy vệ sinh, vòi hoa sen, vòi xịt, bệ xí trắng phau… chả kém
gì vệ sinh của gia đình.
Đêm. Con trai út vào ngủ với bố cho yên tâm. Hai bố
con mỗi người một giường vì ít bệnh nhân, thừa giường.
Thì ra bác sĩ nhỏ nhắn, gương mặt thanh thoát đáng yêu
là bạn của con gái mình. May thế! Đêm ngủ ngon.
14
– 9
Sáng
sớm, gặp bác sĩ Trưởng khoa. Ông bảo:
- Xương liền, vết mổ của ông rất tốt. Chỉ cần uống thuốc.
Ông yên tâm.
- Vâng! Lần này tôi không thấy đau. Người cảm thấy khỏe
khoắn bình thường. Không sốt. Xin bác sĩ cho ra viện sớm ạ.
- Thôi ông đợi đến thứ hai. Tôi bảo các bác sĩ phát
thuốc bốn ngày cho ông về nhà. Thứ hai ông vào thay băng và làm thủ tục ra viện.
- Thế thì hay quá. Cảm ơn bác sĩ.
Bác sĩ nhỏ nhắn, gương mặt nhẹ nhõm thanh thoát bảo:
- Ông sang phòng tiêm cháu thay băng cho. Thuốc thì
chiều mới có. Cháu vay trước cho ông về nhà. Thứ hai, 8 giờ 30 ông vào thay băng.
- Thứ hai tôi vào chiều làm thủ tục xuất viện luôn. Cảm
ơn bác sĩ.
Hai con trai thu xếp cho bố về nhà.
Về đến nhà:
- Mới đi có một tuần mà thấy lâu quá bà ạ. Thằng đích
tôn nó cứ nhìn tôi chằm chằm, như là nó không nhận ra ông nội bà ạ.
- Đâu mà một tuần. Ông mới mổ hôm qua mà. - Quay sang
thằng cháu - Ông đâu Tôm? Ông mình đây này.
- Ừ nhỉ! Già lẩm cẩm mất rồi.
Thằng Tôm lúc này mới nhận ra ông nội, toét miệng cười.
17
– 9
Sáng
vào viện nhận thuốc ngày cuối trước khi ra viện và thay băng. Vào phòng thay
băng, bị cô ý tá mời ra ngoài chờ. Hai lần vào lại bị mời ra để họ thay băng
cho bệnh nhân khác ở phòng 217 trước.
Nhìn
cô bác sĩ nhỏ bé, gầy, xanh, hai mắt quầng thâm như mất ngủ thường xuyên thì nhớ
ngay đến lần nằm viện năm ngoái. Cũng chính cô bác sĩ này một lần đã thay băng
cho mình. Khi kiểm tra vết mổ của mình, bác sĩ Trưởng khoa đã quát cô bác sĩ
này. Cô ta không hề nặn dịch mủ vết thương ra mà chỉ tháo băng cũ, thay luôn
băng mới. Bây giờ nhờ cô này thay băng thì không tin tưởng. Vậy là điện hỏi con
gái: “Cô bác sĩ bạn con tên là gì”. Con gái bảo: “Tên là An bố ạ”. Mình liền đến
các phòng tìm cô An. Gặp cô An ở phòng tiếp đón bệnh nhân. Bác sĩ An niềm nở,
nhiệt tình dắt mình sang phòng thay băng và thao tác luôn. Khi bác sĩ chọc kim
nặn dịch, mình cảm thấy rõ dịch chảy thành dòng xuống vai ra lưng, Bác sĩ lau sạch
và băng lại.
-
Xong rồi bác ạ. Bây giờ bác về. Cháu ký nhận hồ sơ thay cho bác khỏi phải chờ đợi.
Chiều bác bảo ai vào thanh toán và lấy thẻ bảo hiểm cho bác. À, bác nhớ là
kiêng đi xe đạp xe máy, không mang xách vật nặng ba tháng cho xương liền hẳn
các lỗ đinh, không nó gẫy lại thì khổ lắm bác ạ.
-
Cảm ơn cô.
Chợt
nhìn thấy cô bác sĩ phụ trách phòng tiêm và thay băng, người to béo, mặt bầu
thô, đôi mắt to, đang ngồi trên ghế giáp tường. Cô này nhìn bác sĩ An bằng con
mắt lòng trắng chiếm ưu thế vượt trội so với lòng đen. Mình đi vội ra khỏi
phòng.
3
giờ chiều vào Phòng hành chính lấy giấy ra viện.
-
Phải nộp bao nhiêu tiền viện phí hả bác sĩ?
-
Bác được bảo hiểm 100% nên bác chỉ phải nộp 52 nghìn đồng tiền xét nghiệm HIV
vì khoản này Bảo hiểm không chi trả ạ.
- Đây ạ. Cảm ơn các bác sĩ.
Giấy
ra viện dặn: 2 ngày thay băng một lần. Sau 12 ngày mới cắt chỉ.
Con
dâu cả cầm đơn thuốc đi mua thêm 5 ngày thuốc cho bố uống đủ 10 ngày.
Vậy
là đợt đi “công việc riêng” như thông báo với bạn bè trên FB đã kết thúc tốt đẹp.
TÔI CHỮA ĐAU LƯNG
Bạn bè quan tâm thăm hỏi bệnh “tình”
có đỡ không? Gần đây lại có nhiều người không quen biết điện thăm hỏi bệnh đau
lưng của tôi, quảng cáo bán thuốc, mời chữa trị ở cơ sở nọ cơ sở kia. Có người
tự giới thiệu là cán bộ Viện nghiên cứu y học cổ truyền. Người thì bảo là bác
sĩ trung tâm xương khớp Tam Đảo. Người khoe là nhà thuốc gia truyền. Tôi thành
thực trả lời rằng tôi đã uống nhiều loại thuốc do các giáo sư tiến sĩ quảng cáo
trên mạng. Ngay cả Khương thảo đan của Viện nghiên cứu y học cổ truyền mà VTV1
quảng cáo công hiệu như thần, tôi cũng uống tới 7 tháng, kết quả chả đâu vào
đâu. Tôi cũng chữa chạy tây y, đông y ở tỉnh và trung ương. Đông Y thì xoa bóp,
điện châm, laze mạch, thuốc nam, thuốc tiêm… Tây y thì uống theo đơn, đơn thuốc
mỗi lần khám có ba bốn loại, tổng hợp lại có các loại thuốc cơ bản sau:
- AB Extra Bone-care 2 viên / ngày
chia 2 lần sáng trưa trước ăn
- Celebrex 200mg 1 viên / ngày sáng
sau ăn
- Bonlutin 2 viên / ngày chia 2 lần
sau ăn
- Glucosamine 2 viên / ngày chia 2 lần
sáng trưa
- Mesulpine Tab 20mg 1 viên/ngày sáng
trước ăn
- Methocarbamol 4 viên / ngày chia 2 lần
sau ăn
-
Myonal 50mg: 3 viên / ngày chia ba lần sáng chiều tối
- Nociceptol 1 tuýp bôi chỗ xương đau
ngày 3 lần
- Piroxicam 1 viên ngày sau ăn no
Tốn tiền, mất thời gian mà bệnh chẳng
chuyển. Bây giờ tôi chán rồi, không muốn đi bệnh viện nữa.
Cụ Phan Trần bên Mỹ bảo rằng cụ cũng
đau cột sống nhiều năm, thuốc mãi không đỡ, cụ xoay ra tập Yoga và khí công, lại
khỏi. Cụ gửi cho tôi mấy băng bài tập khí công. Tôi tập theo nhưng nhiều động
tác khó quá chưa tập được.
Mợ tôi là bà Nguyễn Thị Ngọc, nguyên Y
tá trưởng Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cũng bị đau lưng. Bà chữa chạy Tây y,
Nam y, Đông y đủ cả vẫn không đỡ. Có lần bà đi chữa lang y ở Hà Nội, họ đắp thuốc
tróc hết cả da lưng mà chả ăn thua gì. Bẵng đi dăm năm tôi không gặp bà từ khi
bà chuyển đi ở với con trên Hà Nam. Hôm rồi bà gọi zalo nói bà giờ ngày nào
cũng tập 5 bài tập pháp luân công theo hướng dẫn trên mạng youtube, bệnh đau
lưng khỏi rồi.
Nhà thơ Chu Đình An đau cột sống nhiều
năm, con gái là bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đưa đi chạy chữa ở tỉnh,
ở Hà Nội đủ cả vẫn không khỏi. Gần đây thấy bác An đi xe máy, đi xe đạp bình
thường. Tôi bảo bát tuần rồi mà bác còn hăng thế. Bác An bảo bác tập vẩy tay (dịch
cân kinh) sáng tối mỗi lần hơn nghìn cái, sáng sáng lại đi bộ dăm cây số, chiều
chiều đạp xe gần tiếng đồng hồ, giảm đau lưng nhiều.
Tôi
nghĩ: Sinh lão bệnh tử là quy luật đời người, chả ai tránh khỏi. Đến lúc trời gọi
đi là vui vẻ ra đi, không muốn cũng chả khác được. Già rồi thoái hóa xương khớp
thì đau, là thường. Không chống lại quy luật tự nhiên được, bịt chỗ này nó xì
ra chỗ khác. Thì đấy, uống quá nhiều quá lâu thuốc tây chữa huyết áp tiểu đường
đau lưng nó phá ra xơ gan suy thận đấy thôi. Chi bằng ta cứ vui vẻ chấp nhận
quy luật, nương theo quy luật, sống chung với bệnh tật, tự luyện tập thích nghi
với nó. Nghĩ thông rồi, tôi quyết định dừng tất cả thuốc đau lưng, chỉ còn bắt
buộc uống thuốc huyết áp, tiểu đường. Suy thận độ hai thì ăn nhạt, hạn chế ăn
chất đạm, lại được bà vợ tra cứu lập ra một chế độ ăn kiêng thích hợp với bệnh
chồng.
Tôi xoay ra tập Dịch cân kinh và Pháp
luân công. Ban đầu tập rất mệt, rất ngại. Tôi quyết tâm kiên trì nâng dần thời
gian tập lên. Hiện nay cứ 5 giờ sáng tôi tập vẩy tay 15 – 20 phút tương đương vẩy
700 – 800 cái. Sau đó tập tiếp 5 bài tập Pháp luân công 15 phút. Trước khi ăn
trưa, tôi tập 15 phút Pháp luân công. Buổi tối tôi lại vẩy tay và tập Pháp luân
công như buổi sáng. Hiệu quả hàng ngày khó thấy. Nhưng sau gần một năm tập luyện,
đến giờ lưng tôi đã giảm đau nhiều. Ngủ dậy, tôi không còn phải nhờ vợ kéo đẩy
mà tự dậy được rồi, ngồi máy tính liên tục được tiếng đồng hồ, đi xe máy xe đạp
gặp ổ gà chỉ còn hơi đau, chịu được. Ban ngày vận động, thay đổi tư thế thường
xuyên thì không đau. Chỉ khi ngồi hoặc nằm quá lâu, ngủ qua đêm mới đau. Đau
thì lại tập vẩy tay và Pháp luân công. Tập xong là giảm hẳn đau. Thế cũng tốt lắm
rồi.
Mỗi người mỗi khác, riêng tôi thì như
vậy. Bạn bè quan tâm thăm hỏi thì báo cáo lại như thế!
MỘT
CUỘC ĐẤU... THƠ
Gọi là đấu thơ vì cuộc thi chỉ diễn
ra trong 15 phút giữa hai đối thủ luôn “gầm ghè” nhau trong mọi công tác và
sinh hoạt là Quỳnh và tôi. Hồi đầu năm 1972 chúng tôi cùng đơn vị chiến đấu ở
Quảng Trị. Chiến sĩ trong tiểu đội tôi toàn là sinh viên, duy có Quỳnh mới học
xong lớp 10 nên bị tôi coi thường.
Ngày
còn đi học, tôi được tiếng là giỏi thơ hơn những bạn cùng lớp... không biết làm
thơ. Từ khi đoạt giải nhì cuộc thi thơ cấp trường, do Trường cấp hai xã Xuân
Phương (huyện Xuân Trường) tổ chức, sau đó lại được Đài truyền thanh huyện đưa
tin mấy lần, tôi sinh ra kiêu căng, lâu dần thành bệnh thích khoe thơ của mình,
không thèm đọc thơ của người khác.
Một
lần đọc bài thơ vừa sáng tác cho đồng đội nghe, được mọi người khen, tôi cao hứng:
“Chuyện, thơ của sinh viên năm thứ tư Đại học Thư viện lại chả hay!” Nghe tôi nói thế, Quỳnh phê bình tôi kiêu
căng làm tôi “mất mặt”. Từ đó hai chúng tôi ngầm ganh đua với nhau, ai cũng cố
tỏ ra hơn người kia, nhất là trong hoạt động văn nghệ.
Biết
chuyện của chúng tôi, Chính uỷ Trung đoàn, một người rất yêu thơ, bèn gọi cả
hai lên gặp và ra một đề thi thơ với yêu cầu: Sau 15 phút phải làm xong một bài
thơ lục bát, dài 4 câu, trong thơ phải thể hiện tình yêu trai gái và có đủ các
từ “Trời thu”, “Sông”, “Anh”, “Em”.
Tôi
hăm hở tuân lệnh chính uỷ và chắc mẩm phen này sẽ cho Quỳnh “nốc ao”.
Hết thời gian quy định, tôi đọc bài
thi của mình bằng giọng diễn cảm của một chiến sĩ đã từng qua lớp văn nghệ ba
tháng và từng biểu diễn hàng trăm lần trước đơn vị:
Trời
thu xanh thắm trong lành,
Con sông uốn khúc chảy quanh xóm
làng.
Tình
em như thể dòng sông,
Anh như trời biếc tắm dòng sông em.
Thấy chính uỷ gật gù, tôi khoái lắm.
Quỳnh thì tỏ ra rất bình thản và chẳng nói một lời, chẳng biểu lộ cảm xúc gì,
hoặc là cậu ta cố tình che giấu cảm xúc của mình. Khi chính uỷ nhắc tới lần thứ
hai, Quỳnh mới thong thả đọc bài thi của cậu ta như tâm sự với chính mình:
Tặng
em buổi sáng mai lành,
Trời
thu xanh ngắt soi hình gương sông.
Tình
em là dòng nước trong,
Hồn
anh trời biếc trong lòng gương em.
Nghe thơ Quỳnh, tôi sửng sốt vì bài của
cậu ta rất giống bài của tôi. Tôi ngờ là Quỳnh nhại thơ tôi, nhưng bài của cậu
ta đã ghi rành rành trên vỏ bao thuốc lá trước khi tôi đọc thơ. Hay là cả hai
chúng tôi cùng bị ảnh hưởng một bài thơ của tác giả nào đó mà tôi không nhớ
ra? Hay là Quỳnh có biệt tài đọc được suy nghĩ của tôi?
Nét
mặt Chính uỷ tỏ ra ông đang suy nghĩ rất căng thẳng. Lúc sau ông mới nói ý kiến
của mình với giọng thật nhỏ nhẹ khác hẳn giọng nói mạnh mẽ khi ra lệnh của vị
Trung tá Chính uỷ Trung đoàn:
- Bài của hai cậu đều được, nhưng tớ
cho là bài của cậu Quỳnh hay hơn. Quyết định: Quỳnh thắng!
Quỳnh ôm tôi thật chặt và hẹn sẽ gặp
tôi hiệp hai trong một dịp gần nhất để tôi có cơ hội gỡ hoà. Nhưng điều đó
không thể diễn ra vì hai ngày sau cuộc đấu thơ, Quỳnh đã anh dũng hy sinh. Tự
nhiên tôi khỏi hẳn bệnh sính thơ, bệnh ngôi sao, bệnh kiêu căng hợm hĩnh, bệnh
coi thường người khác. Nhờ bài học Quỳnh dạy cho mà tôi “ngộ” ra rằng nếu không
có thực tài thì chớ cố làm nhà thơ. Từ đó tôi không bao giờ còn giám làm khổ
người khác bằng cái thứ thơ con cóc của mình nữa. Tôi bắt đầu đọc thơ của người
khác với thái độ trân trọng. Nhờ thế mà tôi tìm thấy trong bãi cát thơ của những
người không phải là nhà thơ những hạt vàng quý giá.
MỘT KỶ NIỆM VỚI HOÀNG NGỌC BÍCH
Năm 1979 nổ ra cuộc chiến chống giặc bành
trướng Trung Quốc xâm lược. Hồi ấy tôi làm Trợ lý tuyên huấn trực tiếp phụ
trách công tác câu lạc bộ Sư đoàn 338. Anh Hoàng Ngọc Bích cùng Trợ lý tuyến huấn
với tôi lo công tác tuyên truyền. Hoàng Ngọc Bích viết một câu chuyện có thật
(bây giờ gọi là bút ký) nói về cuộc chiến chống giặc Trung Quốc năm 1979.
Đại
để câu chuyện kể về một nữ quân y thuộc Sư đoàn 347 tên là Nhạn có bố là liệt
sĩ chống Pháp, anh trai là liệt sĩ chống Mỹ. Ngày 17 – 2 – 1979 giặc Trung Quốc
bất ngờ tấn công ta trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung. Quân ta do bị bất
ngờ nên ngay từ đầu đã thương vong nặng nề. Trạm quân y của Nhạn bị giặc tấn
công giết hại thương binh và các bác sĩ, y tá không từ một ai. Cô y tá Nhạn bé
nhỏ, mới nhập ngũ, hiền lành, đã kiên cường dùng súng tiểu liên AK và lựu đạn
chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ thương binh.
Khi bài ký được trình lãnh đạo duyệt
thì bị cấm phổ biến với lý do nội dung gây bi quan tiêu cực làm ảnh hưởng tinh
thần chiến đấu của chiến sĩ, nếu cứ tuyên truyền sẽ bị kỷ luật.
Tôi bảo Hoàng Ngọc Bích:
- Tôi thấy bài viết của ông rất hay. Câu chuyện mang
tính chân thật cụ thể rất cao, có tác dụng ca ngợi truyền thống hy sinh vì Tổ
quốc, khích lệ lòng căm thù giặc của chiến sĩ. Ông cứ gửi lên Đài tiếng nói Việt
Nam xem sao.
Hoàng Ngọc Bích gửi bài đi mấy hôm thì có điện báo cho
tác giả biết “Câu chuyện về Nhạn” đã được Tất Đạt chuyển thể thành kịch truyền
thanh và sẽ phát vào buổi Văn nghệ quân đội 6 giờ sáng ngày Chủ nhật. Hoàng Ngọc
Bích vui nhưng cũng rất lo. Tôi bí mật kiểm tra, trực tiếp tổ chức loa đài truyền
thanh Sư đoàn thật tốt, đúng giờ phát thanh Văn nghệ quân đội mới mở loa hết
công suất cho toàn bộ các phòng ban nghe.
“Câu chuyện về Nhạn” được đông đảo cán
bộ chiến sĩ Sư đoàn chăm chú nghe và khích lệ. Dù đã đọc câu chuyện trước, tôi
nghe mà rưng rưng xúc động.
Câu chuyện do Đài trung ương phát nên
lãnh đạo không thể kỷ luật tác giả và người mở loa tuyên truyền.
Việc làm đã rồi này của tôi là một
trong những nguyên nhân tôi không được phong hàm theo chức sau đánh Tàu, và dẫn
đến việc tôi bất ngờ ra quân trở về Trường Đại học.
Hơn bốn mươi năm qua đi, nhớ lại việc
này tôi không hề hối tiếc, mà rất vừa lòng với việc mình đã làm.
Từ ngày ra quân tôi không có dịp gặp lại
Hoàng Ngọc Bích. Tôi nói lại chuyện này với mong mỏi tình cờ anh Hoàng Ngọc
Bích đọc được hay một ai đó biết thông tin cho anh Hoàng Ngọc Bích để tôi gặp lại
người bạn một thời đồng cam cộng khổ trong cuộc chiến chống giặc Trung Quốc xâm
lược năm 1979.
NHỔ
RĂNG KHÔN
Hồi tôi còn thanh niên, có lần cô tôi
bảo: “Mày mới có 28 răng thì chưa khá được đâu. Khi nào đủ 32 răng thì mới khá
được cháu ạ!”. Tôi cứ nghĩ mãi về cái chuyện răng, mong mình mọc thêm 4 cái
răng khôn để khá lên. Mãi năm 68 tuổi mới thấy ngưa ngứa rồi chồi lên cái răng
khôn bé tý hàm trên bên trái. Bụng nghĩ: 68 năm mình nhì nhằng, chả lúc nào khá
lên được, bây giờ có cái răng khôn rồi, hy vọng sẽ khá lên.
Thường xuyên tôi lia lưỡi vuốt ve cái mẩu
răng khôn bé tý. Cái răng khôn được yêu chiều cứ lớn dần lên. Một ông bạn nhà
thơ bảo:
- Ông nên nhổ cái răng khôn đi khi nó
còn chưa đủ sức phá ông. Ông yêu chiều nó lắm vào có ngày khốn khổ vì nó đấy!
Tôi bỏ ngoài tai lời ông bạn.
Thời gian trôi đi, cái răng khôn đã to
bằng đầu đũa. Càng lớn nó càng chèn đẩy bắt nạt cái răng số bảy liền kề, làm
cho tôi nhiều phen đau nhức. Thôi cố chịu đựng, nghĩ răng khôn lớn hết cỡ rồi
thì nó không bắt nạt răng số bảy nữa. Lấn ná mãi, năm tôi 70 tuổi, cái răng
khôn húc vỡ đôi răng số bảy, làm cho tôi ăn không được, ngủ cũng không được. Đến
nước này thì đành nhập viện xử lý. Bác sỹ nha khoa bảo:
-
Răng số 8 của ông mọc xiên, chèn chọc vỡ tan răng số 7 rồi, phải nhổ cả hai
răng thôi ông ạ.
- Vâng, đành vậy.
Nằm viện tiêm kháng sinh 4 ngày, răng hết
đau, có thể mổ rồi. Nhưng khi kiểm tra, huyết áp cao quá, lại hoãn. Sáng hôm
sau uống tăng gấp đôi liều hạ áp, kiểm tra còn 150/90, nhổ được rồi. Bác sĩ
tiêm giảm đau, kẹp kìm lay lay, bảo:
- Cháu nhổ cho ông cái răng số bảy, còn
răng số tám để tuần sau.
Nói vừa dứt lời, bác sĩ vặn ngoéo cái
là xong.
Về phòng nằm, cắn chặt mẩu bông cầm
máu, thay ba bốn lần bông máu vẫn ri rỉ chảy. Sáng hôm sau mới hết chảy máu.
Đưa lưỡi kiểm tra, thấy cái răng số tám mất tiêu, còn nguyên chân răng số bảy sắc
như dao. Hóa ra bác sĩ bảo nhổ răng số bảy, nhưng lại thay đổi quyết định nhổ
răng số tám trước.
Lại ba ngày tiêm kháng sinh trôi qua.
Bác sĩ hỏi:
-
Ông còn đau không?
- Không đau tý nào.
- Vậy ông bảo người nhà vào viện chăm
sóc, chiều nay nhổ tiếp cái răng số bảy.
Răng số bảy vỡ, chỉ còn nửa thân và
chân răng ăn sâu xuống lợi. Chắc phải đào, sẽ đau.
Ôi, gọi là răng khôn mà nó chả khôn tẹo
nào. Được nuông chiều mà không biết, lại phản chủ nên bị nhổ là đáng lắm. Ở đời,
cái xấu, cái ác càng được nuông chiều nương nhẹ nó lại càng được đà lấn tới. Đối
với cái ác cái xấu cần phải triệt tiêu nó ngay từ khi nó mới phát sinh, còn là
cái mầm nhỏ bé, yêu ớt. Nhiều khi lòng nhân ái bao dung lại nuôi dưỡng cho cái
ác cái xấu lớn mạnh và tàn phá chính chúng ta.
VĂN HÓA TRONG CÁI BẮT TAY
Không rõ cái bắt tay ra đời ở đâu, có
từ bao giờ và xuất hiện ở Việt Nam khi nào, chỉ biết ngày nay nó được dùng rộng
rãi trong giao tiếp. Ở bất kỳ đâu, trong hoàn cảnh nào: trong các hội nghị hay
họp cơ quan, ở trong nhà hay ngoài phố, bạn bè gặp nhau, khi liên hệ công tác,
lúc tiếp khách, thủ trưởng đơn vị thăm cơ sở, trong nhân dân hay trong quân đội...
ta cũng có thể bắt gặp cái bắt tay.
Có người nói: cái bắt tay ra đời từ
những người đi săn trong rừng, khi gặp người lạ, họ xoè tay không cầm vũ khí ra
để tỏ rõ thiện chí của mình. Về sau người ta nắm lấy tay nhau. Dần dần cái bắt
tay được sử dụng phổ biến trong xã hội.
Bắt tay là để tỏ tình thân thiện. Bắt
tay thường đi kèm câu chào hỏi. Cùng với sự phát triển văn hoá, cái bắt tay
cũng ngày càng được dùng thường xuyên, phong phú về cách thức và ý nghĩa văn
hoá. Cấp độ, sắc thái văn hoá của mỗi người có thể biết được qua cách họ bắt
tay như thế nào. Vậy, bắt tay cũng phải sao cho có văn hoá. Nếu bạn không biết
cách bắt tay, nhiều khi bắt tay lại gây ra điều tai hại ngoài ý muốn.
Có người khi bắt tay cứ để nguyên bao
tay. Bắt tay như thế làm mất lòng tin của người được bắt tay. Tại sao phải tháo
bao tay trước khi bắt tay? Chuyện kể rằng: Có người dùng bao tay tẩm độc bắt
tay để ám hại người khác. Để đề phòng những chuyện như thế nên khi bắt tay phải
tháo bao tay. Hơn nữa, bắt tay là để tỏ tình cảm với nhau thì phải tháo bao tay
để biểu lộ và cảm nhận được đầy đủ những cảm xúc và tình cảm của nhau qua da
tay, lực tay, nhiệt độ tay...
Có người khi bắt tay người này, lại
ngoảnh mặt chào người khác. Bắt tay như thế làm cho người được bắt tay phật
lòng vì thấy rõ sự thờ ơ của bạn.
Khi gặp cấp trên hoặc người cao tuổi,
cấp dưới hoặc người ít tuổi lại chủ động lăng xăng chìa tay ra bắt tay làm cho
người bị bắt tay phải miễn cưỡng bắt tay. Bắt tay như vậy làm cho người ta nghĩ
là bạn xược.
Một anh bạn giữ chức vụ cỡ Cục, Sở
phàn nàn với tôi: “Cậu A là nhân viên thuộc quyền, trước đây cùng cảnh “cơ
hàn”, từ ngày mình làm lãnh đạo thì không bao giờ A chịu bắt tay mình trước, thế
là mình chẳng thèm bắt tay A nữa”! Tôi bảo: “Nếu ông đến thăm A với tư cách thủ
trưởng, cấp trên thì ông phải chủ động bắt tay A để tỏ ra quan tâm đến cấp dưới
mới phải. Đằng này ông lại “không thèm” bắt tay nữa thì ông chẳng những không
“tâm lý” mà còn tỏ ra nghèo văn hoá hơn là bạn ông vậy”.
Bạn
là thủ trưởng đến thăm cơ sở, bắt tay lãnh đạo cơ sở trước rồi đến nhân viên là
lẽ thường. Nhưng khi gặp tình huống cán bộ nhân viên cơ sở xếp hàng chào bạn, bạn
lại đi qua những nhân viên gần nhất để bắt tay cán bộ lãnh đạo ở xa rồi mới
quay lại bắt tay nhân viên thì bạn đã vừa để mất đi lòng yêu kính của cán bộ dưới
quyền. Bắt tay như thế làm cho người được bắt tay tủi thân vì thấy rõ sự phân
biệt lãnh đạo với nhân viên, còn đâu cái ý nghĩa thân tình của bắt tay!
Có vị thủ trưởng xuống đơn vị chỉ bắt tay lãnh đạo và người “cùng cánh”
với mình mà không bắt tay nhân viên khác dù nhân viên đó đứng gần mình nhất. Điều
này thể hiện rõ sự không thiện chí của thủ trưởng và tạo ra ác cảm của nhân
viên.
Có hai anh em gặp nhau trong ngày giỗ
cha mẹ liền bắt tay nhau rất xã giao. Bắt tay trong hoàn cảnh ấy chẳng những
không tỏ được tình ruột thịt mà còn thêm xa lạ nhau ra. Người chứng kiến thấy
nó xa lạ với phong tục tập quán người Việt Nam, nó “lai căng”, “học đòi” thế
nào ấy.
Có người bắt tay cứ bóp mạnh làm người
được bắt tay phải nhăn mặt hoặc bắt tay bạn gái cứ nắm mãi không rời làm bạn
gái khó xử. Bắt tay như thế có phần kém lịch sự.
Lại có người, phần nhiều là các vị có
chức có quyền, khi bắt tay cấp dưới lại giơ bàn tay “vô hồn” ra cho cấp dưới nắm
lấy. Bắt tay như thế thật thiếu nhiệt tình, làm cho người được bắt tay cảm thấy
“lạnh lẽo” và nhạt nhẽo.
Bác ngoại tôi - cụ Lê Loan (anh trai
cụ Lê Lễ – nguyên Phó ty văn hoá Nam Hà) kể: “Ngày còn trẻ, tôi đi giúp việc
cho một vị chức sắc. Một bận có vị khách đến hỏi thăm chủ nhà, mà chủ nhà lại
đi vắng. Tôi phải tiếp vị khách ấy. Khi khách bắt tay, tôi khéo léo xoay tay
khách lên trên tay mình để ngầm báo cho vị khách biết tôi chỉ là cấp dưới của
chủ nhà. Bắt tay cũng tinh tế lắm chứ ”.
Trong quân đội, người lính khi gặp
nhau, cấp dưới phải chào cấp trên nhưng phải chờ cấp trên bắt tay mới được bắt
tay. Nếu ngang cấp thì ai thấy trước chào và bắt tay trước.
Ngoài đời, không có quy định cho cái bắt tay, nhưng nhiều người thừa nhận
“luật bất thành văn” là: Khi gặp nhau cấp trên, thủ trưởng hoặc người cao tuổi
nên chủ động bắt tay cấp dưới hoặc người ít tuổi để tỏ sự quan tâm, gần gũi của
mình với quần chúng. Cấp dưới hoặc người ít tuổi không được giơ tay ra trước để
bắt tay cấp trên hoặc người cao tuổi. Khách đến nhà, chủ nhà chủ động giơ tay bắt
tay khách để tỏ rõ sự hiếu khách của mình. Bạn bè gặp nhau, cùng giơ tay bắt
tay nhau.
Khi bắt tay, mắt nhìn thẳng vào mặt
nhau, ánh mắt, nét mặt biểu lộ tình cảm chân thật, quan tâm đến nhau. Không bắt
tay quá lâu, cũng không bắt tay lấy lệ. Lực bắt tay vừa phải, nếu cần biểu lộ
tình cảm đặc biệt thì có thể tăng lực đột xuất trong vài giây. Không bóp tay
quá mạnh nhưng không được thiếu lực. Nếu bắt tay mà hờ hững thiếu sức sống thì
còn đâu nhiệt tình, thân thiện nữa.
Những người lính thường kể cho nhau
nghe một truyện cười liên quan đến cái bắt tay như sau:
Có vị Đại tá trẻ rất lấy làm tự hào
vì được nhiều người tấm tắc khen:
- Trẻ thế mà đã là Đại tá cơ đấy!
Mỗi lần đi dạo phố, vị Đại tá thường
dương dương tự đắc ưỡn ngực, ngẩng cao đầu. Một bận đang dạo phố, vị Đại tá gặp
cậu bé chừng 5 tuổi khoanh tay, cúi đầu kính cẩn:
- Cháu chào chú Đại tá ạ!
Vị Đại tá hạ cố nhìn cậu bé :
- Chào cháu! Cháu ngoan lắm! - và ông
tiếp tục dạo gót. Đi được vài bước, chợt ông quay lại, dường như muốn tỏ ra
quan tâm đến trẻ em:
- Hãy về nói với bố cháu rằng: vì
cháu là một cậu bé ngoan nên chú Đại tá thưởng cho bố cháu một cái bắt tay nhé!
Cậu bé lại khoanh tay, cúi đầu:
- Vâng ạ, cám ơn chú, thưa chú Đại tá.
Vị Đại tá lại hỏi:
- Này cháu, thế bố cháu làm gì nhỉ?
Cậu bé lễ phép:
- Dạ thưa chú Đại tá, bố cháu làm...
Đại tướng ạ!
- !!!
Thế đấy! Cái bắt tay tưởng dễ mà chẳng
đơn giản chút nào. Sử dụng cái bắt tay bừa bãi, không đúng chỗ, không đúng lúc,
không biết cách thức bắt tay, và nhất là thiếu cái tâm thiện chí... nhiều khi
biến mình thành kẻ ít văn hoá, có khi thành trò cười cho thiên hạ. Bắt tay sao
cho tinh tế, tỏ ra mình là người có nhân cách tốt đẹp, có thiện chí, có văn
hoá, văn minh cũng cần phải học lắm vậy.
TRẦN
MỸ GIỐNG
………………..
Nguồn: Tạp chí Văn Nhân. – 2003. – Số 43. – Tr. 54 – 55.
VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ
Nhà
thơ Nam Thắng hỏi:
- Trong bài thơ của nhà thơ Nguyễn Hồng
Vinh đăng Tạp chí Văn Nhân số 121 năm 2018 (trang 53) có trích câu nói của Bác
Hồ, đọc lên thấy nó ngang phè thế nào ấy. Xin hỏi nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống
câu đó có chính xác không? Câu đó ghi trong văn bản nào của Bác Hồ? Bài thơ thế
này:
MÙA
THU NHỚ BÁC
Trong
trẻo trời thu xanh tiếng Bác
“Đồng
bào nghe tôi nói rõ không?”
Lời
thân thiết triệu lòng ghìm nước mắt
Mỗi
thu về nhớ Bác mênh mông.
Trả lời:
Tôi có tra Toàn tập Hồ Chí Minh và
trong Tuyên ngôn độc lập nước VNDCCH 2-9-1945 của Hồ Chí Minh, nhưng không tìm
thấy câu “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?” ở chỗ nào cả. Như vậy về mặt pháp
lý, câu đó không chính thức, chỉ là truyền khẩu dân gian.
Đúng
như bác thấy câu nói đó vào thơ nó ngang phè. Nó chỉ là câu nói ở dạng khẩu ngữ,
không có chất thơ, nó phá hỏng cả bài thơ. Nếu như câu đó được ghi trong chính
văn của Toàn tập HCM thì buộc phải trích đúng nguyên văn. Nhưng như tôi nói
trên, câu đó không có trong bất kỳ bài chính văn nào của Bác Hồ thì không nên để
câu đó trong hai ngoặc kép. Nếu tác giả cứng tay thì sẽ không dùng câu ấy, hoặc
biến sửa câu ấy cho hay.
Trong dân gian, truyền khẩu còn có
câu khác rất phổ biến (mà tài liệu nhà trường, tài liệu tuyên giáo, tài liệu
thư viện, trong ca khúc, giao hưởng…) sử dụng tương đương câu trên. Đó là câu:
“Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”
Rõ ràng câu này đọc lên có tính nhạc,
không còn là khẩu ngữ bình thường như câu trên.
Hơn nữa về mặt ngữ nghĩa, câu sau thể
hiện đúng với đạo đức, phong thái, trình độ của Bác Hồ - một lãnh tụ kiệt xuất
của dân tộc, một nhà thơ nổi tiếng.
Câu đầu, trọng tâm được đặt vào “đồng
bào” chứ không phải chủ thể - Bác Hồ. Do đó nó thuộc dạng câu chất vấn - mệnh lệnh. Khi tôi giảng bài xong,
tôi thường hỏi: “Các con nghe tôi giảng rõ chưa?”. Người chỉ huy trong quân đội
hỏi nhưng mang tính mệnh lệnh: “Các đồng chí rõ nhiệm vụ chưa?”… Tâm thế của
người nói đứng tách rời, trên người nghe. Một người trọng dân, hy sinh cả đời
vì dân, rất khiêm tốn như Bác lẽ nào lại hỏi dân như thế?
Câu sau, trọng tâm được đặt vào chủ
thể - người nói. Bác sợ Bác nói tiếng Nghệ (hoặc loa đài không tốt) nên có thể
đồng bào miền Bắc không nghe rõ được nên Bác mới hỏi như vậy. Câu hỏi thể hiện
trách nhiệm của người nói, muốn biết đồng bào có nghe rõ hay không, có vừa ý
hay không mà tự chỉnh sửa bản thân mình, âm thanh tiếng nói của mình sao cho
dân nghe rõ nhất.
TRẢ
LỜI BẠN VĂN
1-
- A lô! Ông đã đọc tập thơ “Nhớ ban
mai” chưa?
-
Ông tưởng tôi kiến văn rộng lắm à? Ông nghĩ tôi không có việc gì làm mà phải đọc
tất cả thơ của đủ loại tác giả ư?
-
À… Mình nhờ ông thẩm định cho ý kiến đánh giá…
- Xin lỗi cắt lời ông. Tôi không có thừa
thời gian để thẩm định một tác giả tác phẩm mà mình chả nghe bao giờ. Bởi quỹ
thời gian của chúng ta không còn nhiều. Bởi thơ bây giờ nhiều không đủ sức đọc
hết được. Tôi chỉ đọc thơ bạn văn tặng, đọc thơ của bạn trên FB thôi cũng đủ
gay lắm rồi.
-
Thì ông cứ bình tĩnh đã. Vì tín nhiệm ông nên cánh mình mới nhờ ông thẩm định để
tự tin thôi mà.
- Xin lỗi ông nhé. Đọc tên tập thơ là
“Nhớ ban mai” thiết nghĩ cũng đủ để khỏi mất thời gian đọc rồi còn gì.
-
Ông nói rõ hơn chút được không?
-
Này nhé! Khi cái gì đã mất rồi, cái gì đã qua mà lâu chưa gặp lại người ta mới
nhớ. Ở đây là nhớ ban mai – hình ảnh thể hiện sự tươi đẹp, trẻ trung, đi lên.
Chứng tỏ thằng tác giả này nó đang sống trong đêm tối, bóng tối hiện tại triền
miên nên nó mới tiếc mới nhớ ban mai chứ. Rộng ra thì nó đang ở hoàn cảnh xã hội
đen tối, trớ trêu, u ám, đen tối lắm nên nó mới khát khao cái ánh sáng ban mai,
mà nhớ đến nỗi phải đặt cho tên tập thơ như vậy chứ! Ở tâm thế của kẻ bị ức chế
dồn nén, tâm đen tối, lại không dám nói thẳng vì hèn nên nó mới dấu ý đồ phê
phán xã hội nó đang sống là đen tối vào cái tên sách như vậy. Các ông có đồng ý
với nhận định xã hội ta đang sống bây giờ đen tối hơn thời phong kiến, đế quốc
không? Ông hãy đứng trên lập trường Đảng CSVN mà xem, có phải thằng này phản động
không? Chí ít nó cũng lấy cái cá nhân nhỏ bé khoác lên cái tổng thể lớn lao.
Tóm lại, cái tên sách đã đủ để ta “xổ toẹt” rồi.
-
Ừ!
-
Vậy ông có còn cố ép tôi thẩm định nữa hay không?
-
!!!
2-
Nhà văn NH: - Tổ chức của chúng ta có
nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Họ đều là trí thức. Họ có nhiều bài ca ngợi
đăng tạp chí. Sao ông lại cứ phải đi con đường gập ghềnh phản biện để mua bực
bõ vào mình?
TMG: - Thưa nhà văn. Người trí thức
chân chính không chỉ cần có học vị, mà còn phải biết và dám phản biện xã hội để
góp phần thúc đẩy xã hội, định hướng xã hội phát triển tiến bộ. Không biết,
không dám phản biện xã hội thì đừng vỗ ngực mình là trí thức. Những kẻ ngăn cản
phản biện càng không đủ tư cách nhận mình là tri thức. Có chăng đó chỉ là những
trí ngủ thôi.
Nhà văn NH: - Tôi thấy các bài phản biện
của ông đều bị phản ứng gay gắt từ những người bị ông phản biện. Gần đây, bài
phản biện đề tài lịch sử của ông không chỉ bị những người bị phản biện điên cuồng
chống trả, mà còn có cả những người có chức sắc, có trách nhiệm cản trở, trì
hoãn đăng bài. Khi buộc phải đăng thì người ta biên tập bóp méo biến bài phản
biện của ông thành ngớ ngẩn, “đánh” trật mục tiêu đề ra. Cái đó nói lên điều
gì?
TMG: - Thưa nhà văn, điều đó chứng tỏ
tổ chức của chúng ta chưa có minh quân!
TÌM
VỀ THỜI TRẺ THƠ
Sau gần sáu chục năm, tôi mới có dịp
tìm về những kỷ niệm thời đi học xa xưa. Thời gian về có một ngày nên khó đạt
được ước muốn.
Thời chúng tôi học có các giai đoạn:
- Vỡ lòng: Vỡ lòng A, Vỡ lòng B
- Cấp I: Từ lớp 1 đến lớp 4.
- Cấp II: Từ lớp 5 đến lớp 7.
- Cấp III: Từ lớp 8 đến lớp 10.
Hồi học Vỡ lòng, tôi học thầy Bình, cô
Nhường. Thầy Bình đã đi khai hoang Yên Thế, Hà Bắc từ năm 1968 và mất đã lâu.
Cô Nhường đi khai hoang vùng biển xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, Nam Định. Cô
Nhường cũng đã mất rồi.
Xã Xuân Phường, Xuân Trung, Xuân Bắc
trước kia là ba thôn của làng Trà Lũ. Nơi đây có nhà thờ Phú Nhai to nhất Đông
Dương.
Cấp I và cấp II tôi học bên xã Xuân
Phương, Xuân Trường, Nam Định (Vì bên Xuân Trung ngày ấy chưa có trường). Lần về
thăm trường cũ lần này, tôi lại nhớ các bạn Xuân Phương.
Cấp I: Tôi học thầy Hy người Xuân Bắc
cùng huyện, thầy Trạch xã Xuân Phương, thầy Nhuận xã Xuân Trung. Cả ba thầy đều
mất đã lâu.
Các thầy cô dạy tôi hồi tôi học cấp II ở tản
mát nhiêu nơi, tôi chưa có dịp tìm gặp được. Tôi nhớ cô Hiền người khu Bốn, dạy
sinh học, giọng nói dịu dàng nhẹ nhàng rất ấn tượng. Không biết cô giờ ở đâu.
Thầy Toán, thầy Tuyền, Thầy Đạm dạy văn rất hấp dẫn. Mỗi khi giảng bài, thầy
Toán chuẩn bị kỹ và thực hành giảng dạy như diễn xuất trên sân khấu. Thầy Tuyền
có phong cách giảng rất riêng. Tôi về sau đi giảng bài cũng vô tình giảng đúng
như thầy, từ giọng nói đến cách ngắt câu, điệu bộ đến nét mặt biểu cảm… Học trò
tôi cũng thích thú và yêu quý tôi như chúng tôi thích thú và yêu quý thầy Tuyền,
thầy Toán. Thầy Đạm, người Xuân Bắc, dạy văn rất tình cảm. Thầy dạy chúng tôi
không lâu thì chuyển lên công tác ở Sơn La. Ngày thầy chia tay lớp, nhìn trò nữ
khóc thút thít, thầy cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi, đứa ghi lưu niệm,
đứa làm thơ tặng thầy. Tôi cũng làm... vè, đại loại có những câu như:
... Thầy đi công tác vùng cao
Sơn La núi vắng rừng sâu lạnh lùng
Chúng em tình cảm trong lòng
Băng rừng vượt núi lên cùng thầy thương
Thầy đi xa lớp xa trường
Xa nhà xa cả con thương một bầy
Lòng thầy tình cảm vút bay
Vượt rừng băng núi về đây với trường...
Bây giờ nhớ lại, thấy “thơ” mình ngô
nghê, nhưng ngày ấy là tình cảm chân thực của tôi với thầy. Thầy Đạm cũng đã
thành người thiên cổ.
Ngày tôi học cấp I, chưa có trường tập
trung như bây giờ. Lớp học mượn nhà dân, phân tán nhiều nơi khác nhau, xung
quanh nhà thờ Phú Nhai.
Một trong số những ngôi nhà ngày xưa
làm lớp học hồi cấp I của chúng tôi vẫn còn. Đó là ngôi nhà bên cạnh cầu đá nhà
thờ Phú Nhai. Ngôi nhà dường như không thay đổi dù sáu chục năm đã qua. Bây giờ
người ta dùng nó làm nhà giữ trẻ. Tôi bồi hồi ngắm nhìn ngôi nhà và sống lại những
kỷ niệm thời thơ ấu.
Tôi vào cửa hàng nhỏ bán đồ thánh bên cạnh
lớp xưa hỏi thăm tìm bạn. May mắn là chủ cửa hàng chính là anh Toan, hơn tôi ba
tuổi, cùng lớp tôi. Anh Toan không nhận ra tôi ngay. Khi tôi nói “Giống đây”,
anh òa ra mừng rỡ. Tôi hỏi anh về bạn bè. Anh cho biết các anh Độ (Trung Linh),
Thọ (Phú Nhai) đã qua đời. Hỏi thăm gia cảnh, anh kể con trai anh đỗ linh mục về
phụ trách nhà thờ xã Hải Vân, Hải Hậu. Hiện “CHA đang tu nghiệp bên Vaticăng bốn
năm nữa mới về”. Mỗi khi nhắc đến con trai, anh kính trọng chân thành gọi là
“CHA”.
Qua bên cầu Thống Nhất, nơi ngày xưa học
cấp II, giờ nghỉ tôi thường ra cầu chơi. Cầu Thống Nhất vẫn như xưa.
Ngôi trường một tầng ngày xưa là trường
cấp II, giờ được xây cao tầng và làm trường Tiểu học. Tôi bồi hồi đứng ngoài cổng
trường ngắm các cháu học sinh. Một cô giáo trẻ đi qua, lễ phép:
- Thưa cụ, cụ hỏi ai ạ?
- Ồ… không, tôi chỉ nhìn ngôi trường
thôi. Chào cô.
Tôi biết chắc rằng tôi có hỏi thì cô
giáo trẻ này cũng không thể biết những thầy cô của tôi gần sáu chục năm trước.
Tôi lần qua cầu Thống Nhất thăm anh Thức.
Anh Thức hơn tôi ba tuổi. Ngày tôi đi học độ tuổi cách nhau tới năm bảy tuổi là
thường. Anh đang học lớp bảy thì có lệnh đi bộ đội. Hỏi thăm dân sở tại được biết
anh Thức từ ngày rời quân ngũ mở hiệu chữa xe đạp. Tôi gọi to:
- Ông chủ đâu rồi, tôi nhờ ông chút
đây!
Anh Thức trong nhà bước ra. Trông anh
không khác thời trẻ mấy. Tôi nhận ngay ra khuôn mặt anh. Anh nhìn tôi hỏi:
- Ông cần gì ạ?
- Vâng, nhờ ông chữa giúp cho cái xe
máy…
- Xe ông hỏng bộ phận gì ạ?
Tôi không vờ được nữa, cười:
- Bác không nhận ra em à?
Anh Thức còn đang ngơ ngác thì chị Thức
chạy tới nói như reo:
- Anh Giống ở Xuân Trung phải không.
Trông anh khác nhiều quá. Anh Thức nhà em thỉnh thoảng vẫn nhắc đến anh đấy!
Anh Thức lúc này mới nhận ra tôi, ôm lấy
tôi và kéo vào nhà:
- Tôi vẫn còn giữ bài thơ chú viết tặng
trong sổ tay đấy, vậy mà đã hơn nửa thế kỷ qua rồi. Trông chú thay đổi nhiều
quá!
Hàn huyên vô tận. Chúng tôi nhắc đến
tên bạn bè một cách trìu mến: Nhường, Liên (Vọng), Dung, Huệ, Oanh, Lan, Toan,
Thủy, Sơn, Chiến, Lợi, Lương, Thắm, Tiếm, Tấn (Ky), Thọ, Độ, Loan... Tất cả đã
hưu, đã thành “nguyên” những giám đốc, những chuyên viên, những thầy cô, những
nông dân... với những số phận khác nhau, người còn người mất.
Thì ra anh Thức cũng chiến đấu ở Quảng
Trị năm 1971 – 1972 cùng chiến trường với tôi.
Tôi bồi hồi nhớ ngày ấy, tối tối tôi
thường đi một vòng sang nhà chị Oanh và Lan hàn huyên, qua nhà Loan uống nước
ăn khoai, rồi vòng về cầu Thống Nhất ngồi ngoài hiên dưới ánh trăng bên cạnh Huệ.
Chẳng có chuyện gì cả, chỉ là bạn bè thân nhau thích gặp nhau vậy thôi. “Khuya
rồi, tớ về nhé!” “Mười giờ gì đã khuya. Ngồi chơi chút nữa!”. Tôi nằm lại trên
hè ngắm trăng, cảm thấy thích thích những sợi đay trên tay Huệ đang xé cọ đi cọ
lại buồn buồn trên mặt. Xuân Phương có nghề xe đay dệt chiếu mà. Thân vậy mà bỗng
nhiên Huệ rẽ ngang đi trung cấp ra làm công nhân ở thành phố không một lời từ
biệt. Mới rồi tình cờ gặp Huệ ở thành phố Nam Định, tôi hỏi vì sao lại bỏ bạn
thân ra đi mất tích như vậy. Huệ bảo: “Tại có một mảnh giấy dán vào nhà tôi, viết:
“Cái Huệ mà yêu thằng Giống thì tao giết” nên tôi hoảng quá.” Trời đất, học trò
nghịch như quỷ thế! Lại nhớ chị Oanh học rất giỏi văn. Năm lớp sáu, trường tổ
chức thi thơ, chị đoạt giải nhất, tôi giải nhì. Tôi quý chị Oanh nhất lớp. Năm
cuối cấp, tôi và chị hẹn hò đi Bùi Chu chụp ảnh chung. Tôi thao thức cả đêm
mong trời sáng để cùng chị chụp ảnh kỷ niệm. Sáng sớm chị sang nhà bảo: “Oanh
và Giống không cùng họ, chụp ảnh đôi người ta dị nghị. Thôi vậy!” Rồi chị đi
thanh niên xung phong, không một lá thư cho tôi. Năm ngoái chị về đám cưới cháu
ở Nam Định gần nhà tôi, tôi đón chị về nhà chơi. Nhìn chị, tôi lại nhớ chuyện
chụp ảnh hụt năm xưa.
Nghe tiếng chị Thức: “Anh uống nước ăn
táo đi. Táo nhà trồng đấy, ngọt lắm!” tôi như tỉnh mơ quay về thực tại.
Chuyện trò với anh Thức về kỷ niệm xưa
không dứt. Mấy lần ông em gọi điện bảo “Anh về ăn cỗ đám cưới kẻo người ta phải
chờ”. Tôi đành chia tay anh chị Thức. Trước khi đi, tôi chụp chung với anh mấy
kiểu làm kỷ niệm ngày gặp mặt sau gần sáu chục năm xa cách, kể từ hồi lớp 7 anh
đi bộ đội.
Thời gian không cho phép. Hy vọng một dịp
khác sẽ tìm lại bạn bè xưa và thăm trường cấp III Xuân Trường nữa...
Xuân Trường 23-2-2015
BÀI PHÁT BIỂU TRONG HỘI
NGHỊ NGHIỆM THU ĐỀ TÀI “DẤU ẤN VĂN HÓA TRẦN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NAM ĐỊNH”
Ngày 15 – 3 – 2013 Sở Khoa học Công
nghệ Nam Định đã tổ chức Hội nghị nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng
đồng dân cư Nam Định” do Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thực hiện, Cử nhân
Nguyễn Thị Cảnh làm Chủ nhiệm đề tài.
Kết quả đề tài đã được nghiệm thu với
số điểm bình quân 82,6/100 xếp loại Khá.
Ts. Lê Đức Ngân (Giám đốc Sở Khoa học
Công nghệ – chủ tịch Hội đồng) kết luận:
- Ghi nhận sự cố gắng hết sức của
nhóm thực hiện đề tài. Số điểm mà Hội đồng nghiệm thu dành cho đề tài là rất
cao. Đề tài phải chỉnh lý lại những vấn đề chưa đạt trên cơ sở ý kiến của các vị
ủy viên hội đồng đã chỉ ra. Đặc biệt phải làm lại chuyên đề số 1 viết về Thiên
Trường thế kỷ 13 – 14.
Chuyên đề này là chương mở đầu quan
trọng của đề tài do Ts. Nguyễn Xuân Năm viết, được hội đồng nghiệm thu nhận xét
là sơ sài, không đạt yêu cầu một bài nghiên cứu. Ts Trần Đức Minh nhận xét: Nói
hình ảnh thì đây là “công trình một đêm”.
Được mời làm ủy viên hội đồng nghiệm
thu, tôi có bài phát biểu như sau:
BÀI PHÁT BIỂU CỦA TRẦN MỸ GIÔNG
Kính thưa Tiến sĩ Lê Đức Ngân, Chủ tịch
Hội đồng nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định”!
Thưa các vị ủy viên hội đồng và các
bác, các anh chị!
Tôi
rất tán đồng với nội dung đánh giá đề tài của Gs.Ts. Nguyễn Quang Ngọc, Pgs.Ts.
Trần Đức Minh. Bài nhận xét về đề tài của hai vị rất chính xác, có bài bản, nêu
được những vấn đề chủ yếu về kết quả và những hạn chế của đề tài một cách thuyết
phục. Do vậy, cho phép tôi chỉ phát biểu ý kiến cá nhân những điểm không trùng
với ý kiến của hai vị giáo sư đáng kính vừa phát biểu.
Thứ
nhất, tôi có ba điều tiếc – ba cái “giá mà” như sau:
1- Nghiên cứu một vấn đề thường người
ta phải có chủ thuyết về vấn đề đó để làm cơ sở giới hạn nội dung, phạm vi
nghiên cứu. Giá mà… những người thực hiện đề tài hôm nay có một đề mục khái niệm
về văn hóa và văn hóa Trần thì tính nghiên cứu sẽ cao hơn, người thực hiện cũng
như người đọc sẽ không trệch ra ngoài quỹ đạo định trước.
2- Nội dung Báo cáo tổng quan đề
tài thể hiện quan điểm nghiên cứu một chiều, đơn điệu. Giá mà… đề tài phản ánh
nhiều chiều, nhiều mặt, nhiều góc độ, cả quan điểm trái chiều làm rõ thực trạng
khách quan nhận thức vấn đề. Rồi phản biện lại phản biện, nếu thành công thì
tính thuyết phục, tính chân thực, khách quan, độ tin cậy sẽ cao hơn.
Cụ thể, đối với vấn đề nóng hiện
nay là lễ hội khai ấn đền Trần, hiện có nhiều ý kiến phản biện rất thuyết phục,
như các bài viết của Ts. Nguyễn Xuân Diện, Ts. Nguyễn Hồng Kiên…
Tôi cùng nhà nghiên cứu Hán Nôm
Dương Văn Vượng, nguyên chuyên viên Bảo tàng Nam Định, đã từng phát hiện, dịch,
giới thiệu bài thơ “Thập tứ dạ quan khai ấn hội” của Tiến sĩ Đỗ Hựu (TK15) nói
về lai lịch khai ấn đền Trần. Theo nguyên chú của tác giả thì lệ này là của
riêng tộc Trần, chứ không phải lệ quốc gia. Mà tộc Trần nguyên là tộc Dương từ
Mân Châu (Trung Quốc) sang Quảng Ninh, Yên Tử rồi đến vùng Khang Kiện (Tức Mặc
– Thiên Trường). Do mâu thuẫn, tộc Dương chia hai chi, một chi chuyển về vùng
Hưng Hà, Thái Bình hiện nay, chi ở lại đổi họ Trần và phát tích ở đây. Lễ khai ấn
đền Trần nhắc nhở con cháu nhớ về nguồn cội và cầu no ấm, chứ tuyệt nhiên không
liên quan gì đến cầu quan tước, không phải lệ của chính quyền nhà nước như hiện
nay người ta xuyên tạc.
Chúng tôi có gửi tham luận tới Hội
thảo Đề án khai ấn đền Trần 2012 nhưng không được mời. Thế nhưng từ ông tiến sĩ
trung ương Nguyễn Chí Bền, đến ông tiến sĩ địa phương Nguyễn Xuân Năm đều lấy
tư liệu chúng tôi công bố biến thành của mình làm cơ sở chủ yếu bảo vệ quan điểm
đề án khai ấn đền Trần năm 2012. Có điều các ông lờ phần nguyên chú của tác giả
đi, thành ra nội hàm của chính văn bị xuyên tạc.
Hay là vấn đề Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ
Tam, Đệ Tứ có thực là Hành cung nhà Trần Không?
Tôi cùng nhà nghiên cứu Dương Văn Vượng có bài nghiên cứu đăng trên nhiều
trang mạng, trên tạp chí Khuông Việt của Viện Phật giáo Việt Nam (số 13 + 14
tháng 1 – 2011. – Tr. 43 – 45) phản biện quan điểm chính thống của tỉnh Nam Định
trên cơ sở ba bài thơ về các địa danh này của ba vị Hoàng giáp thế kỷ 15. Theo
tinh thần các cứ liệu chúng tôi đưa ra, thì các địa danh trên vốn là nơi đồn
trú của 4 đội trong đội quân Thiên Thuộc có nhiệm vụ bảo vệ hành cung Tức Mặc.
Đội quân này tồn tại qua chống Nguyên đến chống Minh. Dân sở tại lập 4 miếu thờ
các tử sĩ vô danh ở 4 nơi đóng quân của 4 đội quân này, đều gọi là miếu Cô Hồn.
Về sau này các miếu Cô Hồn được mở rộng, dân đưa tượng Phật vào thờ mà thành
chùa.
Ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam hiện chưa
tìm thấy bất cứ dấu tích nào chứng minh đây là hành cung. Riêng ở Đệ Tứ, trên
cơ sở đào thám sát thấy sân gach, đầu rồng đất nung, ngành Bảo tàng tỉnh đã vội
kết luận đó là dấu tích Hành cung, vì cho rằng chỉ có nơi vua ở mới có các hiện
vật đó.
Bài viết của chúng tôi đăng trên Tạp
chí Khuông Việt (nêu trên) đã dùng tư liệu từ TK15 chứng minh rõ sân gạch, đầu
rồng tìm thấy khu chùa Đệ Tứ chính là nơi ở của Thái sư Trần Quang Khải. Trần
Quang Khải dựng Tĩnh Tâm Quán làm nơi thờ Thánh Tam Thanh, thường khi cầu đảo
mong mưa thuận gió hòa (do ông theo đạo du nhập từ Trung Quốc sang). Về sau đổi
gọi là Đại Thánh Quán. Thời Lê Trịnh dân đem tượng Phật vào thờ mới gọi là Đại
Thánh Quán Tự.
Kết
luận rằng sân gạch và đầu rồng đất nung chỉ nơi vua ở mới có của các nhà Bảo
tàng công chức nô dịch thật là một sự áp đặt thô thiển.
Nêu những chuyện này, chúng tôi muốn
nói rằng cần được đưa vào đề tài nghiên cứu cả những quan điểm trái chiều với
quan điểm chính thống. Các vị thực hiện đề tài hãy phản biện lại những điều tôi
nêu thì sinh động, thuyết phục hơn nhiều là chỉ biết nhắc lại những điều người
khác nói mà không có chính kiến của mình.
Tôi đồng tình với Gs.Ts. Nguyễn
Quang Ngọc: Cái gì sai dù ai nói cũng bỏ đi, cái còn chưa rõ thì dùng cách nói
nước đôi, chứ không nên chỉ biết nói theo người khác.
3- Khi nghiên cứu văn hóa Trần,
không chỉ thống kê những nét văn hóa đặc sắc của nó. Mà cần phải so sánh làm
sáng tỏ vấn đề đó mới thuyết phục. Giá mà… các vị cho biết cái đặc sắc văn hóa
Trần nó khác với văn hóa các triều đại khác, khác với văn hóa Trung Hoa ở chỗ
nào thì chất lượng công trình được nâng lên rất nhiều. Ví dụ như vấn đề Phật
giáo Trần rất nổi bật, vấn đề sẽ thuyết phục nếu các vị so sánh với Phật giáo
Trung Hoa, Phật Giáo các triều đại khác đế làm nổi bật nét đặc sắc của nó.
Thứ
hai, tôi góp ý sửa một số chi tiết:
Trong lần nghiệm thu cơ sở, tôi đã
chỉ ra rất nhiều sai sót và đã được Ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu. Tuy nhiên vẫn
còn một số “hạt sạn” chưa được nhặt ra:
– Trang 13 dòng 13 trên xuống có viết:
“Chính nơi đây (Trường thi Hương Nam
Định) đã đóng góp 82 Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ, Phó bảng”.
Xin hỏi căn cứ vào đâu để nêu ra số
liệu này? Không có xuất xứ tư liệu thì không đạt yêu cầu của việc nghiên cứu.
Hơn nữa, Trường thi Hương chỉ thi lấy Cử nhân (Hương cống), còn Phó bảng, Tiến
sĩ, Hoàng giáp, Thám hoa, Bảng nhãn, Trạng nguyên do các cuộc thi cấp quốc gia
(thi Hội, thi Đình) tuyển chọn.
– Trang 17 dòng 7 dưới lên viết “Những
vị Trạng nguyên tuổi trẻ, tài cao như Nguyễn Hiền, Trần Đạo Tái”, nhưng trang
68 lại viết “Trần Đạo Tái đỗ Bảng nhãn” là không thống nhất. Sự thực thời Trần
tỉnh ta chỉ có trạng nguyên Nguyễn Hiền và trạng nguyên Đào Sư Tích.
– Trang 47 dòng 12 trên xuống viết:
“Sau này Tiên đế nhà Trần đã lấy tên
Thiên Thuộc đặt cho chùa Đệ Nhị đồng thời cho thờ các liệt sĩ ở đó”.
Tiền thân của chùa Đệ Nhị là miếu
Cô Hồn do dân sở tại lập thờ lính chết trận vô danh của đội quân Thiên Thuộc. Lẽ
nào Tiên đế nhà Trần (Trần Thái Tông) băng trước đó nhiều thế hệ còn đặt được tên
cho chùa?
– Trang 72 dòng 2 trên xuống: Các vị
đã ghi nhầm thám hoa Trần Bích Hoành thành Trần Hoàng Bích.
– Trang 71 và 72: Báo cáo khẳng định
Nam Định có 88 nhà khoa bảng. Phần phân tích lại chỉ cộng được 87 nhà khoa bảng.
Thì ra các vị quên không thống kê một vị khoa bảng thời Lý…
Tóm lại:
Tôi đánh giá Báo cáo tổng quan đề
tài là:
– Đã hoàn thành nội dung nghiên cứu,
phù hợp với giới hạn nghiên cứu đặt ra trong đề tài.
– Giá trị cơ bản và đáng ghi nhận của
kết quả nghiên cứu đề tài là giá trị thông tin.
– Với đánh giá trên, tôi xin hạ bút
tặng những người thực hiện đề tài 83 / 100 điểm.
Cảm ơn các vị đã lắng nghe!
HỌ
TRẦN VỐN GỐC HỌ DƯƠNG?
Trong khi sưu tầm tài liệu để biên soạn
cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường - Nam Định: Thơ” do Hội Nhà
văn xuất bản năm 2010, chúng tôi phát hiện bài thơ của Đỗ Hựu có nội dung nói về
lễ khai ấn đền Trần, phần chú thích nói rõ về gốc họ Trần.
Theo các tài liệu địa chí và đăng
khoa lục thì Đỗ Hựu sinh năm 1441, không rõ năm mất, quê xã Đại Nhiễm (thời Trần
là xã Văn Tập), huyện Ý Yên nay thuộc xã Yên Bình, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức
9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Lại bộ Tả Thị lang, từng đi sứ nhà Minh
và có công chiêu dân khai hoang vùng đất ven sông Hát. Ông có tác phẩm “Sơn thủy
hành ca”.
Bài thơ của ông nói về lệ khai ấn đền
Trần mà chúng tôi tìm thấy trong “Nam châu vịnh tập” như sau:
十 四 夜 觀 開 印 會
曾 聞 昔 日 有 陳 王
即 墨 猶 留 族 祖 堂
萬 頃 栘 來 田 地 廣
康 村 定 宅 孝 和 彰
展 誠 以 祭 前 魚 廟
開 印 惟 祈 後 克 昌
天 下 如 今 誰 對 此
斯 民 斯 邑 望 恩 長
Phiên âm :
THẬP TỨ DẠ QUAN KHAI ẤN HỘI*
Tằng văn tích nhật hữu Trần vương
Tức Mặc do lưu tộc tổ đường
Vạn Khoảnh di lai điền địa quảng
Khang Thôn định trạch hiếu hoà chương
Triển thành dĩ tế tiền ngự miếu
Khai ấn duy kỳ hậu khắc xương
Thiên hạ như kim thùy đối thử
Tư dân tư ấp vọng ân trường.
Dịch nghĩa :
TỐI MƯỜI BỐN ĐI THĂM HỘI KHAI ẤN
Từng nghe rằng ngày trước vua Trần
Ở đất Tức Mặc có đền thờ tổ
Ban đầu dời tới Vạn Khoảnh(1) đất đai rộng rãi,
Sang Khang Thôn, lấy sự hiếu với mẹ cha, hoà cùng anh
em cư trú.
Từ ấy tỏ lòng thành kính hằng năm tế tại Ngư miếu;
Và khai ấn để cầu sự tốt lành cho lớp tương lai(2)
Nay trong thiên hạ, nơi nào sánh được
Thế là dân làng sở tại mãi mãi nhờ ơn to lớn.
Dịch thơ:
Từng
nghe ngày trước Trần vương
Tức Mặc còn có tổ đường nơi đây
Dời về Vạn Khoảnh đất này
Khang Thôn định trạch thảo ngay hoà hài
Lòng thành tế cá hôm mai
Khai ấn cầu vọng lâu dài yên vui
Đến nay đâu sánh ở đời
Dân thôn mãi mãi bày lời tạ ơn.
.................
Chú thích (Nguyên chú):
(1)
Vạn Khoảnh: Nhà Trần vốn gốc ở Chương Châu mang họ Dương, dời đến Yên Tử vẫn thế,
về Vạn Khoảnh vẫn chưa đổi, sau sang Khang Kiện, vì bất hoà nên mới chia ra.
Chi họ Dương dời sang lập làng Dương Xá (Người dịch: Nay là xã Tiến Đức, Hưng
Hà, Thái Bình) chi ở lại lấy họ Trần (Người dịch: Nay là Tức Mặc, Mỹ Lộc, Nam Định).
(2) Lệ này tương truyền là lệ vốn có của tộc đảng chốn quê của họ Trần.
Thiên hạ không thấy có lệ ấy.
Như vậy, chú thích bài thơ của Tiến
sĩ Đỗ Hựu chỉ rõ:
- Nhà Trần gốc ở Chương Châu.
- Họ Trần vốn gốc là họ Dương.
- Từ khi dời đến vùng Khang Kiện thì
xảy ra anh em bất hòa, một chi chuyển đi làm ăn ở vùng Dương Xá (nay thuộc Hưng
Hà – Thái Bình) vẫn giữ họ Dương.
- Chi ở lại Khang Kiện đổi thành họ
Trần và phát tích đế vương ở đây (nay là Tức Mặc, tp. Nam Định)
Tài liệu của Tiến sĩ Đỗ Hựu ra đời
vào khoảng nửa cuối thế kỷ 15 xác định: Họ Trần và họ Dương là hai chi của họ gốc
(họ Dương), là hai họ anh em cùng một gốc vậy!
TMG.
......................
* Bài thơ này đã in trong sách “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường – Nam Định: Thơ / Hội Văn học Nghệ Thuật Nam Định. – H. Hội Nhà văn, 2010. – Tr. 95 – 96” do nhóm tác giả Vũ Minh Am, Hoàng Dương Chương, Đỗ Thanh Dương, Trần Mỹ Giống, Phạm Trường Thi, Bùi Công Tường, Trần Quang Vinh, Dương Văn Vượng biên soạn.
VÀI NÉT VỀ THƯ PHÁP
(Sưu tầm biên soạn)
Chữ viết là công cụ quan trọng
của nhân loại để đạt đến sự tiến bộ văn minh toàn diện. Nghệ thuật thư pháp từ
lâu đã được nhiều nước trên thế giới coi trọng, được xem như một loại hình nghệ
thuật đặc thù trình độ cao. Đối với các nước phương Đông, thư pháp còn là biểu
tượng thẩm mỹ của nền văn hoá dân tộc. Trung Quốc là nước có nền nghệ thuật thư
pháp phát triển tới trình độ cao từ các thư thể cơ bản “triện, lệ, chân, hành,
thảo” với nhiều trường phái, phong cách phong phú và đa dạng.
Triện thư là cổ văn tự Hán từ đời Tần
về trước, gồm đại triện và tiểu triện, từng một thời được toàn
dân Trung Quốc sửc dụng đến độ huy hoàng, rự rỡ. Đại triện còn gọi là Trụ văn
là loại chữ được dùng thông dụng thời Xuân thu, Chiến quốc. Trên cơ sở Đại triện,
Tần Thuỷ Hoàng đã chỉnh lý và giản hoá chữ viết, quy định một dạng chữ viết chuẩn
gọi là Tiểu triện. Hiện nay triện thư đã bị thay thế bởi các thư thể khác nhưng
nó vẫn được coi là một loại tác phẩm nghệ thuật thư pháp truyền thống, độc đáo,
tao nhã cổ xưa của Trung Quốc, được nhiều thư pháp gia nghiên cứu, sáng tạo mới
làm cho nghệ thuật triện thư thêm tươi đẹp và trường thịnh. Về bút pháp, triện
thư có nhiều phong cách như trong tiểu triện có ngọc trợ triện dùng bút
đầy đặn, mượt mà, uyển chuyển, thiết tuyến triện nét viết mảnh, đầy đặn,
có sức. Nét chữ của tiểu triện cơ bản đường nét to nhỏ đều bằng nhau, nét thẳng
như đũa ngọc bày ra, nét cong như cốt thép uốn khúc, giấu đầu che đôi, không lộ
mũi nhọn, mượt mà nhưng đầy sức lực.
Lệ thư là một trong thư thể của tứ đại
thư pháp Trung Quốc, tương truyền do Trình Mạc đời Tần đặt ra, thịnh hành vào đời
Hán và được phát triển tới đỉnh cao về nghệ thuật thư pháp. Lệ thư kế tục triện
thư và do triện thư diễn biến mà ra. Lệ thư có kết cấu thể hiện sự đoan trang,
đẹp đẽ, tự nhiên, cởi mở nhiều biến hoá, có giá trị nghệ thuật và giá trị thực
dụng rất cao.
Khải thư còn gọi là Chính thư hoặc
Chân thư bắt đầu xuất hiện vào cuối đời Hán và được lưu hành đến ngày nay. Dạng
chữ khải ngay ngắn, nét bút thẳng thắn, được coi là chuẩn mực chữ Hán. Nhờ
nghiên cứu thể hiện loại chữ này mà nhiều thế hệ các nhà thư pháp trở nên nổi
tiếng.
Hành thư tương truyền do Lưu Đức Thăng
đời Đông Hán sáng chế ra đầu tiên. Tống Tào đời Thanh giải thích về hành thư
như sau:
-
“Cái gọi là hành thư tức là lược bớt ít nét của chữ khải, sau đó khiến cho giản
dị và viết trôi chảy các chữ với nhau, như mây trôi nước chảy, nét to bé xen
nhau mà ra, không phải chữ khải, chẳng giống chữ thảo, không vuông cũng chẳng
tròn, viết nhanh hơn chữ khải lệ”
Trong
hành thư lại có “chân hành” gần giống chữ khải nhưng phóng khoáng hơn, còn “thảo
hành” gần giống chữ thảo nhưng gọn gàng hơn. Hành thư với sự tự nhiên, khoáng đạt,
linh động, uyển chuyển, biến hoá đa dạng, vừa có sức hấp dẫn đặc biệt, vừa giản
tiện dễ hiểu đã thu hút được nhiều thư pháp gia quan tâm và được ứng dụng rộng
rãi trong xã hội Trung Quốc.
Thảo
thư cũng có từ lâu đời, được sử dụng rộng rãi ở đời Hán, do lệ thư thảo hoá diễn
biến mà ra, gọ là Chương thảo. Đến đời Hán, thư pháp gia Trương Chi lại sáng chế
ra Kim thảo. Chương thảo có nét chữ ít nối liền nhau, chữ độc lập. Kim thảo lại
tăng thêm nét liên miên tôn nhau cho đẹp. Thảo thư liên miên vận chuyển đem lại
cảm giác thông sướng nhanh chóng, lâm ly. Thảo thư rất hưng thịnh vào đời Đông
Tấn, đến đời Đường lại còn rực rỡ hơn với sự xuất hiện của cuồng thảo.
Thảo thư của phái cuồng thảo buông thả không ràng buộc, bút mực lâm ly. Đến đời
Minh xuất hiện nhiều thư pháp đại gia như Chúc Doãn Minh, Vương Sủng, Từ Vị,
Trương Thoại Đồ... với những đặc sắc riêng biệt. Thư pháp của họ hoặc điển nhã,
hoặc hùng phóng, hoặc kỳ tứ hoặc lâm ly. Thoạt nhìn thấy thảo thư như viết rất
láu, tựa như viết tuỳ ý nhưng thực ra nó có quy tắc thảo pháp rất quy phạm, rất
nghiêm cách. Nét viết thảo thư tuy không rõ rệt như khải thư, bút pháp lại có
hiện tượng nhược hoá, nhưng cũng có sự nhấn mạnh có gân có cốt, hàm ẩn sinh cơ.
Đặc điểm của bút pháp thảo thư là đơn giản hoá, biến dị nhược hoá, vòng cung uyển
chuyển, thứ tự các nét đan xen và nối liền nhau. Khi viết thảo thư đòi hỏi phải
múa bút một lần mà thành, viết không đắn đo do dự, thành bại trong phút chốc.
Ở
nước ta, ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Quốc nói chung và chữ viết nói riêng rất
sâu sắc. Chữ Hán du nhập vào nước ta đã tồn tại hàng ngàn năm. Trên cơ sở chữ
Hán, nhân dân ta sáng tạo ra chữ Nôm của riêng mình. Ngày nay chúng ta sử dụng
chủ yếu chữ quốc ngữ nhưng chữ Hán - Nôm vẫn là “hồn muôn năm cũ”. Nghệ thuật
thư pháp Hán - Nôm tồn tại dai dẳng và ảnh hưởng tới nghệ thuật thư pháp Quốc
ngữ. Nhiều tác giả có bút pháp tốt được thể hiện qua một bố cục (chương pháp)
hoàn hảo đã tạo ra những tác phẩm thư pháp có giá trị nghệ thuật cao. Tiến sĩ
Vũ Huy Trác thời Lê còn để lại một số thư bút Hán - Nôm linh uyển lạ kỳ. Thời
Nguyễn có nhiều linh mục, nhà sư thày đồ, quan văn dùng bút tre, bút sắt viết
chữ Quốc ngữ rất đẹp. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, người Nam Định lại dùng bút lông
viết chữ Quốc ngữ, chữ Hán như rồng bay phượng múa. Thư pháp Việt Latinh tuy có
cấu trúc khác biệt với chữ Hán - Nôm, nhưng thực chất nó là sự nối tiếp của nghệ
thuật thư pháp truyền thống. Hiện nay có nhiều người nghiên cứu thư pháp Việt
Nam đạt được kết quả đáng khích lệ như Vũ Hối, Nguyệt Đình, Chính Văn, Bùi Tiến...
Mỗi người một phong cách làm cho thư pháp Việt thêm đa dạng và phong phú.
Thư
pháp không chỉ là môn nghệ thuật thể hiện cái đẹp, mà còn là phương tiện chuyển
tải những thông điệp đạo đức, giáo dục, tư tưởng của con người. Người ta gửi gắm
ước vọng, tình cảm, tâm sự mơ ước của mình vào thư bút. Trong các thiết kế
trang trí của các tác phẩm nghệ thuật truyền thống, trong đạo cụ và bối cảnh của
sân khấu, điện ảnh, truyền hình, trong quảng cáo nhãn hiệu thương phẩm, trong
nghệ thuật khắc dấu, trong cổ vật và vật dụng hàng ngày, trong hoành phi câu đối,
trong niên lịch... đều có sự hiện diện của nghệ thuật thư pháp.
Nghệ
thuật thư pháp Việt Latinh hình thành từ thế kỷ 19 và trở thành phong trào vào
những năm gần đây đã kế thừa, nối tiếp truyền thống trọng chữ hàng ngàn năm của
dân tộc, phản ánh đậm nét những đặc trưng tiêu biểu của người Việt Nam như tính
trữ tình, linh hoạt, giàu cảm xúc... Trong tương lai gần, nhất định thư pháp Việt
sớm định hình, phát triển, phát huy được cái đẹp, cái hồn của chữ Việt và là
phương tiện chuyển tải những giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Sau
đây là một bức tranh sơn thuỷ của một tác giả Việt Nam thời phong kiến, do
trình độ Hán - Nôm của tác giả bài viết này hạn chế nên không thể hiện được cái
thần của bút pháp, mà chỉ cố mô phỏng về mặt chương pháp của bức tranh. Bên dưới
bức tranh có bài thơ nôm:
Ba
XUÂN nho nhỏ một XUÂN tròn
Bốn
CẢNH bằng nhau, một CẢNH con
HỒ
rộng mênh mang, NGƯ lộn ngược
NON
cao chót vót, ĐIỂU nằm ngang.
.........................
* Nguồn:
- Văn
hoá Nam Định. - 2005. - Số 1. – Tr. 48 – 49.
- Tạp
chí Khoa học Công nghệ Nam Định. - 2005. - Số1. – Tr. 25 – 26. (Ký bút danh Mỹ
Trần)
BÀI HỌC NHỚ ĐỜI
Bác tôi là nhà giáo hơn bốn chục năm dạy
chữ Hán - Nôm. Không ít trò của bác sau này làm trong cơ quan nghiên cứu… Tôi
cung cấp tư liệu về bác cho anh bạn nhà văn họ Phạm, nhờ viết bài biểu dương.
Khi anh bạn viết xong bài, tôi đưa đến nhà thăm bác. Nhà văn họ Phạm khoe:
- Cháu vừa viết xong bài về cụ…
Bác tôi vui vẻ:
- Thế à! Cảm ơn anh!
- Để cháu đọc cho cụ nghe… Tên bài là
“TRẦN XUÂN NHÂM TRỌN ĐỜI VỚI NGHỀ DẠY CHỮ HÁN - NÔM”…
Mới nghe cái tên bài, bác tôi đã đứng
bật dậy, mặt tái đi. Bác tôi vừa bỏ vào buồng vừa gằn giọng bảo tôi:
- Tiễn khách!
Tôi không hiểu lý do gì mà bác tôi lại
tỏ ra tức giận như vậy. Biết tính bác, tôi tiễn nhà văn họ Phạm ra ngõ.
Chờ bác tôi nguôi ngoai, tôi hỏi lý
do. Bác tôi bảo:
- Tưởng các anh mang danh nhà văn thì
thông thạo tiếng mẹ đẻ, ai ngờ… Tôi đang mệt. Anh lại dẫn bạn đến rủa tôi chết
đi phải không!
- Bác nói vậy là sao ạ?
Bác tôi bảo:
- Thì cái tên bài báo của bạn anh rõ
là rủa tôi chết đi còn gì. Cái từ TRỌN ĐỜI người ta chỉ dùng cho người đã khuất,
ví như trong điếu văn người ta viết “Ông đã trọn đời theo Đảng” “trọn đời đi
theo cách mạng”… Các cụ đã dạy chỉ khi đóng nắp quan tài mới đánh giá người ta
cả đời, một đời… Tôi còn sống mà các anh đã viết tôi “trọn đời” thì có khác gì
rủa tôi chết đi. Các anh mang danh nhà
văn, nhà nghiên cứu, tiếng mẹ đẻ không thạo mà không biết xấu hổ à?
Bác tôi đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời về
sử dụng tiếng mẹ đẻ như thế đấy!
THĂM
TỦ SÁCH NGUYỄN ĐỨC CƯƠNG
Gặp bác Đặng Văn Khảm, phụ trách
phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, tôi hỏi bác:
-
Đã lâu không có dịp về Hải Hậu, Phòng đọc thiếu nhi có gì mới không bác?
Bác Khảm vui vẻ:
- Thế mà đã mười năm rồi đấy, Phòng đọc
thiếu nhi Hải Hậu vẫn đứng vững, vẫn đông bạn đọc, sách thường xuyên lên tới
trên hai vạn bản. Bây giờ thì mô hình thư viện nhà nước và nhân dân cùng làm ở
Hải Hậu đã được khẳng định rồi, Đảng và chính quyền huyện đều tin tưởng và ủng
hộ duy trì mô hình này. Anh hỏi có gì mới ư? Có đấy, ví dụ như chúng tôi đang
tiến hành cấp thẻ miễn phí và vận động cho các cháu tật nguyền, các cháu có
hoàn cảnh khó khăn đến thư viện đọc sách.
Tôi ngạc nhiên:
- Cấp thẻ miễn phí mà cũng phải vận động ư?
Bác Khảm khẳng định :
- Đúng vậy! Phần lớn các phụ huynh đều
không muốn cho con em tật nguyền của mình đến thư viện vì mặc cảm, vì không có
điều kiện đưa đón các cháu. Chúng tôi phải đi từng xã, tranh thủ sự ủng hộ của
chính quyền và đoàn thể, thuyết phục các bậc phụ huynh quan tâm và tạo điều kiện
cho các cháu hoà nhập cộng đồng. Đến nay mới có hơn hai chục cháu được cấp thẻ
thư viện miễn phí. Nhìn các cháu say mê đọc, tôi sung sướng vì đã làm được một
việc có ích. Tôi rất muốn đưa sách tới tận nhà cho các cháu đọc, nhưng khả năng
có hạn nên chưa thể thực hiện được.
Tôi băn khoăn hỏi:
- Bác không có tiền lương, cứ tìm cách
phục vụ miễn phí liệu có lâu dài được không?
Bác Khảm tâm sự:
- Kinh tế gia đình tôi thuộc loại khá
giả. Tôi ham mê văn hoá mà làm, càng làm được nhiều việc có ích tôi càng thấy
sung sướng. Như các anh đã biết, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu đứng vững và phát
triển là nhờ có các tủ sách vệ tinh. Các tủ sách này mua lại sách chúng tôi đã
phục vụ bạn đọc, đưa về phục vụ bạn đọc của mình. Trong huyện có 7 tủ sách tư
nhân là vệ tinh của chúng tôi, cái lớn có trên vạn sách, cái nhỏ có năm, sáu
nghìn bản.
Tôi đề nghị:
- Vậy bác có thể cho chúng tôi thăm một
tủ sách vệ tinh của bác, tủ sách... “khác thường” một chút ấy?
Bác Khảm phấn khởi:
- Tốt quá, được các anh về thăm động
viên thì còn gì bằng.
Chúng
tôi về Hải Hậu một ngày đầu thu, trời vẫn còn nóng nực lắm. Khi biết ý định của
chúng tôi, anh Hưng (Trưởng phòng văn thể huyện), anh Tản (Giám đốc Trung tâm
văn hoá huyện) cùng bác Khảm nhiệt tình đưa chúng tôi về thăm tủ sách tư nhân của
bác Nguyễn Đức Cương ở xóm 7 xã Hải Anh, huyện Hải Hậu. Gần trưa thì chúng tôi
tới nơi.
Đúng
là tủ sách này khác bình thường: không bám mặt đường, không ở nơi đông dân cư,
không chỉ đơn thuần phục vụ sách báo... Tủ sách bác Nguyễn Đức Cương nằm lọt giữa
xóm làng yên tĩnh. Bác dùng cả dãy nhà ngang làm kho sách. Hơn 6.000 bản sách
được đóng bìa cẩn thận, xếp ngay ngắn trên 3 giá sách và hai tủ quầy. Khoảng
hai chục loại báo và tạp chí bầy trên mặt quầy để mọi người đọc tự do. Thấy tôi
cứ nhìn quanh vì không thấy bàn ghế cho người ngồi đọc sách, bác Cương mời
chúng tôi đi ra vườn sau nhà. Hơn trăm mét vuông vườn được che bằng ngói xi
măng, có bài trí cây cảnh mát mắt và kê gần chục bộ bàn ghế cho người ngồi đọc
sách. “Vườn đọc” quay mặt ra ao cá thoáng đãng. Có gần chục người, đang vừa đọc
sách vừa uống giải khát. Không khí trong lành, gió trời mát rượi làm cái nóng
sau chặng đường gần 50 cấy số của chúng tôi như tan biến đi. Theo yêu cầu của
chúng tôi, bác Cương tâm sự:
-
Tôi nguyên là cán bộ Thành uỷ Nam Định về hưu. Thời tôi còn công tác, hơn hai
chục năm sinh hoạt đọc tại Thư viện tỉnh đã thành thói quen. Về hưu đói sách
báo quá các anh ạ. Năm 1995 huyện thành lập Phòng đọc thiếu nhi do bác Khảm phụ
trách, tôi cũng lập tủ sách gia đình. Thôi thì một công đôi việc, vừa thoả mãn
nhu cầu đọc của nhân dân, vừa có việc làm cho vui tuổi già. Lúc đầu mở tủ sách
cũng lúng túng lắm, ít người đọc, thu không đủ chi, nhưng tôi quyết tâm duy
trì. Tôi được bác Khảm nhượng lại sách với giá hợp lý, lại được luân phiên mượn
sách của Thư viện huyện để tăng nguồn lực cho tủ sách. Nay thì ổn rồi, hàng
ngày trung bình có 50 lượt người đọc. Bạn đọc đông nhất vào chiều, tối và các
ngày lễ, chủ yếu là thanh thiếu niên và các cụ cao niên. “Vườn đọc” còn là nơi
hội tụ của các câu lạc bộ làng như câu lạc bộ hưu trí, cựu chiến binh, thanh
niên... Đối tượng phục vụ của chúng tôi chủ yếu là cộng đồng làng xóm. Để tăng
nguồn thu, tôi kết hợp dịch vụ chụp ảnh, bán giải khát và đồ lưu niệm, văn
phòng phẩm, đồ khô phục vụ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân. Bạn đọc đến mua
hàng hoặc giải khát được đọc miễn phí. Ai chỉ đến đọc hoặc mượn về nhà thì thu
200 đồng/bản sách/ngày.
Nghe
bác Cương nói, tôi thầm liên tưởng tới cháu ngoại tôi ở thành phố Nam Định thường
thuê 500 đồng/bản sách/ngày mà còn phải ký cược cả trăm ngàn đồng nữa, thì lệ
phí đọc tủ sách bác Cương thật đúng như bác nói “lấy việc phục vụ người đọc làm
niềm vui”.
Đồng chí Hoàng Thiện Tuấn, Giám đốc thư viện
tỉnh Nam Định nêu vấn đề:
-
Chúng tôi thấy kho sách của bác hầu hết là sách thiếu nhi, sách văn học, một số
sách tham khảo cho học sinh, sách xã hội chính trị, còn sách kỹ thuật nông nghiệp rất ít. Có phải vì
bạn đọc không có nhu cầu đọc loại sách này? Bác có yêu cầu gì với Thư viện huyện,
tỉnh không?
Bác
Cương vừa chạm cốc với khách, vừa thong thả trình bày:
-
Dân làng tôi chủ yếu làm nghề nông, nhu cầu đọc sách kỹ thuật là lớn, nhưng nguồn
sách này không nhiều, tủ sách chúng tôi chưa đáp ứng được. Hiện tại, tủ sách mới
thoả mãn nhu cầu đọc thư giãn của người lao động sau ngày làm việc vất vả, một
phần phục vụ nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức chính trị xã hội. Sắp tới,
chúng tôi sẽ chú trọng mảng sách kỹ thuật nông nghiệp. Nhân các anh về thăm, rất
mong được các anh quan tâm cho hệ thống tủ sách Hải Hậu nói chung, tủ sách tư
nhân nói riêng được mượn luân chuyển hàng quý để chúng tôi duy trì và phát triển
hoạt động.
Trước khi chúng tôi ra về, bác Cương đề nghị
được chụp chung một vài kiểu ảnh làm kỷ niệm. Bác giới thiệu người thanh niên cầm
máy ảnh với chúng tôi:
-
Cháu Nguyễn Đức Nam là con trai tôi. Cháu rất yêu sách nên tôi đã chuyển giao
toàn bộ tủ sách cho cháu quản lý, còn mình thì hỗ trợ cho con cháu.
Nhìn
ánh mắt chàng thanh niên mảnh khảnh 36 tuổi này, tôi nhận ra niềm đam mê sách
báo của anh, và tôi tin tủ sách sẽ được anh duy trì lâu dài.
Tôi
cứ tự hỏi vì sao Hải Hậu làm tốt việc xây dựng và duy trì tủ sách tư nhân,
trong khi nhiều nơi khác không phải không có những người có đủ khả năng và nhiệt
tình như bác Cương, bác Khảm lại không làm được? Biết nỗi băn khoăn của tôi, đồng
chí Giám đốc Thư viện tỉnh Hoàng Thiện Tuấn nhận xét:
-
Việc Trưởng phòng văn hoá, Giám đốc trung tâm văn hoá thể thao và cán bộ Thư viện
huyện cùng dẫn khách đi thăm một tủ sách tư nhân đã nói lên rất nhiều. Xã hội
hoá công tác thư viện, tạo điều kiện nhiều nhất cho nhân dân hưởng thụ văn hoá
đọc và tham gia hoạt động thư viện rất cần sự quan tâm của các cấp Đảng, chính
quyền và đoàn thể. Hải Hậu xác định được điều cốt yếu của việc xã hội hoá công
tác thư viện là nhà nước giữ vai trò quan trọng, chủ yếu nhất nên phong trào đọc
và tủ sách tư nhân phát triển mạnh là điều tất yếu.
Tôi
cũng tin rằng bác Khảm chắc chắn thực hiện tốt nguyện vọng cải thiện môi trường
văn hoá đọc cho các cháu tật nguyền khi bác phối hợp phục vụ, phát huy và khai
thác tiềm năng các tủ sách tư nhân rải khắp địa bàn huyện Hải Hậu.
KHOÁ HỌC 32 GIỜ RÈN CHỮ ĐẸP
Lâu nay rất
nhiều phụ huynh và giáo viên phàn nàn chuyện học sinh viết chữ xấu. Nhiều năm
được mời dạy ở một trường trung học chuyên nghiệp, tôi cũng rất khó chịu khi chấm
bài của học sinh phải vừa đọc vừa luận. Tình cờ, nhà nghiên cứu Hán – Nôm Trần
Xuân Tâm cho tôi xem một tờ giấy luyện tập chữ đẹp của đứa cháu đang học lớp 1.
Nhìn những con chữ đều tăm tắp, nét thanh nét mảnh rõ ràng, mềm mại, bố cục hài
hoà, sáng sủa, tôi không tin những chữ viết này là của cháu bé lớp 1. Ông Tâm bảo:
-
Nếu chú không tin, mời chú đến Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường ở 15 Hàng Đồng
(thành phố Nam Định) mà xem…
Tò
mò, tôi tìm đến lớp rèn chữ đẹp buổi tối do cô Thanh và cô Thuỷ phụ trách. Tôi
ngạc nhiên khi thấy trong lớp không chỉ có các cháu tiểu học, mà có cả sinh
viên, cán bộ nhà nước, người cao tuổi. Tất cả đang chăm chú, say mê rèn chữ. Hết
giờ lên lớp, cô Thanh và cô Thuỷ vui vẻ
tiếp tôi. Tưởng tôi là người đến xin học, cô Thanh giới thiệu:
-
Mỗi khoá học gói gọn trong 32 giờ, chia làm 16 buổi, mỗi buổi 2 tiếng. Đảm bảo
chữ viết của bác sau khoá học sẽ đẹp. Hiện chúng tôi mở ba lớp sáng, chiều và tối.
Bác có thể lựa chọn thời gian lớp học thuận tiện với mình. Trung tâm lo đủ vở,
bút, mực phục vụ người học.
Không
muốn cô hiểu lầm, tôi nói rõ mục đích của mình:
-
Thưa cô, tôi không đến xin học, mà chỉ muốn tìm hiểu thực hư việc rèn chữ đẹp của
Trung tâm thôi.
Cô
Thanh cho biết:
-
Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường ra đời từ ý tưởng của cô Thuỷ. Thuỷ là bạn học
cùng lớp tại chức Đại học sư phạm tiểu học với tôi. Tôi từng đoạt giải viết chữ
đẹp ngành giáo dục cấp tỉnh. Cô Thuỷ đoạt giải chữ đẹp cấp toàn quốc. Một lần
cô Thuỷ tâm sự với tôi về việc mở Trung tâm dạy chữ đẹp, tôi rất tâm đắc. Làm một
cái gì đó góp phần giúp học sinh khắc phục tình trạng viết chậm và xấu là nỗi
trăn trở từ lâu của chúng tôi. Sau khi đi tham quan, học tập một số trung tâm dạy
chữ đẹp ở Bắc Ninh và Hà Nội, chúng tôi nghiên cứu nội dung chương trình và
phương pháp giảng dạy, chuẩn bị cho Trung tâm dạy chữ đẹp ra đời. Thày Hùng –
Giáo viên Trường tiểu học Nguyễn Trãi (Thành phố Nam Định) nhận lo công tác tổ
chức, hành chính. Đối với việc rèn chữ đẹp, chất lượng bút viết là rất quan trọng.
Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, thử nghiệm để tìm ra cây bút tốt cho việc viết chữ
đẹp, thày Hùng đã thành công. Nhãn hiệu Bút mài Thiên Trường của thày
Hùng được nhiều người biết tới. Một số trung tâm, trường học trong và ngoài tỉnh
đã đặt hàng Bút mài Thiên Trường của thày Hùng.
Ngày
9 - 6 – 2006 Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên
Trường chính thức khai trương. Mới ra đời được ba tháng, Trung tâm đã hoàn
thành 10 khoá, mỗi khoá từ 15 đến 20 người học. Từ đó đến nay, Trung tâm hoạt động
thường xuyên, rất nhiều người đăng ký học. “Thương hiệu” Trung tâm rèn chữ đẹp
Thiên Trường đã được nhiều người tin tưởng.
Biết
cô Trần Thị Thanh là giáo viên Trường tiểu học Lê Quý Đôn, cô Trần Thu Thuỷ là
giáo viên Trường tiểu học Nguyễn Trãi (thành phố Nam Định), tôi băn khoăn:
-
Trung tâm mở nhiều lớp, dạy cả ngày như thế, hai cô làm thế nào dạy ở trường được?
Cô
Thuỷ trả lời:
-
Để giải quyết khó khăn này, Trung tâm đã tuyển mời một số cô đoạt giải chữ đẹp
cấp thành phố tham gia giảng dạy. Vào năm học, Trung tâm chỉ mở các lớp buối tối.
Hỏi
về kinh nghiệm rèn chữ đẹp, cô Thuỷ xởi lởi:
-
Để việc dạy kết quả, trước hết là phải tìm hiểu đặc điểm tâm lí, lứa tuổi,
nguyên nhân viết chữ chưa đẹp của người học. Sau đó tìm ra những giải pháp
thích hợp đối với từng người học. Các cháu tiểu học thường mắc các lỗi như cầm
bút chưa đúng cách, khoảng cách mắt đến giấy viết chưa hợp lí, tư thế ngồi viết
không thuận lợi. Nhiều em cầm bút thấp, mực giây ra tay. Có em chỉ cầm bút bằng
ngón cái và ngón trỏ, còn các ngón khác co vào lòng bàn tay, không tì xuống giấy
nên chữ viết chậm và run. Đa số các em khi viết cúi quá gần mặt giấy nên không
bao quát được toàn trang, bố cục các con chữ không hài hoà, lại dễ bị cận thị.
Có em lại mắc lỗi tư thế ngồi như ngồi lệch vai, xoay giấy ngang hay dọc nên chữ
viết nghiêng ngả.
Chúng
tôi chia khoá học thành hai giai đoạn. Hai mươi giờ đầu rèn cơ bản: sửa các lỗi
cầm bút, tư thế ngồi, khoảng cách mắt tới giấy, hướng dẫn tập viết các nét cơ bản
của từng con chữ, viết chắp nét các con chữ, tiến tới viết liền nét từng từ, viết
cả một bài văn hoàn chỉnh. Giai đoạn này người học phải sử dụng bút mực (bút
mài hoặc bút lá tre). Mười hai giờ còn lại chuyển sang tập bố cục từng trang,
luyện viết ứng dụng nhanh và tương đối đẹp bằng các loại bút khác như bút bi,
bút máy…
Có
nội dung chương trình và phương pháp khoa học, cùng với sự miệt mài rèn luyện của
người học, chúng tôi đã thành công dạy chữ đẹp sau 32 giờ. Hết khoá, 100% học
sinh đạt yêu cầu viết nhanh và tương đối đẹp, tạo nhiều thuận lợi trong học tập.
Cô
Thanh cho tôi xem một tập thư và lưu bút của học viên. Thư gửi các thày cô
Trung tâm của em Vũ Thanh Thảo (học sinh lớp 10 chuyên Sử, Trường PTTH chuyên
Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định) có đoạn viết: “Trước khi đến với Trung
tâm, chữ viết của em rất tồi tệ. Các cô đã chỉ ra từng lỗi, các nét chưa đẹp
trong chữ của em. Bây giờ em không còn cảm thấy xấu hổ khi đưa bài viết của
mình cho bạn bè, bố mẹ xem nữa. Em thật may mắn được học ở một trung tâm tốt”.
Em Nguyễn Thanh Hùng (27B, Ô18, phường Hạ Long, thành phố Nam Định) ghi lưu bút
bằng những dòng chữ trông đẹp như bộ chữ in trong sách giáo khoa: “Em đến học
tại Trung tâm vì chữ em quá xấu. Nhờ cô giáo tận tình chỉ bảo, kèm cặp mà em tiến
bộ rõ rệt. Em rất biết ơn cô”. Em Nguyễn Hải Ninh (số nhà 149 đường Lê Hồng
Phong, thành phố Nam Định) thổ lộ suy nghĩ của mình về Trung tâm: “Trước khi
đến Trung tâm, em không mấy tự tin về chữ của mình. Em đã cảm nhận được nhiệt
huyết, sự tận tình với người học của cô Thuỷ và cô Thanh. Nhiều người cho rằng ở
tuổi em mà đi học chữ là không phù hợp. Nhưng thật ra có nhiều anh chị lớn hơn
em cũng đến Trung tâm và học rất nhanh. Khi ngồi cùng lớp với các em nhỏ, em không chán nản, mà rất vui khi thấy rằng
mọi lứa tuổi đều có thể đi học chữ, rèn chữ”. Còn nhiều những thư và lưu
bút của người học thể hiện tình cảm của mình với các thày cô ở Trung tâm dạy chữ
đẹp Thiên Trường như thế. Điều đó chứng tỏ việc làm của các thày cô giáo Trung
tâm này có hiệu quả và thiết thực. Từ chỗ bán tín bán nghi, tôi đi đến quyết định
đăng kí học một khoá, hy vọng loại bỏ được kiểu “chữ que” – hậu quả của cải
cách giáo dục một thời, để có nét chữ mềm mại, hài hoà…
Trung
tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường đã đáp ứng kịp thời yêu cầu tha thiết của nhiều phụ
huynh và học sinh. Sự ra đời và thành quả đạt được của trung tâm là một sự kiện
đáng mừng. Dạy từng nét chữ đẹp, tạo thói quen tốt, góp phần xây dựng nhân cách
cho học sinh. Nét chữ nết người, việc làm của các thày cô giáo Trung tâm dạy chữ
đẹp Thiên Trường thật có ý nghĩa cao đẹp, thể hiện tấm lòng của các thày cô
giáo tha thiết với nghề, với người, với ngành giáo dục Nam Định – tỉnh vốn có
truyền thống khoa bảng và bề dày thành tích giáo dục.
TRÀ LŨ TRUNG YÊU DẤU
Trà Lũ Trung là một thôn thuộc
xã Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ xưa, nay là xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh
Nam Định. Hồi đầu thế kỷ 19, hầu hết dân
xã Trà Lũ tham gia khởi nghĩa Phan Bá Vành, nhiều người trở thành tướng
lĩnh của nghĩa quân như Tướng quân Hai Đáng mà sách Trà Lũ xã chí của cụ
Cử nhân Lê Văn Nhưng đã chép. Trà Lũ trở thành căn cứ quan trọng của nghĩa
quân. Cũng vì cuộc sống quá đói khổ, sưu cao thuế nặng mà dân Trà Lũ cực chẳng
đã mới nổi dậy chống triều đình Nguyễn. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại, Trà Lũ bị
triệt hạ, hơn 800 người bị giết. Nhờ ông Nguyễn Công Trứ ra tay tổ chức dân
khai hoang phục hoá, phát triển kinh tế, dân Trà Lũ mới dần dần ổn định cuộc sống.
Lứa chúng tôi sinh ra sau cách mạng
1945, cái khổ của dân Trà Lũ Trung trước cách mạng chỉ được nghe cha mẹ nói lại.
Thời ấy, làng xóm tiêu điều, mùa màng thất bát, sưu cao thuế nặng, thực dân
Pháp thẳng tay đàn áp... Thôi khỏi phải nói, cuộc sống ấy có khác gì kiếp ngựa
trâu. Bố mẹ tôi quanh năm rách rưới, đầu tắt mặt tối, đi ở đợ và làm thuê làm
mướn cho địa chủ mà kiếm không nổi ngày hai bữa cháo rau. Cái đận năm đói 1945,
ở Trà Lũ Trung xác người chết đói đầy đường. Người ta thu gom xác chết bỏ lên
xe bò, chôn chung một hố lớn.
Khi cách mạng nổ ra, rồi kháng chiến
chống Pháp, nhất là thời kỳ gian khổ Hai năm bốn tháng, dân Trà Lũ Trung
vùng lên, một lòng theo cách mạng. Nhiều người ngã xuống trong chiến đấu chống
càn, trong tấn công bốt Trà Trung và bốt Phú Nhai, người trước ngã, người sau
tiếp bước. Gia đình bố tôi có hai liệt sĩ trong chống Pháp. Cả nhà bố tôi đều
đi du kích. Bà nội và mẹ tôi là cơ sở nuôi dấu cán bộ, du kích, ba lần bị giặc
đốt nhà mà vẫn gan lỳ trụ lại đầu làng làm bàn đạp cho quân ta đánh bốt Phú
Nhai.
Thời kỳ xây dựng miền Bắc và đấu tranh
giải phóng miền Nam, lứa chúng tôi đã lớn. Ngày ấy miền Bắc thắt lưng buộc bụng,
hạt gạo cắn ba chi viện cho miền Nam và giúp Lào, lại là thời bao cấp nên cuộc
sống kinh tế của Trà Lũ cũng vẫn còn nghèo lắm. Tôi còn nhớ, ngày ấy làng tôi
toàn nhà tranh vách đất, còn nhà lợp ngói khang trang thì thật hiếm. Lũ trẻ
chúng tôi áo vá nhiều mảnh, luôn đói bụng. Tận năm 1967, tôi học lớp 10 mà sáng
sớm chỉ được chia hai củ chóc (thứ củ thường để cho lợn ăn mà ngày nay không mấy
ai trồng), chạy bộ 8 km đến trường huyện, chiều về mới được hai bát cơm độn ngô
khoai mà mẹ tôi ưu tiên cho con lấy sức để học. Bạn tôi có người đói lả ngay
trên lớp. Khổ nỗi dân làng tôi đông, lại đẻ nhiều, như mợ tôi có 10 người con,
bố mẹ tôi có số con vào loại trung bình ở làng cũng có tới 5 con, thành ra đã
đói khổ lại càng khốn khổ. Làng tôi ruộng đất ít, trong cải cách chia ruộng,
bình quân đầu người được nửa sào. Nhà tôi 8 khẩu được chia ba sào chân ruộng
xa. Rồi lại vào hợp tác xã nông nghiệp, đi làm theo kẻng, cha chung không ai
khóc, năng suất chẳng ra gì, nghèo vẫn cứ nghèo. Không đủ ruộng sinh sống, dân
làng tôi phiêu bạt khắp nơi, người đi khai hoang vùng núi, người đi khai phá
bãi bồi. Số người trụ lại làng thì buôn bán vặt, đi thuyền, đi thân tàng, dệt
chiếu.
Thời tôi đi học, cả ba huyện Xuân Trường,
Hải Hậu, Giao Thuỷ mới có một trường cấp 3 ở Hành Thiện (huyện Xuân Trường). Xã
tôi chỉ có trường cấp 1 mà chưa có trường cấp 2. Ngày ấy được học đến cấp 2 là
quý lắm, nếu học tới cấp 3 thì thật “oách”. Khoá tôi, cả làng hơn chục người học
cấp ba đã là “làng học” có tiếng rồi. Số người tốt nghiệp đại học có thể đếm
trên đầu ngón tay. Năm 1964, cậu tôi đỗ đại học Bách khoa Hà Nội, cả họ tổ chức
ăn mừng.
Các cơ sở chữa bệnh thiếu thốn và lạc
hậu. Mỗi khi có bệnh, dân thường chữa theo dân gian, hoặc chữa tại nhà các thày
lang ta. May cho huyện tôi khi đó có Bệnh viện tỉnh sơ tán về Lạc Quần, dân bệnh
trọng có nơi chạy chữa. Hai em tôi bị chó dại cắn, phải đưa ra Bệnh viện tỉnh
tiêm hai mốt ngày, mỗi ngày một phát. Bố tôi bỏ hai em tôi vào hai cái thúng, rồi
gánh bộ 9 cây số ra Lạc Quần, sáng đi tối về thật vất vả.
Nhà nước phân phối xe đạp Thống nhất,
dì tôi là cán bộ du kích, được ưu tiên mua một cái. Dì giữ xe như giữ mả tổ.
Khi trời mưa, dì lau xe sáng bóng rồi treo xe lên bằng hai cái xích, còn mình
thì lội bộ.
Năm 1967, cụ Lê Văn Lễ là Phó Ty Văn
hoá tỉnh về quê bằng cái xe bình bịch. Bọn thanh niên và trẻ con chúng tôi tò
mò chạy theo xem như xem sinh vật lạ. Lúc xe pan, nổ máy không được, cụ Lễ nhờ
chúng tôi đẩy. Chúng tôi sung sướng được đẩy xe cho cụ hơn hai cây số, ra tận
đường cái.
Từ sau 1975, nhất là từ sau khoán 10
và sau đổi mới, Trà Lũ Trung mới thật sự đổi sắc thay da. Tôi học đại học rồi
đi bộ đội, hết chiến đấu ở Quảng Trị, lại đi chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc,
mãi năm 1982 mới chuyển ngành về quê, đã ngỡ ngàng trước sự đổi mới của quê
hương. Trong làng mọc lên nhiều nhà bê tông mới, nhà hai ba tầng cũng không ít,
không còn nhà rách vách nát như trước đây. Đường làng, ngõ xóm đều đã bê tông
hoá, xe máy bon bon chạy. Làng tôi có tới ba xe khách tư nhân chở người đi Hà Nội
và các tỉnh bạn. Đêm đêm điện thắp sáng, cả làng lung linh như sao sa. Trẻ con
bây giờ không còn cảnh thất học. Làng có trường tiểu học và trường trung học cơ
sở riêng, khang trang và đẹp đẽ. Huyện có tới ba trường trung học phổ thông. Lũ
trẻ bây giờ so với cha anh chúng thật là may mắn. Thôn Đông Nhuệ là thôn nghèo
nhất làng trước đây, bây giờ lại là thôn khá giả. Nhà nào cũng đầy đủ tiện nghi
sinh hoạt, nhiều hộ có điện thoại riêng, cả thôn có trên 100 xe máy, nhà nào
cũng có tivi... Làng tôi giờ trên bến dưới thuyền cũng khá sầm uất. Con người
làng tôi cũng khác trước rất nhiều. Số tiến sĩ, giáo sư có cả chục người. Tướng
lĩnh, thứ trưởng, vụ trưởng và tương đương, Tổng giám đốc, Tổng biên tập... có
cả mấy chục vị. Không ít người từ dân nghèo vươn lên thành lập công ty vừa và lớn.
Tiêu biểu là Công ty Thương mại - Du lịch Nam Cường do Trần Văn Cường thành lập
và làm giám đốc, ra đời từ thời mở cửa, nay có cơ sở ở khắp trong Nam ngoài Bắc,
làm ăn phát đạt. Loại công ty có tiếng cỡ như Công ty cổ phần sinh hoá do Trần
Cao Tường làm giám đốc thì xã tôi có cả chục rải khắp nước.
Sự đổi mới dễ thấy ở làng tôi là nhờ
có sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước đem lại. Con người quê tôi cần cù yêu nước
có sức bật vươn lên trong cuộc sinh tồn. Thế hệ cha ông và thế hệ chúng tôi, từng
đã trải qua những năm tháng gian khổ, hy sinh nên vô cùng quý trọng những thành
quả đạt được và vô cùng biết ơn Đảng, Bác Hồ và Chính phủ. Niềm tin yêu Đảng và
Nhà nước XHCN Việt Nam trong chúng tôi không dễ gì lay chuyển. Nhưng thật đáng
suy nghĩ là thế hệ trẻ, con cháu chúng tôi sinh ra trong thời bình, chúng đòi hỏi
hưởng thụ hơn là cống hiến cho dân cho nước. Nhiều cháu luôn chê quê mình nghèo
khổ và tìm mọi cách ra thành phố kiếm sống, có cháu đi nước ngoài rồi không về. Ba đứa con tôi đều được ăn học hết đại học,
tiện nghi sinh hoạt tuy chưa thoả mãn yêu cầu nhưng cũng có xe máy tốt, điện
thoại di động loại xịn, so với cha mẹ thì chúng may mắn hơn nhiều. Vậy mà chúng
vẫn phàn nàn đời sống của chúng còn khổ quá. Chẳng riêng con tôi, dường như lớp
trẻ bây giờ ít tìm hiểu về cha ông chúng và không quan tâm nhiều đến công lao của
các thế hệ đi trước. Tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nghiện hút trong thanh thiếu
niên huyện Xuân Trường nói chung và Trà Lũ nói riêng chiếm tỷ lệ đáng báo động.
Hơn bao giờ hết, vấn đề thường xuyên giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ là vấn
đề cần được quan tâm. Việc giáo dục truyền thống quê hương, lòng yêu chủ nghĩa
xã hội, ơn Đảng và Bác Hồ, trân trọng các bậc tiền bối cho thế hệ trẻ phải được
toàn xã hội, các ngành, các cấp cùng quan tâm thực hiện. Thật vô tình là trong
khi chúng ta tuyên truyền giáo dục truyền thống cho lớp trẻ thì lại có người nhồi
nhét cho thanh niên những bài hát xa lạ, những bài hát mà nhạc thì hò hét, ca từ
thì phản cảm kiểu như “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta”. Có lần tôi nhắc nhở
thanh niên hãy tìm hiểu lịch sử truyền thống quê hương, đất nước mình thì có
cháu đã trả lời tôi bằng cách gân cổ hát rống lên câu hát này. Thế mới hay, có
tâm chưa đủ, mà còn phải có tài và tác phong làm việc khoa học, nhất là trong
lĩnh vực văn học và nghệ thuật, vì tác động của chúng rất ghê gớm. Lại có lần
làng bên đón nhận danh hiệu Làng văn hoá, có cháu hỏi tôi: “Làng ta không được
công nhận là làng văn hoá có phải vì làng ta vô văn hoá không?” Câu hỏi
ngây thơ mà làm ta đau lòng. Văn hoá gắn liền với truyền thống lâu đời, chứ đâu
phải chờ ai công nhận thì mới có văn hoá. Hoá ra trong cách làm của ta hiện nay
còn không ít vấn đề phải nghiên cứu kỹ lưỡng để không xảy ra tình trạng mục
đích tốt mà hình thức lại gây phản cảm. Tôi cứ trăn trở nghĩ: “Nếu có thể thay
thuật ngữ Làng văn hoá và Khu phố văn hoá bằng thuật
ngữ Làng văn minh và Khu phố văn minh. Như thế khoa
học và hợp lý hơn chăng?”
Lứa chúng tôi vô cùng yêu quê, yêu nước
và trân trọng sự đổi mới thì khỏi bàn. Nhưng làm sao để bọn trẻ, con cháu chúng
ta, thế hệ sinh ra trong thời bình cũng tha thiết yêu và gắn bó với quê hương đất
nước, để chúng không còn bỏ ra thành phố, bỏ đi nước ngoài rồi không về, để
chúng coi việc đóng góp hết khả năng xây dựng quê hương là đòi hỏi, là tình cảm,
là bổn phận nghĩa vụ mà chúng tự nguyên thực hiện. Tin ở con cháu mình, tôi
mong chúng tìm về cội nguồn, nơi có mồ mả tổ tiên, nơi chúng được chôn nhau cắt
rốn.
Trước mắt tôi hiển hiện con sông uốn
khúc, cánh đồng lúa chín vàng, những ngôi nhà cao đẹp ẩn hiện sau luỹ tre xanh,
đài ghi công liệt sĩ trang nghiêm, trường học, bệnh xá khang trang, tiếng
chuông nhà thờ Phú Nhai ngân vang, tiếng mõ chùa, tiếng chim cu gáy thanh bình.
Đó chính là quê tôi mà ở đó bố mẹ tôi đã cả đời tần tảo nuôi dạy chúng tôi
thành người; ở đó có bà con họ hàng, làng xóm, bạn bè mà đến thăm hỏi bất kỳ
người nào, nhà nào, tôi cũng được đón tiếp như người thân; ở đó là cộng đồng
thân thiết tối lửa tắt đèn có nhau. Dù đi đâu, ở đâu, lúc nào tôi cũng đau đáu
hướng về nơi ấy. Vang lên trong đầu tôi lời ca tha thiết của Giáp Văn Thạch như
nhắc nhở mọi người hãy hướng về quê hương của mình:
Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi...
Quê hương, nếu ai không nhớ sẽ không
lớn nổi thành người.
Quê hương trong lời ca ấy đối với tôi
chính là Trà Lũ Trung - Xuân Trung yêu dấu, dù hiện nay chưa phải là xã giàu,
nhưng vẫn là nơi để chúng tôi gửi gắm hồn mình.
Thành Nam, 5-1980
MÁY BAY CÓ… CHÂN
Vợ
chồng bạn đọc cãi nhau. Vợ bảo máy bay chỉ có bánh mà không có chân. Chồng nói
máy bay có chân. Không ai chịu ai nên họ đến nhờ thư viện phân xử. Thủ thư
Hương không biết nhiều về máy bay nên bảo họ cứ sang khu hồ Truyền Thống (Bảo
tàng tỉnh Nam Định) có trưng bày một cái máy bay mà xem sẽ rõ. Hai vợ chồng nọ
đi xem xong lại về thư viện. Vợ hoan hỉ:
- Thấy chưa, em đã nói là máy bay chỉ có
bánh, làm gì có chân.
Chồng vẫn ngoan cố:
- Anh bảo máy bay có chân...
Cuộc tranh cãi máy bay có chân hay chỉ có
bánh lây sang cả một số cán bộ trong Thư viện tỉnh. Mọi người đều nói: “Máy bay
có bánh chứ làm gì có chân”. Cậu Trần lại bảo: “Có máy bay có bánh, lại có
máy bay có chân”. Thủ thư Hương mắng cậu Trần:
- Đồ... hai phải!
Cô Bích thì hỏi:
- Thế máy bay có chân là máy bay gì?
Cậu Trần bảo:
- Là máy bay trực thăng chiến đấu, trực
thăng cứu hộ, máy bay lên thẳng ấy mà...
- Ông đã thấy tận mắt chưa, và ở đâu?
- Thấy trong chiến trường miền Nam,
trong phim ảnh. Sách báo cũng nói tới... cái chân của máy bay mà người ta gọi
nó là càng.
- Thế chân nó như thế nào?
- Nó giống cái chân con ngựa gỗ cho trẻ
con chơi ở nhà trẻ.
- Bốc phét!
Mọi người đều cho là cậu Trần bịa.
Phan tiên sinh trầm ngâm một lát rồi nghiêm giọng:
- Nếu máy bay không có bánh thì người
ta đưa nó vào hầm hoặc nhà bảo vệ bằng cách nào?
- Tôi không biết.
Cuộc tranh luận máy bay có chân hay có
bánh coi như chấm dứt với phần thắng thuộc về đa số cho rằng máy bay chỉ có bánh
sau khi cậu Trần thừa nhận là mình không biết “người ta đưa nó vào hầm hoặc nhà
bảo vệ bằng cách nào”.
Sáng hôm sau. Vừa đến cơ quan, thủ thư
Hương bô bô thông báo:
- Tối qua, xem phim Cánh đồng hoang
chiếu lại trên Tivi, hoá ra có loại máy bay có chân thật.
Chẳng ai phản đối thủ thư Hương vì có
lẽ tối qua mọi người đều xem phim Cánh đồng hoang.
Trong cuộc sống mà ta không quan tâm tới
cái gì thì ta sẽ không hiểu rõ về nó được, ngay cả những “chuyện thường ngày” của
chính ta. Óc quan sát thật cần cho mọi người nhất là đối với người cầm
bút.
ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ
ĐÚNG
LÀ CÔNG AN NHÂN DÂN!
Tại
ngã tư đường Trường Chinh - Phù Nghĩa (thành phố Nam Định). Một người đi xe mô
tô vượt qua vạch dừng khoảng 3 mét thì đèn đỏ bật sáng. Sợ bị phạt, người này vội
dừng xe và lúng túng dắt xe lùi lại làm những người đứng tại vạch dừng rất khó
chịu. Một đồng chí cảnh sát giao thông trẻ tuổi từ trong bục tiến lại. Mọi người
tin chắc phen này người đi mô tô sẽ bị phạt. Nhưng thật bất ngờ, đồng chí cảnh
sát giao thông trẻ tuổi chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở:
-
Bác dắt xe lùi lại tỏ ra bác tôn trọng luật giao thông đường bộ, nhưng trong
tình huống này lại làm cản trở giao thông của người khác. Lần sau gặp tình huống
vượt qua vạch dừng mà đèn đỏ mới bật sáng thì bác cần nhanh chóng sang đường để
nhường đường cho người khác. Chúng tôi không phạt những trường hợp như thế đâu.
Thái
độ ứng xử của đồng chí cảnh sát giao thông trẻ tuổi hôm ấy thật có văn hoá, được
người đi đường khen: Đúng là Công an nhân dân.
CẢNH
SÁT - NGƯỜI MÁY
Cũng
tại ngã tư này, tôi được chứng kiến một thái độ ứng xử khác. Một bác cao tuổi
đi xe gắn máy từ đường Phù Nghĩa ra đường Trường Chinh. Vì đường không có vạch
sơn quy định dừng xe nên những người tham gia giao thông tiến đến sát chân cột
đèn tín hiệu, giáp mép đường Trường Chinh. Bác đi xe gắn máy rẽ phải độ hai mét
thì tới đường Trường Chinh, cũng là lúc đèn đỏ bật lên. Bất ngờ một đồng chí cảnh
sát giao thông trung tuổi từ góc khuất đón sẵn tiến ra yêu cầu bác dừng xe để
phạt lỗi vi phạm đèn đỏ. Bác đi đường nhận khuyết điểm và năn nỉ xin đồng chí cảnh
sát giao thông tha cho vi phạm lần đầu để kịp giờ lên lớp dạy học. Đồng chí cảnh
sát lạnh lùng:
-
Tôi không cần biết việc riêng của bác. Tôi chỉ biết bác vi phạm đèn đỏ là tôi
phạt.
Đồng
chí cảnh sát giao thông yêu cầu bác đi đường dắt xe ngược dòng người đông đúc
trong giờ cao điểm buổi sáng tới bục công an đối diện để xử lý. Bác đi đường
không mang theo giấy tờ xe. Bác lại năn nỉ xin đồng chí cảnh sát giao thông cho
bác gửi tập giáo trình mang tên bác làm tin, hứa sau giờ lên lớp sẽ thi hành nộp
phạt đầy đủ. Đồng chí cảnh sát kiên quyết khoá xe của bác lại và buộc bác thuê
xe ôm về lấy giấy tờ xe. Bác đi đường còn cố nài nỉ:
-
Xin đồng chí thông cảm, tạo điều kiện cho tôi lên lớp kịp giờ, không cả lớp các
cháu chờ đợi...
Đồng
chí cảnh sát xẵng giọng:
-
Bác vi phạm luật thì bác còn dạy được ai!
Bác
đi đường sững người nhìn đồng chí cảnh sát giao thông như nhìn một sinh vật lạ
rồi đành thuê xe ôm về lấy giấy tờ xe.
Khi
trả biên lai phạt, nhận lại giấy tờ xe, bác thành thật cám ơn đồng chí cảnh sát
giao thông. Đồng chí cảnh sát giao thông không nói một lời trước câu cám ơn của
bác, nét mặt không thể hiện một cảm xúc gì. Tôi tò mò hỏi bác:
-
Bác đã bị phạt mà còn cám ơn là nghĩa làm sao?
Bác
đi đường buồn buồn trả lời:
-
Tôi bị muộn mất hai tiết lên lớp làm cho gần năm chục em học sinh phải lãng phí
thì giờ chờ đợi, nhưng tôi không trách đồng chí cảnh sát giao thông vì đồng chí
ấy làm đúng quy định. Tôi cám ơn đồng chí cảnh sát giao thông là do đồng chí ấy
phạt mà tôi sẽ phải nhớ để không tái phạm lỗi rẽ phải khi đèn đỏ, cũng là một lần
nữa xác minh xem đồng chí ấy có đúng là vô cảm hay không. Tôi chỉ không vừa
lòng với thái độ ứng xử chưa tốt của đồng chí ấy thôi. Có lẽ đồng chí ấy nhiều
năm phải xử phạt người vi phạm luật giao thông đường bộ nên nó chai lỳ cảm xúc
rồi.
Nghe
nói một số nước trên thế giới người ta có người máy cảnh sát giao thông rất lịch
sự. Ngành cảnh sát nước ta cũng nên mua những người máy cảnh sát giao thông để
theo kịp văn minh thế giới.
CHÚC
MỪNG SINH NHẬT (2-9)
GIAI ÚT TRẦN NGỌC MINH
Vợ mình có chửa thằng út "vỡ kế hoạch".
Số là trước thằng út, vợ chồng mình đã có con gái cả và thằng trưởng rồi. Nếu
thêm thằng út thì nuôi ba con trong hoàn cảnh khốn khó thời bao cấp sẽ rất cực
khổ. Vợ mình đành phải vào Bệnh viện tỉnh xin bỏ thai. Bữa ấy giáp Tết, bác sĩ
bảo:
- Giáp Tết rồi, chị cứ về ăn Tết cho vui
vẻ, rồi sau Tết vào nạo cũng được.
Tết, vợ chồng con cái về thăm ông bà nội.
Bà nội biết chuyện vợ chồng mình định nạo thai, bà bảo:
- Thai thành hình rồi, là mạng người đấy!
Các con không thể làm việc thất đức ấy được. Mẹ không cho phép các con phá
thai.
Vậy là vợ chồng mình tặc lưỡi:
- Thôi kệ. Đến đâu thì đến. Đói khổ thì
đói khổ. Bất chấp tất cả… Trời sinh voi trời sinh cỏ.
Sáng mồng
2 tháng 9 năm 1981 vợ mình sinh thằng út, đặt tên là Trần Ngọc Minh. Thêm thằng
út, quả thật cuộc sống thời bao cấp của gia đình mình khó khăn gấp bội. Vợ mình
ngày phục vụ bạn đọc ở phòng đọc Thư viện tỉnh, tối bóc lạc thuê cho Sở ngoại
thương đến chai tay. Mình thì ngày đi cơ sở, hoặc đạp xe đi dạy trung cấp thư
viện cách nhà ba chục cây số, tối ra ngã ba Nguyễn Du – Lê Hồng Phong bơm vá xe
đạp đến khuya. Chủ nhật, mình dành thời gian dắt thằng lớn, kiệu thằng út trên
vai đi dạo phố. Hai thằng giai trưởng và giai út quặt quẹo luôn, đi viện như
cơm bữa. Hai thằng phải uống nhiều thuốc textaxiline làm hỏng cả men răng.
Vậy rồi lần hồi cũng vượt qua khó khăn.
Ba con nay đều đã có gia đình riêng. Chúng lại lo cho con cái chúng như bố mẹ từng
lo cho chúng. Cuộc sống bây giờ đủ đầy sung sướng gấp trăm lần ngày bao cấp.
Nhưng với vợ chồng mình thì chẳng có gì hạnh phúc hơn những ngày gian khổ xa
xưa ấy. Hai ông bà già giờ có thêm hai dâu, một rể, sáu cháu ba trai ba gái nội
ngoại. Mỗi khi có dịp chúng về thăm ông bà thật là vui.
Nhân sinh nhật thằng út, mình lại sống với
kỷ niệm xưa. Già rồi thường sống bằng kỷ niệm! Bỗng rưng rưng nhớ Mẹ, cảm ơn Mẹ
đã khuyên răn, không cho bỏ thằng út. Cảm ơn cô bác sĩ, cảm ơn Trời Phật run rủi
cho thằng út ra đời.
Chúc mừng sinh nhật giai út của bố mẹ!
CHÚC MỪNG SINH NHẬT (15-9)
DÂU TRƯỞNG TRẦN BÙI KIM HƯỜNG
Mới
ngày nào dâu trưởng nhà tôi còn là cô bé 18 tuổi, người bé nhỏ, nhanh nhẹn, làm
Lớp trưởng lớp Thư viện 3 (2000 – 2002). Khi ấy tôi đang thỉnh giảng ba môn
nghiệp vụ cho lớp này.
Hôm khai giảng, ông Giám đốc sở Văn
hóa Thông tin hứa hẹn rằng em nào đỗ loại giỏi thì ông bố trí công tác ngay.
Cuối khóa, dâu trưởng nhà tôi tốt nghiệp
loại giỏi. Ông Giám đốc sở bảo cho nghỉ một tháng, tháng sau đi làm luôn. Thế rồi
năm bảy cái “tháng sau” qua đi cũng không thấy ông Giám đốc nói gì. Dâu trưởng
đành nhận việc ở một công ty xây dựng trong thành phố.
Hai năm sau Giám đốc Thư viện tỉnh bảo
tôi:
- Ông Giám đốc sở thông báo em phải bố
trí công tác cho một học sinh thư viện vừa tốt nghiệp loại khá. Con bé cũng là
học trò của anh em mình. Em bảo ông Giám đốc: “Con anh Giống tốt nghiệp loại giỏi,
anh đã hứa bố trí công tác mà mấy năm nay không thực hiện. Bây giờ anh đưa người
loại khá về thì em biết ăn nói sao với anh Giống?” Ông Giám đốc bảo: “Vậy nhận
luôn con ông Giống nữa!” Anh xem cho cháu về Thư viện công tác đi!
Đã tốt nghiệp Đại học thư viện tại chức,
được làm nghề đã học, dâu trưởng nhà tôi rất vui. Cơ quan xây dựng không đồng ý
cho chuyển, dâu trưởng nhà tôi liền bỏ việc luôn. Nhưng chờ mãi chẳng thấy ông
Giám đốc sở động tĩnh gì. Một hôm Giám đốc thư viện bảo tôi: “Em chất vấn tại
sao không quyết định nhận con anh Giống thì ông Giám đốc sở bảo: “Là tại anh
phát biểu trong Đảng ủy mở rộng rằng tôi cứ ấn người thừa về chỗ anh…” Em bất lực
rồi. Giờ anh phải xuất tướng thôi!
Một buổi tối, tôi đến nhà Giám đốc sở.
Vừa trông thấy tôi, ông Giám đốc sở vỗ đùi cái đét, kêu lên:
- Ôi trời! Trông thấy ông tôi mới nhớ
ra. Bận trăm công nghìn việc tôi quên khuấy chuyện con ông.
Tôi cười:
- Vậy bây giờ ông nhớ rồi thì ông thực
hiện lời hứa nhé!
Tháng sau dâu trưởng có quyết định hợp
đồng công tác, chờ thi công chức. Gần đến kì thi công chức, ông Giám đốc sở lại
bảo: “Sở không lấy đại học tại chức. Ai có bằng Đại học tại chức thì liệu lo
tìm việc khác!”
Vợ chồng tôi hơn ba chục năm gắn bó với
nghề thư viện, mong có con nối nghiệp bố mẹ. Nhưng đến nước này thì chả hy vọng
gì ở cái ngành văn hóa nữa, tôi khuyên dâu trưởng thi sang ngành giáo dục. Kỳ ấy
giáo dục thành phố được 9 chỉ tiêu mà có tới ba bốn chục người dự thi. Thi hai
môn (nghiệp vụ và Anh văn), tối đa mỗi môn 100 điểm. Các thí sinh thuộc diện
chính sách được cộng thêm 30 điểm. Dâu trưởng nhà tôi không có ưu tiên chính
sách, bài làm thực lực phải hơn thí sinh ưu tiên ít nhất ba chục điểm mới có hy
vọng đỗ.
Dâu trưởng bảo:
- Bố ơi! Con thăm dò biết nhiều thí sinh ưu tiên lắm.
Con có thi cũng chả được đâu!
Tôi bảo:
- Thì con cứ thi, coi như là tập dượt để kỳ sau thi
cũng tốt chứ sao!
Thi buổi sáng về, dâu trưởng có vẻ không vui. Chiều gần
đến giờ thi rồi vẫn thấy dâu trưởng ôm con nằm nghỉ, tôi bảo:
- Đến giờ thi buổi chiều rồi, đưa con cho bà nội trông
mà đi!
Dâu trưởng bảo:
- Thôi con không thi nữa đâu. Thi cũng chả được đâu bố
ạ!
Tôi bảo:
- Cứ thi tập dượt con ạ. Bố lai đi cho kịp!
Mấy tháng sau có kết quả: Dâu trưởng nhà tôi đứng thứ
7 trong danh sách 9 người đỗ.
Mới đấy mà dâu trưởng đã bốn chục tuổi rồi. Con gái lớn
đã cao hơn mẹ, con trai út cũng đã 4 tuổi.
Chúc mừng sinh nhật 15-9 dâu trưởng nhà ta: TRẦN BÙI
KIM HƯỜNG!
CHÚC MỪNG SINH NHẬT (5-10)
DÂU ÚT TRẦN THỊ THU
Năm dâu út tốt nghiệp ngành Tin học
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng là lúc giai út học xong bằng hai Tin học
cùng trường. Dâu út thi công chức vào ngành giáo dục Nam Định và dạy tin học
máy tính cho trẻ trường tiểu học.
Sau khi phải mổ tim ở Bệnh viện Tim Bạch
Mai, sức khỏe dâu út không được tốt. Mỗi khi làm quá sức, dâu út hay bị sỉu đi
vì mệt. Bác sĩ khuyến cáo: Dâu út không nên mang thai. Bố mẹ lo cho sức khỏe
dâu út, ủng hộ ý kiến của bác sĩ.
Nhưng dâu út bảo: “Bằng giá nào con
cũng phải đẻ cho chồng con một đứa…” Dâu út mang thai được bảy tháng thì phải
đi nằm Bệnh viện sản trung ương, tháng thứ tám thì Bệnh viện buộc phải mổ cho
anh Cò Thành ra đời sớm. Bốn năm sau, dâu út lại mang thai, lại nằm Bệnh viện sản
trung ương, lại phải mổ cho em gái Bông Thùy ra đời sớm. Hai vợ chồng dâu út đều
yếu, nghèo, bươn trải nuôi hai con ăn học thật là vất vả.
May sao, đẻ hai con, dâu út dần dần khỏe
lên. Có lẽ tình yêu hạnh phúc vợ chồng con cái là thuốc tốt cho dâu út tăng nghị
lực vượt lên khó khăn.
Giờ đây Cò Thành đã học lớp tám Trường
THCS Trần Đăng Ninh. Em Bông Thùy học lớp bốn rồi.
Giàu con út, khó con út. Bố mẹ nghèo
không có điều kiện cho con út nhà lầu xe hơi như người ta. Bố mẹ chỉ có tình
yêu cho con cháu.
Mỗi lần nghe dâu út “Con chào bố mẹ ạ”
là bố mẹ lại thấy mát lòng mát dạ.
Bác sĩ khuyến cáo không nên mang thai
mà dâu út liều đẻ Cò Thành, Bông Thùy… Dâu út là anh hùng của nhà ta vậy.
CHÚC MỪNG SINH NHẬT 5-10 DÂU ÚT NHÀ
TA: TRẦN THỊ THU.
NGÀY 12 - 8 – MỐC THỜI GIAN ĐÁNG NHỚ
Ngày
12 – 8 là một mốc thời gian đáng nhớ với tôi. Đó là ngày nhạc phụ nhạc mẫu tôi
sinh ra và sau này tặng cho tôi báu vật - vợ tôi. Rồi cũng chính ngày 12 – 8 vợ
tôi lại sinh cho tôi thằng trưởng nam để nối tiếp dòng họ Trần của tôi.
Sợ
dịch Vũ Hán nên không tổ chức mừng ngày sinh nhật vợ và con trai cả, tôi lên
trang bài thơ từ ngày mới yêu nhau tặng vợ con. Bài thơ đại ngôn của tuổi trẻ
còn chưa biết gì về thơ phú, nhưng là kỷ niệm về mối tình của tôi.
MỐI TÌNH NAM –
THÁI
Đất Thái Bình
quê hương năm tấn
Lúa óng vàng
ngậm nắng ban mai.
Nam Hà mặn
tình người với biển
Những cánh
buồm thấp thoáng xa khơi.
Gái Thái Bình
giòn xinh duyên dáng
Vững tay cày -
tay súng, đảm đang.
Trai Nam Hà -
cá kình vượt sóng
Đậm tình
người, dũng cảm vô song.
Dòng sông Hồng
phù sa thơm mát,
Tưới đôi bờ
xanh mướt ngàn dâu.
Phà Tân Đệ sớm
chiều xuôi ngược
Là nhịp cầu
Nam - Thái tìm nhau.
Hè
1969
VĨ THANH
Từ
ngày Tân Đệ có cầu
Thênh thênh xe
lướt, nao nao nhớ phà
Bồng
bềnh qua lại đôi bờ
Gieo vào nỗi
nhớ, câu thơ trĩu tình.
2001
“MUỐN VỀ QUÊ MẸ MÀ KHÔNG CÓ
ĐÒ”
Ngày 11 – 10 âm lịch là ngày giỗ nhạc
mẫu tôi. Con dâu cùng mẹ chồng chuẩn bị sắm sẵn lễ hương hoa. Tôi chuẩn bị xe
máy chở vợ về quê giỗ mẹ. Con gái sợ bố già đi xe máy không an toàn, hẹn chở bố
mẹ về bằng ô tô. Vợ tôi gọi điện cho các chị em ở thị xã Thái Bình, Đắc Lắc, Cần
Thơ, Mỹ, hẹn nhau về họp mặt, bàn việc quy bố mẹ về lăng tổ… Đùng phát, quê nhà
bùng phát dịch, lệnh phong tỏa toàn huyện. Cháu dâu ở quê điện bảo: “Người tỉnh
ngoài về thì họ cho vào, nhưng không cho ra”. Chỗ tôi, ở vùng dịch về thì họ
cách ly 14 ngày. Thế là kế hoạch bị vỡ không về quê được, đành phó mặc cho cháu
dâu ở quê lo giỗ bà, mọi việc chờ qua đợt dịch covid Vũ Hán rồi tính.
Nhạc mẫu tôi hiền lành phúc hậu, không
kể cô con nuôi thì bà sinh sáu cô con gái. Bà tặng tôi cô thứ tư. Vợ tôi thành
dâu trưởng nhà tôi. Tôi nhiều năm đi bộ đội chiến đấu ở Quảng Trị, bảo vệ biên
giới ở Lạng Sơn. Công to việc nhỏ dòng họ, gia đình, nuôi ba con ăn học đều một
tay vợ tôi quán xuyến. Kể từ ngày cưới đến nay, đã nửa thế kỷ qua, vợ tôi đã
thành lão bà, nhưng tình cảm vẫn nồng nàn như ngày còn là cô sinh viên thuở trước.
Tôi biết ơn nhạc mẫu nhạc phụ đã tặng tôi báu vật cuộc đời.
Từ nhà tôi ở thành phố Nam Định về quê
chỉ khoảng 10 km. Ngày trước chưa có cầu, phải qua phà Tân Đệ. Đường đê trước
chưa được rải nhựa bê tông, mỗi lần về quê gặp mưa, đường lầy bùn đi rất vất vả.
Có lần tôi đi xe đạp đèo thằng cả về quê, gặp mưa, đường lầy trơn, đất bám chặt
bánh xe không thể đi được. Tôi dắt đẩy xe. Thằng cả mới 5 tuổi bám ba ga xe đi
theo. Hai bố con đánh vật mấy tiếng đồng hồ mới vượt hết 5 km đường đê từ phà
Tân Đệ tới nhà. Mỗi lần tôi về quê, bọn trẻ lại háo hức đòi theo. Tôi thường
đón nhạc mẫu sang Nam Định thăm con cháu, rồi đưa bà về quê trên con đường đê ấy.
Lần nào đi về, mẹ tôi cũng bắt dừng xe cho bà thắp hương ở ngôi miếu nhỏ bên đê
sông Hồng, cách nhà ba cây số. Bà bảo cái miếu nhỏ ấy thờ cô gái chết đuối trên
sông Hồng. Cô thiêng lắm. Lần nào về quê đi, tôi cũng được bà gói ghém hoa quả
vườn nhà, mớ khoai, bó củi đay, buộc vào xe đạp cho chở về Nam Định. Vào tuổi
trên bảy mươi, mẹ tôi bị thoái hóa sập cột sống, lưng cù gập, phải chống gậy.
Bà dành nhiều thời gian giúp tôi công việc nội trợ, trông nom các cháu các chắt.
Hồi ấy vợ chồng tôi nghèo vất vả lắm, nên bà càng thương. Khi bà sắp về với tổ
tiên, tôi thăm ngồi bên bà. Bà lần giở túi vải trong người đưa ra một cuộn tiền
các con cháu và họ hàng thăm cho, đủ các mệnh giá, ấn vào tay tôi. Nhiều lúc bà
lẫn không nhận ra ai. Nhưng riêng tôi lần nào gặp, bà cũng nhận ra ngay… Ôi! Kỷ
niệm về nhạc mẫu tôi bồi hồi trong dạ. Mới đấy mà bà đã đi xa hơn chục năm rồi.
Ngày kị nhạc mẫu, không về được, vợ
tôi đi trông đích tôn, tôi một mình lẩn thẩn ở nhà sống với những kỷ niệm về Mẹ.
Giải tỏa cảm xúc buồn thương nhớ Mẹ, bức bối vì không về quê được, tôi hát các
bài hát về mẹ, hết bài này đến bài khác.
“Qua đò nhớ mẹ”, con không gọi đò mà gọi Mẹ ơi!
14 – 11
– 2021
CỦA
BÀI THƠ “THẮP SÁNG ĐƯỜNG TU”...
Bài thơ
“Thắp sáng đường tu” ra đời hơn hai chục năm trước, được nhà thơ Hoài Ngọc Anh
(Trần Hùng Thắng - cậu tôi) biên tập nhuận sắc. Tôi đứng tên tác giả gửi bài
thơ tới Tạp chí Văn Nhân nhưng không được sử dụng. Sau đó tôi gửi cho chính Chủ
tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, tham gia sách “Thơ 1000 năm Thăng Long Hà Nội
– Thiên Trường Nam Định”. Khi sách in ra không thấy có mặt bài thơ này, tôi chất
vấn vị độc quyền tuyển mảng thơ quốc ngữ, rằng tại sao rất nhiều bài dở hơn bài
của tôi được chọn mà bài của tôi lại bị loại? Vị này trả lời thẳng thắn, rất thực
thà:
- Lẽ ra
ông phải nói với tôi thì có thể tôi châm trước. Nhiều người còn đưa tiền cho
tôi để được đăng. Đằng này ông lại đưa cho Chủ tịch để ép tôi. Với tôi, Chủ tịch
chả là cái đinh rỉ gì…
Đến nước
này thì tôi chỉ còn biết lắc đầu ngán ngẩm và cất bài thơ vào ngăn kéo.
Đến thời
Họa sĩ Vũ Xuân Dương làm Tổng biên tập Văn Nhân tôi còn đắn đo nhiều năm trời mới
dám gửi lại bài thơ cho tạp chí.
Sau hơn
hai chục năm bị hất hủi, cuối cùng bài thơ cũng được Văn Nhân số 138 năm 2021 sử
dụng. Một bạn văn ở huyện vừa gửi cho tôi hình ảnh bìa và trang cuốn sách “Lâu
đài của Phật, Nxb. Hội Nhà văn của tác giả Hoa Vân) cũng in bài thơ này. Chỉ tiếc
là tác giả Hoa Vân đã qua đời. Bài thơ được Nhạc sĩ Trần Công Thuỷ phổ nhạc
thành ca khúc “Thắp sáng đường tu”...
SÓC
ĐI SIÊU THỊ
Sáng 8-12-2016 lớp Sóc tổ chức cho các
con đi siêu thị tập mua sắm.
Các con xếp hai hàng rồng rắn theo mẹ -
cô giáo trẻ xinh đẹp dẫn đầu đi quanh co theo các quầy hàng trong siêu thị tham
quan hàng hóa. “Cưỡi ngựa xem hoa”, các con nhìn cơ man là hàng đủ thứ mà hoa cả
mắt.
Xem các quầy rồi,
các con bắt đầu thực tập làm công nhân sản xuất bánh kẹo. Những nhân viên quầy
hàng phát cho mỗi con một cái tạp dề, một cái mũ nhà bếp và hướng dẫn các con
đeo tạp dề cho nhau. Có ba cái bàn nhôm để các công nhân nhí thực hành sản xuất.
Mỗi con được phát một hai cục mì bột đã được nhào sẵn, tự nặn hình thù các con
vật theo ý thích. Sóc nặn con ốc và con lợn. Sóc đưa cho ông một cục bột bằng đầu
ngón tay, nhờ ông cầm hộ giữ làm kỷ niệm. Khi các con hoàn thành tác phẩm của
mình, nhân viên quầy hàng thu về tiếp tục công đoạn nướng bánh.
Nhân viên quầy
hàng tổ chức cho các con chơi. 6 con được chọn đại diện cho lớp tham gia đua xe
lắc. Các cổ động viên vừa chạy theo xe vừa hô “Cố lên! Cố lên! Cố lên!” thật
náo nhiệt. Nhân viên quầy hàng nhờ cô giáo chuyển quà tới 6 vận động viên đua
xe mỗi con một hộp... gì chả biết đâu!
Cô giáo tuyên
bố: “Trong thời gian 15 phút, các con tự tính toán mua sắm. Xong thì xếp hàng
lên ô tô về trường”. Sóc đi quanh các quầy hàng nhìn ngắm, nét mặt tỏ ra suy
nghĩ tính toán ghê lắm. Đầu tiên, Sóc chọn một quyển truyện tranh cho mình.
Nhìn giá bìa 28.000 đồng. Còn 22.000 đồng nữa. Tiếp theo là mua quà cho các
em... hai gói bim bim hết 10.000 đồng. Vị chi là 38.000 đồng. Còn 12.000 đồng.
Cần phải mua quà cho bố mẹ. Nhưng 12.000 đồng không biết mua được cái gì đây. À
đây rồi, bưu thiếp giá 2.900 đồng. Sóc mua 2 tấm tặng bố mẹ nhân sắp tới Nô
En... Nhưng vẫn còn thừa 6.200 đồng... Khó quá... Chả thấy cái gì cần giá bằng
số tiền còn thừa. Sóc cầu cứu: “Ông ơi! Mua gì bây giờ hả ông?” Ông an ủi:
“Cháu biết mua sách tự nâng cao hiểu biết, biết nghĩ đến các em và bố mẹ là ông
vui rồi. Cháu cũng nên để lại một chút tiền thừa giữ lộc may mắn. Chả lẽ cháu
tiêu hết cả vốn ư?” Nghe ông nói, Sóc vui vẻ tung tẩy ra quầy thanh toán.
Khi lên xe về
trường, Sóc nhường bạn lên hết rồi mới cùng cô giáo lên xe, vẫy chào ông nội.
Cô giáo trẻ đẹp như hoa hậu cảm ơn ông đã đi cùng các cháu. Ông cảm ơn cô đã dạy
cháu ông làm NGƯỜI!
Xe chuyển
bánh, ông nhìn qua cửa kính, thoáng thấy Sóc đứng bên cô giáo, một tay xách gói
hàng, một tay níu chiếc dây trên nóc xe...
Chắc hẳn chuyến
đi thực tế này Sóc vui lắm. Nhưng Sóc không biết rằng ông nội còn vui hơn cả
Sóc... Nhìn Sóc lên xe, ông nội cố nén niềm vui dâng trào lên cay mắt. Ông tin
chắc mai này cháu nội sẽ thành NGƯỜI như ông mong đợi.
TÔI
NHẬN GIẢI THƯỞNG VHNT LƯƠNG THẾ VINH LẦN THỨ VIII (2016 – 2020)
Sáng 20 –
12 - 2021 tôi đi nhận Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh cho Tập hồi ký “Thời áo
lính”. Nhà nhiếp ảnh Đinh Hữu Tuyền (người xã Xuân Phương – Trà Lũ Đông) cùng
đi nhận giải, bảo:
- Kỳ này
xã Xuân Trung (Trà Lũ Trung) có ba người được giải: Trần Duy Cát bộ môn Nhiếp ảnh,
Trần Đức Phát bộ môn Mỹ thuật, Trần Mỹ Giống bộ môn NCPB lại nhận giải Văn
xuôi…
Anh Tuyền,
Cát thì tôi quen biết từ bé, riêng Phát thì giờ mới biết. "Chắc Phát còn
ít tuổi, mình đi xa quê từ hơn nửa thế kỷ trước nên không biết".
"Không, cháu cũng nhiều tuổi rồi ạ!" "Ừ thì cũng gần năm mươi,
cùng tuổi Quý Sửu với con gái mình, vẫn là ít tuổi mà!"
Ba người
được giải cùng làng, đều là anh em họ Trần. Lòng bỗng thấy vui vui…
Ông bạn hàng xóm thấy tôi ôm cái bằng Giải
thưởng VHNT Lương Thế Vinh về, liền trách:
- Ôi, cái
bố này, được giải thưởng mà cứ im ỉm. Sợ khao à?
- Đâu có!
Chẳng qua là thấy mình so với nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng hội
có tới năm bảy giải thưởng cao thì cái giải hạng bét của mình khoe ra nó cũng
ngượng…
- Thiên hạ
nhân, thiên hạ tài. Ông được một giải cho nghiên cứu phê bình rồi, giờ lại được
một giải cho văn xuôi nữa thì cũng đáng tự hào chứ!
- Vâng! Cảm
ơn ông động viên.
- Chắc tiền
thưởng giải này thừa chi cho cuốn Truyện nhặt ông vừa xuất bản nhỉ!
- Ôi! Đâu
có! Thưởng chỉ là hương là hoa thôi ông ơi!
- Thế có
được gấp ba lần giải thi tuần lên đỉnh Ô lim pi a của trẻ con không?
- Bằng nửa
giải thi tuần - hạng bét của Ô lim pi a thôi ông ạ!
- Chẹp,
chẹp! Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp! Chúc mừng ông!
Chợt nhớ
chuyện nhà thơ Bùi Đức Vinh có lần phán:
- Cháu đọc
“Thời áo lính” của chú tới hai lần rồi. Kỳ này chú gửi dự Giải thưởng Lương Thế
Vinh đi. Cháu chấm cho chú giải Ba!
- Chú
không chuyên văn, làm sao so với các “cao thủ” bộ môn văn được!
- Thì chú
không chuyên văn nên cháu mới chấm cho chú giải Ba! Tin cháu đi!
Lần trước
khuyên tôi gửi bài cho tuyển “Thơ Nam Định 5 năm đầu thế kỷ”, Vinh cũng bảo
“Tin cháu đi!”. Kết quả Vinh đúng! Ừ thì lại nghe Vinh lần nữa vậy!
Tôi viết
hồi ký mục đích cho riêng mình đọc, chứ không hề nghĩ đến chuyện xuất bản. Tên
hồi ký là “VIẾT CHO RIÊNG MÌNH ĐỌC”. Vì chỉ viết cho riêng mình đọc nên tôi
không hề thêm thắt, không thổi phồng thành tích, không che dấu khuyết điểm,
không quan tâm thủ pháp nghệ thuật... Sự việc thế nào, suy tư ra sao tôi viết lại
như thế.
Cơ duyên
tôi gặp nhà nghiên cứu Trịnh Thị Nga từ thuở hàn vi. Từ năm 1990 tôi thường lếch
thếch đi thỉnh giảng ở Trường Trung cấp VHNT tỉnh. Nga là chị nuôi của trường.
Vợ chồng Nga thường đón tôi về phòng tập thể chật như mắt muỗi cùng ăn cơm. Dần
dà cả tôi và Nga đều thành các “Nhà nghiên cứu cấp tỉnh”. Nga bảo:
- Anh đưa
bản thảo hồi ký em gửi Nhà xuất bản Quân Đội nhân dân để họ xem, duyệt được thì
người ta in bao cấp cho…
Tôi hưu,
lương nhân viên văn hóa lấy đâu tiền tự xuất bản. Khi viết “Viết cho riêng mình
đọc” tôi không dám nghĩ sẽ xuất bản “chính quy”. Thấy Nga nhiệt tình, thực tình
tôi cũng không tự tin, nhưng lại le lói tia hy vọng. Tôi liền thay tên hồi ký
thành “Thời áo lính”…
Không ngờ
chỉ hai tháng sau khi Nga gửi bản thảo đi, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã
quyết định in bao cấp để phát hành cho các thư viện trong hệ thống Thư viện
quân đội. Tôi sung sướng xin được lấy nhuận bút bằng 100 cuốn sách để tặng bạn bè đúng dịp 22 – 12 – 2018.
Ngay năm
sau, 22 – 12 – 2019 Nhà xuất bản Quân đội nhân dân lại in “Thời áo lính” lần thứ
2 theo đơn “Nhà nước đặt hàng” để phát hành cho các thư viện cấp bộ, tỉnh, viện,
trường đại học…
Sau khi
sách được phát hành công khai, xuất hiện một số bài giới thiệu “Thời áo lính” của
tôi, như “Thương bạn” của nhà thơ Đại tá Trần Văn Thuyên, “Thời áo lính” một hồi
ký trung thực” của Tống Thị Hạnh (đăng Tạp chí Văn Nhân), “Giới thiệu hồi ký Thời
áo lính” của Thùy Nhung (Thư viện tỉnh Vĩnh Long), “Thời áo lính – sách hay nên
đọc” (Thư viện Quân đội)…
Tôi vẫn
nghĩ, mình ăn may nên sách mới được in, được giải. Tự biết văn vẻ của mình chả
ra gì, nghệ thuật abc làm sao dám so với các tác giả chuyên văn. Khi nhận sách
gửi dự giải, ông bạn đồng tộc ngạc nhiên hỏi lại: “Đây là… Anh gửi dự thi bộ
môn văn à?” “Ừ! Thì gửi chơi…” “Sao anh không gửi cuốn Các nhà khoa bảng Nam
Đinh Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2017?” “Ồ! Cuốn ấy xuất bản lần đầu
năm 2009 đã được giải rồi…”
Gửi rồi quên
khuấy đi.
Bây giờ
ôm cái giải, dù là giải hạng bét, tôi vẫn còn chưa dám tin…
Có mấy
bác nhà thơ, nhà văn phàn nàn giải chấm người chứ không chấm tác phẩm. Tôi chịu
không biết. Riêng tôi thì chắc chắn chả ông bà giám khảo nào biết tác giả tép
riu như tôi. Mà đến giờ tôi cũng chẳng biết ông bà nào chấm giải nữa…
CHÚC MỪNG!
-1-
- Ông ơi! Nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc
từ bỏ Hội Nhà văn Việt Nam từ lâu rồi ạ!
- Thế
à? Chúc mừng nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc!
-2-
- Ông
ơi! Nhà thơ Trần Hồng Giang bạn ông vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam đấy!
- Thế
à? Chúc mừng nhà thơ Trần Hồng Giang!
-3-
- Ông
ơi! Tác giả Dương Thiên Lý ở Bình Dương bị phanh phui đạo thơ tới 5 lần vẫn được
kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam đấy!
- Thế
à? Chúc mừng Hội nhà văn Việt Nam! Chúc mừng tác giả Dương Thiên Lý!
-4-
- Ông
ơi! Nhà văn Vũ Ngọc Tiến vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam nhưng ông ấy
lại từ chối ạ!
- Thế
à? Chúc mừng nhà văn Vũ Ngọc Tiến!
*
- Ông
ơi! Người được vào hội, người đạo thơ được vào hội, người ly khai hội, người từ
chối ân huệ được hội kết nạp… ông đều chúc mừng là sao ạ?
- À…
Ông mừng cho họ đã biến điều mong muốn mơ ước của mình thành hiện thực!
- Thế còn Hội
Nhà văn Việt Nam kết nạp người đạo văn…?
- Là
ông mừng cho họ kết nạp được người theo tiêu chí của họ cháu ạ!
LÀM
KHÓ ÔNG
Nằm nhà tránh
dịch lâu ngày cuồng cẳng, bức bối quá, hai ông cháu trao đổi về giải thưởng thơ
để xả tréc.
Ông hỏi
cháu:
- Này,
cháu có theo dõi giải thưởng thơ tỉnh ta không?
Cháu:
- Có chứ ạ! Giải
thưởng thơ lớn nhất tỉnh, năm năm mới có một lần, không quan tâm sao được ạ!
Ông:
- Giải kỳ vừa
rồi người ta xếp Trọng Xanh nhất, Trường Thố nhì, Văn Lờ ba… Cháu có nhận xét
gì về việc xếp giải này không?
Cháu:
- Úi giời!
Khó nói lắm ông ạ. Cũng còn tùy vào tiêu chí chấm giải của ban giám khảo, tỷ
như: Nếu lấy cái “áo khoác” của tác giả mà xem xét thì phải xếp Trường Thố nhất,
vì ông ta là Chi hội trưởng Chi hội nhà văn Việt Nam tỉnh, lại mới lách được
vào Hội nghệ sĩ sân khấu trung ương… Trọng Xanh nhì do vào Hội nhà văn lâu năm.
Văn Lờ bét vì chỉ mới được vào Hội nhà văn gần đây.
Ông
khuyến khích:
- Cháu
nắm rõ tiểu sử các nhà văn. Giỏi. Vậy nếu lấy nội dung, nghệ thuật, độ lan tỏa
và thành quả của tác phẩm mà xét thì sao?
Cháu hăng hái:
- Vậy thì phải xếp Văn Lờ nhất vì tập
thơ của anh có nhiều bài đăng báo trung ương uy tín, được một tạp chí văn nghệ
trung ương chọn một chùm trao giải, lại đoạt một giải của tỉnh bạn. Đặc biệt
trong 5 năm vừa qua tập thơ của anh duy nhất ở tỉnh ta được giải của liên hiệp…
Trọng Xanh nhì vì hai tập thơ của ông tuy ít bài được đăng báo trung ương nhưng
cũng đạt khoảng 40% số bài đọc được.
Ông ôn tồn gợi
ý:
- Thế còn Trường
Thố?
Cháu:
- Ông này thì
cháu đành xếp… ngoại hạng ạ!
Ông không hiểu:
- Cháu nói vậy
là sao?
Cháu giải
thích:
- Là cháu có
biết gì về tập thơ và có đọc được một bài nào của ông ta trên báo ngành có uy
tín đâu. Lấy cái gì mà xếp giải ạ?
Ông buồn buồn:
- Ôi, cháu là
bạn đọc yêu thơ thì cháu phải biết về tập thơ được giải cao này nó hay thế nào
chứ!
Cháu cãi:
- Ông là hội
viên Hội thơ tỉnh, chắc ông chả lạ gì thơ của các tác giả được giải. Vậy
ông chỉ cho cháu bài nào của tác giả
“ngoại hạng” này hay đi!
Ông tái mặt, đập
bàn cái rầm, quát:
- Láo! Thằng
này láo thật! Mày lại dám làm khó ông, hả?
- !!!...
THẨM ĐỊNH TÁC PHẨM – CHUYỆN
BÂY GIỜ MỚI KỂ
Cuối năm 2006, một nhà thơ tôi quý trọng
dẫn Phạm Trường Thi đến nhà tôi. Khi ấy Thi đương chức Phó chủ tịch hội VHNT tỉnh,
kiêm Trưởng bộ môn Thơ, kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn Nhân, Phó Trưởng ban
Giám khảo vòng hai Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh. Thi đặt vấn đề với tôi:
- Hiện hội đang vướng chuyện ông Hữu Anh kiện
vì tác phẩm của ông ta bị Ban giám khảo Bộ môn Văn loại khỏi giải Lương Thế
Vinh. Ban lãnh đạo hội quyết định nhờ ông thẩm định cho hai tác phẩm, một là tiểu
thuyết “Nếu được làm lại” của Hữu Anh, hai là tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ”
của Hồng Quốc Văn.
Nghe thế, tôi giãy nảy, từ chối:
- Trình độ tôi có hạn, không làm được đâu, phức
tạp lắm. Xin các ông để cho tôi yên.
- Đây là Ban lãnh đạo tin tưởng trình độ của
ông nên mới giao nhiệm vụ này cho ông. Ông phải bí mật, không đề tên vào thẩm định.
Việc này lãnh đạo chỉ tin tưởng mỗi ông thôi đấy.
- Ông đã nói vậy thì tôi đành nhận…
Khi ra về Thi còn nháy mắt đầy ngụ ý, nói:
- Ông nhớ là cuốn của ông Hữu Anh bộ môn
chuyên ngành đã loại ra khỏi giải, cuốn của Hồng Quốc Văn được trăm phần trăm bỏ
phiếu giải nhất nhé!
Tôi linh cảm có điều gì đó bất bình thường,
liền bảo:
- Nếu các ông đã tin ở tôi thì để tôi tự thẩm
định theo nhận thức của mình…
Tôi nhiều lần thẩm định nghiệm thu, phản biện
công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh nên việc thẩm định hai cuốn tiểu thuyết
không có gì khó cả. Kết quả thẩm định của tôi: “Nếu được làm lại” xứng đáng vào
giải, “Đứa con mang hai họ” cần phải loại ra khỏi giải.
Tôi yên chí mình là người duy nhất được lãnh
đạo tin tưởng giao nhiệm vụ thẩm định. Sau mới té ra còn có hai người “duy nhất”
được lãnh đạo tin tưởng và giao nhiệm vụ thẩm định như tôi là nhà nghiên cứu Đỗ
Thanh Dương và nhà nghiên cứu Hoàng Dương Chương. Thật ngẫu nhiên, kết quả thẩm
định của cả hai ông Dương và Chương đều đồng nhất với tôi.
Trước kết luận của ba bản thẩm định (dấu tên,
chỉ đánh số thứ tự), Ban giám khảo vòng hai – Ban chấp hành hội quyết định hạ loại
tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ” từ A xuống C, đưa tiểu thuyết “Nếu được làm lại”
vào giải, loại C.
Đông đảo bạn đọc hoan nghênh việc điều chỉnh
giải của Ban chấp hành, nhưng Hồng Quốc Văn cùng Ban giám khảo vòng sơ khảo (Hội
đồng nghệ thuật bộ môn Văn) lại đồng loạt viết đơn gửi khắp nơi phản đối quyết
định của Ban chấp hành. Khi ấy truyền đơn chửi bới, bôi nhọ ba người thẩm định
rải ra đường và gửi nhiều người. Trước sức ép của những người này, Ban chấp
hành lại tổ chức họp xem xét nâng tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ” từ loại C
lên loại B, không có giải A. Bạn đọc lại một phen thất vọng và mất niềm tin ở
Ban chấp hành. Sự việc này dẫn đến mấy chục bài báo trên Văn nghệ trẻ tranh luận
về “Đứa con mang hai họ” kéo dài hơn ba tháng đầu năm 2007.
Một hôm, tôi gom sách cũ bán đồng nát, tình cờ
thấy bà đồng nát có một tờ Tạp chí công nhân (tôi nhớ không chính xác tên tạp
chí lắm. Có thể là Văn nghệ công nhân…). Tò mò tôi mở lướt thì bắt gặp một bài
thơ lục bát dở hơi, ghép các chữ đầu câu thành một câu chửi ba người thẩm định
chúng tôi, rất tục tĩu. Tổng biên tập tạp chí này là Phạm Ngọc Chiểu, hình như
là người Nam Định. Sau khi nghiên cữu kỹ, ông Chương quyết định lấy giấy giới
thiệu của Chủ tịch hội lên cơ quan tạp chí công nhân, quyết làm cho ra nhẽ. Rất
tiếc là tạp chí này đã bị giải thể từ hai năm trước.
Chuyện để lại dư âm xấu kéo dài.
Về sau, tác giả của “Đứa con mang hai họ” bị
khai trừ khỏi hội vì giả danh nhà báo lừa đảo, “trấn lột”… Phạm Trường Thi bị một
số hội viên phát đơn tố cáo đạo văn, khai man lý lịch Đảng, khai man bằng cấp để
đủ tiêu chuẩn làm Tổng biên tập Văn Nhân. Tỉnh phải ra quyết định buộc Phạm Trường
Thi thôi chức vụ hội và không cho ứng đề cử vào BCH mới.
Nhưng giải B không có giải A cho “Đứa con
mang hai họ” của Hồng Quốc Văn thì không ai thu hồi. Vết nhơ giải thưởng tỉnh
nhà vẫn còn nguyên đó.
MỘT
LẦN GẶP TS HOÀNG XUÂN SÍNH
Năm
1977 tôi nghỉ phép về thăm vợ con ở Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Thư viện tỉnh mời
Tiến sĩ Hoàng Xuân Sính về nói chuyện giới thiệu tác phẩm “Một số phận vinh
quang và cay đắng” của Liu-Bốp Vô-rôn-xô-va
(Nxb. Phụ Nữ 1976. – In lần 2) (Văn học Nga). Tác phẩm kể về cuộc đời của nhà nữ
toán học Sofia Vasilyevna Kovalevskaya phải chịu biết bao thiệt
thòi khổ sở, hy sinh cả hạnh phúc cá nhân để thực hiện lý tưởng xuất ngoại học
tập chiếm lĩnh khoa học... Cùng với vinh quang, nhân vật cũng chịu biết bao cay
đắng cuộc đời.
Cuộc đời Ts.
Toán học Hoàng Xuân Sính có nét tương đồng với nhân vật trong tác phẩm. Có lẽ
vì sự tương đồng này, cùng với kiến thức rộng sâu, cách nói giản dị dễ hiểu, bà
Hoàng Xuân Sính nói rất hấp dẫn. Hội trường Nhà hát 3 – 2 xếp 800 ghế mà không
đủ chỗ cho bạn đọc, lối đi lại và hành lang nhà hát đông đặc người nghe. Cuộc
nói chuyện giới thiệu sách của bà Hoảng Xuân Sính thu hút người nghe từ đầu đến
cuối suốt ba tiếng đồng hồ không giải lao.
Thư viện tỉnh
được tỉnh cho mượn một xe u oát - com măng ca mui bạt để tiễn bà Hoàng Xuân
Sính về Hà Nội. Lãnh đạo Thư viện tỉnh nhờ tôi thay mặt cơ quan, một công đôi
việc, nhân về đơn vị, tiễn bà Hoàng Xuân Sính luôn.
Bà mời chúng
tôi lên thăm nhà ở tầng ba. Phòng lắp ghép thấp nhỏ như hộp diêm, trần không
trát vữa, còn nguyên nốt cốt pha. Bà Hoàng Xuân Sính bật cái quạt con để bàn
chĩa về phía chúng tôi và mở tủ lạnh lấy ra một chai nước cam pha sẵn. Đoạn, bà
lau ba cái bát sứ Hải Dương bằng cái khăn mặt trắng, rồi rót đầy nước cam vàng
sếnh.
- Mời hai anh
uống cho mát. Nghỉ ngơi chút rồi hãy đi.
Tôi và anh lái
xe đang khát khô cổ, nóng bức mùa hè mồ hôi lép nhép trong quần áo, cảm giác nước
cam thật tuyệt vời. Tôi bê bằng hai tay nâng bát nước cam lên tu ừng ực. Anh
lái xe hích nhẹ nhìn tôi đầy ngụ ý: “Uống từ tốn thôi, phải tỏ ra lịch sự chứ,
người ta là trí thức đấy!” Thấy anh lái xe bỏ lại khoảng 1/3 bát nước, tôi cũng
vội bỏ bát còn chừng 1/4 nước xuống bàn.
Bà Hoàng Xuân
Sính kể cho chúng tôi nghe về cậu con trai học Đại học Bách khoa, về cuộc đời
bà, về việc bà đi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học ở Paris, rồi về nước
sống ra sao. Khi chúng tôi chuẩn bị tạm biệt thì bà nhắc:
- Hai anh uống
hết nước đi!
Thấy bà định
rót thêm nước cam cho khách, tôi vội ngăn lại:
- Thôi chị ạ.
Chúng em dùng đủ rồi ạ!
Nghe vậy, bà
liền đổ hai bát nước thừa của chúng tôi vào bát của bà và uống một hơi, rất tự
nhiên thoải mái.
Chỉ một lần gặp,
mà ấn tượng về bà Hoàng Xuân Sinh trong tôi còn đến bây giờ. Quả thật từ kiến
thức đến phong cách sống giản dị của bà thật trái ngược với nhiều nhà trí thức
mà tôi từng gặp. Tôi không bao giờ quên bài học về sự tiết kiệm mà tôi học được
ở TS. Hoàng Xuân Sính trong lần gặp bà duy nhất năm ấy.
“PHÚC KHẢO”… XIN LẤY CHỮ “PHÚC” LÀM ĐẦU!
Kỳ thi
công chức thư viện ngành giáo dục năm ấy, thành phố được lấy 9 chỉ tiêu mà có tới
hơn bốn chục hồ sơ xin dự thi, trong đó có con dâu lớn nhà tôi.
Cò mồi
đến nhà bảo:
- Thi chỉ là
hình thức. Người ta có người sẵn cả rồi. Nếu đồng ý thì chi 80 triệu chúng tôi
sẽ lo cho từ A đến Z.
Tôi từ chối.
Kết quả kỳ thi
ấy con dâu tôi đứng thứ 7 trong danh sách 9 người đỗ.
Cò lại gạ chi
30 triệu chạy cho về công tác ở trường tốt gần nhà. Con dâu tôi bảo:
- Con công tác
trong thành phố thì ở trường nào cũng được. Bố đừng “chạy” tốn tiền.
Một thí
sinh con gia đình chính sách, đã được cộng thêm 30 điểm ưu tiên mà vẫn thiếu một
điểm, trượt. Thí sinh làm đơn xin phúc khảo. Tôi được tỉnh mời chấm bài. Ông
Giám đốc Sở Nội vụ bảo tôi:
- Đây là chấm
“phúc khảo”. Xin bác lấy chữ “phúc” làm đầu ạ!
Giám đốc Thư
viện tỉnh gọi điện cho tôi:
- Thí sinh xin
chấm phúc khảo cũng là học trò của anh em mình đấy anh ạ! Ông giám đốc Sở Văn
hóa Thể thao vừa điện cho em, yêu cầu em chỉ đạo anh phải chấm cho con bé điểm
tối đa để nó chắc đỗ.
- Nếu cho điểm
tối đa, thì chắc chắn thí sinh đỗ cuối bảng sẽ phải loại ra khỏi danh sách đỗ.
Chúng đều là trò của anh em mình, anh không nỡ làm thế!
- Thôi thì em
truyền đạt ý kiến lãnh đạo ngành như vậy. Còn xử lý ra sao thì tùy anh quyết định.
Suy nghĩ kỹ,
bàn với người đồng chấm, chúng tôi thống nhất: Người chấm chính đã cho điểm
theo đúng “va rem” rồi. Giờ mình chấm lại mà cho tăng quá ba điểm sẽ phải đối
chất với người chấm trước. Thôi thì mình cho bài phúc khảo thêm một điểm để tổng
điểm bằng đúng số điểm của thí sinh đỗ đứng cuối bảng. Tỉnh quyết định chọn ai
hay chọn cả hai là tùy họ.
Bữa ấy chấm có
một bài, 15 phút là xong, mà chúng tôi bị giam trong phòng tới 11 giờ 30. Hỏi
ra thì được biết, Sở Nội vụ phải xin tỉnh cho thêm một chỉ tiêu, chờ đến trưa
chủ tịch tỉnh mới đồng ý. Kết quả thí sinh phúc khảo được lấy đỗ mà thí sinh đỗ
cuối bảng cũng không bị loại. Sau vụ chấm phúc khảo, tôi nhẹ cả người.
BÀI THƠ “BÍ ẨN”
Trước hết
xin nhắc lại hai thế thơ là THẾ THƠ HỒI VĂN và THỂ THƠ LIÊN HOÀN.
- Thơ
Hồi văn là thể thơ đọc đi rồi đọc quay lại, đọc quanh co, đọc cắt câu… cũng đều
thành câu thơ cả. Tỷ dụ như bài thất ngôn bát cú, ta đọc xuôi rồi đọc ngược đều
thành bài thơ, ta đọc khởi từ từ thứ nhất xuôi là vần bằng, rồi khởi từ từ thứ
7 đọc ngược lại sẽ có bài thơ vần trắc. Đọc thành bài thơ 5 từ thì khởi từ số 5
(phải sang – tức từ thứ 3 ở bài gốc) đọc xuôi là vần bằng. Nếu khởi từ số 5
(trái sang) đọc ngược lại là vần trắc. Tương tự như vậy, nếu đọc thành thơ 4 từ,
thơ 3 từ, thơ 6 từ (bỏ không đọc từ giữa câu ở bài gốc) chúng ta sẽ có các bài
thơ 4 từ, 3 từ, 6 từ mà mỗi thể đều có hai bài vần bằng và vần trắc.
- Thể
thơ Liên hoàn là thể thơ chia nhiều bài, cứ câu đầu bài dưới lặp lại câu cuối
cùng của bài trên… Cụ thể ở một bài thất ngôn bát cú chẳng hạn, ta cứ đọc luân
lưu liên hoàn, mỗi câu đọc trước một lần, cứ 8 câu thành một bài.
Làm một
bài thất ngôn bát cú theo thể đường luật thì nhiều người làm được. Nhưng để bài
thơ đó có thể đọc theo kiểu hồi văn, nhất là thể hồi văn kiêm thể liên hoàn mà
đọc cách nào cũng đảm bảo thành bài thơ mới thì rất hiếm người làm được. Bởi
trước hết nó đòi hỏi tác giả phải làm đúng tuyệt đối niêm luật theo quy định của
luật thơ đó, sau đó là yêu cầu về ý nghĩa của từ...
Sinh
thời, vua Thiệu Trị có làm hai bài thơ bằng chữ Hán là “VŨ TRUNG SƠN THỦY” và
“LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM” có chú thích “Dùng thể Hồi văn kiêm Liên hoàn, theo bằng trắc
bốn vần, đọc thành 64 bài thất ngôn và ngũ ngôn”. Hai bài trên được khảm xà cừ
lưu giữ tại cung Bảo Định, trình bày theo hình tròn, có các dòng chữ so le dài
ngắn tỏa ra mọi phía.
Rất
nhiều học giả, nhà thơ đã được mời giải mã bài thơ này nhưng cũng chỉ đọc được
vài ba bài, không ai đọc được đủ 64 bài.
Năm 1963 có
ông Phạm Ngọc Khuê công bố đã giải mã được hai bài thơ “bí ẩn” của Thiệu Trị là
VŨ TRUNG SƠN THỦY và LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM, đọc đủ 64 bài theo nguyên bản chữ Hán.
Ông Phạm Ngọc Khuê lại dịch hai bài ấy ra Quốc âm đúng nguyên thể, cũng đọc đủ
64 bài, công bố trên báo BẠN DÂN số Xuân Quý Mão 1963.
VŨ
TRUNG SƠN THỦY
LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM
Ông Phạm Ngọc Khuê dùng lối thơ ấy (Hồi
văn kiêm Liên hoàn) sáng tác bài thơ sau đây có thể đọc thành 160 bài thơ hoàn
chỉnh. Thật là kỳ tài phải không các cụ. Mời các cụ tham khảo kỹ cách đọc thể Hồi
văn kiêm Liên hoàn rồi cùng khám phá bí ẩn bài thơ này nhé!
CUNG TỤNG SỰ NGHIỆP VÀ CÔNG ƠN ĐỨC THÁNH
TRẦN
Cung kiếm đấu thi tài Lạc Viêt
Yết Hồ tan rã mộng Nguyên Mông
Đồng phơi xác Thát xương phơ tuyết
Huyết đẫm sông Đằng nước rải chông
Nùng Tản chói cao công nhật nguyệt
Tiết trung ghi thắm sử Tiên Long
Đông A thánh xuất sinh linh kiệt
Thiết thạch gan bền vững núi sông.
NHÀ VĂN CHU VĂN (1922 – 1994)
Ông quê Thái Bình, công tác ở Nam Định.
Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, UVBCH HNVVN khóa 3, Chủ tịch Hội VHNT
Hà Nam Ninh khóa I và II.
Tôi
biết về nhà văn Chu Văn qua tiểu thuyết Bão biển của ông. Năm 1969 lớp đại học
Thư viện khóa 6 chúng tôi mời ông giao lưu về tiểu thuyết Bão biển tại đình
làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh (nơi chúng tôi học sơ tán). Khi ấy danh tiếng
ông đang nổi như cồn.
Dáng ông cao gầy, trông hơi khắc khổ. Ông ăn mặc giản dị,
quần ka ki màu rêu đá, áo bông Tàu màu xanh lá cây, chân dép cao su. Người trợ
lý đi theo ông ăn mặc com lê ca ra vát, bên trong là áo sơ mi trắng tinh, quần
ka ki màu đá là thẳng tắp, chân đeo giày da đen bóng, đầu mượt. Bên cạnh người
trợ lý của mình, trông ông giống một ông nông dân quê mùa.
Sau khi ông giới thiệu quá trình viết Bão biển, chúng tôi
đặt ra nhiều câu hỏi xoay quanh phương pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật,
tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật cán bộ xã hội chủ nghĩa… Ông trả lời
chúng tôi thật giản dị dễ hiểu và thực tế. Tôi có cảm giác ông không hề phô diễn
hiểu biết lý luận văn học của mình, nghĩ và viết thế nào, từ thực tiễn cuộc sống
vùng Xuân Trường Nam Định quê tôi ra sao mà xây dựng nhân vật…
Đó là lần duy nhất trong đời tôi được gặp ông. Ấn tượng về
ông là người giản dị, thật thà còn đọng trong tôi đến giờ.
Tác phẩm của Chu Văn: - Ai qua Phát Diệm (truyện thơ,
1955). - Con đường lầy (tập truyện ngắn, 1957). - Cô lái đò sông Ninh (tập truyện
ngắn, 1960). - Tiếng hát trên sông (tập bút ký, 1963). - Ánh sáng bên hàng xóm
(tập truyện ngắn, 1964). - Bão biển (tiểu thuyết, 2 tập, 1969). - Hương cau,
hoa lim (tập truyện ngắn, 1971). - Đất mặn (tiểu thuyết, 2 tập, 1975). - Bông
hoa trắng (tập truyện ngắn, 1977). - Sao đổi ngôi (tiểu thuyết, 1984). - Giáp mặt
(tiểu thuyết, 1986)…
NHÀ VĂN TRẦN HUY THUẬN
(1935 – 2013)
Nhà văn Trần Huy Thuận và tôi là đôi bạn
tâm giao. Chúng tôi thường chia sẻ bàn bạc với nhau về những vấn đề gay cấn
trong sáng tác, và cả chuyện riêng tư…, đối đãi với nhau bằng tình cảm chân
thành, đồng cảm, trọng phục nhau.
Xin
trích lời ông viết về tôi trong bài “Chân dung văn học Trần Mỹ Giống” trên blog
“Ngang qua cuộc chơi” của ông:
“…Khi tập NGANG QUA CUỘC CHƠI vừa được
NXB Văn Học xuất bản, Đặng Văn Sinh bạn tôi đưa tôi đến nhà Trần Mỹ Giống để gửi
tặng sách cho Thư viện tỉnh. Mục đích ban đầu chỉ có thế, nhưng không ngờ sau
đó, chúng tôi trở thành bạn tâm giao.
Trước khi cầm bút, ông đã từng cầm súng
trực tiếp chiến đấu. Năm 1972 tham gia chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch Cửa
Việt, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, Huân chương chiến công. Đến năm 1979 lại lên
Lạng Sơn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Là cán bộ quản lý thư viện, nhưng Trần
Mỹ Giống còn là tác giả nghiên cứu phê bình, dịch và sáng tác văn học. Đọc những
đầu sách đã xuất bản của ông, tôi thực sự kính nể. Tôi còn kính nể ông hơn khi
được biết ông là người trực tính, hết lòng với công việc, có tinh thần tự học
cao và đặc biệt là thực sự không màng danh vọng, đã từng từ chối khi cấp trên định
đề bạt chức tước cho ông…”. (Hết trích)
Trần Huy Thuận là cây bút phiếm luận, trào phúng từng
giành giải cao cuộc thi Thơ văn trào phúng ở tỉnh, Giải thưởng “Làm báo cùng tuổi
trẻ” của báo Tuổi trẻ… Sau khi kết bạn với ông, tôi mới biết ông nguyên Trưởng
ban kiểm tra của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh. Trưởng ban kiểm tra tất
phải là ủy viên Ban chấp hành. Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội VHNT Nam Định, Chủ
tịch hội Trần Đắc Trung vẫn gửi giấy mời ông dự với chức danh nguyên Trưởng ban
kiểm tra của Hội. Điều bất thường là các cuốn kỷ yếu Hội VHNT Nam Định, không
có một thông tin nào về nhà văn Trần Huy Thuận.
Nhà văn Trần Huy Thuận bất đồng chính
kiến với vị chủ tịch kế nghiệp chủ tịch Chu Văn nên đã xin ra khỏi hội. Ông coi
cái Hội VHNT cũng chỉ là một cuộc chơi mà ông từng ngang qua. Từ ý tưởng này,
ông sáng tạo ra blog “Ngang qua cuộc chơi” và tác phẩm “Ngang qua cuộc chơi”
(Nhà xuất bản Văn học ấn hành, tái bản tới ba lần).
Năm 2013 ông mất ở tuổi 78. Ông là nhà
văn có tài, có nhân cách cao đẹp, dũng cảm, thẳng tính, ủng hộ cái tốt hết
mình, không khoan nhượng với cái tiêu cực, giàu tình nhân ái với bạn bè… Với
tôi, ông không chỉ là bạn tâm giao, mà còn là người anh đáng kính trọng.
HỌA
SĨ HỒ Y (1932 – 2017)
Họa sĩ Hồ Y tên thật là Vũ Như Hồ Y,
quê ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, trú tại 29 Nguyễn Trãi,
thành phố Nam Định. Ông là Hội viên Hội VHNT tỉnh Nam Định từ 1977. Ông đã được
tặng: Huy chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước
hạng Nhì, Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam, Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến
(khuyến khích) 1981 – 1985.
- Tác phẩm chính:
+ Artist Hồ Y. – H.: Văn hóa – Thông
tin, 2006. - 55 tờ (in tranh 2 mặt) ; 21 cm.
+ Hồ Y vẽ và viết (2016)
Họa sĩ Hồ Y xuất thân trong một gia
đình có nhiều người tài, ở xã Bái Dương nổi tiếng là vùng địa linh nhân kiệt.
Ông là hậu duệ của cụ Cử nhân Vũ Trọng Uy văn võ song toàn. Hai người anh em ruột
của ông là nhà báo lão thành cách mạng Như Đàm, nhà thơ nổi tiếng Hải Như. Hồ Y
tham gia cách mạng, nhiều năm làm công tác báo chí tuyên truyền của Nhà máy Dệt
Nam Định.
Là một họa sĩ không được qua trường lớp
chính quy nào, chỉ bằng con đường tự học mà thành tài, Hồ Y phải phấn đấu, rèn
luyện gian khổ hơn nhiều các họa sĩ khác. Vì vậy, ông không bị lệ thuộc vào trường
phái nào, không mấy quan tâm đến kỹ xảo, mà chủ yếu bằng năng khiếu, lòng say
mê hội họa, hồn nhiên vẽ tranh theo cảm xúc thăng hoa của chính mình. Xem tranh
của ông, ta nhận ra một phong cách riêng rất gần gũi với dân gian mà không mấy
họa sĩ có được.
Ông vẽ nhiều nhất về các phố cổ thành phố
Nam Định nơi ông sinh sống và những nhân tài của quê hương Nam Định. Chiêm ngưỡng
các bức vẽ về phố cổ thành Nam, tôi cảm nhận rõ tình yêu con người và mảnh đất
quê hương của ông tha thiết biết nhường nào. Cảm ơn họa sĩ Hồ Y đã cho chúng ta
những hình ảnh xa xưa của lịch sử, những tranh vẽ phố lưu giữ hồn thành Nam. Nếu
như Hà Nội có PHỐ PHÁI thì chúng ta có quyền tự hào Nam Định có PHỐ HỒ Y.
Thường vẽ chân dung, họa sĩ cố gắng vẽ
sao cho giống người thực, càng giống càng tốt. Nhưng họa sĩ Hồ Y không đi theo
con đường mòn ấy. Ông tìm cho mình con đường riêng. Đó là thể hiện chân dung
qua hình tượng, biểu tượng. Người xem tác phẩm chân dung của Hồ Y phải có hiểu
biết nhất định về nhân vật mới cảm thụ hết cái hay, cái sâu xa, cái đẹp của
tranh.
Nam Định một thời nổi tiếng về đóng thuyền
xi măng lưới thép, đáp ứng kịp thời công việc vận tải phục vụ sự nghiệp giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họa sĩ Hồ Y đã ghi lại sự kiện lịch sử đặc
biệt ấy của Nam Định bằng bức tranh “Đóng thuyền xi măng lưới thép”. Tranh đã
được nhà nước mua về lưu trữ ở Viện bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.
Sau khi tôi giới thiệu chân dung Hồ Y
lên trang blog cá nhân, như một phản ứng dây truyền, gần hai chục trang điện tử,
báo và tạp chí giấy, đài truyền hình trung ương và đài địa phương lần lượt đưa
tin về Hồ Y. Nội dung các bài viết về Hồ Y đều đồng thuận công nhận đóng góp của
ông cho nền mỹ thuật nói chung và cho thành Nam nói riêng. Đặc biệt, báo điện tử
của Đảng Cộng sản Việt Nam và báo Đảng của Nam Định cũng có bài cùng quan điểm
như vậy.
Với những đóng góp cho cách mạng và
cho nghệ thuật hội họa của mình, ông xứng đáng được trao những giải thưởng cao
quý. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi biết ông chưa được nhận một giải thưởng chính
thức nào của tỉnh (không kể một giải khuyến khích). Tôi có lần tỏ ý băn khoăn về
việc đó, thì ông ôn tồn bảo: “Đối với tôi, được bạn đọc, người xem tranh yêu
quý và nhớ mãi tác phẩm của mình đã là phần thưởng cao quý hơn mọi giải thưởng
rồi.”
Những năm cuối đời, tuy tuổi cao sức
yếu, họa sĩ Hồ Y vẫn miệt mài sáng tác tranh và viết bài cho blog Trần Mỹ Giống.
Chiều chiều họa sĩ vẫn dắt chiếc xe đạp (chứ không cưỡi) đi thăm thú bạn bè,
cũng là tập thể dục cho khỏe. Như vừa mới hôm qua, ông dắt xe đạp đến nhà tôi,
đàm đạo văn chương hội họa một lúc, rồi lại dắt xe về. Vậy mà, chỉ ốm nằm viện
mấy ngày, bạn bè cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật chưa ai biết, ông đã vội ra đi.
Thương tiếc tiễn biệt họa sĩ Hồ Y về
cõi vĩnh hằng, chúng tôi tin rằng những sáng tác của họa sĩ, đặc biệt là những
bức tranh phố cổ thành Nam sẽ còn sống mãi trong lòng người Nam Định yêu quê
hương xứ sở. Tôi chợt nhớ tới hai câu thơ đề từ của mình dưới bức chân dung tự
họa của họa sĩ Hồ Y, ngẫm ra thật đúng với cuộc đời và sự nghiệp của ông:
Tự học thành tài danh lặng lẽ
Thành Nam còn mãi PHỐ HỒ Y.
TMG
Bài đã đăng ở Tạp chí Văn Nhân
MỘT
VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA
(1946 – 2020)
Năm 2005 Đồng
Ngọc Hoa vào tuổi sáu mươi mới nộp hồ sơ và đơn xin gia nhập Hội Văn học Nghệ
thuật Nam Định, bộ môn Nghiên cứu phê bình, với vốn liếng tác phẩm là một tập
hơn một trăm bài đăng báo trung ương và địa phương. Năm ấy hội chưa ra quy chế
không kết nạp người trên sáu mươi tuổi, phải có hai tác phẩm sách xuất bản trên
hai năm mới được kết nạp. Có nghĩa là Đồng Ngọc Hoa vẫn đủ tiêu chuẩn vào hội.
Nhưng khi đưa ra bộ môn xét thì kết quả phiếu thuận không quá bán với lý do Đồng
Ngọc Hoa chưa có sách. Tôi chưa biết về Đồng Ngọc Hoa nên không dám ý kiến gì.
Ý kiến phủ định chiếm ưu thế. Đồng Ngọc Hoa trượt.
Thời
gian này tôi đang làm Trưởng phòng Địa chí Thư mục và phong trào Thư viện cơ sở.
Công việc buộc tôi phải nắm rõ những tác giả tác phẩm Nam Định từ xưa đến nay để
thường xuyên bổ sung cho Thư mục nhân vật Nam Định (đã in thành sách). Đồng Ngọc
Hoa chưa có tên trong Thư mục nhân vật Nam Định.
Năm 2006, một
hôm Đồng Ngọc Hoa bất ngờ xuất hiện trước cửa phòng làm việc của tôi. Đồng Ngọc
Hoa dáng người thấp đậm, mặt trông phúc hậu, thật thà, hơi “cũ”, nông dân. Sau
khi nghe Đồng Ngọc Hoa tự giới thiệu, tôi thầm nghĩ: “Chắc ông này tranh thủ
xin phiếu mình đây.” Và tôi có ý e dè cảnh giác. Nhưng sau cuộc tiếp xúc đầu
tiên ấy, Đồng Ngọc Hoa không hề có ý xin phiếu, mà ứng xử rất tự nhiên, chân thật,
quý trọng tôi thực sự vì “đã nghe nhiều tiếng tốt” về tôi. Cùng cảnh từ đại học
nhập ngũ, tính thẳng, trung thực, thấy chuyện bất bình không bỏ qua… Tôi linh cảm,
Đồng Ngọc Hoa là người chơi được, tương lai sẽ có những tác phẩm khẳng định
mình. Cái linh cảm ban đầu ấy đã không lừa tôi. Tôi và Đồng Ngọc Hoa trở thành
bạn thân thiết, gắn bó nhau, đồng cảm trong sáng tác cũng như trong đời sống.
Năm
2007, Bộ môn Nghiên cứu phê bình lại bỏ phiếu xét kết nạp Đồng Ngọc Hoa. Trưởng
bộ môn Hoàng Dương Chương phát biểu:
- Ngày trước,
nhiều vị ngồi đây khi vào hội đã có tác phẩm nào đâu. Sau khi vào hội rồi mới
có tác phẩm…
Hoàng Dương
Chương nói sự thật. Kết quả: phiếu thuận quá bán, Đồng Ngọc Hoa trúng.
Đồng Ngọc Hoa
nhanh chóng hòa mình vào sinh hoạt văn học nghệ thuật và lịch sử. Sau khi vào hội
mấy năm, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp trình làng sáu bảy tác phẩm. Điểm sáng nhất
trong sự nghiệp nghiên cứu của ông là những cuốn viết về lịch sử Phật giáo địa
phương. Chợt nghĩ, tài năng Đồng Ngọc Hoa phát tiết ra khi ông đã già, tôi viết
mấy câu văn vần tặng ông như sau:
Một thời
mê mải việc quân
Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo
Cửa Thiền
không - sắc lần theo
Hào quang Phật sử một chiều thăng hoa.
Đồng Ngọc Hoa
còn làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử tỉnh, góp công sức tích cực
cho hội này. Có lần tình cờ tôi biết giá tiền chi cho làm số tập san của hội
quá cao so với thực tế. Đồng Ngọc Hoa bảo số sau sẽ nhận làm. Kết quả giá thành
số tập san do Đồng Ngọc Hoa lo chỉ bằng một phần tư số trước.
Lại có lần Đồng
Ngọc Hoa vừa đến nhà tôi, chưa kịp dựng xe đã bốc hỏa:
- Bực
quá ông ạ. Tôi đưa ông vào danh sách đề nghị tặng Kỷ niệm chương, nhưng ông chủ
tịch gạch tên ông đi. So với một số người được đề nghị, ông có nhiều tác phẩm
hơn. Ngay như ông A đấy, có tác phẩm nào riêng đâu, mấy tác phẩm nêu ra toàn là
đồng tác giả. Mà mấy tác phẩm làm căn cứ đề nghị tặng kỷ niệm chương cho ông A,
ông cũng là đồng tác giả nó mới hài chứ!
- Thôi
buông xả cho vui nào. Được hay không chẳng quan trọng với tôi. Danh hão rồi chết
đi là hết. Với lại họ đâu coi trọng tác phẩm. Họ coi trọng việc anh sinh hoạt tổ
chức góp gì cho hội, anh có làm cán bộ hội không… Thì hầu hết các vị được tặng
Kỷ niệm chương là trong Ban chấp hành đấy thôi.
Đồng Ngọc
Hoa nghe tôi nói vậy mới dần dần hạ hỏa.
Đồng Ngọc
Hoa yêu cầu tôi gửi bài cho tập san hội sử học. Tôi gửi bài viết Chân dung nhà
nghiên cứu lịch sử Lê Xuân Quang và bài phản biện về Người vẽ cờ Tổ quốc. Đồng
Ngọc Hoa ủng hộ quan điểm làm sử là phải trung thực, có chứng cứ. Nhưng Đồng Ngọc
Hoa lăn tăn về bài phản biện của tôi, liệu ban biên tập có dám ủng hộ không?
Tôi bảo:
- Tôi tin là
ông Chủ tịch Hội sử sẽ thích bài phản biện của tôi. Ông ấy và tôi mấy lần cùng
trong Hội đồng nghiệm thu công trình nghiên cứu khoa học của tỉnh. Nghe ông ấy
nhận xét thẳng thắn, coi trọng sự thật, không kiêng dè ai, tôi rất nể phục.
Đồng Ngọc Hoa
bảo:
- Xưa nay
Tuyên giáo và các tác giả căn cứ vào truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng, mặc
nhiên công nhận trong sách báo rằng ông Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc.
Nay ông phản biện điều đó, chứng minh ông Nguyễn Hữu Tiến không phải là người vẽ
cờ. Tôi nghĩ các vị ấy sợ chết khiếp, không dám động đến tuyên giáo đâu. Ông có
chứng cứ xác đáng, nhưng họ chưa chắc dám sử dụng. Cứ có chuyện động đến quyền
lợi địa vị cá nhân họ thì mới biết họ thế nào!”
Một thời gian
sau, Đồng Ngọc Hoa đến tôi, bất cần:
- Tôi đếch
làm tập san nữa, để cho các vị ấy làm. Các vị ấy muốn hất tôi ra để tự do thao
túng. Rồi ông xem, giá thành lại cao ngất, bài vở tuyền ca ngợi…
Quả
nhiên, khi tập san ra mắt, hai bài của tôi đều bị loại. Bài của Trịnh Thị Nga bảo
tàng thành phố do chính tôi gửi hộ lại bị gán tên tác giả cho người khác. Lúc
này tôi mới thừa nhận: Đồng Ngọc Hoa có kinh nghiệm sống hơn tôi. Tôi bảo:
- Tôi không bất
ngờ về việc bài bị loại, mà tôi thất vọng vì đã nhìn nhận nhầm về ông Chủ tịch.
Tôi cứ ngỡ ông ấy là người trung thực, coi trọng sự thật… Mà thôi, cho qua chuyện
này đi ông ạ. Tổng biên tập Văn Nhân vừa điện báo cho tôi rằng họ đăng bài phản
biện của tôi trên Văn Nhân số này.
Đồng Ngọc Hoa
bảo:
- Vậy tốt rồi!
Tôi chỉ buồn vì hội chuyên ngành sử của mình mà lại hèn đến vậy.
Đồng Ngọc Hoa vốn trực tính nhưng hiền
lành. Chỉ thân thiết lắm Đồng Ngọc Hoa mới xả ra những buồn bực của mình như vậy.
Đồng Ngọc
Hoa và tôi dự kiến in chung một tuyển nghiên cứu chuyên đề. Nhưng ý tưởng không
thành. Năm 2020, Đồng Ngọc Hoa bất ngờ phát hiện ra mình bị bệnh ung thư. Tôi gửi
email động viên Đồng Ngọc Hoa:
Nghe tin
bạn bị ung thư
Giật mình hụt hẫng tưởng như sập giời
Tri âm
đâu được mấy hồi
Niết Bàn sao nỡ định đòi đón lên?
Biết là sống
gửi nào quên
Mà lòng tha thiết với duyên cõi trần
Ông, tôi
mới thất bát tuần
Còn hai ba chục cái xuân ở đời
Sống
chung với bệnh ta cười
Kiên gan bền chí như thời chiến binh
Mặc cho số
kiếp xoay vần
Yêu xuân quyết giữ lấy xuân đến cùng!
8h
ngày 1 – 5 - 2020
Chúng
tôi đến thăm, Đồng Ngọc Hoa nắm tay tôi rưng rưng. Mệnh trời khó chống, Đồng Ngọc
Hoa ra đi vào ngày 13 – 6 – 2020.
Thỉnh
thoảng giở xem lại ảnh Đồng Ngọc Hoa cùng chúng tôi chụp kỷ niệm trong sinh hoạt
bộ môn, đi quán ăn khao mừng tác phẩm mới hoặc mừng giải thưởng, đi thăm thú bạn
bè… tôi lại rưng rưng nhớ người bạn thân thiết hiếm gặp trong đời.
Thành
Nam, 20 – 5 - 2022
TMG
TÂM
THẾ TÁC GIẢ TRONG BÀI “ĐỢI” CỦA VŨ QUẦN PHƯƠNG
Nhân em đăng hai bài tranh luận về bình
thơ của hai nhà thơ kiêm phê bình thơ Phạm Đức Nhì và Châu Thạch, có nhiều ý kiến
khen chê chia làm hai phe, cụ Chu thi sĩ và cụ Phạm tiên sinh thách đố em “chê”
bài “Đợi” của Vũ Quần Phương. Các cụ làm khó em rồi, nhưng vì tự ái, em cũng
đành phải làm cái việc “bới lông tìm vết” vậy.
Xin rào trước:
Mỗi cá nhân
khác nhau về trình độ, môi trường sống, nghề nghiệp, gu thẩm mỹ, góc nhìn… nên
kết quả khen chê cũng rất khác nhau. Cùng một tác phẩm, người khen ngất trời,
người chê thối đất. Điều đó là bình thường. Cần có thái độ bình đẳng và tôn trọng
với mọi ý kiến, miễn là ý kiến có lý...
Bất cứ
sự vật hiện tượng nào cũng mang trong mình nó mâu thuẫn nội tại của hai mặt đối
lập trong sự thống nhất làm nên sự vật hiện tượng đó như âm và dương, trái và
phải, hay và dở… Bài “Đợi” của nhà thơ nổi tiếng Vũ Quần Phương, được chọn là một
trong một trăm bài thơ hay, được phổ nhạc, thì cũng không nằm ngoài quy luật
chung phổ quát đó.
ĐỢI
Anh đứng trên
cầu đợi em
Dưới chân cầu
nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy,
sau còn chảy
Nước chảy bên
lòng, anh đợi em
Anh đứng trên
cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy
lại bên này
Đợi em. Em đến?
Em không đến?
Nắng tắt, còn
anh đứng mãi đây!
Anh đứng trên
cầu đợi em
Đứng một ngày
đất lạ thành quen
Đứng một đời
em quen thành lạ
Nước chảy… kìa
em, anh đợi em.
Vũ Quần
Phương
Tìm trên mạng
ta bắt gặp khá nhiều bài phê bình bài “Đợi” của nhiều tác giả nhưng hầu hết chỉ
“bình”, bình một chiều, khen hay mọi nhẽ. Em không thấy bài nào “phê” bài “Đợi”,
ngoại trừ ý kiến của nhà phê bình thơ Phạm Đức Nhì chê mấy điểm nhỏ về mặt thi
pháp một cách dè dặt.(*)
Em xin “bới
lông” bài “Đợi” để tìm một vết rất nhỏ hầu các cụ:
Tâm thế
của tác giả trong bài “Đợi” là tình cảm, tâm trạng của chàng trai chờ đợi người
yêu.
Xét lịch
sử nước ta chủ yếu là lịch sử chiến tranh chống xâm lược liên miên đời này qua
đời khác. Người con trai ra trận. Người con gái ở hậu phương mong ngóng chờ chồng.
Biết bao chàng trai bỏ mình nơi chiến địa. Biết bao người vợ thành góa phụ. Tâm
thế trai ra trận, gái ở lại quê nhà mong ngóng chờ chồng đã phổ biến trong nhân
dân. Truyện “Nàng Tô Thị” kể về người chồng khi biết mình vô tình lấy phải em
gái ruột đã bỏ đi biệt tích. Người vợ bế con lên núi ngóng chờ chồng đến hóa đá
thành hòn Vọng Phu. Hòn Vọng Phu được dân gian coi là biểu tượng chung thủy của
người phụ nữ chờ chồng…
Thi sĩ
Vũ Hoàng Chương có dạy đại ý:
Sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi
ca, vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn
có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.
Tác giả bài “Đợi” là một chàng trai trưởng
thành ở thời chiến tranh chống Mỹ, bình thường phổ biến thì đã phải ra trận.
Nhưng đây tác giả ở hậu phương, viết bài “Đợi” kể về lần đứng trên cầu đợi người
yêu, trải lòng với bạn đọc về tâm thế, tình cảm, tâm trạng hồi hộp, khắc khoải
mong ngóng người yêu của mình. Tâm thế tình cảm đó là có thật. Nhưng cái sự thật
ấy cũng chỉ là sự thật của cá nhân, sự thật của bộ phận, của một đời, không phải
là sự thật phổ quát của muôn đời... Ý nghĩa giá trị xã hội và tính phổ quát của
sự thật ở bài “Đợi” không cao.
Khi
nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Đợi” phổ cho bài “Đợi” đã chọn viết cho giọng nữ. Các
ca sĩ khi trình bày bài “Đợi” đều đổi chỗ “ANH” thành “EM” và ngược lại. Có lẽ
khi hát lên như nguyên bản lời thơ thì ca sĩ tự thấy không phù hợp, không thuận
tình cảm phổ quát của dân ta… Họ tự ý đổi vị trí cho tâm thế tình cảm chàng
trai - tác giả, thành tâm thế tình cảm của người con gái đợi chờ người con
trai. Và như vậy, sự thật mang tính phổ quát và giá trị bài thơ cao hơn gấp bội.
Tóm lại:
Nhà thơ Vũ Quần Phương, với tâm thế tình cảm qua bài “Đợi” là một chàng trai…
“mặc váy”! He he he…
Xin lỗi
các cụ, em góp vui thôi, không có ý coi thường nhà thơ quê hương đâu ạ. Bằng chứng
là ngày còn công tác thư viện tỉnh, bọn em đã rất nhiều lần trọng vọng mời nhà
thơ Vũ Quân Phương về nói chuyện thơ. Cụ nào không vừa lòng xin bỏ quá cho ạ.
…………………
Chú thích:
(*) https://t-van.net/pham-duc-nhi-net-dep-cua-bai-tho-doi-qua-lang-kinh-ky-thuat/
…“Đang yêu em, kiên nhẫn đứng đợi em mà “phang” vào câu “Đứng một đời em quen thành lạ” thì không “khéo”, không “tâm lý” tý nào. Dù thực tế khách quan của cuộc đời – trong nhiều trường hợp – có thể đúng như thế đi nữa câu thơ ấy cũng là “cung đàn lỗi nhịp” với đoạn thơ và cả với bài thơ.”
…“Thể thơ phân mảnh, đứt đoạn nên bài thơ không có dòng chảy mà chỉ là 3 “vũng thơ” nằm 3 nơi.”
…“Cảm Xúc Tầng 3 (Hồn thơ): Hoàn toàn không có.”
THI
PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC” CỦA TRẦN ĐĂNG TÍNH
Nhà thơ
Trần Đăng Tính hiện sống tại số nhà 295 phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định.
Ông là kỹ sư, nhưng lại có năng khiếu về thơ. Ông đã có hai tập thơ và bốn đĩa
ghi hình. Ông đã được nhạc sĩ Đặng Ngọc Độ phổ nhạc và một số ca sĩ ngâm và hát
thơ ông. Trên blog cá nhân của tôi đã đăng gần hai trăm bài thơ và bình thơ của
ông. Bài “Thác nước” là bài đầu tiên ông gửi đăng trên blog của tôi.
THÁC
NƯỚC
Thác nước tinh khôi
chảy giữa rừng
Núi non trùng điệp ấp ủ
bưng
Khe đá rậm rì xanh rêu cỏ
Nước dòng lướt thướt trắng bọt tung
Dốc nước trút lòng rần rật đổ
Suối nghiêng mở dạ phởn phơ rung
Thác tiên quyến rũ chim cánh
vỗ
Nhạc nước cuồng si bướm vẫy vùng.
TRẦN ĐĂNG TÍNH
THI PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC”
1/ -
Căn cứ từ thứ 2 câu một (“nước”) là vần trắc, xác định bài thơ làm theo thể trắc Đường luật thất ngôn bát cú. Trên cơ sở
quy định thể trắc Đường luật thất ngôn bát cú, thấy một số từ thất luật:
- Câu 2 từ thứ 6 (“ủ”) phải là vần bằng thì ở đây lại dùng vần trắc.
Tương tự, câu 3 từ thứ 2 (“đá”) và từ thứ 4
(“rì”), câu 4 từ thứ 2 (“dòng”) và từ thứ 4 (“thướt”),
câu 7 từ thứ 6 (“cánh”) là thất luật.
Câu đầu,
câu 5, câu 6 và câu kết đúng luật.
Tóm lại,
một số trong các vị trí từ 2, 4, 6 ở các cặp câu 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7 thất niêm,
chưa đạt yêu cầu kết dính, đồng vận.
Riêng cặp câu
1 - 8 đạt yêu cầu.
2/ Nhịp điệu:
Nhịp điệu
4/3 của bài thơ đọc lên xuôi tai, nhịp nhàng, có nhạc tính. Nhưng do toàn bài
chỉ dùng một loại nhịp nên không tạo được nhịp sinh động, phong phú, không phát
huy cao nhất sự thích thú khi đọc bài thơ thành lời.
3/ Vần:
Bài thơ
8 câu 5 vần. Vần chính là “ưng”. Ba vần cuối là “ung”. Xét riêng về nguyên âm tạo
vần thì “ư” và “u” là lân vận. Vần cụ thể “ưng” và “ung” có thể coi là vần
thông. Trường hợp này chấp nhận được, vì sự khác vần ở đây tạo ra sự phong phú
âm vận, tránh được sự nhàm chán.
4/ Âm điệu:
Âm điệu
bài thơ nhìn chung có nhạc tính. Nhưng riêng câu 5 (Dốc
nước trút lòng rần rật đổ) không nên để ba từ đầu câu đều là vần trắc,
khi đọc lên sẽ thành khổ độc (khó đọc), trúc trắc, mất âm điệu.
5/ Đối:
Các cặp
câu 3 - 4 và 5 - 6 đạt được yêu cầu cơ bản về đối ý và thanh:
Khe đá rậm rì >< Nước dòng lướt
thướt
xanh rêu cỏ
>< trắng bọt tung
Dốc nước trút lòng >< Suối
nghiêng mở dạ
rần rật đổ
>< phởn phơ rung
Khi đọc các cặp đối ta cảm được trạng
thái sảng khoái, phấn khởi, thích thú… Âm điệu, nhạc tính rõ rệt.
6/ Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ
trong đời sống xã hội hiện đại dễ hiểu. Có sử dụng từ láy (rần rật, phởn phơ…)
tạo điểm nhấn gây được sự chú ý, tăng thích thú, cảm nhận, khoái cảm thẩm mỹ
cho người đọc.
7/ Kết cấu, bố cục:
Bố
cục bài thơ theo mô hình luật Đường thi đã quy định: Đề, thực, luận, kết. Thiết
nghĩ bạn đọc đã biết, không cần đi sâu phân tích.
Tác giả
mô tả cảnh đẹp hùng vĩ của thác, rừng, núi bằng cách tiếp cận từ xa đến gần,
càng gần chi tiết càng cụ thể, rõ nét. Hai câu kết mượn hình ảnh ẩn dụ chim và
bướm thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả một cách khéo léo, nhẹ nhàng, gợi
cảm.
8/ Cảm xúc và tâm thế:
Bài thơ
ghi lại cảm xúc của tác giả trước cảnh thiên nhiên đẹp của đất nước (tức cảnh
sinh tình): Từ trong khe đá rậm rì rêu cỏ xanh hai mép, được che phủ bởi núi rừng
trập trùng, dòng nước lướt thướt chảy ra từ độ cao nhất định tuôn thẳng xuống tự
do tung bọt trắng rần rật ào ào… Bên dưới là suối sung sướng mở dạ đón nhận
dòng nước từ thác đổ xuống nuôi dưỡng mình một cách thích thú, đam mê, thỏa mãn
đến phởn phơ rung động. Âm thanh do sự giao thoa giao hợp giữa thác và suối tạo
ra, làm nên bản nhạc tự nhiên hấp dẫn đến độ chim và bướm cũng bị quyến rũ mê
hoặc (huống chi khách tham quan).
Trong
tâm thế chủ thể sáng tạo, tác giả mô tả cảnh đẹp thiên nhiên mà mình trực tiếp
để chia sẻ cảm xúc với bạn đọc về cảm hứng xốn xang rung động đến độ thăng
hoa… Mô tả cảnh vật thiên nhiên bằng
ngôn ngữ đời thường dễ hiểu có chọn lọc, gần với ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả
thể hiện rõ nét tình cảm tự hào, yêu thiết tha thiên nhiên đất nước của mình…
Từ ngữ,
ngữ cảnh trong bài làm cho bạn đọc liên tưởng tới phong cách thơ Hồ Xuân Hương,
cảm được sự nhẹ nhàng, pha chút hài hước, thêm thích thú, vui vẻ...
9/
Kết luận:
Luật thơ Đường
được dân gian đúc kết từ hàng nghìn vạn bài thơ qua thời gian rất dài, đã đạt đến
độ chặt chẽ, hoàn thiện. Bài thơ viết đúng luật chưa chắc đã hay, nhưng chắc chắn
khi đọc lên sẽ có âm điệu nhạc tính bổng trầm nhẹ nhàng lưu loát. Song, cố bám
chắc niêm luật nhiều khi lại gò bó, gượng ép, mất tính tự nhiên chân thực. Đôi
khi, một vài sự biến thể phá cách nho nhỏ hợp lý lại đạt được sự tự nhiên,
phóng khoáng, thể hiện tốt hơn sự thăng hoa cảm xúc của tác giả, đem lại cho
người đọc khoái cảm thẩm mỹ cao hơn. Chỉ những tác giả nhuần nhuyễn luật thơ và
có tài năng thực sự mới có thể thực hiện biến thể, phá cách có hiệu quả.
Ngoại trừ một
vài từ thất luật nêu ở phần trên, bài thơ “Thác nước” khá hay. Có thể coi những
điểm thất luật ấy là sự phá cách, biến thể, có chủ đích của tác giả, để bài thơ
gần gũi với thơ tự do hiện đại. Tác giả có bố cục thanh trong câu nên dù thất
luật đọc lên vẫn cảm nhận có sự cân bằng thanh. Từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, gợi
cảm, nghệ thuật dùng từ láy, điệp từ khá đắc dụng, nghệ thuật nhân cách hóa, thể
hiện được sự cao hứng thăng hoa, cảm xúc chân thật như một dòng chảy liền mạch
từ câu đầu đến cuối bài thơ.
Chúc mừng tác
giả Trần Đăng Tính.
10/ Phụ:
- Tôi liều
thử làm một biên tập viên thay đổi một vài từ nhằm minh họa cho luật thơ mà tôi
nêu trên, chứ tuyệt nhiên không dám chữa thơ làm thay đổi mạch cảm xúc và thông
điệp bài thơ của tác giả.
THÁC NƯỚC
Thác nước tinh
khôi chảy giữa rừng
Núi non trùng
điệp ấp che bưng
Khe sâu rậm rịt xanh rêu cỏ
Dòng mát chan hòa trắng bọt
tung
Dốc đứng chao
lòng rần rật đổ
Suối nghiêng mở
dạ phởn phơ rung
Cảnh tiên quyến
rũ chim dang cánh
Nhạc thủy cuồng
si bướm vẫy vùng.
- Tôi
đã tuyên bố treo bút nghiên cứu phê bình từ bảy năm trước vì nhiều lý do, trong
đó có lý do tôi đã già cảm xúc trơ lỳ, não hóa, hay quên, không còn minh mẫn.
Song do tình bạn với nhà thơ Trần Đăng Tính mà tôi liều viết đôi dòng về thi
pháp bài thơ “Thác nước” của ông. Nghĩ nhà thơ Trần Đăng Tính là bạn tri kỷ nên
tôi có thể nói thật cảm nhận của mình về cái được và cái chưa được của bài thơ
mà không lo ông giận. Tuy vậy, tôi vẫn muốn nói câu “nếu có gì không đúng, mong
các bạn đọc lượng thứ và chỉ giáo”.
Tệ xá bắc
Thành Nam, 17-6-2022
TRẦN
MỸ GIỐNG
NỖI
NIỀM TẶNG VÀ ĐƯỢC TẶNG SÁCH
Có lẽ
tôi là tác giả ngu ngốc nhất trong việc ứng xử tặng sách, như lời một ông bạn
văn thân thiết nhận xét. Tất cả sách của tôi, bảy lần xuất bản riêng, hơn hai
chục lần đồng tác giả in chung, đều đem tặng biếu bạn đọc. Tôi phải vừa lo tiền
mua lệnh xuất bản, tiền tự in, lại vừa lo tiền gửi bưu điện tặng bạn đọc. May mắn
cho tôi được bà vợ là đồng môn Đại học Thư viện và đồng nghiệp Thư viện tỉnh, rất
quý trọng sách, đã thắt bụng bóp mồm để chia sớt tiền lương hưu còm cho chồng
in sách.
Việc tặng
sách đối với tôi có niềm vui và có cả nỗi buồn.
Tôi
sung sướng khi có bạn đọc không quen biết nhắn tin, gọi điện xin mua một cuốn
sách của tôi. Đáp trả cái ơn bạn đọc cho mình phút giây sung sướng đó, tôi lập
tức ký tặng rồi gửi “máy bay” cho bạn đọc.
Một bác
cựu chiến binh từ Hà Tĩnh gọi điện xin mua cuốn “Thời áo lính” của tôi. Bác ấy
không thấy đâu bán. Cuốn này xuất bản lần đầu 2018 chỉ phát hành trong hệ thống
thư viện quân đội. Xuất bản lần hai 2019 theo đơn đặt hàng của nhà nước chỉ
phát hành cho các thư viện ngoài quân đội (Thư viện cấp tỉnh, bộ, viện, trường
đại học…) chứ có bán ra ngoài đâu mà tìm mua được. Bác ấy nói đã đọc rất nhiều
hồi ký của tướng tá, lính tráng thấy tự ca đánh bóng và lựa theo xu thế thời đại
là chính, đọc không thích. Nay đọc trên mạng thấy cuốn của tôi rất chân thực, rất
thích. Dù chỉ còn hai bản lưu hai lần xuất bản kỷ niệm, tôi gửi ngay tặng bác ấy
một bản xuất bản lần đầu. Sau khi đọc xong, bác ấy gọi điện tiếc rẻ “giá bác viết
dài hơn”… Tôi bảo: “Sách 200 trang, đọc
thấy không chán là hạnh phúc cho tác giả rồi. Nếu viết dài sợ đọc chán bác ạ!”
Ba lần
được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in bao cấp, tôi xin nhận tiền nhuận bút bằng
sách để tặng bạn bè, đồng nghiệp. Vậy là tôi chỉ mất tiền gửi bưu điện tặng
sách bạn bè thôi. Càng gửi tặng được nhiều, tôi càng thấy mình hạnh phúc.
Cuốn Trạng
nguyên Đào Sư Tích do tôi và Đồng Ngọc Hoa, Dương Văn Vượng hợp sức cùng làm. Một
vị họ Đào xem bản thảo, đăng ký mua 200 cuốn. Nhưng khi in ra thì vị này chạy
làng vì “không có tiền”. Tôi ủy quyền cho Đồng Ngọc Hoa đóng gói cả nghìn cuốn
sách gửi tặng hết… Sau này có một vị họ Đào mặc cả với tôi và Đồng Ngọc Hoa,
xin chi 100 triệu cho tái bản sách, chỉ yêu cầu sửa lại quê Trạng từ Cổ Lễ (Trực
Ninh, Nam Định) thành Đông Trang (Ninh Bình). Chúng tôi đã từ chối thẳng thừng.
Trớ trêu là VTV1 lại phát chương trình ba chục phút về Trạng nguyên Đào Sư
Tích, do Nhà sử học Lê Văn Lan chủ trì, thuyết minh quê Trạng ở Đông Trang Ninh
Bình. Trong phim có 5 lần quay tư liệu cuốn sách do chúng tôi làm, nhưng tên
các soạn dịch giả không được quay, không được nhắc đến.
Cuốn sách đầu tiên tôi một mình đứng tên tác
giả, tôi háo hức tặng đồng nghiệp. Có hai vị đồng nghiệp kiện Hội Văn Nghệ đã cấp
tiền tài trợ in sách cho tôi, yêu cầu thu hồi. Hai vị này vu cho tôi đã nhận
tài trợ của Sở Văn hóa 50 triệu rồi. May mà những người liên quan còn sống, sự
thật sáng tỏ, nên vụ việc đã được dẹp yên.
Một nhà
văn Việt Nam được tôi tặng đầu tiên khi cuốn “Các nhà khoa bảng Nam Định thời
phong kiến” vừa xuất bản. Mấy năm sau, tôi gửi cuốn sách này dự giải thưởng của
tỉnh. Nhà văn Việt Nam nói với tôi: “Tôi được phân công viết lời nhận xét kết
luận các tập sách dự giải thưởng của tỉnh ta. Tôi cứ tưởng cuốn “Các nhà khoa bảng”
của ông chỉ là tập sưu tầm, thư mục tóm tắt tiểu sử các nhân vật. Đọc mới biết đây
là tập nghiên cứu chuyên đề. Tôi đồng tình với việc xếp giải cuốn này của bộ
môn..” Thì ra ông bạn văn tôi quý trọng
nhận sách tôi tặng rồi vứt xó, không thèm đọc.
Soạn
xong bản thảo “Truyện nhặt”, chưa có tiền xuất bản, tôi in đại ra vài chục cuốn
bản thảo tặng bạn bè. Đến nhà tặng một ông nhà thơ, thấy một đống sách vứt dưới
gầm bàn, tôi hỏi thì ông bảo: “Ôi trời! Toàn là sách tự in của các nhà thơ cả đấy.
Tôi không đọc loại sách vớ vẩn ấy, mất thời gian. Sách phải có nhà xuất bản
trung ương thì tôi mới đọc.” Nghe ông bạn nói mà tôi choáng váng hoa mắt. Thì
ra mình coi trọng nội dung, chứ ông này lại trọng hình thức. Vậy là tôi không
dám thò bản thảo “Truyện nhặt” đã ký tặng ông ra nữa. Sau này khi cuốn “Truyện
nhặt” được Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ấn hành, tôi cũng không dám tặng ông bạn
thơ này.
Một ông
bạn văn tôi rất quý trọng, đến nhà tôi chơi. Tôi đem tác phẩm vừa xuất bản ra
ký tặng ông. Bút bi không ra mực. Đúng lúc ông bạn hỏi mượn cái bút để ghi điều
gì đó bạn ông điện thoại. Tôi cố mài cái bút bi cho ra mực (hơi lâu một chút) mới
đưa cho ông. Từ lúc ấy ông tỏ thái độ không vừa lòng, chuyện nhạt hẳn. Tôi đưa
hai tay trao sách tặng cho ông. Ông thò một tay ra thờ ơ cầm cuốn sách, vứt xuống
ghế ngồi. Đến giờ tôi vẫn còn tự trách mình đã tặng sách cho ông.
Có hai
ông bạn văn được tôi tặng sách. Hai tháng sau tình cờ gặp nhau, có người khen
sách của tôi hay, hai ông bạn ngạc nhiên trách: “Sao ông không tặng tôi?” – “Ô
hay, tôi tặng các ông ngay từ đầu mà!” – “Đâu có! Ông chưa tặng!”. Tôi đâm mất
tự tin trí nhớ của mình, ký tặng sách cho hai ông. Khi về nhà mở danh sách đã tặng
sách, thấy tên hai ông ghi trên đầu trang…
Lại nói
thời còn công tác, và sau này đã nghỉ hưu, tôi thường nhận sách tác giả tặng
thư viện và cá nhân. Mỗi lần được tặng sách mới, tôi đều phân công cho đồng
nghiệp thuộc quyền viết bài giới thiệu trên thư mục nhân vật hoặc đăng báo tạp
chí để cảm ơn tác giả. Một bận Nhà văn Việt Nam Phạm Trường Thi tặng thư viện 4
tập thơ của anh. Tôi phân công cho anh em viết giới thiệu. Sau một thời gian
không ai viết được vì “không có cảm hứng”. Nể Phạm Trường Thi là lãnh đạo Hội
và Tạp chí Văn nghệ mà mình là hội viên, tôi đành đem bốn tập thơ về nhà, đọc
liền ba bốn tối, không sao có hứng để viết. Tôi định bỏ cuộc thì vớ được bài
“Đèn sen” hay quá. Tôi viết hết đêm bài bình dài 8 trang A4. Sáng đi nộp bài
cho Tạp chí Văn nghệ gặp ông bạn đồng đội hiện là nhà nghiên cứu. Ông bạn cho
biết bài thơ này đang bị nhà thơ Lê Hồng Thiện kiện đạo văn. Đúng là vụ việc
sau lùm xùm cả hội. May chưa kịp nộp bài cho Tạp chí Văn nghệ…
Một ông
bạn văn gửi tặng sách cho tôi. Nhà xe chuyển sách điện: “Mời bác đúng… giờ ra
ngã tư Đệ Tứ nhận bưu phẩm ạ. Xe cháu biển số…” – “Tôi đang cách thành phố 50
cây số, không thể về kịp”. – “Vậy cháu gửi hàng nước bà M. khi nào bác đến nhận
thì gửi tiền cước bà ấy cho cháu ạ.” – “Ô kê!”. Tuần sau tôi nhận sách, một tập
thơ chưa đầy 100 trang. Tiền cước 20.000 đồng, tiền lưu kho bà hàng nước 20.000
đồng. Tôi vẫn gửi tặng sách trong cả nước, bằng thư phát nhanh, chỉ một hai
ngày là tới, trong tỉnh 12.000 đồng, Hà Nội 20.000 đồng, Sài Gòn 30.000 đồng…
Nhà bưu điện đem sách đến tận tay người nhận.
Một bữa,
bà vợ tôi nhận hộ bưu phẩm là một tập thơ mỏng, do tác giả ký tặng. Nhân viên
chuyển phát bưu phẩm yêu cầu nộp tiền vận chuyển. Tiền chả đáng kể gì, mà sao
thấy buồn, như là bị coi thường, như là bị xúc phạm. Tự nhiên thấy giảm hứng
thú đọc, tình yêu sách mai một đi ít nhiều
Còn nhiều
chuyện bi hài xảy ra với tôi trong chuyện tặng và nhận sách, nhưng bài dài quá
rồi, đọc nhàm chán. Xin dừng lời tâm sự trải lòng mình với bạn bè ở đây. Chúc
các bạn vui.
Tệ xá,
thành Nam, 10-3-2022
TMG
KHÁM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
1- Bị bệnh đái
tháo đường, huyết áp, đau lưng ba bốn năm nay, tôi phải đi khám định kỳ tại Bệnh
viện tỉnh. Ban đầu định kỳ hàng tháng. Thời covid 19 diễn biến phức tạp, định kỳ
hai tháng.
Mỗi lần
đi khám, tôi phải dậy từ bốn giờ sáng, đi sớm xếp sổ lấy phiếu khám trước để có
thể hoàn thành khám lấy thuốc trong buổi sáng. Nếu đi muộn chắc chắn mất cả
ngày.
Không
hiểu sao từ đầu năm 2022, định kỳ rút ngắn còn hai tuần, rồi rút xuống một tuần.
Thuốc cũng không được cấp đủ như trước, bệnh nhân phải tự mua là chính.
Tôi
phàn nàn với bà bệnh già cùng khám. Bà hỏi:
- Thế
ông có biếu tiền bác sĩ không?
Tôi thật
thà:
- Chưa
bao giờ ạ!
- Ông cứ
nghe tôi, khéo léo đừng để ai biết…
Tôi
hoang mang nghĩ: Bà bệnh này nói có lý. Đời sống bác sĩ cũng khó khăn lắm. Cháu
gái tôi học bác sĩ sáu năm, lại tu nghiệp chuyên khoa hai năm mà xin việc trầy
trợt, lương năm triệu. Tôi bỏ tờ tiền mệnh giá cao nhất hiện có trong ví vào
phong bì, dán kín. Lại bỏ phong bì vào cuốn sách.
- Thưa
bác sĩ! Tôi muốn tặng bác sĩ cuốn sách tôi viết, được không ạ?
Bác sĩ
trẻ đẹp trai vui vẻ:
- Vâng
được ạ. Cảm ơn ông.
Bác sĩ
mở qua cuốn sách, cầm phong bì trả lại tôi:
- Cháu
nhận sách, không nhận tiền đâu ạ!
Tôi
lúng túng:
- Tôi…
Đó là nhuận đọc thôi ạ!
- Các cụ
đã bệnh tật, khổ lắm rồi. Cháu không nhận tiền đâu. Ông để tiền mua thuốc uống ạ!
- Cảm
ơn bác sĩ!
Tôi bỗng cảm thấy mình bé nhỏ.
- Bệnh
viện quy định mỗi lần khám chỉ cấp 30 viên thuốc tiểu đường. Ông khám hàng tuần
lấy thuốc đủ dùng vậy.
- Tôi đề
nghị bác sĩ cho tôi đơn thuốc tự mua đủ dùng một tháng. Tuần nào cũng đi khám
thì mệt mỏi lắm!
- Vâng
được ạ. Cháu kê cho ông thuốc ngoại. Ông tự mua nhé!
- Vâng!
2-
Sáng nay đến hẹn khám định kỳ. Cả đêm qua thao thức. Cứ có việc gì là tôi lại mất
ngủ. Mất ngủ thì lại thấy lưng đau hơn. Tôi nửa nằm nửa ngồi chờ đến bốn giờ
sáng. Kiểm tra các thứ cần mang theo: Phiếu bảo hiểm y tế, căn cước công dân,
tiền, sổ khám tiểu đường huyết áp, gói bánh gạo nứt, chai nước lọc, thuốc huyết
áp tiểu đường…
Bốn rưỡi trời
còn tối, tôi đã dắt xe ra khỏi nhà. Gửi xe, xếp sổ xong thì đã năm giờ sáng.
Hai chồng sổ cao hơn gang tay. Chồng sổ ưu tiên bằng nửa chồng sổ nhân dân. Nhiều
người xếp sổ từ tối hôm trước.
Tôi tìm
được một ghế trống trong góc hành lang, ngồi chờ. Sáu giờ uống thuốc huyết áp.
Sáu giờ mười năm thì nhân viên y tế bắt đầu gọi tên phát phiếu khám. Người bệnh
(hầu hết là cao tuổi) chen chúc vây kín cửa phát phiếu khám. Tôi nhận được phiếu
khám bàn 1 số 27 lúc bảy giờ kém hai mươi.
Tôi cầm sẵn sổ
khám tiểu đường, phiếu khám, căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế ra tay, đứng
xếp hàng trước cửa bàn khám số 1. Khoảng bảy giờ hai mươi tôi nhận được hồ sơ
khám phòng 201 số 27. Lên tầng hai khoa khám bệnh, tôi xếp sổ chờ đo huyết áp.
Huyết áp không cao lắm do đã uống thuốc, nhưng nhịp tim cao 105.
Đứng chờ
một lúc, tôi “chớp” được ghế ngồi của một người bệnh đến lượt vào khám. Mệt mỏi,
tôi nhắm mắt thư giãn. Họ khám hết các người bệnh có thẻ ưu tiên rồi mới theo
thứ tự khám cho người bệnh thường. Các cụ ngồi chờ râm ran bàn tán.
- Nam Định
mình có ông bộ trưởng y tế bị còng tay đấy các cụ ạ.
- Việt
Á là cái bẫy tóm được hàng trăm con chuột cống trong ngành y tế. Chúng cướp được
hàng nghìn tỷ… Cảm ơn Việt Á!
- Có một
trăm con chuột mà nó phá tanh bành cả ngành y tế… Mong ông Trọng ra tay tóm sạch
lũ chuột cho dân nhờ.
- Kết cục
thì người bệnh phải hấng chịu hậu quả. Khám bảo hiểm mà phải tự mua thuốc… Là
nó ăn chặn bảo hiểm của dân chứ sao!
- Các bệnh
viện không ai dám ký giao dịch mua thuốc nên không có thuốc các cụ ạ. Ai cũng sợ…
- Không
biết tình hình này bao giờ mới kết thúc.
Tôi
đang mơ mơ màng màng thì nghe một bà bệnh nói to:
- Ai Trần
Mỹ Giống vào khám kìa.
Tôi đứng
dậy. Bà bệnh bảo:
- Bác
sĩ gọi mấy lần mà ông không nghe à?
- Cảm
ơn bà! – Tôi vừa lào phào trả lời bà bệnh, vừa bước vào phòng khám.
Nữ bác
sĩ trung tuổi cất giọng như gió thoảng:
- Kỳ
này ông thấy trong người thế nào?
- Bình
thường cô ạ. Không còn hiện tượng đói thì xỉu đi như trước.
- Tôi sợ
là lượng đường tăng. Ông cầm giấy đi xét nghiệm máu nhé.
- Vâng!
Đến
phòng xét nghiệm máu, nhận phiếu số 67. Lấy máu xong thì tám giờ ba mươi. Tôi
tìm một chỗ ngồi ngoài hành lang, chờ mười giờ đến mười giờ rưỡi lấy kết quả. Một
ông bệnh già hơn tôi đang gặm bánh mì. Tôi uống thuốc tiểu đường và ăn bánh gạo
nứt.
- Ông bị
bệnh gì vậy? – Ông già hỏi làm quen.
- Tôi bị
tiểu đường ông ạ!
- Tôi
cũng tiểu đường!
- Tiểu
đường thì ông nên kiêng bánh mì và xôi nếp. Hai món này tăng đường nhanh lắm!
- Thế à
ông? Cháu nó chuẩn bị cho…
- Mời
ông ăn với tôi cái bánh gạo nứt cho vui. Cái anh gạo nứt tốt cho tiểu đường lắm
ông ạ.
Tôi vừa
nói vừa bỏ vào tay ông già ba cái bánh gạo nứt. Ông già cảm ơn rồi xé giấy bóng
ăn bánh.
- Dễ ăn
ông ạ. Thế ông mua ở đâu, giá cả làm sao?
- Mua ở
phố Hoàng Văn Thụ, hai năm nghìn một gói hơn chục cái…
- Đắt
ông nhỉ.
- Vâng.
Tôi mệt
mỏi ngoẹo đầu vào tường, nhắm mắt, rù đi. Lâu sau ông già đập tay vào vai tôi:
- Chắc cũng
sắp có kết quả, ta vào phòng chờ ông ạ.
Lấy được
kết quả, quay lại phòng khám ban đầu thì đã mười giờ rưỡi. Lại xếp kết quả chờ
thứ tự. Mười một giờ đến lượt tôi.
- Đúng
là lượng đường tăng hơn tháng trước. Nhiều chỉ số tăng lipid hỗn hợp ông ạ. – Bác
sĩ bảo.
- Vâng!
- Kỳ
này phải tự túc nhiều đấy ông ạ.
- Vâng!
- Hai
loại thuốc cuối ông mua toàn bộ. Hai loại thuốc trên, ông mua thêm mỗi loại một
nửa nhé!
- Vâng!
Cảm ơn cô.
Tôi bước
vội xuống tầng một, nộp hồ sơ bệnh án cửa số 8 thanh toán cho kịp buổi sáng.
Một ông
bệnh hỏi tôi:
- Bác
có đi mua thuốc ở Đền Giếng cho em theo với. Ở huyện lên, em chả biết đâu vào
đâu.
- Vâng.
Bác đi theo tôi.
Đến hiệu
thuốc Đền Giếng, tôi đưa đơn thuốc cho cô bán hàng. Ông bạn ở huyện hỏi nhỏ cô
bán hàng:
- Cô
làm ơn xem đơn của tôi hết bao nhiêu, tôi sợ không đủ tiền!
Tôi đã
định tặng ông bạn số tiền thiếu, nếu ông không đủ. Nhưng khi nghe cô bán hàng
nói số tiền thì ông bệnh thở phào:
- Thế
thì tôi vừa đủ ạ!
Tôi giơ
tay chào ông bệnh.
Về đến
nhà, tôi nằm lên võng rồi ngủ lịm đi!
Chiều,
điện cho ông bạn đồng môn đồng đội đang sống ở Hà Nội, than phiền bệnh tật...
Ông bạn bảo cũng tiểu đường, huyết áp. Mỗi lần đi khám ở Bệnh viện E được lĩnh
số thuốc trị giá tới một triệu hai trăm nghìn.
Cùng bảo
hiểm 100% mà Hà Nội khác xa tỉnh đến vậy?
Giấy hẹn
khám kỳ tới 23 – 8 – 2022.
Cầu cho
bình an để khám đúng hẹn!
“NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ” - TIẾNG KÊU XÉ LÒNG CỦA NHÀ
THƠ CHU ĐÌNH AN - MỘT CỰU CHIẾN BINH Ở TUỔI TÁM MỐT
Tôi chơi thân với nhà thơ Chu Đình An mấy chục năm nay. Ông đã có dăm
tập thơ riêng và rất nhiều thơ in báo tạp chí và tuyển tập chung. Thơ ông hào
sảng khí phách người lính trung kiên chống giặc ngoại xâm, chống tiêu cực, tha
thiết yêu quê hương đất nước, lạc quan tin tưởng Đảng và tương lai tươi đẹp của
đất nước. Ngay từ khi chưa thân quen ông, tôi đã được đọc một tập thơ của ông,
và viết bài giới thiệu “Đọc Lạc nẻo đường trăng” của ông với cảm xúc dạt dào…
Vậy mà, thời gian gần đây, ở tuổi bát tuần, ông ủ rũ buồn phiền trông
thật ái ngại. Tôi hỏi thì ông lờ đi. Hỏi mãi ông mới đưa cho tôi xem bài thơ
sau:
NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ
(Người trong cuộc)
(Nhiễm chất độc hoa học điôxin da
cam…)
Xâu chuỗi tháng năm
Anh đi bộ đội
Theo Đảng ước mơ
Vào chiến trường chống Mỹ
Lấp lánh vần thơ
Ba lô nặng trĩu cong sườn núi
Mũ cối gối đầu tắm nắng sương
Mỹ đem chất độc gieo tang tóc
Oán hận ngàn sau cảnh đoạn trường
Rời chiến trường chia xa nơi ở
Anh trở lại quê
Nặng trĩu lời thề
Đứa con ra đời công anh được trả
Chất độc da cam
Con chẳng nên người
Có đủ giấy tờ
Hỏi trời chẳng biết
Hỏi đất không hay
Hỏi người… Hãy đợi đấy!
Chịu nỗi đắng cay
Nhiều đời đau khổ…
ĐẮNG CAY
Mười hai năm bốn tháng mấy ngàn ngày
(4400 ngày)
Chống Mỹ kiên cường chẳng đổi thay
Mười chín phần trăm thương tật loại
Nhiều đời cay đắng chẳng ai hay
Đời cha nhiễm chất độc da cam
Con mất trí khôn chẳng việc làm
Đã mấy lần kê khai chẳng được
Vì dân, vì Đảng, cứu nước hận tình
mang.
CĐA
Đọc bài thơ trên của ông, tôi cứ tự
trách mình ít quan tâm đến đời sống riêng tư của người bạn văn, người anh mà
mình yêu quý. Tôi không bình bài thơ về mặt văn học, mà chỉ muốn nói về tâm sự
đời thường của ông qua bài thơ trên.
Chàng thanh niên Chu Đình An từ biệt
quê hương Nam Thắng (Nam Trực – Nam Định) nhập ngũ 1961. Ngay năm sau, 1962 thì
theo đơn vị đi Lào, 1964 vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ông từng trực
tiếp tham gia chiến đấu chống càn Gian-sơn-xi-ty ở Tây Ninh, rồi đi C giải
phóng Nậm Thà… Bị thương 19% (không đủ để làm chế độ thương binh), bị nhiễm
chất độc Điôxin viêm phổi nặng. Đơn vị cho ra Bắc chữa trị 10 tháng. Ông cưới
vợ được chưa tròn tháng thì đã nhận lệnh đi chiến trường B lần thứ hai… Mười
tám năm làm lính thì mười bốn năm ông chiến đấu ở các chiến trường miền Nam,
Lào, Căm pu chia… Đứa con trai duy nhất của ông bị mang di chứng chất độc da
cam của cha nên ngẩn ngơ không vợ con, không công ăn việc làm… Bà vợ ông cao
tuổi nay ốm mai đau triền miên.
Vào tuổi tám mươi, gần đất xa trời, ông luôn lo lắng cho đứa con trai sẽ
sống ra sao sau khi cha mẹ qua đời? Ông chạy vạy khắp các cửa xin cho con chế
độ da cam để có đồng phụ cấp ít ỏi mà sống nốt quãng đời ngơ ngẩn khi cha mẹ đã
qua đời. Nhưng tiếng kêu cứu của ông không được đâu quan tâm.
Tôi từng vịnh ông Chu Đình An:
Nửa đời chinh chiến một lòng trung
Thơ vượt vũ môn cá hóa rồng
Bút sắc kiên cường đâm tiêu cực
Hùng!
Người linh cụ Hồ kiên trung dũng cảm
đầy khí phách trước quân thù và bọn tiêu cực, giờ đây là ông già đau khổ đáng
thương. Đi chiến đấu để con cháu, thế hệ sau được sống tốt đẹp mà chiến thắng
rồi con trai ông lại chịu hậu quả nặng nề… Người cha cứng rắn chịu đựng gian
khổ hy sinh, nhưng không chịu đựng nổi tình cảnh bi đát của đứa con trai được
sinh ra trong thời chiến tranh loạn lạc….
Tôi là người lính chiến đấu ở Quảng
trị, bị di chứng thần kinh ngoại biên và tiểu đường huyết áp điều trị thường
xuyên, cũng không làm được chế độ. Trong khi đó người có tiền lại mua được chế
độ mà gần đây nhà nước phát hiện thu hồi rất nhiều trường hợp. Có người rỉ tai
tôi phải mất bốn chục triệu mới làm chế độ được…
Chất độc da cam có thể phát tác ngay,
cũng có thể lặn hai ba đời sau mới phát tác. Phần lớn những người thực thi chế
độ hiện nay chưa một ngày cầm súng chống Mỹ như cha ông. Họ đối xử với lớp cha
chú có phần thiếu tình người, coi nhẹ việc tri ân. Tôi hiểu rõ và đồng cảm với
tâm trạng nhà thơ Chu Đình An khi ông kêu lên thảm thiết và ai oán:
Vì dân vì Đảng cứu nước hận tình mang.
Là cựu chiến binh từng chiến đấu bảo vệ Quang Trị và chống giặc Trung
Quốc ở Lạng Sơn, tôi rất hiểu và đồng cảm với tâm trạng và tình cảnh đáng buồn
của cựu chiến binh Chu Đình An. Xin được góp cùng bác Chu Đình An một tiếng
kêu… Mong sao tiếng kêu của chúng tôi trời xanh nghe thấu và có giải pháp công
bằng, đúng chính sách, đúng pháp luật, có tình có lý, lấy lại niềm tin cho
chúng tôi… Bác Chu Đình An năm nay 81 tuổi đã có 57 năm tuổi Đảng rồi.
13 – 6 - 2020
LAN
MAN KHI TUYỂN TẬP THƠ TRẦN MẠNH HẢO ĐƯỢC XUẤT BẢN
Về giá
trị nội dung và nghệ thuật thơ Trần Mạnh Hảo đã có rất rất nhiều nhà văn, nhà
thơ, nhà phê bình viết rất hay, rất trúng rồi. Bài này tôi chỉ lan man một chút
cảm nghĩ khi Tuyển thơ của Trần Mạnh Hảo được xuất bản.
Sau mấy
chục năm vắng bóng trên báo chí chính thống và nhà xuất bản trong nước, nhà thơ
– nhà lý luận phê bình – nhà văn Trần Mạnh Hảo mới lại có tác phẩm được phép xuất
bản:
TRẦN MẠNH
HẢO TUYỂN TẬP THƠ. – H.: Nxb. Hội Nhà văn, 2022. – 475 tr.: Bìa cứng, ảnh màu
minh họa ; 24 cm.
Sự kiện
này gây ra cơn bão dư luận bạn đọc. Hầu hết ý kiến tỏ thái độ đồng tình và đánh
giá khá đúng đắn khẳng định vị trí Trần Mạnh Hảo trên văn đàn. Tuy nhiên cũng
còn số ít không đồng thuận, có thái độ bất phục. Ngẫm lời cụ Nguyễn Du “Tài
tình chi lắm cho trời đất ghen” thật đúng. Thì xưa nay bao nhiêu văn tài bị vùi
dập chỉ vì thái độ thẳng thắn phản biện xã hội qua tác phẩm đấy thôi. Nhưng rồi
lịch sử cuối cùng sẽ công nhận tài năng và cống hiến của họ. Tỷ như nhóm Nhân
Văn Giai Phẩm, như Văn Cao, Trần Dần, Vũ Hoàng Chương…
Tôi rất
thích những bài phản biện sách giáo khoa của Trần Mạnh Hảo. Ông chỉ ra chi tiết
những sai lầm của tác giả rất xác đáng. Các tác giả bị phê bình tuyền là những
người mang danh GS TS. Họ huy động phe cánh học trò hội đồng chửi bới, vùi dập
Trần Mạnh Hảo, nhưng rốt cuộc họ cứ lặng lẽ chỉnh sửa sai lầm qua tái bản…
Nhớ lại,
mấy chục năm trời không sao tìm được bài viết của Trần Mạnh Hảo trên báo chính
thống, trên mạng cũng khó mà tìm được… Tôi thường phải lấy bài của Trần Mạnh Hảo
qua một số trang mạng nước ngoài để đăng lại trên blogyahoo của mình. Blogyahoo
bị đóng, tôi lại dùng blogtiengviet. Blog này lại mới bị đóng, tôi dùng
blogspot đăng bài của Trần Mạnh Hảo. Tôi vui vì bài Trần Mạnh Hảo được rất đông
người đọc đồng tình cảm phục.
Tôi chỉ
được gặp Trần Mạnh Hảo qua mạng. Sáng ba mươi Tết năm 2013, ông Trần Mạnh Hảo gọi
điện cho tôi: “Tôi đưa vợ đi chợ, ngồi trông xe đợi, tranh thủ thời gian làm
mươi bài tứ tuyệt. Tôi gửi ra ông đăng nhé.” Ít phút sau tôi nhận được chùm tứ
tuyệt của ông, tuyền là viết về quê Nghĩa Hưng, Nam Định rất hay. Tôi lập tức
đăng lên blog cá nhân.
Sau này,
tôi nhận được công văn hạn chế blog, không cho phép đăng bài của người khác từ
cơ quan chức năng. Tôi trực tiếp chất vấn người ký văn bản, (đã có lần người
này và tôi cùng trong hội đồng chấm thi công chức của tỉnh): “Blog của tôi quảng
bá tác giả tác phẩm Nam Định thì sai chỗ nào mà ông ký công văn hạn chế?” Người
này thật thà: “Không có gì sai cả. Là do lãnh đạo hội của bác nhiều lần kiến
nghị, tỉnh giao nhiệm vụ buộc chúng tôi phải làm. Bác cứ coi việc này nhẹ như
lông hồng. Việc chúng tôi chúng tôi phải làm. Việc bác bác cứ làm…” Tôi hiểu họ
hạn chế blog của tôi vì tôi đăng bài của Trần Mạnh Hảo và phanh phui những tiêu
cực của lãnh đạo hội thời ấy. Rất may, người ký văn bản hạn chế blog của tôi hiểu
thế nào là phải trái.
Năm
2010 tôi được mời tham gia làm cuốn “1000
năm Thăng Long Hà Nội – Thiên Trường Nam Định: Thơ”. Tôi chuyên lo mảng thơ
Hán Nôm. Nhưng tôi có theo giõi mảng thơ Quốc ngữ, góp ý: “Các ông chọn nhiều tác giả thơ làng nhàng mà lại bỏ sót hai nhà thơ nổi
tiếng có nhiều bài viết về quê hương và Hà Nội rất hay là nhà thơ Hải Như và
nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Đề nghị các ông bổ sung hai người này vào tập”. Ý kiến
của tôi không được ai ủng hộ. Có người còn bảo: “Không đưa Trần Mạnh Hảo vào để giữ cho tập sách sạch sẽ”. Sao người ta lại có thể nhận xét thơ ông Hảo
như vậy nhỉ? Sao cùng là đồng hương, đồng nghiệp, cùng Nhà văn Việt Nam mà họ xử
với nhau như vậy? Buồn nhất là có nhà thơ thường khoe thân thiết với Trần Mạnh
Hảo cũng làm ngơ việc này. Kết cục Hải Như và Trần Mạnh Hảo đều không được đưa
vào tập sách. Tôi chợt nhớ nhận xét trong một bài thơ của nhà phê bình người Mỹ
gốc Việt Phạm Đức Nhì: Khó mà tìm được một nhà văn trong nước chim có hột…
Hôm rồi tôi nhận được Tuyển tập thơ ông Trần Mạnh
Hảo gửi với lời đề tặng: “Thân quý tặng bạn
đồng nghiệp đồng hương đồng tộc TRẦN MỸ GIỐNG…” Tôi cảm động nghĩ mình chỉ
đáng là học trò của Trần Mạnh Hảo. Nhưng tôi vẫn tham, nghĩ: giá ông Trần Mạnh
Hảo ghi thêm từ “đồng đội” thì hay quá. Ông Hảo và tôi từng nghe theo tiếng gọi
của Đảng và nhà nước, hiến cả tuổi xuân trên chiến trường B trong kháng chiến
chống Mỹ cứu nước…
Bây giờ
thì khác rồi. Phải cảm ơn nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đương chức Chủ tịch Hội
Nhà văn Việt Nam, Giám đốc, Tổng biên tập nxb. Hội Nhà văn đã dám ký lệnh cho
phép xuất bản tuyển thơ của Trần Mạnh Hảo (dù từng bị ông Trần Mạnh Hảo choảng
cho tơi tả cái món “thơ tân con cóc” của mình. Cũng cần nói thêm là Trần Mạnh Hảo
từng công khai nể phục cổ vũ Nguyễn Quang Thiều khi ông này dám công khai bài
điếu đánh giá cao đúng với công lao của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp…) Tôi nghĩ việc
xuất bản Tuyển thơ Trần Mạnh Hảo là cái mốc đánh dấu khí phách, thái độ, nghĩa
khí của hai “sĩ phu Bắc Hà” sẽ sống rất lâu trong lòng người đọc…
Tôi tin
rồi qua thời gian, cống hiến của Trần Mạnh Hảo sẽ được lịch sử và nhân dân công
nhận đúng với giá trị của ông.
Tệ xá,
thành Nam 20-8-2022
TMG
NHÂN
“HỘI THẢO KHOA HỌC THƠ ĐƯỜNG THỜI NHÀ TRẦN” CỦA “TRUNG TÂM MINH TRIẾT THƠ ĐƯỜNG
VIỆT NAM”… ÔNG CHÁU TÔI “BUÔN DƯA LÊ”
Cháu:
- Ông
ơi! Đồng nghiệp của ông vừa có bài về một hội thảo khoa học chuyên đề thơ Đường
thời nhà Trần của cơ quan minh triết thơ Đường Việt Nam…
Ông ngắt
lời:
- Ông
biết rồi. Vậy cháu hiểu thế nào là thơ Đường (Đường thi) và thơ luật Đường (Đường
luật)?
- Thơ Đường là khái niệm chỉ thơ do các
tác giả sinh sống trong thời Đường của Trung Hoa sáng tác. Thời Đường từ thế kỷ
7 đến đầu thế kỷ 10 (tức là trước thời Trần của Việt Nam). Thơ Đường có hai loại
chủ yếu là thơ cổ phong không theo niêm luật nào cả, có từ trước thời Đường, và
thơ luật Đường (Đường luật) theo quy định niêm luật rất chặt chẽ.
Thơ Đường luật có thất ngôn
bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cũ, ngũ ngôn tứ tuyệt… Thơ Đường luật
có ảnh hưởng rất nhiều tới các tác giả Việt Nam. Thơ Đường luật do các tác giả
Việt Nam sáng tác, nếu dùng chữ Hán thì gọi là thơ chữ Hán, nếu dùng chữ Nôm
thì gọi là thơ chữ Nôm. Ví dụ Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương…
Tóm lại: Không
có cái gọi là Thơ Đường Việt Nam, càng không có cái gọi là thơ Đường thời Trần,
mà chỉ có thơ Đường luật Việt Nam (thơ Việt Nam làm theo thi pháp luật thơ Đường)…
- Thế cháu
nghĩ gì khi thấy cái phông hội nghị họ ghi là “Hội thảo khoa học thơ Đường thời
nhà Trần – Hà Nội ngày 30-8-2022…”, hoặc cái tên bài tham luận “Thơ Đường thời
nhà Trần” (của Hồ Trí Dũng), “Những tác gia thơ Đường tiêu biểu thời Trần” (của
Trần Văn Đỉnh)…?
- Điều đó chứng
tỏ những người chủ trì và những người tham luận trong Hội thảo khoa học này rất
lơ mơ về thuật ngữ thơ Đường và thơ Đường luật. Đáng buồn là họ toàn GS, TS,
Th.S…
- Cháu nghĩ gì
khi đọc cái tên cơ quan “Trung tâm minh triết thơ Đường Việt Nam”?
- Làm gì có
“thơ Đường Việt Nam” mà đẻ ra cái cơ quan “Trung tâm minh triết thơ Đường Việt
Nam”? Tơ lơ mơ về thuật ngữ thơ Đường với thơ Đường luật, thơ Đường với thơ thời
Trần… thì “minh triết” cái khỉ gì hả ông?
- Bác Trần
Nguyên Trung và nhà sử học Lê Văn Lan có bài phê phán kỷ yếu hội thảo này đăng
bài xuyên tạc lịch sử. Họ cổ súy cho nhân vật nhiên thần Hoằng Nghị thành nhân
thần, gán cho là bố đẻ Trần Thủ Độ, cháu nên tìm đọc. Và nhớ đừng tin ngay các
vị GS, TS, ThS giấy nhé!
- Vâng ạ!
MỖI NGƯỜI MỖI CẢNH
-1-
Tôi và
ông Bảng, bà Sen có thời cùng đơn vị. Tôi là học viên sĩ quan. Bà Sen làm y tá.
Ông Bảng là anh nuôi. Từ ngày ra trường về đơn vị, tôi mất liên lạc với hai người.
Cách đây hai năm, bất ngờ bà Sen điện cho tôi:
- Ông Giống
phải không?
- Vâng!
Tôi Giống đây. Ai đấy ạ?
- Ối giời
ơi! Đúng là tiếng ông Giống rồi! Tôi Sen y tá đại đội đào tạo sĩ quan đây! Còn
nhớ không?
- Ôi trời!
Bà Sen hả? Hơn bốn chục năm rồi còn gì. Sao bà biết số của tôi?
- Tình cờ
thấy cháu nó mở đọc blog Trần Mỹ Giống. Cái tên độc đáo của ông chắc trên đời
này chỉ có một. Tôi tò mò xem blog thì đúng là ông rồi. Tôi liền gọi theo số điện
thoại ông ghi trên đó.
Sau một
hồi hỏi han sức khỏe, gia đình, công việc của nhau, tôi hỏi:
- Thế bà
có biết tin gì về ông Bảng không?
Giọng bà
Sen buồn sịu:
- Ông Bảng
mất rồi! Buồn lắm ông Giống ạ.
- Sao mà
mất vậy?
- Để tôi
kể ông nghe: Ông về đơn vị độ hai năm thì tôi và ông Bảng đều được xuất ngũ.
Nhà ông Bảng cách nhà tôi hơn chục cây số, cùng huyện. Chúng tôi vẫn thường qua
lại thăm nhau. Tôi thì nhỡ nhàng. Ông Bảng thì vợ mất vì ung thư, ở vậy một
mình nuôi thằng con độc nhất. Hai chúng tôi muốn “rổ rá cạp lại”. Nhưng thằng
con ông Bảng không đồng ý. Nó quát vào mặt tôi: “Tôi chỉ có một người mẹ đã mất.
Cô đừng có mà dụ dỗ bố tôi. Âm mưu chiếm đất chiếm nhà hả? Rồi cô chết, tôi phải
làm ma hả? Cô tránh xa bố tôi ra!”. Nó học xong thạc sĩ, lấy vợ thủ đô, con nhà
quyền quý. Nó về bắt bố bán nhà cho nó mua nhà Hà Nội. Ông Bảng chiều con, bán
nhà, đi ở với vợ chồng nó. Rồi không hiểu chuyện gì xảy ra, một năm sau, ông Bảng
bỏ về quê, ở nhờ từ đường dòng họ. Từ đấy, ông Bảng sống như cái bóng. Ông ấy
sinh ra rượu chè, lúc nào cũng rầu rĩ. Tôi thương ông ấy mà không biết làm sao.
Ông ấy mất hai ngày mới có người biết. Vợ chồng thằng con về làm ma to lắm! Cơ
man là ô tô xếp hàng phúng viếng…
-2-
Chú rể
tôi mồ côi cha mẹ từ bé. Lớn lên ông đi bộ đội kháng Pháp. Hòa bình lập lại,
ông về quê làm thợ quai búa lò rèn và xây dựng với dì tôi. Dì tôi không có con.
Năm chú bảy mươi tuổi thì dì tôi mất. Hết tang vợ, nhờ người mai mối, chú lấy
bà kế, gái son, gần bằng nửa tuổi chú. Mười năm, vợ chồng chú sòn sòn đẻ ba con
trai. Chú tôi như trẻ lại. Thấy bố con chú đứa trên lưng, đứa dắt tay, có người
trêu:
- Bát
tuần rồi thì có con thế quái nào được. Chắc cụ “tráng men” thằng khác rồi…
Tưởng
chú tôi sẽ nối cáu, nhưng ông lại cười rất tươi:
- Ôi
dào! Cá vào ao ta ta được! Kệ thiên hạ!
Giờ thì
chú tôi đã ngoại cửu tuần. Bà kế mới gần năm chục, trông cứ như con gái. Ông bà
hạnh phúc như vợ chồng mới cưới…
Thật là
mỗi người mỗi cảnh. Hạnh phúc tùy thuộc vào quan niệm của mỗi người.
BẠN FB
1- Một cụ bạn thơ trên blogtiengviet
bảo: “Ông và tôi dù gì thì cũng không bỏ nhau nhé!”. Khi cả hai bỏ blogtiengviet, sang FB, chỉ còn tôi giữ lời hứa,
chăm chỉ đọc thơ cụ và “thích” đều đều. Nhưng cụ thì… chắc có quá nhiều bạn FB
hâm mộ nên quên phắt lời hứa với tôi.
Bạn mà không
giao lưu thì có cũng như không.
2- Một ông kết bạn FB với tôi. Hai
bên giao lưu thường xuyên. Một bận tôi vào trang ông nhận xét rất thật lòng, chỉ
ra cái dở của nội dung bài viết. Ông bạn lập tức xóa nhận xét của tôi.
Thì ra ông này
kết bạn để được khen, chứ kị chê…
3- Có đồng nghiệp đăng bài khoe mình
được mời đọc tham luận trong một hội thảo khoa học cùng hàng trăm giáo sư tiến
sĩ. Tôi “còm” chê cái tít hội thảo sai thuật ngữ (mà hàng trăm giáo sư tiến sĩ
tham dự không ai có ý kiến gì), lại chỉ ra một bài trong tập kỷ yếu của hội thảo
xuyên tạc lịch sử… Ngay lập tức, đồng nghiệp chặn và xóa kết bạn FB với tôi.
Bạn FB không
cùng “kênh” thì tự rời đi thôi!
1-10-2022
“SÁI”
Nhà thơ cao
niên Nam Thắng yêu cầu tôi góp ý đôi câu đối bạn ông tặng. Tôi đọc rồi khen câu
đối hay, nói được mối quan hệ của nhà thơ với quê hương, nhưng có một chỗ hơi bị
sái. Hỏi sái chỗ nào? Bảo mấy từ “hồn Nam Thắng” đối với “đất Đại An” ấy! Không
nên dùng chữ “hồn” cho nhân vật còn sống! Nhà thơ Nam Thắng tỏ ra không vui.
Chuyện thơ văn
đôi khi cũng lạ lắm. Chẳng hạn chuyện “Sái” nói về hai trong nhiều trường hợp
tôi kể dưới đây.
1 -
Tống Đức Hiển là đồng nghiệp, đồng liêu, đồng hương tri kỷ tri âm của tôi. Tôi
có làm bài thơ tặng anh như sau:
TRI KỶ
Tặng
nhà thơ Tống Đức Hiển
Bia vàng một cốc với nhà thơ
Phiêu lãng cung trời gót nhởn
nhơ
Nếu chẳng có thơ, bia nước ốc
Hồn thơ men ngấm, tứ thăng hoa
Được thua, đen bạc quên quên hết
Thanh trọc, nhục vinh phớt phớt lờ
Thơ đẹp, bia nồng, người tri kỷ
Bồng lai tiên cảnh phải đâu mơ!
Tống Hiển rất vui khi đọc bài thơ tôi
tặng. Nhưng bác tôi - một nhà nho, khi đọc bài thơ này, bảo:
-
Câu “Phiêu lãng cung trời gót nhởn
nhơ”
hơi bị “sái”.
Không
lâu sau, Tống Hiển qua đời ở tuổi 65.
2 - Tôi và Nhà văn Nguyễn Danh Khôi chưa một lần
giáp mặt nhau, chỉ qua các tác phẩm mà yêu quý
nhau. Khôi nguyên sĩ quan quân đội, làm công tác văn hóa văn nghệ, họa khá, nhạc
sành, thơ có hồn, văn có phong cách, được nhận nhiều giải thưởng. Vì viết bài
chống tiêu cực, Khôi bị người ta loại ra khỏi Hội VHNT Nam Định. Họ còn tàn độc đưa Quyết định khai trừ nhằm đúng ngày Khôi tiễn con về
nhà chồng. Bị cú sốc nặng nề trong đời văn, buồn mình, hận đời, Khôi tự dìm trong rượu tìm quên lãng. Nhưng càng rượu càng tỉnh, tác
phẩm cứ bừng lên.
Hơn chục lần Khôi gọi điện
thoại tâm sự với tôi về cuộc đời, về văn nghệ, về thế thái nhân tình bằng giọng
nhòe men. Mỗi lần điện thoại kéo dài cả tiếng đồng hồ.
Cảm mến con người tài hoa, tôi tặng Khôi bài thơ:
NHÀ VĂN NGUYỄN DANH KHÔI
Dẫu chẳng thiên tài, chẳng vĩ nhân
Văn, thơ, nhạc, họa cũng vang ngân
Đời dìm trong rượu, bừng trước tác
Thần!
Bác
tôi lại bảo:
-
Chữ “Thần” ở đây sái lắm!
Tôi
nghĩ chữ “thần” thể hiện cô đọng tài hoa của Khôi nên không sửa.
Ba
bốn lần hò hẹn gặp mặt nhau chưa kịp thực hiện thì tôi được tin Khôi đột ngột
ra đi ở tuổi 60. “Những áng mây đa đoan” (Tên một tập truyện của Khôi) đã về
cõi “thần” khi tài hoa đang chín đỏ.
Lúc
viết, tôi quên hết mọi sự, chỉ chú tâm thể hiện cảm xúc của mình mà không nhận
ra câu “sái”, từ “sái”. Đến khi việc xảy ra rồi lại suy diễn, chỉ còn biết tự
trách mình.
Không
biết là văn thơ có tinh hay chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng tôi đâm ra sợ sợ và không
dám viết thơ tặng bạn nữa.
CHUYỆN BẾP NÚC…
MỘT
Một cụ đồng nghiệp cao niên mắng tôi
trước hội nghị ba quân:
- Mày kém tao 18 tuổi mà mày láo quá.
Mày lại viết bài gọi tao là tên, tố tao ăn cướp giải thưởng của đồng nghiệp.
Tao yêu cầu mày phải xin lỗi tao trước hội nghị hôm nay!
- Vậy tôi xin hỏi bác, bác có đọc ba
trang blog của tôi không? Bài tôi chửi bác là bài gì?
- Tao không đọc!
- Không đọc sao bác bảo tôi láo?
- Có người xui tao!
- Vậy trước hội nghị ba quân hôm nay,
tôi xin tuyên bố: Tôi biết mười mươi các bố ăn gian giải thưởng, nhưng tôi chưa
từng viết bài tố cáo. Tôi chỉ đăng bài viết của bạn đọc thôi.
Nguyên tắc blog của tôi là: Chỉ đăng bài
tác giả tự nguyện gửi nhờ đăng hoặc cho phép tải lại. Bản thân tôi chỉ viết bài
về những người tôi nể phục yêu mến. Trên các blog của tôi, có nhiều bài tôi
viết về bạn bè, đồng nghiệp có mặt ở hội nghị này, nhưng riêng bác thì không có
bất cứ bài nào cả!
HAI
Một cụ nhà văn cao niên đáng kính kể cho
tôi đoạn đối thoại của cụ và nhân vật về tôi như vầy:
- Thằng Giống ranh con viết mạng láo
lếu. Để tao làm việc với thành ủy kiểm điểm cho nó ra bã!
- Đúng! Thằng ranh con nó mới có 45 năm
tuổi Đảng, còn cụ những 86 năm quần chúng ngoài Đảng. Cụ cứ làm việc với thành
ủy kiểm điểm cho nó ra bã cho biết mặt!
BA
Tôi biết rõ một vài “mánh” của mấy cụ
nhằm tranh giải thưởng. Họ chỉ in số lượng rất ít, đủ tặng lãnh đạo, nộp cho
Ban giám khảo để dự giải. Vậy nên, sách ăn giải rồi, bạn đọc không tìm thấy ở
thư viện hay hiệu sách. Nhiều bạn đọc hỏi tôi, tôi cũng bó tay vì không có cách
nào kiếm được. Có lần tôi đề nghị những người có liên quan, có trách nhiệm cho
tôi chụp bìa và mục lục các sách ăn giải để giới thiệu với bạn đọc, nhưng không
được đáp ứng. Có một tác giả vừa ăn giải cùng tai tiếng trong dư luận bạn đọc,
mắng tôi trước hội nghị:
- Anh là nhà thư viện mà không biết đến
sách của tôi thì kém quá!
Tôi mỉm cười, bụng nghĩ: Ông sợ tôi chỉ
ra cái dở, cái gian nên dấu như mèo dấu cứt còn làm bộ. Mà các sách của ông giá
trị ra sao, tôi lạ gì! Tôi chả cần nói ra thì bạn đọc họ cũng đã biết cả, bằng
chứng là các bài của họ trên mạng ấy. Sưu tầm in các tác phẩm của người ta,
mình có mỗi bài giới thiệu mà lại ghi tên mình trên vị trí tác giả đầu sách…
Háo danh ăn gian còn bố tướng!
SUÝT THÌ… TOI!
Một lần nhà thơ, Tổng biên tập Văn
Nhân, Phó Chủ tịch Hội VHNT Nam Định Phạm Trường Thi tặng Thư viện tỉnh 4 tập
thơ của anh. Tôi thay mặt Thư viện nhận sách và phân công cán bộ trong phòng viết
bài giới thiệu trong Thư mục địa chí, Thư mục nhân vật địa phương, nếu có thể
thì viết bài đăng báo để cảm ơn tác giả. Sau thời gian khá lâu, không thấy ai nộp
bài, tôi hỏi cán bộ trong phòng:
- Đã
hai tháng rồi, sao chưa thấy bài nào giới thiệu chùm sách thơ của Phạm Trường
Thi vậy?
Tất cả
đồng ý kiến:
- Chúng
cháu đọc đi đọc lại cả bốn tập thơ mà chẳng thấy hứng thú gì nên viết không nổi
ạ!
Tôi
đành mang bốn tập thơ về nhà đọc liền mấy đêm, gần hết tập thứ bốn mà chưa hình
thành được ý tưởng viết giới thiệu thế nào. Tôi định bỏ cuộc thì bắt gặp bài
“Đèn sen” khá thú vị. Bài thơ như một đốm sáng đẹp giữa tập thơ nhàn nhạt đến
buồn ngủ. Cảm xúc trong tôi bừng dậy. Tôi viết liền một mạch bài bình bài thơ
“Đèn sen” dài tới 8 trang A4. Đọc lại bài viết, tôi rất vừa lòng với chính
mình. Tôi hý hửng mang bài đến Tạp chí Văn Nhân…
Giữa đường,
gặp ông bạn nhà văn Việt Nam, tôi khoe bài bình bài “Đèn sen”. Ông bạn nhà văn
Việt Nam kêu lên:
- Bài
“Đèn sen” của Phạm Trường Thi là ăn cắp bài “Hoa sen” của Lê Hồng Thiện đấy.
Đơn kiện của Lê Hồng Thiện còn lưu ở báo Văn nghệ và cơ quan bảo vệ bản quyền
Việt Nam. Ông đừng gửi đăng. Chờ tôi gửi
bản pho to hồ sơ kiện của Lê Hồng Thiện cho xem…
Không
lâu sau tôi nhận được bản pho to hồ sơ Lê Hồng Thiện kiện Phạm Trường Thi đạo
văn.
Tôi dứt
khoát xé bỏ bài viết của mình. Cảm ơn ông bạn nhà văn Việt Nam. Nếu bài được
đăng lên Văn Nhân thì tôi còn biết chui xuống lỗ nẻ nào... May quá! Suýt thì…
toi!
THẰNG
TIỂU NHÂN
Khoảng hơn
hai chục năm trước, thấy triển lãm trưng bày tờ báo địa phương có đăng bài của
PV thống kê các nhà khoa bảng Nam Hà rất nhiều sai sót về danh hiệu, quê quán,
cấp đỗ đạt… tôi liền gọi điện sang tòa báo góp ý. Ông Khang khi ấy là Phó Tổng
biên tập trả lời tôi:
- Bài
báo ấy là của Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền đấy anh ạ.
Tôi rất
ngạc nhiên, không tin nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền lại viết sai sót đến vậy.
Công việc cuốn hút, tôi không còn chú ý đến chuyện này nữa. Bỗng một hôm nhà
nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền đột ngột đến tặng tôi hai bản thảo bài báo chép
tay:
- Đây mới
thực là bài viết của tôi. Bài đăng lên báo đã bị Trưởng phòng Trần Đức L. ký
bút danh PV biên tập làm hỏng cả…
Tôi đọc
kỹ bản thảo thì thấy nội dung khá chuẩn xác, rất trùng hợp với kết quả công
trình nghiên cứu “Các nhà khoa bảng Hà Nam Ninh” của tôi.
Khi bác
Nguyễn Văn Huyền mất, tôi viết bài “Kỷ niệm nhỏ về nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Huyền” đăng trên Tạp chí Văn hóa tỉnh(1), có nhắc lại chuyện bài báo
trên. Từ sau bài đăng này, Tạp chí Văn hóa bỗng nhiên không đăng bài của tôi nữa,
dù tôi gửi bài thường xuyên. Tôi hỏi lý do thì một cán bộ tạp chí cho biết:
- Tay Trần
Đức L. điện cho cậu B. phụ trách Tạp chí Văn hóa, trách: “Sao ông lại đăng bài
ông Giống kể xấu báo Đảng vậy?” Tay B. sợ xanh mặt, không dám đăng bài của anh
nữa…
Thời Trần
Đại Quyết làm Tổng biên tập báo địa phương, bài vở của tôi được đăng thường
xuyên. Tôi thường được mời dự hội nghị gặp mặt cộng tác viên. Nhưng từ sau vụ
bài báo viết về Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền của tôi trên Tạp chí Văn hóa,
nhất là sau khi Trần Đại Quyết nghỉ hưu và mất, tôi không còn được mời dự hội
nghị cộng tác viên nữa. Tôi có gửi bài nhưng không được đăng. Một phóng viên dấu
tên cho biết:
- Cháu
không hiểu sao, bài của chú đưa lên lãnh đạo đều bị anh Trần Đức L. loại ngay…
Thời
này Trần Đức L. là trưởng phòng rồi lên Phó Tổng biên tập. Công tư lẫn lộn như
thằng này làm sao lên Tổng biên tập được? Tôi nghĩ vậy và quyết định không viết
bài cho báo địa phương từ đó.
Bữa Tiến
sĩ Hoàng Ngọc Trì viết bài giới thiệu cuốn “Các tác giả Hán Nôm Nam Định” gửi
cho báo địa phương, tôi bảo với nhà thơ Hoàng Ngọc Trúc:
- Thằng
Trần Đức L. thù em. Nó không đăng bài viết về em đâu bác ạ!
Nhà thơ
Hoàng Ngọc Trúc bảo:
- Yên
tâm đi! Anh Trì nguyên thư ký báo địa phương, là thầy cuả Trần Đức L. Dù không
ưa chú, nhưng nó phải nể anh Trì.
Kết cục,
Trần Đức L. không đăng với lý do: “Ông Giống không xứng đáng được giới thiệu”.
Cậu T. hóng chuyện buột miệng: “Cụ Hoàng Ngọc Trúc giới thiệu tác phẩm, đâu phải
giới thiệu tác giả. Trước đây, tháng nào Trần Đức L. cũng sang Thư viện sưu tầm
tư liệu, có lần còn mang cả nhuận bút cho chú Giống. Đúng là thằng tiểu nhân!”
Bài giới
thiệu sách “Các tác giả Hán Nôm Nam Định” của Ts. Hoàng Ngọc Trì đã đăng ở Tạp
chí Văn Nhân(2). Sau đó “Tác giả không xứng đáng giới thiệu” hai lần
được nhận Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh.
Còn Trần
Đức L., cho đến khi về hưu, vẫn không được duyệt lên Tổng biên tập…
TMG
…………………
Chú thích:
(1) Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr. 37 – 38.
(2) Tạp chí Văn nhân. - 2009.
– Số 63 - 64. – Tr. 54 – 55.
BỚI THƠ CHÊ DỞ
Một ông
bạn nhà thơ cao niên rất thân với tôi. Ông có gần bảy chục năm làm thơ, đã in
hơn hai chục tập. Sở trường của ông là thơ Đường luật. Một lần trà dư tửu hậu,
ông đọc một bài thất ngôn bát cú, bảo đó là thơ của bạn ông và “thách” tôi chỉ
ra được chỗ nào dở. Tôi nghe giọng thơ, biết thừa là thơ của chính ông. Muốn
trêu ông một tý chơi, tôi vờ hỏi:
- Em hỏi lại:
Thơ của bác, hay của ai?
Ông bạn già
cũng vờ bảo:
- Thơ của một
người bạn tôi! Chú cứ chê thoải mái thật lòng vào. Riêng tôi thì thấy bài thơ
hay tuyệt, niêm luật chặt chẽ, đối rất chỉnh… Tôi thích nhất cặp câu thực, lấy
“hoàng bào” đối với “áo vải”… Nó thể hiện rõ về người anh hùng áo vải Quang
Trung.
Để không khí
trầm lắng một lúc, đủ cho ông bạn già khoái chí đắc thắng, tôi mới làm bộ e ngại:
- Bài
thơ viết về anh hùng áo vải Quang Trung rất hay. Tuy nhiên, mỗi sự vật đều mang
trong nó hai mặt đối lập, có hay có dở. Bác yêu cầu, em vẫn có thể bới ra chê
được. Nhưng bác đừng nói với tác giả cơ!
Ông bạn
động viên:
- Thì
chú cứ thử chỉ ra chỗ nào dở coi!
Lúc này
tôi mới xổ ra một tràng:
- Cặp
câu thực, lấy “hoàng bào” đối với “áo vải” (bằng bằng đối với trắc trắc) đọc
lên, thấy nó đối thanh chan chát. Nhưng về nghĩa, “hoàng bào” chỉ cái áo, “áo vải”
cũng là áo. Áo đối với áo là không đạt. Áo thì phải đối với quần mới chỉnh. Lại
nữa, “hoàng” trong “hoàng bào” là màu vàng, nhưng trong “áo vải” không có màu đối
lại… Thế là chưa chỉnh. Về hình thức, “hoàng bào” là từ Hán Việt, “áo vải” là từ
thuần Việt. Từ Hán Việt phải đối với từ Hán Việt, từ thuần Việt phải đối với từ
thuần Việt… mới chỉnh. “Hoàng bào” – từ Hán Việt đối với “áo vải” – từ thuần Việt
là không chỉnh, là dở...
Ông bạn
nhà thơ cao niên nghe vậy, mặt bệch ra như người trúng gió.
KHÁNH
THÀNH NHÀ THỜ TRẦN GIA
Kính thưa các cụ, các ông, các bà cùng
con cháu Trần gia!
Từ đường họ Trần Cả và từ đường các
ngành họ Trần làng Trà Lũ Trung ta đã có từ lâu đời, nhưng nhà thờ Trần gia ta
bây giờ mới được xây dựng. Gia đình cụ Trần Mỹ Thụy hiện tại rất ít suất đinh,
còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, nên việc hoàn thành ngôi nhà thờ nhỏ này đã
là một cố gắng lớn, một sự kiện đáng mừng.
Nguyên
trước đây, mảnh đất của cụ Trần Mỹ Thụy sinh sống đã hiến cho địa phương xây
Nghĩa trang liệt sĩ xã. Hai anh em cụ Trần Mỹ Vượng và cụ Trần Mỹ Thụy ra mẩu đất
bên sông sinh sống. Sau năm 1960, cụ Trần Mỹ Vượng đi vùng kinh tế mới Yên Thế
(Bắc Giang) rồi về lập nghiệp tại xã Giao Lạc (Giao Thủy, Nam Định). Nay con
cháu cụ đứng đầu là ông Trần Mỹ Hữu trưởng tộc, đã xây lăng mộ các cụ và chọn
nơi thờ cúng ở Giao Lạc. Còn các con cháu cụ Trần Mỹ Thụy vẫn đi về chăm nom
lăng mộ và thờ cúng tổ tiên tại quê hương xã Xuân Trung.
Trước
khi qua đời (2008), cụ Trần Mỹ Thụy di ngôn và các con đã thực hiện nghiêm túc:
Mảnh đất
hương hỏa của hai cụ (khi ấy cụ bà Trần Thị Cháu đã mất 1994) được chia làm hai
phần. Phần phía bắc thừa kế riêng cho con thứ hai cụ là ông Trần Mỹ Đằng. Bốn
người con còn lại (Trần Mỹ Giống, Trần Mỹ Giang, Trần Thị Hà, Trần Quốc Hải) thừa
kế phần đất còn lại (tính từ giọt danh ngôi nhà cấp bốn của cụ hất về phía
nam), giao cho Trưởng nam Trần Mỹ Giống quản lý, làm nơi thờ cúng tổ tiên chung
cho Trần gia.
Anh em
ông Trần Mỹ Giống thực hiện di nguyện của cha như sau:
- Năm
2020 xây lăng tổ tiên bảy chục mét vuông tại nghĩa trang nhân dân xã Xuân
Trung.
- Năm
2022 xây nhà thờ Trần gia. Đến nay công trình
cơ bản đã hoàn thành.
Ban thực
hiện:
- Ông Trần Mỹ
Giống phụ trách chung, vận động thu gom tiền.
- Ông Trần Quốc
Hải tổng chi huy thực hiện, tìm thuê thợ, thiết kế xây dựng.
- Ông Trần Mỹ
Đằng giám sát thi công, trông coi vật tư.
- Ông
Trần Mỹ Trực (họ ngoại - em bà Trần Thị Cháu) giúp đỡ trực tiếp lo điều hành
thi công…
Nhà thờ
Trần Gia nằm trên mảnh đất nhỏ, quay hướng nam, hình cá chép, đầu phía nam,
đuôi phía bắc. Mắt cá là khóm tre lâu năm xanh tốt. Bên trái nhà thờ là con
sông xanh mát quanh co chảy êm đềm. Bên phải nhà thờ là con đường liên xã rộng
7 mét, rải nhựa. Đúng là thế đất tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ.
Nhà thờ
Trần gia làm theo móng nhà cũ của cụ Trần Mỹ Thụy, diện tích 50 mét vuông, tường
gạch đỏ, mái và các chi tiết bằng bê tông, cửa gỗ lim. Trên nóc mái đắp hai con
rồng chầu quay đầu vào bức cuốn thư “Đức Lưu Quang”. Trước sân là hai cột đèn
xây gạch. Hai bên cánh gà đắp tranh rồng phượng, hoa lá. Nội cung chia ba gian.
Gian chính giữa bầy bộ ngai và bàn thờ.
Trong ngai đặt bài vị cụ tổ ghi chữ
Hán, phiên âm là “Trần quý công húy Oánh tự Huệ Văn, Tiền cường cơ lục đội,
Chánh đội trưởng”. Nghĩa nôm na là: Cụ Trần Công Oánh, tên tự là Huệ Văn, giữ
chức Đội trưởng đội quân tiên phong thứ sáu, thuộc quân cơ.
Trên cao là bức đại tự:
奉 先 思 孝
Phụng tiên tư hiếu
Nghĩa
là:
Kính thành thờ phụng tổ tiên, để cháu
con giữ gìn đạo hiếu.
Hai cột hai bên là đôi câu đối:
先 祖 滋 培 仁 德 樹
子 孫 克 绍 孝
慈 心
Phiên âm:
Tiên tổ tư bồi
nhân đức thụ,
Tử tôn khắc
thiệu hiếu từ tâm.
Nghĩa là:
Tiên tổ vun trồng,
cây nhân đức dài lâu trên đất cũ.
Cháu con nối tiếp, lòng hiếu từ còn mãi
với nhân gian.
Tổng
kinh phí xây nhà thờ và các công trình phụ (bếp, vệ sinh, điện, nước, sân, cổng…)
là chín trăm triệu đồng. Hiện con cháu công đức, suất đinh đóng góp được 250
triệu đồng và một chỉ vàng (quy đổi thành khoảng hơn 5 triệu đồng). Cụ thể:
- Cụ Trần
Thị Lan (tức cụ Mạo) một chỉ vàng.
- Bà
Nguyễn Thị Kim Oanh (vợ ông Trần Mỹ Giang) 10 triệu đồng.
- Cháu
Đặng Thị Hà Ngọc (con gái ông bà Hà - Rư) 30 triệu đồng.
- Cháu
Trần Thị Thanh (Con gái ông bà Giống – Khế) 30 triệu đồng.
- Cháu Trần Thị
Trang (Con gái ông bà Hải – Hương) 10 triệu đồng.
- Cháu Trần Thị
Huyền (Con gái ông bà Hải – Hương) 10 triệu đồng.
- Cháu Trần Thị
Ngọc Hiệp (Con gái ông bà Giang - Oanh) 10 triệu đồng.
- Cháu
Trần Mỹ Hưng (Con trai ông bà Giống – Khế) 70 triệu đồng.
- Cháu Trần Ngọc
Minh (Con trai út ông bà Giống – Khế) 60 triệu đồng.
- Cháu Trần
Nguyên Hoàng (Con trai ông bà Giang – Oanh) 30 triệu đồng.
Số còn
lại anh em ông Trần Mỹ Giống, Trần Quốc Hải, Trần Thị Hà tạm ứng ra chi.
Thay mặt
Trần gia, tôi xin chân thành cảm tạ các cụ, các ông bà, anh em, con cháu nhiệt
tình đóng góp sức người, sức của hoàn thành ngôi nhà thờ Trần gia. Chúng tôi
ghi công đức của các vị khởi dựng nhà thờ Trần gia vào gia phả, nếu có thể sẽ lập
bia công đức để con cháu đời đời ghi nhớ.
Xin
chân thành cảm ơn Nhà Hán Nôm học Dương Văn Hòe (con trai nhà nghiên cứu Hán
Nôm Dương Văn Vượng) nhiệt tình tham mưu giúp đỡ Trần gia về lựa chọn thể hiện
phần chữ Hán.
Mong các con cháu Trần gia tiếp tục hướng
tâm đóng góp chăm sóc duy trì và phát triển ngôi nhà thờ Trần gia tồn tại lâu
dài, làm điểm quy tụ đồng tộc, tri ân tiên tổ…
Xuân
2023
Trưởng
nam của cụ Trần Mỹ Thụy
Trần Mỹ Giống
THƠ TRẦN MỸ GIANG - EM TRAI RUỘT TÔI
Chú em tôi là cựu Thượng tá Nhà báo công an nhân dân đã
nghỉ hưu tám năm hiện đang bệnh… Gần đây tự nhiên em tôi có nhu cầu thể hiện
cảm xúc bằng văn vần, thơ. Cũng lạ, từ trước đến nay, bao nhiêu năm làm công
tác chính trị và làm báo, chưa một lần thấy em tôi viết thơ. Vậy mà chỉ từ
tháng 6 đến tháng 8 năm 2020, em tôi đã viết tới gần hai trăm bài thơ, đầy hai
cuốn sổ tay dày… Viết thơ thành nhu cầu mạnh mẽ thể hiện cảm xúc của em tôi.
Ngày nào không viết là em tôi không chịu được, có ngày viết tới năm sáu bài,
bởi “Một ngày không viết cứ chơi vơi”.
Em tôi viết về những sự vật, sự kiện thường ngày và nhớ về
quá khứ. Qua đó bộc lộ cảm xúc dâng trào, tình cảm lắng đọng và mơ ước tương
lai của bản thân. Một cây khoai lang trồng cảnh trên bình nước, một cơn mưa
rào, một ngày nắng nóng, mùa thu, sông Hồng… cũng đều là đối tượng để em tôi
tức cảnh sinh tình. Trong thơ em tôi, hình ảnh một “EM” cứ hiển hiện như một
bóng hồng khi là hoài niệm quá khứ xa xôi, khi là hiện tại, trong đó chắc chắn
bóng hình của thím Oanh - vợ em tôi góp phần rất lớn. Quê hương hiện lên
qua những hình ảnh xuất hiện nhiều lần
như cái cổng duối vòm xanh cõng một loài cây hoa đỏ, con sông quê yên ả chảy
quanh làng, trẻ con hàng ngày tắm hụp nô đùa, sân trường đầy hoa phượng rải
thảm đỏ ôm ấp nuôi dưỡng tuổi thơ… Chẳng hạn, một chiều từ cửa sổ tầng cao
chung cư nhìn xuống:
CẢM HỨNG SÔNG HỒNG
…Ven
sông đồng bãi non xa,
Nương
ngô xanh mướt, lòng ta bồi hồi.
Bóng
ai thấp thoáng bãi bồi
Nụ
cười thôn nữ chơi vơi giữa dòng.
Vẳng
nghe ai hát ven sông
Câu
hò bến cũ đợi mong ai về.
Bóng
cô thôn nữ triền đê
Lối
xưa còn đó em về chiều hôm.
Vẫn
đây chiếc cổng xanh vòm
Hàng
trăm năm ấy vẫn còn tươi xanh.
Em
nhìn ánh mắt long lanh
Cho
ai nỗi nhớ vòm xanh thắm hồng.
Nghìn
năm vẫn chảy sông Hồng
Phù
sa một giải, non sông vững bền!
17 giờ
22.7.2020.
Hoặc
như lần cùng “EM” về thăm quan họ”:
MÙA XUÂN NÀY EM VỀ MIỀN QUAN HỌ
Mùa
xuân này em về miền quan họ
Dòng
sông Cầu nước chảy lơ thơ
Ngồi
tựa mạn thuyền nghe câu hát đợi chờ
Em
sẽ vui nụ cười tươi trong gió
Bóng
em trên con đường quê yên ả
Cánh
đồng lúa xanh trải rộng xa xa
Em
mặc áo tứ thân xinh đẹp thướt tha
Sau
vành nón ba tầm nụ cười em duyên quá
Em
mê say người quan họ hát trao duyên
Mưa
xuân nhè nhẹ má ửng hồng e thẹn
Câu
hát xưa man mác tâm hồn
Chín
đợi mười trông nỗi nhớ trong ngần
Em
nhớ mãi về miền quan họ
Câu
hát trao duyên người níu bước chân
Người
ơi người ở đừng về
Dù
xa quan họ nhớ về hội xuân
14-6-2020
Tôi biết, ngày nay người người làm thơ, nhà nhà chơi thơ,
nước ta như “cường quốc thơ” nên tôi không khoe nhiều về thơ của em tôi. Nhưng
có một điều tôi không thể không nhắc đến. Đó là hình ảnh MẸ trong thơ em tôi cứ
ẩn hiện trong nhiều bài thơ với cảm xúc tình cảm da diết sâu lắng chân thật. Có
thể hình ảnh MẸ của em tôi cũng chính là MẸ của anh em chúng tôi nên cảm xúc
của em tôi cũng đồng điệu cảm xúc của tôi, vì thế tôi rất ấn tượng với các bài
viết về MẸ của em tôi. Xin trích một số bài về MẸ của em tôi:
NHỚ MẸ
Mẹ
xa hai bảy năm rồi
Nhớ
thương những lúc con ngồi lặng im
Lòng
con nghẹn ứ trong tim
Bồi
hồi trong dạ con tìm về quê
Đường
xưa, lối nhỏ còn kia
Tần
ngần trước ngõ, con về nhìn lên.
Vẫn
nhà mái ngói ba gian
Vẳng
nghe tiếng mẹ ru con thủa nào.
Rưng
rưng nước mắt nghẹn ngào
Lời
ru da diết thấm vào tim con.
“Cánh
cò bay lả rập rờn”
Đồng
xa mấy độ lúa non thu về
Nhớ
sao những sáng, chiều quê
Thanh
Nhang, chợ Bể đi về sớm khuya
Long
đong, lận đận nắng mưa
Nuôi
con ăn học, dạy cho nên người.
Trời
cao mẹ vẫn mỉm cười
Bên
con nâng bước đường đời con đi.
Mẹ
là tất cả mẹ ơi
Nghĩa
mẹ cao cả suốt đời con mang.
14.7.2020.
TIẾNG ĐÀN BẦU.
Đàn
bầu thánh thót đêm hè
Cung
trầm da diết nhớ về mẹ tôi
Như
nghe tiếng mẹ ru hời
Gửi
vào nỗi nhớ một thời ấu thơ
Cánh
diều bay bổng ước mơ
Cung
thanh tha thiết lời thơ dâng Người
Rưng
rưng con gọi MẸ ơi!
Nhờ
cơn gió mát chuyển nơi suối vàng
Tiếng
đàn trầm bổng âm vang
Hồn
thơ trong trẻo xốn xang đất trời.
Con
đi những chặng đường đời
Mang
theo câu hát những lời mẹ ru.
5 .2020
LỜI RU
Vẳng
nghe ai hát lời ru
Ru
con, con ngủ mùa thu xanh trời.
Lòng
sao lại thấy bồi hồi
Lời
ru của mẹ một thời ấu thơ.
Lời
ru gọi những giấc mơ
Ngọt
ngào sữa mẹ đến giờ không quên.
Lời
ru nâng bước chân con
Xa
quê luôn gửi tâm hồn về quê
Câu
ca gọi kỷ niệm về
Lời
ru của mẹ thềm hè mênh mang.
Đường
đời con bước xốn xang
Lời
ru của mẹ con mang suốt đời.
7.9.2020.
Em tôi vốn không phải nhà thơ, chỉ là những cảm xúc tình
cảm trong những khoảnh khắc nhất định có nhu cầu được bộc lộ, nên tôi không bàn
thơ hay hay dở. Cái chính tôi cảm nhận được là tình cảm đồng điệu của anh em
tôi về mảnh đất con người quê hương, đặc biệt là về MẸ. Một ai đó từng nói, đại
ý: Khi ngôn ngữ không diễn đạt được thì âm nhạc sẽ lên tiếng. Thật tiếc, tôi
không có khả năng viết nhạc. Vậy xin được mượn ca khúc “Qua đò nhớ mẹ” của Ngọc
Tiến - Ngọc Hạnh có giai điệu và lời ca gần gũi với cảm xúc của anh em tôi để
trải lòng mình.
Chúc em trai nhiều điều may mắn hạnh phúc. Cầu cho em mau
hồi phục sức khỏe, tiếp tục viết những vần thơ trải lòng mình…
Thành Nam, 15-12-2020
BỐ CÓ BẰNG PHÓ THỦ TƯỚNG KHÔNG?
Thằng Tĩn:
- Con đố bố biết tỉnh ta
có mấy Trạng nguyên?
Bố Tĩn vui vẻ:
- Dễ ợt! Có 5 Trạng
nguyên.
Tĩn cười toe:
- Sai toét! Có 6 ông Trạng
mới đúng!
Bố Tĩn:
- Trứng khôn hơn vịt! 5 Trạng
của tỉnh ta là Nguyễn Hiền, Đào Sư Tích, Trần Văn Bảo, Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn
Chiêu. Mày nói xem ông Trạng thứ sáu là ai?
Tĩn vênh mặt:
- Đó là Trạng nguyên Nguyễn
Hiếu!
Bố Tĩn:
- Làm gì có ông Trạng Nguyễn
Hiếu nào? Mày mà giỏi bằng bố à?
Tĩn:
- Thế bố có giỏi bằng ông Phó Thủ
tướng nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục không?
Bố Tĩn lúng túng:
- Ơ... à... Tao chỉ là dân
đen, làm sao dám so với ông Phó thủ tướng.
Tĩn đắc thắng:
- Thì thế, chính ông Phó
Thủ tướng đọc rất rõ ràng trong lời phát biểu tại buổi mít tinh kỷ niệm thành
phố đón nhận quyết định lên loại một như vậy mà!
- !!!
THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ
Nhà thơ họ Đỗ là Hội viên
Hội Nhà văn Việt Nam. Thơ họ Đỗ vào loại khá trong mặt bằng
thơ ở tỉnh. Lão coi nhà thơ họ Đỗ là bậc đàn anh đáng kính nể.
Trước Đại hội nhiệm kỳ,
nhà thơ K và nhà văn Việt Nam P là hai người thân thiết với nhà thơ họ Đỗ bảo
lão:
- Đại hội tới chú nên vận
động cho Đỗ tranh chức chủ tịch hội để nó xốc lại hội. Lãnh đạo hội phải là những
người có đẳng cấp cao…
Lão vâng vâng dạ dạ, nhưng
trong lòng cứ thấy băn khoăn không biết nhà thơ họ Đỗ tuổi đã cao có chịu ra
gánh vác chức vụ không. Nhân có mặt cả ba bậc đàn anh, lão nói với nhà thơ họ Đỗ:
- Nếu bác quyết ra gánh
vác chức chủ tịch hội thì em sẽ bỏ phiếu cho bác, vận động bạn bè em bỏ phiếu
cho bác.
Nhà thơ họ Đỗ giãy nảy như
đỉa phải vôi:
- Chú chỉ xui dại. Anh bảy
mươi rồi, ra mà hót cứt cho chúng nó à?
Nghe nhà thơ họ Đỗ nói vậy,
lão thưa:
- Vâng! Vậy họ đề cử thì tốt
nhất bác xin rút luôn cho an toàn. Kẻo nhỡ để bầu mà trúng thì… mệt lắm!
Khi đại hội bầu ban lãnh đạo,
lão chẳng thấy nhà thơ họ Đỗ rút tên khỏi danh sách đề cử. Nhưng tin là nhà thơ
họ Đỗ nói thật lòng với mình nên lão gạch tên nhà thơ họ Đỗ đầu tiên trong phiếu
bầu. Kết quả nhà thơ họ Đỗ rớt.
Mấy tháng sau, được tin
nhà thơ họ Đỗ nhận chức phó trưởng bộ môn, lão ngạc nhiên: Không thèm làm chủ tịch,
sao lại ra làm tổ phó bộ môn? Lão đem thắc mắc tâm sự với mấy bậc đàn anh. Đàn
anh P bảo:
- Là do các anh cử thằng Đỗ
làm phó bộ môn để nó ra dọn dẹp và làm trụ cột cho bộ môn, không thì bộ môn nát
hết.
Thế rồi nhân tập thơ của
nhà thơ họ Đỗ đoạt giải nhất giải thưởng tỉnh, lão thức suốt một đêm cặm cụi
đánh máy hết tập thơ, soát đi soát lại mấy lần, rồi đăng lên mạng khoe với
thiên hạ. Bạn đọc, bạn thơ đọc tập thơ trên blog của lão đã phát hiện và phanh
phui nhà thơ họ Đỗ đạo thơ. Một bạn thơ cùng bộ môn ký bút danh Minh Thư viết
bài dài trên báo của Thủ đô tố nhà thơ họ Đỗ ăn gian giải thưởng trung ương
trong một cuộc thi thơ bằng bài thơ phạm quy, lại là bài có câu thơ hay nhất
thì đạo của một đồng nghiệp đã quá cố.
Trong mắt lão, hình ảnh thần
tượng của lão bắt đầu nghiêng ngả.
Khi tạp chí Văn Nghệ in
bài của nhà thơ họ Đỗ có nội dung vừa lạc hậu, vừa thiếu cơ sở khoa học, lão ngứa
mắt liền viết bài phản biện. Chẳng hiểu vì lý do gì mà có mấy vị trong lãnh đạo
tìm mọi cách ngăn cản để bài phản biện không được lên trang. Sự việc phải đưa
ra ban thường vụ cơ quan chủ quản tạp chí, kết luận bài phản biện đảm bảo tính
khoa học thuần túy, cần phải đăng. Nhưng qua ba số tạp chí, bài đã lên khuôn lại
bị người có quyền có chức lệnh mồm gỡ xuống. Khi không thể ngăn cản được, phải
lên trang thì người ta biên tập làm mục tiêu phản biện trệch ra ngoài ý định
tác giả. Cùng thời gian này, mấy trang blog của lão bị phá liên tục. Trang FB của
lão bị đóng do “có người báo cáo vi phạm”.
Niềm tin xưa nay của lão
chao đảo. Trong mắt lão, thần tượng nhà thơ họ Đỗ sụp đổ hoàn toàn.
HÃY BỎ PHIẾU BẦU TÔI LÀM CHỦ TỊCH...
(Phiếm)
Thưa các vị hội viên Hội
Văn Gừng.
Khi chưa quan tâm đến việc
làm quan, tôi chẳng nhìn thấy các vị đâu hết, hoặc có nhìn thấy thì chẳng khác
gì nhìn những người bé nhỏ xa lạ như con sâu cái kiến. Nhưng từ mấy năm nay
khát vọng làm quan trong tôi bùng cháy như Hỏa Diệm Sơn, bỗng nhiên tôi nhớ đến
các vị. Lạ thay, hai con mắt tôi trở nên sáng láng, săm soi thấy từng chân tơ kẽ
tóc của các vị. Các vị đừng sợ tôi nắm được gót chân A Sin của các vị nhằm khống
chế các vị, miễn là các vị không chống đối tôi. Một khi các vị đã ủng hộ tôi
thì các vị trở thành Thượng đế của tôi.
Có câu:
“Mua quan bán chức” rất chi là thực tế. Cái này tôi sẽ tự lo liệu, không cần
các vị quan tâm. Tôi chỉ mong các vị đồng cảm với những gì tôi trình bày dưới
đây và bỏ phiếu cho tôi:
Kính thưa các vị hội viên
Hội Văn Gừng - thượng đế của tôi!
Hội ta sắp bước vào kỳ Đại
hội mới để bầu ra một ban lãnh đạo mới. Đối chiếu với tiêu chuẩn lãnh đạo, cụ
thể là chức danh Chủ tịch, tôi thấy mình quá đủ. Và so với một số vị Chủ tịch
tiền nhiệm, tôi không thua kém, nếu không nói là hơn hẳn. Vậy thì lý do gì tôi
lại không thử vận may, ra ứng cử - đấu thầu chức Chủ tịch Hội ta?
Này nhé:
Nói về học vị thì tôi có bằng
Đại học tại chức, tuy còn thua một vài vị Thạc sĩ và Tiến sĩ giấy, nhưng so với
mấy vị lãnh đạo bằng đặc cách, bằng hữu nghị, bằng rởm thì bằng tại chức của
tôi đâu có kém gì. Nhà nước trả lương cán bộ không phân biệt bằng chính quy hay
tại chức. Tất cả các bằng cùng cấp ở mọi hình thức khác nhau đều có chung một
thang lương đấy thôi. Mà dù bằng của tôi là loại tại chức, dù là văn hóa tôi mới
hết cấp hai, còn cấp ba thì học nhảy cóc một năm ba lớp, thì nó vẫn là bằng đại
học. Tôi thách ai chứng minh được bằng tại chức của tôi không phải là bằng đại
học đấy!
Nói về cái Tâm, tôi tự thấy
hơn ai hết tình cảm của tôi với Hội nói chung và chức danh Chủ tịch nói riêng
là vô cùng mãnh liệt. Người có tình cảm sâu đậm như tôi tất yếu sẽ hết lòng vì
lợi ích chung của Hội, trong đó có lợi ích riêng của các vị. Mấy vị lãnh đạo tiền
nhiệm từng sẵn sàng hy sinh lợi ích của các vị để mưu lợi ích cá nhân mình.
Cách xử lý quen thuộc của mấy vị tiền nhiệm thật là hạ sách. Thực tế hạ sách đó
đã gây ra bao nhiêu chuyện thị phi, mất đoàn kết, mất hết tình đồng hội, phá vỡ
sự ổn định của hội. Các vị cứ nhìn lại các giải thưởng của Hội ta thì rõ: Có kỳ
giải nào mà các giải cao nhất không rơi vào tay các vị lãnh đạo không?
Tôi sẽ không dùng hạ sách
như các vị tiền nhiệm, mà dùng thượng sách là hành xử sao cho vừa lợi người vừa
lợi mình. Vì thượng sách này, tôi sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, kể cả lừa bịp xấu
xa, ăn không nói có, làm láo báo cáo hay, lừa trên dối dưới... miễn là tôi và
các vị đều hưởng lợi. Chẳng hạn, các vị có tác phẩm, tôi có quyền hoặc ảnh hưởng
để các vị được giải cao. Lộc bất tận hưởng, các vị được danh, tất nhiên không
quên cho tôi được tiền. Đúng không nào. Như thế chúng ta sẽ tự phát một nhóm lợi
ích gắn bó chặt chẽ với nhau, đảm bảo sự đoàn kết nội bộ không một cá nhân hay
một thế lực nào có thể phá vỡ.
Nói về tài, tôi có hơn chục
đầu sách riêng chung đã ra mắt công chúng, đủ cả thơ, văn, nghiên cứu phê bình,
nhạc, họa, sân khấu, đạo diễn... Dù là sách mỏng dính, dù là sách in vài chục bản
để lấy tài trợ, dù sách chả ma nào thèm đọc, thì nó vẫn là đầu sách. Tình trạng
này bây giờ phổ biến, tôi làm sao thoát ra được quy luật dòng chảy đó? Còn về giải
thưởng? Quá đơn giản. Tôi đã có dăm ba giải thưởng, dù là giải thưởng phải thưởng
ngược hay giải thưởng đi xin, dù là giải thưởng ăn gian, hay giải thưởng phạm
quy, dù là giải thưởng vận động hay giải thưởng tranh cướp được... thì nó cũng
là giải thưởng. Và, nếu cần đánh bóng thêm mình, tôi sẽ trích ra mươi tháng
lương mua thêm vài giải nữa. Số lượng đầu tác phẩm và giải thưởng là tiêu chí
đánh giá cái tài của mỗi hội viên, đúng không nào? Vậy thì với số đầu sách và số
giải thưởng tôi sở hữu, ai dám bảo là tôi kém tài hơn người khác?
Về tuổi tác và sức khỏe:
Bây giờ tôi mới lục tuần, sức khỏe còn phong độ lắm. Nhiều anh lãnh đạo Bộ và Hội
bạn khen tôi trẻ, khỏe, đẹp trai nhất Liên hiệp. Nói về tuổi tác, so với Chủ tịch
Hội Nhà văn Hữu Thỉnh thì tôi chỉ là em út. Nếu lấy Hữu Thỉnh làm gương, thì
tôi có thể giữ chức Chủ tịch Hội ta bốn khóa liền.
Kết luận: Tâm tầm tài đức
tôi đều đủ cả. Các vị thực sự mong muốn góp sức xây dựng Hội, muốn có một minh
chủ thì hãy bỏ phiếu bầu tôi làm Chủ tịch.
Nếu trúng chức Chủ tịch,
tôi sẽ:
- Quan tâm và tìm mọi cách
để chia chác những giải thưởng VHNT của hội cho các vị đã bỏ phiếu bầu cho tôi,
nâng đỡ các vị tình nguyện gia nhập cánh hẩu với tôi. Tạp chí của Hội sẽ trở
thành tạp chí riêng của nhóm lợi ích, đảm bảo số nào các vị cũng có bài đăng,
dù thơ văn các vị đến chó cũng không ngửi được. Tôi sẽ ưu tiên các vị đi du hý
xả láng dưới hình thức giao lưu nghiệp vụ, tập huấn tay nghề, đi trại sáng
tác... bằng tiền chùa của Hội. Tôi sẽ bố trí các vị vào các vị trí phù hợp trong
bộ máy quản lý, lãnh đạo của Hội ta. Đổi lại, các vị hãy ra sức tuyên truyền
đánh bóng Chủ tịch của các vị...
- Các vị từng bị mạng
internet bêu danh, moi móc tố cáo cái xấu xa của mình hãy yên chí lớn đi. Đảm bảo,
tôi sẽ đấu tranh dẹp bỏ bằng được các trang mạng cá nhân dám viết bài nói xấu hội
và các hội viên của Hội ta. Nhà nước ta có những văn bản hạn chế internet, đặc
biệt là có thể bỏ tù những bloggers dám đăng bài chống đối mà chúng gọi là phản
biện. Chúng ta sẽ hùa nhau sáng tác các tội danh của các trang mạng chống đối
mà làm đơn tố cáo với các cơ quan chức năng, để họ có chứng cứ khép tội bọn
bloggers đối lập với chúng ta, xóa bỏ các trang mạng của bọn chúng. Khi dẹp yên
được các trang mạng cá nhân chống đối chúng ta rồi, thì các vị cứ tha hồ mà đạo
văn, tha hồ mà ăn gian giải thưởng, tha hồ khai man lý lịch để cầu lợi, tha hồ
mà tự tung tự tác. Khi những trang mạng đa chiều như trang của Trần Mỹ Giống bị
dẹp yên rồi, thử hỏi còn ai dám sử dụng mạng internet để phê phán chúng ta nữa?
- Tôi sẽ thẳng tay bóp chết
ngay từ trong trứng nước những mưu toan chống lại tôi. Những kẻ chống lại tôi
chính là chống lại chúng ta. Bởi: Tôi mà đổ, thì bổng lộc của các vị cũng chẳng
còn. Tôi còn vững vàng trên ghế Chủ tịch, thì các vị cứ việc kê cao gối mà yên
nghỉ, cứ đều đều hưởng thụ bổng lộc do lợi ích nhóm đem lại. Thế nên: Các vị muốn
lợi ích của mình lâu dài, tất yếu phải bảo vệ Chủ tịch của mình. Chúng ta cùng
cô lập, nói xấu, hạ nhục, tẩy chay, ném phân gio vào nhà bọn chống đối chúng
ta. Chúng ta sáng tác thơ văn đăng báo chí, viết đơn thư nặc danh bôi nhọ bọn
chống đối chúng ta, gửi cho các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương
và gia đình bọn chúng để chúng sống dở chết dở, để chúng không còn sức mà chống
lại chúng ta. Và, phát huy truyền thống quý báu của các vị tiền nhiệm, chúng ta
sẽ thẳng tay đơn phương truy chụp và quyết nghị khai trừ vắng mặt những kẻ cố
tình chống đối chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta giữ gìn được sự đoàn kết chặt chẽ, ổn
định lâu dài.
Có lẽ bằng ấy lý do cũng đủ
để các vị nhận diện rõ ai không xứng đáng và ai xứng đáng mà quyết định không bỏ
phiếu hay bỏ phiếu bầu ai làm Chủ tịch Hội Văn Gừng của chúng ta rồi nhỉ.
Hãy sáng suốt bỏ phiếu bầu
tôi làm chủ tịch các vị nhé!
Cảm ơn các vị.
CƯỠNG CHẾ THẮNG LỢI
Thằng
Tĩn đang chúi mũi vào cái điện thoại bỗng reo lên:
- Hoan hô! Chính quyền đã
dùng bộ đội, công an cưỡng chế dân chống chủ trương nhà nước thắng lợi rồi! Bọn
thù địch đã bị đánh bại, ta chiến thắng vẻ vang, bắt sống 5 người, đánh bị
thương nhiều người khác, đánh nhừ tử hai tên nhà báo VOV, phá tan âm mưu chống
phá nhà nước của bọn thù địch, thu hồi đất cho nhà đầu tư.
Bố trợn mắt:
- “Cưỡng” là chống lại, tỷ
như nói “Cưỡng lời cha mẹ”. Mà đã chống lại cha mẹ thì có hay ho gì. Còn “Chế”
là phép làm ra, định ra, đặt ra, bó buộc, chống lại, tỉ như “Chế ngự” là ngăn
ngừa, bắt phải theo. Vậy “Cưỡng chế” là lấy sức pháp luật mà bó buộc ý chí và
hành vi của nhân dân.
Chính quyền ta là chính
quyền của dân, do dân và vì dân. Bộ đội, công an ta là con em nhân dân có nhiệm
vụ bảo vệ dân, giữ yên cuộc sống của dân. Chính quyền dùng lực lượng bộ đội,
công an để cưỡng chế dân thì làm gì còn ý nghĩa tốt đẹp? Vậy mà mày lại hoan hỉ
là chính quyền cưỡng chế dân thắng lợi! Đến nước này thì tao phải tăng cường
“cưỡng chế” mày thật nghiêm mới được. Nếu không có ngày mày “cưỡng dâm”, “cưỡng
bức”, “cưỡng hiếp” con nhà người ta thì khốn! Mày đúng là thằng ngu lâu khó dạy.
Tĩn ấm ức:
- Vậy ra mấy chú mấy cô
nhà báo và mấy vị quan to chính quyền Hưng Yên cũng ngu lâu như con à bố?
Bố quát:
- Luận điệu của bọn thù địch
đấy! Chớ có nghe bọn nhà báo... hại và những tên thù địch chui cao leo sâu chống
phá ta, làm ta tự diễn biến... Nghe chửa!
- !!!
CHẲNG BIẾT ĐƯỜNG NÀO MÀ LẦN
Chuyện này dân phường tôi
rất nhiều người biết.
1- ÔNG THỨ NHẤT
Một ông đảng viên, hàng
tháng chi bộ sinh hoạt vào chiều ngày mồng 3, thì ngày mồng 2 nào ông cũng
comle caravát, giày đen, mũ phớt rất chi là oách, rồi lên văn phòng Đảng ủy phường
kiến nghị:
- Tôi còn sức khỏe, có
năng lực, mong được cống hiến nhiều cho Đảng, đề nghị Đảng ủy để tôi làm bí thư
chi bộ.
Rồi chiều mồng 3, ông đến sớm một tiếng chờ chi bộ họp.
Người ta gợi ý ép ông làm
đơn xin nghỉ sinh hoạt, nếu không sẽ có thể phải kỷ luật…
2- ÔNG
THỨ HAI
Ông là cựu chiến binh, vợ
là cán bộ nhà nước đương chức. Ông cũng bình thường như bao người khác. Nhưng rồi…
Dịp Đại hội cựu chiến binh phường, ông cùng vợ xin được ủng hộ 40 mâm cơm nhà
hàng liên hoan chào mừng thành công của đại hội. Cuộc liên hoan diễn ra rất vui
vẻ. Hôm sau tự nhiên ông phát điên, lên phường chửi chính quyền, đoàn thể thậm
tệ… Người ta phải dùng vũ lực bắt ông đi viện tâm thần. Ông ra viện với hồ sơ bệnh
án tâm thần. Nhờ hồ sơ này, ông được chính quyền và cơ quan chức năng nhanh
chóng giải quyết cho hưởng chế độ chất độc da cam.
Bây
giờ thì chả thấy ông có biểu hiện gì là tâm thần cả.
LỜI BÀN:
Ông
thứ nhất tâm thần thực sự thì có nguy cơ bị kỷ luật.
Ông thứ hai giả điên để
làm chế độ thì được cơ quan đoàn thể quan tâm giúp đỡ…
Cuộc sống muôn vẻ, thật giả
lẫn lộn, lẫn lộn thật giả, chẳng còn biết đường nào mà lần…
HỎI MÓC, ĐÁP XOÁY
Ông nhà thơ hỏi móc ông
nhà nghiên cứu:
- Ông mang danh là nhà
nghiên cứu, vậy ông có biết xã nào có tới ba Nhà văn Việt Nam không?
Ông nhà nghiên cứu đáp
xoáy:
- Ông là nhà thơ khoác áo
Nhà văn Việt Nam, vậy ông có biết xã nào có ba Nhà văn Việt Nam mà có tới hai vị
từng khai man lý lịch, ăn cắp thơ người khác, ăn gian giải thưởng không?
ĐẶC KHU LÀ
GÌ?
Thằng cháu nội sắp lên lớp
5 hỏi ông:
- Ông ơi! Trên mạng đang
có cơn bão phản đối Quốc hội làm luật Đặc khu… Vậy Đặc khu là cái gì hả ông?
Ông:
- Ừ, cháu thử phân tích từng
từ xem thì rõ ngay mà…
Cháu:
- Vâng ạ. Đặc là đặc biệt
phải không ông?
- Đúng rồi. Đặc chính là đặc
biệt!
- Có phải nhân dân Khu Bốn
gọi cái mông đít là Khu phải không ông?
- Đúng! Dân khu Bốn gọi
cái mông đít là Khu…
- Vậy cháu hiểu rồi: Đặc
Khu là cái MÔNG ĐÍT ĐẶC BIỆT ông nhỉ!
- !!!
NÉT TÍNH CÁCH ÔNG CHỦ TỊCH
Ông chủ tịch:
- Mấy năm nay không thấy
bài của bác trên Tạp chí nhà. Bác phải có trách nhiệm với Tạp chí Hội mình. Bác
gửi bài cho Tạp chí nhé!
- Tôi gửi nhiều bài rồi,
có được đăng bài nào đâu!
- Bác gửi lại cho em ngay
nhé!
Sau khi đọc bài của tôi,
ông Chủ tịch bảo:
- Bài của bác hay thế này
mà Tổng biên tập lại không dùng. Mụ Tổng biên tập này kém quá. Em cầm tay chỉ
việc mà mụ vẫn làm không ra hồn. Em sẽ chỉ đạo Tổng biên tập đăng bài của bác
ngay số này.
Một thời gian sau, Tổng
biên tập đến tận nhà tôi, nói:
- Bác thông cảm, em không
dùng bài của bác vào số này được ạ.
- Tại sao?
- Chủ tịch lệnh cho em loại
bài của bác để đăng bài của một người khác…
***
Nhận được công văn Thông
báo hạn chế blog do vị Phó giám đốc cơ quan chức năng ký, tôi gặp người ký văn
bản chất vấn:
- Blog của tôi quảng bá
tác giả, tác phẩm quê ta. Vậy sai ở chỗ nào mà các vị ngăn cản tôi?
- Đấy là do lãnh đạo Hội của
bác nhiều lần kiến nghị tỉnh dẹp bỏ blog của bác. Chúng em buộc phải làm theo
chỉ đạo của trên. Bác cứ coi việc này nhẹ như lông hồng. Việc chúng em, chúng em
phải làm. Việc bác, bác cứ làm.
Trong cuộc họp bộ môn, tôi
chất vấn Chủ tịch:
- Blog của tôi sai ở chỗ
nào mà lãnh đạo Hội lại kiến nghị tỉnh dẹp bỏ?
Chủ tịch liến láu:
- Blog của bác quảng bá
tác giả tác phẩm của tỉnh rất tốt ạ. Em không hề kiến nghị dẹp bỏ blog của bác.
CHẠY…
CHỨC
Thằng cháu nội ông em ruột
tôi học lớp ba. Một hôm, đi học về nó bảo:
- Ông nội ơi! Ông xem có
khả năng thì cố chạy cho cháu cái chức lớp trưởng với!
Ông nội hỏi:
- Làm lớp trưởng thì chỉ vất
vả, có lợi gì đâu mà chạy.
Cháu:
- Lợi nhiều chứ ông. Làm lớp trưởng được
chỉ huy các bạn, oai phong lắm ông ạ. Nhiều bạn có củ khoai, cái kẹo cũng phải
hối lộ lớp trưởng…
Ông:
- Nhưng lớp trưởng là do các bạn bầu,
ông chạy làm sao được?
Cháu:
- Không đâu, lớp trưởng là do cô giáo
chỉ định ông ạ. Ông có tiền chạy cô cho cháu làm lớp trưởng đi ông!
- !!!
BUÔNG BỎ ĐỂ THANH THẢN
Hiền là một trò ngoan được
thầy rất yêu. Mọi vui buồn trò Hiền thường tâm sự và xin ý kiến thầy. Thầy
thương nên có ý chiều Hiền.
Một hôm Hiền đến thăm thầy,
mặt buồn rười rượi. Thầy hỏi:
- Sao nét mặt con khó coi
thế. Chắc có gì bức xúc phải không?
Trò Hiền thưa:
- Dạ đúng vậy ạ. Ở cơ quan
con, có thằng đồng nghiệp rất tinh quái, chuyên nịnh bợ cấp trên, nói xấu đồng
nghiệp, chơi rất nhiều trò bẩn hại con ạ. Mới đây nó dèm pha tỉ tót với Giám đốc
cơ quan loại con ra khỏi danh sách tiên tiến, không được tăng lương ạ. Con bức
xúc đến mất ăn mất ngủ thầy ạ.
Thầy:
- Buông bỏ là sẽ lấy lại
được thanh thản, con ạ.
- Nhưng mà con căm thằng ấy
lắm. Không trả thù được nó thì con không thể vui được. Thầy giúp con làm cách
nào trả thù được nó?
- Vậy con hãy ra sức tuyên
truyền vận động để nó được vào hàng lãnh đạo quản lý đi.
- Sao lại thế hả thầy? Nó
vừa thất đức, vừa dốt chuyên môn, lại tham lam, sao xứng làm lãnh đạo hả thầy?
- Vì đó là con đường làm
tha hóa nhanh nhất những người
như nó con ạ.
Trò Hiền vâng lời.
*
15 năm sau trò Hiền lại đến thăm thầy. Thầy hỏi:
- Sao nét mặt con khó đăm đăm vậy? Không vui à?
- Vâng ạ! Từ ngày thầy chỉ
giáo, con ra sức viết bài đăng báo, tuyên truyền ca ngợi tài đức của thằng đồng
nghiệp. Khi sát nhập mấy cơ quan, các vị lãnh đạo đấu đá tranh giành chức tước
đều bị loại cả. Thằng đồng nghiệp được chọn làm lãnh đạo cơ quan mới thầy ạ.
Sau mười năm làm lãnh đạo độc đoán chuyên quyền, trù úm người tốt, nâng đỡ cánh
hẩu, ăn chơi sa đọa, biển thủ công quỹ, thằng đồng nghiệp con mới bị công an
xích tay, bị khám nhà và niêm phong tài sản đấy thầy ạ.
- Thế là con trả được thù
rồi, sao con vẫn không vui?
- Vâng, trả được thù, lẽ
ra con phải vui nhưng không hiểu sao con không những không vui mà còn day dứt
trong lòng thầy ạ. Có phải do con tiếp tay để thằng đồng nghiệp nắm quyền lãnh
đạo mà hại bao người tốt, phá cơ quan hả thầy? Tại con mà vợ con thằng đồng
nghiệp khổ sở thầy ơi! Con không biết bây giờ phải làm như thế nào nữa thầy ạ.
- Vậy con hãy buông bỏ để
lấy lại thanh thản đi!
NHÂN
BẢO NHƯ THẦN BẢO
(Giai thoại nhà nghiên cứu
Đỗ Huy Vinh)
Nhà nghiên cứu phê bình Đỗ
Huy Vinh bút danh Huy Vinh là một trong số các hội viên kỳ cựu của Hội Văn học
Nghệ thuật địa phương. Nhà thơ Nam Thắng từng một dạo cắp sách theo học cụ Huy
Vinh về luật thơ và cách làm thơ. Hai người thân thiết như anh em.
Khi cụ Huy Vinh ốm nặng sắp
quy tiên, nhà thơ Nam Thắng đến thăm. Cụ Huy Vinh nắm tay Nam Thắng dặn dò:
- Chú có tài thơ, chắc sau
này chú sẽ thành hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Nếu vào hội, chú phải
ghi nhớ lời anh dặn:
Thứ nhất Trường Quy, thứ
nhì Quốc Ân
Cả hai thằng ấy chớ thân
thằng nào.
Nam Thắng khi ấy chưa biết
gì nhiều về Trường Quy và Quốc Ân, nghe cụ Huy Vinh dặn thế thì vâng vâng dạ dạ,
nhưng trong bụng nghi hoặc: “Cụ sắp quy tiên không còn minh mẫn chăng?” nên
nghe rồi cũng chả để ý đến nữa.
Khi Nam Thắng đã là hội
viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, xảy ra chuyện Trường Quy cho vợ con, côn đồ đến
áp đáo tại gia xỉ nhục trấn áp Nam Thằng vì nghi Nam Thắng tố chuyện tiêu cực của
mình. Chuyện phải đưa ra bộ môn phân xử. Sau này Trường Quy bị cách chức. Còn
Quốc Ân bị khai trừ khỏi hội.
Nhớ lời dặn của thầy Huy
Vinh trước khi quy tiên, Nam Thắng mới giật mình:
- Đúng là nhân bảo như thần
bảo.
CÁI
GIẺ LAU
(Giai thoại nhà văn Trần Quốc Tiến)
Nhà văn Trần Quốc Tiến có
nhiều bài viết trên báo Văn nghệ và một số báo, tạp chí khác về chủ đề chống
tham nhũng rất sắc sảo. Nhân về thăm nhà văn (tại làng Địch Lễ, xã Nam Vân, ngoại
thành Nam Định), tôi hỏi ông:
- Thưa nhà văn Trần Quốc
Tiến, đọc các bài viết chống tham nhũng của ông, tôi rất thích vì nó thường ngắn
gọn mà súc tích. Nhưng hình như ông chưa chú ý lý giải vì sao cái nạn tham
nhũng càng chống lại càng... tham nhũng hơn? Ông có dự định viết về điều này
không?
Trần Quốc Tiến sôi nổi:
- Có chứ! Ông nghe tôi kể
về cái giẻ lau nhé.
Nhà văn Trần Quốc Tiến mời
chúng tôi uống trà, rồi hắng giọng kể câu chuyện tưởng như chẳng ăn nhập gì tới
câu hỏi của chúng tôi:
- Một lần, tôi sai thằng
cháu nội lau cái bàn viết. Nó lau đi lau lại mà cái bàn vẫn không sạch. Nó bảo
tôi: “Ông ơi, cái bàn của ông bẩn quá nên cháu lau mãi mà vẫn không sạch?” Thì
ra cu cậu lau bằng cái giẻ lau bẩn. Tôi liền bảo cháu: “Cháu lau mãi mà bàn vẫn
bẩn, không phải tại cái bàn, mà chính là tại cái giẻ lau của cháu bẩn”. Cháu
tôi hiểu ra, nó liền thay bằng cái giẻ lau sạch, và tất nhiên là cái bàn cũng
được lau sạch.
Tệ tham nhũng làm bẩn xã hội,
cần phải có những cái giẻ sạch để lau đi. Chúng ta chưa ngăn chặn triệt để được
tệ tham nhũng là vì chúng ta còn dùng những cái giẻ lau bẩn. Bốn quan thanh tra
tỉnh Nam Định bị bắt quả tang nhận hối lộ 40 triệu đồng mà gần đây báo chí
phanh phui là những cái giẻ lau bẩn. Còn bao nhiêu cái giẻ lau bẩn hơn mà chúng
ta chưa biết hoặc chưa xử lý đến nơi đến chốn?
Chuyện cái giẻ lau của nhà
văn Trần Quốc Tiến thật giản dị và dễ hiểu. Tôi trầm trồ:
- Chuyện của ông như là
chuyện ngụ ngôn hiện đại ấy. Chống tham nhũng trước hết phải chống bẩn cho những
cái giẻ lau, phải không nhà văn?
Trần Quốc Tiến khẳng định:
- Đúng vậy! Một trong các
biện pháp hàng đầu chống tham nhũng là phải lựa chọn kỹ càng và thường xuyên
làm trong sạch đội ngũ cán bộ thanh tra, những người được nhà nước trao cho trọng
trách làm trong sạch xã hội. Giẻ có sạch thì mới lau sạch được bẩn. Đúng không?
Tôi chỉ còn biết tán đồng:
- Đúng thế!
……………………
-
Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam. – 2005. – Ngày 15 – 9.
NHÂN SỰ KIỆN NGUYỄN HUY THIỆP QUA ĐỜI, MỖ CHỬI PHÁT XẢ STRESS
Sự kiện Nguyễn Huy Thiệp qua đời
vừa mới đây gây ra làn sóng dư luận mạnh mẽ… Ông được đông đảo bạn đọc, bạn văn
và điển hình là điếu văn của Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều ca ngợi
đánh giá rất cao, thậm chí có người còn coi ông ngang với Nam Cao.
Mỗ nghĩ Thiệp sở trường truyện
ngắn. Các truyện ngắn của Thiệp có phong cách, kiểu thật thà thấy sao nói vậy,
thẳng thắn biểu lộ suy nghĩ của mình, giọng kể bỗ bã làm mỗ rất khoái. Đọc
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, cái thẩm mỹ của mỗ được thỏa mãn như gái góa vớ
được trai tơ mà lên cực khoái… Có lẽ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mới và lạ
khác hẳn những truyện ngắn bao nhiêu năm nay mỗ đã chán đọc nên mỗ thích chẳng?
Mỗ chú ý đến tiểu sử Nguyễn Huy
Thiệp, thấy ông sống khổ đến chết, vì nghèo khó, vì mưu sinh, vì con cái, vì bị
đối xử rẻ rúng… Giá như khi còn sống ông được hưởng một phần cái vinh quang sau
khi chết nhỉ!
Còn nhớ thời kỳ mới xuất hiện
hiện tượng cây bút truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với “Tướng về hưu”, “Phẩm
tiết”… Nhiều người đã viết bài xỉ vả, đòi đuổi Thiệp ra khỏi hội nhà văn, đòi
xử lý Thiệp thật nặng. Vậy mà khi Thiệp chết rồi, người ta ca ngợi ông ầm ĩ. Có
những thằng đĩ sĩ từng chửi bới Thiệp thậm tệ bỗng “tỉnh ngộ” quay 180 độ xót
thương ngợi ca Thiệp lên mây. Thậm chí có thằng còn lên ti vi khóc diễn như cha
chết vì thương tiếc tài năng Thiệp, còn trơ trẽn vô liêm xỉ khoe mình là bạn
thân thiết với Thiệp ba bốn chục năm nữa. Hình như đĩ sĩ – chó sĩ này quên khuấy trước đây đã từng viết bài như
dao đâm vào mạng sườn Thiệp nhiều nhát chí tử.
Bố tổ sư lũ đĩ sĩ văn nô, ứng xử
như giở bàn tay, lá mặt lá trái, gió chiều nào che chiều ấy, xu thời cầu danh
cầu lợi.
Xin lỗi các cụ, mong các cụ bỏ
quá cho mỗ chửi phát xả stress ạ. Ô kìa, sao cụ lại bảo mỗ là chửi như Chí Phèo
chửi cả làng Vũ Đại, sao không chỉ thẳng ra là chửi thằng cụ thể nào? Thì mỗ đã
xin lỗi các cụ, mỗ chỉ mượn sự kiện Nguyễn Huy Thiệp làm cớ để chửi đổng xả
stress thôi mà. Tức là mỗ chửi chỉ vì bản thân mỗ, chứ có mục đích hạ nhục cá
nhân nào đâu ạ. Thằng nào bị chửi thì tự nó biết. Mà các cụ cứ cho là mỗ chửi như
anh Chí chửi cả làng Vũ Đại nhưng chừa mình ra ạ!
Chửi một phát, nhẹ cả người!
27-3-2021
Tệ xá 13/398 đường Trường Chinh, tp Nam Định
CHÂN
DUNG ĐỒNG NGHIỆP
-1-
Một
lần, Đồng Nghiệp than vãn với tôi:
- Tôi tuổi Tuất nên suốt đời chỉ làm
con chó giữ nhà cho lãnh đạo thôi ông ạ.
Khi ấy Đồng Nghiệp là phó phòng có
thâm niên. Trưởng phòng nghỉ hưu, người ta lấy một cán bộ thường lên trưởng
phòng. Đồng Nghiệp vẫn ở chức phó phòng cho đến về hưu.
-2-
Chuẩn bị bầu cử hội văn. Đồng Nghiệp
khi ấy trong ban kiểm tra, chép gửi qua người khác cho tôi chứng cứ tham ô của
chủ tịch, để tôi lên trang mạng. Tôi bảo: “Anh là thành viên Ban kiểm tra. Anh
ý kiến người ta mới tin. Tôi công khai, họ truy lại, tôi bảo anh cung cấp nhé!”
Đồng Nghiệp kêu: “Tôi sợ lắm! Đừng nói ra tôi…”
Nhà văn Ngày Mới kiện lãnh đạo hội,
đưa đơn cho ban kiểm tra, Đồng Nghiệp chắp tay vái: “Em sợ lắm! Em không dám nhận
đơn đâu!” Đồng Nghiệp vừa nói vừa bỏ chạy.
-3-
Trong một cuốn sách viết về danh nhân địa
phương, tôi và Đồng Nghiệp đều có bài viết được tuyển in. Đồng Nghiệp dựa vào
chức phó phòng xuất bản của mình, lấy kinh phí của nhà nước, trích bài viết của
mình in thành “sách” mỏng, khổ bé. Đây là cuốn duy nhất Đồng Nghiệp đứng tên một
mình. Đồng Nghiệp đem 50 cuốn nhờ tôi ấn cho cơ quan mua. Thông lệ, các nhà
phát hành đều trả lại “phát hành phí” cho cơ quan tôi từ 20 đến 30 phần trăm.
Tôi vận động lãnh đạo dùng tiền công đoàn trả cho Đồng Nghiệp nguyên giá bìa,
không đòi chiết khấu. Đồng Nghiệp thản nhiên nhận tiền mặt, không nỡ ký tặng
tôi một muốn…
-4-
Lãnh đạo một tạp chí mời tôi làm thành
viên biên tập duyệt chọn bài. Tôi từ chối và giới thiệu Đồng Nghiệp. Đồng Nghiệp
được ký hợp đồng làm thuê cho tạp chí.
Một nhà văn Việt Nam gửi bài cho tạp
chí. Bài đã in mười năm trước ở một tạp chí quốc gia, bị bạn đọc phản biện tơi
bời về thông tin sai lạc, thiếu căn cứ chính xác. Đồng Nghiệp đọc duyệt phê
“Không thể in được”, loại ra. Nhưng sau khi tác giả gặp riêng thì Đồng Nghiệp lại
thay đổi quyết định, phê in được.
Khi tạp chí phát hành, tôi điện cho Tổng
biên tập nói rõ sự lạc hậu và sai sự thật của bài viết. Tổng biên tập trao đổi
lại với tác giả. Tác giả nổi đóa khẳng định có đủ căn cứ chính xác. Tổng biên tập
yêu cầu tôi viết bài phản biện. Tôi đồng ý.
Đồng Nghiệp hai lần đem bản thảo bài
phản biện đến nhà, khuyên tôi viết lại theo dạng thông tin bình thường, không
phản biện thì mới ký duyệt cho tạp chí đăng. Tôi không đồng ý. Đồng Nghiệp đe:
“Nếu anh cố tình đăng bài viết, tôi sẽ là người đầu tiên phản biện lại anh!”
Tôi nóng mặt: “Nếu anh phản biện, tôi rất hoan nghênh!”
Không hiểu bằng cách nào mà người ta
huy động được lãnh đạo tuyên giáo hai tỉnh liên quan, lãnh đạo cơ quan… tìm mọi
cách ngăn chặn bài phản biện của tôi. Qua ba kỳ tạp chí, bài của tôi đã lên
khuôn, lãnh đạo lệnh mồm phải gỡ thay bài khác. Tôi đành đưa bài lên trang cá
nhân trên Facebook. Trang FB của tôi liền bị đánh sập. Tôi kiến nghị với tạp
chí. Một cuộc họp khẩn cấp mời hai tác giả, ban thường vụ, phòng biên tập, phòng
hành chính xem xét vụ việc. Kết quả hội nghị xác định bài phản biện đảm bảo
tính khoa học, quyết nghị phải đăng đúng quy định của nhà nước. Nhưng khi tạp
chí in ra, bài của tôi đã bị biên tập không đúng tinh thần bản thảo. Từ phản biện
tác giả bài báo, biến thành phản biện tác giả của sách mà tác giả bài báo bị phản
biện sử dụng. Tôi chất vấn Tổng biên tập, anh ngạc nhiên không tin. Khi kiểm
tra lại anh mới biết là mình bị người ta lừa…
-5-
Thấy trên FB có trang của Đồng Nghiệp,
tôi gửi yêu cầu kết bạn. Mãi không thấy Đồng Nghiệp oke. Tôi ngỡ Đồng Nghiệp
chưa thạo mạng. Một lần gặp Đồng Nghiệp, tôi hướng dẫn cách kết bạn và nhắc lại
yêu cầu của tôi. Đồng Nghiệp không những không oke kết bạn mà còn chặn trang FB
của tôi. Tôi nói với người bạn thân:
- Đồng nghiệp mà tệ quá!
Bạn thân xì một tiếng:
- Hắn là đồng nghiệp chứ không phải là
bạn của chúng mình!
12 – 2020
BÀI PHÁT BIỂU NGẪU HỨNG TRONG HỘI
THẢO KHOA HỌC “BIÊN SOẠN CUỐN ĐỊA DANH NAM ĐỊNH” CỦA BỘ MÔN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH NAM ĐỊNH NGÀY 21 – 4 – 2023…
RÀO ĐÓN MÀO ĐẦU
Kính thưa các cụ có mặt trong hội thảo
hôm nay. Bài phát biểu của tôi không có ý chê, cũng không khen Ban thực hiện đề
tài. (Đã có sản phẩm “Địa danh Nam Định” đâu mà khen chê!). Tôi chỉ muốn nói một
số suy nghĩ về đề tài này.
SUY NGHĨ VỀ ĐỀ TÀI
* Thứ nhất, tôi bổ
sung một điểm nhỏ trong bản tham luận của Ban thực hiện đề tài, về đặc
điểm làng xã Nam Định. Báo cáo dẫn chứng làng Trà Lũ (quê tôi) có đặc điểm: Nhất
xã tam thôn, nay chia thành ba xã…
Nói như vậy chưa đủ. Có thời Trà Lũ nhất
xã tứ thôn, nhất trại. Hiện nay địa bàn Trà Lũ thuộc bốn xã (chứ không phải
ba). Ngoài ba xã thành lập trên cơ sở ba thôn là Xuân Bắc, Xuân Trung, Xuân
Phương, còn có xã Nam Điền nay thuộc xã Xuân Nam. Nam Điền vốn là trại thuộc
thôn Trà Lũ Trung dành cho gia đình vợ con lính sinh sống. Sau dân đông, trù
phú thì tách ra lập xã riêng (1890).
Một thời gian Trà Lũ có bốn thôn (từ
năm Thành Thái thứ nhất), trong đó thôn Đoài có đặc điểm riêng, tôi coi là đặc
điểm độc đáo. Nó độc đáo ở chỗ, thôn do chính quyền nhà nước thành lập, tức nó
là địa danh hành chính. Nó là địa danh nhưng lại không có địa bàn quản lý. Cư dân
thôn Đoài là dân theo đạo Thiên chúa sống xen kẽ trên địa bàn của các thôn còn
lại (Đông, Bắc, Trung). Nó độc đáo còn ở chỗ: Nó vừa là tổ chức hành chính nhà
nước, vừa là tổ chức tự quản của dân theo đạo Thiên Chúa. Mô hình nhất xã nhị
thôn, tam thôn thì miền Bắc tỉnh nào chả có. Nhưng mấy nơi có thôn giống như
thôn Đoài của Trà Lũ?(1)
Trà
lũ từng là Đại đồn của cuộc khởi nghĩa Phan Ba Vành (1821 – 1827). Trà Lũ cũng
là một trong rất ít địa điểm đầu tiên mà giáo sĩ Thiên Chúa giáo phương Tây đặt
chân đến truyền đạo ở nước ta.(2) Hiện
ở xã Xuân Phương có nhà thờ Phú Nhai to nhất Đông Dương… Như vậy Trà lũ không chỉ là địa
danh hành chính, mà còn là địa danh lịch sử, địa danh văn hóa.
* Thứ hai, về giới hạn đề tài: Tên cuốn sách sẽ
biên soạn là “Địa danh Nam Định” đã hàm ý về giới hạn nội
dung của đề tài. Tất cả các địa danh thuộc Nam Định hoặc liên quan đến
Nam Định đều nằm trong phạm trù của nội dung đề tài này. Có rất nhiều loại địa
danh: Địa danh hành chính, địa danh văn hóa, địa danh lịch sử, địa danh thương
nghiệp, địa danh quân sự, địa danh giao thông, địa danh tự nhiên, địa danh dân
gian v.v… Nhiều địa danh vừa là địa danh hành chính, lại vừa là địa danh lịch sử,
vừa là địa danh văn hóa… Tức là nội dung đề tài rất rộng. Nghiên cứu hết các địa
danh, phân loại địa danh, bố cục và lập các bảng tra địa danh… là việc tốn nhiều
thời gian, sức lực và chất xám. Cứ thực hiện nghiên cứu sưu tầm địa danh trong
giới hạn đề tài cũng đã là việc không đơn giản. Vấn đề địa linh nhân kiệt, nhân
vật tiêu biểu đất học đất văn… nằm ngoài giới hạn nội dung đề tài. Hiện đã có
nhiều tác phẩm chuyên sâu về nhân vật Nam Định như Danh nhân văn hóa Nam Định, Danh nhân Nam Định được giải thưởng Hồ Chí
Minh, Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến… hoặc tác phẩm bao gồm nhiều
nhân vật như Tác giả Hán Nôm Nam Định,
Đông A nhân kiệt, Thư mục nhân vật Nam Định, Danh tướng thời Trần,…?(3)
Trong đề tài Địa danh Nam Định chỉ cần đề cập đến nhân vật nào mà có địa danh
mang tên nhân vật đó, trình bày vào từng mục địa danh cụ thể, không cần đưa
thành một chương riêng.
Cần phải xác định
giới hạn về không gian và thời gian đề tài nữa. Địa danh luôn biến động
thay đổi theo thời gian. Ranh giới địa danh cũng biến động theo lịch sử qua việc
chia tách sát nhập. Nếu không xác định giới hạn đề tài về không gian và thời
gian sẽ không xác định rõ mức độ nghiên cứu đối với địa danh hiện còn trong địa
bàn Nam Định và địa danh đã cắt chuyển về tỉnh khác…
Thực tiễn một số cuốn sách có cùng chủ
đề như các sách Từ điển địa danh chuyên đề, Tên
làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thuộc các tỉnh từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, Từ điển
Địa danh văn hóa lịch sử Việt Nam(4)… cũng chỉ giới hạn nội dung đề tài
là địa danh văn hóa, địa danh hành chính, địa danh Lịch sử hoặc bao gồm hai đến
ba loại địa danh mà thôi.
Tên sách thường bao hàm giới hạn nội
dung. Tên sách vẫn giữ là Địa danh Nam Định thì nên nêu rõ giới hạn nội dung,
không gian và thời gian đề tài trong lời nói đầu. Đặc biệt giới hạn nội dung đề
tài chỉ trong một vài loại địa danh như địa danh hành chính, địa danh văn hóa,
địa danh lịch sử… để giảm bớt phức tạp, tạo thuận lợi cho các tác giả.
* Thứ ba, thực chất Công trình Nghiên cứu Biên soạn
cuốn sách Địa danh Nam Định chỉ là sưu tầm biên soạn. Bởi địa danh là thực tế khách
quan không phụ thuộc chủ quan của ban thực hiện đề tài. Các tài liệu tham khảo
là yếu tố tiên quyết sự thành công của đề tài. Chúng ta buộc phải sưu tầm tư liệu
trong các văn bản của nhà nước, của chính quyền địa phương, các sách, tài liệu
của những người đi trước, trong các chuyến đi điền giã… Tài liệu tham khảo càng
nhiều, càng đầy đủ thì công trình càng có uy tín. Trong phần chủ thuyết cần có
một mục khảo sát đánh giá, tiếp thu kế thừa các tài liệu tham khảo.
* Thứ tư, về văn phong: Đây là cuốn sách thuộc
lĩnh vực địa chí. Văn phong địa chí phải rõ ràng dễ hiểu, ngắn gọn, coi trọng
lượng thông tin. Lượng thông tin phải có cơ sở. Càng trần thuật đúng thực tế
khách quan càng tốt. Không đưa vào sách suy nghĩ chủ quan của tác giả như ca ngợi
đảng chính quyền. Không mô tả dài dòng nhiều lời ít thông tin. Không chấp nhận
hư cấu bịa đặt…
* Thứ năm, trong thực tế mấy chục năm làm công
tác phục vụ bạn đọc về vấn đề địa danh, tôi gặp rất nhiều câu hỏi phải trả lời,
nhưng không có câu hỏi nào có tính chất nghiên cứu, mà đều là những câu hỏi phổ
thông như: Xã A thuộc huyện B xưa, nay ở đâu? Nam Định có thôn B không, nay thuộc
nơi nào? Xã N có bao nhiêu tên gọi qua các thời kỳ lịch sử? Tổng M xưa, nay gồm
địa bàn các xã nào?...
Bạn đọc phổ thông cần những câu trả lời
ngắn gọn, chính xác, đi thẳng vào yêu cầu câu hỏi. Tôi nghĩ cuốn sách Địa danh Nam Định cần chú trọng phục vụ
thiết thực bạn đọc phổ thông, bằng các bảng tra chỉ thẳng tới kết quả tìm kiếm.
Ví dụ: Cuốn Tên làng xã Việt Nam thế kỷ
19 từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, phần dẫn giải chủ thuyết, nghiên cứu chỉ chiếm
một phần, phần bảng tra cứu chiếm bốn phần
số trang của sách…
Để đạt mục đích kinh phí, có thể nêu
nhiều vấn đề trong công trình nghiên cứu để tăng độ dày. Nhưng khi in thành
sách thì cần phải chọn lọc kỹ.
* Cuối cùng, tôi bày tỏ niềm tin anh Hoàng
Dương Chương và Ban thực hiện đề tài nhất định sẽ thành công trong công trình
nghiên cứu này, nhất định sách Địa danh
Nam Định sẽ ra mắt bạn đọc trong tương lai gần.
Cơ sở niềm tin của tôi: Nhiều chục năm tôi và anh
Hoàng Dương Chương cùng công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định. Tôi là Trưởng phòng
Thư mục, Địa chí và Phong trào Thư viện cơ sở. Anh Hoàng Dương Chương là Phó
Giám đốc rồi Giám đốc Thư viện tỉnh Nam Định.
Riêng công tác địa chí có ba vấn đề cơ bản: Nhân vật,
Sự kiện, Địa danh. Tôi chuyên trách về mảng Nhân vật. Phạm Văn Huyên (cán bộ
cùng phòng tôi) chuyên sâu về mảng Sự kiện. Anh Hoàng Dương Chương đặc trách mảng
Địa danh. Dưới sự dẫn dắt của anh Hoàng Dương Chương, tôi và Phạm Văn Huyên đều
đã có sản phẩm được in thành sách. Anh Hoàng Dương Chương từng là đồng tác giả
với Ngô Tiến Vạnh (chủ biên) cuốn Thành
Nam địa danh và giai thoại (Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2012). Anh còn làm chủ đề
tài nghiên cứu cấp tỉnh chủ đề về địa danh đã được nghiệm thu xuất sắc. Đó là đề
tài “Quá
trình thay đổi địa danh hành chính làng xã tỉnh Nam Định thế kỷ 19 – thế kỷ 20”.
Tôi có tham gia nghiên cứu hai huyện Xuân Trường, Giao Thủy góp với đề tài này.
Tôi được biết anh Hoàng Dương Chương đã biên soạn kết quả đề tài thành bản thảo
khá hoàn chỉnh, nhưng có lẽ không có kinh phí nên sách chưa ra đời được. Đến nay,
anh Hoàng Dương Chương lại làm chủ đề tài Biên
soạn cuốn Địa danh Nam Định… Với bộ não hiếm có chứa đựng nhiều thông tin về
mảng Địa danh Nam Định của anh Hoàng Dương Chương, tôi tin tưởng anh nhất định
sẽ thành công là vì lẽ đó.
Tệ xá 13/398 đường Trường Chinh, tp.
Nam Định
Ngày 23-4-2023.
TMG
-------------------
Chú thích:
(1) Xem “Trà Lũ xã
chí” / Lê Văn Nhưng. – Sách chữ Hán. – 1916. – Bản dịch Thư viện tỉnh Nam Định.
- Mục Phân thôn, Phân trại. Xem thêm bản
dịch Trà Lũ xã chí của Đỗ Hữu Trác, nxb Tôn giáo, 2019. - tr. 25 – 27.
(2) Năm 1533 một số
giáo sĩ Công giáo vào truyền đạo ở miền Bắc Việt Nam. Điểm đến đầu tiên của họ
là Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường (đều thuộc Nam Định ngày nay). Xem Trà Lũ xã
chí (Sách đã dẫn), mục Thiên Chúa giáo.
(3) -
Danh nhân văn hóa Nam Định / Nhiều tác giả. – Nam Định: Sở Văn hóa Thông tin
Nam Định, 2000. – T. 1.
-
Danh nhân Nam Định thế kỷ XX được giải thưởng Hồ Chí Minh / Nhiều tác giả. –
Nam Định : Sở Văn hóa Thông tin Nam Định, 2001.
- Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến / Trần Mỹ Giống. – H.:
Quân đội Nhân dân, 2017.
- Tác giả Hán Nôm Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định : Hội Văn học
Nghệ thuật tỉnh Nam Định, 2009.
- Đông A nhân kiệt / Hoàng Dương Chương, Trịnh Thị Nga. – H.: Quân đội
nhân dân, 2010, - In lần thứ 2.
- Thư mục nhân vật Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định : Thư viện tỉnh
Nam Định, 2010.
- Danh tướng thời Trần / Nhiều tác giả. – H.: Thanh niên, 2020.
(4) -
Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thuộc các tỉnh từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra /
Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn (Viện nghiên cứu Hán Nôm). –
Khoa học xã hội, 1981.
- Từ Điển Địa Danh Văn Hóa Lịch Sử
Việt Nam / Nguyễn Như Ý chủ biên. – H.: Giáo Dục, 2013.
v.v…
NHỮNG BÀI TRƯỚC ĐÂY KÝ HAI TÁC
GIẢ HOÀNG DƯƠNG CHƯƠNG VÀ TRẦN MỸ GIỐNG, NAY TRẢ VỀ CHO TÁC GIẢ ĐÍCH THỰC
Tôi và anh Hoàng Dương Chương có nhiều
năm cùng công tác trong Thư viện tỉnh Nam Định. Chúng tôi thường ký tên cả hai
người là đồng tác giả những bài viết in trên báo tạp chí và sách (chủ yếu viết
về nhân vật Nam Định) để làm kỷ niệm một thời công tác cùng nhau.
Nhưng
sau khi nghỉ hưu, anh Hoàng Dương Chương yêu cầu tôi tách riêng tác giả trong
những bài viết đã ký hai tác giả, bài của ai trả về cho người đó, để anh làm
Tuyển tập riêng thuận lợi, tránh rắc
rối như trường hợp ông Đỗ Đình Thọ và ông Trần Quát cùng trong Bộ môn nghiên cứu
phê bình(1).
Nghe anh Hoàng Dương Chương yêu cầu
như vậy tôi đành đồng ý để anh thuận lợi khi làm Tuyển tập riêng. Tôi đã công bố
sự việc trên trang blog của mình.
Nhưng thực tế đến nay vẫn có nhiều bạn đọc thắc mắc tại
sao bài trước ghi hai tác giả, nay chỉ còn một? Có trường hợp người thân của
anh Hoàng Dương Chương đưa bài nhận định không đúng sự thật, buộc tôi phải nhắc
lại sự việc.
Một lẫn nữa, tôi tuyên bố rõ ràng sự việc trong khi
tôi và anh Hoàng Dương Chương còn sống đang cùng sinh hoạt trong Bộ môn Nghiên
cứu phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, tránh rầy rà cho con cháu có
lòng muốn làm tuyển tập của cha ông, khi chúng tôi không còn nữa.
Dưới đây là một
số cuốn sách, bài báo ghi hai tác giả, nhưng sự thật chỉ có một tác giả đích thực:
1- Bản thảo hai cuốn sách ghi tên hai tác giả Hoàng
Dương Chương và Trần Mỹ Giống đã nhận tiền tài trợ của Hội VHNT Nam Định, gửi tặng
nhiều thư viện tỉnh thành. Khi xuất bản đã trả về cho tác giả đích thực là Trần
Mỹ Giống:
- Các nhà khoa bảng
Nam Định thời phong kiến / Trần Mỹ Giống. – Nam Định: Hội Văn học
Nghệ thuật, 2009. (Sách đã được tặng Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh). Năm
2017, Nxb. Quân đội nhân dân đã bao cấp xuất bản phát hành trong hệ thống thư
viện quân đội.
- Tác giả Hán Nôm
Nam Định thế kỷ XI – đầu thế kỷ XX / Trần Mỹ Giống. – Nam Định:
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, 2008.
2- Cuốn “Danh nhân Nam Định thế kỷ XX được tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh” do Sở Văn hóa Thông tin Nam Định xuất bản năm 2001
có ba bài ghi tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả là:
- Nghệ sĩ Vũ Năng
An (tr. 26 – 30)
- Nhạc sĩ Văn Cao
(tr. 52 – 55)
- Kiến trúc sư
Nguyễn Cao Luyện (tr.202 – 206)
Ba bài này in nguyên bản bài của Trần
Mỹ Giống đã từng công bố trước đó. Riêng bài “Nhạc sĩ Văn Cao” anh Hoàng Dương
Chương có viết thêm một đoạn 13 dòng cuối bài, từ “Viết về Văn Cao…” đến hết
bài.
Ba
bài này trả về cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống.
Riêng bài về Văn Cao khi sử dụng tôi sẽ cắt bỏ 13 dòng anh Hoàng Dương Chương
thêm vào.
3- Cuốn “Danh nhân văn hóa Nam Định tập 1” (Sở
văn hóa thông tin Nam Định xuất bản năm 2000)
có 4 bài ký tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả là:
- Trần Tung, vị tướng,
nhà thiền học, nhà thơ (tr. 83 – 93).
- Tiến sĩ Đào Toàn
Bân (tr. 184 – 188).
- Trạng nguyên Đào
Sư Tích (tr. 191 – 202).
- Trạng nguyên Trần
Văn Bảo (1524 – 1610) (tr. 237 – 244)
Bốn bài viết trên đều của Trần Mỹ Giống
được in nguyên bản trong sách. Nay bốn bài này trả về cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống.
4- Cuốn “Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc
Tuấn và quê hương Nam Định”. – H.: Quân đội nhân dân, 2000. – 488 tr. ;
21 cm.
Đây là kỷ yếu Hội thảo khoa học Anh
hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tại
thành phố Nam Định ngày 16 - 9 - 2000.
Trong sách có bài “Trần Quốc Tuấn một con người vì nghĩa lớn”
(tr. 209 – 214) ký tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả. Bài do
Trần Mỹ Giống viết nên nay trả lại cho tác giả đích
thực là Trần Mỹ Giống.
5- Cuốn “Văn hóa Nam Trực
cội nguồn và di sản”. – Nam Định: Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân huyện Nam Trực xuất bản, 2000.
Cuốn sách trên có 3 bài ký tên hai tác
giả là Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống.
Trả
lại cho tác giả Trần Mỹ Giống hai bài là:
- Các vị đại khoa
thời Nho học huyện Nam Trực. Bảng tra các nhà khoa bảng huyện Nam Trực xếp theo
triều đại. (tr.143 – 153).
- Trạng nguyên Trần
Văn Bảo (1524 – 1610) (tr. 181 – 189).
Trả lại cho tác giả Hoàng Chương
Chương bài:
- Tiến sĩ Ngô Thế
Vinh (1803 – 1856) (tr. 190 – 199).
6- Cuốn “Danh tướng thời
Trần”. – H.: Thanh Niên, 2020. Có bài “Nhà
quân sự, nhà ngoại giao, nhà thơ, Thiền sư Trần Tung (1230 – 1291)”
(tr. 59 – 70) ký tên hai tác giả là Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Bài viết
này lấy nguyên văn bài “Trần Tung vị tướng,
nhà thiền học, nhà thơ” của Trần Mỹ Giống (đã in trong Tuyển tập
văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX), biên tập cắt gọt cho ngắn lại. Có lẽ do
ban biên tập cuốn sách nhầm lẫn ghi thêm tên tác giả Hoàng Dương Chương vào bài
của tôi. Chỉ là người biên tập không thể là đồng tác giả được(2).
7- Trong tập kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa
học cấp tỉnh “Hệ thống đặc điểm đội ngũ tác giả Hán Nôm Nam Định
thời phong kiến” (lưu tại Sở Khoa học và Công nghệ Nam Định) có
29 bài ghi đồng tác giả Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Nay những bài đó
được trả về cho tác giả đích thực như sau:
Các bài của tác giả Trần Mỹ Giống:
1- Thiền sư Dương Không Lộ
2- Trần Tung
3- Trần Quốc Tuấn
4- Tiến sĩ Đào Toàn Bân
5- Trạng nguyên Đào Sư Tích
6- Tiến sĩ Phạm Đạo Phú
7- Trạng nguyên Trần Văn Bảo
8- Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường và…
9- Tiến sĩ Phạm Thế Lịch
10- Hoàng giáp Phạm Văn Nghị
11- Bùi Thúc Trinh
12- Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn
13- Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh
14- Phó bảng Lã Xuân Oai
15- Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên
16- Tiến sĩ Đặng Hữu Dương
17- Lê Trọng Hàm
Các bài của tác giả Hoàng Dương Chương:
1- Trần Quang Khải
2- Hoàng đế Trần Minh Tông
3- Tiến sĩ Đặng Phi Hiển
4- Tiến sĩ Vũ Huy Trác(3)
5- Tiến sĩ Ngô Thế Vinh
6- Tiến sĩ Đỗ Tông Phát
7- Phó bảng Đặng Đức Địch
8- Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(4)
9- Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi
10- Tam nguyên Trần Bích San
11- Phó bảng Nguyễn Âu Chuyên
12- Tú tài Trần Tế Xương
8 – Một số bài đăng tạp chí, báo ký tên đồng
tác giả Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Nay trả về cho tác giả đích thực.
Bài của Trần Mỹ Giống:
- Giai thoại về Tiến sĩ Vũ Huy Trác //
Khoa học và công nghệ Nam Định. – 2004. – Số 2. – Tr. 34 – 35.
- Giai thoại về Trạng nguyên Đào Sư Tích // Khoa học
và công nghệ Nam Định. – 2004. – Số 1. – Tr. 24 – 27.
- Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện // Khoa
học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2001. - Số 3. - Tr. 7 -10.
- Phạm Đạo Phú, một ngôi sao sáng trong
hội Tao Đàn // Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr. 26 - 28.
- Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn, một lãnh tụ trong phong
trào Cần Vương chống Pháp // Nam Định. – 2001. – Ngày 10 – 8.
- Tiến sĩ Phạm Đạo Phú một ngôi sao trong Tao Đàn nhị
thập bát tú // Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr.
18 - 20.
- Tiến sĩ Vũ Huy Trác // Văn nhân. –
2000. – Số 31. – Tr. 59 – 60.
- Từ người lính kèn trở thành nghệ sĩ
nhân dân // Nam Định. – 2001. – Ngày 28 – 12.
- Xuân Trình nhà viết kịch tài danh //
Văn hoá Nam Định. – 2001. – Số 2. – Tr. 30
- Xuân Trình nhà viết kịch tài danh //
Văn hoá Nam Định. – 2005. – Số 2. – Tr. 51 – 52.
Bài
của Hoàng Dương Chương:
- Kỷ niệm 125 ngày mất Tam
nguyên Trần Bích San // Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. – 2002. – Số
2. – Tr. 21 – 23.
- Một nhà giáo tài năng tâm
huyết, một danh nhân văn hoá của quê hương // Văn nhân. - 2003. - Số 40 Xuân
quý mùi.
- Nguyễn Thế Rục người chiến sĩ cách mạng
tiền bối, người con của quê hương Nam Định // Nam Định. - 2001. - Số ra ngày 5
- 10.
- Tiến sĩ Đỗ Tông Phát, tác giả Hán Nôm
tiêu biểu của vùng quê Hải Hậu // Khoa học và công nghệ Nam Định. – 2003. – Số
4. – Tr. 37 – 39.
*
Có thể còn một số bài đăng báo tạp chí
khác nhưng tôi không nhớ. Do tình huống bắt buộc nên tôi đành làm phiền mọi người,
mong được lượng thứ.
Thành
Nam, tháng 5 – 2023
…………………..
Chú thích:
(1) Bài viết “Cô đào hát và người tử tù” ký tên hai tác giả Đỗ Đình Thọ và Trần Quát. Sau khi Trần Quát qua đời, Đỗ Đình Thọ tái bản bài viết này chỉ ghi tên Đỗ Đình Thọ với lý do bài viết của riêng ông, trước đây ghi thêm tác giả Trần Quát cho vui thôi. Con cháu Trần Quát kiện lên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Vụ việc ầm ĩ một dạo, để lại dư âm không hay.
(2) Nói thêm cho rõ: Khi Bộ môn NCPB làm cuốn Danh tướng thời Trần, tôi đăng ký viết về Trần Tung, Trần Nguyên Đán, Đào Sư Tích, Trần Quốc Tuấn, Trần Dụ Tông… vì những nhân vật này tôi đã có bài viết in tạp chí và trong sách, nhưng không được Ban biên tập chấp nhận. Họ phân cho tôi viết bốn nhân vật mà tôi lạ hoắc chưa từng nghe tên. Biết mình không đủ tài tô vẽ các nhân vật đó thành “danh tướng” được, nên tôi quyết định không tham gia nữa. Về sau anh Hoàng Dương Chương (trong Ban biên tập) trao đổi với tôi, xin lấy bài “Trạng nguyên Đào Sư Tích” của tôi cắt bớt cho ngắn lại, thay cho bài người được phân công viết không đạt yêu cầu. Bài viết về Trần Tung thì tôi giao cho Ban biên tập bài đã in trong sách “Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX : Nghiên cứu – Lý luận – Phê bình” để họ tùy nghi sử dụng. Còn bài về Trần Nguyên Đán thì Ban biên tập cho rằng ông không phải danh tướng thời Trần (???!!!).
(3) Trần Mỹ Giống cũng có bài Vũ Huy Trác viết riêng đã công bố trên tạp chí và sách trước đó.
(4) Trần Mỹ Giống cũng có bài Đặng Xuân Bảng viết riêng công bố trước đó.
NHỚ
NHÀ THƠ TRẦN GIA THỊNH
Tôi quen biết bác Trần Gia Thịnh từ những
năm bác còn làm Giám đốc Trại gà giống Châu Thành. Chú em rể tôi cũng học ở
Mông Cổ cùng trường với bác Trần Gia Thịnh. Chú về làm Trưởng phòng kỹ thuật
cho bác Thịnh, rồi lên Phó Giám đốc, rồi Giám đốc. Mỗi lần nhà em rể tôi có việc,
tôi thường ngồi tiếp bác Trần Gia Thịnh.
Khi
bác Trần Gia Thịnh có tác phẩm thơ đầu tay, tổ chức giới thiệu tác phẩm và tác
giả tại Thư viện tỉnh Nam Định, tôi trực tiếp lo khâu trang trí, tự tay làm
khung pa nô vải, tự tay cắt chữ dán phông.
Sau
tôi mấy năm, bác Trần Gia Thịnh cũng được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật
Nam Định, bộ môn thơ. Khác bộ môn nên tôi ít có dịp giao thiệp với bác Thịnh.
Tôi chưa một lần đăng thơ bác Thịnh trên blog cá nhân vì nguyên tắc tôi đặt ra
là chỉ đăng khi tác giả tự nguyện yêu cầu, mà khi ấy bác Thịnh thì chưa yêu cầu
tôi đăng thơ của bác. Rồi, nhân tôi giới thiệu một số tác phẩm trong tuyển tập
của bộ môn thơ, chẳng hiểu làm sao mà tự nhiên bạn đọc cứ comments vào blog của
tôi, phê bình thơ bác Thịnh và một số tác giả khác. Khen chê tác phẩm là quyền
của bạn đọc. Tôi không thể tùy tiện xóa các ý kiến của bạn đọc. Một lần nhà thơ
Vũ Ngọc Phác gặp tôi ở nhà họa sĩ Hồ Y, đã trách tôi trước mặt ông bà họa sĩ Hồ
Y:
-
Tại sao ông lại đăng bài chửi bới Trần Gia Thịnh như vậy?
Tôi
vừa ngạc nhiên, vừa bực mình, hỏi:
-
Thế bác đã đọc blog của tôi chưa?
-
Chưa!
-
Chưa sao bác lại kết tội tôi như vậy?
-
Tôi nghe anh em họ nói.
Tôi nối đóa lên, tung ra một bài khai tâm về blog:
-
Blog như trang báo cá nhân, có hai phần: phần do chủ trang đăng lên và chịu
trách nhiệm nội dung bài đăng, phần cho bạn đọc nêu ý kiến của mình. Viết ý kiến
như thế nào là quyền của bạn đọc, trừ khi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức
thì trang chủ mới xóa đi. Có nghĩa là những ý kiến mà bác quy cho tôi chửi bác Trần
Gia Thịnh ấy thực ra không phải của tôi, cũng không phải do tôi đăng lên. Đó là
của các bác đấy, tức bạn đọc đấy. Mà tôi nghĩ bạn đọc chê thơ dở hay khen thơ
hay là quyền của họ. Đâu phải họ chửi bới tác giả như bác nói. Bác cứ phát ngôn
hồ đồ như vậy thì không được đâu!
Thời ấy blog của tôi đang bị một số người đố kị, đến nỗi
Sở Thông tin tỉnh phải ra công văn hạn chế blog của tôi. Tôi truy đến cùng thì
vị có trách nhiệm ở Sở Thông tin nói thật là blog của tôi chẳng sai phạm gì, họ
phải ra công văn gửi tôi là do sức ép của lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật đối với
tỉnh, vậy nên “Bác cứ coi việc này nhẹ như lông hồng. Việc chúng em chúng em phải
làm, còn việc bác bác cứ làm”. Tôi lại về truy chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật
trước hội nghị. Vị này chối bay chối biến, lại còn loen loén khen blog của tôi
tôn vinh tác giả tác phẩm Nam Định rất tốt nữa.
Trong
tình cảnh ấy, tại một cuộc họp bộ môn thơ, bác Trần Gia Thịnh đã phát biểu gần
nửa giờ phê phán blog của tôi nói riêng, phê phán mạng internet nói chung là thứ
độc hại, chẳng có lợi gì, để ủng hộ Chủ tịch Hội. Do tôi chỉ nghe bạn văn nói lại,
chứ không được trực tiếp nghe phát biểu của bác Thịnh, nên tôi lờ đi, không phản
ứng gì. Nhưng từ đấy, tôi không giao tiếp với bác Thịnh như trước nữa. Cho đến
hôm cưới cháu gái con em gái tôi, tôi lại ngồi cùng bác Thịnh và ông cậu tôi là
nhà thơ Trần Hùng Thắng. Ông Thắng dành nhiều thời gian nói về thơ ca, về
internet và blog của tôi, khen blog của tôi được nhiều người mến mộ, trong
ngoài nước nhiều người biết. Ông bảo bác Thịnh cần gửi bài để tôi quảng bá cho
nhiều người đọc. Tôi để ý thấy bác Thịnh gật gù với ông cậu tôi, có vẻ hợp gu với
ông Thắng lắm.
Ít
lâu sau, tôi ngạc nhiên và vui khi nhận được file ca khúc nhạc sĩ Trần Công Thủy
phổ cho thơ Trần Gia Thịnh đề nghị đăng blog của tôi. Tôi lập tức bỏ mọi việc để
lên trang chùm sáu ca khúc phổ thơ của bác Thịnh. Một thời gian sau bác Thịnh
điện thoại cảm ơn tôi đã đăng bài. Bác bảo nhiều bạn bè điện thoại khen ngợi
bác vì họ đọc blog của Trần Mỹ Giống mà biết. Bác hỏi tôi:
-
Hết bao nhiêu tiền đăng bài để tôi chuyển trả cho ông.
Tôi cười:
- Blog của em không mất tiền, không có nhuận bút, cũng
chẳng có thu tiền của ai.
Bác Thịnh cũng
cười, bảo:
-
Bạn tôi đang viết tập hồi ký Trần Gia Thịnh, khi nào xong, nhờ ông đăng lên
blog. Trước mắt, tôi chuẩn bị ra tập thơ mới, ông giới thiệu trên blog giúp tôi
nhé.
-
Vâng!
Nhưng tôi chưa nhận được tài liệu bác Thịnh nhờ đăng
blog thì đã phải lên trang FB thông tin về lễ tang vĩnh biệt bác theo thông lệ
đối với các cộng tác viên blog của mình.
Tôi
nhớ về nhà thơ Trần Gia Thịnh không phải từ những bài cảm nhận khen thơ bác bằng
những lời có cánh (bởi tôi tự tin mình đủ năng lực để thẩm định), mà chính từ
những chuyện vặt đời thường, phần nào phản ánh sự chuyển biến tư tưởng tình cảm
của bác như kể trên.
Giờ
đây nhà thơ Trần Gia Thịnh đã phiêu diêu miền cực lạc, chẳng còn vướng bận bụi
trần.
Nhớ
về bác Thịnh, tôi lấy tuyển thơ cuối cùng của bác để lại cho đời ra miêu tả thư
mục bổ sung vào mục TRẦN GIA THỊNH trong cuốn “THƯ MỤC NHÂN VẬT NAM ĐỊNH” đã xuất
bản, hy vọng có dịp Thư viện tỉnh Nam Định sẽ tái bản:
GIỮA
ĐẤT TRỜI QUÊ HƯƠNG: Thơ tuyển chọn / Trần Gia Thịnh. - 279 tr.: Nhiều ảnh minh
họa ; 21 cm.
02/02/2018
ÔNG TIÊN CỦA BẠN
ĐỌC NHỎ TUỔI
Trong
khi hàng loạt thư viện thiếu nhi độc lập bị giải thể, nhiều phòng đọc thiếu nhi
trong thư viện người lớn bị thu lại vì khó khăn về kinh phí và biên chế, thì ở
huyện Hải Hậu (thuộc tỉnh Nam Định) vẫn tồn tại một Phòng đọc sách thiếu nhi hoạt
động rất hiệu quả.
Là
một thư viện cấp huyện loại lớn, Thư viện Hải Hậu có 25.000 bản sách được chia
làm 4 phòng phục vụ: Phòng mượn, Phòng đọc nghiên cứu và báo chí, Phòng đọc thiếu
nhi, Kho luân chuyển cho các thư viện cơ sở. Từ năm 1990 Thư viện Hải Hậu cũng
như nhiều thư viện khác trong tỉnh gặp khó khăn lớn về biên chế và kinh phí. Về
biên chế, từ 3 cán bộ có trình độ đại học và trung học thư viện, giảm còn 1 cán
bộ chưa có nghiệp vụ thư viện. Với thực tế này, Thư viện Hải Hậu khó mà hoàn
thành tốt khối lượng công việc phục vụ ở trung tâm, chưa kể còn phải chỉ đạo mạng
thư viện và tủ sách cơ sở trong huyện. Kinh phí hoạt động cho thư viện cũng giảm
nhiều. Trước đây, hàng năm Thư viện Hải Hậu bổ sung ít nhất là 1.000 bản sách,
84 loại báo và tạp chí, tổ chức các hội thi tuyên truyền giới thiệu sách thường
xuyên. Nay bổ sung giảm còn 500 bản sách và 30 loại báo tạp chí mỗi năm. Số lượng
bạn đọc thường xuyên từ trên 1.000 giảm còn một nửa. Phòng đọc thiếu nhi không
có cán bộ chuyên trách nên hoạt động cầm chừng và có nguy cơ đóng cửa lâu dài.
Nhu cầu đọc của bạn đọc nhỏ tuổi ở huyện lá cờ đầu về văn hoá thông tin toàn quốc
phát triển mạnh, nay không được thoả mãn trở thành vấn đề bức xúc và là sức ép
đối với cơ quan văn hoá huyện.
Để
tháo gỡ khó khăn trong công tác thư viện, Hải Hậu đã mạnh dạn thực hiện chủ
trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” một cách sáng tạo nhằm duy trì Phòng đọc
sách thiếu nhi, phục vụ thanh thiếu niên trong huyện.
Được
các đồng chí lãnh đạo Phòng Văn hoá Thông tin – Thể thao và Trung tâm Văn hoá -
Thể thao huyện Hải Hậu lựa chọn, động viên, lại vốn ham công tác văn hoá nên
bác Đặng Văn Khảm đã nhận trách nhiệm duy trì Phòng đọc thiếu nhi của huyện.
Sinh năm 1944 và lớn lên tại xóm Đông Biên, xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, trong một
gia đình theo đạo Thiên chúa có truyền thống yêu nước, bác Khảm rất gắn bó với
quê hương và mong muốn làm được nhiều điều tốt đẹp đóng góp vào công cuộc xây dựng
của huyện nhà. Năm 13 tuổi đã mồ côi cha và mẹ, bác Khảm tần tảo nuôi 3 em nhỏ
nên người. Khi Tổ quốc kêu gọi, bác đã động viên hai em trai nhập ngũ, một người
là liệt sĩ. Vợ bác là người sùng đạo, hiền lành và thương chồng con hết mực.
Hai vợ chồng bác hết lòng thương yêu và gây dựng cho các em bác trưởng thành. Từ
thực tế anh em bác đùm bọc yêu thương nhau, được bà con lối xóm thừa nhận là
gia đình văn hoá gương mẫu, tình yêu thương con trẻ trong bác thêm sâu đậm. Bác
tâm sự: “Tôi nhận phụ trách Phòng đọc thiếu nhi vì tôi rất yêu trẻ và thích làm
công tác văn hoá. Nhận công tác này là dịp để tôi thực hiện nguyện ước sống tốt
đời, đẹp đạo”.
Những
ngày đầu mở cửa, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu gặp không ít khó khăn từ dư luận
nhân dân và ý kiến của một số người làm công tác quản lý. Nhiều phụ huynh lo lắng
cho việc học tập của con em mình, sợ chúng ham mê đọc mà sao nhãng học tập. Có
cán bộ quản lý cho rằng việc hợp tác với tư nhân trong công tác thư viện là “trệch”
quan điểm, là sử dụng tài sản công không đúng mục đích. Có người lại không tin
cách làm của Hải Hậu, cho rằng vì mục đích kinh tế mà cá nhân phụ trách sẽ phát
hành sách xấu, độc “đánh” vào thị hiếu lệch lạc của bạn đọc. Theo hợp đồng với
Phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao huyện Hải Hậu, việc xây dựng và duy trì kho
sách Phòng đọc thiếu nhi hoàn toàn do kinh phí của cá nhân bác Khảm. Bác không
phải nộp cho Phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao số tiền thu được từ lệ phí đọc
và cũng không nhận một đồng nào từ kinh phí nhà nước. Phòng Văn hoá Thông tin –
Thể thao quy định cho bác được thu phí đọc từ 100 đến 200 đồng/lượt người đọc.
Làm thế nào để vừa đảm bảo yêu cầu đưa sách tốt tới bạn đọc, vừa thu hút được
nhiều người đọc để có thu nhập đủ duy trì hoạt động là nỗi trăn trở đối với bác
trong nhiều ngày. Sau một thời gian hoạt động, số tiền lệ phí đọc thu được
không đủ bù chi làm cả nhà bác lo lắng.
Trong
28 năm công tác, lần lượt giữ các chức vụ Đội trưởng sản xuất, Trung đội trưởng
dân quân huyện, Phó Chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi xã, Phó Chủ nhiệm hợp tác xã
mua bán Hải Bắc, cán bộ khung xây dựng thị trấn Yên Định, bác Khảm luôn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó. Bác đã được Nhà nước tặng Huân
chương kháng chiến. Câu nói cửa miệng của nhân dân trong xã thời bác công tác
“Đâu khó có ông Khảm” là lời khen mà bác xứng đáng được nhận. Tinh thần không
lùi bước trước khó khăn được vun đắp từ nhiều năm công tác trước đây đã thôi
thúc bác vượt lên trở ngại. Từ khi nghỉ công tác, bác Khảm mở phòng đọc sách tại
nhà, phục vụ nhân dân nơi cư trú và đã thu hút được nhiều người tới đọc. Kinh
nghiệm trong những năm mở phòng đọc tại nhà có ích cho bác nhiều, nhưng vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu công tác hiện nay. Bác tranh thủ đi học hỏi về kinh
nghiệm và nghiệp vụ thư viện ở các thư viện và cơ sở cho thuê sách trong tỉnh để
tìm con đường cho Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu tồn tại và phát triển. Bác chủ động
gây dựng và giúp đỡ nhiều cơ sở cho thuê sách trong và ngoài tỉnh bằng cách
trao đổi kinh nghiệm và bán rẻ cho họ những sách của Phòng đọc sau khi đã sử dụng
khoảng một tháng. Việc này tự phát tạo ra mạng lưới phục vụ bạn đọc trên địa
bàn và là một biện pháp thu hồi vốn để bổ sung sách mới, thoả mãn cao yêu cầu đọc
của thanh thiếu niên. Mỗi tuần hai lần bác đi Nam Định bổ sung từ 500 đến 800 bản
sách. Bác còn tranh thủ mượn luân chuyển sách của Thư viện tỉnh Nam Định để đáp
ứng nhu cầu bạn đọc. Bác đề xuất và được Phòng Văn hoá Thông tin – Thể thao và
trực tiếp là Trung tâm Văn hoá - Thể thao huyện Hải Hậu đồng ý bỏ tất cả các thủ
tục phiền hà cho bạn đọc như phải viết đơn, xác nhận của nhà trường, trình hộ
khẩu, nộp lệ phí và ảnh theo quy định. Khẩu hiệu “Tất cả vì bạn đọc” là phương
châm hành động của Phòng đọc bác phụ trách. Bất kỳ bạn đọc nhỏ tuổi nào trong
và ngoài huyện đều có thể sinh hoạt tại Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu chỉ với điều
kiện là thực hiện đúng quy định nếp sống văn hoá nơi công cộng và trả một khoản
lệ phí nhỏ theo quy định. Trên thực tế, việc trả lệ phí đọc hoàn toàn do bạn đọc
tự giác. Nhiều bạn đọc gặp khi không có tiền nộp lệ phí vẫn được bác phục vụ
nhiệt tình. Những bạn đọc trốn học bị bác phát hiện đều được bác khuyên nhủ ân
cần. Hằng đêm, bác tranh thủ đọc sách mới nhập và biên soạn bài tuyên truyền giới
thiệu sách phục vụ nhiệm vụ của địa phương. Mỗi tuần một lần, bạn đọc lại háo hức
nghe bác Khảm nói chuyện về sách. Khi thì bác kể một câu chuyện hay trong sách,
khi điểm ba, bốn cuốn sách về một chuyên đề, khi giới thiệu sâu về một tác phẩm.
Việc làm thường xuyên này của bác là biện pháp thực hiện tốt chức năng dẫn dắt
việc đọc của thư viện. Nhiều năm qua, phòng đọc do bác phụ trách chưa để lọt
vào một cuốn sách nào thuộc loại “sách cấm” hoặc ấn phẩm độc, hại. Bác còn thuê
một người trông coi xe đạp để bạn đọc yên tâm đọc và đảm bảo trật tự trị an nơi
công cộng. Từ nhiều năm nay, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu liên tục mở cửa phục vụ
từ 7 giờ sáng tới 10 giờ tối.
Sự nhiệt tình, cần cù chịu khó và lòng yêu nghề, hết
lòng vì bạn đọc của bác Khảm đã có tác động rất lớn đến bạn đọc và lôi cuốn được
cả nhà bác cùng tham gia vào hoạt động thư viện. Bạn đọc nhỏ tuổi rất yêu mến
bác và đến thư viện ngày càng đông. Vợ bác tự nguyện làm thủ thư hỗ trợ cho
bác. Con trai bác giúp bác phục vụ tại Phòng báo, tạp chí của Thư viện huyện và
tham gia trông coi khu vui chơi trong sân Thư viện. Điều đáng nói là cả nhà bác
đều làm việc với tất cả lòng yêu trẻ và yêu công tác văn hoá mà không hề có
lương ngoài số tiền lệ phí thu được ở Phòng đọc thiếu nhi theo quy định.
Về
thăm và theo dõi nhiều lần, tôi đã tận mắt thấy sự “nhộn nhịp, sống động” của
Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, thấy những điều mà nếu không tận mắt thì khó mà
tin là thật. Nội dung sách được chọn lọc, đảm bảo chất lượng tốt, có đủ các loại
sách văn học, xã hội chính trị, khoa học kỹ thuật, sách thiếu nhi, sách ngoại
văn. Kho sách thường xuyên có trên 25.000 bản và luôn được đổi mới phù hợp với
yêu cầu đọc và hứng thú đọc của thanh, thiếu niên. Sách báo được trưng bày trong các tủ sách bỏ
ngỏ, trên giá sách treo xung quanh tường để bạn đọc tự do lựa chọn sách cần đọc
một cách thuận lợi. Diện tích phòng đọc gần 50 mét vuông nằm trong trụ sở Thư
viện huyện, khang trang, sạch sẽ. Trong
phòng xếp 60 ghế ngồi mà nhiều khi không đủ chỗ cho bạn đọc. Hàng ngày có từ
300 đến 400 lượt người đến đọc, thứ bảy và chủ nhật có ngày tới 500 lượt người.
Khi tôi hỏi vì sao gia đình bác lại mê một việc làm tốn
nhiều công sức, thời gian mà thu nhập thấp như vậy, bác Khảm trầm giọng trả lời:
“Các con tôi đều là cán bộ nhà nước hoặc đã trưởng thành, kinh tế gia đình vào
loại khá ở địa phương nên vấn đề kinh tế không phải là mục đích cao nhất. Đối với
tôi, được làm việc mà mình thích là niềm vui lớn. Hàng ngày tiếp xúc với trẻ
em, tôi như trẻ lại. Tôi thật sung sướng khi vợ và các con nhiệt tình ủng hộ và
cùng tham gia hoạt động thư viện với tôi. Cả nhà tôi thường tâm niệm: Làm được
nhiều việc tốt cho xã hội là thực sự yêu nước, kính chúa, là hạnh phúc.”
Đánh
giá về Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, ông Cao Phan, nguyên Trưởng thư viện huyện
Hải Hậu, người từng gần 40 năm công tác trong nghề thư viện đã nói: “Cái được
trông thấy của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu là đã thu hút được đông đảo thanh
niên, thiếu niên tham gia hoạt động đọc bổ ích, góp phần làm cho việc đọc trở
thành thói quen tốt đẹp của nhân dân, dù việc thoả mãn nhu cầu đọc phục vụ học
tập còn ít hơn nhu cầu đọc giải trí. Dẫu sao, như thế còn hơn là để các cháu
dùng thời gian rỗi lang thang ngoài phố, la cà trong quán bia rượu, sa vào nghiện
hút và các tệ nạn xã hội khác”.
Nói
về dự định sắp tới, bác Khảm trăn trở: “Tôi không muốn dừng lại ở việc thoả mãn
nhu cầu đọc giải trí, mà phải phấn đấu sao cho thư viện thực sự là trường học
thứ hai của bạn đọc nhỏ tuổi. Tôi đang chú trọng bổ sung mảng sách giáo khoa và
sách tham khảo. Nhưng để phục vụ tốt nhu cầu đọc học tập của các cháu thiếu
nhi, cần phải có diện tích nhà và bàn ghế đủ dùng cho số lượng bạn đọc thường
xuyên đông như hiện nay. Việc này vượt ra ngoài khả năng của gia đình tôi. Tôi
mong được các cơ quan chức năng hỗ trợ.”
Sự trăn trở của bác Khảm thật đúng đắn, đáng quý, đáng
khâm phục. Đúng như bác nói, việc bồi dưỡng thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng, cần
được toàn xã hội quan tâm mới có thể đạt kết quả cao. Bác Khảm thực sự là một
cán bộ thư viện tiên tiến, là tấm gương sáng trong ngành thư viện.
Trong
hoàn cảnh kinh phí và biên chế thư viện còn quá thiếu so với nhu cầu thì Phòng
đọc sách thiếu nhi nhà nước và nhân dân cùng làm ở Hải Hậu là một mô hình mới,
một biểu hiện cụ thể sinh động việc xã hội hoá thư viện, tăng cường đáp ứng nhu
cầu đọc của thanh, thiếu niên, góp phần đẩy lùi tác hại của xuất bản phẩm xấu,
độc.
Hơn
hai chục năm hoạt động liên tục, phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu đã đứng vững và
phát triển không ngừng, được dư luận trong và ngoài tỉnh khen ngợi, chứng tỏ
cách làm của Hải Hậu là đúng đắn. Thành tích của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu
như hiện nay, có sự đóng góp rất lớn của bác Khảm. Bác thực sự là “linh hồn của
Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu”. Tiếng lành đồn xa, hơn một trăm đoàn tham quan của
các ngành, các tỉnh bạn đã đến thăm và rất tâm đắc với cách làm của Hải Hậu.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Nguyễn Khoa Điềm có lần tới thăm đã khen
ngợi Phòng đọc thiếu nhi và khuyến khích cách làm của Hải Hậu. Nguyên Bộ trưởng
đã gọi bác Khảm là “người số một về sách thiếu nhi trong toàn quốc”. Nhiều nhà
báo về tận nơi xem xét và đã viết bài biểu dương Phòng đọc của bác đăng trên
báo Đại đoàn kết (Số 67 ngày 22 – 8 – 2001), Tạp chí Sách (Số 8 năm 2001), Tập
san Thư viện (Số 1 – 2000), Tạp chí văn hoá Nam Định (Số 1 năm 2004)... Với những
cố gắng không mệt mỏi và kết quả công tác của mình, bác Khảm đã được nhận nhiều
Bằng khen và giấy khen về hoạt động thư viện của Bộ Văn hoá Thông tin, của tỉnh
và Sở Văn hoá Thông tin Nam Định. Đó là những phần thưởng quý giá mà bác xứng
đáng được nhận. Nhưng phần thưởng quý nhất đối với bác Khảm là bác được bạn đọc
nhỏ tuổi gọi là “Ông tiên của thiếu nhi”.
………………
Nguồn:
Những người giữ lửa tình yêu với sách. – H.: Văn hóa Dân tộc, 2004. – T.1. –
Tr. 164 - 172
CHÚ
TÔI - ÔNG TRẦN QUỐC SỬ
Quê tôi là làng Trà Lũ Trung nay là
xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông ngoại tôi mất khi tôi chưa
ra đời. Sau khi ông ngoại mất, hai bà tôi bỏ con cái ra đi kiếm sống. Bà cả tái
giá ở làng bên. Bà hai bỏ về quê (Thái Bình). Mẹ tôi có hai em gái đều còn nhỏ
tuổi. Mẹ tôi do bà cả sinh ra, hai dì tôi do bà hai sinh. Ba chị em mẹ tôi được
người chú ruột nuôi dưỡng. Song ông chú lại quá nghèo nên phải để dì út tôi đi
tu, nương nhờ nhà chùa. Sau ngày hòa bình lập lại, dì bỏ chùa về lấy chồng cùng
làng là ông Trần Quốc Sử.
Ông Trần Quốc Sử từng đi lính Cụ Hồ,
là lính Đại đoàn 308 và Trung đoàn Thủ đô, tham gia chiến dịch Điện Biên phủ, rồi
chuyển ngành về Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Dì tôi theo chồng về Gia Lâm sinh sống.
Khi chú rể tôi nghỉ hưu, cả nhà lại về quê làm ruộng. Theo tiếng gọi của Đảng,
dì chú tôi kéo cả nhà đi phát triển kinh tế vùng biển Trí Thiện (nay là xã Giao
Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) cho đến hiện nay. Con cái dì chú tôi đều
trưởng thành và làm ăn phát đạt. Nhiều năm chú tôi làm Trưởng ban văn hóa xã.
Ông có năng khiếu văn nghệ và rất hay làm ca dao, thơ. Do không được đào tạo,
không có bằng cấp học vị gì nên ông làm thơ tự phát, theo kiểu thơ kể việc, thơ
nói tình cảm. Nhà văn nhà thơ thường gọi thơ như của chú tôi là vè, là văn vần,
là thơ nhân dân. Phớt lờ những điều đó, chú tôi say mê làm thơ và trình diễn
thơ mọi lúc, mọi nơi theo yêu cầu của người nghe. Một đám cưới, một đám tang, một
ngôi chùa được khánh thành, một người bạn mừng thọ, một hội nghị, một sự kiện...
chú tôi đều có thơ chia buồn, góp vui hay chúc mừng tùy theo hoàn cảnh.
Nhà thơ Trần Hùng Thắng – em mẹ tôi,
là một nhà thơ bác học. Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội cách đây hơn
năm chục năm. Bạn ông nhiều người làm lớn như ông Thứ trưởng Đặng Hùng Võ. Ông
cậu đã có cả trăm bài thơ được đăng báo, tạp chí và tuyển in trong nhiều sách.
Nay đã gần tám chục tuổi, ông vẫn say mê sáng tác. Vậy nhưng nhuận bút không đủ
cho ông trà nước với bạn bè. Mà năm thì mười họa mới có nhuận bút.
Còn ông chú rể tôi chỉ làm vè, làm
văn vần mà rất nhiều bà con biết tên tuổi ông, còn thuộc thơ ông nữa, lại tín
nhiệm thơ ông. Ông không bao giờ đòi “nhuận bút”, nhưng các gia chủ, các nhà
chùa được ông đọc thơ chúc mừng thì thường phong bao cho ông, mà phong bao lại
gấp năm gấp bảy lần nhuận bút của ông cậu tôi.
Trong tình hình thơ không được mấy ai
quan tâm như hiện nay, vè của ông chú rể tôi lại được bà con thích thú thật
cũng là điều lạ. Dù là vè, là thơ Bút Tre mà đi được vào sinh hoạt tinh thần của
nhân dân cũng là có ích, đáng quý rồi. Như thế chả hơn là thơ của các nhà thơ,
lều thơ, chòi thơ ở nhiều câu lạc bộ, hội này hội nọ, hàng năm tốn bao tiền của
xuất bản hàng nghìn, hàng vạn tập thơ mà trong số đó không ít chỉ để cho tác giả
tự sướng mà chả có ma nào thèm đọc.
Nhân chú rể tôi sang tuổi 90 và 65 tuổi
Đảng, xin chép lại một số bài thơ của ông làm kỷ niệm.
GIỖ TỔ ĐẦU XUÂN
Xuân sang hoa đỏ nhị vàng
Mười
hai giỗ Tổ họ hàng đông vui
Hân hoan xin có đôi lời
Kính
chúc trong họ người người an khang
Thưa trong họ:
Bao năm vấn Tổ tầm Tông
Chín
nhăm tìm được Tổ ông Tổ bà
Thật là đại phúc họ ta
Chính
thức quê nhà là xứ Kính Danh
Theo lời truyền khẩu Tổ mình
Cháu
con tìm đến Kính Danh quê nhà
Đó là tông tích quê ta
Chính
nơi an nghỉ ông bà tổ tiên
Báu vật kỷ niệm thiêng liêng
Tổ
dựng thánh giá ở trên mộ này
Tam hợp vôi cát đã xây
Cốt
bằng tre hóa đến nay vẫn còn
Trải bao tuế nguyệt không mòn
Hoa
văn đường nét vẫn còn y nguyên
Phúc thay con cháu thảo hiền
Tìm
ra tông tích Tổ tiên Đô Ngàn
Một thời cụ đã làm quan
Được
vua ban thưởng kiệu vàng về quê
Cháu con cụ rất đề huề
Chuyển
về Giao Lạc làm nghề canh nông
Thế rồi cụ bỏ Đại Đồng
Cụ
tòng ông Bách một lòng về đây
Các cụ ở dải đất này
Mở
mang đồng ruộng từ ngày xa xưa
Sa Châu đã lập thành bia
Ghi
tên các cụ thiên thu vẫn còn
Đến nay thế hệ cháu con
Tổ
chức cúng giỗ vẹn tròn hiếu trung
Thật là phấn khởi vô cùng
Cháu
chắt họp mặt vui chung một nhà
Thật là đại phúc họ ta
Cháu
chắt họ nhà mạnh khỏe an khang
HỒI TƯỞNG
Người người vui đón xuân sang
Đầu
xuân Tân Mão lại càng mừng vui
Xuân nay tám chục tuổi rồi
Bồi
hồi nhớ lại một thời tuổi xuân
Nghe lời non nước tòng quân
Vượt
bao nguy hiểm khó khăn quản gì
Sẵn sàng có lệnh là đi
Mọi
nơi mọi lúc những khi Đảng cần
Được vào quân đội nhân dân
Tích
cực góp phần giải phóng quê hương
Đánh Pháp ở các chiến trường
Đồng
bằng giải phóng lên đường Điện Biên
Trải qua năm sáu ngày đêm
Quyết
chiến quyết thắng ghi trên sử vàng
Hàng vạn quân giặc ra hàng
Điện
Biên đại thắng tiếng vang hoàn cầu
Hoàn thành nhiệm vụ về sau
Chuyển
về nhà máy sửa tàu hỏa xa
Sáu năm trở lại quê nhà
Chuyển
cư Giao Thiện thật là mừng vui
Tham gia công tác lâu rồi
Văn
hóa, mặt trận, hội người cao niên
Gia đình hạnh phúc ấm êm
Ba
trai ba gái dịu hiền nết na
Ba dâu ba rể hiền hòa
Cháu
nội cháu ngoại ríu ra vui cười
Cháu trai có bảy đứa rồi
Cháu
gái năm người học tập chăm ngoan
Ông bà mạnh khỏe song toàn
Gia
đình đông đủ lại càng yên vui
Xuân nay ông có đôi lời
Chúc
cho con cháu mọi người an khang
Năm mới mạnh khỏe an toàn
Học
tập công tác vẻ vang sáng ngời
Luôn luôn phấn đấu vui tươi
Vạn
sự như ý lộc trời ban cho
Gia đình hạnh phúc ấm no
Ông
bà con cháu cả nhà mừng vui.
MỪNG KHÁNH THÀNH CHÙA VẠN LINH
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Xưa có câu:
Xây chùa tô tượng đúc chuông
Trong
ba việc lớn thập phương cùng làm
Chùa Trà Lũ rất vẻ vang
Ông
Dũng giám đốc Ngân hàng đầu tư
Thưa các vị:
Theo bản di chúc gia đình
Con
về tìm đến Vạn Linh quê nhà
Đó là quê quán của ta
Là
nơi an nghỉ ông bà tổ tiên
Ông Dũng con thảo cháu hiền
Đầu
tư tiền vốn xây lên ngôi chùa
Xi măng gạch sắt đã mua
Thầy
Kim chỉ đạo xây chùa Vạn Linh
Ngôi chùa vừa đẹp vừa xinh
Hậu
nâu tiền thánh dáng hình Á châu
Long li quy phượng đủ màu
Lưỡng
long chầu nguyệt trên lầu thanh cao
Nghiêm trang kính cẩn trông vào
Thật
là tráng lệ biết bao ân tình
Tượng Phật tượng Thánh uy linh
Sơn
son thiếp bạc dáng hình nguy nga
Y môn đại tự trong nhà
Câu
đối chữ Hán thật là nghiêm trang
Ông Dũng có tấm lòng vàng
Đầu
tư tiền vốn vẻ vang cho đời
Đến nay chùa đã xong rồi
Khánh
thành mở hội người người hân hoan
Đại biểu Đảng ủy, ủy ban
Hòa
thượng, Đại đức, dân làng đông vui
Mừng vui xin có đôi lời
Chúc
chùa Trà Lũ đời đời vinh quang
Chúc dân Trà Lũ đàng hoàng
Cuộc
sống hạnh phúc mở mang quê nhà.
MỪNG
NHÀ MỚI EM TRẦN HÙNG THẮNG
Chúc mừng cậu Thắng họ ta
Xây
ngôi nhà mới thật là khang trang
Hai gian nhà ống gọn gàng
Mái
bằng chắc chắn trông càng gọn xinh
Thợ xây cũng rất nhiệt tình
Xây
ngay một đỏ đẹp xinh hài hòa
Ngồi trong nhà mới nhìn ra
Sân
xây, cổng sắt ngõ nhà đẹp thay
Tiện nghi mua sắm đủ đầy
Sa
lon, tủ đứng, bàn quầy, gương trong
Bạn bầu trong họ ngắm trông
Ai
ai cũng tỏ tấm lòng ngợi khen
Ngôi nhà cậu mợ dựng lên
Gọn
gàng chắc chắn vững bền dài lâu
Mừng vui anh có đôi câu
Chúc
cho cậu mợ mạnh giàu an khang
Lời thơ chưa được kỹ càng
Nói
lên tình cảm họ hàng mừng nhau.
Trần Quốc Sử
Nhân đây tôi cũng “xuất khẩu thành...
vè” làm một bài chúc mừng chú tôi theo cách của ông:
MỪNG ÔNG TRẦN QUỐC SỬ
Mừng ông vào tuổi tám hai
Lão
nhi ích tráng, trẻ trai theo cùng
Năm bảy tuổi Đảng thủy trung
Một
thời oanh liệt hào hùng còn đây
Cháu con đông đúc xum vầy
Chúc
ông giai lão vững cây sum cành
Bách niên mà vẫn tuổi xanh
Vần
thơ lai láng tinh anh mãi còn...
ÔNG LỢN
Bà
nhà văn Ngày Mới vừa đi thăm chiến trường xưa về kể:
- Chị khoe chị có bạn
cũng là hội viên Hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 tên là M, thằng
Lợn bảo: “Không có thằng này đâu. Tôi là sĩ quan quân lực, nắm hết danh sách ai
vào ai ra…” Chị bảo: “Bạn tôi có Huân chương chiến công giải phóng, Dũng sĩ Quyết
thắng…” thì hắn dè bửu: “Úi dào! Mua cả đấy! Bây giờ có tiền là mua được hết!” Chị tức lộn ruột…
Năm 2013 chuẩn bị Đại
hội thành lập Hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 cấp tỉnh… Có người
đưa cho tôi một tập thư phản ánh trường hợp ông Lợn tự đánh bóng, nói phét lác
là sĩ quan lãnh đạo chiến đấu trong thành cổ (thực chất ông ta chỉ là hạ sĩ
quan làm trợ lý quân lực tiểu đoàn), đòi mọi người phải bầu ông vào ban lãnh đạo
hội để làm chủ tịch. Tôi không quen biết ông Lợn, lại cho rằng bầu bán phe phái
vận động là chuyện thường, nên không đưa thư bài lên mạng.
Mấy năm sau, dư luận
ồn lên ông Lợn được lên ti vi kể công lao bảo vệ thành cổ. Lại nghe ông ta tự
làm đơn xin nhà nước phong anh hùng. Tôi cùng ông Đặng họa sĩ, ông Trần nghệ
sĩ, cụ Trần nguyên lãnh đạo thành phố đến nhà ông Lợn chơi, xem ông ta là người
thế nào, để thu thập tài liệu viết về gương điển hình. Sau vài lần tiếp xúc với
ông Lợn, cụ Trần nguyên lãnh đạo thành phố nhận xét: “Thằng Lợn kiêu quá, tự phụ,
công thần, phét lác, chẳng coi ai ra gì. Cứ như chỉ có nó là nhất vậy.” Từ đó
chúng tôi không giao lưu với ông Lợn nữa. Ý định viết về gương điển hình của
tôi thất bại.
Ông Lợn nguyên là
trợ lý quân lực cấp tiểu đoàn thì cũng chỉ là hạ sĩ quan, lo tổng hợp báo cáo
giúp tiểu đoàn trưởng về quân số, chứ lãnh đạo chỉ huy cái mẹ gì? Có người biết
rõ về ông ta, bảo ông ta có phải vào thành đánh đấm gì đâu mà bây giờ thánh tướng.
Đại hội chiến sĩ bảo
vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 lần ba cấp thành vừa rồi tôi không thấy ông đâu.
Ban chấp hành báo cáo có hai ông tự thôi sinh hoạt. Không biết ông ta có phải
là một trong số này không?
Tìm hiểu kỹ, biết
tiểu đoàn địa phương (có ông Lợn làm trợ lý quân lực) vào thành cổ một thời
gian rồi rút ra chỉ còn một tiểu đội sống sót. Thường đơn vị chia hai: một vào
thành, một ở ngoài, đổi phiên nhau. Các loại trợ lý bậu xậu của Ban chỉ huy thường
ở hậu cứ. Ông Lợn không phải vào thành trực tiếp chiến đấu là khả năng lớn. Thế
mà bây giờ cứ bốc phét với dân rằng ông ta là sĩ quan cán bộ quân lực nắm danh
sách ai vào thành ai ra thành. Hơn nữa tiểu đoàn chỉ là đơn vị tép rưu, còn nhiều
sư đoàn, trung đoàn trực tiếp giữ thành cổ, nhiều đơn vị khác nữa, mà ông ta
nói cứ như ông là ông giời con, bốc khoác không ngượng mồm.
81 ngày đêm giữ
thành cổ, ta hy sinh hơn một vạn, bình quân mỗi ngày ta mất một đại đội. Cái tiểu
đoàn cứ cho là đủ 4 đại đội thì cũng chỉ ba bốn trăm lính. Thử hỏi nếu chỉ có
tiểu đoàn của ông ta giữ thành thì trụ được mấy ngày?
Phó chủ tịch Hội
toàn quốc chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã nhấn mạnh, đại ý: Một
số người cứ cho rằng chỉ họ trực tiếp chiến đấu trong thành cổ mới là bảo vệ
thành cổ. Thực ra, những người lo hậu cần, súng đạn, cơm ăn, giải quyết thương
binh liệt sĩ (vận tải, quân y…) cho lực lượng trực tiếp chiến đấu trong thành, lực
lượng pháo binh tên lửa, những người chốt trên các vị trí xung quanh cổ thành,
trên phòng tuyến Thạch Hãn đều là chiến sĩ bảo vệ thành cổ…
Đúng như vậy. Hội chiến
sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 hiện nay riêng tỉnh tôi đã có hơn một
nghìn. Nếu chỉ ai trực tiếp chiến đấu trong mảnh đất cổ thành gần 2 km vuông mới
là chiến sĩ bảo vệ thành cổ thì thử hỏi họ trụ được mấy ngày? Giờ còn được mấy
người?
Ông Lợn may mắn sống
sót dù chưa trực tiếp chiến đấu trong thành cổ, trong khi đồng đội vào thành đã
thương vong gần hết, thì ông ta cứ ba hoa bốc phét cũng chẳng chết ai. Nhưng
ông ta công thần tự phụ, coi thường người khác, nói và nghĩ xấu về đồng hội, tự
huyễn hoặc đề cao bản thân thì chẳng đáng để ai tôn trọng nữa.
PHONG ĐỘ... CHÍN MẤY?
Năm 2022, có lần lão hát karaoke ở nhà
hàng Ánh Sao, cô nhân viên phục vụ trẻ đẹp khen:
- Anh hát hay như ca sĩ chuyên nghiệp ấy.
Anh phong độ lắm. Hát cặp với anh, em rất thích. Lần sau anh lại đến nhé. Em sẽ
phục vụ riêng anh thôi...
- Ừa ừa...
Cảm giác lâng lâng, sướng âm ỉ trong
lão còn kéo dài mấy ngày.
Năm 2024, sau nửa năm truyền hóa chất
trị bệnh nan y, hôm nay lão mới dắt xe 82 ra cây xăng gần nhà đổ xăng đi công
việc. Cô gái bán xăng nắc nỏm:
- Ôi giời, cụ còn giữ được cái xe 82
quý quá. Ngày xưa nhà giàu mới dám sắm cái 82 cụ nhỉ.
- Ừa ừa...
- Cho cháu hỏi khí không phải: Cụ chín
mấy rồi mà vẫn còn đi được xe máy? Cụ khỏe thật đấy!
- Ừa ừa...
Lão dắt xe đi, vừa đi vừa lỏm bỏm:
"Cha con mẹ mày. Vô duyên. Bố mày mới bảy sáu mà mày lại bảo chín mấy...
Con sỏ lá mất dạy. Mày mà là cháu con ông thì ông cho mấy roi quắn đít."
QUÀ…
Trên
trang nhóm hội CCB ấy có đăng tin của Chi hội trưởng: Ngày ấy giờ ấy mời các đồng
chí hội viên đến số nhà ấy để nhận quà!
-
Ngày ấy trùng với ngày tôi phải đi khám bệnh định kỳ, không đến nhận quà được rồi.
Ông
bạn cùng hội gần nhà bảo:
-
Ông cứ yên tâm đi điều trị đúng hẹn. Sức khỏe là quan trọng. Tôi sẽ nhận quà hộ
ông.
-
Cảm ơn ông. Nhưng mà ông có biết quà của ai cho, quà gì không?
-
Không. Chỉ biết mập mờ như thông báo trên mạng…
Tuần
sau, ông bạn gọi điện bảo:
-
Tôi đi lĩnh quà rồi. Các vị ấy bảo ai trực tiếp đến mới được nhận. Các vị ấy
không phát cho ông đâu. Thì ra là cái công ty thuốc thổ tả nào ấy, nó đến quảng
cáo thuốc là chính ông ạ. Đây, quà tôi nhận đây. – Ông bạn quay lên mạng hình một
hộp Philatop, một hộp hoạt huyết dưỡng lão.
Bình luận:
-
Quà nhỏ bé giá trị kinh tế không đáng kể. Cái quan trọng là phải thể hiện được
sự quan tâm chân thành từ tấm lòng của người tặng quà đối với đối tượng được tặng
quà. Giá trị tinh thần lớn hay nhỏ, ý nghĩa hay không nó phụ thuộc vào cách ứng
xử của người tặng quà và của người đứng đầu đơn vị được tặng quà. Cụ thể ở đây
quà là thuốc. Thuốc cần cho người yếu bệnh. Người bệnh phải nằm viện lại không
được nhận quà. Hóa ra họ giả vờ tri ân, chẳng qua vì mục đích vụ lợi thôi.
Quà
ấy còn ý nghĩa gì nữa mà cần, mà trân trọng nhỉ!
MỤC LỤC TRUYỆN NHẶT TẬP 2
BÀI HỌC NHỚ ĐỜI 126
BÀI PHÁT BIỂU TRONG
HỘI NGHỊ … 109
BÀI PHÁT BIỂU NGẪU HỨNG 303
BÀI THƠ “BÍ ẨN” 188
BÀI THƠ TRÒ TẶNG THẦY 44
BẠN FB 244
BỐ CÓ BẰNG PHÓ THỦ TƯỚNG? 270
BỚI THƠ CHÊ DỞ 256
BUÔNG BỎ ĐỂ THANH THẢN 289
BỨC TRANH CẦU TRƯỜNG
22
CÁI GIẺ
LAU 294
CHẠY… CHỨC 288
CHẲNG
BIẾT ĐƯỜNG NÀO MÀ LẦN 283
CHÂN DUNG ĐỒNG NGHIỆP 299
CHÚ TÔI – ÔNG TRẦN QUỐC SỬ 332
CHÚC MỪNG! 175
CHÚC MỪNG SINH NHẬT (15-9) DÂU LỚN 157
CHÚC MỪNG SINH NHẬT (2-9) GIAI ÚT 155
CHÚC MỪNG SINH NHẬT (5-10) DÂU ÚT 160
CHUYỆN BẾP NÚC 248
CHUYỆN TÂM LINH 11
CHUYỆN TÔI ĐƯỢC NGƯỜI TA ĐẠO VĂN 25
CÒN DUYÊN 61
CƯỠNG CHẾ THẮNG LỢI 281
ĐẶC
KHU LÀ GÌ? 285
ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ 152
HAI TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU 29
HÃY BỎ PHIẾU BẦU TÔI LÀM CHỦ TỊCH... 275
HỌ TRẦN VỐN GỐC HỌ DƯƠNG? 116
HỌA SĨ HỒ Y (1932 – 2017) 197
HOAN HÔ TỔNG BIÊN TẬP TỪ CHỨC 36
HỎI MÓC, ĐÁP XOÁY 284
KẺ ĐẠO VĂN DƯƠNG MINH NGỌC LÀ AI? 38
KHÁM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG 223
KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ TRẦN GIA 258
KHOÁ HỌC 32 GIỜ RÈN CHỮ ĐẸP 135
KHOẢNH KHẮC BẠN GIÀ GẶP NHAU 42
“LẠI” HAY “CÒN” 50
LÀM KHÓ ÔNG 177
LAN MAN THƠ TRẦN MẠNH HẢO 235
MÁU CA HÁT DI TRUYỀN 53
MÁY BAY CÓ… CHÂN 149
MÌNH HẾT THỜI RÔI! 55
MỘT CUỘC ĐẤU... THƠ 86
MỘT KỶ NIỆM VỚI HOÀNG NGỌC BÍCH 89
MỘT LẦN GẶP TS HOÀNG XUÂN SÍNH 183
MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA 201
“MUỐN VỀ QUÊ MẸ MÀ KHÔNG CÓ ĐÒ” 164
NÉT
TÍNH CÁCH ÔNG CHỦ TỊCH 286
NGÀY
12 - 8 – MỐC THỜI GIAN ĐÁNG NHỚ 162
NGỒI BUỒN XEM ẢNH CŨ… 47
NGƯỜI NAM ĐỊNH VỚI PHAN BỘI CHÂU 3
NHÀ VĂN CHU VĂN (1922 – 1994) 193
NHÀ VĂN TRẦN HUY THUẬN 195
NHÂN BÀ CỤC TRƯỞNG CỤC … 63
NHÂN BẢO NHƯ THẦN BẢO 292
NHÂN “HỘI THẢO THƠ ĐƯỜNG…” 239
NHÂN
SỰ KIỆN NGUYỄN HUY THIỆP 296
NHẬT KÝ ĐI VIỆN 71
“NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ” 229
NHỔ RĂNG KHÔN 91
NHỚ NHÀ THƠ TRẦN GIA THỊNH 320
NHỮNG BÀI GHI HAI TÁC GIẢ…. 311
NỖI NIỀM TẶNG VÀ ĐƯỢC TẶNG SÁCH 217
ÔNG LỢN 339
ÔNG TIÊN CỦA BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI 324
“PHÚC KHẢO”… 186
PHONG ĐỘ… CHÍN MẤY? 243
QUÀ… 343
“SÁI” 245
SỐ PHẬN… BÀI THƠ ... 167
SÓC ĐI SIÊU THỊ 169
SUÝT THÌ… TOI! 251
TÂM THẾ TÁC GIẢ TRONG BÀI “ĐỢI” 207
THĂM NHÀ LƯU NIỆM NAM CAO, BÁ KIẾN 58
THĂM TỦ SÁCH NGUYỄN ĐỨC CƯƠNG 128
THẨM ĐỊNH TÁC PHẨM 180
THẰNG TIỂU NHÂN 253
THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ 272
THI PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC” 211
THƠ TRẦN MỸ GIANG 263
TÌM VỀ THỜI TRẺ THƠ 103
TÌM XUẤT XỨ BỨC THƯ HỌA… 68
TÔI CHỮA ĐAU LƯNG 82
TÔI NHẬN GIẢI LƯƠNG THẾ VINH 171
TRẢ LỜI BẠN VĂN 100
TRÀ LŨ TRUNG YÊU DẤU 141
VĂN HÓA TRONG CÁI BẮT TAY 93
VÀI NÉT VỀ THƯ PHÁP 120
VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ 98
VỀ QUÊ NGÀY KỊ MẸ ĐẺ, DÌ RUỘT 8
VỀ THĂM NHÀ 66

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét