Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

TRUYỆN NHẶT Tập 2 : Tản văn (Bản thảo) / Trần Mỹ Giống

 

TRẦN MỸ GIỐNG

 

 

 


 

 

 

 

 

 

TRUYỆN NHẶT

Tản văn

 

Tập 2

(Bản thảo)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhà xuất bản Hội Nhà văn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   NGƯỜI NAM ĐỊNH VỚI PHAN BỘI CHÂU

 

         

           Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước, bậc anh hùng xả thân vì độc lập, được nhân dân ta tôn sùng, lịch sử ghi nhận. Phan Bội Châu phất cao ngọn cờ Duy Tân với chủ trương vũ trang bạo động và tạo dựng khối đoàn kết toàn dân. Năm 1905, Phan Bội Châu đi Nhật Bản tìm đường cứu nước, khởi xướng phong trào Đông Du, dấy lên một phong trào xuất dương yêu nước mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử lúc bấy giờ, thu hút hàng trăm thanh niên  bất chấp mọi nguy hiểm để qua Nhật, qua Xiêm du học, cùng lo việc đánh Tây.

          Người Nam Định tự hào có hai nhân vật, người phát hiện và tạo điều kiện cho Phan Bội Châu hoạt động yêu nước, người xin chết thay cho Phan Bội Châu sống tiếp tục sự nghiệp vì nước vì dân.

 

NGƯỜI PHÁT HIỆN TÀI NĂNG PHAN BỘI CHÂU

 

          Đó là Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh.

          Khiếu Năng Tĩnh (1835 - 1920) quê xã Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Khiếu Năng Tĩnh rất chăm chỉ học tập và sớm bộc lộ trí thông minh, học giỏi. Khoa Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử nhân. Khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 33(1880) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này ông đỗ Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội). Ông làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội, thăng Quốc tử giám Tế tửu.

          Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh là một học giả uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng, tác gia Hán - Nôm tiêu biểu thời cận đại. Sách địa phương chí của ông hiện còn đến nay là những tài liệu rất có giá trị đối với bạn đọc nói chung và các nhà dân tộc học, nhà địa phương học, nhà nghiên cứu lịch sử  nói riêng, như Đại An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh chí,  Quốc đô cổ kim chí, Thăng Long chư thần ký, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Tiên phả dịch lục...

        Khi làm Chủ khảo Trường thi Nghệ An, ông đã phát hiện tài năng Phan Bội Châu, hết lòng giúp đỡ để Phan Bội Châu đỗ thủ khoa.

          Năm 1898, Phan Bội Châu bị cái án oan "hoài hiệp văn tự" (mang tài liệu vào trường thi) và "chung thân bất đắc ứng thí" (suốt đời không được thi nữa). Ông vào Huế dạy học. Một hôm, trường Quốc tử giám ra cho học sinh một bài phú đầu đề là "Bái thạch vi huynh" (Lạy đá làm anh), Phan Bội Châu không phải là Cử nhân "tọa giám", nhưng cũng làm bài và nhờ người nạp cho Tế tửu Khiếu Năng Tĩnh chấm. Tế tửu Khiếu Năng Tĩnh rất tán thưởng bài phú, quý phục tác giả. Khiếu Năng Tĩnh đứng đầu nhóm văn sĩ đã can thiệp với triều đình xin vua Thành Thái xóa bỏ án cấm thi cho Phan Bội Châu. Đến kỳ thi Hương khoa Canh Tý (1900) Phan Bội Châu được Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh lấy đỗ Giải nguyên đứng riêng một bảng. Cần nói thêm là đang giữa kỳ thi thì Phan Bội Châu ốm phải bỏ thi. Nhờ Khiếu Năng Tĩnh ưu ái chăm sóc và cho thi tiếp mà Phan Bội Châu đạt được danh hiệu Giải nguyên.

          Sự việc đó đã chứng tỏ Khiếu Năng Tĩnh có con mắt tinh đời và tấm lòng ưu ái đối với những tài năng của đất nước. Với danh hiệu Giải nguyên, Phan Bội Châu có thêm uy tín, danh tiếng rất thuận lợi cho hoạt động cứu nước. Các sĩ tử khoa ấy ai nấy đều vui mừng thừa nhận Phan Bội Châu đỗ Thủ khoa là xứng đáng. Phan Bội Châu đã trở thành một yếu nhân của phong trào Đông Du, một chí sĩ yêu nước được nhân dân vô cùng cảm phục cũng một phần có công đóng góp của quan nghè Khiếu Năng Tĩnh.

 

NGƯỜI XIN CHẾT THAY CHO PHAN BỘI CHÂU

 

          Đó là nhà thơ Nguyễn Khách Doanh.

          Nguyễn Khách Doanh còn gọi là Nguyễn Khắc Doanh, hiệu Hải Đàm, thường gọi Tú Khắc, Tú Khách, Tú Doanh.

          Không rõ năm sinh. Chỉ biết ông mất năm 1930.

       Ông quê thôn Đầm, làng Tang Trữ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

        Ông đỗ Tú tài năm 1906. Khoa này ông được vào phúc hạch nhưng vì bài làm có mấy câu văn “láo xược” nên bị đánh rớt xuống Tú tài. Sau ông có đi thi một lần nữa nhưng vẫn không đỗ Cử nhân.

           Ông là người giàu lòng yêu nước, chán ghét thời thế, quyết không ra cộng tác với giặc Pháp. Sau khi đỗ Tú tài ông về sống bình thường ở quê, thường giao du với các bạn nhà nho bất đắc chí, làm thơ đả kích chế độ thực dân.

            Năm 1925 bọn thực dân Pháp bắt cóc cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải đem về nước xử án. Trước đó, năm 1912 thực dân Pháp đã kết án vắng mặt cụ Phan Bội Châu. Nguyễn Khách Doanh đã cưỡi bò đi xem xử án. Giữa công đường, ông tha thiết xin chết thay cho cụ Phan Bội Châu. Ông bị giặc Pháp bắt giam. Sau khi được thả về, ông lại đón xe Toàn quyền Varenne, một lần nữa đòi được tù thay cho cụ Phan Bội Châu. Cùng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân đòi thực dân Pháp phải thả cụ Phan Bội Châu, hành động khảng khái của Nguyễn Khách Doanh góp phần gây sức ép buộc tòa án Pháp kết án cụ Phan Bội Châu tù chung thân, không dám xử tử cụ. Toàn quyền Varenne phải can thiệp để cụ Phan Bội Châu được về an trí tại Bến Ngự - Huế.

            Nguyễn Khách Doanh là một nhà thơ trào phúng nổi tiếng của Nam Định chuyển sang sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Thơ ông đả kích sâu cay bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, được nhân dân hào hứng đón nhận. Ông có tập thơ trào phúng “Chim oanh học nói” đả kích chế độ thực dân cướp nước. Bọn thực dân Pháp phải ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành những sáng tác của ông.

           Hầu hết các sáng tác của ông đã bị chính quyền đô hộ Pháp tịch thu tiêu hủy. Chỉ còn một bài của ông  lưu truyền đến ngày nay. Đó là bài phú nổi tiếng “Thi trường thảm trạng” được in trong một số sách tuyển tập văn học (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. – Nxb. Văn hóa, 1963. – Tập 4 ; Tổng tập văn học Việt nam. Nxb. Khoa học xã hội, 1996. – Tập 21. – Tr. 823 – 825…).

           Chỉ một bài “Thi trường thảm trạng” cũng đủ đưa ông vào hàng các tác giả yêu nước chống Pháp của đất Nam Định văn hiến và của cả nước hồi đầu thế kỷ hai mươi.

…………….

 

- Nguồn: Văn Nhân. – Số 139 (Tháng 9 & 10). – 2021

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          VỀ QUÊ NGÀY KỊ MẸ ĐẺ, DÌ RUỘT

 

 

            Ba ngày về quê 1 – 3/3/2019, tổ chức giỗ Mẹ hôm trước, hôm sau đi giỗ Dì hai. Bọn trẻ Hội Trần gia, mang lễ về cúng bà.  

           Thắp hương tưởng nhớ cậu Mộc (gọi mẹ bằng chị) mới mất sau Tết. 

            Thăm nghĩa trang liệt sĩ xã, có hai liệt sĩ của gia đình. Nghĩa trang đêm điện sáng lung linh. Gặp mẹ con bà Trần Thị Xuân đang chăm sóc cây hoa trong nghĩa trang. Đề nghị được chụp ảnh người có tâm đóng góp tri ân liệt sĩ nổi tiếng của làng, nhưng bà Xuân không đồng ý với lý do “Người em xấu như ma, bác chụp lên làm gì”.

Thôi vậy, bụng nghĩ: Người xấu nhưng tâm sáng lắm, đẹp lắm. 

            Không thấy hai hàng cây cảnh đẹp hai bên đường trung tâm nghĩa trang, thay vào đó là hai hàng cây hoa èo uột, không trổ hoa. Hỏi bà Xuân, bà bảo:

           - Xã họ đánh chuyển hàng cây cũ đi rồi. Họ trồng cây mới còi đẹt không lên được. Em xin trồng hai hàng cây mới nhưng họ chưa cho phép.

          - Tưởng làm đẹp cho nghĩa trang phải khuyến khích chứ sao phải xin phép và chờ đợi nhiêu khê vậy?

          - Không đâu! Em làm bất cứ việc gì cũng phải xin phép UBND rồi chờ họ họp quyết định mới được làm bác ạ.

                   Tự nhiên thấy lòng buồn man mác.

          Ngày bố tôi còn sống, cụ là quản trang nghĩa trang liệt sĩ xã. Hồi ấy hai xã Xuân Trung và Xuân Phương chung nghĩa trang liệt sĩ. Tôi còn nhớ các bác lãnh đạo xã Xuân Phương cấp cho bố tôi hai sào ruộng để cày cấy lấy hoa lợi, coi như trả công trông coi chăm sóc nghĩa trang. Ngày lễ, các bác thăm tặng quà bố tôi rất chu đáo. Bố tôi toàn tâm toàn ý chăm sóc nghĩa trang. Cụ được báo Hà Nam Ninh đăng bài ca ngợi là Người quản trang tiêu biểu. Bây giờ xã Xuân Phương đã di chuyển liệt sĩ của mình về xây dựng nghĩa trang liệt sĩ riêng. Không biết bây giờ ai là quản trang xã Xuân Trung.

          Thắp hương xong, chụp cho vợ hai kiểu kỷ niệm rồi đi ăn giỗ Dì hai.

          Con cháu đông tới gần hai chục mâm. Cậu Trần Hùng Thắng – nhà thơ Hoài Ngọc Anh tức cảnh sinh tình đọc ngẫu hứng bài thơ Nhớ chị (tức Dì hai):

         

          NHỚ CHỊ

 

       Chị ơi!

       Chị đi thoáng đã tròn năm

Để cho con cháu âm thầm tiếc thương

       Nhớ chị em thắp tuần hương

Gửi về bến Giác Tây phương Niết Bàn

       Đời chị vất vả gian nan

Mẹ cha mất sớm trăm ngàn đắng cay

        Oằn vai từ thuở thơ ngây

Chị em nước mắt mưa bay trắng đồng

        Xung phong tải đạn lập công

Lời ca bay bổng nức lòng quân reo

        Đò ngang anh đứt tay chèo

Sông sâu sóng cả thác đèo nuôi con

         Nhìn đàn con cháu lớn khôn

Chị vui trẻ lại sớm hôm thỏa lòng

        Tháng năm công đức chị trồng

Hoa thơm gửi lại nối dòng Lưu gia

        Nhớ ngày chị bỏ đi xa

Anh em con cháu hương hoa nhớ người

        Chị về Tây Trúc cửa trời

Phù cho con cháu vui tươi mạnh giàu

 

                                Em: Trần Hùng Thắng

 

          Nghe cậu tôi đọc thơ, mắt tôi cay cay, trong đầu vang lên lời ca:

          “Mẹ ơi! Con đã già rồi

          Con ngồi nhớ Mẹ khóc như trẻ thơ

          Mẹ ơi! Con đã già rồi

          Con ngồi ngơ ngẩn nhớ ngôi nhà xưa…”

 

        Về quê ngày kị các cụ làm cho tình họ hàng máu mủ thêm gắn kết.

 

 

 

 

 

 

 

          CHUYỆN TÂM LINH

 

 

          Tôi là Đảng viên từ năm 1975, Cử nhân chuyên ngành Văn hóa, nguyên cán bộ Thư viện nghỉ hưu lại kể những chuyện mà người cộng sản cho là mê tín hoang đường.  Nhưng chuyện xảy ra với chính tôi hoặc tôi chứng kiến, làm tôi không thể đứng vững trên lập trường vô thần, thôi thúc tôi phải kể lại. Ai tin thì tin, không tin thì thôi.

          Chuyện không có đầu cuối mạch lạc, không theo thứ tự thời gian.

 

          1 – ĐIỀM BÁO

 

          14 h 30 ngày 17 – 2 - 2013 tức mồng 8 tháng Giêng năm Quý Tỵ, tôi đến thăm nhà thơ Chu Đình An, mở trang blog của tôi theo yêu cầu của nhà thơ. Trang blog của tôi  bình thường như mọi ngày, các bài viết, ảnh minh họa rõ nét. Nhưng tự nhiên tôi thấy tâm trạng bất an, nóng ruột rất lạ. Nghĩ là mình lên cơn huyết áp vì căng thẳng nên tôi vẫn lướt các bài mới đăng cho bác An xem. Khi tôi mở tới bài “Chủ nhân blog Trần Mỹ Giống vừa nhận giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh” thì đột nhiên các tấm ảnh trong bài xô lệch chờm lên nhau, sau đó vài giây thì toàn màn hình bị che mờ không đọc được nữa. Hiện tượng này tôi chưa gặp lần nào. Tôi thoát ra vào lại mấy lần, hiện tượng trên lại diễn ra y như vậy. Tôi bảo bác An:

          - Lạ thật, em chưa gặp tình huống như thế này bao giờ. Cứ như điềm báo gở ấy bác ạ. Thường ngày máy tính của bác có xảy ra tình trạng như thế không?

          Bác An bảo:

          - Không! Máy dùng vẫn tốt cơ mà!

          Đột nhiên vang lên tiếng chuông điện thoại của tôi. Tôi bấm phím nghe. Tiếng vợ tôi gấp gáp:

          - Anh về ngay thu xếp về quê. Chú Đằng vừa gọi điện bảo bà Mạo ngã xuống sông, đang cấp cứu nhưng không có hy vọng.

          Bà Mạo là cô ruột tôi. Tôi chỉ kịp nói với bác An: “Bác tắt máy giúp em. Cô em gặp nạn. Em phải về quê ngay!” rồi chạy vội về nhà.

          Hai vợ chồng tôi vội vã về quê. Vừa mở khóa xe, chưa kịp đề thì chuông điện thoại máy tôi lại reo. Cháu Văn là con chú em tôi báo tin:

          - Bác ơi, bà Mạo mất lúc 15h 15 rồi. Bác về ngay đi...

 

                             ***

 

          Khi lo xong việc cô tôi, tôi gọi điện hỏi bác An:

          - Bác mở máy xem lại bài em mở hôm ấy hiện tượng xô lệch che đen màn hình thế nào rồi.

          Bác An nói luôn:

          - Tôi mở máy vẫn bình thường, hình vẫn đẹp.

          Hồn cô tôi báo điềm gở cho tôi chăng?

 

        2 – TÔI NHÌN THẤY TÔI

 

          Thời ấy chưa có trạm y tế như bây giờ. Nhà nghèo nên ốm đau chẳng có điều kiện lên bệnh viện tỉnh. Năm tôi học lớp 6 bị ốm nặng. Gần tháng trời tôi cứ sốt liên miên, mỗi bữa chỉ húp được mấy thìa cháo loãng. Cô y tá làng kê đơn. U tôi mua thuốc cho tôi uống, mãi mà bệnh không thuyên giảm, càng ngày càng nặng hơn. Đến một ngày tôi tự bay được lơ lửng trên xà nhà, nhìn xuống giường tôi nằm, thấy U tôi khóc gọi bố tôi:

- Ông chọn bộ áo quần nào còn khá thay cho con, nó không qua khỏi được…

Khi bố tôi đang thay quần áo cho tôi thì ông Đằng – người cùng xóm đi làm xa về qua vào chơi. Ông banh mắt, cậy miệng, vén áo tôi lên xem xét. Ông nói với bố tôi:

- Đậu lào đấy, thuốc nào khỏi được. Ông đi mua cho tôi cái lưỡi dao bào.

Tôi lơ lửng ở trên xà nhà nhìn rõ, nghe rõ tất cả.  Ông Đằng cởi áo quần tôi, dùng củ nghệ chà xát khắp lưng và bụng tôi. Tôi nhìn cơ thể mình gầy da bọc xương, ghét bẩn như những ruột bút chì gẫy rơi xuống chiếu theo từng cú chà xát mạnh của ông Đằng. Ông dùng kim khêu thịt tôi lên rồi dùng dao bào cắt đầu thịt tôi trên mũi kim. Khêu hết ở lưng, ông lại lật tôi lại khêu ở ngực. Khi ông khêu đến chỗ lõm dưới họng, tôi cảm thấy đau rát liền kêu lên. Ông Đằng reo:

- Sống rồi! Sống rồi! Bố anh!

          Hôm sau tôi hết sốt, đòi ăn. Một tuần sau tôi đi học.

 

        3 – MẸ CẢ VÀ U TÔI

 

          Năm học lớp 4, tôi đua diều, cầm dây chạy lùi bị ngã gẫy tay. U tôi nhờ cụ lang Cận ở làng bó bột cho tôi. Hơn chục ngày tay tôi sưng húp, ngứa và đau, người sốt hầm hập, đêm đau không ngủ được, rên rỉ cả trong khi thiếp đi. U tôi ngồi bên giường lặng lẽ như cái bóng, xoa cái tay đau cho tôi từ nửa đêm đến gần sáng. Bàn tay U tôi mát lạnh làm dịu sự đau đớn của tôi rất nhiều. Mấy đêm liền U tôi thức xoa tay cho tôi như thế, cho đến khi tôi cắt cơn sốt, tay không đau nhiều nữa U tôi mới thôi.

          Một buổi sáng khi tôi tỉnh dậy, U tôi hỏi:

          - Con còn đau lắm không?

          Tôi bảo:

          - Không ạ! Đêm U xoa tay cho con, tay U lạnh làm con không thấy đau nữa.

          Nghe tôi nói thế, U tôi quay ra nói nhỏ với bố tôi:

          - Bà mẹ già lại về đấy ông ạ!

          Thì ra không phải U tôi thức xoa tay cho tôi. Số là bố tôi hai vợ. Bà cả là bà Trần Thị Tý, mất khi tôi chưa được sinh ra. Bà hai là U tôi. Nghe bố U tôi nói bà cả thiêng lắm. U tôi thường gọi bà là Mẹ già. Khi bố tôi lấy U tôi, đêm đêm bà cả thường về ngồi cuối giường bố U tôi. Nhiều lần tôi chứng kiến bố tôi ngủ mơ, co chân đạp mạnh vào thành giường. Bố tôi bảo mơ thấy bà cả về, bố tôi đạp đuổi bà đi.

                             ***

          Một lần tôi hư, bị bố đánh đòn. Bố tôi cầm roi đuổi đánh tôi. Tôi chạy quanh bàn giữa nhà. Bỗng dưng U tôi thét lạc giọng:

          - Ối! Con rắn, con rắn!

          Hai bố con tôi cùng quay lại sau, đều thấy rõ con rắn đuổi theo bố tôi. Hai bố con tôi nhảy lên bàn. Khi U tôi khêu to đèn hoa kỳ soi tìm thì không thấy con rắn đâu cả. U tôi lẩm bẩm: “Mẹ già đấy! Mẹ già đấy!”

                             ***

          Có lần U tôi đánh đòn tôi. Bỗng nhiên U tôi cứng người, hai tay ở tư thế như người bị trói, không còn đánh được tôi nữa. Có lần U tôi đánh tôi xong thì tự nhiên U cứ tự tát vào mặt mình, miệng nói giọng khác thường: “Tao phạt vì dám đánh thằng cả này!” Sau mỗi câu nói, U tôi lại tự tát vào mặt hoặc tự đấm ngực bình bịch. Những lúc như thế, cô tôi và các dì tôi xúm vào khấn vái van xin Mẹ già. U tôi bảo đốt cho U một nắm hương. U đưa nắm hương đang cháy bùng bùng vào miệng. Sau đó U tôi mới ngã vật ra sau. Khi tỉnh lại U không nhớ chuyện gì vừa xảy ra. Từ đó về sau U tôi không còn dám đánh đòn tôi nữa.

                             ***

          U tôi có tính đồng bóng. U thường đi hầu bóng ở chùa đền. Năm nào U cũng đi chùa Hương, đền Trần, đền Bảo Lộc. Thỉnh thoảng U lên đồng ở nhà. Dì tôi bảo là Mẹ già nhập vào U tôi. U tôi đốt một nắm hương to, nhảy múa uyển chuyển trước ban thờ Mẹ già, uống rượu, cắn cả nắm hương cháy vào miệng. Mỗi lần U lên đồng, các bà bạn đi chợ của U và hàng xóm xúm lại kêu cầu, xin Mẹ già phù hộ.

          Cậu Hòa tôi thời ấy là du kích từng tham gia phá chùa miếu, bài trừ mê tín dị đoan. Khi U tôi lên đồng, cậu báng bổ: “Mê tín, bịa ra ma quỷ, có giỏi thì về phạt tôi đi”. U tôi đang lên đồng, quắc mắt nhìn cậu: “Về bên nhà ngay không lại không kịp.” Cậu tôi vừa về đến nhà thì bụng đau dữ dội, lăn lộn trên giường xuống đất. Mợ tôi biết chuyện vội thắp hương kêu cầu Mẹ già tha cho cậu. U tôi liền cầm chén rượu và lá giầu không sang nhà cậu. U nhai giầu lẫn rượu, nhổ nước bôi vào rốn cậu tôi. Lạ thay, cậu tôi đột ngột hết đau. Từ đó cậu không dám báng bổ thần thánh nữa.

                             ***

          Hồi tôi đi chiến đấu ở Quảng Trị (1972 – 1973), bom đạn dường như tránh tôi. Năm lần bị B52 vùi nhưng tôi vẫn sống. Ba bốn lần lẽ ra tôi chết, nhưng tình cờ có đồng đội tình nguyện làm thay nhiệm vụ hoặc đổi nhiệm vụ cho tôi mà hy sinh.

          Ví như lần tôi được phân công gác hầm Trung đoàn trưởng. Nguyễn Xuân Trắc (người Phú Thọ) được giao gác hầm Chính ủy. Tới hầm Trung đoàn trưởng phải lội qua tràn ruộng. Tôi đi giày vải nên rất lúng túng. Trắc đi dép đã đổi vị trí gác cho tôi. Khi lội qua tràn ruộng Trắc còn quay đầu cười với tôi. Bữa ấy B52 rải thảm. Trắc hy sinh vì hầm Trung đoàn trưởng trúng bom. Cậu cần vụ và Trung đoàn trưởng bị thương nặng được chuyển ra Bắc nhưng đều không qua khỏi. Tôi thoát chết nhờ được Trắc đổi cho gác hầm Chính ủy.

          Một lần khác, đến phiên tôi gác canh máy bay. Tôi đứng ở vị trí gác mà tự nhiên bụng cồn cào lo lắng không yên, cứ ra ra vào vào. Cậu Thắng người thị xã Hải Dương cùng tiểu đội thấy tôi như vậy liền sờ lên trán tôi, bảo: “Anh sốt cao rồi, trán nóng như lửa. Để em gác thay anh. Anh cho em mảnh lương khô. Anh vào hầm nằm nghỉ đi!” Tôi mở ba lô lấy cho Thắng bánh lương khô. Chỉ ít phút sau pháo địch cấp tập nã vào vị trí gác của chúng tôi. Thắng hy sinh.

          Nhớ lại hơn một tháng giữ chốt An Tiêm ở Quảng Trị, 13 cán bộ đại đội thương vong, ngày nào cũng có người trúng đạn. Nhiều lần nhận lính bổ sung buổi chiều, đêm đi tập kích họ hy sinh, tôi không còn kịp biết tên và quê quán.

          Hơn một tháng ở chốt là hơn một tháng không được tắm giặt, ngủ ngồi, có đêm mưa vừa tát nước trong hầm ra vừa ngủ gật. Hàng đêm vận tải đem cơm vào và chuyển thương binh ra. Nếu vận tải vào được bình thường thì mỗi người chúng tôi được một nắm cơm kèm ít ca – la - thầu (rau sấy khô của Trung Quốc) để ăn bữa tối. Còn bữa trưa hôm sau là một bánh lương khô 701. Có lần vận tải dính pháo, chúng tôi phải ăn những nắm cơm còn dính máu đồng đội. Nước uống lấy từ hố bom, bỏ vào mỗi bi đông hai viên thuốc lọc nước.

          Hơn một tháng giữ chốt là hơn một tháng đánh tập kích, đánh chặn các cuộc tấn công của địch để giữ vững chốt. Các trận chiến như cơm bữa diễn ra hàng ngày. Quân số bổ sung không bù được quân số hao hụt. Trung đội tôi chỉ còn 5 tay súng đã là trung đội mạnh của đơn vị.

          Trong hoàn cảnh như vậy, với trọng lượng 39 kg khi nhập ngũ, tôi vẫn sống sót. Tôi may mắn hay là sống chết có số? Sau này ra Bắc đi học Trường sỹ quan lục quân tôi được biết: U tôi đi khắp các chùa đền cầu khấn trời Phật phù hộ và đốt cơ man là lính giấy đi bảo vệ con trai cả của bà…

                                         ***

          Trở lại chuyện hiện tại. Hồi cuối năm 2012  tôi bị đau vùng cạnh sườn, đau thắt lưng, đau lan cả bụng. Ba bốn lần đi khám bảo hiểm ở phòng khám Minh Đức, lần nào cũng được chụp chiếu, xét nghiệm và kết luận là đau do viêm đại tràng co thắt. Uống thuốc hai tháng không khỏi, được con cháu đưa đi Bệnh viện Bạch Mai khám theo yêu cầu. Các giáo sư tiến sĩ khám và kết luận tôi bị thoái hóa thoát vị đĩa đệm. Về nhà uống thuốc theo đơn trong một tháng, bệnh không thuyên giảm, có chiều hướng nặng lên, đến nỗi mỗi sáng phải 15 phút tìm mọi cách mới bò dậy được. Tôi luôn phải gồng mình chịu đau không dám kêu rên. Bởi đồng thời với tôi thì con dâu cả cũng bị bệnh lạ: luôn có cảm giác đói cồn cào, thường xuyên tụt huyết áp xỉu đi, cả tháng phải bỏ việc. Có lần trường có việc buộc con bé phải đi làm, nó xỉu ở trường, đồng nghiệp phải đưa về nhà. Chạy chữa ở Nam Định mãi không khỏi, con dâu tôi cũng đi khám ở Bệnh viện Bạch Mai. Người ta kết luận “Rối loạn thần kinh thực vật”. Cũng gần tháng trời uống thuốc theo đơn mà bệnh tình không chuyển.

          Vợ tôi cùng con dâu bí mật đi “xem xét”. Sau đó vợ tôi bảo: “Vợ chồng thằng cả đi “xem” họ bảo nhà nội có ngôi mộ độc lập ở giữa cánh đồng nước bị động. Phải tu sửa lại thì bố con ông mới khỏi bệnh. Ông tính sao?” Tôi bảo: “Chuyện tâm linh, cứ để con nó về xem sao!” Hôm sau thằng Hưng lai mẹ về quê. Thì ra ngôi mộ Mẹ già tôi bị nứt nẻ, trên nắp đổ bê tông kín. Mộ mẹ cả tôi độc lập giữa đồng nước. Trước đây nhà tôi đã xây quây mộ một mét vuông. Năm ngoái chú Giang – em ruột tôi là thượng tá công an, nhà báo, bảo: “Mẹ cả báo mộng cho em: Trên mộ cây cối quấn vào mặt mẹ không chịu được”. Chú Đằng ra xem thấy ai đó trồng đầy cây sả tàu trên mộ. Một thời gian sau chú Đằng đổ bê tông mộ để khỏi phải lo người ta trồng cấy trên đó nữa.

          Vợ tôi làm lễ xin phép bà cả cho tu sửa lại mộ và nhờ chú Đằng thuê thợ làm. Mấy hôm sau chú Đằng gọi điện báo: “Em đã thuê được thợ, sáng mai anh chị về làm”. Cả đêm ấy tôi vẫn đau lưng không muốn trở mình. Vợ tôi thắp hương cầu khấn Mẹ cả phù hộ cho tôi khỏe để về xây mộ mẹ. Khuya tôi mệt thiếp đi. Sáng tỉnh dậy thấy mình không còn đau lưng nữa. Tôi phóng xe máy bốn chục cây số về quê bình thường. Ba ngày xây mộ tôi cũng không thấy đau. Ngày thứ ba tôi mời thầy chùa làm lễ tạ theo đúng phong tục ở quê. Mộ mới to gấp ba mộ cũ, ốp lát hẳn hoi.

          Từ thành phố, con dâu tôi gọi điện về báo tin: “Bố ơi! Con phi xe máy sang chơi với vợ chồng Minh Thu, con khỏe rồi bố ạ!”

          Tôi hết đau lưng, con dâu tôi đi làm bình thường. Tôi không muốn tin, nhưng thực tế ngẫu nhiên trùng lặp nhiều lần buộc tôi phải tin có thế giới linh hồn.

 

        4- BỐ TÔI BÁO MỘNG CHO TÔI

 

          Một đêm thứ bảy, tôi trằn trọc khó ngủ, gần sáng vẫn trong trạng thái nửa ngủ nửa thức. Chợt thấy bố tôi nói với tôi, giọng rất rõ ràng: “Anh phải trông nom con anh cẩn thận, đừng để nó ra đường xe pháo tai nạn”. Tôi giật mình tỉnh hẳn thì hóa ra tôi mơ. Sáng hôm sau, thấy thằng cả dắt xe máy đi chơi, nhớ lại giấc mơ đêm qua, tôi cản: “Chủ nhật thì ở nhà chơi với vợ con, không nên cứ đi chơi suốt ngày như vậy”. Thằng cả vùng vằng cứ đi. Từ lúc thằng cả đi, tôi bứt rứt khó chịu bất an. Hay là tôi giận thằng cả vì nó không nghe lời? Nửa tiếng sau thì được tin thằng cả tai nạn xe máy gần ngã tư Hùng Vương – Trường Chinh.

          Bữa ấy có một thằng say rượu đi xe máy tông vào đít xe thằng cả. Cả hai ngã xe, xe hỏng, người đều bị thương. May thằng cả bị nhẹ hơn thằng say. Thằng say phải vào viện. Công an xác định lỗi hoàn toàn thuộc về thằng say. Nhưng anh thằng say cậy mình là cán bộ ngành kiểm sát, liên tục đến nhà ép thằng cả đền bù thương tật cho em nó. Chuyện rồi cũng qua, nhưng làm cả nhà tôi rất khó chịu, bức xúc một thời gian.

          Đúng là bố tôi báo mộng cho tôi biết trước sự việc. Tôi lặng lẽ thắp hương khấn bố tôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          BỨC TRANH CẦU TRƯỜNG 

 

 

          Dịp về quê giỗ mẹ năm 2016 tôi qua thăm chú tôi, cũng là thầy dạy văn tôi hồi tôi học cấp hai, ông Trần Hùng Tuyền ở xóm Đông Thành (nay là xóm 6) xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Khi bước qua cửa nhà chú Trần Hùng Tuyền, tôi sững người nhìn những bức tranh treo trên tường với cảm xúc lâng lâng dào dạt. Đó là những bức tranh vẽ phong cảnh theo cách tả thực quê tôi. Nhìn bức Cầu Trường vẽ y thực ngày tôi còn nhỏ, óc tôi lóe lên những kỷ niệm thời thơ ấu gắn với cây cầu này.

          Cây cầu được gọi là Cầu Trường vì ở đó trước kia có ngôi trường dạy chữ Nho của làng.

          Cây cầu là nơi bọn trẻ chúng tôi thường dùng làm cầu bơi trong những ngày hè nóng nực. Chúng tôi tha hồ bơi thi, lặn ngụp trong dòng nước trong mát chảy quanh làng. Những tối trăng sáng, chúng tôi thường ngồi trên cầu hát và thổi sáo, đánh măng-đô-lin. Đầu cầu bên này là đường làng và nhà trường học, bên kia là sân họp của xóm, cạnh đó là nhà đòn (nơi để kiệu rước trong lễ hội làng hoặc đưa đám khi có người tạ thế). Bọn trẻ trai chơi trận giả, mô đầu, đánh khăng, đánh đáo, chơi bi, đánh vành xe... Bọn trẻ gái chơi chuyền, chơi ô ăn quan... Chân cầu và nhà đòn cũng là nơi hồi cải cách ruộng đất, du kích hành hạ địa chủ.

          Tôi không sao quên hình ảnh cậu Hòa tôi bị cùm chân, bị đánh gẫy răng, bị giam trong nhà đòn chỉ vì cậu đi du kích bị Pháp bắt đưa đi Lào, dọc đường trốn về được, người ta vu cho cậu theo địch về làm gián điệp. U tôi thương em, đem cơm cho cậu, bị các ông du kích quát: “Đem thuốc độc cho thằng phản động tự sát à” và đá phăng nắm cơm khoai đi. Sau này sửa sai, cậu tôi được thưởng Huân chương kháng chiến, được giới thiệu vào Đảng, nhưng cậu quyết không chấp nhận.

          Hình ảnh cụ Riễn đã gần tám mươi tuổi bị dìm dưới chân Cầu Trường trong đêm mùa đông lạnh buốt vì cụ bị quy là địa chủ, cứ ám ảnh trong tâm trí tôi. Cụ run rẩy van xin các ông cốt cán được nằm ôm trên đầu khúc gỗ dưới sông cho đỡ lạnh. Mỗi lần cụ trèo lên khúc gỗ, lại bị các ông cốt cán đạp xuống nước. Sau được hạ thành phần trung nông thì cụ đã mất.

          Chính chân Cầu Trường là nơi cô ruột tôi ngã và ngạt nước qua đời.

          Một cây cầu mỏng manh nhỏ bé mà chứng kiến biết bao kỷ niệm vui, buồn, đau khổ của tôi.

          Ngày nay cây cầu vẫn gọi là Cầu Trường nhưng đã khác xưa nhiều lắm. Người ta xây nhà khang trang hai bên mố cầu, xây nhiều cầu lớn qua con sông nhỏ, con sông ô nhiễm đến mức không còn ai dám tắm như ngày xưa. Lũ trẻ hậu sinh không biết gì về cây cầu trước đây nữa. Chính vì thế mà khi nhìn bức tranh Cầu Trường tôi xúc động mạnh thế chăng?

          Ngoài bức Cầu Trường còn bức Lò vôi, Xóm Nam Long cùng làng, cũng theo cách tả thực gây được cảm xúc thẩm mỹ mạnh trong tôi.

          Chú Trần Hùng Tuyền nói cho tôi biết tác giả của những bức tranh này là cố Họa sĩ Nguyễn Gia Hoàn, rể làng tôi. Họa sĩ Nguyễn Gia Hoàn tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Năm 1976 về thăm quê vợ, ông đã ký họa chân dung chú Trần Hùng Tuyền, vẽ các bức tranh phong cảnh làng Trà Lũ Trung tặng chú Trần Hùng Tuyền. Chú Trần Hùng Tuyền lồng khung và treo trang trọng trên các mảng tường trong nhà, giữ gìn như báu vật những bức tranh này đến ngày nay. Được chú Trần Hùng Tuyền cho phép, tôi chụp lại các bức tranh, treo lên blog TMG giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN TÔI ĐƯỢC NGƯỜI TA ĐẠO VĂN

                              (Phiếm)

 

 

            Tôi từng được người ta đạo văn mình. Khi phát hiện ra vụ việc, cảm xúc đầu tiên của tôi là bực bội, như là mình bị mất của vậy. Nhưng rồi mọi chuyện theo thời gian lắng dịu đi, tôi chẳng còn cái cảm giác đó nữa. Bạn bè tôi an ủi: “Người ta có thích thơ văn ông người ta mới đạo. Ông phải vui vì thơ văn mình ít ra cũng có người thích. Mà văn có hay thì họ mới thích. Chả hơn là vô số tác giả viết bao nhiêu là tác phẩm mà chả bao giờ được ai đạo cả...”

        Ngẫm thấy lời bạn nói cũng có lý. Tự nhiên tôi lại thấy vui và có phần tự hào vì mình được đạo văn. Nhân đây tôi khoe với bạn đọc chuyện tôi được đạo văn, không chỉ một lần, mà có tới ba lần.

 

        1 - Hồi còn là thành viên thực hiện trang vannghenamdinh.com, tôi có nhận được một bài viết về cuộc đời và sự nghiệp Trạng nguyên Đào Sư Tích của một tác giả ký tên là Nguyễn Quang Phi, hội viên Hội Khoa học Lịch sử và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hòa Bình, với lời mở đầu đại ý thế này: Nhiều tác giả viết về Trạng nguyên Đào Sư Tích như Trần Mỹ Giống... không đạt, nay tôi biên soạn hoàn chỉnh, yêu cầu đăng lên trang vannghenamdinh.com để làm tài liệu giáo dục nhân dân.

        Khi đọc chính văn bài viết của tác giả này, tôi liên tục phải cúi chào... văn của mình. Hóa ra vị này bệ nguyên bài “Trạng nguyên Đào Sư Tích cuộc đời và giai thoại” của tôi đã đăng trên nhiều trang mạng và in trong sách, cắt ra từng đoạn rồi thêm tiêu đề phụ. Ông ta có thêm vào bài viết một hai chỗ thì tất cả đều sai toét. Tất nhiên là chúng tôi không thể đăng bài đó lên vannghenamdinh.com  được. Tôi liền phúc đáp cảm ơn tác giả gửi bài, xin lỗi không dùng được vì bài đó làm hỏng bài của tôi. Một thời gian sau, tôi tình cờ phát hiện ra một blog cá nhân đăng toàn văn bài đó. Tôi buộc phải viết bài chứng minh là tác giả đã đạo văn tôi, comments lên blog của tác giả đó. Nhiều người đồng tình với tôi, comments phê phán tác giả đạo văn. Có cháu viết: “Bác là một tên trộm táo tợn!” Ít lâu sau, tôi mở lại xem blog của tác giả này thế nào, thì chỉ thấy thông báo của nhà mạng: “Blog đã bị xóa vì vi phạm...”

 

        2 – Tôi có bài thơ làm từ năm 1968, đã đăng trên trang Việt văn Mới (Newvietart.com) và in trong tuyển thơ “Thơ Nam Định 5 năm đầu thế kỷ” của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Vậy mà tự nhiên Tạp chí Văn Nhân lại đăng bài này nhưng đề tên tác giả khác. Tôi ngạc nhiên không phải vì chuyện người ta đạo văn, mà ở chỗ cuốn tuyển thơ của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định có in bài của tôi còn trưng bày trong tủ kính tại hội trường Hội, mà tôi là hội viên, Văn Nhân lại là Tạp chí của Hội. Cả một Ban biên tập trình độ cử nhân hùng hậu như vậy lẽ nào lại đi in bài thơ đạo? Chỉ có thể giải thích rằng họ không đọc mạng, cũng không thèm đọc sách của chính Hội mình xuất bản. Chuyện lùm xùm một dạo. Có nhà thơ, nhà viết kịch cao niên kể với tôi rằng một vị nhạc sĩ từng đàn hát khoe ca khúc mới sáng tác, lời đúng là bài thơ của tôi. Cuối cùng chuyện cũng được giải quyết ổn. Tổng biên tập Văn Nhân đăng bài xin lỗi, đính chính sai lầm, và in lại toàn bộ bài thơ trả về cho tác giả đích thực, ngay chính trang đã in bài thơ đạo ở số tạp chí trước đúng theo luật định.

 

        3 – Một lần, nhà nghiên cứu cao niên Bùi Văn Tam điện cho tôi: “Một người bạn là chủ cơ sở xuất bản in ấn nhờ tôi biên tập giúp bản thảo cuốn Địa chí của anh ta. Tôi góp ý rằng để bản thảo chơi thì không sao, nhưng in ấn là không được đâu. Bởi vì anh ta lấy của tôi rất nhiều bài viết mà không đề tên tôi. Anh ta còn đạo nguyên cả cuốn Các nhà khoa bảng Nam Định của ông nữa. Tôi báo để ông biết theo dõi vụ việc...”

        Ôi, cuốn Các nhà khoa bảng Nam Định của tôi đã công bố trên trang Việt văn Mới, sách đã được Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh rồi mà sao có vị lại còn đạo vậy?

        Tôi cũng có ý chờ xem sự việc thế nào, nhưng đến giờ chưa phát hiện ra tác giả đạo văn nọ có xuất bản hay không.

        Lại một ông bạn tặng tôi cuốn sách nghiên cứu mới xuất bản. Tôi đọc thấy ông bạn cắt dán từng đoạn của nhiều tác phẩm, trong đó có một số đoạn ở bài Trạng nguyên Đào Sư tích của tôi. Nể ông bạn nên tôi không nói gì. Nhưng rồi dư luận trên báo nhà nước và mạng xã hội đã phanh phui cuốn đó.

          Một số bài viết của tôi được mấy blog cá nhân, thậm chí có trang mang danh của một dòng họ, đăng lên, nhưng không đề tên tác giả, nhập nhèm như đó là tác phẩm của họ. Có lần tôi comments nhắc nhở nhưng họ coi như không có chuyện gì hết. Chán, tôi tự nhủ: coi như họ sơ ý quên tên tác giả. Mà họ có đạo cũng vì họ thích. Được người thích văn mình thì thật tự hào. Ở một góc độ nào đó, người bị đạo phải mừng vì được đạo, thậm chí còn nên cám ơn người đạo văn mình ấy chứ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          HAI TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU

 

 

 

 

       1- Ngày còn công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định, tôi có nhận 4 tập thơ của nhà thơ Phạm Trường Thi tặng Thư viện tỉnh. Theo thông lệ, chúng tôi sẽ giới thiệu tác giả tác phẩm trong Thư mục nhân vật Nam Định (nếu tác giả là người Nam Định), giới thiệu trên báo tạp chí. Tôi viết bài bình bài thơ Đèn sen của tác giả. Một Nhà văn Việt Nam bảo:

      - Tại sao ông lại bình bài thơ đạo của người khác vậy? Ông Lê Hồng Thiện đã có đơn kiện ông Phạm Trường Thi gửi báo Văn nghệ, và cơ quan Bảo vệ bản quyền Việt Nam…

 

     2- “Tôi đã bị ông Phạm Trường Thi đạo văn”

 

    “Tôi là: Lê Hồng Thiện, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện đang sinh sống tại thị xã Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên. Tôi kính đề nghị Báo Văn nghệ trẻ một việc như sau:

       Cách đây 30 năm, Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam có in bài thơ “Hoa sen” của tôi viết cho thiếu nhi. Sau này bài “Hoa sen” còn được các tuyển thơ chọn in lại. Tôi cũng đưa bài này vào tập “Nắng trong vườn” của mình. Bài thơ ấy như sau:

 

      HOA SEN

 

Lấy thân làm bấc

Lấy nước làm dầu

Hoa thành ngọn lửa

Đỏ hồng bên nhau

 

Bông vươn lên trời

Bông in mặt nước

Bông chìm, bông nổi

Trông đẹp cả đôi

 

Mặc mưa, mặc nắng

Không gì chở che

Thắp suốt mùa hè

Thơm tròn ba tháng.

 

           Thời gian gần đây vô tình tôi có trong tay tập thơ “Cây mùa hè, cây mùa đông” của ông Phạm Trường Thi hiện đang công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định. Tôi đọc thì bỗng giật mình phát hiện ra bài “Đèn sen” trong tập của ông Thi rất giống bài “Hoa sen” của tôi. Nó giống cả về ý tưởng, hình ảnh, hình tượng, cách ví von. Ông Phạm Trường Thi chỉ khôn khéo làm cho nó có vẻ khác đi về hình thức: Bài “Hoa sen” của tôi viết theo thể thơ bốn chữ, bài “Đèn sen” của ông Thi viết theo thể lục bát. Hai câu cuối ông Thi thêm hình ảnh đàn cá đua bơi, mở hội dưới trời đèn sao thì nó cũng không che đậy được sự giống nhau giữa hai bài thơ. Bài “Đèn sen” của ông Phạm Trường Thi như sau:

 

              ĐÈN SEN

 

      Hoa sen như thể ngọn đèn

Cuống sen là bấc, buông trên mặt hồ

      Đèn sen ngọn nhỏ, nhọn to

Dầu là nước, chẳng bao giờ cạn vơi

      Trong hồ đàn cá đua bơi

Ngày ngày mở hội dưới trời đèn sao.

 

          Tôi rất mong báo công bố bài viết này của tôi để bạn đọc thấy được một kiểu đạo thơ rất tinh vi đang thịnh hành. Qua báo Văn nghệ trẻ tôi muốn Hãng bảo hộ quyền tác giả của Hội Nhà văn Việt Nam vào cuộc phân định giúp. Với ông Phạm Trường Thi tôi mong một lời xin lỗi của ông trên báo và đề nghị ông kể từ nay không đưa bài “Đèn sen” vào bất cứ tập thơ nào nữa”. (Hết trích)

 

       3- Năm 2011 trang Trannhuong.com đăng bài “Thư ngỏ gửi các Văn Nhân Nam Định”, có nhắc tới vụ kiện Phạm Trường Thi đạo thơ của Lê Hồng Thiện. Ngay sau đó, trang Trannhuong.com đăng thư của nhà thơ Lê Hồng Thiện nói về vụ này như sau:  

          “Kính gửi: ông Trần Nhương

         Tôi là Lê Hồng Thiện, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hưng Yên.

          Vừa qua tôi có đọc trên Trannhuong.com có bài của một số anh em văn nghệ sĩ Nam Định gửi một bức thư ngỏ cho tôi (Lê Hồng Thiện) trong đó có đoạn:

            “Hiện nay công chúng yêu thơ ở Nam Định lưu truyền một văn bản “Tôi đã bị ông Phạm Trường Thi đạo văn...” kí tên nhà thơ Lê Hồng Thiện”.

            Nội dung cụ thể và nguồn gốc bức thư này tôi sẽ trình bầy khi cần thiết.

           Để trả lời bạn đọc và một số anh em văn nghệ Nam Định hiểu rõ vấn đề trên, tôi xin được công bố những tư liệu sau: (hiện nay trong tay tôi đang giữ)

            I- Bài thơ “Hoa sen” của tôi được công bố đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ Hải Hưng (tỉnh Hải Hưng cũ) vào năm 1974, sau đó đăng ở Báo Văn Nghệ số ra ngày 31-5-1976, đăng cạnh bài thơ Gà Trống của nhà thơ Văn Đức Khiêm. Sau đó bài thơ Hoa sen của tôi được in trong tập “Trăng của mỗi người” do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hải Hưng xuất bản năm 1988. Năm 1989, tập thơ “Trăng của mỗi người” là tập thơ duy nhất được nhận giải thưởng về thơ của Hội nhà văn Việt Nam (giải C, không có giải A, B) nên nhiều báo đưa tin “trăng của mỗi người” đạt giải A là như vậy. Các giải còn lại là văn xuôi.

           II- Bài thơ “Đèn sen” của ông Phạm Trường Thi, in ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội số tháng 6 năm 1980, sau đó in trong tập “Cây mùa hè, cây mùa đông” do nhà xuất bản Thanh niên 1994. Tiếp đó được in trong tập “Quà tuổi thơ” do nhà xuất bản Lao Động in năm 2004 (nhóm biên soạn, tuyển chọn gồm: Phạm Trọng Thanh, Trần Đắc Trung, Phạm Trường Thi, Vũ Minh Nam).

            Kính thưa ông Trần Nhương và bạn đọc!

            Khi đọc được trên Trannhuong.com bức thư ngỏ, tôi định không lên tiếng và công bố những tư liệu này, nhưng thiết nghĩ: Bảo vệ những “đứa con” tinh thần của mình được “lành lặn” đó là trách nhiệm không của riêng ai! Trước hết là ở những người cầm bút. Có lẽ bạn đọc quan tâm đã tự tìm được câu trả lời “Ai đạo” và “Đạo ai”?

            Xin cảm ơn Trannhuong.com

          Thứ 4 ngày 23/3/2011

          Địa chỉ:  Lê Hồng Thiện

          Email:  lehongthien_hungyen@yahoo.com.vn

          ĐT:  03213.863.116

          Dđ:  0974.811.620

          (Hết trích)

 

          4- Sau đó nhà thơ Lê Hồng Thiện còn gửi thư nội dung tương tự tới Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, yêu cầu xử lý kỷ luật Phạm Trường Thi. Vụ việc được đưa ra xem xét nội bộ trong Ban Thường vụ và Ban Kiểm tra của Hội. Trong cuộc họp này một số hội viên có thư tố cáo Phạm Trường Thi tội khai man lý lịch và đạo văn cũng được mời như Nhà văn Trần Thị Nhật Tân, Nhà văn Lưu Tuấn Hùng, Nhà thơ Chu Đình An… Tôi được mời với tư cách quan sát viên để trả lời bạn đọc qua blog TMG. Thành phần chính là Chủ tịch Trần Đắc Trung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Biên tập Văn Nhân Phạm Trường Thi, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Đăng Thanh, Trưởng phòng hành chính Trần Văn Sản, Ban Kiểm tra gồm Hoàng Dương Chương, Hoàng Ngọc Trúc, Bùi Văn Khang. Chủ trì Hội nghị là Nhà nghiên cứu Hoàng Dương Chương.

          Hội nghị có hai quan điểm đối lập nhau: Một là căn cứ hai bài thơ xác định đúng là đạo văn. Một bên bảo vệ Phạm Trường Thi, phủ nhận đạo văn. Thanh tra viên Bùi Văn Khang trình bày rằng ông cùng Phạm Trường Thi sang tận nhà Lê Hồng Thiện ở Hưng Yên, kết quả mang về một tờ giấy chữ viết tay có chữ ký của Lê Hồng Thiện xác nhận “Không ai đạo văn ai, đây chỉ là hai tư tưởng lớn gặp nhau”. Nhà thơ Chu Đình An đòi xem tờ giấy nhưng nhà thơ Bùi Văn Khang không cho xem với lý do “Đưa cho các ông để các ông xé đi à?”

          Kết quả, về vụ đạo văn hội nghị không đi đến một kết luận nào.

          Tôi tiếp thu tinh thần hội nghị, soạn bài đưa lên blog theo đúng tinh thần HAI TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU. Bất ngờ tôi được tin Phạm Trường Thi vu cáo tôi trong hội nghị Ban Chấp hành rằng Chủ tịch đã quyết định không được phép đăng mạng nhưng tôi vẫn đăng để làm mất danh dự Thi.

Ai đúng ai sai, tư cách người ta thế nào thì bây giờ đã rõ. Nhưng tôi cứ lởn vởn trong đầu: Tại sao các bê bối đạo văn thường diễn ra trong số các nhà văn Việt Nam? Tại sao khi đã đạo văn người ta cứ bảo là những tư tưởng lớn gặp nhau? Ai biết xin trả lời giúp tôi với.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          HOAN HÔ TỔNG BIÊN TẬP TỪ CHỨC

 

      Giọng ông bạn văn vang lên cấp tập trong điện thoại của tôi:

      - Ông biết tin chưa? Tổng biên tập Tạp chí Văn từ chức rồi! Bà này yếu bóng vía quá, hạ súng đầu hàng ngay từ loạt đạn đầu. Chức Tổng biên tập do Bộ Thông tin truyền thông đề bạt. Chỉ có Bộ Thông tin truyền thông mới có quyền cách chức. Vậy mà mới bị cái cấp hạng bét - Ban chấp hành Hội họp phê phán đã sợ rồi. Thằng Tổng biên tập kỳ trước tội rề rề, mà nó chiến đấu đến cùng. Bố khỉ!

       Tôi cắt ngang:

       - Tin có chính xác không?

       - Chính xác một trăm phần trăm.

       Tôi ngẩn ngơ nghĩ ngợi về tin Tổng biên tập tạp chí Văn từ chức. Thật tình, tôi chẳng hứng thú gì với cái Tạp chí của Hội tôi. Tôi gửi bài họ chả đăng. Mấy lần tay Chủ tịch bảo: “Bác gửi bài em đăng ngay số này!” Tôi bảo: “Tôi gửi tạp chí có đăng đâu!” Một lần tôi quyết định gửi bài, hắn đọc rồi bảo: “Bài của bác hay thế này mà Tổng biên tập không đăng là sao. Để em bảo Tổng biên tập phải đăng bài của bác ngay số này!” Chờ mãi chả thấy bài đăng đâu. Tôi càng ngán Tạp chí của Hội mình. Tay Chủ tịch nó nhiệt tình với mình, nhưng đăng hay không lại do Tổng biên tập quyết định. Nghĩ vậy, tôi đâm ra ghét ghét Tổng biên tập. Thế rồi, cái Tạp chí Văn liên tiếp xảy ra sai sót. Trong hội viên bắt đầu hình thành “phong trào” phản đối Tổng biên tập. Các sai phạm của Tạp chí đều được quy kết trách nhiệm về Tổng biên tập. Tuy không tham gia vào phong trào công kích Tổng biên tập, nhưng tôi cũng chẳng ngăn cản bạn văn làm việc đó. Tôi thờ ơ bàng quan như mình là kẻ ngoài Hội, chả có trách nhiệm gì với Tạp chí và Tổng biên tập. Bây giờ Tổng biên tập từ chức rồi, sao tôi chỉ thấy thương mà chẳng thấy vui? Gợn lên trong đầu tôi cảm xúc như ân hận vì mình vô trách nhiệm, cứ như là thái độ bàng quan vô trách nhiệm của tôi cũng góp phần vào hậu quả từ chức của Tổng biên tập.

      Rồi tôi lại nghĩ: Khối người thèm rỏ rãi cái chức Tổng biên tập Tạp chí Văn. Có những thằng khi đã chiếm được chức vị rồi thì tìm mọi cách kéo dài thời gian tại vị để hưởng thụ và gây thêm nhiều tiếng xấu cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà, chả có thằng nào tự nguyện thôi chức cả. Chuyện từ chức là bình thường ở nước ngoài, chứ Việt Nam ta đã có văn hóa từ chức đâu. Vậy thì Tổng biên tập Tạp chí Văn từ chức phải coi là chuyện lạ, là lập dị đáng kính nể. So với khối thằng Tổng biên tập khác, Tổng biên tập Tạp chí Văn từ chức có văn hóa, có nhân cách hơn nhiều. Nghĩ thế tự nhiên những lăn tăn về Tổng biên tập biến đâu mất, chỉ còn lại trong tôi sự kính trọng và niềm thương mến Tổng biên tập. Tôi bật hô lên một mình:

       - Hoan hô Tổng biên tập từ chức!

 

 

 

KẺ ĐẠO VĂN DƯƠNG MINH NGỌC LÀ AI?

 

 

 

         Văn Nhân số 81 Xuân Nhâm Thìn 2012 tại trang 57 đăng bài “Bạn nhỏ đánh giầy” của tác giả Dương Minh Ngọc:

 

          BẠN NHỎ ĐÁNH GIẦY

 

          Mùa thu đã về trên phố

Hương cốm thơm nói bao lời

Tiếng trống trung thu rộn rã

Mà sao bạn buồn bạn ơi?

 

Bạn tóc râu ngô, chân đất

Tay xách đồ đi đánh giầy

Dáng đơn côi trong ngõ nhỏ

Ngước nhìn trời thu mây bay…

 

Có em bé đang hờn dỗi

Đòi mẹ mua quà trung thu

Bước chân bạn thêm vội vã

Sợ nghĩ về mẹ ngày xưa…

 

Mình đang tung tăng đi học

Cặp sách bỗng nặng trĩu vai

Bạn vẫn chân trần, cháy nắng

Có gì chờ bạn ngày mai?

 

         Vàng thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ

         Mà sao lòng lại thấy bình yên

         Đôi mắt nâu của bạn rất hiền

         Chắc thế khiến trái tim mình thổn thức?

 

Mình yêu mãi mùa thu, yêu lá bàng đỏ rực

         Khoảng trời xanh tha thiết gọi mây về

         Nhưng mình biết

         Có một tình yêu chẳng bao giờ có thể

         Chia sẻ với mọi người như mình đã yêu thu…

 

                                Dương Minh Ngọc

 

         Đọc bài thơ trên ai là người võ vẽ biết thơ cũng nhận thấy đây là bài thơ dở. Phần đầu và phần cuối bài thơ cảm xúc chẳng ăn nhập với nhau, hẳn không thể là cảm xúc nhất quán của một tác giả. Phần đầu bài thơ là cảm xúc của một học sinh, ưu tư, đồng cảm với người bạn nhỏ đánh giày trên phố. Nhưng 9 câu thơ cuối, lại mang một tâm trạng hoàn toàn khác, được diễn tả bằng một thể thơ khác, không ăn nhập với toàn bài thơ.

         Đọc bài thơ trên Văn Nhân, tôi nhớ ngay tới bài "Mùa thu và tình yêu" của tác giả Bùi Thị Thu Hương trên trang vannghenamdinh.com.vn ngày 07 tháng 10 năm 2011.

          Nguyên văn bài thơ như sau:

 

        MÙA THU VÀ TÌNH YÊU

          Mùa thu đã chao mình vào hơi thở

         Nắng bỗng hồng, ấm như một cánh tay

         Khoảng trời mênh mang ru cỏ dại ngủ say

         Bướm trắng giận hờn chỉ bay thật khẽ.

 

          Chẳng hiểu vì sao yêu mùa thu đến thế

         Dẫu biết, bao người cũng đã từng yêu

         Trái tim mình dù dào dạt bao nhiêu

         Cũng có những tình yêu không-thể-nào-chia-sẻ…

 

          Mùa thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ

         Mà sao lòng lại thấy bình yên

         Đôi mắt nâu của bạn rất hiền

         Sao lại thấy trái tim mình thổn thức?

 

          Mình yêu mãi mùa thu, yêu lá bàng đỏ rực

         Khoảng trời xanh tha thiết gọi mây về

         Nhưng mình biết

         Có một tình yêu chẳng bao giờ có thể

         Chia sẻ với mọi người như mình đã yêu thu…

 

                                    Bùi Thị Thu Hương

 

         Tác giả Bùi Thị Thu Hương, sinh năm 1981, công tác tại Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ tỉnh Nam Định. Điện thoại: 0988622643. Email: votumasong3001@yahoo.com

           Tôi điện trao đổi với tác giả Bùi Thị Thu Hương thì được chị cho biết: Chị không có bút danh là Dương Minh Ngọc và cũng không gửi bài cho Văn Nhân.

           Vậy là đã rõ: Tác giả Dương Minh Ngọc đã đạo hai khổ thơ ở bài “Mùa thu và tình yêu” của tác giả Bùi Thị Thu Hương để ghép vào bài “Bạn nhỏ đánh giầy” của mình. Dương Minh Ngọc có thay vài từ, một từ ở câu “Mùa thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ” thành “Vàng thu cũng nồng nàn như tuổi trẻ” và ba từ ở câu “Sao lại thấy trái tim mình thổn thức?” thành “Chắc thế khiến trái tim mình thổn thức?” Tuy nhiên sự thay đổi này làm cho câu thơ thành ngô nghê.

           Tôi gửi thư ngỏ tới Tạp chí Văn Nhân, yêu cầu Tổng biên tập phải xử lý vụ việc theo pháp luật, công bố cho bạn đọc biết kẻ đạo văn Dương Minh Ngọc là ai. Nhưng cho đến nay Văn Nhân vẫn còn nợ câu trả lời.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          KHOẢNH KHẮC BẠN GIÀ GẶP NHAU

 

 

 

          8 giờ sáng.

          Cụ họa sĩ Đặng Nam điện:

        - Ông đang làm gì đấy?

        - Đang nằm khoèo nghe các video mình hát tự sướng.

        - Nắng rồi, không đi chơi đâu à?

        - Đang dịch cúm Vũ Hán hoành hành, chả dám đi nhà hàng, quán cà phê, karaoke gì sất. Ra đường cũng sợ nữa là.

          10 giờ 30.

          Cụ họa sĩ Đặng Nam lại điện:

        - Cụ Thi đang trên tàu về Nam Định.

        - Cụ Thi về Nam Định? Thật không? Sao cụ biết?

          - Cụ Thường vừa điện cho tôi nói cụ Thi đi không nói cho ai biết. Cụ Thường lo cụ ông bát tuần rồi, đi xa giữa lúc dịch thế này… Tôi điện cho cụ Thi thì biết cụ đã đến ga Nam Định rồi. Tôi điện cho cụ Quang cùng đón cụ Thi ra luôn quán Lý Quốc Sư ở phố Bến Ngự. Cụ có đi thì ra luôn quán đợi nhé!

          - Đi ngay!

        Tôi vội thay quần áo đi luôn.

        Thế là cánh già chúng tôi gồm cụ Trần Quang (cửu tuần), cụ Đặng Nam và tôi (ngoại thất tuần) gặp gỡ bù khú với cụ Trần Thi (bát tuần). Mới mươi ngày xa cụ Thi mà ngỡ cả năm xa cách rồi. Chuyện nở như ngô rang. Mấy cháu khách ăn bàn bên thấy các cụ vui cũng bỏ ăn ra chụp ảnh cho các cụ.

         Cụ Trần Thi lấy cớ về Nam Định thay kính, cụ bà lo lắng thúc giục phải về Hà Nam ngay. Chiều nay mồng ba hàng tháng các cụ phải họp chi bộ, chỉ gặp nhau được buổi trưa.

         Cụ họa sĩ mời đi quán cà phê, nhưng sắp đến giờ họp chi bộ nên đành chia tay nhau.

         Cụ Thi khoe: “Bộ dàn karaoke, micro được anh con rể Hàn Quốc chỉnh sửa hay lắm. Các cụ thể nào cũng phải lên hát, mỗi tuần một ngày thôi cũng được”. Vâng, hôm nào trời đẹp, hết dịch cúm, nhất định phi xe máy cùng các cụ lên Hà Nam thăm hai cụ Thi Thường và hát từ sáng đến chiều.

          Những khoảnh khắc gặp gỡ bạn già thật vui và nhớ.

 

                                                          3 - 3 - 2020 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          BÀI THƠ TRÒ TẶNG THẦY

 

   

 

         Trong số hàng nghìn học trò học tôi, nhiều em có năng khiếu văn, thơ. Em Đoàn Văn Mật, học Thư viện khóa 3 (2000 – 2002), hiện công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã thành nhà thơ. Năm 2008 tôi nhận được tập thơ đầu tay em gửi tặng. Đó là tập thơ “Giữa hai chiều thời gian”, trong đó có những câu rất ấn tượng như “Cạnh chiếc bình không hoa / Thấy có ngàn hương tỏa”.

          Em Trần Minh Tiến khóa Thư viện 6 tặng tôi một bài thơ rất hay, lấy tên là “Bài thơ không vần kính tặng thầy Trần Mỹ Giống”, cùng tập bản thảo thơ gần trăm bài. Tôi cứ tự trách mình không cẩn thận để tập bản thảo bị thất lạc trong lúc người thu dọn thuê vận chuyền về nhà khi tôi nghỉ hưu.

           Trong số thơ văn học trò tặng, có bài thơ của một em học trò rất đặc biệt. Lúc bấy giờ là khoảng chín giờ tối 30 Tết năm 2004, trời lạnh và mưa lâm thâm. Đột nhiên xuất hiện trước cửa nhà tôi một cô bé gầy gầy, hai tay ôm bức tranh sơn mài gói trong giấy báo. Cô gái không nói, chỉ cúi đầu chào tôi. Tôi dắt em vào nhà, thăm hỏi thân mật. Em nhẹ nhàng mở gói giấy chỉ vào bức tranh và tờ giấy đánh máy dán bên phải phía dưới, miệng nói không rõ lời, dáng vẻ rất xúc động. Nhìn tờ giấy dán trên bức tranh tôi thấy đó là một bài thơ đề tặng tôi. Tôi vừa đọc bài thơ, vừa cố nén cảm xúc dâng trào trong ngực, lên mắt.

            Cô gái ấy là em Phạm Thị Diệu Thúy, học sinh Thư viện khóa 4 năm 2002 – 2004 Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Nam Định. Những ngày đầu lên lớp, tôi chú ý đến cô bé cứ nhìn tôi không chớp mắt suốt buổi. Khi đối thoại với học trò, tôi chỉ định cô bé trả lời. Cô bé đứng dậy, mặt tái đi, miệng ú ớ như sắp khóc. Linh tính cho tôi biết em này có gì đặc biệt đây. Tôi vội vẫy tay ra hiệu cho em ngồi xuống, rồi làm như không có chuyện gì, tôi tiếp tục giảng bài. Giờ nghỉ, tôi hỏi lớp trưởng thì được biết: Em Thúy bị tật câm điếc bẩm sinh, nhưng rất ham học. Tôi đề nghị lớp bố trí em ngồi bàn đầu. Khi giảng bài, những phần quan trọng, tôi nói chậm, rành rọt, cố thể hiện khẩu hình thật rõ ràng, mắt thường xuyên giao lưu với Thúy, trong lòng luôn cảm nghĩ mình đang nói với đứa con gái nhỏ yêu thương. Thường khi nghỉ giữa giờ, tôi chuyện trò với Thúy. Thúy nhìn miệng tôi để đoán hiểu tôi nói gì và dùng động tác giao lưu là chính. Bài học có chỗ nào chưa rõ, Thúy viết ra giấy hỏi tôi. Tôi trả lời tỉ mỉ, còn viết ra giấy cho em đọc. Cuối khóa, Thúy đỗ tốt nghiệp loại khá. Sau đó em còn thi đỗ và theo học khóa Đại học Thư viện tại chức do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mở tại Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Nam Định.

            Bài thơ cùng bức tranh sơn mài em Thúy tặng là kỷ vật quý giá đối với tôi. Bài thơ đó như sau:

 

 

        VIẾT TRƯỚC NGÀY XA TRƯỜNG

          Kính tặng thầy Trần Mỹ Giống

 

          Thầy chẳng đòi hỏi những gì được mất

          Những gì cho và nhận ở lớp trò

          Cần mẫn chở chuyến đò tới đích.

          Sang sông rồi con gửi lại vần thơ.

 

          Con viết vần thơ trong ngày xa cách

          Nước mắt con rơi trên trang giấy chữ nhòa

          Tìm chẳng thấy lời hay tứ đẹp

          Chỉ tấm lòng trò nhỏ trước khi xa.

 

                                Phạm Thị Diệu Thúy

                   Lớp Thư viện 4 khóa 2002 – 2004

          Tái bút:

          Mãi mãi con không bao giờ quên thầy – một người thầy đã hết lòng quan tâm giúp đỡ và để lại cho con ấn tượng sâu sắc. Năm học vừa qua nếu con có điều gì để thầy buồn thì xin thầy bỏ qua cho con…

                           (Tối 30 Tết Giáp Thân 2004)

             Bài thơ giản dị, không cầu kì, thuộc loại thơ thoại. Nhưng tôi rất trân trọng bởi nó là tấm tình chân thực của cô học trò nhỏ, lại là một học trò đặc biệt. Tôi muốn nói với em: “Diệu Thúy ơi! Thầy cũng không bao giờ quên hình ảnh của em. Cảm ơn em đã đem lại cho thầy niềm hạnh phúc và tự hào về lớp trò của mình. Chúc em hạnh phúc và may mắn trong cuộc sống”.

 

 NGỒI BUỒN XEM ẢNH CŨ

 

 

 

 

          Ảnh chụp chung tôi với anh Lê Thanh Oai. Anh là thủ trưởng đơn vị chiến đấu của tôi ở Quảng Trị năm 1972. Ảnh chụp sau hơn bốn mươi năm gặp lại anh. Anh Lê Thanh Oai nguyên là bộ đội kháng Pháp tái ngũ, làm Trưởng ban 5, trực tiếp quản lý Trung đội vệ binh Trung đoàn 101 Sư đoàn 325. Khi ấy tôi là sinh viên năm thứ tư Đại học Thư viện nhập ngũ theo lệnh tổng động viên…, nặng 39 kg, được biên chế về Trung đội vệ binh B23 E101 F325.

          Trước khi đi chiến trường, tôi được về phép cưới vợ. Anh Lê Thanh Oai tặng tôi mấy tút thuốc lá Drao và Trường Sơn. Ngày ấy thuốc lá phân phối.

          Ngày ở chiến trường Quảng Trị, anh Lê Thanh Oai đã có quyết định thăng lên làm Phó chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn. Nhưng rồi lại bị hạ chức trở về Trưởng ban 5. Sau anh đi lo trại sản xuất và phục viên. Số là ngày ấy, tay Phó chủ nhiệm Chính trị xuống chỉ huy đôn đốc đơn vị chiến đấu, sợ chết bỏ nhiệm vụ chạy về Trung đoàn bộ. Anh Lê Thanh Oai đã phê phán sự hèn nhát của tay này trước Đảng ủy. Tay này lý luận rằng hắn là bộ não chứ không phải lính trực tiếp chiến đấu. Chiến trận ác liệt, hắn chạy là để bảo vệ bộ não của Đảng, của Trung đoàn chứ không phải hắn hèn nhát sợ chết. Cái sự ngụy biện dở như cứt của hắn, lạ thay lại thắng. Hắn không hề hấn gì, còn anh Lê Thanh Oai thì không được trao Quyết định thăng chức.

          Nhớ trận bảo vệ cửa Việt, không thể quên hình ảnh anh Lê Thanh Oai người nhỏ thó, hai mắt sáng quắc, tay vung vẩy khẩu súng lục, đốc thúc lính vệ binh tiến lên giữ cảng cửa Việt. Dáng vẻ đằng đằng dũng khí của anh Lê Thanh Oai tác động mạnh vào tâm lý chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng ở người chỉ huy và vững tâm tiến lên trong mưa đạn của đối phương, quyết giữ cảng đến cùng.

          Hơn bốn mươi năm sau, tôi tìm về xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đến nhà thăm anh, thấy anh đã là một cụ già, đang ngồi đan rổ rá trong sân. Tôi nhắc lại trận Tăng-gô-xy-ty (trận Cửa Việt trước giờ đình chiến), anh Lê Thanh Oai trầm ngâm: “Khi ấy anh biết rằng, anh em mình chỉ có tiểu liên và súng lục thì khó lòng mà chặn được đối phương có mấy chục xe tăng, pháo cối, hỏa lực mạnh. Cũng may, đối phương dừng lại chứ nó cứ tiến lên thì chắc anh em mình hy sinh cả rồi. Bởi vì khi ấy chúng mình không còn con đường nào khác, chỉ có tiến lên, chứ quyết không bỏ chạy…”

          Cũng như tôi, anh Lê Thanh Oai cũng chẳng được hưởng chế độ nhiễm chất độc da cam và các chế độ khác đối với bộ đội đi chiến trường Quảng Trị năm xưa. Tôi đôi lúc ấm ức và oán thán đời thiếu công bằng, chứ anh Lê Thanh Oai thì trái lại, chả thèm xin xỏ gì hết. Anh bảo: “Mình đi chiến đấu có đòi nhà nước điều kiện gì đâu. Mà có bao giờ nghĩ đi chiến đấu để hưởng chế độ. Không có chế độ anh em mình vẫn sống tốt kia mà. Quên đi cho thanh thản em ạ. Anh em mình còn sống đến nay là may mắn, phúc lớn lắm rồi…”

          Cuối năm ngoái tôi lên thăm anh thì anh đã được con cái đón đi Hà Nội chữa bệnh. Tôi nhắn hàng xóm rằng khi nào anh về thì gọi điện cho tôi. Nhưng không thấy anh gọi điện. Chắc anh vẫn ở với con cái trên Hà Nội để tiện chữa bệnh. Quay đi quay lại anh đã ngoài tám mươi rồi, còn tôi cũng bảy mươi… già cả rồi. Già rồi, chẳng ham hố gì nữa, lẩn thẩn sống với kỷ niệm qua ngày…

 

                 13-8-2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                    “LẠI” HAY “CÒN”

 

 

 

       Trước hết, ta hãy đọc lại bài thơ của cụ Tú Xương:

 

                   SÔNG LẤP

 

         Sông kia rày đã nên đồng,

  Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

          Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,

  Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

 

Từ nhiều năm nay, bài thơ “Sông lấp” của cụ Tú Xương được khắc trên tấm bia mộ cụ đã nhầm từ  “còn” ở câu thơ số bốn trong bài thành từ “lại”. Cụ thể, câu khắc sai là “Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”. Một số người quan tâm đến nhà thơ Tú Xương đã góp ý nên sửa lại cho đúng, nhưng không hiểu sao tấm bia vẫn không được sửa lại.

         Trao đổi với một số bạn thơ, có người cho rằng bia được khắc đúng cho nên lãnh đạo Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Nam Định không có ý kiến gì, không sửa. Cá nhân tôi vẫn khẳng định họ khắc sai bài thơ của cụ Tú, bởi:

        - Thứ nhất: “Lại” là từ biểu thị sự lặp lại nhiều lần của một sự việc, một hành động, một trạng thái, nghĩa là đã xảy ra rồi, lại xảy ra tiếp…

          “Lại tưởng” trong bài thơ của cụ Tú thể hiện cụ đã nhiều lần nghe tiếng ếch, mà mỗi lần nghe tiếng ếch là cụ lại liên tưởng đến tiếng gọi đò trong quá khứ. Nhưng đã là việc từng xảy ra nhiều lần, đã khắc sâu và lặp đi lặp lại trong tâm tưởng cụ Tú thì cụ Tú chẳng thể “giật mình” được. Vậy nên từ “lại” làm cho thơ cụ Tú thành ra thiếu lô gic đến buồn cười, làm câu thơ mất hay.

        “Còn” là từ biểu thị sự kéo dài của một sự việc, một hành động, một trạng thái, nghĩa là chưa hết, chưa chấm dứt.

          Thực tế hiện tại sông Vị đã bị lấp, đã biến thành “Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoại” mà hàng ngày cụ Tú chứng kiến, khiến cụ liên tưởng đến cảnh thay đổi thời thế, nhân tâm. Dù con sông Vị đã bị lấp nhưng trong tâm tưởng, từ đáy lòng cụ Tú vẫn chưa quên nó, tiếng gọi đò vẫn còn trong nỗi nhớ của cụ. Cho nên, bất chợt “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai” cụ bỗng “giật mình” mà “còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Trong mối liên hệ nhận thức tình cảm giữa hiện thực và quá khứ như nêu trên thì từ “còn” là phù hợp, lô gic.

          - Thứ hai: Ta hãy đọc to lên câu “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” và “Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò” để thưởng thức âm điệu của câu thơ (thể lục bát). Rõ ràng từ “còn” làm cho câu thơ nhịp nhàng, ngọt ngào, êm tai bởi cụ Tú đã sử dụng các thanh bằng trắc rất cân đối với tỷ lệ 4/4. Còn từ “lại” đọc lên thấy câu thơ nặng nề, khổ độc (ba thanh trắc liền nhau), mất sự nhịp nhàng êm ái bởi nó mất sự cân bằng thanh qua tỷ lệ bằng trắc 3/5. Lẽ nào nhà thơ tài năng xuất chúng Tú Xương lại bỏ qua cái hay mà dùng cái dở?

          - Thứ ba: Tôi đã nhờ Phó Giám đốc Thư viện tỉnh Nam Định Lê Thị Sáu trực tiếp tra cứu hơn hai chục cuốn sách trong thư viện xem có chỗ nào chép bài “Sông lấp” của cụ Tú dùng từ “lại” không. Kết quả tất cả các sách đều chép từ “còn” mà không có bất cứ tài liệu nào chép từ “lại”.

            Tôi đề nghị Sở Văn hóa Thể thao Du lịch sửa lại bài thơ “Sông lấp” khắc trên bia mộ Tú Xương cho đúng nguyên bản thơ cụ Tú để tỏ ra tôn trọng Cụ. Thiết nghĩ việc làm này là cần thiết, cần làm ngay và không khó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          MÁU CA HÁT DI TRUYỀN

 

 

         Bác ruột tôi là cụ Trần Mỹ Vượng từng hoạt động cách mạng, bị giặc Pháp bắt tra tấn 6 tháng. Cụ quyết không khai một lời. Cuối cùng chúng phải thả cụ về. Nhưng do đòn thù cụ bị bệnh kinh niên mất khi bảy mươi tuổi. Cụ từng là Đội trưởng đội văn nghệ xã.

          Ngày tôi còn bé, mỗi lần xã tổ chức diễn kịch phục vụ nhân dân là tôi lại háo hức, mang gạch xếp nhận chỗ ngồi từ chiều. Vở cải lương Bao công xử án Trần Sĩ Mỹ diễn đi diễn lại mà tối nào cũng rất đông người xem. Bác tôi đóng vai Trần Sĩ Mỹ. Dì Ngọ tôi đóng vai Tần Thị Hương Liên. Ông Ru, bạn hàng sắt với bố tôi thủ vai Bao Công. Tôi, anh Hữu và dì Ngót tôi được bác tôi cho thử vào vai hai con Tần Thị Hương Liên. Tôi bị loại. Anh Hữu và dì Ngót vào vai rất đạt. Tôi cứ nắc nỏm anh Hữu khóc trên sân khấu như thật. Sau anh Hữu bảo khóc thật vì bố (tức bác tôi) dun hai con ngã mạnh làm anh Hữu đau bật khóc.

           Tuồng, chèo, cải lương môn nào bác tôi cũng thạo. Giọng bác tôi vang như chuông. Chẳng hạn như câu ca cụ làm mẫu cho bạn diễn: “Trần Sĩ Mỹ kia mi là một kẻ… gian hùng”. Từ “kẻ” được bác tôi kéo dài mãi làm tôi như nghẹt thở, rồi bác đổ giọng xuống xề ở từ “hùng” làm tôi như bật thở ra thật khoái vô cùng.

           Cái khiếu ca hát của bác tôi di truyền đời chúng tôi. Các chị tôi ai cũng hát hay. Chị Xuân lại truyền cái máu ca hát cho cậu con trai. Ấy là cháu Trần Phong. Cháu Trần Phong đàn hát đều hay. Có lần nghe Trần Phong hát trên mạng FB, chị cả tôi bảo: “Nghe thằng Phong hát hay hơn ca sĩ Tùng Dương”. Ấy là chị tôi yêu quý cháu mình mà nói vậy. Nhưng đúng là cháu Phong hát hay thật, phong cách rất chuyên nghiệp.

           Chị cả tôi trục trặc chuyện tình duyên. Đi thanh niên xung phong ba năm chuyển ngành học trung cấp kế toán rồi làm ở hợp tác xã nông nghiệp đến về hưu. Nhiều người tỏ tình nhưng chị đều từ chối, ở vậy nuôi các cháu. Ngày trẻ và giờ ở tuổi bảy nhăm, chị vẫn say mê sinh hoạt câu lạc bộ ca hát ở quê. Chị là cây soạn lời cho các điệu chèo, dân ca nội dung sát hợp từng nhiệm vụ của địa phương. Chị thuộc nhiều điệu chèo và hát cũng rất “siêu”.

          Hôm rồi chị bảo: “Thấy cậu hát trên FB rất hay, chị vui lắm. Cậu cứ hát cho lạc quan và khỏe mạnh sống lâu nhé!”

          Vâng. Em nhớ lời chị. Em sẽ hát cho tới khi không hát được nữa mới thôi chị ạ. Cái máu ca hát truyền từ thế hệ trước cho chị em mình không thể nào khác được. Hôm nay hát lại nhớ tới hoạt động văn nghệ của bác Vượng, dì Ngọ sinh thời đến nao lòng.   

 

 

 

 

 

          MÌNH HẾT THỜI RÔI!

 

 

 

          Ngày còn đương công tác, mình được đồng nghiệp gọi là “cuốn từ điển sống” về phân loại sách, học trò mình coi mình là ông thầy giỏi chuyên môn. Vậy mà từ khi vào tuổi 65, mình bắt đầu nhớ nhớ quên quên. Nhiều hôm quên đi đón cháu. Khi đưa cháu đi học, tới trường cháu rồi mà vẫn phóng tuột qua. Cháu hỏi: - “Ông lai cháu đi đâu vậy?” mình mới chợt nhớ ra, quay lại.  Mấy lần đón cháu về cứ thản nhiên đi qua ngõ nhà mình. Cháu lại hỏi: - “Ông cho cháu đi đâu vậy?” mới nhớ ra đưa cháu về nhà.

          Có bận ông bạn văn đưa cho mình một bài viết bảo đọc biên tập hộ ông ấy. Đọc cứ thấy nó quen quen, thấy tâm đắc với người viết. Hỏi ông bạn:

          - Bài của thằng nào vậy?

Ông bạn bảo:

          - Bài của chính ông, tôi muốn đưa vào tuyển tập đấy!   

Cãi:

          - Sao lại ký tên là Thanh Minh. Đâu phải tên tôi?

          Bạn thở dài:

- Thanh Minh là một trong số hơn chục bút danh của ông mà ông quên à?

          - Vậy à?

          Có bạn hỏi xin lại bài bình tác phẩm của họ mà mình đăng lên FB từ lâu. Rõ khổ, mạng cứ bị phá mất, làm mới lại từ đầu, chả nghĩ ra cóp lưu lại các bài ấy sau này in thành tập kiểu “Văn chương và cảm nhận” có khi được giải cũng nên, bởi đọc thấy sách được giải cũng chả hơn gì. Thì lỗi tại cái… não thoái hóa quên quên nhớ nhớ mà mình chả làm sao chống lại được.

          Một ông đồng nghiệp, vào tuổi trên bát tuần rồi mà vẫn say mê làm nghiên cứu. Rồi tìm mọi cách chạy chọt, ép báo tạp chí đăng. Khổ nỗi bài nào của ông đăng tạp chí cũng bị bạn đọc phê bình là thiếu khoa học, râu ông nọ cắm cằm bà kia, sai toét về lịch sử.

          Lại nghĩ về mình, đã bắt đầu lẩm cẩm, não thoái hóa rồi thì nên thôi làm nghiên cứu. Nghĩ thông rồi, mình công bố “Treo bút nghiên cứu” và chỉ thi thoảng viết mẩu truyện nhặt, vài câu thơ tùy hứng, có dở cũng không chết ai. Phần lớn thời gian còn lại mình đi thể dục karaoke cho khỏe. 

          Còn có cái giọng hát cho khuây khỏa hàng ngày. Vậy mà tự nhiên thấy đau nóng bỏng cổ họng rồi mất tiếng. Ông trời cho sao được vậy. Biết làm sao bây giờ.

          Thế mới thấy việc ông bạn họa sĩ Đặng Nam thỉnh thoảng hứng lên quay video clip mình hát karaoke bằng điện thoại, rồi tung lên mạng thật quý hóa. Bây giờ mất tiếng, mở các video đó nghe lại, cảm ơn ông bạn họa sĩ Đặng Nam nhiều lắm.

          Vào tuổi “xưa nay hiếm” sức khỏe giảm sút với tốc độ tên lửa. Ốm đau, tai nạn liên miên. Năm trước tai nạn gẫy xương đòn, phải mổ đóng nẹp. Năm nay chỗ đóng đinh sưng đau, phải mổ tháo nẹp. Dấu nhẹm bạn bè, họ hàng, tránh phiền hà cho họ phải thăm nom vất vả.

          Mỗi người có cái thời của mình. Thời của lớp cánh già bọn mình đã qua rồi. Thức thời lui về sau cánh gà, để sân khấu cho bọn trẻ diễn. Chớ dại mà cố đấm ăn xôi, có khi danh bại thân liệt như chơi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THĂM NHÀ LƯU NIỆM NAM CAO, BÁ KIẾN

 

 

 

        Sáng 8 - 7 - 2014 tôi cùng nhà thơ Chu Đình An và nhà thơ Nguyễn Hữu Thức (Phó chủ tịch Câu lạc bộ thơ Non Côi Sông Vị) đi thăm nhà lưu niệm nhà văn liệt sĩ Nam Cao ở Nhân Hậu (Lý Nhân - Hà Nam).  Nhìn từ trên đường cái xuống nhà lưu niệm thấy khá đẹp. Ngõ nhỏ dốc từ trên đường cái xuống xây bậc gạch, giữa có gờ khoảng một gang tay. Mộ nhà văn bên ngoài, nhà lưu niệm bên trong.

       Sân gạch ẩm ướt do mưa, rêu lờ mờ xanh. Tôi dắt xe máy cua trong sân, trượt bánh xuýt đổ. Vườn trước sân, bên ao cá, có hai cây của bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trồng lưu niệm, nhỏ và còi cọc giữa lớp cỏ xanh um phát triển tự do. Bên trái góc vườn có cây đa xanh tốt xum xuê treo biển Tỉnh ủy Hà Nam trồng.

       Trong nhà lưu niệm trưng bày đơn sơ. Bác trông coi nhà lưu niệm không thuyết minh, vui vẻ chụp hộ tôi mấy tấm ảnh lưu niệm.

       Bác An yêu cầu tôi ghi sổ lưu niệm.

       Chúng tôi dâng hoa và thắp hương tưởng nhớ nhà văn. Nhà thơ Chu Đình An tặng nhà lưu niệm tác phẩm thơ "Chí Phèo" chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao.

       Khi ra về, tôi mắc giữa dốc lên đường cái, lùi xe xuống không được mà đẩy lên thì không đủ sức. Bác An và bác Thức xúm vào đẩy giúp. Bác An cưỡi xe từ trong sân, cua ra ngõ, xe trượt bánh đổ nghiêng.

       Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình thăm nhà Bá Kiến.

      Theo biển chỉ dẫn đã lả tả chữ còn chữ mất, chúng tôi vào thăm nhà Bá kiến cách nhà lưu niệm Nam Cao khoảng 2 km. Nhìn nhà Bá Kiến từ nhiều góc độ, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: "Đâu rồi nhà ngang dãy dọc với nhiều người làm thuê ở mướn của ông Bá nổi tiếng giàu và quyền thế nhất làng? Hóa ra địa chủ ngày xưa cũng chỉ giàu đến thế này thôi ư? So với quan chức thời nay thì ông Bá Kiến chỉ là con tép!"

       Sau cú điện thoại hai phút, chị trông coi nhà Bá Kiến đã có mặt mở cổng mời chúng tôi vào nhà.

       Vườn trước vườn sau cỏ rả tranh đua với ổi, chuối.

       Vào nhà, cảm giác hơi lạnh lạnh. Đơn sơ, chỉ  có gian giữa bày bàn thờ cụ Bá. Gian bên có mấy cái nồi đất và tấm biển quảng cáo xếp xó, ghi: "Bán cá bống kho". Thấy tôi chăm chú nhìn tấm biển, bác Thức nói nhỏ: "Cá bống kho nổi tiếng ở đây đấy, có dùng không, hai triệu một niêu thôi!"

       Nhìn lại căn nhà, thấy hàng cột lim nhẵn bóng rất giá trị, tôi đo bằng tay chu vi cột được 5 gang tay.

       Chị chủ nhà rót nước mời khách rồi bắt đầu thuyết minh theo bản chuẩn bị sẵn y như trẻ con đọc thuộc lòng bài học. Tôi hỏi:

       - Chị có lương không? Chị là con cháu cụ Bá à?

       - Dạ không ạ. Chúng cháu là người làng tự nguyện trông coi. Không ai trả lương cả. Chỉ khách tham quan cho đồng nào được đồng ấy thôi ạ.

       - Thế nhà đất cụ Bá bây giờ ai quản lý?

       - Sở Văn hóa Hà Nam mua rồi ạ.

       - Nhà cụ Bá còn nguyên cũ hay làm lại rồi?

       - Nhà cũ đấy ạ. Cách đây 147 năm rồi. Còn dãy nhà ngang 5 gian thì không còn ạ.

       - Ồ, dãy nhà đó, bà Ba và anh Chí... Truyện của Nam Cao đúng thực tế không, có gì khác không?

       - Dạ, truyện nói cụ Bá 3 vợ, thực tế cụ 5 vợ cơ ạ. Cũng không phải anh Chí đâm chết cụ, mà cụ chết tự nhiên thôi, sau khi bà Ba treo cổ tự vẫn ạ. Cụ có bắt anh Chí đi tù một thời gian ngắn.

       Tôi thấy gai gai lạnh, bèn bỏ ra ngoài nhìn ngó ngẩn ngơ. Đâu rồi hình bóng cụ Bá, bà Ba, anh Chí...

 

                     8 – 7 – 2014

 

 

 

 

 

 

 

 

          CÒN DUYÊN

 

 

 

       Nhớ thời sinh viên hơn nửa thế kỷ trước, Đại học thư viện K6 sinh hoạt văn nghệ rất sôi nổi. Có lần thi hát, ông Nhân hát bài “Tầm Vu” rất hay, nhưng ông ấy không chịu nhận giải nhất, cứ nhường cho tôi. Không rõ ông Nhân có còn không? Từ ngày đi bộ đội, tôi không biết một thông tin gì về ông Nhân. Nhớ bà Tám hay hát bài “Hoa thơm bướm lượn”, bà Lan Trẩm hát quan họ “Giã bạn”, “Kẻ Bắc người Nam’… Cứ thấy bà Lan là nghe “Hự ới hừ là hự ới hừ”. Thoắt cái mà giờ thành cụ cả rồi. Các bạn K6 ơi, cùng nhớ về các bạn đã đi xa nhé: Hiền (Hà Nội), Châu (Thanh Hóa), Yến (Thái Bình), Lý (Nam Định), Trẩm, Tình, Toàn, Khải, Bổng…

       Nhớ trước khi lên đường nhập ngũ, tôi còn cùng đội văn nghệ K6 diễn vở “Diễn viên không chuyên nghiệp”. Tiết mục của K6 nổi đình đám trong đêm hội diễn của trường Văn hóa. Ông Tứ Lý vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên. Tôi đóng vai Thiếu tá tỉnh trưởng. Phúc đóng vai Trung úy hầu cận. Bà Liễu tân đảo về, nói tiếng Pháp sõi hơn tiếng Việt, người đẹp quý phái, đóng vai nhà báo nước ngoài. Ông Bút đóng vai anh lính cộng hòa, diễn tả thay đổi tâm lý tình cảm ăn nhập với giọng ca thiết tha ngọt ngào ngang ngửa với ca sĩ Thu Hiền của bà Thúy: “Quay về đi thôi hỡi anh người lính cộng hòa…” Bà Hải hoa khôi của lớp và các bà Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương… đóng vai nhóm sinh viên do ông Tứ cầm đầu. Còn văng vẳng bên tai tôi tiếng của Thiếu tá tỉnh trưởng:

       - Xin chào các bạn sinh viên!

       Im lặng.

       - Xin chào các bạn sinh viên!

       Im lặng.

       - Chào các bạn sinh viên! Xin chào! Chào!

       Vẫn im lặng.

       - Ồ! Thế ra dưới chân tôi là một sa mạc trầm tư đấy ử?

       Tiếng của ông Tứ đóng vai lãnh đạo nhóm sinh viên đáp trả:

       - Và trên đầu ông là cả một trời sao sáng chói đấy!

       Những chuyện vui buồn của K6 thành kỷ niệm đẹp da diết theo tôi từ ấy đến giờ các ông các bà ạ.

       Giờ thì mời bà Lan bà Tám cùng “hự ôi hừ là hự ôi hừ” với tôi để ta cùng quay về thời tuổi trẻ đẹp nhất đời người nhé! Chúng mình vẫn “còn duyên” phải không các ông các bà đồng môn K6 của tôi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÂN BÀ CỤC TRƯỞNG CỤC BẢO VỆ VĂN HÓA ĐÒI CẤM QUẢNG CÁO “MỞ LON…” 

 

 

          Nhân bà Cục trưởng Cục bảo vệ Văn hóa đòi cấm chỉ quảng cáo “Mở lon” vì cho như thế là “Mở lon = mở lồn là thiếu văn hóa”, tôi có comments phản đối thì bị một số bạn chửi bới tôi và binh bà Cục trưởng rằng dùng từ “LON = LỒN” là vô văn hóa, là tục tĩu, là xấu. Tôi xin được thưa như sau:

       Một sự vật, hiện tượng, con người… đều được nhân dân ta từ ngàn đời nay gắn cho một cái tên để phân biệt loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác, cá thể này với cá thể khác. Cái tên gọi nó là một loại phù hiệu để phân biệt các sự vật và hiện tượng. Mục đích của ngôn ngữ chỉ có vậy. Bản thân ngôn ngữ không xấu, không tốt như cá nhân nào đó áp đặt. Chẳng hạn cô Loan khác cô Khang, cái lồn khác với cái buồi, gió khác với sét… Tất cả chúng đều là phù hiệu riêng của cá thể (danh từ riêng) hoặc của loại nhóm giống nhau nào đó (danh từ chung). Tại sao khi gọi tên cái lồn thì bạn bảo là xấu, là vô văn hóa, là tục, còn các tên khác thì không? Nghĩa là bạn đã áp đặt cái cảm tính của mình cho cái tên này là tốt đẹp, còn cái tên kia là xấu xa. Nhưng bạn phải biết rằng cái tên – phù hiệu của mỗi cá thể nó không hề phụ thuộc vào cảm tính áp đặt của bạn. Bạn tên là Nguyễn Thị Đẹp nhưng có thể nhìn mặt bạn lại rất xấu. Cô bạn thời trẻ của tôi tên là Trần Thị Xấu, nhưng cô ấy lại có hình thể đẹp như tiên nữ. Hình thức xấu đẹp ở đây không liên quan gì đến cái tên. Khi nói đến một anh chàng tráo trở chuyên lừa gái thì người ta bảo là thằng Sở Khanh. Nhưng cái tên Sở Khanh chẳng làm nên cái tráo trở lừa gái mà do chính nhân cách đạo đức hành động của người sở hữu cái tên Sở Khanh quyết định.

       Giờ quay lại chủ đề cái LỒN. Tôi xin hỏi bạn, cái lồn có tội tình gì, nó chỉ là phù hiệu chỉ bộ phận sinh dục sinh sản nữ mà thôi. Nếu cái lồn nó là xấu xa, là thiếu văn hóa thì thử hỏi bạn, và bà Cục trưởng Cục bảo vệ Văn hóa phát ngôn tầm bậy bệnh hoạn  (LON = LỒN xấu xa, vô văn hóa) không từ cái lồn của mẹ mình chui ra làm người sao? Tại sao cái vú để bạn bú mớm lớn lên thì lại được tôn vinh, còn cái lồn để bạn chui ra làm người lại bị miệt thị? Tôi có lần được tham quan đền thờ, tháp Chăm, thấy người ta thờ tượng phụ nữ khỏa thân mà cái lồn chính là vật thờ! Khách đến tham quan bằng mọi giá phải sờ tay được vào cái lồn thờ để cầu hạnh phúc.

       Bạn là nam giới, vậy bạn có lấy một người không có cái lồn làm vợ không?

       Tóm lại tên gọi – phù hiệu của sự vật hiện tượng chỉ để phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, nó chẳng liên quan gì đến cái ý nghĩa mà bạn áp đặt cảm tính. Hãy tôn trọng cái tên gọi và thái độ công bằng với mọi cái tên. Hãy gọi đúng tên của sự vật. Đó mới là thái độ văn hóa, tôn trọng tiếng nói của dân tộc, cha ông. Ngược lại, gán cho cái tên một ý nghĩa chủ quan vốn không phải mục đích của cha ông khi sáng tạo ra nó, liên tưởng xuyên tạc bệnh hoạn theo cảm tính của mình, là thái độ thiếu tôn trọng tiếng nói dân tộc, làm méo mó ý nghĩa của tên gọi - phù hiệu riêng mà thôi.

 

                                      1-7-2019

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          VỀ THĂM NHÀ 

 

 

 

       Về thăm nhà chịu tang ông cậu. Nằm trên chính chiếc giường mẹ tôi, rồi bố tôi nằm trước lúc ra đi. Ngủ một mình trong ngôi nhà thân thiết của cha mẹ mà xúc động thao thức cả đêm. Ngôi nhà 24 mét vuông này được làm từ thời kháng Pháp. Mấy lần giặc đốt, mấy lần dựng lại. Hồi ấy nhà tường đất, mái bổi. Năm 1974 bố mẹ tôi mới xây gạch, lợp ngói. Nơi đây, năm anh em tôi sống trọn tuổi thơ.

       Bố mẹ tôi làm nghề bán hàng sắt (khóa, dao kéo, cày cuốc, bản lề…). Chợ gần một hai cây số như chợ Trung, chợ Bắc, chợ Cầu…, chợ xa trên dưới hai mươi cây số như chợ Bể, chợ Thanh Nhang, chợ Bến… Bố tôi gánh hai thúng hàng nặng 50 ký đi chợ từ nửa đêm, xẩm tối mới về tới nhà. Đòn gánh đè nặng trên vai năm này qua năm khác làm hai vai bố tôi nổi hai cục u to như bát ăn cơm. Mẹ tôi gầy liêu xiêu đội thúng hàng sắt đi bộ cùng bố tôi. Bố mẹ tôi nuôi năm anh em tôi ăn học trưởng thành nhờ gánh hàng sắt ấy.

       Cô em họ vào chơi cứ băn khoăn: Không hiểu ngày xưa các cụ làm sao mà sống được trong ngôi nhà bé tẹo này? Bây giờ nhà mấy tầng, diện tích gấp nhiều lần ngôi nhà này mà con cháu vẫn kêu chật.

       Sáng sớm, ra nhìn trời nhìn đất, nơi nào cũng thấy thân quen, gắn bó. Nhà thờ Phú Nhai cách nhà tôi ba trăm mét đường chim bay, mờ mờ trong sương sớm. Nghia trang liệt sĩ bên nhà, có hai liệt sĩ của gia đình trong đó. Dòng sông hiền hòa chảy quanh làng, nhưng giờ bị thu hẹp và ô nhiễm. Cầu bến này là nơi tôi từng ngồi câu cá rô, cá rói. Chiếc Cầu Trường ngày trước làm bằng gỗ, hiện nay người ta thay bằng thanh sắt đường tàu. Cây cầu này ngày xưa là nơi tôi thường ngồi thổi sáo đêm trăng, chiều thì cùng bọn trẻ thi nhảy cầu, bơi lặn.

Nhìn bức tranh Cầu Trường của họa sĩ Nguyễn Gia Hoàn vẽ từ nửa thế kỷ trước mà nao nao trong lòng đến lạ. Ký ức tuổi thơ dào dạt sống dậy trong lòng.

       Hơn nửa thế kỷ xa quê, lúc nào tôi cũng đau đáu nỗi nhớ quê. Mỗi lần có dịp về thăm quê là mỗi lần sung sướng, xúc động. Ngôi nhà nhỏ bé của bố mẹ tôi là nơi tôi luôn hướng về, là nơi níu giữ tình yêu của tôi, là nguồn năng lượng tiếp cho tôi hy vọng, mong mỏi và sống.

 

                    Xuân Trung, ngày 11 - 6 - 2019

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM XUẤT XỨ VÀ TÁC GIẢ

BỨC THƯ HỌA VÀ BÀI THƠ NÔM

 

 

 

        Ngày còn bé tôi có đọc được một bài thơ Nôm in trên một trang tạp chí (hay báo) dùng gói bánh rán mà mẹ tôi mua về làm quà cho các con. Tôi rất ấn tượng bức tranh và bài thơ. Lâu rồi nên tôi nhớ không chính xác. Đại để bức thư họa vẽ tranh phong cảnh sơn thủy, có kèm theo một bài thơ minh họa theo trí nhớ của tôi như sau:

       Bốn cảnh đều nhau một cảnh con

       Ba xuân nho nhỏ một xuân tròn

       Hồ rộng mênh mang ngư lộn ngược

       Núi cao chót vót dựng sườn non

       Tôi mang máng nhớ là bài báo có nói về hoàn cảnh ra đời bức thư họa và bài thơ của hai tác giả là những nhà nho thời phong kiến. Đây là một giai thoại hay về hai tác giả. Nhưng tôi không thể nhớ ra tác giả bài thơ, bức thư họa là ai?

       Có lần tôi hỏi nhà thơ Phạm Trọng Thanh, được anh chỉnh lý câu thứ tư bài thơ là:

       Núi cao chót vót điểu nằm ngang

       Còn nhà thơ Trần Khắc Cánh lại đọc câu này là:

       Núi cao chót vót ngựa chồn chân

       Theo hai dị bản này thì bức tranh phải thêm chữ “điểu” (chim) viết nằm ngang hoặc chữ “mã” (ngựa) cạnh phía trên chữ “sơn” (núi). Song cả hai nhà thơ đều không cung cấp được cho tôi xuất xứ bài thơ và tác giả là ai.

       Trong cuốn “Truyền thông phát triển trong nền kinh tế nối kết” của Ts. Lê Thanh Hải, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội năm 2017, trang 69 có đoạn viết:

       “Tôi từng được nghe một ví dụ tương tự như vậy thời còn học đại học, về một bức họa bằng thư pháp. Người họa sĩ Hà Nội lúc đó viết một chữ Hồ bằng tiếng Hán thật rộng với một chữ Ngư nằm lật ngược, bên cạnh chữ Sơn thật cao và chữ Điểu bé tí ở trên. Hai bên cạnh bức họa thư pháp là mấy chữ Xuân có một chữ được khoanh tròn, và mấy chữ Cảnh giống nhau kèm theo một chữ Cảnh bé hơn. Ngồi trong lớp học tiện nghi còn đơn sơ, cậu sinh viên non nớt là tôi bỗng được giác ngộ về một thế giới đẹp nằm ở đâu đó ngay bên kia tấm bảng đen, bức họa cũng chính là bài thơ mà người thầy chỉ đọc thoáng qua mà đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ:

Ba xuân nho nhỏ một xuân tròn

Bốn cảnh đều nhau một cảnh con

Hồ rộng thênh thang ngư lộn ngược

          Núi cao chót vót điểu nằm ngang.” (Hết trích)

          Theo như tác giả Lê Thanh Hải thì câu bốn của bài thơ cũng giống như câu nhà thơ Phạm Trọng Thanh cung cấp cho tôi. Câu một và hai đổi chỗ. Ở câu ba thì có từ “thênh thang” khác với “mênh mang” do tôi nhớ có thể không chính xác. Tinh thần toàn bài không có gì khác với bài tôi nhớ. Riêng về bố cục bức thư họa, thay vì bốn chữ “cảnh” viết thành hàng ngang phía trên bên phải, trên bốn chữ này lại thêm một chữ “cảnh” nhỏ hơn, và ba chữ “xuân” nho nhỏ cộng một chữ “xuân” khoanh tròn viết theo cột dọc bên phải bức thư họa, lại thay bằng “Hai bên cạnh bức họa thư pháp là mấy chữ Xuân có một chữ được khoanh tròn, và mấy chữ Cảnh giống nhau kèm theo một chữ Cảnh bé hơn”. Tác giả Lê Thanh Hải cũng không đưa ra thông tin gì về xuất xứ tác giả cụ thể bức thư pháp và bài thơ.

       Suy nghĩ kỹ thì tôi thấy các dị bản thêm hình ảnh “điểu nằm ngang” tả chim bay ngang núi hoặc “Ngựa chồn chân” nói được sự cao của núi. Nhưng về nghệ thuật thì vần “ang” trong từ “Ngang” và vần “ân” trong từ “chân” đều không phải vần chính với vần “on” của bài thơ. Tôi cứ băn khoăn: Các cụ nhà Nho xưa rất giỏi và coi trọng niêm luật trong thơ, không lẽ các cụ lại bỏ vần chính mà dùng vần không phải vần chính?

       Nhờ các bạn đọc kiến văn rộng cho biết nguyên bản và xuất xứ bài thơ. Tác giả bức thư họa và tác giả bài thơ là ai. Thành thật cảm ơn các bạn.

         

 

 

 

 

 

 

NHẬT KÝ ĐI VIỆN

 

 

          Tầm này năm ngoái (6-9-2017) mình bị tai nạn xe máy gẫy xương đòn, phải mổ nẹp sắt đóng đinh. Nằm viện 8 ngày, về kiêng đi xe đạp ba tháng. Bác sĩ hẹn một năm sau vào mổ tháo nẹp gỡ đinh.

 

          11 - 9 – 2018

 

          Ăn sáng cơm ruốc hoặc miến cà chua thịt băm mãi cũng chán, vợ đi mua cho đĩa bánh cuốn chả ở quán đầu ngõ. Lâu không ăn bánh cuốn, ngon miệng ăn hết đĩa bánh vẫn còn thòm thèm.

          Chợt con gái gọi điện:

          - Hôm nay con được nghỉ tiết đầu, lại là ngày tốt (2-8 âm lịch), bố vào luôn viện chờ con đưa đi làm thủ tục mổ gỡ đinh.

- Ừ! Nhưng 11- 8 âm bố phải đi dự đám cưới con gái bác Thi Thường, 14 – 8 về quê giỗ bác Vượng gái, 21 – 8 về Thái Bình ăn cưới con cậu Sa… có kịp không?

- Thoải mái mà bố. Bố chỉ cần vào người ta mổ 15 phút, xong về luôn ạ.

- Nhanh thế à? Hay quá. Bố đi luôn.

8 giờ đã có mặt ở Phòng khám Bệnh viện đa khoa tỉnh. Lấy phiếu khám, rồi vào cửa phòng 116 chờ con gái. 8 giờ 30 con gái đến làm thủ tục khám xong dẫn bố đi chụp phim, siêu âm, xét nghiệm máu, điện tim đồ. Nhờ bạn của con gái làm trong viện giúp mà các thao tác chụp chiếu, xét nghiệm rất nhanh gọn. Mang kết quả về phòng 116 được bác sĩ dẫn lên Khoa chấn thương chỉnh hình, bàn giao bệnh nhân cho Khoa. Bụng mừng thầm: mọi việc cứ nhanh gọn thế này thì tuyệt quá, mai kia có thể về nhà rồi.

          Bác sĩ phòng đón tiếp bệnh nhân tại Khoa chấn thương chỉnh hình chưa xem hồ sơ đã bảo:

          - Bác phải mượn quần áo Bệnh viện đã chứ!

          Con gái bảo:

- Chị không biết. Lúc nãy ở Phòng khám, bác sĩ dẫn thẳng bố chị lên đây nên chị chưa mượn được quần áo.

          Xem hồ sơ xong, bác sĩ phán:

 - Trường hợp của bác không mổ được!

- Tại sao?

- Lượng đường trong máu của bác quá cao, những trên 11 phẩy, không cho phép mổ.

          - Mình chưa bao giờ bị bệnh tiểu đường. Sao lại thế?

Con gái bảo:

- Do bố chị không biết nên ăn sáng rồi… lượng đường cao, chứ bố chị không tiểu đường đâu.

- Thế này vậy. Bác về nhịn ăn, sáng mai vào đây chúng cháu thử máu lại.

- Đành vậy.

 

          12 – 9

 

          7 giờ đã có mặt ở Phòng đón tiếp bệnh nhân. Bác sĩ bận giao ban, 8 giờ 30 mới có người lấy máu. Cô bác sĩ trẻ có cái môi trên vá, nhưng trông cũng xinh, bảo:

          - Bác cứ về nhà nghỉ. Bác để số điện thoại lại, cháu sẽ gọi cho bác.

          - Cảm ơn cô.

          Đầu giờ chiều, con gái gọi điện:

          - Bác sĩ gọi điện cho con bảo thử máu lại thì lượng đường trong máu của bố có hơn 7 phẩy thôi, vẫn trong khung mổ được. Họ hẹn bố tầm 5 giờ chiều vào nhập viện để sáng mai mổ ạ.

          Mừng quá, 3 giờ chiều đã vào viện, mượn quần áo bệnh nhân và vào Phòng đón tiếp. Cô bác sĩ trẻ có cái môi trên vá nhưng trông cũng xinh, bảo:

          - Bác vào sớm thế ạ. Thôi bác cứ về nhà tắm giặt, ăn uống đầy đủ rồi tầm 6 giờ tối bác vào nhận giường, nhịn ăn, mai mổ sớm.

          Lại khăn gói quả mướp ra bắt tắc xi về nhà. Khổ, đi tắc xi có 3 cây số mà người nôn nao suýt thì ọe ra xe.

          6 giờ tối. Con trai cả đi làm về liền lai bố vào viện. Vào thẳng Phòng hành chính, gặp bác sĩ Trưởng khoa. Năm ngoái chính ông bác sĩ Trưởng khoa mổ cho mình. Trưởng khoa hỏi:

          - Ông Mỹ Giống phải không?

- Phải ạ.

          Ông bác sĩ Trưởng khoa bảo một bác sĩ trẻ:

- Đưa ông về phòng.

Lại về nằm chính cái Phòng cấp cứu mà một năm trước mình đã nằm cái giường số 16 này. Nửa năm sau, ông em trai bị tai nạn gẫy 2 xương cẳng chân cũng nằm chính cái giường này. Và bây giờ mình… Cả đêm thao thức không sao ngủ được. Sao đêm dài quá vậy. Mong trời sáng để được mổ cho nhanh. Cùng phòng có một ông ở Giao Hải, Giao Thủy chờ tháo đinh khớp gối, hai ông tháo đinh tay, một người tháo đinh xương đòn, một người tháo đinh ống xương chân. Tất cả sáu ông bệnh nhân già, trẻ được báo chuẩn bị 8 giờ sáng mai lên bàn mổ.

 13 – 9

 

          7 giờ sáng, bà xã và các con trai, con gái, con dâu đã túc trực chờ đưa bố đi mổ.

          8 giờ. Bác sĩ nam trung niên cầm tập hồ sơ bệnh án đến phòng cấp cứu gọi to tên từng bệnh nhân:

          - Bác Trần Mỹ Giống.

- Có! – Mình kêu to như hồi điểm danh trong quân đội.

- Các bác theo tôi đến phòng mổ.

- Rõ!

Sáu bệnh nhân hàng một kéo theo một đám đông người nhà phục vụ hành tiến về Phòng mổ. Tới cửa Phòng mổ, mấy bác sĩ mặc áo bờ lu xanh ngăn người nhà lại, đưa bệnh nhân vào Phòng mổ.

          Trước khi lên bàn mổ, mỗi bệnh nhân đều được truyền một chai nước thuốc.

Bác sĩ đeo giây đo huyết áp vào tay trái mình, rồi lấy vải xanh che kín cả người cả mặt người bệnh, chỉ chừa vai trái để mổ. Trong khi bác sĩ chuẩn bị điều chỉnh cột đèn chùm (ấy là mình nghe tiếng xê dịch chân đèn và người nói mà đoán thế) thì mình nhắm mắt lắng nghe máy đo huyết áp cứ bơm hơi, xả hơi theo chu kỳ. Hình như có cục bông bôi nước lên khu xương đòn trái làm da mình nóng bỏng.

          - Sáng nay cụ có ăn uống gì không?

- Không!

Nhói. Hình như lưỡi dao mổ nháy xuống thịt chạm vào nẹp sắt nghe tiếng “cạch”. Hơi rùng mình.

          - Cụ có uống gì không?

- Có uống một viên hạ huyết áp.

- Đấy, là cụ có uống chứ! Cụ uống nhiều không?

- Uống một ít nước lọc.

Ro…ẹt… roẹt… Hình như lưỡi dao mổ cắt ngược lên như rọc giấy. Lại cảm giác nắm bông ướt chùi qua chùi lại theo vết mổ nóng bỏng da.

- Chưa được. Chỗ này còn… - Tiếng một bác sĩ.

          - Được. - Bác sĩ mổ trả lời.

          Lại một riếng roẹt nữa. Chỗ mổ hơi đau. Chỉ hơi đau mà mình cứ sợ, đã lên gồng ngay từ đầu, hóa ra không cần thiết. Thế là mình mơ mơ màng màng thiu thiu.

          - Cụ phải thức nhé! Cụ thở đều nào.

          Không biết bác sĩ tháo ốc vít ra sao mà cảm thấy như ta dùng tô vít xoáy mũ đinh vít. Lần đóng đinh năm ngoái, nghe tiếng ốc vít xoáy vào xương như người ta khoan đinh vào tường. Lần này chỉ cảm thấy ốc được xoáy ra mà không nghe tiếng kêu. Mỗi khi một cái ốc vít được xoáy ra khỏi xương thì tự nhiên cả vai và tay mình bỗng co giật lên một cái, tê tê. Cái tê tê không hề khó chịu. Tất cả sáu lần tay vai giật lên như vậy. Hình như bác sĩ cầm dao mổ gõ lên mảnh nẹp sắt phát ra những tiếng cạch cạch cạch. Rồi lại có cục bông chùi đi chùi lại. Bắt đầu kim khâu móc vào hai bên vết mổ.

          - Xong! Nào đưa cụ xuống giường.

          Mình đang mơ màng thì giật mình: Đã xong rồi cơ à. Nhanh phết!

          Chờ chai nước truyền hết, bác sĩ lại truyền tiếp cho mình chai thứ hai. Mình có bệnh tiểu nhiều lần. Bắt đầu buồn tiểu. Thót hậu môn lại để kìm cơn mót tiểu. Trời ạ, chờ hết chai nước này thì mình tè ra quần mất. May sao bác sĩ đã gọi người nhà ra cửa đón bệnh nhân về buống bệnh.

          Các con vừa đưa bố về đến buồng cấp cứu, mình nhỏm dậy định vào nhà vệ sinh thì bác sĩ trực phòng, một cô trung niên có khuôn mặt bầu, người hơi béo béo, ngăn lại:

          - Không được! Yêu cầu bệnh nhân nằm im. Vừa gây mê tủy sống đã dậy, nhỡ bệnh nhân gục xuống trong nhà vệ sinh chúng tôi không chịu trách nhiệm.

- Nhưng bố em có bệnh tiểu đêm. - Con dâu bảo bác sĩ.

- Thế thì mua con vịt cho bệnh nhân tiểu tại giường.

Trời ạ. Khổ! Mình cảm thấy khỏe, chả cần gì phải tiểu tại giường. Lại cố lên gồng, thót hậu môn.

          Con dâu mua con vịt về. Con trai bảo bố nằm nghiêng tiểu vào con vịt. Nhưng mà giữa chỗ hơn ba chục bệnh nhân và người nhà chen chúc trong phòng, xấu hổ, tiểu làm sao được. Hơn nữa nó cứ rụt như chui tuột vào bụng, kéo mãi nó ngoan cố chẳng chịu ra thì làm sao đút nó vào mỏ con vịt mà tè được. Trời ạ. Không có cái khổ nào bằng cái khổ này.

Thót hậu môn, thót hậu môn. Chờ cho các bác sĩ ra hết khỏi phòng, mình nhỏm dậy bảo con trai kèm vào nhà vệ sinh. Ối trời đất ơi, nước trong bụng nhiều vậy không biết. Chờ 5 phút mới hết. Nhẹ cả người. Sướng thật.

Bác sĩ mặt bầu, người hơi béo béo bảo bà xã mình và các con mình:

- Nên cho bệnh nhân uống sữa và uống thuốc thay cơm. Nếu cần mua thì đến phòng tôi mua.

Con trai bảo:

- Bố em ăn uống bình thường, không cần đâu ạ.

Buổi chiều. Bác sĩ trực phòng mặt bầu, người hơi béo béo đến bên giường bảo:

- Người nhà thu dọn đưa bệnh nhân về buồng bệnh nhé!

Rồi quay sang gọi một bác sĩ trẻ (Bác sĩ thực tập thì phải):

- Cháu đưa bệnh nhân đến phòng 211 nhé!

Tặng ông cụ bệnh nhân nặng bên cạnh con vịt vừa mua chưa kịp dùng.

          Đến phòng 211. Chỉ còn hai giường: Một trong góc cùng không cửa sổ, một ngay trước cửa nhà vệ sinh. Bà xã mình chọn gường trong góc cùng.

          Phòng này 11 giường bệnh, người phục vụ và người bệnh ồn ào chật chội, nhếch nhác.

- Phòng vệ sinh bẩn lắm ông ạ. Ông hay đi vệ sinh mà cứ cảnh chầu chực đợi nhau như thế này thì khổ quá. 

- Đành vậy, biết sao giờ.

Đang than vãn thì thấy cô bác sĩ nhỏ nhắn, mặt thanh thoát dễ thương đến bảo:

- Bà thu dọn đưa ông sang phòng 210 ạ. Để cháu mang đồ cho.

Ừ! Phòng 210 có 5 giường bệnh. Nhà vệ sinh sạch sẽ, có sẵn xà phòng và giấy vệ sinh, vòi hoa sen, vòi xịt, bệ xí trắng phau… chả kém gì vệ sinh của gia đình.

Đêm. Con trai út vào ngủ với bố cho yên tâm. Hai bố con mỗi người một giường vì ít bệnh nhân, thừa giường.

Thì ra bác sĩ nhỏ nhắn, gương mặt thanh thoát đáng yêu là bạn của con gái mình. May thế! Đêm ngủ ngon.

 

          14 – 9

 

          Sáng sớm, gặp bác sĩ Trưởng khoa. Ông bảo:

- Xương liền, vết mổ của ông rất tốt. Chỉ cần uống thuốc. Ông yên tâm.

- Vâng! Lần này tôi không thấy đau. Người cảm thấy khỏe khoắn bình thường. Không sốt. Xin bác sĩ cho ra viện sớm ạ.

- Thôi ông đợi đến thứ hai. Tôi bảo các bác sĩ phát thuốc bốn ngày cho ông về nhà. Thứ hai ông vào thay băng và làm thủ tục ra viện.

- Thế thì hay quá. Cảm ơn bác sĩ.

Bác sĩ nhỏ nhắn, gương mặt nhẹ nhõm thanh thoát bảo:

- Ông sang phòng tiêm cháu thay băng cho. Thuốc thì chiều mới có. Cháu vay trước cho ông về nhà. Thứ hai, 8 giờ 30  ông vào thay băng.

- Thứ hai tôi vào chiều làm thủ tục xuất viện luôn. Cảm ơn bác sĩ.

Hai con trai thu xếp cho bố về nhà.

Về đến nhà:

- Mới đi có một tuần mà thấy lâu quá bà ạ. Thằng đích tôn nó cứ nhìn tôi chằm chằm, như là nó không nhận ra ông nội bà ạ.

- Đâu mà một tuần. Ông mới mổ hôm qua mà. - Quay sang thằng cháu - Ông đâu Tôm? Ông mình đây này.

- Ừ nhỉ! Già lẩm cẩm mất rồi.

Thằng Tôm lúc này mới nhận ra ông nội, toét miệng cười.

 

          17 – 9

 

          Sáng vào viện nhận thuốc ngày cuối trước khi ra viện và thay băng. Vào phòng thay băng, bị cô ý tá mời ra ngoài chờ. Hai lần vào lại bị mời ra để họ thay băng cho bệnh nhân khác ở phòng 217 trước.

          Nhìn cô bác sĩ nhỏ bé, gầy, xanh, hai mắt quầng thâm như mất ngủ thường xuyên thì nhớ ngay đến lần nằm viện năm ngoái. Cũng chính cô bác sĩ này một lần đã thay băng cho mình. Khi kiểm tra vết mổ của mình, bác sĩ Trưởng khoa đã quát cô bác sĩ này. Cô ta không hề nặn dịch mủ vết thương ra mà chỉ tháo băng cũ, thay luôn băng mới. Bây giờ nhờ cô này thay băng thì không tin tưởng. Vậy là điện hỏi con gái: “Cô bác sĩ bạn con tên là gì”. Con gái bảo: “Tên là An bố ạ”. Mình liền đến các phòng tìm cô An. Gặp cô An ở phòng tiếp đón bệnh nhân. Bác sĩ An niềm nở, nhiệt tình dắt mình sang phòng thay băng và thao tác luôn. Khi bác sĩ chọc kim nặn dịch, mình cảm thấy rõ dịch chảy thành dòng xuống vai ra lưng, Bác sĩ lau sạch và băng lại.

          - Xong rồi bác ạ. Bây giờ bác về. Cháu ký nhận hồ sơ thay cho bác khỏi phải chờ đợi. Chiều bác bảo ai vào thanh toán và lấy thẻ bảo hiểm cho bác. À, bác nhớ là kiêng đi xe đạp xe máy, không mang xách vật nặng ba tháng cho xương liền hẳn các lỗ đinh, không nó gẫy lại thì khổ lắm bác ạ.

          - Cảm ơn cô.

          Chợt nhìn thấy cô bác sĩ phụ trách phòng tiêm và thay băng, người to béo, mặt bầu thô, đôi mắt to, đang ngồi trên ghế giáp tường. Cô này nhìn bác sĩ An bằng con mắt lòng trắng chiếm ưu thế vượt trội so với lòng đen. Mình đi vội ra khỏi phòng.

          3 giờ chiều vào Phòng hành chính lấy giấy ra viện.

          - Phải nộp bao nhiêu tiền viện phí hả bác sĩ?

          - Bác được bảo hiểm 100% nên bác chỉ phải nộp 52 nghìn đồng tiền xét nghiệm HIV vì khoản này Bảo hiểm không chi trả ạ.

- Đây ạ. Cảm ơn các bác sĩ.

          Giấy ra viện dặn: 2 ngày thay băng một lần. Sau 12 ngày mới cắt chỉ.

          Con dâu cả cầm đơn thuốc đi mua thêm 5 ngày thuốc cho bố uống đủ 10 ngày.

          Vậy là đợt đi “công việc riêng” như thông báo với bạn bè trên FB đã kết thúc tốt đẹp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          TÔI CHỮA ĐAU LƯNG

 

 

 

 

          Bạn bè quan tâm thăm hỏi bệnh “tình” có đỡ không? Gần đây lại có nhiều người không quen biết điện thăm hỏi bệnh đau lưng của tôi, quảng cáo bán thuốc, mời chữa trị ở cơ sở nọ cơ sở kia. Có người tự giới thiệu là cán bộ Viện nghiên cứu y học cổ truyền. Người thì bảo là bác sĩ trung tâm xương khớp Tam Đảo. Người khoe là nhà thuốc gia truyền. Tôi thành thực trả lời rằng tôi đã uống nhiều loại thuốc do các giáo sư tiến sĩ quảng cáo trên mạng. Ngay cả Khương thảo đan của Viện nghiên cứu y học cổ truyền mà VTV1 quảng cáo công hiệu như thần, tôi cũng uống tới 7 tháng, kết quả chả đâu vào đâu. Tôi cũng chữa chạy tây y, đông y ở tỉnh và trung ương. Đông Y thì xoa bóp, điện châm, laze mạch, thuốc nam, thuốc tiêm… Tây y thì uống theo đơn, đơn thuốc mỗi lần khám có ba bốn loại, tổng hợp lại có các loại thuốc cơ bản sau:

          - AB Extra Bone-care 2 viên / ngày chia 2 lần sáng trưa trước ăn

          - Celebrex 200mg 1 viên / ngày sáng sau ăn

          - Bonlutin 2 viên / ngày chia 2 lần sau ăn

          - Glucosamine 2 viên / ngày chia 2 lần sáng trưa

         - Mesulpine Tab 20mg 1 viên/ngày sáng trước ăn

          - Methocarbamol 4 viên / ngày chia 2 lần sau ăn

          - Myonal 50mg: 3 viên / ngày chia ba lần sáng chiều tối

          - Nociceptol 1 tuýp bôi chỗ xương đau ngày 3 lần

          - Piroxicam 1 viên ngày sau ăn no

          Tốn tiền, mất thời gian mà bệnh chẳng chuyển. Bây giờ tôi chán rồi, không muốn đi bệnh viện nữa.

          Cụ Phan Trần bên Mỹ bảo rằng cụ cũng đau cột sống nhiều năm, thuốc mãi không đỡ, cụ xoay ra tập Yoga và khí công, lại khỏi. Cụ gửi cho tôi mấy băng bài tập khí công. Tôi tập theo nhưng nhiều động tác khó quá chưa tập được.

          Mợ tôi là bà Nguyễn Thị Ngọc, nguyên Y tá trưởng Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cũng bị đau lưng. Bà chữa chạy Tây y, Nam y, Đông y đủ cả vẫn không đỡ. Có lần bà đi chữa lang y ở Hà Nội, họ đắp thuốc tróc hết cả da lưng mà chả ăn thua gì. Bẵng đi dăm năm tôi không gặp bà từ khi bà chuyển đi ở với con trên Hà Nam. Hôm rồi bà gọi zalo nói bà giờ ngày nào cũng tập 5 bài tập pháp luân công theo hướng dẫn trên mạng youtube, bệnh đau lưng khỏi rồi.

          Nhà thơ Chu Đình An đau cột sống nhiều năm, con gái là bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định đưa đi chạy chữa ở tỉnh, ở Hà Nội đủ cả vẫn không khỏi. Gần đây thấy bác An đi xe máy, đi xe đạp bình thường. Tôi bảo bát tuần rồi mà bác còn hăng thế. Bác An bảo bác tập vẩy tay (dịch cân kinh) sáng tối mỗi lần hơn nghìn cái, sáng sáng lại đi bộ dăm cây số, chiều chiều đạp xe gần tiếng đồng hồ, giảm đau lưng nhiều.

          Tôi nghĩ: Sinh lão bệnh tử là quy luật đời người, chả ai tránh khỏi. Đến lúc trời gọi đi là vui vẻ ra đi, không muốn cũng chả khác được. Già rồi thoái hóa xương khớp thì đau, là thường. Không chống lại quy luật tự nhiên được, bịt chỗ này nó xì ra chỗ khác. Thì đấy, uống quá nhiều quá lâu thuốc tây chữa huyết áp tiểu đường đau lưng nó phá ra xơ gan suy thận đấy thôi. Chi bằng ta cứ vui vẻ chấp nhận quy luật, nương theo quy luật, sống chung với bệnh tật, tự luyện tập thích nghi với nó. Nghĩ thông rồi, tôi quyết định dừng tất cả thuốc đau lưng, chỉ còn bắt buộc uống thuốc huyết áp, tiểu đường. Suy thận độ hai thì ăn nhạt, hạn chế ăn chất đạm, lại được bà vợ tra cứu lập ra một chế độ ăn kiêng thích hợp với bệnh chồng.

          Tôi xoay ra tập Dịch cân kinh và Pháp luân công. Ban đầu tập rất mệt, rất ngại. Tôi quyết tâm kiên trì nâng dần thời gian tập lên. Hiện nay cứ 5 giờ sáng tôi tập vẩy tay 15 – 20 phút tương đương vẩy 700 – 800 cái. Sau đó tập tiếp 5 bài tập Pháp luân công 15 phút. Trước khi ăn trưa, tôi tập 15 phút Pháp luân công. Buổi tối tôi lại vẩy tay và tập Pháp luân công như buổi sáng. Hiệu quả hàng ngày khó thấy. Nhưng sau gần một năm tập luyện, đến giờ lưng tôi đã giảm đau nhiều. Ngủ dậy, tôi không còn phải nhờ vợ kéo đẩy mà tự dậy được rồi, ngồi máy tính liên tục được tiếng đồng hồ, đi xe máy xe đạp gặp ổ gà chỉ còn hơi đau, chịu được. Ban ngày vận động, thay đổi tư thế thường xuyên thì không đau. Chỉ khi ngồi hoặc nằm quá lâu, ngủ qua đêm mới đau. Đau thì lại tập vẩy tay và Pháp luân công. Tập xong là giảm hẳn đau. Thế cũng tốt lắm rồi.

          Mỗi người mỗi khác, riêng tôi thì như vậy. Bạn bè quan tâm thăm hỏi thì báo cáo lại như thế!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT CUỘC ĐẤU... THƠ

 

 

 

          Gọi là đấu thơ vì cuộc thi chỉ diễn ra trong 15 phút giữa hai đối thủ luôn “gầm ghè” nhau trong mọi công tác và sinh hoạt là Quỳnh và tôi. Hồi đầu năm 1972 chúng tôi cùng đơn vị chiến đấu ở Quảng Trị. Chiến sĩ trong tiểu đội tôi toàn là sinh viên, duy có Quỳnh mới học xong lớp 10 nên bị tôi coi thường.

          Ngày còn đi học, tôi được tiếng là giỏi thơ hơn những bạn cùng lớp... không biết làm thơ. Từ khi đoạt giải nhì cuộc thi thơ cấp trường, do Trường cấp hai xã Xuân Phương (huyện Xuân Trường) tổ chức, sau đó lại được Đài truyền thanh huyện đưa tin mấy lần, tôi sinh ra kiêu căng, lâu dần thành bệnh thích khoe thơ của mình, không thèm đọc thơ của người khác.

          Một lần đọc bài thơ vừa sáng tác cho đồng đội nghe, được mọi người khen, tôi cao hứng: “Chuyện, thơ của sinh viên năm thứ tư Đại học Thư viện lại chả hay!”  Nghe tôi nói thế, Quỳnh phê bình tôi kiêu căng làm tôi “mất mặt”. Từ đó hai chúng tôi ngầm ganh đua với nhau, ai cũng cố tỏ ra hơn người kia, nhất là trong hoạt động văn nghệ.

          Biết chuyện của chúng tôi, Chính uỷ Trung đoàn, một người rất yêu thơ, bèn gọi cả hai lên gặp và ra một đề thi thơ với yêu cầu: Sau 15 phút phải làm xong một bài thơ lục bát, dài 4 câu, trong thơ phải thể hiện tình yêu trai gái và có đủ các từ “Trời thu”, “Sông”, “Anh”, “Em”.

          Tôi hăm hở tuân lệnh chính uỷ và chắc mẩm phen này sẽ cho Quỳnh “nốc ao”.

          Hết thời gian quy định, tôi đọc bài thi của mình bằng giọng diễn cảm của một chiến sĩ đã từng qua lớp văn nghệ ba tháng và từng biểu diễn hàng trăm lần trước đơn vị:

                   Trời thu xanh thắm trong lành,

          Con sông uốn khúc chảy quanh xóm làng.

                   Tình em như thể dòng sông,

          Anh như trời biếc tắm dòng sông em.

          Thấy chính uỷ gật gù, tôi khoái lắm. Quỳnh thì tỏ ra rất bình thản và chẳng nói một lời, chẳng biểu lộ cảm xúc gì, hoặc là cậu ta cố tình che giấu cảm xúc của mình. Khi chính uỷ nhắc tới lần thứ hai, Quỳnh mới thong thả đọc bài thi của cậu ta như tâm sự với chính mình:

                   Tặng em buổi sáng mai lành,

          Trời thu xanh ngắt soi hình gương sông.

                   Tình em là dòng nước trong,

          Hồn anh trời biếc trong lòng gương em.

          Nghe thơ Quỳnh, tôi sửng sốt vì bài của cậu ta rất giống bài của tôi. Tôi ngờ là Quỳnh nhại thơ tôi, nhưng bài của cậu ta đã ghi rành rành trên vỏ bao thuốc lá trước khi tôi đọc thơ. Hay là cả hai chúng tôi cùng bị ảnh hưởng một bài thơ của tác giả nào đó mà tôi không nhớ ra?  Hay là  Quỳnh có biệt tài đọc được suy nghĩ của tôi?

          Nét mặt Chính uỷ tỏ ra ông đang suy nghĩ rất căng thẳng. Lúc sau ông mới nói ý kiến của mình với giọng thật nhỏ nhẹ khác hẳn giọng nói mạnh mẽ khi ra lệnh của vị Trung tá Chính uỷ Trung đoàn:

          - Bài của hai cậu đều được, nhưng tớ cho là bài của cậu Quỳnh hay hơn. Quyết định: Quỳnh thắng!

          Quỳnh ôm tôi thật chặt và hẹn sẽ gặp tôi hiệp hai trong một dịp gần nhất để tôi có cơ hội gỡ hoà. Nhưng điều đó không thể diễn ra vì hai ngày sau cuộc đấu thơ, Quỳnh đã anh dũng hy sinh. Tự nhiên tôi khỏi hẳn bệnh sính thơ, bệnh ngôi sao, bệnh kiêu căng hợm hĩnh, bệnh coi thường người khác. Nhờ bài học Quỳnh dạy cho mà tôi “ngộ” ra rằng nếu không có thực tài thì chớ cố làm nhà thơ. Từ đó tôi không bao giờ còn giám làm khổ người khác bằng cái thứ thơ con cóc của mình nữa. Tôi bắt đầu đọc thơ của người khác với thái độ trân trọng. Nhờ thế mà tôi tìm thấy trong bãi cát thơ của những người không phải là nhà thơ những hạt vàng quý giá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 MỘT KỶ NIỆM VỚI HOÀNG NGỌC BÍCH

 

        Năm 1979 nổ ra cuộc chiến chống giặc bành trướng Trung Quốc xâm lược. Hồi ấy tôi làm Trợ lý tuyên huấn trực tiếp phụ trách công tác câu lạc bộ Sư đoàn 338. Anh Hoàng Ngọc Bích cùng Trợ lý tuyến huấn với tôi lo công tác tuyên truyền. Hoàng Ngọc Bích viết một câu chuyện có thật (bây giờ gọi là bút ký) nói về cuộc chiến chống giặc Trung Quốc năm 1979.

          Đại để câu chuyện kể về một nữ quân y thuộc Sư đoàn 347 tên là Nhạn có bố là liệt sĩ chống Pháp, anh trai là liệt sĩ chống Mỹ. Ngày 17 – 2 – 1979 giặc Trung Quốc bất ngờ tấn công ta trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung. Quân ta do bị bất ngờ nên ngay từ đầu đã thương vong nặng nề. Trạm quân y của Nhạn bị giặc tấn công giết hại thương binh và các bác sĩ, y tá không từ một ai. Cô y tá Nhạn bé nhỏ, mới nhập ngũ, hiền lành, đã kiên cường dùng súng tiểu liên AK và lựu đạn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ thương binh.

        Khi bài ký được trình lãnh đạo duyệt thì bị cấm phổ biến với lý do nội dung gây bi quan tiêu cực làm ảnh hưởng tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, nếu cứ tuyên truyền sẽ bị kỷ luật.

        Tôi bảo Hoàng Ngọc Bích:

- Tôi thấy bài viết của ông rất hay. Câu chuyện mang tính chân thật cụ thể rất cao, có tác dụng ca ngợi truyền thống hy sinh vì Tổ quốc, khích lệ lòng căm thù giặc của chiến sĩ. Ông cứ gửi lên Đài tiếng nói Việt Nam xem sao.

Hoàng Ngọc Bích gửi bài đi mấy hôm thì có điện báo cho tác giả biết “Câu chuyện về Nhạn” đã được Tất Đạt chuyển thể thành kịch truyền thanh và sẽ phát vào buổi Văn nghệ quân đội 6 giờ sáng ngày Chủ nhật. Hoàng Ngọc Bích vui nhưng cũng rất lo. Tôi bí mật kiểm tra, trực tiếp tổ chức loa đài truyền thanh Sư đoàn thật tốt, đúng giờ phát thanh Văn nghệ quân đội mới mở loa hết công suất cho toàn bộ các phòng ban nghe.

        “Câu chuyện về Nhạn” được đông đảo cán bộ chiến sĩ Sư đoàn chăm chú nghe và khích lệ. Dù đã đọc câu chuyện trước, tôi nghe mà rưng rưng xúc động.

        Câu chuyện do Đài trung ương phát nên lãnh đạo không thể kỷ luật tác giả và người mở loa tuyên truyền.

        Việc làm đã rồi này của tôi là một trong những nguyên nhân tôi không được phong hàm theo chức sau đánh Tàu, và dẫn đến việc tôi bất ngờ ra quân trở về Trường Đại học.

        Hơn bốn mươi năm qua đi, nhớ lại việc này tôi không hề hối tiếc, mà rất vừa lòng với việc mình đã làm.

        Từ ngày ra quân tôi không có dịp gặp lại Hoàng Ngọc Bích. Tôi nói lại chuyện này với mong mỏi tình cờ anh Hoàng Ngọc Bích đọc được hay một ai đó biết thông tin cho anh Hoàng Ngọc Bích để tôi gặp lại người bạn một thời đồng cam cộng khổ trong cuộc chiến chống giặc Trung Quốc xâm lược năm 1979.

 

 

                            

NHỔ RĂNG KHÔN

         Hồi tôi còn thanh niên, có lần cô tôi bảo: “Mày mới có 28 răng thì chưa khá được đâu. Khi nào đủ 32 răng thì mới khá được cháu ạ!”. Tôi cứ nghĩ mãi về cái chuyện răng, mong mình mọc thêm 4 cái răng khôn để khá lên. Mãi năm 68 tuổi mới thấy ngưa ngứa rồi chồi lên cái răng khôn bé tý hàm trên bên trái. Bụng nghĩ: 68 năm mình nhì nhằng, chả lúc nào khá lên được, bây giờ có cái răng khôn rồi, hy vọng sẽ khá lên.

        Thường xuyên tôi lia lưỡi vuốt ve cái mẩu răng khôn bé tý. Cái răng khôn được yêu chiều cứ lớn dần lên. Một ông bạn nhà thơ bảo:

        - Ông nên nhổ cái răng khôn đi khi nó còn chưa đủ sức phá ông. Ông yêu chiều nó lắm vào có ngày khốn khổ vì nó đấy!

        Tôi bỏ ngoài tai lời ông bạn.

        Thời gian trôi đi, cái răng khôn đã to bằng đầu đũa. Càng lớn nó càng chèn đẩy bắt nạt cái răng số bảy liền kề, làm cho tôi nhiều phen đau nhức. Thôi cố chịu đựng, nghĩ răng khôn lớn hết cỡ rồi thì nó không bắt nạt răng số bảy nữa. Lấn ná mãi, năm tôi 70 tuổi, cái răng khôn húc vỡ đôi răng số bảy, làm cho tôi ăn không được, ngủ cũng không được. Đến nước này thì đành nhập viện xử lý. Bác sỹ nha khoa bảo:

        - Răng số 8 của ông mọc xiên, chèn chọc vỡ tan răng số 7 rồi, phải nhổ cả hai răng thôi ông ạ.

        - Vâng, đành vậy.

        Nằm viện tiêm kháng sinh 4 ngày, răng hết đau, có thể mổ rồi. Nhưng khi kiểm tra, huyết áp cao quá, lại hoãn. Sáng hôm sau uống tăng gấp đôi liều hạ áp, kiểm tra còn 150/90, nhổ được rồi. Bác sĩ tiêm giảm đau, kẹp kìm lay lay, bảo:

        - Cháu nhổ cho ông cái răng số bảy, còn răng số tám để tuần sau.  

        Nói vừa dứt lời, bác sĩ vặn ngoéo cái là xong.

        Về phòng nằm, cắn chặt mẩu bông cầm máu, thay ba bốn lần bông máu vẫn ri rỉ chảy. Sáng hôm sau mới hết chảy máu. Đưa lưỡi kiểm tra, thấy cái răng số tám mất tiêu, còn nguyên chân răng số bảy sắc như dao. Hóa ra bác sĩ bảo nhổ răng số bảy, nhưng lại thay đổi quyết định nhổ răng số tám trước.

        Lại ba ngày tiêm kháng sinh trôi qua. Bác sĩ hỏi:

        - Ông còn đau không?

        - Không đau tý nào.

        - Vậy ông bảo người nhà vào viện chăm sóc, chiều nay nhổ tiếp cái răng số bảy.

        Răng số bảy vỡ, chỉ còn nửa thân và chân răng ăn sâu xuống lợi. Chắc phải đào, sẽ đau.

        Ôi, gọi là răng khôn mà nó chả khôn tẹo nào. Được nuông chiều mà không biết, lại phản chủ nên bị nhổ là đáng lắm. Ở đời, cái xấu, cái ác càng được nuông chiều nương nhẹ nó lại càng được đà lấn tới. Đối với cái ác cái xấu cần phải triệt tiêu nó ngay từ khi nó mới phát sinh, còn là cái mầm nhỏ bé, yêu ớt. Nhiều khi lòng nhân ái bao dung lại nuôi dưỡng cho cái ác cái xấu lớn mạnh và tàn phá chính chúng ta.

 

         VĂN HÓA TRONG CÁI BẮT TAY

 

 

          Không rõ cái bắt tay ra đời ở đâu, có từ bao giờ và xuất hiện ở Việt Nam khi nào, chỉ biết ngày nay nó được dùng rộng rãi trong giao tiếp. Ở bất kỳ đâu, trong hoàn cảnh nào: trong các hội nghị hay họp cơ quan, ở trong nhà hay ngoài phố, bạn bè gặp nhau, khi liên hệ công tác, lúc tiếp khách, thủ trưởng đơn vị thăm cơ sở, trong nhân dân hay trong quân đội... ta cũng có thể bắt gặp cái bắt tay.

          Có người nói: cái bắt tay ra đời từ những người đi săn trong rừng, khi gặp người lạ, họ xoè tay không cầm vũ khí ra để tỏ rõ thiện chí của mình. Về sau người ta nắm lấy tay nhau. Dần dần cái bắt tay được sử dụng phổ biến trong xã hội.

          Bắt tay là để tỏ tình thân thiện. Bắt tay thường đi kèm câu chào hỏi. Cùng với sự phát triển văn hoá, cái bắt tay cũng ngày càng được dùng thường xuyên, phong phú về cách thức và ý nghĩa văn hoá. Cấp độ, sắc thái văn hoá của mỗi người có thể biết được qua cách họ bắt tay như thế nào. Vậy, bắt tay cũng phải sao cho có văn hoá. Nếu bạn không biết cách bắt tay, nhiều khi bắt tay lại gây ra điều tai hại ngoài ý muốn.

          Có người khi bắt tay cứ để nguyên bao tay. Bắt tay như thế làm mất lòng tin của người được bắt tay. Tại sao phải tháo bao tay trước khi bắt tay? Chuyện kể rằng: Có người dùng bao tay tẩm độc bắt tay để ám hại người khác. Để đề phòng những chuyện như thế nên khi bắt tay phải tháo bao tay. Hơn nữa, bắt tay là để tỏ tình cảm với nhau thì phải tháo bao tay để biểu lộ và cảm nhận được đầy đủ những cảm xúc và tình cảm của nhau qua da tay, lực tay, nhiệt độ tay...

          Có người khi bắt tay người này, lại ngoảnh mặt chào người khác. Bắt tay như thế làm cho người được bắt tay phật lòng vì thấy rõ sự thờ ơ của bạn.

          Khi gặp cấp trên hoặc người cao tuổi, cấp dưới hoặc người ít tuổi lại chủ động lăng xăng chìa tay ra bắt tay làm cho người bị bắt tay phải miễn cưỡng bắt tay. Bắt tay như vậy làm cho người ta nghĩ là bạn xược.

          Một anh bạn giữ chức vụ cỡ Cục, Sở phàn nàn với tôi: “Cậu A là nhân viên thuộc quyền, trước đây cùng cảnh “cơ hàn”, từ ngày mình làm lãnh đạo thì không bao giờ A chịu bắt tay mình trước, thế là mình chẳng thèm bắt tay A nữa”! Tôi bảo: “Nếu ông đến thăm A với tư cách thủ trưởng, cấp trên thì ông phải chủ động bắt tay A để tỏ ra quan tâm đến cấp dưới mới phải. Đằng này ông lại “không thèm” bắt tay nữa thì ông chẳng những không “tâm lý” mà còn tỏ ra nghèo văn hoá hơn là bạn ông vậy”.

          Bạn là thủ trưởng đến thăm cơ sở, bắt tay lãnh đạo cơ sở trước rồi đến nhân viên là lẽ thường. Nhưng khi gặp tình huống cán bộ nhân viên cơ sở xếp hàng chào bạn, bạn lại đi qua những nhân viên gần nhất để bắt tay cán bộ lãnh đạo ở xa rồi mới quay lại bắt tay nhân viên thì bạn đã vừa để mất đi lòng yêu kính của cán bộ dưới quyền. Bắt tay như thế làm cho người được bắt tay tủi thân vì thấy rõ sự phân biệt lãnh đạo với nhân viên, còn đâu cái ý nghĩa thân tình của bắt tay!

          Có vị thủ trưởng xuống đơn vị chỉ bắt tay lãnh đạo và người “cùng cánh” với mình mà không bắt tay nhân viên khác dù nhân viên đó đứng gần mình nhất. Điều này thể hiện rõ sự không thiện chí của thủ trưởng và tạo ra ác cảm của nhân viên.

          Có hai anh em gặp nhau trong ngày giỗ cha mẹ liền bắt tay nhau rất xã giao. Bắt tay trong hoàn cảnh ấy chẳng những không tỏ được tình ruột thịt mà còn thêm xa lạ nhau ra. Người chứng kiến thấy nó xa lạ với phong tục tập quán người Việt Nam, nó “lai căng”, “học đòi” thế nào ấy.

          Có người bắt tay cứ bóp mạnh làm người được bắt tay phải nhăn mặt hoặc bắt tay bạn gái cứ nắm mãi không rời làm bạn gái khó xử. Bắt tay như thế có phần kém lịch sự.

          Lại có người, phần nhiều là các vị có chức có quyền, khi bắt tay cấp dưới lại giơ bàn tay “vô hồn” ra cho cấp dưới nắm lấy. Bắt tay như thế thật thiếu nhiệt tình, làm cho người được bắt tay cảm thấy “lạnh lẽo” và nhạt nhẽo.

          Bác ngoại tôi - cụ Lê Loan (anh trai cụ Lê Lễ – nguyên Phó ty văn hoá Nam Hà) kể: “Ngày còn trẻ, tôi đi giúp việc cho một vị chức sắc. Một bận có vị khách đến hỏi thăm chủ nhà, mà chủ nhà lại đi vắng. Tôi phải tiếp vị khách ấy. Khi khách bắt tay, tôi khéo léo xoay tay khách lên trên tay mình để ngầm báo cho vị khách biết tôi chỉ là cấp dưới của chủ nhà. Bắt tay cũng tinh tế lắm chứ ”.

          Trong quân đội, người lính khi gặp nhau, cấp dưới phải chào cấp trên nhưng phải chờ cấp trên bắt tay mới được bắt tay. Nếu ngang cấp thì ai thấy trước chào và bắt tay trước.

          Ngoài đời, không có quy định cho cái bắt tay, nhưng nhiều người thừa nhận “luật bất thành văn” là: Khi gặp nhau cấp trên, thủ trưởng hoặc người cao tuổi nên chủ động bắt tay cấp dưới hoặc người ít tuổi để tỏ sự quan tâm, gần gũi của mình với quần chúng. Cấp dưới hoặc người ít tuổi không được giơ tay ra trước để bắt tay cấp trên hoặc người cao tuổi. Khách đến nhà, chủ nhà chủ động giơ tay bắt tay khách để tỏ rõ sự hiếu khách của mình. Bạn bè gặp nhau, cùng giơ tay bắt tay nhau.

          Khi bắt tay, mắt nhìn thẳng vào mặt nhau, ánh mắt, nét mặt biểu lộ tình cảm chân thật, quan tâm đến nhau. Không bắt tay quá lâu, cũng không bắt tay lấy lệ. Lực bắt tay vừa phải, nếu cần biểu lộ tình cảm đặc biệt thì có thể tăng lực đột xuất trong vài giây. Không bóp tay quá mạnh nhưng không được thiếu lực. Nếu bắt tay mà hờ hững thiếu sức sống thì còn đâu nhiệt tình, thân thiện nữa.

          Những người lính thường kể cho nhau nghe một truyện cười liên quan đến cái bắt tay như sau:

          Có vị Đại tá trẻ rất lấy làm tự hào vì được nhiều người tấm tắc khen:

          - Trẻ thế mà đã là Đại tá cơ đấy!

          Mỗi lần đi dạo phố, vị Đại tá thường dương dương tự đắc ưỡn ngực, ngẩng cao đầu. Một bận đang dạo phố, vị Đại tá gặp cậu bé chừng 5 tuổi khoanh tay, cúi đầu kính cẩn:

          - Cháu chào chú Đại tá ạ!

          Vị Đại tá hạ cố nhìn cậu bé :

          - Chào cháu! Cháu ngoan lắm! - và ông tiếp tục dạo gót. Đi được vài bước, chợt ông quay lại, dường như muốn tỏ ra quan tâm đến trẻ em:

          - Hãy về nói với bố cháu rằng: vì cháu là một cậu bé ngoan nên chú Đại tá thưởng cho bố cháu một cái bắt tay nhé!

          Cậu bé lại khoanh tay, cúi đầu:

          - Vâng ạ, cám ơn chú, thưa chú Đại tá.

          Vị Đại tá lại hỏi:

          - Này cháu, thế bố cháu làm gì nhỉ?

          Cậu bé lễ phép:

          - Dạ thưa chú Đại tá, bố cháu làm... Đại tướng ạ!

          - !!!

          Thế đấy! Cái bắt tay tưởng dễ mà chẳng đơn giản chút nào. Sử dụng cái bắt tay bừa bãi, không đúng chỗ, không đúng lúc, không biết cách thức bắt tay, và nhất là thiếu cái tâm thiện chí... nhiều khi biến mình thành kẻ ít văn hoá, có khi thành trò cười cho thiên hạ. Bắt tay sao cho tinh tế, tỏ ra mình là người có nhân cách tốt đẹp, có thiện chí, có văn hoá, văn minh cũng cần phải học lắm vậy.

 

TRẦN MỸ GIỐNG

………………..

 

Nguồn: Tạp chí Văn Nhân. – 2003. – Số 43. – Tr. 54 – 55.

 

 

          VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ

 

          Nhà thơ Nam Thắng hỏi:

          - Trong bài thơ của nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh đăng Tạp chí Văn Nhân số 121 năm 2018 (trang 53) có trích câu nói của Bác Hồ, đọc lên thấy nó ngang phè thế nào ấy. Xin hỏi nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống câu đó có chính xác không? Câu đó ghi trong văn bản nào của Bác Hồ? Bài thơ thế này:

          MÙA THU NHỚ BÁC

Trong trẻo trời thu xanh tiếng Bác

“Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”

Lời thân thiết triệu lòng ghìm nước mắt

Mỗi thu về nhớ Bác mênh mông.

          Trả lời:

          Tôi có tra Toàn tập Hồ Chí Minh và trong Tuyên ngôn độc lập nước VNDCCH 2-9-1945 của Hồ Chí Minh, nhưng không tìm thấy câu “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?” ở chỗ nào cả. Như vậy về mặt pháp lý, câu đó không chính thức, chỉ là truyền khẩu dân gian.

          Đúng như bác thấy câu nói đó vào thơ nó ngang phè. Nó chỉ là câu nói ở dạng khẩu ngữ, không có chất thơ, nó phá hỏng cả bài thơ. Nếu như câu đó được ghi trong chính văn của Toàn tập HCM thì buộc phải trích đúng nguyên văn. Nhưng như tôi nói trên, câu đó không có trong bất kỳ bài chính văn nào của Bác Hồ thì không nên để câu đó trong hai ngoặc kép. Nếu tác giả cứng tay thì sẽ không dùng câu ấy, hoặc biến sửa câu ấy cho hay.

           Trong dân gian, truyền khẩu còn có câu khác rất phổ biến (mà tài liệu nhà trường, tài liệu tuyên giáo, tài liệu thư viện, trong ca khúc, giao hưởng…) sử dụng tương đương câu trên. Đó là câu:

           “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”

           Rõ ràng câu này đọc lên có tính nhạc, không còn là khẩu ngữ bình thường như câu trên.

           Hơn nữa về mặt ngữ nghĩa, câu sau thể hiện đúng với đạo đức, phong thái, trình độ của Bác Hồ - một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, một nhà thơ nổi tiếng.

          Câu đầu, trọng tâm được đặt vào “đồng bào” chứ không phải chủ thể - Bác Hồ. Do đó nó thuộc dạng câu  chất vấn - mệnh lệnh. Khi tôi giảng bài xong, tôi thường hỏi: “Các con nghe tôi giảng rõ chưa?”. Người chỉ huy trong quân đội hỏi nhưng mang tính mệnh lệnh: “Các đồng chí rõ nhiệm vụ chưa?”… Tâm thế của người nói đứng tách rời, trên người nghe. Một người trọng dân, hy sinh cả đời vì dân, rất khiêm tốn như Bác lẽ nào lại hỏi dân như thế?

          Câu sau, trọng tâm được đặt vào chủ thể - người nói. Bác sợ Bác nói tiếng Nghệ (hoặc loa đài không tốt) nên có thể đồng bào miền Bắc không nghe rõ được nên Bác mới hỏi như vậy. Câu hỏi thể hiện trách nhiệm của người nói, muốn biết đồng bào có nghe rõ hay không, có vừa ý hay không mà tự chỉnh sửa bản thân mình, âm thanh tiếng nói của mình sao cho dân nghe rõ nhất.

 

          TRẢ LỜI BẠN VĂN

 

 

          1-

 

         - A lô! Ông đã đọc tập thơ “Nhớ ban mai” chưa?

          - Ông tưởng tôi kiến văn rộng lắm à? Ông nghĩ tôi không có việc gì làm mà phải đọc tất cả thơ của đủ loại tác giả ư?

          - À… Mình nhờ ông thẩm định cho ý kiến đánh giá…

         - Xin lỗi cắt lời ông. Tôi không có thừa thời gian để thẩm định một tác giả tác phẩm mà mình chả nghe bao giờ. Bởi quỹ thời gian của chúng ta không còn nhiều. Bởi thơ bây giờ nhiều không đủ sức đọc hết được. Tôi chỉ đọc thơ bạn văn tặng, đọc thơ của bạn trên FB thôi cũng đủ gay lắm rồi.

          - Thì ông cứ bình tĩnh đã. Vì tín nhiệm ông nên cánh mình mới nhờ ông thẩm định để tự tin thôi mà.

         - Xin lỗi ông nhé. Đọc tên tập thơ là “Nhớ ban mai” thiết nghĩ cũng đủ để khỏi mất thời gian đọc rồi còn gì.

          - Ông nói rõ hơn chút được không?

          - Này nhé! Khi cái gì đã mất rồi, cái gì đã qua mà lâu chưa gặp lại người ta mới nhớ. Ở đây là nhớ ban mai – hình ảnh thể hiện sự tươi đẹp, trẻ trung, đi lên. Chứng tỏ thằng tác giả này nó đang sống trong đêm tối, bóng tối hiện tại triền miên nên nó mới tiếc mới nhớ ban mai chứ. Rộng ra thì nó đang ở hoàn cảnh xã hội đen tối, trớ trêu, u ám, đen tối lắm nên nó mới khát khao cái ánh sáng ban mai, mà nhớ đến nỗi phải đặt cho tên tập thơ như vậy chứ! Ở tâm thế của kẻ bị ức chế dồn nén, tâm đen tối, lại không dám nói thẳng vì hèn nên nó mới dấu ý đồ phê phán xã hội nó đang sống là đen tối vào cái tên sách như vậy. Các ông có đồng ý với nhận định xã hội ta đang sống bây giờ đen tối hơn thời phong kiến, đế quốc không? Ông hãy đứng trên lập trường Đảng CSVN mà xem, có phải thằng này phản động không? Chí ít nó cũng lấy cái cá nhân nhỏ bé khoác lên cái tổng thể lớn lao. Tóm lại, cái tên sách đã đủ để ta “xổ toẹt” rồi.

          - Ừ!

         - Vậy ông có còn cố ép tôi thẩm định nữa hay không?

          - !!!

 

          2-

 

        Nhà văn NH: - Tổ chức của chúng ta có nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Họ đều là trí thức. Họ có nhiều bài ca ngợi đăng tạp chí. Sao ông lại cứ phải đi con đường gập ghềnh phản biện để mua bực bõ vào mình?

        TMG: - Thưa nhà văn. Người trí thức chân chính không chỉ cần có học vị, mà còn phải biết và dám phản biện xã hội để góp phần thúc đẩy xã hội, định hướng xã hội phát triển tiến bộ. Không biết, không dám phản biện xã hội thì đừng vỗ ngực mình là trí thức. Những kẻ ngăn cản phản biện càng không đủ tư cách nhận mình là tri thức. Có chăng đó chỉ là những trí ngủ thôi.

         Nhà văn NH: - Tôi thấy các bài phản biện của ông đều bị phản ứng gay gắt từ những người bị ông phản biện. Gần đây, bài phản biện đề tài lịch sử của ông không chỉ bị những người bị phản biện điên cuồng chống trả, mà còn có cả những người có chức sắc, có trách nhiệm cản trở, trì hoãn đăng bài. Khi buộc phải đăng thì người ta biên tập bóp méo biến bài phản biện của ông thành ngớ ngẩn, “đánh” trật mục tiêu đề ra. Cái đó nói lên điều gì?

         TMG: - Thưa nhà văn, điều đó chứng tỏ tổ chức của chúng ta chưa có minh quân!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          TÌM VỀ THỜI TRẺ THƠ

 

 

        Sau gần sáu chục năm, tôi mới có dịp tìm về những kỷ niệm thời đi học xa xưa. Thời gian về có một ngày nên khó đạt được ước muốn.

         Thời chúng tôi học có các giai đoạn:

        - Vỡ lòng: Vỡ lòng A, Vỡ lòng B

        - Cấp I: Từ lớp 1 đến lớp 4.

        - Cấp II: Từ lớp 5 đến lớp 7.

        - Cấp III: Từ lớp 8 đến lớp 10.

        Hồi học Vỡ lòng, tôi học thầy Bình, cô Nhường. Thầy Bình đã đi khai hoang Yên Thế, Hà Bắc từ năm 1968 và mất đã lâu. Cô Nhường đi khai hoang vùng biển xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, Nam Định. Cô Nhường cũng đã mất rồi.

        Xã Xuân Phường, Xuân Trung, Xuân Bắc trước kia là ba thôn của làng Trà Lũ. Nơi đây có nhà thờ Phú Nhai to nhất Đông Dương.

        Cấp I và cấp II tôi học bên xã Xuân Phương, Xuân Trường, Nam Định (Vì bên Xuân Trung ngày ấy chưa có trường). Lần về thăm trường cũ lần này, tôi lại nhớ các bạn Xuân Phương.

        Cấp I: Tôi học thầy Hy người Xuân Bắc cùng huyện, thầy Trạch xã Xuân Phương, thầy Nhuận xã Xuân Trung. Cả ba thầy đều mất đã lâu.

        Các thầy cô dạy tôi hồi tôi học cấp II ở tản mát nhiêu nơi, tôi chưa có dịp tìm gặp được. Tôi nhớ cô Hiền người khu Bốn, dạy sinh học, giọng nói dịu dàng nhẹ nhàng rất ấn tượng. Không biết cô giờ ở đâu. Thầy Toán, thầy Tuyền, Thầy Đạm dạy văn rất hấp dẫn. Mỗi khi giảng bài, thầy Toán chuẩn bị kỹ và thực hành giảng dạy như diễn xuất trên sân khấu. Thầy Tuyền có phong cách giảng rất riêng. Tôi về sau đi giảng bài cũng vô tình giảng đúng như thầy, từ giọng nói đến cách ngắt câu, điệu bộ đến nét mặt biểu cảm… Học trò tôi cũng thích thú và yêu quý tôi như chúng tôi thích thú và yêu quý thầy Tuyền, thầy Toán. Thầy Đạm, người Xuân Bắc, dạy văn rất tình cảm. Thầy dạy chúng tôi không lâu thì chuyển lên công tác ở Sơn La. Ngày thầy chia tay lớp, nhìn trò nữ khóc thút thít, thầy cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi, đứa ghi lưu niệm, đứa làm thơ tặng thầy. Tôi cũng làm... vè, đại loại có những câu như:

            ... Thầy đi công tác vùng cao

      Sơn La núi vắng rừng sâu lạnh lùng

            Chúng em tình cảm trong lòng

      Băng rừng vượt núi lên cùng thầy thương

            Thầy đi xa lớp xa trường

      Xa nhà xa cả con thương một bầy

            Lòng thầy tình cảm vút bay

      Vượt rừng băng núi về đây với trường...

        Bây giờ nhớ lại, thấy “thơ” mình ngô nghê, nhưng ngày ấy là tình cảm chân thực của tôi với thầy. Thầy Đạm cũng đã thành người thiên cổ.

        Ngày tôi học cấp I, chưa có trường tập trung như bây giờ. Lớp học mượn nhà dân, phân tán nhiều nơi khác nhau, xung quanh nhà thờ Phú Nhai.

        Một trong số những ngôi nhà ngày xưa làm lớp học hồi cấp I của chúng tôi vẫn còn. Đó là ngôi nhà bên cạnh cầu đá nhà thờ Phú Nhai. Ngôi nhà dường như không thay đổi dù sáu chục năm đã qua. Bây giờ người ta dùng nó làm nhà giữ trẻ. Tôi bồi hồi ngắm nhìn ngôi nhà và sống lại những kỷ niệm thời thơ ấu.

        Tôi vào cửa hàng nhỏ bán đồ thánh bên cạnh lớp xưa hỏi thăm tìm bạn. May mắn là chủ cửa hàng chính là anh Toan, hơn tôi ba tuổi, cùng lớp tôi. Anh Toan không nhận ra tôi ngay. Khi tôi nói “Giống đây”, anh òa ra mừng rỡ. Tôi hỏi anh về bạn bè. Anh cho biết các anh Độ (Trung Linh), Thọ (Phú Nhai) đã qua đời. Hỏi thăm gia cảnh, anh kể con trai anh đỗ linh mục về phụ trách nhà thờ xã Hải Vân, Hải Hậu. Hiện “CHA đang tu nghiệp bên Vaticăng bốn năm nữa mới về”. Mỗi khi nhắc đến con trai, anh kính trọng chân thành gọi là “CHA”.

        Qua bên cầu Thống Nhất, nơi ngày xưa học cấp II, giờ nghỉ tôi thường ra cầu chơi. Cầu Thống Nhất vẫn như xưa.

        Ngôi trường một tầng ngày xưa là trường cấp II, giờ được xây cao tầng và làm trường Tiểu học. Tôi bồi hồi đứng ngoài cổng trường ngắm các cháu học sinh. Một cô giáo trẻ đi qua, lễ phép:

        - Thưa cụ, cụ hỏi ai ạ?

        - Ồ… không, tôi chỉ nhìn ngôi trường thôi. Chào cô.

        Tôi biết chắc rằng tôi có hỏi thì cô giáo trẻ này cũng không thể biết những thầy cô của tôi gần sáu chục năm trước.

        Tôi lần qua cầu Thống Nhất thăm anh Thức. Anh Thức hơn tôi ba tuổi. Ngày tôi đi học độ tuổi cách nhau tới năm bảy tuổi là thường. Anh đang học lớp bảy thì có lệnh đi bộ đội. Hỏi thăm dân sở tại được biết anh Thức từ ngày rời quân ngũ mở hiệu chữa xe đạp. Tôi gọi to:

        - Ông chủ đâu rồi, tôi nhờ ông chút đây!

        Anh Thức trong nhà bước ra. Trông anh không khác thời trẻ mấy. Tôi nhận ngay ra khuôn mặt anh. Anh nhìn tôi hỏi:

        - Ông cần gì ạ?

        - Vâng, nhờ ông chữa giúp cho cái xe máy…

        - Xe ông hỏng bộ phận gì ạ?

        Tôi không vờ được nữa, cười:

        - Bác không nhận ra em à?

        Anh Thức còn đang ngơ ngác thì chị Thức chạy tới nói như reo:

        - Anh Giống ở Xuân Trung phải không. Trông anh khác nhiều quá. Anh Thức nhà em thỉnh thoảng vẫn nhắc đến anh đấy!

        Anh Thức lúc này mới nhận ra tôi, ôm lấy tôi và kéo vào nhà:

        - Tôi vẫn còn giữ bài thơ chú viết tặng trong sổ tay đấy, vậy mà đã hơn nửa thế kỷ qua rồi. Trông chú thay đổi nhiều quá!

        Hàn huyên vô tận. Chúng tôi nhắc đến tên bạn bè một cách trìu mến: Nhường, Liên (Vọng), Dung, Huệ, Oanh, Lan, Toan, Thủy, Sơn, Chiến, Lợi, Lương, Thắm, Tiếm, Tấn (Ky), Thọ, Độ, Loan... Tất cả đã hưu, đã thành “nguyên” những giám đốc, những chuyên viên, những thầy cô, những nông dân... với những số phận khác nhau, người còn người mất.

        Thì ra anh Thức cũng chiến đấu ở Quảng Trị năm 1971 – 1972 cùng chiến trường với tôi.

        Tôi bồi hồi nhớ ngày ấy, tối tối tôi thường đi một vòng sang nhà chị Oanh và Lan hàn huyên, qua nhà Loan uống nước ăn khoai, rồi vòng về cầu Thống Nhất ngồi ngoài hiên dưới ánh trăng bên cạnh Huệ. Chẳng có chuyện gì cả, chỉ là bạn bè thân nhau thích gặp nhau vậy thôi. “Khuya rồi, tớ về nhé!” “Mười giờ gì đã khuya. Ngồi chơi chút nữa!”. Tôi nằm lại trên hè ngắm trăng, cảm thấy thích thích những sợi đay trên tay Huệ đang xé cọ đi cọ lại buồn buồn trên mặt. Xuân Phương có nghề xe đay dệt chiếu mà. Thân vậy mà bỗng nhiên Huệ rẽ ngang đi trung cấp ra làm công nhân ở thành phố không một lời từ biệt. Mới rồi tình cờ gặp Huệ ở thành phố Nam Định, tôi hỏi vì sao lại bỏ bạn thân ra đi mất tích như vậy. Huệ bảo: “Tại có một mảnh giấy dán vào nhà tôi, viết: “Cái Huệ mà yêu thằng Giống thì tao giết” nên tôi hoảng quá.” Trời đất, học trò nghịch như quỷ thế! Lại nhớ chị Oanh học rất giỏi văn. Năm lớp sáu, trường tổ chức thi thơ, chị đoạt giải nhất, tôi giải nhì. Tôi quý chị Oanh nhất lớp. Năm cuối cấp, tôi và chị hẹn hò đi Bùi Chu chụp ảnh chung. Tôi thao thức cả đêm mong trời sáng để cùng chị chụp ảnh kỷ niệm. Sáng sớm chị sang nhà bảo: “Oanh và Giống không cùng họ, chụp ảnh đôi người ta dị nghị. Thôi vậy!” Rồi chị đi thanh niên xung phong, không một lá thư cho tôi. Năm ngoái chị về đám cưới cháu ở Nam Định gần nhà tôi, tôi đón chị về nhà chơi. Nhìn chị, tôi lại nhớ chuyện chụp ảnh hụt năm xưa.

        Nghe tiếng chị Thức: “Anh uống nước ăn táo đi. Táo nhà trồng đấy, ngọt lắm!” tôi như tỉnh mơ quay về thực tại.

        Chuyện trò với anh Thức về kỷ niệm xưa không dứt. Mấy lần ông em gọi điện bảo “Anh về ăn cỗ đám cưới kẻo người ta phải chờ”. Tôi đành chia tay anh chị Thức. Trước khi đi, tôi chụp chung với anh mấy kiểu làm kỷ niệm ngày gặp mặt sau gần sáu chục năm xa cách, kể từ hồi lớp 7 anh đi bộ đội.

        Thời gian không cho phép. Hy vọng một dịp khác sẽ tìm lại bạn bè xưa và thăm trường cấp III Xuân Trường nữa...

 

                          Xuân Trường 23-2-2015

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI PHÁT BIỂU TRONG HỘI NGHỊ NGHIỆM THU ĐỀ TÀI “DẤU ẤN VĂN HÓA TRẦN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NAM ĐỊNH”

 

 

          Ngày 15 – 3 – 2013 Sở Khoa học Công nghệ Nam Định đã tổ chức Hội nghị nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định” do Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thực hiện, Cử nhân Nguyễn Thị Cảnh làm Chủ nhiệm đề tài.

         Kết quả đề tài đã được nghiệm thu với số điểm bình quân 82,6/100 xếp loại Khá.

           Ts. Lê Đức Ngân (Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ – chủ tịch Hội đồng) kết luận:

           - Ghi nhận sự cố gắng hết sức của nhóm thực hiện đề tài. Số điểm mà Hội đồng nghiệm thu dành cho đề tài là rất cao. Đề tài phải chỉnh lý lại những vấn đề chưa đạt trên cơ sở ý kiến của các vị ủy viên hội đồng đã chỉ ra. Đặc biệt phải làm lại chuyên đề số 1 viết về Thiên Trường thế kỷ 13 – 14.

            Chuyên đề này là chương mở đầu quan trọng của đề tài do Ts. Nguyễn Xuân Năm viết, được hội đồng nghiệm thu nhận xét là sơ sài, không đạt yêu cầu một bài nghiên cứu. Ts Trần Đức Minh nhận xét: Nói hình ảnh thì đây là “công trình một đêm”.

           Được mời làm ủy viên hội đồng nghiệm thu, tôi có bài phát biểu như sau:

    BÀI PHÁT BIỂU CỦA TRẦN MỸ GIÔNG

 

           Kính thưa Tiến sĩ Lê Đức Ngân, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định”!

           Thưa các vị ủy viên hội đồng và các bác, các anh chị!

          Tôi rất tán đồng với nội dung đánh giá đề tài của Gs.Ts. Nguyễn Quang Ngọc, Pgs.Ts. Trần Đức Minh. Bài nhận xét về đề tài của hai vị rất chính xác, có bài bản, nêu được những vấn đề chủ yếu về kết quả và những hạn chế của đề tài một cách thuyết phục. Do vậy, cho phép tôi chỉ phát biểu ý kiến cá nhân những điểm không trùng với ý kiến của hai vị giáo sư đáng kính vừa phát biểu.

 

           Thứ nhất, tôi có ba điều tiếc – ba cái “giá mà” như sau:

            1- Nghiên cứu một vấn đề thường người ta phải có chủ thuyết về vấn đề đó để làm cơ sở giới hạn nội dung, phạm vi nghiên cứu. Giá mà… những người thực hiện đề tài hôm nay có một đề mục khái niệm về văn hóa và văn hóa Trần thì tính nghiên cứu sẽ cao hơn, người thực hiện cũng như người đọc sẽ không trệch ra ngoài quỹ đạo định trước.

             2- Nội dung Báo cáo tổng quan đề tài thể hiện quan điểm nghiên cứu một chiều, đơn điệu. Giá mà… đề tài phản ánh nhiều chiều, nhiều mặt, nhiều góc độ, cả quan điểm trái chiều làm rõ thực trạng khách quan nhận thức vấn đề. Rồi phản biện lại phản biện, nếu thành công thì tính thuyết phục, tính chân thực, khách quan, độ tin cậy sẽ cao hơn.

              Cụ thể, đối với vấn đề nóng hiện nay là lễ hội khai ấn đền Trần, hiện có nhiều ý kiến phản biện rất thuyết phục, như các bài viết của Ts. Nguyễn Xuân Diện, Ts. Nguyễn Hồng Kiên…

              Tôi cùng nhà nghiên cứu Hán Nôm Dương Văn Vượng, nguyên chuyên viên Bảo tàng Nam Định, đã từng phát hiện, dịch, giới thiệu bài thơ “Thập tứ dạ quan khai ấn hội” của Tiến sĩ Đỗ Hựu (TK15) nói về lai lịch khai ấn đền Trần. Theo nguyên chú của tác giả thì lệ này là của riêng tộc Trần, chứ không phải lệ quốc gia. Mà tộc Trần nguyên là tộc Dương từ Mân Châu (Trung Quốc) sang Quảng Ninh, Yên Tử rồi đến vùng Khang Kiện (Tức Mặc – Thiên Trường). Do mâu thuẫn, tộc Dương chia hai chi, một chi chuyển về vùng Hưng Hà, Thái Bình hiện nay, chi ở lại đổi họ Trần và phát tích ở đây. Lễ khai ấn đền Trần nhắc nhở con cháu nhớ về nguồn cội và cầu no ấm, chứ tuyệt nhiên không liên quan gì đến cầu quan tước, không phải lệ của chính quyền nhà nước như hiện nay người ta xuyên tạc.

            Chúng tôi có gửi tham luận tới Hội thảo Đề án khai ấn đền Trần 2012 nhưng không được mời. Thế nhưng từ ông tiến sĩ trung ương Nguyễn Chí Bền, đến ông tiến sĩ địa phương Nguyễn Xuân Năm đều lấy tư liệu chúng tôi công bố biến thành của mình làm cơ sở chủ yếu bảo vệ quan điểm đề án khai ấn đền Trần năm 2012. Có điều các ông lờ phần nguyên chú của tác giả đi, thành ra nội hàm của chính văn bị xuyên tạc.

            Hay là vấn đề Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ có thực là Hành cung nhà Trần Không?  Tôi cùng nhà nghiên cứu Dương Văn Vượng có bài nghiên cứu đăng trên nhiều trang mạng, trên tạp chí Khuông Việt của Viện Phật giáo Việt Nam (số 13 + 14 tháng 1 – 2011. – Tr. 43 – 45) phản biện quan điểm chính thống của tỉnh Nam Định trên cơ sở ba bài thơ về các địa danh này của ba vị Hoàng giáp thế kỷ 15. Theo tinh thần các cứ liệu chúng tôi đưa ra, thì các địa danh trên vốn là nơi đồn trú của 4 đội trong đội quân Thiên Thuộc có nhiệm vụ bảo vệ hành cung Tức Mặc. Đội quân này tồn tại qua chống Nguyên đến chống Minh. Dân sở tại lập 4 miếu thờ các tử sĩ vô danh ở 4 nơi đóng quân của 4 đội quân này, đều gọi là miếu Cô Hồn. Về sau này các miếu Cô Hồn được mở rộng, dân đưa tượng Phật vào thờ mà thành chùa.

            Ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam hiện chưa tìm thấy bất cứ dấu tích nào chứng minh đây là hành cung. Riêng ở Đệ Tứ, trên cơ sở đào thám sát thấy sân gach, đầu rồng đất nung, ngành Bảo tàng tỉnh đã vội kết luận đó là dấu tích Hành cung, vì cho rằng chỉ có nơi vua ở mới có các hiện vật đó.

         Bài viết của chúng tôi đăng trên Tạp chí Khuông Việt (nêu trên) đã dùng tư liệu từ TK15 chứng minh rõ sân gạch, đầu rồng tìm thấy khu chùa Đệ Tứ chính là nơi ở của Thái sư Trần Quang Khải. Trần Quang Khải dựng Tĩnh Tâm Quán làm nơi thờ Thánh Tam Thanh, thường khi cầu đảo mong mưa thuận gió hòa (do ông theo đạo du nhập từ Trung Quốc sang). Về sau đổi gọi là Đại Thánh Quán. Thời Lê Trịnh dân đem tượng Phật vào thờ mới gọi là Đại Thánh Quán Tự.

          Kết luận rằng sân gạch và đầu rồng đất nung chỉ nơi vua ở mới có của các nhà Bảo tàng công chức nô dịch thật là một sự áp đặt thô thiển.

          Nêu những chuyện này, chúng tôi muốn nói rằng cần được đưa vào đề tài nghiên cứu cả những quan điểm trái chiều với quan điểm chính thống. Các vị thực hiện đề tài hãy phản biện lại những điều tôi nêu thì sinh động, thuyết phục hơn nhiều là chỉ biết nhắc lại những điều người khác nói mà không có chính kiến của mình.

            Tôi đồng tình với Gs.Ts. Nguyễn Quang Ngọc: Cái gì sai dù ai nói cũng bỏ đi, cái còn chưa rõ thì dùng cách nói nước đôi, chứ không nên chỉ biết nói theo người khác.

           3- Khi nghiên cứu văn hóa Trần, không chỉ thống kê những nét văn hóa đặc sắc của nó. Mà cần phải so sánh làm sáng tỏ vấn đề đó mới thuyết phục. Giá mà… các vị cho biết cái đặc sắc văn hóa Trần nó khác với văn hóa các triều đại khác, khác với văn hóa Trung Hoa ở chỗ nào thì chất lượng công trình được nâng lên rất nhiều. Ví dụ như vấn đề Phật giáo Trần rất nổi bật, vấn đề sẽ thuyết phục nếu các vị so sánh với Phật giáo Trung Hoa, Phật Giáo các triều đại khác đế làm nổi bật nét đặc sắc của nó.

 

           Thứ hai, tôi góp ý sửa một số chi tiết:

           Trong lần nghiệm thu cơ sở, tôi đã chỉ ra rất nhiều sai sót và đã được Ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu. Tuy nhiên vẫn còn một số “hạt sạn” chưa được nhặt ra:

           – Trang 13 dòng 13 trên xuống có viết:

           “Chính nơi đây (Trường thi Hương Nam Định) đã đóng góp 82 Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ, Phó bảng”.

           Xin hỏi căn cứ vào đâu để nêu ra số liệu này? Không có xuất xứ tư liệu thì không đạt yêu cầu của việc nghiên cứu. Hơn nữa, Trường thi Hương chỉ thi lấy Cử nhân (Hương cống), còn Phó bảng, Tiến sĩ, Hoàng giáp, Thám hoa, Bảng nhãn, Trạng nguyên do các cuộc thi cấp quốc gia (thi Hội, thi Đình) tuyển chọn.

           – Trang 17 dòng 7 dưới lên viết “Những vị Trạng nguyên tuổi trẻ, tài cao như Nguyễn Hiền, Trần Đạo Tái”, nhưng trang 68 lại viết “Trần Đạo Tái đỗ Bảng nhãn” là không thống nhất. Sự thực thời Trần tỉnh ta chỉ có trạng nguyên Nguyễn Hiền và trạng nguyên Đào Sư Tích.

           – Trang 47 dòng 12 trên xuống viết:

           “Sau này Tiên đế nhà Trần đã lấy tên Thiên Thuộc đặt cho chùa Đệ Nhị đồng thời cho thờ các liệt sĩ ở đó”.

            Tiền thân của chùa Đệ Nhị là miếu Cô Hồn do dân sở tại lập thờ lính chết trận vô danh của đội quân Thiên Thuộc. Lẽ nào Tiên đế nhà Trần (Trần Thái Tông) băng trước đó nhiều thế hệ còn đặt được tên cho chùa?

            – Trang 72 dòng 2 trên xuống: Các vị đã ghi nhầm thám hoa Trần Bích Hoành thành Trần Hoàng Bích.

            – Trang 71 và 72: Báo cáo khẳng định Nam Định có 88 nhà khoa bảng. Phần phân tích lại chỉ cộng được 87 nhà khoa bảng. Thì ra các vị quên không thống kê một vị khoa bảng thời Lý…

            Tóm lại:

            Tôi đánh giá Báo cáo tổng quan đề tài là:

            – Đã hoàn thành nội dung nghiên cứu, phù hợp với giới hạn nghiên cứu đặt ra trong đề tài.

            – Giá trị cơ bản và đáng ghi nhận của kết quả nghiên cứu đề tài là giá trị thông tin.

            – Với đánh giá trên, tôi xin hạ bút tặng những người thực hiện đề tài 83 / 100 điểm.

          Cảm ơn các vị đã lắng nghe!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỌ TRẦN VỐN GỐC HỌ DƯƠNG?

 

 

          Trong khi sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường - Nam Định: Thơ” do Hội Nhà văn xuất bản năm 2010, chúng tôi phát hiện bài thơ của Đỗ Hựu có nội dung nói về lễ khai ấn đền Trần, phần chú thích nói rõ về gốc họ Trần.

          Theo các tài liệu địa chí và đăng khoa lục thì Đỗ Hựu sinh năm 1441, không rõ năm mất, quê xã Đại Nhiễm (thời Trần là xã Văn Tập), huyện Ý Yên nay thuộc xã Yên Bình, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Lại bộ Tả Thị lang, từng đi sứ nhà Minh và có công chiêu dân khai hoang vùng đất ven sông Hát. Ông có tác phẩm “Sơn thủy hành ca”.

          Bài thơ của ông nói về lệ khai ấn đền Trần mà chúng tôi tìm thấy trong “Nam châu vịnh tập” như sau:

 

          十 四 夜 觀 開 印 會

 

曾 聞 昔 日 有 陳 王

即 墨 猶 留 族 祖 堂

萬 頃 栘 來 田 地 廣

康 村 定 宅 孝 和 彰

展 誠 以 祭 前 魚 廟

開 印 惟 祈 後 克 昌

天 下 如 今 誰 對 此

斯 民 斯 邑 望 恩 長

 

Phiên âm :

          THẬP TỨ DẠ QUAN KHAI ẤN HỘI*

Tằng văn tích nhật hữu Trần vương

Tức Mặc do lưu tộc tổ đường

Vạn Khoảnh di lai điền địa quảng

Khang Thôn định trạch hiếu hoà chương

Triển thành dĩ tế tiền ngự miếu

Khai ấn duy kỳ hậu khắc xương

Thiên hạ như kim thùy đối thử

Tư dân tư ấp vọng ân trường.

          Dịch nghĩa :

      TỐI MƯỜI BỐN ĐI THĂM HỘI KHAI ẤN

Từng nghe rằng ngày trước vua Trần

Ở đất Tức Mặc có đền thờ tổ

Ban đầu dời tới Vạn Khoảnh(1) đất đai rộng rãi,

Sang Khang Thôn, lấy sự hiếu với mẹ cha, hoà cùng anh em cư trú.

Từ ấy tỏ lòng thành kính hằng năm tế tại Ngư miếu;

Và khai ấn để cầu sự tốt lành cho lớp tương lai(2)

Nay trong thiên hạ, nơi nào sánh được

Thế là dân làng sở tại mãi mãi nhờ ơn to lớn.

          Dịch thơ:

                   Từng nghe ngày trước Trần vương

Tức Mặc còn có tổ đường nơi đây

          Dời về Vạn Khoảnh đất này

Khang Thôn định trạch thảo ngay hoà hài

          Lòng thành tế cá hôm mai

Khai ấn cầu vọng lâu dài yên vui

          Đến nay đâu sánh ở đời

Dân thôn mãi mãi bày lời tạ ơn.

.................

Chú thích (Nguyên chú):

          (1) Vạn Khoảnh: Nhà Trần vốn gốc ở Chương Châu mang họ Dương, dời đến Yên Tử vẫn thế, về Vạn Khoảnh vẫn chưa đổi, sau sang Khang Kiện, vì bất hoà nên mới chia ra. Chi họ Dương dời sang lập làng Dương Xá (Người dịch: Nay là xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) chi ở lại lấy họ Trần (Người dịch: Nay là Tức Mặc, Mỹ Lộc, Nam Định).

          (2) Lệ này tương truyền là lệ vốn có của tộc đảng chốn quê của họ Trần. Thiên hạ không thấy có lệ ấy.

 

          Như vậy, chú thích bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu chỉ rõ:

          - Nhà Trần gốc ở Chương Châu.

          - Họ Trần vốn gốc là họ Dương.

          - Từ khi dời đến vùng Khang Kiện thì xảy ra anh em bất hòa, một chi chuyển đi làm ăn ở vùng Dương Xá (nay thuộc Hưng Hà – Thái Bình) vẫn giữ họ Dương.

          - Chi ở lại Khang Kiện đổi thành họ Trần và phát tích đế vương ở đây (nay là Tức Mặc, tp. Nam Định)

          Tài liệu của Tiến sĩ Đỗ Hựu ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 15 xác định: Họ Trần và họ Dương là hai chi của họ gốc (họ Dương), là hai họ anh em cùng một gốc vậy!

 

          TMG.

......................

 

          * Bài thơ này đã in trong sách “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường – Nam Định: Thơ / Hội Văn học Nghệ Thuật Nam Định. – H. Hội Nhà văn, 2010. – Tr. 95 – 96” do nhóm tác giả Vũ Minh Am, Hoàng Dương Chương, Đỗ Thanh Dương, Trần Mỹ Giống, Phạm Trường Thi, Bùi Công Tường, Trần Quang Vinh, Dương Văn Vượng biên soạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          VÀI NÉT VỀ THƯ PHÁP

             (Sưu tầm biên soạn)

 

 

          Chữ viết là công cụ quan trọng của nhân loại để đạt đến sự tiến bộ văn minh toàn diện. Nghệ thuật thư pháp từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới coi trọng, được xem như một loại hình nghệ thuật đặc thù trình độ cao. Đối với các nước phương Đông, thư pháp còn là biểu tượng thẩm mỹ của nền văn hoá dân tộc. Trung Quốc là nước có nền nghệ thuật thư pháp phát triển tới trình độ cao từ các thư thể cơ bản “triện, lệ, chân, hành, thảo” với nhiều trường phái, phong cách phong phú và đa dạng.

          Triện thư là cổ văn tự Hán từ đời Tần về trước, gồm đại triện và tiểu triện, từng một thời được toàn dân Trung Quốc sửc dụng đến độ huy hoàng, rự rỡ. Đại triện còn gọi là Trụ văn là loại chữ được dùng thông dụng thời Xuân thu, Chiến quốc. Trên cơ sở Đại triện, Tần Thuỷ Hoàng đã chỉnh lý và giản hoá chữ viết, quy định một dạng chữ viết chuẩn gọi là Tiểu triện. Hiện nay triện thư đã bị thay thế bởi các thư thể khác nhưng nó vẫn được coi là một loại tác phẩm nghệ thuật thư pháp truyền thống, độc đáo, tao nhã cổ xưa của Trung Quốc, được nhiều thư pháp gia nghiên cứu, sáng tạo mới làm cho nghệ thuật triện thư thêm tươi đẹp và trường thịnh. Về bút pháp, triện thư có nhiều phong cách như trong tiểu triện có ngọc trợ triện dùng bút đầy đặn, mượt mà, uyển chuyển, thiết tuyến triện nét viết mảnh, đầy đặn, có sức. Nét chữ của tiểu triện cơ bản đường nét to nhỏ đều bằng nhau, nét thẳng như đũa ngọc bày ra, nét cong như cốt thép uốn khúc, giấu đầu che đôi, không lộ mũi nhọn, mượt mà nhưng đầy sức lực.

          Lệ thư là một trong thư thể của tứ đại thư pháp Trung Quốc, tương truyền do Trình Mạc đời Tần đặt ra, thịnh hành vào đời Hán và được phát triển tới đỉnh cao về nghệ thuật thư pháp. Lệ thư kế tục triện thư và do triện thư diễn biến mà ra. Lệ thư có kết cấu thể hiện sự đoan trang, đẹp đẽ, tự nhiên, cởi mở nhiều biến hoá, có giá trị nghệ thuật và giá trị thực dụng rất cao.

          Khải thư còn gọi là Chính thư hoặc Chân thư bắt đầu xuất hiện vào cuối đời Hán và được lưu hành đến ngày nay. Dạng chữ khải ngay ngắn, nét bút thẳng thắn, được coi là chuẩn mực chữ Hán. Nhờ nghiên cứu thể hiện loại chữ này mà nhiều thế hệ các nhà thư pháp trở nên nổi tiếng.

          Hành thư tương truyền do Lưu Đức Thăng đời Đông Hán sáng chế ra đầu tiên. Tống Tào đời Thanh giải thích về hành thư như sau:

- “Cái gọi là hành thư tức là lược bớt ít nét của chữ khải, sau đó khiến cho giản dị và viết trôi chảy các chữ với nhau, như mây trôi nước chảy, nét to bé xen nhau mà ra, không phải chữ khải, chẳng giống chữ thảo, không vuông cũng chẳng tròn, viết nhanh hơn chữ khải lệ”

Trong hành thư lại có “chân hành” gần giống chữ khải nhưng phóng khoáng hơn, còn “thảo hành” gần giống chữ thảo nhưng gọn gàng hơn. Hành thư với sự tự nhiên, khoáng đạt, linh động, uyển chuyển, biến hoá đa dạng, vừa có sức hấp dẫn đặc biệt, vừa giản tiện dễ hiểu đã thu hút được nhiều thư pháp gia quan tâm và được ứng dụng rộng rãi trong xã hội Trung Quốc.

Thảo thư cũng có từ lâu đời, được sử dụng rộng rãi ở đời Hán, do lệ thư thảo hoá diễn biến mà ra, gọ là Chương thảo. Đến đời Hán, thư pháp gia Trương Chi lại sáng chế ra Kim thảo. Chương thảo có nét chữ ít nối liền nhau, chữ độc lập. Kim thảo lại tăng thêm nét liên miên tôn nhau cho đẹp. Thảo thư liên miên vận chuyển đem lại cảm giác thông sướng nhanh chóng, lâm ly. Thảo thư rất hưng thịnh vào đời Đông Tấn, đến đời Đường lại còn rực rỡ hơn với sự xuất hiện của cuồng thảo. Thảo thư của phái cuồng thảo buông thả không ràng buộc, bút mực lâm ly. Đến đời Minh xuất hiện nhiều thư pháp đại gia như Chúc Doãn Minh, Vương Sủng, Từ Vị, Trương Thoại Đồ... với những đặc sắc riêng biệt. Thư pháp của họ hoặc điển nhã, hoặc hùng phóng, hoặc kỳ tứ hoặc lâm ly. Thoạt nhìn thấy thảo thư như viết rất láu, tựa như viết tuỳ ý nhưng thực ra nó có quy tắc thảo pháp rất quy phạm, rất nghiêm cách. Nét viết thảo thư tuy không rõ rệt như khải thư, bút pháp lại có hiện tượng nhược hoá, nhưng cũng có sự nhấn mạnh có gân có cốt, hàm ẩn sinh cơ. Đặc điểm của bút pháp thảo thư là đơn giản hoá, biến dị nhược hoá, vòng cung uyển chuyển, thứ tự các nét đan xen và nối liền nhau. Khi viết thảo thư đòi hỏi phải múa bút một lần mà thành, viết không đắn đo do dự, thành bại trong phút chốc.

Ở nước ta, ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Quốc nói chung và chữ viết nói riêng rất sâu sắc. Chữ Hán du nhập vào nước ta đã tồn tại hàng ngàn năm. Trên cơ sở chữ Hán, nhân dân ta sáng tạo ra chữ Nôm của riêng mình. Ngày nay chúng ta sử dụng chủ yếu chữ quốc ngữ nhưng chữ Hán - Nôm vẫn là “hồn muôn năm cũ”. Nghệ thuật thư pháp Hán - Nôm tồn tại dai dẳng và ảnh hưởng tới nghệ thuật thư pháp Quốc ngữ. Nhiều tác giả có bút pháp tốt được thể hiện qua một bố cục (chương pháp) hoàn hảo đã tạo ra những tác phẩm thư pháp có giá trị nghệ thuật cao. Tiến sĩ Vũ Huy Trác thời Lê còn để lại một số thư bút Hán - Nôm linh uyển lạ kỳ. Thời Nguyễn có nhiều linh mục, nhà sư thày đồ, quan văn dùng bút tre, bút sắt viết chữ Quốc ngữ rất đẹp. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, người Nam Định lại dùng bút lông viết chữ Quốc ngữ, chữ Hán như rồng bay phượng múa. Thư pháp Việt Latinh tuy có cấu trúc khác biệt với chữ Hán - Nôm, nhưng thực chất nó là sự nối tiếp của nghệ thuật thư pháp truyền thống. Hiện nay có nhiều người nghiên cứu thư pháp Việt Nam đạt được kết quả đáng khích lệ như Vũ Hối, Nguyệt Đình, Chính Văn, Bùi Tiến... Mỗi người một phong cách làm cho thư pháp Việt thêm đa dạng và phong phú.

Thư pháp không chỉ là môn nghệ thuật thể hiện cái đẹp, mà còn là phương tiện chuyển tải những thông điệp đạo đức, giáo dục, tư tưởng của con người. Người ta gửi gắm ước vọng, tình cảm, tâm sự mơ ước của mình vào thư bút. Trong các thiết kế trang trí của các tác phẩm nghệ thuật truyền thống, trong đạo cụ và bối cảnh của sân khấu, điện ảnh, truyền hình, trong quảng cáo nhãn hiệu thương phẩm, trong nghệ thuật khắc dấu, trong cổ vật và vật dụng hàng ngày, trong hoành phi câu đối, trong niên lịch... đều có sự hiện diện của nghệ thuật thư pháp.

Nghệ thuật thư pháp Việt Latinh hình thành từ thế kỷ 19 và trở thành phong trào vào những năm gần đây đã kế thừa, nối tiếp truyền thống trọng chữ hàng ngàn năm của dân tộc, phản ánh đậm nét những đặc trưng tiêu biểu của người Việt Nam như tính trữ tình, linh hoạt, giàu cảm xúc... Trong tương lai gần, nhất định thư pháp Việt sớm định hình, phát triển, phát huy được cái đẹp, cái hồn của chữ Việt và là phương tiện chuyển tải những giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

Sau đây là một bức tranh sơn thuỷ của một tác giả Việt Nam thời phong kiến, do trình độ Hán - Nôm của tác giả bài viết này hạn chế nên không thể hiện được cái thần của bút pháp, mà chỉ cố mô phỏng về mặt chương pháp của bức tranh. Bên dưới bức tranh có bài thơ nôm:

Ba XUÂN nho nhỏ một XUÂN tròn

Bốn CẢNH bằng nhau, một CẢNH con

HỒ rộng mênh mang, NGƯ lộn ngược

NON cao chót vót, ĐIỂU nằm ngang.

.........................

 

* Nguồn:

  - Văn hoá Nam Định. - 2005. - Số 1. – Tr. 48 – 49.

  - Tạp chí Khoa học Công nghệ Nam Định. - 2005. - Số1. – Tr. 25 – 26. (Ký bút danh Mỹ Trần)

 

 

 

 

 

 

          BÀI HỌC NHỚ ĐỜI 

 

         

          Bác tôi là nhà giáo hơn bốn chục năm dạy chữ Hán - Nôm. Không ít trò của bác sau này làm trong cơ quan nghiên cứu… Tôi cung cấp tư liệu về bác cho anh bạn nhà văn họ Phạm, nhờ viết bài biểu dương. Khi anh bạn viết xong bài, tôi đưa đến nhà thăm bác. Nhà văn họ Phạm khoe:

          - Cháu vừa viết xong bài về cụ…

          Bác tôi vui vẻ:

          - Thế à! Cảm ơn anh!

          - Để cháu đọc cho cụ nghe… Tên bài là “TRẦN XUÂN NHÂM TRỌN ĐỜI VỚI NGHỀ DẠY CHỮ HÁN - NÔM”…

          Mới nghe cái tên bài, bác tôi đã đứng bật dậy, mặt tái đi. Bác tôi vừa bỏ vào buồng vừa gằn giọng bảo tôi:

          - Tiễn khách!

          Tôi không hiểu lý do gì mà bác tôi lại tỏ ra tức giận như vậy. Biết tính bác, tôi tiễn nhà văn họ Phạm ra ngõ.

          Chờ bác tôi nguôi ngoai, tôi hỏi lý do. Bác tôi bảo:

          - Tưởng các anh mang danh nhà văn thì thông thạo tiếng mẹ đẻ, ai ngờ… Tôi đang mệt. Anh lại dẫn bạn đến rủa tôi chết đi phải không!

          - Bác nói vậy là sao ạ?

          Bác tôi bảo:

          - Thì cái tên bài báo của bạn anh rõ là rủa tôi chết đi còn gì. Cái từ TRỌN ĐỜI người ta chỉ dùng cho người đã khuất, ví như trong điếu văn người ta viết “Ông đã trọn đời theo Đảng” “trọn đời đi theo cách mạng”… Các cụ đã dạy chỉ khi đóng nắp quan tài mới đánh giá người ta cả đời, một đời… Tôi còn sống mà các anh đã viết tôi “trọn đời” thì có khác gì rủa tôi chết đi. Các anh mang danh  nhà văn, nhà nghiên cứu, tiếng mẹ đẻ không thạo mà không biết xấu hổ à?

           Bác tôi đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời về sử dụng tiếng mẹ đẻ như thế đấy!

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THĂM TỦ SÁCH NGUYỄN ĐỨC CƯƠNG

 

 

                                                                                     

          Gặp bác Đặng Văn Khảm, phụ trách phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, tôi hỏi bác:

          - Đã lâu không có dịp về Hải Hậu, Phòng đọc thiếu nhi có gì mới không bác?

          Bác Khảm vui vẻ:

          - Thế mà đã mười năm rồi đấy, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu vẫn đứng vững, vẫn đông bạn đọc, sách thường xuyên lên tới trên hai vạn bản. Bây giờ thì mô hình thư viện nhà nước và nhân dân cùng làm ở Hải Hậu đã được khẳng định rồi, Đảng và chính quyền huyện đều tin tưởng và ủng hộ duy trì mô hình này. Anh hỏi có gì mới ư? Có đấy, ví dụ như chúng tôi đang tiến hành cấp thẻ miễn phí và vận động cho các cháu tật nguyền, các cháu có hoàn cảnh khó khăn đến thư viện đọc sách.

          Tôi ngạc nhiên:

    - Cấp thẻ miễn phí mà cũng phải vận động ư?

          Bác Khảm khẳng định :

          - Đúng vậy! Phần lớn các phụ huynh đều không muốn cho con em tật nguyền của mình đến thư viện vì mặc cảm, vì không có điều kiện đưa đón các cháu. Chúng tôi phải đi từng xã, tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền và đoàn thể, thuyết phục các bậc phụ huynh quan tâm và tạo điều kiện cho các cháu hoà nhập cộng đồng. Đến nay mới có hơn hai chục cháu được cấp thẻ thư viện miễn phí. Nhìn các cháu say mê đọc, tôi sung sướng vì đã làm được một việc có ích. Tôi rất muốn đưa sách tới tận nhà cho các cháu đọc, nhưng khả năng có hạn nên chưa thể thực hiện được.

          Tôi băn khoăn hỏi:

          - Bác không có tiền lương, cứ tìm cách phục vụ miễn phí liệu có lâu dài được không?

          Bác Khảm tâm sự:

          - Kinh tế gia đình tôi thuộc loại khá giả. Tôi ham mê văn hoá mà làm, càng làm được nhiều việc có ích tôi càng thấy sung sướng. Như các anh đã biết, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu đứng vững và phát triển là nhờ có các tủ sách vệ tinh. Các tủ sách này mua lại sách chúng tôi đã phục vụ bạn đọc, đưa về phục vụ bạn đọc của mình. Trong huyện có 7 tủ sách tư nhân là vệ tinh của chúng tôi, cái lớn có trên vạn sách, cái nhỏ có năm, sáu nghìn bản.

          Tôi đề nghị:

          - Vậy bác có thể cho chúng tôi thăm một tủ sách vệ tinh của bác, tủ sách... “khác thường” một chút ấy?

          Bác Khảm phấn khởi:

          - Tốt quá, được các anh về thăm động viên thì còn gì bằng.

Chúng tôi về Hải Hậu một ngày đầu thu, trời vẫn còn nóng nực lắm. Khi biết ý định của chúng tôi, anh Hưng (Trưởng phòng văn thể huyện), anh Tản (Giám đốc Trung tâm văn hoá huyện) cùng bác Khảm nhiệt tình đưa chúng tôi về thăm tủ sách tư nhân của bác Nguyễn Đức Cương ở xóm 7 xã Hải Anh, huyện Hải Hậu. Gần trưa thì chúng tôi tới nơi.

Đúng là tủ sách này khác bình thường: không bám mặt đường, không ở nơi đông dân cư, không chỉ đơn thuần phục vụ sách báo... Tủ sách bác Nguyễn Đức Cương nằm lọt giữa xóm làng yên tĩnh. Bác dùng cả dãy nhà ngang làm kho sách. Hơn 6.000 bản sách được đóng bìa cẩn thận, xếp ngay ngắn trên 3 giá sách và hai tủ quầy. Khoảng hai chục loại báo và tạp chí bầy trên mặt quầy để mọi người đọc tự do. Thấy tôi cứ nhìn quanh vì không thấy bàn ghế cho người ngồi đọc sách, bác Cương mời chúng tôi đi ra vườn sau nhà. Hơn trăm mét vuông vườn được che bằng ngói xi măng, có bài trí cây cảnh mát mắt và kê gần chục bộ bàn ghế cho người ngồi đọc sách. “Vườn đọc” quay mặt ra ao cá thoáng đãng. Có gần chục người, đang vừa đọc sách vừa uống giải khát. Không khí trong lành, gió trời mát rượi làm cái nóng sau chặng đường gần 50 cấy số của chúng tôi như tan biến đi. Theo yêu cầu của chúng tôi, bác Cương tâm sự:

- Tôi nguyên là cán bộ Thành uỷ Nam Định về hưu. Thời tôi còn công tác, hơn hai chục năm sinh hoạt đọc tại Thư viện tỉnh đã thành thói quen. Về hưu đói sách báo quá các anh ạ. Năm 1995 huyện thành lập Phòng đọc thiếu nhi do bác Khảm phụ trách, tôi cũng lập tủ sách gia đình. Thôi thì một công đôi việc, vừa thoả mãn nhu cầu đọc của nhân dân, vừa có việc làm cho vui tuổi già. Lúc đầu mở tủ sách cũng lúng túng lắm, ít người đọc, thu không đủ chi, nhưng tôi quyết tâm duy trì. Tôi được bác Khảm nhượng lại sách với giá hợp lý, lại được luân phiên mượn sách của Thư viện huyện để tăng nguồn lực cho tủ sách. Nay thì ổn rồi, hàng ngày trung bình có 50 lượt người đọc. Bạn đọc đông nhất vào chiều, tối và các ngày lễ, chủ yếu là thanh thiếu niên và các cụ cao niên. “Vườn đọc” còn là nơi hội tụ của các câu lạc bộ làng như câu lạc bộ hưu trí, cựu chiến binh, thanh niên... Đối tượng phục vụ của chúng tôi chủ yếu là cộng đồng làng xóm. Để tăng nguồn thu, tôi kết hợp dịch vụ chụp ảnh, bán giải khát và đồ lưu niệm, văn phòng phẩm, đồ khô phục vụ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân. Bạn đọc đến mua hàng hoặc giải khát được đọc miễn phí. Ai chỉ đến đọc hoặc mượn về nhà thì thu 200 đồng/bản sách/ngày.

Nghe bác Cương nói, tôi thầm liên tưởng tới cháu ngoại tôi ở thành phố Nam Định thường thuê 500 đồng/bản sách/ngày mà còn phải ký cược cả trăm ngàn đồng nữa, thì lệ phí đọc tủ sách bác Cương thật đúng như bác nói “lấy việc phục vụ người đọc làm niềm vui”.

    Đồng chí Hoàng Thiện Tuấn, Giám đốc thư viện tỉnh Nam Định nêu vấn đề:

- Chúng tôi thấy kho sách của bác hầu hết là sách thiếu nhi, sách văn học, một số sách tham khảo cho học sinh, sách xã hội chính trị, còn  sách kỹ thuật nông nghiệp rất ít. Có phải vì bạn đọc không có nhu cầu đọc loại sách này? Bác có yêu cầu gì với Thư viện huyện, tỉnh không?

Bác Cương vừa chạm cốc với khách, vừa thong thả trình bày:

- Dân làng tôi chủ yếu làm nghề nông, nhu cầu đọc sách kỹ thuật là lớn, nhưng nguồn sách này không nhiều, tủ sách chúng tôi chưa đáp ứng được. Hiện tại, tủ sách mới thoả mãn nhu cầu đọc thư giãn của người lao động sau ngày làm việc vất vả, một phần phục vụ nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức chính trị xã hội. Sắp tới, chúng tôi sẽ chú trọng mảng sách kỹ thuật nông nghiệp. Nhân các anh về thăm, rất mong được các anh quan tâm cho hệ thống tủ sách Hải Hậu nói chung, tủ sách tư nhân nói riêng được mượn luân chuyển hàng quý để chúng tôi duy trì và phát triển hoạt động.

    Trước khi chúng tôi ra về, bác Cương đề nghị được chụp chung một vài kiểu ảnh làm kỷ niệm. Bác giới thiệu người thanh niên cầm máy ảnh với chúng tôi:

- Cháu Nguyễn Đức Nam là con trai tôi. Cháu rất yêu sách nên tôi đã chuyển giao toàn bộ tủ sách cho cháu quản lý, còn mình thì hỗ trợ cho con cháu.

Nhìn ánh mắt chàng thanh niên mảnh khảnh 36 tuổi này, tôi nhận ra niềm đam mê sách báo của anh, và tôi tin tủ sách sẽ được anh duy trì lâu dài.

        Tôi cứ tự hỏi vì sao Hải Hậu làm tốt việc xây dựng và duy trì tủ sách tư nhân, trong khi nhiều nơi khác không phải không có những người có đủ khả năng và nhiệt tình như bác Cương, bác Khảm lại không làm được? Biết nỗi băn khoăn của tôi, đồng chí Giám đốc Thư viện tỉnh Hoàng Thiện Tuấn nhận xét:

- Việc Trưởng phòng văn hoá, Giám đốc trung tâm văn hoá thể thao và cán bộ Thư viện huyện cùng dẫn khách đi thăm một tủ sách tư nhân đã nói lên rất nhiều. Xã hội hoá công tác thư viện, tạo điều kiện nhiều nhất cho nhân dân hưởng thụ văn hoá đọc và tham gia hoạt động thư viện rất cần sự quan tâm của các cấp Đảng, chính quyền và đoàn thể. Hải Hậu xác định được điều cốt yếu của việc xã hội hoá công tác thư viện là nhà nước giữ vai trò quan trọng, chủ yếu nhất nên phong trào đọc và tủ sách tư nhân phát triển mạnh là điều tất yếu.

Tôi cũng tin rằng bác Khảm chắc chắn thực hiện tốt nguyện vọng cải thiện môi trường văn hoá đọc cho các cháu tật nguyền khi bác phối hợp phục vụ, phát huy và khai thác tiềm năng các tủ sách tư nhân rải khắp địa bàn huyện Hải Hậu.   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHOÁ HỌC 32 GIỜ RÈN CHỮ ĐẸP

 

                                               

Lâu nay rất nhiều phụ huynh và giáo viên phàn nàn chuyện học sinh viết chữ xấu. Nhiều năm được mời dạy ở một trường trung học chuyên nghiệp, tôi cũng rất khó chịu khi chấm bài của học sinh phải vừa đọc vừa luận. Tình cờ, nhà nghiên cứu Hán – Nôm Trần Xuân Tâm cho tôi xem một tờ giấy luyện tập chữ đẹp của đứa cháu đang học lớp 1. Nhìn những con chữ đều tăm tắp, nét thanh nét mảnh rõ ràng, mềm mại, bố cục hài hoà, sáng sủa, tôi không tin những chữ viết này là của cháu bé lớp 1. Ông Tâm bảo:

- Nếu chú không tin, mời chú đến Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường ở 15 Hàng Đồng (thành phố Nam Định) mà xem…

Tò mò, tôi tìm đến lớp rèn chữ đẹp buổi tối do cô Thanh và cô Thuỷ phụ trách. Tôi ngạc nhiên khi thấy trong lớp không chỉ có các cháu tiểu học, mà có cả sinh viên, cán bộ nhà nước, người cao tuổi. Tất cả đang chăm chú, say mê rèn chữ. Hết giờ lên lớp, cô Thanh và cô Thuỷ  vui vẻ tiếp tôi. Tưởng tôi là người đến xin học, cô Thanh giới thiệu:

- Mỗi khoá học gói gọn trong 32 giờ, chia làm 16 buổi, mỗi buổi 2 tiếng. Đảm bảo chữ viết của bác sau khoá học sẽ đẹp. Hiện chúng tôi mở ba lớp sáng, chiều và tối. Bác có thể lựa chọn thời gian lớp học thuận tiện với mình. Trung tâm lo đủ vở, bút, mực phục vụ người học.

Không muốn cô hiểu lầm, tôi nói rõ mục đích của mình:

- Thưa cô, tôi không đến xin học, mà chỉ muốn tìm hiểu thực hư việc rèn chữ đẹp của Trung tâm thôi.

Cô Thanh cho biết:

- Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường ra đời từ ý tưởng của cô Thuỷ. Thuỷ là bạn học cùng lớp tại chức Đại học sư phạm tiểu học với tôi. Tôi từng đoạt giải viết chữ đẹp ngành giáo dục cấp tỉnh. Cô Thuỷ đoạt giải chữ đẹp cấp toàn quốc. Một lần cô Thuỷ tâm sự với tôi về việc mở Trung tâm dạy chữ đẹp, tôi rất tâm đắc. Làm một cái gì đó góp phần giúp học sinh khắc phục tình trạng viết chậm và xấu là nỗi trăn trở từ lâu của chúng tôi. Sau khi đi tham quan, học tập một số trung tâm dạy chữ đẹp ở Bắc Ninh và Hà Nội, chúng tôi nghiên cứu nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, chuẩn bị cho Trung tâm dạy chữ đẹp ra đời. Thày Hùng – Giáo viên Trường tiểu học Nguyễn Trãi (Thành phố Nam Định) nhận lo công tác tổ chức, hành chính. Đối với việc rèn chữ đẹp, chất lượng bút viết là rất quan trọng. Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, thử nghiệm để tìm ra cây bút tốt cho việc viết chữ đẹp, thày Hùng đã thành công. Nhãn hiệu Bút mài Thiên Trường của thày Hùng được nhiều người biết tới. Một số trung tâm, trường học trong và ngoài tỉnh đã đặt hàng Bút mài Thiên Trường của thày Hùng.

Ngày 9 -  6 – 2006 Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường chính thức khai trương. Mới ra đời được ba tháng, Trung tâm đã hoàn thành 10 khoá, mỗi khoá từ 15 đến 20 người học. Từ đó đến nay, Trung tâm hoạt động thường xuyên, rất nhiều người đăng ký học. “Thương hiệu” Trung tâm rèn chữ đẹp Thiên Trường đã được nhiều người tin tưởng.

Biết cô Trần Thị Thanh là giáo viên Trường tiểu học Lê Quý Đôn, cô Trần Thu Thuỷ là giáo viên Trường tiểu học Nguyễn Trãi (thành phố Nam Định), tôi băn khoăn:

- Trung tâm mở nhiều lớp, dạy cả ngày như thế, hai cô làm thế nào dạy ở trường được?

Cô Thuỷ trả lời:

- Để giải quyết khó khăn này, Trung tâm đã tuyển mời một số cô đoạt giải chữ đẹp cấp thành phố tham gia giảng dạy. Vào năm học, Trung tâm chỉ mở các lớp buối tối.

Hỏi về kinh nghiệm rèn chữ đẹp, cô Thuỷ xởi lởi:

- Để việc dạy kết quả, trước hết là phải tìm hiểu đặc điểm tâm lí, lứa tuổi, nguyên nhân viết chữ chưa đẹp của người học. Sau đó tìm ra những giải pháp thích hợp đối với từng người học. Các cháu tiểu học thường mắc các lỗi như cầm bút chưa đúng cách, khoảng cách mắt đến giấy viết chưa hợp lí, tư thế ngồi viết không thuận lợi. Nhiều em cầm bút thấp, mực giây ra tay. Có em chỉ cầm bút bằng ngón cái và ngón trỏ, còn các ngón khác co vào lòng bàn tay, không tì xuống giấy nên chữ viết chậm và run. Đa số các em khi viết cúi quá gần mặt giấy nên không bao quát được toàn trang, bố cục các con chữ không hài hoà, lại dễ bị cận thị. Có em lại mắc lỗi tư thế ngồi như ngồi lệch vai, xoay giấy ngang hay dọc nên chữ viết nghiêng ngả. 

Chúng tôi chia khoá học thành hai giai đoạn. Hai mươi giờ đầu rèn cơ bản: sửa các lỗi cầm bút, tư thế ngồi, khoảng cách mắt tới giấy, hướng dẫn tập viết các nét cơ bản của từng con chữ, viết chắp nét các con chữ, tiến tới viết liền nét từng từ, viết cả một bài văn hoàn chỉnh. Giai đoạn này người học phải sử dụng bút mực (bút mài hoặc bút lá tre). Mười hai giờ còn lại chuyển sang tập bố cục từng trang, luyện viết ứng dụng nhanh và tương đối đẹp bằng các loại bút khác như bút bi, bút máy…

Có nội dung chương trình và phương pháp khoa học, cùng với sự miệt mài rèn luyện của người học, chúng tôi đã thành công dạy chữ đẹp sau 32 giờ. Hết khoá, 100% học sinh đạt yêu cầu viết nhanh và tương đối đẹp, tạo nhiều thuận lợi trong học tập.

Cô Thanh cho tôi xem một tập thư và lưu bút của học viên. Thư gửi các thày cô Trung tâm của em Vũ Thanh Thảo (học sinh lớp 10 chuyên Sử, Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định) có đoạn viết: “Trước khi đến với Trung tâm, chữ viết của em rất tồi tệ. Các cô đã chỉ ra từng lỗi, các nét chưa đẹp trong chữ của em. Bây giờ em không còn cảm thấy xấu hổ khi đưa bài viết của mình cho bạn bè, bố mẹ xem nữa. Em thật may mắn được học ở một trung tâm tốt”. Em Nguyễn Thanh Hùng (27B, Ô18, phường Hạ Long, thành phố Nam Định) ghi lưu bút bằng những dòng chữ trông đẹp như bộ chữ in trong sách giáo khoa: “Em đến học tại Trung tâm vì chữ em quá xấu. Nhờ cô giáo tận tình chỉ bảo, kèm cặp mà em tiến bộ rõ rệt. Em rất biết ơn cô”. Em Nguyễn Hải Ninh (số nhà 149 đường Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định) thổ lộ suy nghĩ của mình về Trung tâm: “Trước khi đến Trung tâm, em không mấy tự tin về chữ của mình. Em đã cảm nhận được nhiệt huyết, sự tận tình với người học của cô Thuỷ và cô Thanh. Nhiều người cho rằng ở tuổi em mà đi học chữ là không phù hợp. Nhưng thật ra có nhiều anh chị lớn hơn em cũng đến Trung tâm và học rất nhanh. Khi ngồi cùng lớp với các em  nhỏ, em không chán nản, mà rất vui khi thấy rằng mọi lứa tuổi đều có thể đi học chữ, rèn chữ”. Còn nhiều những thư và lưu bút của người học thể hiện tình cảm của mình với các thày cô ở Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường như thế. Điều đó chứng tỏ việc làm của các thày cô giáo Trung tâm này có hiệu quả và thiết thực. Từ chỗ bán tín bán nghi, tôi đi đến quyết định đăng kí học một khoá, hy vọng loại bỏ được kiểu “chữ que” – hậu quả của cải cách giáo dục một thời, để có nét chữ mềm mại, hài hoà…

Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường đã đáp ứng kịp thời yêu cầu tha thiết của nhiều phụ huynh và học sinh. Sự ra đời và thành quả đạt được của trung tâm là một sự kiện đáng mừng. Dạy từng nét chữ đẹp, tạo thói quen tốt, góp phần xây dựng nhân cách cho học sinh. Nét chữ nết người, việc làm của các thày cô giáo Trung tâm dạy chữ đẹp Thiên Trường thật có ý nghĩa cao đẹp, thể hiện tấm lòng của các thày cô giáo tha thiết với nghề, với người, với ngành giáo dục Nam Định – tỉnh vốn có truyền thống khoa bảng và bề dày thành tích giáo dục.

 

 

 

 

 

 

          TRÀ LŨ TRUNG YÊU DẤU

                                                                                           

 

          Trà Lũ Trung là một thôn thuộc xã Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ xưa, nay là xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Hồi đầu thế kỷ 19, hầu hết dân  xã Trà Lũ tham gia khởi nghĩa Phan Bá Vành, nhiều người trở thành tướng lĩnh của nghĩa quân như Tướng quân Hai Đáng mà sách Trà Lũ xã chí của cụ Cử nhân Lê Văn Nhưng đã chép. Trà Lũ trở thành căn cứ quan trọng của nghĩa quân. Cũng vì cuộc sống quá đói khổ, sưu cao thuế nặng mà dân Trà Lũ cực chẳng đã mới nổi dậy chống triều đình Nguyễn. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại, Trà Lũ bị triệt hạ, hơn 800 người bị giết. Nhờ ông Nguyễn Công Trứ ra tay tổ chức dân khai hoang phục hoá, phát triển kinh tế, dân Trà Lũ mới dần dần ổn định cuộc sống.

          Lứa chúng tôi sinh ra sau cách mạng 1945, cái khổ của dân Trà Lũ Trung trước cách mạng chỉ được nghe cha mẹ nói lại. Thời ấy, làng xóm tiêu điều, mùa màng thất bát, sưu cao thuế nặng, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp... Thôi khỏi phải nói, cuộc sống ấy có khác gì kiếp ngựa trâu. Bố mẹ tôi quanh năm rách rưới, đầu tắt mặt tối, đi ở đợ và làm thuê làm mướn cho địa chủ mà kiếm không nổi ngày hai bữa cháo rau. Cái đận năm đói 1945, ở Trà Lũ Trung xác người chết đói đầy đường. Người ta thu gom xác chết bỏ lên xe bò, chôn chung một hố lớn.

          Khi cách mạng nổ ra, rồi kháng chiến chống Pháp, nhất là thời kỳ gian khổ Hai năm bốn tháng, dân Trà Lũ Trung vùng lên, một lòng theo cách mạng. Nhiều người ngã xuống trong chiến đấu chống càn, trong tấn công bốt Trà Trung và bốt Phú Nhai, người trước ngã, người sau tiếp bước. Gia đình bố tôi có hai liệt sĩ trong chống Pháp. Cả nhà bố tôi đều đi du kích. Bà nội và mẹ tôi là cơ sở nuôi dấu cán bộ, du kích, ba lần bị giặc đốt nhà mà vẫn gan lỳ trụ lại đầu làng làm bàn đạp cho quân ta đánh bốt Phú Nhai.

          Thời kỳ xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, lứa chúng tôi đã lớn. Ngày ấy miền Bắc thắt lưng buộc bụng, hạt gạo cắn ba chi viện cho miền Nam và giúp Lào, lại là thời bao cấp nên cuộc sống kinh tế của Trà Lũ cũng vẫn còn nghèo lắm. Tôi còn nhớ, ngày ấy làng tôi toàn nhà tranh vách đất, còn nhà lợp ngói khang trang thì thật hiếm. Lũ trẻ chúng tôi áo vá nhiều mảnh, luôn đói bụng. Tận năm 1967, tôi học lớp 10 mà sáng sớm chỉ được chia hai củ chóc (thứ củ thường để cho lợn ăn mà ngày nay không mấy ai trồng), chạy bộ 8 km đến trường huyện, chiều về mới được hai bát cơm độn ngô khoai mà mẹ tôi ưu tiên cho con lấy sức để học. Bạn tôi có người đói lả ngay trên lớp. Khổ nỗi dân làng tôi đông, lại đẻ nhiều, như mợ tôi có 10 người con, bố mẹ tôi có số con vào loại trung bình ở làng cũng có tới 5 con, thành ra đã đói khổ lại càng khốn khổ. Làng tôi ruộng đất ít, trong cải cách chia ruộng, bình quân đầu người được nửa sào. Nhà tôi 8 khẩu được chia ba sào chân ruộng xa. Rồi lại vào hợp tác xã nông nghiệp, đi làm theo kẻng, cha chung không ai khóc, năng suất chẳng ra gì, nghèo vẫn cứ nghèo. Không đủ ruộng sinh sống, dân làng tôi phiêu bạt khắp nơi, người đi khai hoang vùng núi, người đi khai phá bãi bồi. Số người trụ lại làng thì buôn bán vặt, đi thuyền, đi thân tàng, dệt chiếu.

          Thời tôi đi học, cả ba huyện Xuân Trường, Hải Hậu, Giao Thuỷ mới có một trường cấp 3 ở Hành Thiện (huyện Xuân Trường). Xã tôi chỉ có trường cấp 1 mà chưa có trường cấp 2. Ngày ấy được học đến cấp 2 là quý lắm, nếu học tới cấp 3 thì thật “oách”. Khoá tôi, cả làng hơn chục người học cấp ba đã là “làng học” có tiếng rồi. Số người tốt nghiệp đại học có thể đếm trên đầu ngón tay. Năm 1964, cậu tôi đỗ đại học Bách khoa Hà Nội, cả họ tổ chức ăn mừng.

          Các cơ sở chữa bệnh thiếu thốn và lạc hậu. Mỗi khi có bệnh, dân thường chữa theo dân gian, hoặc chữa tại nhà các thày lang ta. May cho huyện tôi khi đó có Bệnh viện tỉnh sơ tán về Lạc Quần, dân bệnh trọng có nơi chạy chữa. Hai em tôi bị chó dại cắn, phải đưa ra Bệnh viện tỉnh tiêm hai mốt ngày, mỗi ngày một phát. Bố tôi bỏ hai em tôi vào hai cái thúng, rồi gánh bộ 9 cây số ra Lạc Quần, sáng đi tối về thật vất vả.

          Nhà nước phân phối xe đạp Thống nhất, dì tôi là cán bộ du kích, được ưu tiên mua một cái. Dì giữ xe như giữ mả tổ. Khi trời mưa, dì lau xe sáng bóng rồi treo xe lên bằng hai cái xích, còn mình thì lội bộ.

          Năm 1967, cụ Lê Văn Lễ là Phó Ty Văn hoá tỉnh về quê bằng cái xe bình bịch. Bọn thanh niên và trẻ con chúng tôi tò mò chạy theo xem như xem sinh vật lạ. Lúc xe pan, nổ máy không được, cụ Lễ nhờ chúng tôi đẩy. Chúng tôi sung sướng được đẩy xe cho cụ hơn hai cây số, ra tận đường cái.

          Từ sau 1975, nhất là từ sau khoán 10 và sau đổi mới, Trà Lũ Trung mới thật sự đổi sắc thay da. Tôi học đại học rồi đi bộ đội, hết chiến đấu ở Quảng Trị, lại đi chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, mãi năm 1982 mới chuyển ngành về quê, đã ngỡ ngàng trước sự đổi mới của quê hương. Trong làng mọc lên nhiều nhà bê tông mới, nhà hai ba tầng cũng không ít, không còn nhà rách vách nát như trước đây. Đường làng, ngõ xóm đều đã bê tông hoá, xe máy bon bon chạy. Làng tôi có tới ba xe khách tư nhân chở người đi Hà Nội và các tỉnh bạn. Đêm đêm điện thắp sáng, cả làng lung linh như sao sa. Trẻ con bây giờ không còn cảnh thất học. Làng có trường tiểu học và trường trung học cơ sở riêng, khang trang và đẹp đẽ. Huyện có tới ba trường trung học phổ thông. Lũ trẻ bây giờ so với cha anh chúng thật là may mắn. Thôn Đông Nhuệ là thôn nghèo nhất làng trước đây, bây giờ lại là thôn khá giả. Nhà nào cũng đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, nhiều hộ có điện thoại riêng, cả thôn có trên 100 xe máy, nhà nào cũng có tivi... Làng tôi giờ trên bến dưới thuyền cũng khá sầm uất. Con người làng tôi cũng khác trước rất nhiều. Số tiến sĩ, giáo sư có cả chục người. Tướng lĩnh, thứ trưởng, vụ trưởng và tương đương, Tổng giám đốc, Tổng biên tập... có cả mấy chục vị. Không ít người từ dân nghèo vươn lên thành lập công ty vừa và lớn. Tiêu biểu là Công ty Thương mại - Du lịch Nam Cường do Trần Văn Cường thành lập và làm giám đốc, ra đời từ thời mở cửa, nay có cơ sở ở khắp trong Nam ngoài Bắc, làm ăn phát đạt. Loại công ty có tiếng cỡ như Công ty cổ phần sinh hoá do Trần Cao Tường làm giám đốc thì xã tôi có cả chục rải khắp nước.

          Sự đổi mới dễ thấy ở làng tôi là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước đem lại. Con người quê tôi cần cù yêu nước có sức bật vươn lên trong cuộc sinh tồn. Thế hệ cha ông và thế hệ chúng tôi, từng đã trải qua những năm tháng gian khổ, hy sinh nên vô cùng quý trọng những thành quả đạt được và vô cùng biết ơn Đảng, Bác Hồ và Chính phủ. Niềm tin yêu Đảng và Nhà nước XHCN Việt Nam trong chúng tôi không dễ gì lay chuyển. Nhưng thật đáng suy nghĩ là thế hệ trẻ, con cháu chúng tôi sinh ra trong thời bình, chúng đòi hỏi hưởng thụ hơn là cống hiến cho dân cho nước. Nhiều cháu luôn chê quê mình nghèo khổ và tìm mọi cách ra thành phố kiếm sống, có cháu đi nước ngoài rồi không về.  Ba đứa con tôi đều được ăn học hết đại học, tiện nghi sinh hoạt tuy chưa thoả mãn yêu cầu nhưng cũng có xe máy tốt, điện thoại di động loại xịn, so với cha mẹ thì chúng may mắn hơn nhiều. Vậy mà chúng vẫn phàn nàn đời sống của chúng còn khổ quá. Chẳng riêng con tôi, dường như lớp trẻ bây giờ ít tìm hiểu về cha ông chúng và không quan tâm nhiều đến công lao của các thế hệ đi trước. Tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nghiện hút trong thanh thiếu niên huyện Xuân Trường nói chung và Trà Lũ nói riêng chiếm tỷ lệ đáng báo động. Hơn bao giờ hết, vấn đề thường xuyên giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ là vấn đề cần được quan tâm. Việc giáo dục truyền thống quê hương, lòng yêu chủ nghĩa xã hội, ơn Đảng và Bác Hồ, trân trọng các bậc tiền bối cho thế hệ trẻ phải được toàn xã hội, các ngành, các cấp cùng quan tâm thực hiện. Thật vô tình là trong khi chúng ta tuyên truyền giáo dục truyền thống cho lớp trẻ thì lại có người nhồi nhét cho thanh niên những bài hát xa lạ, những bài hát mà nhạc thì hò hét, ca từ thì phản cảm kiểu như “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta”. Có lần tôi nhắc nhở thanh niên hãy tìm hiểu lịch sử truyền thống quê hương, đất nước mình thì có cháu đã trả lời tôi bằng cách gân cổ hát rống lên câu hát này. Thế mới hay, có tâm chưa đủ, mà còn phải có tài và tác phong làm việc khoa học, nhất là trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật, vì tác động của chúng rất ghê gớm. Lại có lần làng bên đón nhận danh hiệu Làng văn hoá, có cháu hỏi tôi: “Làng ta không được công nhận là làng văn hoá có phải vì làng ta vô văn hoá không?” Câu hỏi ngây thơ mà làm ta đau lòng. Văn hoá gắn liền với truyền thống lâu đời, chứ đâu phải chờ ai công nhận thì mới có văn hoá. Hoá ra trong cách làm của ta hiện nay còn không ít vấn đề phải nghiên cứu kỹ lưỡng để không xảy ra tình trạng mục đích tốt mà hình thức lại gây phản cảm. Tôi cứ trăn trở nghĩ: “Nếu có thể thay thuật ngữ Làng văn hoá và Khu phố văn hoá bằng thuật ngữ Làng văn minh và Khu phố văn minh. Như thế khoa học và hợp lý hơn chăng?”

          Lứa chúng tôi vô cùng yêu quê, yêu nước và trân trọng sự đổi mới thì khỏi bàn. Nhưng làm sao để bọn trẻ, con cháu chúng ta, thế hệ sinh ra trong thời bình cũng tha thiết yêu và gắn bó với quê hương đất nước, để chúng không còn bỏ ra thành phố, bỏ đi nước ngoài rồi không về, để chúng coi việc đóng góp hết khả năng xây dựng quê hương là đòi hỏi, là tình cảm, là bổn phận nghĩa vụ mà chúng tự nguyên thực hiện. Tin ở con cháu mình, tôi mong chúng tìm về cội nguồn, nơi có mồ mả tổ tiên, nơi chúng được chôn nhau cắt rốn.

           Trước mắt tôi hiển hiện con sông uốn khúc, cánh đồng lúa chín vàng, những ngôi nhà cao đẹp ẩn hiện sau luỹ tre xanh, đài ghi công liệt sĩ trang nghiêm, trường học, bệnh xá khang trang, tiếng chuông nhà thờ Phú Nhai ngân vang, tiếng mõ chùa, tiếng chim cu gáy thanh bình. Đó chính là quê tôi mà ở đó bố mẹ tôi đã cả đời tần tảo nuôi dạy chúng tôi thành người; ở đó có bà con họ hàng, làng xóm, bạn bè mà đến thăm hỏi bất kỳ người nào, nhà nào, tôi cũng được đón tiếp như người thân; ở đó là cộng đồng thân thiết tối lửa tắt đèn có nhau. Dù đi đâu, ở đâu, lúc nào tôi cũng đau đáu hướng về nơi ấy. Vang lên trong đầu tôi lời ca tha thiết của Giáp Văn Thạch như nhắc nhở mọi người hãy hướng về quê hương của mình:

          Quê hương mỗi người chỉ một,  như là chỉ một mẹ thôi...

          Quê hương, nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người.

          Quê hương trong lời ca ấy đối với tôi chính là Trà Lũ Trung - Xuân Trung yêu dấu, dù hiện nay chưa phải là xã giàu, nhưng vẫn là nơi để chúng tôi gửi gắm hồn mình.

 

                                       Thành Nam, 5-1980

MÁY BAY CÓ… CHÂN

 

 

 

          Vợ chồng bạn đọc cãi nhau. Vợ bảo máy bay chỉ có bánh mà không có chân. Chồng nói máy bay có chân. Không ai chịu ai nên họ đến nhờ thư viện phân xử. Thủ thư Hương không biết nhiều về máy bay nên bảo họ cứ sang khu hồ Truyền Thống (Bảo tàng tỉnh Nam Định) có trưng bày một cái máy bay mà xem sẽ rõ. Hai vợ chồng nọ đi xem xong lại về thư viện. Vợ hoan hỉ:   

     - Thấy chưa, em đã nói là máy bay chỉ có bánh, làm gì có chân.

     Chồng vẫn ngoan cố:

     - Anh bảo máy bay có chân...

     Cuộc tranh cãi máy bay có chân hay chỉ có bánh lây sang cả một số cán bộ trong Thư viện tỉnh. Mọi người đều nói: “Máy bay có bánh chứ làm gì có  chân”.  Cậu Trần lại bảo: “Có máy bay có bánh, lại có máy bay có chân”. Thủ thư Hương mắng cậu Trần:

          - Đồ... hai phải!

          Cô Bích thì hỏi:

          - Thế máy bay có chân là máy bay gì?

          Cậu Trần bảo:

          - Là máy bay trực thăng chiến đấu, trực thăng cứu hộ, máy bay lên thẳng ấy mà...

          - Ông đã thấy tận mắt chưa, và ở đâu?

          - Thấy trong chiến trường miền Nam, trong phim ảnh. Sách báo cũng nói tới... cái chân của máy bay mà người ta gọi nó là càng.

          - Thế chân nó như thế nào?

          - Nó giống cái chân con ngựa gỗ cho trẻ con chơi ở nhà trẻ.

          - Bốc phét!

          Mọi người đều cho là cậu Trần bịa. Phan tiên sinh trầm ngâm một lát rồi nghiêm giọng:

          - Nếu máy bay không có bánh thì người ta đưa nó vào hầm hoặc nhà bảo vệ bằng cách nào?

          - Tôi không biết.

          Cuộc tranh luận máy bay có chân hay có bánh coi như chấm dứt với phần thắng thuộc về đa số cho rằng máy bay chỉ có bánh sau khi cậu Trần thừa nhận là mình không biết “người ta đưa nó vào hầm hoặc nhà bảo vệ bằng cách nào”. 

          Sáng hôm sau. Vừa đến cơ quan, thủ thư Hương bô bô thông báo:

          - Tối qua, xem phim Cánh đồng hoang chiếu lại trên Tivi, hoá ra có loại máy bay có chân thật.

          Chẳng ai phản đối thủ thư Hương vì có lẽ tối qua mọi người đều xem phim Cánh đồng hoang.

          Trong cuộc sống mà ta không quan tâm tới cái gì thì ta sẽ không hiểu rõ về nó được, ngay cả những “chuyện thường ngày” của chính ta. Óc quan sát thật cần cho mọi người nhất là đối với người cầm bút.   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ

 

ĐÚNG LÀ CÔNG AN NHÂN DÂN!

         Tại ngã tư đường Trường Chinh - Phù Nghĩa (thành phố Nam Định). Một người đi xe mô tô vượt qua vạch dừng khoảng 3 mét thì đèn đỏ bật sáng. Sợ bị phạt, người này vội dừng xe và lúng túng dắt xe lùi lại làm những người đứng tại vạch dừng rất khó chịu. Một đồng chí cảnh sát giao thông trẻ tuổi từ trong bục tiến lại. Mọi người tin chắc phen này người đi mô tô sẽ bị phạt. Nhưng thật bất ngờ, đồng chí cảnh sát giao thông trẻ tuổi chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở: 

          - Bác dắt xe lùi lại tỏ ra bác tôn trọng luật giao thông đường bộ, nhưng trong tình huống này lại làm cản trở giao thông của người khác. Lần sau gặp tình huống vượt qua vạch dừng mà đèn đỏ mới bật sáng thì bác cần nhanh chóng sang đường để nhường đường cho người khác. Chúng tôi không phạt những trường hợp như thế đâu.

          Thái độ ứng xử của đồng chí cảnh sát giao thông trẻ tuổi hôm ấy thật có văn hoá, được người đi đường khen: Đúng là Công an nhân dân.

 

          CẢNH SÁT - NGƯỜI MÁY

          Cũng tại ngã tư này, tôi được chứng kiến một thái độ ứng xử khác. Một bác cao tuổi đi xe gắn máy từ đường Phù Nghĩa ra đường Trường Chinh. Vì đường không có vạch sơn quy định dừng xe nên những người tham gia giao thông tiến đến sát chân cột đèn tín hiệu, giáp mép đường Trường Chinh. Bác đi xe gắn máy rẽ phải độ hai mét thì tới đường Trường Chinh, cũng là lúc đèn đỏ bật lên. Bất ngờ một đồng chí cảnh sát giao thông trung tuổi từ góc khuất đón sẵn tiến ra yêu cầu bác dừng xe để phạt lỗi vi phạm đèn đỏ. Bác đi đường nhận khuyết điểm và năn nỉ xin đồng chí cảnh sát giao thông tha cho vi phạm lần đầu để kịp giờ lên lớp dạy học. Đồng chí cảnh sát lạnh lùng:

          - Tôi không cần biết việc riêng của bác. Tôi chỉ biết bác vi phạm đèn đỏ là tôi phạt.

          Đồng chí cảnh sát giao thông yêu cầu bác đi đường dắt xe ngược dòng người đông đúc trong giờ cao điểm buổi sáng tới bục công an đối diện để xử lý. Bác đi đường không mang theo giấy tờ xe. Bác lại năn nỉ xin đồng chí cảnh sát giao thông cho bác gửi tập giáo trình mang tên bác làm tin, hứa sau giờ lên lớp sẽ thi hành nộp phạt đầy đủ. Đồng chí cảnh sát kiên quyết khoá xe của bác lại và buộc bác thuê xe ôm về lấy giấy tờ xe. Bác đi đường còn cố nài nỉ:

          - Xin đồng chí thông cảm, tạo điều kiện cho tôi lên lớp kịp giờ, không cả lớp các cháu chờ đợi...

          Đồng chí cảnh sát xẵng giọng:

          - Bác vi phạm luật thì bác còn dạy được ai!

          Bác đi đường sững người nhìn đồng chí cảnh sát giao thông như nhìn một sinh vật lạ rồi đành thuê xe ôm về lấy giấy tờ xe.

          Khi trả biên lai phạt, nhận lại giấy tờ xe, bác thành thật cám ơn đồng chí cảnh sát giao thông. Đồng chí cảnh sát giao thông không nói một lời trước câu cám ơn của bác, nét mặt không thể hiện một cảm xúc gì. Tôi tò mò hỏi bác:

          - Bác đã bị phạt mà còn cám ơn là nghĩa làm sao?

          Bác đi đường buồn buồn trả lời:

          - Tôi bị muộn mất hai tiết lên lớp làm cho gần năm chục em học sinh phải lãng phí thì giờ chờ đợi, nhưng tôi không trách đồng chí cảnh sát giao thông vì đồng chí ấy làm đúng quy định. Tôi cám ơn đồng chí cảnh sát giao thông là do đồng chí ấy phạt mà tôi sẽ phải nhớ để không tái phạm lỗi rẽ phải khi đèn đỏ, cũng là một lần nữa xác minh xem đồng chí ấy có đúng là vô cảm hay không. Tôi chỉ không vừa lòng với thái độ ứng xử chưa tốt của đồng chí ấy thôi. Có lẽ đồng chí ấy nhiều năm phải xử phạt người vi phạm luật giao thông đường bộ nên nó chai lỳ cảm xúc rồi.

          Nghe nói một số nước trên thế giới người ta có người máy cảnh sát giao thông rất lịch sự. Ngành cảnh sát nước ta cũng nên mua những người máy cảnh sát giao thông để theo kịp văn minh thế giới.

          CHÚC MỪNG SINH NHẬT (2-9)

              GIAI ÚT TRẦN NGỌC MINH

 

 

        Vợ mình có chửa thằng út "vỡ kế hoạch". Số là trước thằng út, vợ chồng mình đã có con gái cả và thằng trưởng rồi. Nếu thêm thằng út thì nuôi ba con trong hoàn cảnh khốn khó thời bao cấp sẽ rất cực khổ. Vợ mình đành phải vào Bệnh viện tỉnh xin bỏ thai. Bữa ấy giáp Tết, bác sĩ bảo:

       - Giáp Tết rồi, chị cứ về ăn Tết cho vui vẻ, rồi sau Tết vào nạo cũng được.

       Tết, vợ chồng con cái về thăm ông bà nội. Bà nội biết chuyện vợ chồng mình định nạo thai, bà bảo:

       - Thai thành hình rồi, là mạng người đấy! Các con không thể làm việc thất đức ấy được. Mẹ không cho phép các con phá thai.

       Vậy là vợ chồng mình tặc lưỡi:

       - Thôi kệ. Đến đâu thì đến. Đói khổ thì đói khổ. Bất chấp tất cả… Trời sinh voi trời sinh cỏ.

       Sáng mồng 2 tháng 9 năm 1981 vợ mình sinh thằng út, đặt tên là Trần Ngọc Minh. Thêm thằng út, quả thật cuộc sống thời bao cấp của gia đình mình khó khăn gấp bội. Vợ mình ngày phục vụ bạn đọc ở phòng đọc Thư viện tỉnh, tối bóc lạc thuê cho Sở ngoại thương đến chai tay. Mình thì ngày đi cơ sở, hoặc đạp xe đi dạy trung cấp thư viện cách nhà ba chục cây số, tối ra ngã ba Nguyễn Du – Lê Hồng Phong bơm vá xe đạp đến khuya. Chủ nhật, mình dành thời gian dắt thằng lớn, kiệu thằng út trên vai đi dạo phố. Hai thằng giai trưởng và giai út quặt quẹo luôn, đi viện như cơm bữa. Hai thằng phải uống nhiều thuốc textaxiline làm hỏng cả men răng.

       Vậy rồi lần hồi cũng vượt qua khó khăn. Ba con nay đều đã có gia đình riêng. Chúng lại lo cho con cái chúng như bố mẹ từng lo cho chúng. Cuộc sống bây giờ đủ đầy sung sướng gấp trăm lần ngày bao cấp. Nhưng với vợ chồng mình thì chẳng có gì hạnh phúc hơn những ngày gian khổ xa xưa ấy. Hai ông bà già giờ có thêm hai dâu, một rể, sáu cháu ba trai ba gái nội ngoại. Mỗi khi có dịp chúng về thăm ông bà thật là vui.

       Nhân sinh nhật thằng út, mình lại sống với kỷ niệm xưa. Già rồi thường sống bằng kỷ niệm! Bỗng rưng rưng nhớ Mẹ, cảm ơn Mẹ đã khuyên răn, không cho bỏ thằng út. Cảm ơn cô bác sĩ, cảm ơn Trời Phật run rủi cho thằng út ra đời.

       Chúc mừng sinh nhật giai út của bố mẹ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      CHÚC MỪNG SINH NHẬT (15-9)

DÂU TRƯỞNG TRẦN BÙI KIM HƯỜNG

 

 

          Mới ngày nào dâu trưởng nhà tôi còn là cô bé 18 tuổi, người bé nhỏ, nhanh nhẹn, làm Lớp trưởng lớp Thư viện 3 (2000 – 2002). Khi ấy tôi đang thỉnh giảng ba môn nghiệp vụ cho lớp này.

          Hôm khai giảng, ông Giám đốc sở Văn hóa Thông tin hứa hẹn rằng em nào đỗ loại giỏi thì ông bố trí công tác ngay.

          Cuối khóa, dâu trưởng nhà tôi tốt nghiệp loại giỏi. Ông Giám đốc sở bảo cho nghỉ một tháng, tháng sau đi làm luôn. Thế rồi năm bảy cái “tháng sau” qua đi cũng không thấy ông Giám đốc nói gì. Dâu trưởng đành nhận việc ở một công ty xây dựng trong thành phố.

          Hai năm sau Giám đốc Thư viện tỉnh bảo tôi:

          - Ông Giám đốc sở thông báo em phải bố trí công tác cho một học sinh thư viện vừa tốt nghiệp loại khá. Con bé cũng là học trò của anh em mình. Em bảo ông Giám đốc: “Con anh Giống tốt nghiệp loại giỏi, anh đã hứa bố trí công tác mà mấy năm nay không thực hiện. Bây giờ anh đưa người loại khá về thì em biết ăn nói sao với anh Giống?” Ông Giám đốc bảo: “Vậy nhận luôn con ông Giống nữa!” Anh xem cho cháu về Thư viện công tác đi!

          Đã tốt nghiệp Đại học thư viện tại chức, được làm nghề đã học, dâu trưởng nhà tôi rất vui. Cơ quan xây dựng không đồng ý cho chuyển, dâu trưởng nhà tôi liền bỏ việc luôn. Nhưng chờ mãi chẳng thấy ông Giám đốc sở động tĩnh gì. Một hôm Giám đốc thư viện bảo tôi: “Em chất vấn tại sao không quyết định nhận con anh Giống thì ông Giám đốc sở bảo: “Là tại anh phát biểu trong Đảng ủy mở rộng rằng tôi cứ ấn người thừa về chỗ anh…” Em bất lực rồi. Giờ anh phải xuất tướng thôi!

          Một buổi tối, tôi đến nhà Giám đốc sở. Vừa trông thấy tôi, ông Giám đốc sở vỗ đùi cái đét, kêu lên:

          - Ôi trời! Trông thấy ông tôi mới nhớ ra. Bận trăm công nghìn việc tôi quên khuấy chuyện con ông.

          Tôi cười:

          - Vậy bây giờ ông nhớ rồi thì ông thực hiện lời hứa nhé!

          Tháng sau dâu trưởng có quyết định hợp đồng công tác, chờ thi công chức. Gần đến kì thi công chức, ông Giám đốc sở lại bảo: “Sở không lấy đại học tại chức. Ai có bằng Đại học tại chức thì liệu lo tìm việc khác!”

          Vợ chồng tôi hơn ba chục năm gắn bó với nghề thư viện, mong có con nối nghiệp bố mẹ. Nhưng đến nước này thì chả hy vọng gì ở cái ngành văn hóa nữa, tôi khuyên dâu trưởng thi sang ngành giáo dục. Kỳ ấy giáo dục thành phố được 9 chỉ tiêu mà có tới ba bốn chục người dự thi. Thi hai môn (nghiệp vụ và Anh văn), tối đa mỗi môn 100 điểm. Các thí sinh thuộc diện chính sách được cộng thêm 30 điểm. Dâu trưởng nhà tôi không có ưu tiên chính sách, bài làm thực lực phải hơn thí sinh ưu tiên ít nhất ba chục điểm mới có hy vọng đỗ.

          Dâu trưởng bảo:

- Bố ơi! Con thăm dò biết nhiều thí sinh ưu tiên lắm. Con có thi cũng chả được đâu!

Tôi bảo:

- Thì con cứ thi, coi như là tập dượt để kỳ sau thi cũng tốt chứ sao!

Thi buổi sáng về, dâu trưởng có vẻ không vui. Chiều gần đến giờ thi rồi vẫn thấy dâu trưởng ôm con nằm nghỉ, tôi bảo:

- Đến giờ thi buổi chiều rồi, đưa con cho bà nội trông mà đi!

Dâu trưởng bảo:

- Thôi con không thi nữa đâu. Thi cũng chả được đâu bố ạ!

Tôi bảo:

- Cứ thi tập dượt con ạ. Bố lai đi cho kịp!

Mấy tháng sau có kết quả: Dâu trưởng nhà tôi đứng thứ 7 trong danh sách 9 người đỗ.

Mới đấy mà dâu trưởng đã bốn chục tuổi rồi. Con gái lớn đã cao hơn mẹ, con trai út cũng đã 4 tuổi.

Chúc mừng sinh nhật 15-9 dâu trưởng nhà ta: TRẦN BÙI KIM HƯỜNG!

 

 

 

 

 

CHÚC MỪNG SINH NHẬT (5-10)

DÂU ÚT TRẦN THỊ THU

 

 

          Năm dâu út tốt nghiệp ngành Tin học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng là lúc giai út học xong bằng hai Tin học cùng trường. Dâu út thi công chức vào ngành giáo dục Nam Định và dạy tin học máy tính cho trẻ trường tiểu học.

          Sau khi phải mổ tim ở Bệnh viện Tim Bạch Mai, sức khỏe dâu út không được tốt. Mỗi khi làm quá sức, dâu út hay bị sỉu đi vì mệt. Bác sĩ khuyến cáo: Dâu út không nên mang thai. Bố mẹ lo cho sức khỏe dâu út, ủng hộ ý kiến của bác sĩ.

          Nhưng dâu út bảo: “Bằng giá nào con cũng phải đẻ cho chồng con một đứa…” Dâu út mang thai được bảy tháng thì phải đi nằm Bệnh viện sản trung ương, tháng thứ tám thì Bệnh viện buộc phải mổ cho anh Cò Thành ra đời sớm. Bốn năm sau, dâu út lại mang thai, lại nằm Bệnh viện sản trung ương, lại phải mổ cho em gái Bông Thùy ra đời sớm. Hai vợ chồng dâu út đều yếu, nghèo, bươn trải nuôi hai con ăn học thật là vất vả.

          May sao, đẻ hai con, dâu út dần dần khỏe lên. Có lẽ tình yêu hạnh phúc vợ chồng con cái là thuốc tốt cho dâu út tăng nghị lực vượt lên khó khăn. 

          Giờ đây Cò Thành đã học lớp tám Trường THCS Trần Đăng Ninh. Em Bông Thùy học lớp bốn rồi.

          Giàu con út, khó con út. Bố mẹ nghèo không có điều kiện cho con út nhà lầu xe hơi như người ta. Bố mẹ chỉ có tình yêu cho con cháu.

          Mỗi lần nghe dâu út “Con chào bố mẹ ạ” là bố mẹ lại thấy mát lòng mát dạ.

          Bác sĩ khuyến cáo không nên mang thai mà dâu út liều đẻ Cò Thành, Bông Thùy… Dâu út là anh hùng của nhà ta vậy.

          CHÚC MỪNG SINH NHẬT 5-10 DÂU ÚT NHÀ TA: TRẦN THỊ THU.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÀY 12 - 8 – MỐC THỜI GIAN ĐÁNG NHỚ

 

 

 

 

          Ngày 12 – 8 là một mốc thời gian đáng nhớ với tôi. Đó là ngày nhạc phụ nhạc mẫu tôi sinh ra và sau này tặng cho tôi báu vật - vợ tôi. Rồi cũng chính ngày 12 – 8 vợ tôi lại sinh cho tôi thằng trưởng nam để nối tiếp dòng họ Trần của tôi.

          Sợ dịch Vũ Hán nên không tổ chức mừng ngày sinh nhật vợ và con trai cả, tôi lên trang bài thơ từ ngày mới yêu nhau tặng vợ con. Bài thơ đại ngôn của tuổi trẻ còn chưa biết gì về thơ phú, nhưng là kỷ niệm về mối tình của tôi.

 

 MỐI TÌNH NAM – THÁI

 

Đất Thái Bình quê hương năm tấn

Lúa óng vàng ngậm nắng ban mai.

Nam Hà mặn tình người với biển

Những cánh buồm thấp thoáng xa khơi.

 

Gái Thái Bình giòn xinh duyên dáng

Vững tay cày - tay súng, đảm đang.

Trai Nam Hà - cá kình vượt sóng

Đậm tình người, dũng cảm vô song.

 

Dòng sông Hồng phù sa thơm mát,

Tưới đôi bờ xanh mướt ngàn dâu.

Phà Tân Đệ sớm chiều xuôi ngược

Là nhịp cầu Nam - Thái tìm nhau.

 

                   Hè 1969

 

VĨ THANH

 

          Từ ngày Tân Đệ có cầu

Thênh thênh xe lướt, nao nao nhớ phà

          Bồng bềnh qua lại đôi bờ

Gieo vào nỗi nhớ, câu thơ trĩu tình.

 

                                             2001

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“MUỐN VỀ QUÊ MẸ MÀ KHÔNG CÓ ĐÒ”

 

 

          Ngày 11 – 10 âm lịch là ngày giỗ nhạc mẫu tôi. Con dâu cùng mẹ chồng chuẩn bị sắm sẵn lễ hương hoa. Tôi chuẩn bị xe máy chở vợ về quê giỗ mẹ. Con gái sợ bố già đi xe máy không an toàn, hẹn chở bố mẹ về bằng ô tô. Vợ tôi gọi điện cho các chị em ở thị xã Thái Bình, Đắc Lắc, Cần Thơ, Mỹ, hẹn nhau về họp mặt, bàn việc quy bố mẹ về lăng tổ… Đùng phát, quê nhà bùng phát dịch, lệnh phong tỏa toàn huyện. Cháu dâu ở quê điện bảo: “Người tỉnh ngoài về thì họ cho vào, nhưng không cho ra”. Chỗ tôi, ở vùng dịch về thì họ cách ly 14 ngày. Thế là kế hoạch bị vỡ không về quê được, đành phó mặc cho cháu dâu ở quê lo giỗ bà, mọi việc chờ qua đợt dịch covid Vũ Hán rồi tính.

          Nhạc mẫu tôi hiền lành phúc hậu, không kể cô con nuôi thì bà sinh sáu cô con gái. Bà tặng tôi cô thứ tư. Vợ tôi thành dâu trưởng nhà tôi. Tôi nhiều năm đi bộ đội chiến đấu ở Quảng Trị, bảo vệ biên giới ở Lạng Sơn. Công to việc nhỏ dòng họ, gia đình, nuôi ba con ăn học đều một tay vợ tôi quán xuyến. Kể từ ngày cưới đến nay, đã nửa thế kỷ qua, vợ tôi đã thành lão bà, nhưng tình cảm vẫn nồng nàn như ngày còn là cô sinh viên thuở trước. Tôi biết ơn nhạc mẫu nhạc phụ đã tặng tôi báu vật cuộc đời.

          Từ nhà tôi ở thành phố Nam Định về quê chỉ khoảng 10 km. Ngày trước chưa có cầu, phải qua phà Tân Đệ. Đường đê trước chưa được rải nhựa bê tông, mỗi lần về quê gặp mưa, đường lầy bùn đi rất vất vả. Có lần tôi đi xe đạp đèo thằng cả về quê, gặp mưa, đường lầy trơn, đất bám chặt bánh xe không thể đi được. Tôi dắt đẩy xe. Thằng cả mới 5 tuổi bám ba ga xe đi theo. Hai bố con đánh vật mấy tiếng đồng hồ mới vượt hết 5 km đường đê từ phà Tân Đệ tới nhà. Mỗi lần tôi về quê, bọn trẻ lại háo hức đòi theo. Tôi thường đón nhạc mẫu sang Nam Định thăm con cháu, rồi đưa bà về quê trên con đường đê ấy. Lần nào đi về, mẹ tôi cũng bắt dừng xe cho bà thắp hương ở ngôi miếu nhỏ bên đê sông Hồng, cách nhà ba cây số. Bà bảo cái miếu nhỏ ấy thờ cô gái chết đuối trên sông Hồng. Cô thiêng lắm. Lần nào về quê đi, tôi cũng được bà gói ghém hoa quả vườn nhà, mớ khoai, bó củi đay, buộc vào xe đạp cho chở về Nam Định. Vào tuổi trên bảy mươi, mẹ tôi bị thoái hóa sập cột sống, lưng cù gập, phải chống gậy. Bà dành nhiều thời gian giúp tôi công việc nội trợ, trông nom các cháu các chắt. Hồi ấy vợ chồng tôi nghèo vất vả lắm, nên bà càng thương. Khi bà sắp về với tổ tiên, tôi thăm ngồi bên bà. Bà lần giở túi vải trong người đưa ra một cuộn tiền các con cháu và họ hàng thăm cho, đủ các mệnh giá, ấn vào tay tôi. Nhiều lúc bà lẫn không nhận ra ai. Nhưng riêng tôi lần nào gặp, bà cũng nhận ra ngay… Ôi! Kỷ niệm về nhạc mẫu tôi bồi hồi trong dạ. Mới đấy mà bà đã đi xa hơn chục năm rồi.

          Ngày kị nhạc mẫu, không về được, vợ tôi đi trông đích tôn, tôi một mình lẩn thẩn ở nhà sống với những kỷ niệm về Mẹ. Giải tỏa cảm xúc buồn thương nhớ Mẹ, bức bối vì không về quê được, tôi hát các bài hát về mẹ, hết bài này đến bài khác.

“Qua đò nhớ mẹ”, con không gọi đò mà gọi Mẹ ơi!

 

          14 – 11 – 2021

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỐ PHẬN LONG ĐONG CÓ HẬU

CỦA BÀI THƠ “THẮP SÁNG ĐƯỜNG TU”...

 

 

 

       Bài thơ “Thắp sáng đường tu” ra đời hơn hai chục năm trước, được nhà thơ Hoài Ngọc Anh (Trần Hùng Thắng - cậu tôi) biên tập nhuận sắc. Tôi đứng tên tác giả gửi bài thơ tới Tạp chí Văn Nhân nhưng không được sử dụng. Sau đó tôi gửi cho chính Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, tham gia sách “Thơ 1000 năm Thăng Long Hà Nội – Thiên Trường Nam Định”. Khi sách in ra không thấy có mặt bài thơ này, tôi chất vấn vị độc quyền tuyển mảng thơ quốc ngữ, rằng tại sao rất nhiều bài dở hơn bài của tôi được chọn mà bài của tôi lại bị loại? Vị này trả lời thẳng thắn, rất thực thà:

       - Lẽ ra ông phải nói với tôi thì có thể tôi châm trước. Nhiều người còn đưa tiền cho tôi để được đăng. Đằng này ông lại đưa cho Chủ tịch để ép tôi. Với tôi, Chủ tịch chả là cái đinh rỉ gì…

       Đến nước này thì tôi chỉ còn biết lắc đầu ngán ngẩm và cất bài thơ vào ngăn kéo.

        Đến thời Họa sĩ Vũ Xuân Dương làm Tổng biên tập Văn Nhân tôi còn đắn đo nhiều năm trời mới dám gửi lại bài thơ cho tạp chí.

       Sau hơn hai chục năm bị hất hủi, cuối cùng bài thơ cũng được Văn Nhân số 138 năm 2021 sử dụng. Một bạn văn ở huyện vừa gửi cho tôi hình ảnh bìa và trang cuốn sách “Lâu đài của Phật, Nxb. Hội Nhà văn của tác giả Hoa Vân) cũng in bài thơ này. Chỉ tiếc là tác giả Hoa Vân đã qua đời. Bài thơ được Nhạc sĩ Trần Công Thuỷ phổ nhạc thành ca khúc “Thắp sáng đường tu”...

 

 

 

                   SÓC ĐI SIÊU THỊ

 

          Sáng 8-12-2016 lớp Sóc tổ chức cho các con đi siêu thị tập mua sắm.

          Các con xếp hai hàng rồng rắn theo mẹ - cô giáo trẻ xinh đẹp dẫn đầu đi quanh co theo các quầy hàng trong siêu thị tham quan hàng hóa. “Cưỡi ngựa xem hoa”, các con nhìn cơ man là hàng đủ thứ mà hoa cả mắt.

Xem các quầy rồi, các con bắt đầu thực tập làm công nhân sản xuất bánh kẹo. Những nhân viên quầy hàng phát cho mỗi con một cái tạp dề, một cái mũ nhà bếp và hướng dẫn các con đeo tạp dề cho nhau. Có ba cái bàn nhôm để các công nhân nhí thực hành sản xuất. Mỗi con được phát một hai cục mì bột đã được nhào sẵn, tự nặn hình thù các con vật theo ý thích. Sóc nặn con ốc và con lợn. Sóc đưa cho ông một cục bột bằng đầu ngón tay, nhờ ông cầm hộ giữ làm kỷ niệm. Khi các con hoàn thành tác phẩm của mình, nhân viên quầy hàng thu về tiếp tục công đoạn nướng bánh.

Nhân viên quầy hàng tổ chức cho các con chơi. 6 con được chọn đại diện cho lớp tham gia đua xe lắc. Các cổ động viên vừa chạy theo xe vừa hô “Cố lên! Cố lên! Cố lên!” thật náo nhiệt. Nhân viên quầy hàng nhờ cô giáo chuyển quà tới 6 vận động viên đua xe mỗi con một hộp... gì chả biết đâu!  

Cô giáo tuyên bố: “Trong thời gian 15 phút, các con tự tính toán mua sắm. Xong thì xếp hàng lên ô tô về trường”. Sóc đi quanh các quầy hàng nhìn ngắm, nét mặt tỏ ra suy nghĩ tính toán ghê lắm. Đầu tiên, Sóc chọn một quyển truyện tranh cho mình. Nhìn giá bìa 28.000 đồng. Còn 22.000 đồng nữa. Tiếp theo là mua quà cho các em... hai gói bim bim hết 10.000 đồng. Vị chi là 38.000 đồng. Còn 12.000 đồng. Cần phải mua quà cho bố mẹ. Nhưng 12.000 đồng không biết mua được cái gì đây. À đây rồi, bưu thiếp giá 2.900 đồng. Sóc mua 2 tấm tặng bố mẹ nhân sắp tới Nô En... Nhưng vẫn còn thừa 6.200 đồng... Khó quá... Chả thấy cái gì cần giá bằng số tiền còn thừa. Sóc cầu cứu: “Ông ơi! Mua gì bây giờ hả ông?” Ông an ủi: “Cháu biết mua sách tự nâng cao hiểu biết, biết nghĩ đến các em và bố mẹ là ông vui rồi. Cháu cũng nên để lại một chút tiền thừa giữ lộc may mắn. Chả lẽ cháu tiêu hết cả vốn ư?” Nghe ông nói, Sóc vui vẻ tung tẩy ra quầy thanh toán.

Khi lên xe về trường, Sóc nhường bạn lên hết rồi mới cùng cô giáo lên xe, vẫy chào ông nội. Cô giáo trẻ đẹp như hoa hậu cảm ơn ông đã đi cùng các cháu. Ông cảm ơn cô đã dạy cháu ông làm NGƯỜI!

Xe chuyển bánh, ông nhìn qua cửa kính, thoáng thấy Sóc đứng bên cô giáo, một tay xách gói hàng, một tay níu chiếc dây trên nóc xe...

Chắc hẳn chuyến đi thực tế này Sóc vui lắm. Nhưng Sóc không biết rằng ông nội còn vui hơn cả Sóc... Nhìn Sóc lên xe, ông nội cố nén niềm vui dâng trào lên cay mắt. Ông tin chắc mai này cháu nội sẽ thành NGƯỜI như ông mong đợi.

 

TÔI NHẬN GIẢI THƯỞNG VHNT LƯƠNG THẾ VINH LẦN THỨ VIII (2016 – 2020)

 

       Sáng 20 – 12 - 2021 tôi đi nhận Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh cho Tập hồi ký “Thời áo lính”. Nhà nhiếp ảnh Đinh Hữu Tuyền (người xã Xuân Phương – Trà Lũ Đông) cùng đi nhận giải, bảo:

       - Kỳ này xã Xuân Trung (Trà Lũ Trung) có ba người được giải: Trần Duy Cát bộ môn Nhiếp ảnh, Trần Đức Phát bộ môn Mỹ thuật, Trần Mỹ Giống bộ môn NCPB lại nhận giải Văn xuôi…

       Anh Tuyền, Cát thì tôi quen biết từ bé, riêng Phát thì giờ mới biết. "Chắc Phát còn ít tuổi, mình đi xa quê từ hơn nửa thế kỷ trước nên không biết". "Không, cháu cũng nhiều tuổi rồi ạ!" "Ừ thì cũng gần năm mươi, cùng tuổi Quý Sửu với con gái mình, vẫn là ít tuổi mà!"

        Ba người được giải cùng làng, đều là anh em họ Trần. Lòng bỗng thấy vui vui…

       Ông bạn hàng xóm thấy tôi ôm cái bằng Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh về, liền trách:

       - Ôi, cái bố này, được giải thưởng mà cứ im ỉm. Sợ khao à?

       - Đâu có! Chẳng qua là thấy mình so với nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng hội có tới năm bảy giải thưởng cao thì cái giải hạng bét của mình khoe ra nó cũng ngượng…

       - Thiên hạ nhân, thiên hạ tài. Ông được một giải cho nghiên cứu phê bình rồi, giờ lại được một giải cho văn xuôi nữa thì cũng đáng tự hào chứ!

       - Vâng! Cảm ơn ông động viên.

       - Chắc tiền thưởng giải này thừa chi cho cuốn Truyện nhặt ông vừa xuất bản nhỉ!

       - Ôi! Đâu có! Thưởng chỉ là hương là hoa thôi ông ơi!

       - Thế có được gấp ba lần giải thi tuần lên đỉnh Ô lim pi a của trẻ con không?

       - Bằng nửa giải thi tuần - hạng bét của Ô lim pi a thôi ông ạ!

       - Chẹp, chẹp! Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp! Chúc mừng ông!

       Chợt nhớ chuyện nhà thơ Bùi Đức Vinh có lần phán:

       - Cháu đọc “Thời áo lính” của chú tới hai lần rồi. Kỳ này chú gửi dự Giải thưởng Lương Thế Vinh đi. Cháu chấm cho chú giải Ba!

       - Chú không chuyên văn, làm sao so với các “cao thủ” bộ môn văn được!

       - Thì chú không chuyên văn nên cháu mới chấm cho chú giải Ba! Tin cháu đi!

       Lần trước khuyên tôi gửi bài cho tuyển “Thơ Nam Định 5 năm đầu thế kỷ”, Vinh cũng bảo “Tin cháu đi!”. Kết quả Vinh đúng! Ừ thì lại nghe Vinh lần nữa vậy!

       Tôi viết hồi ký mục đích cho riêng mình đọc, chứ không hề nghĩ đến chuyện xuất bản. Tên hồi ký là “VIẾT CHO RIÊNG MÌNH ĐỌC”. Vì chỉ viết cho riêng mình đọc nên tôi không hề thêm thắt, không thổi phồng thành tích, không che dấu khuyết điểm, không quan tâm thủ pháp nghệ thuật... Sự việc thế nào, suy tư ra sao tôi viết lại như thế.

       Cơ duyên tôi gặp nhà nghiên cứu Trịnh Thị Nga từ thuở hàn vi. Từ năm 1990 tôi thường lếch thếch đi thỉnh giảng ở Trường Trung cấp VHNT tỉnh. Nga là chị nuôi của trường. Vợ chồng Nga thường đón tôi về phòng tập thể chật như mắt muỗi cùng ăn cơm. Dần dà cả tôi và Nga đều thành các “Nhà nghiên cứu cấp tỉnh”. Nga bảo:

       - Anh đưa bản thảo hồi ký em gửi Nhà xuất bản Quân Đội nhân dân để họ xem, duyệt được thì người ta in bao cấp cho…

       Tôi hưu, lương nhân viên văn hóa lấy đâu tiền tự xuất bản. Khi viết “Viết cho riêng mình đọc” tôi không dám nghĩ sẽ xuất bản “chính quy”. Thấy Nga nhiệt tình, thực tình tôi cũng không tự tin, nhưng lại le lói tia hy vọng. Tôi liền thay tên hồi ký thành “Thời áo lính”…

       Không ngờ chỉ hai tháng sau khi Nga gửi bản thảo đi, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã quyết định in bao cấp để phát hành cho các thư viện trong hệ thống Thư viện quân đội. Tôi sung sướng xin được lấy nhuận bút bằng 100 cuốn  sách để tặng bạn bè đúng dịp 22 – 12 – 2018.

       Ngay năm sau, 22 – 12 – 2019 Nhà xuất bản Quân đội nhân dân lại in “Thời áo lính” lần thứ 2 theo đơn “Nhà nước đặt hàng” để phát hành cho các thư viện cấp bộ, tỉnh, viện, trường đại học…

       Sau khi sách được phát hành công khai, xuất hiện một số bài giới thiệu “Thời áo lính” của tôi, như “Thương bạn” của nhà thơ Đại tá Trần Văn Thuyên, “Thời áo lính” một hồi ký trung thực” của Tống Thị Hạnh (đăng Tạp chí Văn Nhân), “Giới thiệu hồi ký Thời áo lính” của Thùy Nhung (Thư viện tỉnh Vĩnh Long), “Thời áo lính – sách hay nên đọc” (Thư viện Quân đội)…

       Tôi vẫn nghĩ, mình ăn may nên sách mới được in, được giải. Tự biết văn vẻ của mình chả ra gì, nghệ thuật abc làm sao dám so với các tác giả chuyên văn. Khi nhận sách gửi dự giải, ông bạn đồng tộc ngạc nhiên hỏi lại: “Đây là… Anh gửi dự thi bộ môn văn à?” “Ừ! Thì gửi chơi…” “Sao anh không gửi cuốn Các nhà khoa bảng Nam Đinh Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2017?” “Ồ! Cuốn ấy xuất bản lần đầu năm 2009 đã được giải rồi…”

Gửi rồi quên khuấy đi.

       Bây giờ ôm cái giải, dù là giải hạng bét, tôi vẫn còn chưa dám tin…

       Có mấy bác nhà thơ, nhà văn phàn nàn giải chấm người chứ không chấm tác phẩm. Tôi chịu không biết. Riêng tôi thì chắc chắn chả ông bà giám khảo nào biết tác giả tép riu như tôi. Mà đến giờ tôi cũng chẳng biết ông bà nào chấm giải nữa…

 

 

 

 

 

 

 

          CHÚC MỪNG!

 

 

 

          -1-

          - Ông ơi! Nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc từ bỏ Hội Nhà văn Việt Nam từ lâu rồi ạ!

          - Thế à? Chúc mừng nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc!

 

          -2-

          - Ông ơi! Nhà thơ Trần Hồng Giang bạn ông vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam đấy!

          - Thế à? Chúc mừng nhà thơ Trần Hồng Giang!

 

          -3-

          - Ông ơi! Tác giả Dương Thiên Lý ở Bình Dương bị phanh phui đạo thơ tới 5 lần vẫn được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam đấy!

          - Thế à? Chúc mừng Hội nhà văn Việt Nam! Chúc mừng tác giả Dương Thiên Lý!

 

          -4-

          - Ông ơi! Nhà văn Vũ Ngọc Tiến vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam nhưng ông ấy lại từ chối ạ!

          - Thế à? Chúc mừng nhà văn Vũ Ngọc Tiến!

                                                          *

          - Ông ơi! Người được vào hội, người đạo thơ được vào hội, người ly khai hội, người từ chối ân huệ được hội kết nạp… ông đều chúc mừng là sao ạ?

          - À… Ông mừng cho họ đã biến điều mong muốn mơ ước của mình thành hiện thực!

- Thế còn Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp người đạo văn…?

          - Là ông mừng cho họ kết nạp được người theo tiêu chí của họ cháu ạ!

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          LÀM KHÓ ÔNG

 

 

         

Nằm nhà tránh dịch lâu ngày cuồng cẳng, bức bối quá, hai ông cháu trao đổi về giải thưởng thơ để xả tréc.

 

          Ông hỏi cháu:

          - Này, cháu có theo dõi giải thưởng thơ tỉnh ta không?

Cháu:

- Có chứ ạ! Giải thưởng thơ lớn nhất tỉnh, năm năm mới có một lần, không quan tâm sao được ạ!

Ông:

- Giải kỳ vừa rồi người ta xếp Trọng Xanh nhất, Trường Thố nhì, Văn Lờ ba… Cháu có nhận xét gì về việc xếp giải này không?

          Cháu:

          - Úi giời! Khó nói lắm ông ạ. Cũng còn tùy vào tiêu chí chấm giải của ban giám khảo, tỷ như: Nếu lấy cái “áo khoác” của tác giả mà xem xét thì phải xếp Trường Thố nhất, vì ông ta là Chi hội trưởng Chi hội nhà văn Việt Nam tỉnh, lại mới lách được vào Hội nghệ sĩ sân khấu trung ương… Trọng Xanh nhì do vào Hội nhà văn lâu năm. Văn Lờ bét vì chỉ mới được vào Hội nhà văn gần đây.

          Ông khuyến khích:

          - Cháu nắm rõ tiểu sử các nhà văn. Giỏi. Vậy nếu lấy nội dung, nghệ thuật, độ lan tỏa và thành quả của tác phẩm mà xét thì sao?

Cháu hăng hái:

          - Vậy thì phải xếp Văn Lờ nhất vì tập thơ của anh có nhiều bài đăng báo trung ương uy tín, được một tạp chí văn nghệ trung ương chọn một chùm trao giải, lại đoạt một giải của tỉnh bạn. Đặc biệt trong 5 năm vừa qua tập thơ của anh duy nhất ở tỉnh ta được giải của liên hiệp… Trọng Xanh nhì vì hai tập thơ của ông tuy ít bài được đăng báo trung ương nhưng cũng đạt khoảng 40%  số bài đọc được.

Ông ôn tồn gợi ý:

- Thế còn Trường Thố?

Cháu:

- Ông này thì cháu đành xếp… ngoại hạng ạ!

Ông không hiểu:

- Cháu nói vậy là sao?

Cháu giải thích:

- Là cháu có biết gì về tập thơ và có đọc được một bài nào của ông ta trên báo ngành có uy tín đâu. Lấy cái gì mà xếp giải ạ?

Ông buồn buồn:

- Ôi, cháu là bạn đọc yêu thơ thì cháu phải biết về tập thơ được giải cao này nó hay thế nào chứ!

Cháu cãi:

- Ông là hội viên Hội thơ tỉnh, chắc ông chả lạ gì thơ của các tác giả được giải. Vậy ông  chỉ cho cháu bài nào của tác giả “ngoại hạng” này hay đi!

Ông tái mặt, đập bàn cái rầm, quát:

- Láo! Thằng này láo thật! Mày lại dám làm khó ông, hả?

- !!!...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẨM ĐỊNH TÁC PHẨM – CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

 

          Cuối năm 2006, một nhà thơ tôi quý trọng dẫn Phạm Trường Thi đến nhà tôi. Khi ấy Thi đương chức Phó chủ tịch hội VHNT tỉnh, kiêm Trưởng bộ môn Thơ, kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn Nhân, Phó Trưởng ban Giám khảo vòng hai Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh. Thi đặt vấn đề với tôi:

- Hiện hội đang vướng chuyện ông Hữu Anh kiện vì tác phẩm của ông ta bị Ban giám khảo Bộ môn Văn loại khỏi giải Lương Thế Vinh. Ban lãnh đạo hội quyết định nhờ ông thẩm định cho hai tác phẩm, một là tiểu thuyết “Nếu được làm lại” của Hữu Anh, hai là tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ” của Hồng Quốc Văn.

Nghe thế, tôi giãy nảy, từ chối:

- Trình độ tôi có hạn, không làm được đâu, phức tạp lắm. Xin các ông để cho tôi yên.

- Đây là Ban lãnh đạo tin tưởng trình độ của ông nên mới giao nhiệm vụ này cho ông. Ông phải bí mật, không đề tên vào thẩm định. Việc này lãnh đạo chỉ tin tưởng mỗi ông thôi đấy.

- Ông đã nói vậy thì tôi đành nhận…

Khi ra về Thi còn nháy mắt đầy ngụ ý, nói:

- Ông nhớ là cuốn của ông Hữu Anh bộ môn chuyên ngành đã loại ra khỏi giải, cuốn của Hồng Quốc Văn được trăm phần trăm bỏ phiếu giải nhất nhé!

Tôi linh cảm có điều gì đó bất bình thường, liền bảo:

- Nếu các ông đã tin ở tôi thì để tôi tự thẩm định theo nhận thức của mình…

Tôi nhiều lần thẩm định nghiệm thu, phản biện công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh nên việc thẩm định hai cuốn tiểu thuyết không có gì khó cả. Kết quả thẩm định của tôi: “Nếu được làm lại” xứng đáng vào giải, “Đứa con mang hai họ” cần phải loại ra khỏi giải.

Tôi yên chí mình là người duy nhất được lãnh đạo tin tưởng giao nhiệm vụ thẩm định. Sau mới té ra còn có hai người “duy nhất” được lãnh đạo tin tưởng và giao nhiệm vụ thẩm định như tôi là nhà nghiên cứu Đỗ Thanh Dương và nhà nghiên cứu Hoàng Dương Chương. Thật ngẫu nhiên, kết quả thẩm định của cả hai ông Dương và Chương đều đồng nhất với tôi.

Trước kết luận của ba bản thẩm định (dấu tên, chỉ đánh số thứ tự), Ban giám khảo vòng hai – Ban chấp hành hội quyết định hạ loại tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ” từ A xuống C, đưa tiểu thuyết “Nếu được làm lại” vào giải, loại C.

Đông đảo bạn đọc hoan nghênh việc điều chỉnh giải của Ban chấp hành, nhưng Hồng Quốc Văn cùng Ban giám khảo vòng sơ khảo (Hội đồng nghệ thuật bộ môn Văn) lại đồng loạt viết đơn gửi khắp nơi phản đối quyết định của Ban chấp hành. Khi ấy truyền đơn chửi bới, bôi nhọ ba người thẩm định rải ra đường và gửi nhiều người. Trước sức ép của những người này, Ban chấp hành lại tổ chức họp xem xét nâng tiểu thuyết “Đứa con mang hai họ” từ loại C lên loại B, không có giải A. Bạn đọc lại một phen thất vọng và mất niềm tin ở Ban chấp hành. Sự việc này dẫn đến mấy chục bài báo trên Văn nghệ trẻ tranh luận về “Đứa con mang hai họ” kéo dài hơn ba tháng đầu năm 2007. 

Một hôm, tôi gom sách cũ bán đồng nát, tình cờ thấy bà đồng nát có một tờ Tạp chí công nhân (tôi nhớ không chính xác tên tạp chí lắm. Có thể là Văn nghệ công nhân…). Tò mò tôi mở lướt thì bắt gặp một bài thơ lục bát dở hơi, ghép các chữ đầu câu thành một câu chửi ba người thẩm định chúng tôi, rất tục tĩu. Tổng biên tập tạp chí này là Phạm Ngọc Chiểu, hình như là người Nam Định. Sau khi nghiên cữu kỹ, ông Chương quyết định lấy giấy giới thiệu của Chủ tịch hội lên cơ quan tạp chí công nhân, quyết làm cho ra nhẽ. Rất tiếc là tạp chí này đã bị giải thể từ hai năm trước.

Chuyện để lại dư âm xấu kéo dài.

Về sau, tác giả của “Đứa con mang hai họ” bị khai trừ khỏi hội vì giả danh nhà báo lừa đảo, “trấn lột”… Phạm Trường Thi bị một số hội viên phát đơn tố cáo đạo văn, khai man lý lịch Đảng, khai man bằng cấp để đủ tiêu chuẩn làm Tổng biên tập Văn Nhân. Tỉnh phải ra quyết định buộc Phạm Trường Thi thôi chức vụ hội và không cho ứng đề cử vào BCH mới.

Nhưng giải B không có giải A cho “Đứa con mang hai họ” của Hồng Quốc Văn thì không ai thu hồi. Vết nhơ giải thưởng tỉnh nhà vẫn còn nguyên đó.

MỘT LẦN GẶP TS HOÀNG XUÂN SÍNH

 

 

 

          Năm 1977 tôi nghỉ phép về thăm vợ con ở Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Thư viện tỉnh mời Tiến sĩ Hoàng Xuân Sính về nói chuyện giới thiệu tác phẩm “Một số phận vinh quang và cay đắng” của  Liu-Bốp Vô-rôn-xô-va (Nxb. Phụ Nữ 1976. – In lần 2) (Văn học Nga). Tác phẩm kể về cuộc đời của nhà nữ toán học Sofia Vasilyevna Kovalevskaya phải chịu biết bao thiệt thòi khổ sở, hy sinh cả hạnh phúc cá nhân để thực hiện lý tưởng xuất ngoại học tập chiếm lĩnh khoa học... Cùng với vinh quang, nhân vật cũng chịu biết bao cay đắng cuộc đời.

Cuộc đời Ts. Toán học Hoàng Xuân Sính có nét tương đồng với nhân vật trong tác phẩm. Có lẽ vì sự tương đồng này, cùng với kiến thức rộng sâu, cách nói giản dị dễ hiểu, bà Hoàng Xuân Sính nói rất hấp dẫn. Hội trường Nhà hát 3 – 2 xếp 800 ghế mà không đủ chỗ cho bạn đọc, lối đi lại và hành lang nhà hát đông đặc người nghe. Cuộc nói chuyện giới thiệu sách của bà Hoảng Xuân Sính thu hút người nghe từ đầu đến cuối suốt ba tiếng đồng hồ không giải lao.

Thư viện tỉnh được tỉnh cho mượn một xe u oát - com măng ca mui bạt để tiễn bà Hoàng Xuân Sính về Hà Nội. Lãnh đạo Thư viện tỉnh nhờ tôi thay mặt cơ quan, một công đôi việc, nhân về đơn vị, tiễn bà Hoàng Xuân Sính luôn.

Bà mời chúng tôi lên thăm nhà ở tầng ba. Phòng lắp ghép thấp nhỏ như hộp diêm, trần không trát vữa, còn nguyên nốt cốt pha. Bà Hoàng Xuân Sính bật cái quạt con để bàn chĩa về phía chúng tôi và mở tủ lạnh lấy ra một chai nước cam pha sẵn. Đoạn, bà lau ba cái bát sứ Hải Dương bằng cái khăn mặt trắng, rồi rót đầy nước cam vàng sếnh.

- Mời hai anh uống cho mát. Nghỉ ngơi chút rồi hãy đi.

Tôi và anh lái xe đang khát khô cổ, nóng bức mùa hè mồ hôi lép nhép trong quần áo, cảm giác nước cam thật tuyệt vời. Tôi bê bằng hai tay nâng bát nước cam lên tu ừng ực. Anh lái xe hích nhẹ nhìn tôi đầy ngụ ý: “Uống từ tốn thôi, phải tỏ ra lịch sự chứ, người ta là trí thức đấy!” Thấy anh lái xe bỏ lại khoảng 1/3 bát nước, tôi cũng vội bỏ bát còn chừng 1/4 nước xuống bàn.

Bà Hoàng Xuân Sính kể cho chúng tôi nghe về cậu con trai học Đại học Bách khoa, về cuộc đời bà, về việc bà đi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học ở Paris, rồi về nước sống ra sao. Khi chúng tôi chuẩn bị tạm biệt thì bà nhắc:

- Hai anh uống hết nước đi!

Thấy bà định rót thêm nước cam cho khách, tôi vội ngăn lại:

- Thôi chị ạ. Chúng em dùng đủ rồi ạ!

Nghe vậy, bà liền đổ hai bát nước thừa của chúng tôi vào bát của bà và uống một hơi, rất tự nhiên thoải mái.

Chỉ một lần gặp, mà ấn tượng về bà Hoàng Xuân Sinh trong tôi còn đến bây giờ. Quả thật từ kiến thức đến phong cách sống giản dị của bà thật trái ngược với nhiều nhà trí thức mà tôi từng gặp. Tôi không bao giờ quên bài học về sự tiết kiệm mà tôi học được ở TS. Hoàng Xuân Sính trong lần gặp bà duy nhất năm ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 “PHÚC KHẢO”…  XIN LẤY CHỮ “PHÚC” LÀM ĐẦU!

 

 

          Kỳ thi công chức thư viện ngành giáo dục năm ấy, thành phố được lấy 9 chỉ tiêu mà có tới hơn bốn chục hồ sơ xin dự thi, trong đó có con dâu lớn nhà tôi.

          Cò mồi đến nhà bảo:

- Thi chỉ là hình thức. Người ta có người sẵn cả rồi. Nếu đồng ý thì chi 80 triệu chúng tôi sẽ lo cho từ A đến Z.

Tôi từ chối.

Kết quả kỳ thi ấy con dâu tôi đứng thứ 7 trong danh sách 9 người đỗ.

Cò lại gạ chi 30 triệu chạy cho về công tác ở trường tốt gần nhà. Con dâu tôi bảo:

- Con công tác trong thành phố thì ở trường nào cũng được. Bố đừng “chạy” tốn tiền.

          Một thí sinh con gia đình chính sách, đã được cộng thêm 30 điểm ưu tiên mà vẫn thiếu một điểm, trượt. Thí sinh làm đơn xin phúc khảo. Tôi được tỉnh mời chấm bài. Ông Giám đốc Sở Nội vụ bảo tôi:

- Đây là chấm “phúc khảo”. Xin bác lấy chữ “phúc” làm đầu ạ!

Giám đốc Thư viện tỉnh gọi điện cho tôi:

- Thí sinh xin chấm phúc khảo cũng là học trò của anh em mình đấy anh ạ! Ông giám đốc Sở Văn hóa Thể thao vừa điện cho em, yêu cầu em chỉ đạo anh phải chấm cho con bé điểm tối đa để nó chắc đỗ.

- Nếu cho điểm tối đa, thì chắc chắn thí sinh đỗ cuối bảng sẽ phải loại ra khỏi danh sách đỗ. Chúng đều là trò của anh em mình, anh không nỡ làm thế!

- Thôi thì em truyền đạt ý kiến lãnh đạo ngành như vậy. Còn xử lý ra sao thì tùy anh quyết định.

Suy nghĩ kỹ, bàn với người đồng chấm, chúng tôi thống nhất: Người chấm chính đã cho điểm theo đúng “va rem” rồi. Giờ mình chấm lại mà cho tăng quá ba điểm sẽ phải đối chất với người chấm trước. Thôi thì mình cho bài phúc khảo thêm một điểm để tổng điểm bằng đúng số điểm của thí sinh đỗ đứng cuối bảng. Tỉnh quyết định chọn ai hay chọn cả hai là tùy họ.

Bữa ấy chấm có một bài, 15 phút là xong, mà chúng tôi bị giam trong phòng tới 11 giờ 30. Hỏi ra thì được biết, Sở Nội vụ phải xin tỉnh cho thêm một chỉ tiêu, chờ đến trưa chủ tịch tỉnh mới đồng ý. Kết quả thí sinh phúc khảo được lấy đỗ mà thí sinh đỗ cuối bảng cũng không bị loại. Sau vụ chấm phúc khảo, tôi nhẹ cả người.

 

 

 

 

 

 

 

 

                  BÀI THƠ “BÍ ẨN”

    

 

 

        Trước hết xin nhắc lại hai thế thơ là THẾ THƠ HỒI VĂN và THỂ THƠ LIÊN HOÀN.

          - Thơ Hồi văn là thể thơ đọc đi rồi đọc quay lại, đọc quanh co, đọc cắt câu… cũng đều thành câu thơ cả. Tỷ dụ như bài thất ngôn bát cú, ta đọc xuôi rồi đọc ngược đều thành bài thơ, ta đọc khởi từ từ thứ nhất xuôi là vần bằng, rồi khởi từ từ thứ 7 đọc ngược lại sẽ có bài thơ vần trắc. Đọc thành bài thơ 5 từ thì khởi từ số 5 (phải sang – tức từ thứ 3 ở bài gốc) đọc xuôi là vần bằng. Nếu khởi từ số 5 (trái sang) đọc ngược lại là vần trắc. Tương tự như vậy, nếu đọc thành thơ 4 từ, thơ 3 từ, thơ 6 từ (bỏ không đọc từ giữa câu ở bài gốc) chúng ta sẽ có các bài thơ 4 từ, 3 từ, 6 từ mà mỗi thể đều có hai bài vần bằng và vần trắc.

        - Thể thơ Liên hoàn là thể thơ chia nhiều bài, cứ câu đầu bài dưới lặp lại câu cuối cùng của bài trên… Cụ thể ở một bài thất ngôn bát cú chẳng hạn, ta cứ đọc luân lưu liên hoàn, mỗi câu đọc trước một lần, cứ 8 câu thành một bài.

         Làm một bài thất ngôn bát cú theo thể đường luật thì nhiều người làm được. Nhưng để bài thơ đó có thể đọc theo kiểu hồi văn, nhất là thể hồi văn kiêm thể liên hoàn mà đọc cách nào cũng đảm bảo thành bài thơ mới thì rất hiếm người làm được. Bởi trước hết nó đòi hỏi tác giả phải làm đúng tuyệt đối niêm luật theo quy định của luật thơ đó, sau đó là yêu cầu về ý nghĩa của từ...

           Sinh thời, vua Thiệu Trị có làm hai bài thơ bằng chữ Hán là “VŨ TRUNG SƠN THỦY” và “LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM” có chú thích “Dùng thể Hồi văn kiêm Liên hoàn, theo bằng trắc bốn vần, đọc thành 64 bài thất ngôn và ngũ ngôn”. Hai bài trên được khảm xà cừ lưu giữ tại cung Bảo Định, trình bày theo hình tròn, có các dòng chữ so le dài ngắn tỏa ra mọi phía.

          Rất nhiều học giả, nhà thơ đã được mời giải mã bài thơ này nhưng cũng chỉ đọc được vài ba bài, không ai đọc được đủ 64 bài.

Năm 1963 có ông Phạm Ngọc Khuê công bố đã giải mã được hai bài thơ “bí ẩn” của Thiệu Trị là VŨ TRUNG SƠN THỦY và LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM, đọc đủ 64 bài theo nguyên bản chữ Hán. Ông Phạm Ngọc Khuê lại dịch hai bài ấy ra Quốc âm đúng nguyên thể, cũng đọc đủ 64 bài, công bố trên báo BẠN DÂN số Xuân Quý Mão 1963.

                    

                VŨ TRUNG SƠN THỦY

 

                              

                  LƯƠNG DẠ MẠN NGÂM

 

 

          Ông Phạm Ngọc Khuê dùng lối thơ ấy (Hồi văn kiêm Liên hoàn) sáng tác bài thơ sau đây có thể đọc thành 160 bài thơ hoàn chỉnh. Thật là kỳ tài phải không các cụ. Mời các cụ tham khảo kỹ cách đọc thể Hồi văn kiêm Liên hoàn rồi cùng khám phá bí ẩn bài thơ này nhé!

          CUNG TỤNG SỰ NGHIỆP VÀ CÔNG ƠN ĐỨC THÁNH TRẦN

          Cung kiếm đấu thi tài Lạc Viêt

Yết Hồ tan rã mộng Nguyên Mông

Đồng phơi xác Thát xương phơ tuyết

Huyết đẫm sông Đằng nước rải chông

Nùng Tản chói cao công nhật nguyệt

Tiết trung ghi thắm sử Tiên Long

Đông A thánh xuất sinh linh kiệt

Thiết thạch gan bền vững núi sông.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            NHÀ VĂN CHU VĂN (1922 – 1994)

 

          Ông quê Thái Bình, công tác ở Nam Định. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, UVBCH HNVVN khóa 3, Chủ tịch Hội VHNT Hà Nam Ninh khóa I và II.

 

          Tôi biết về nhà văn Chu Văn qua tiểu thuyết Bão biển của ông. Năm 1969 lớp đại học Thư viện khóa 6 chúng tôi mời ông giao lưu về tiểu thuyết Bão biển tại đình làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh (nơi chúng tôi học sơ tán). Khi ấy danh tiếng ông đang nổi như cồn.

Dáng ông cao gầy, trông hơi khắc khổ. Ông ăn mặc giản dị, quần ka ki màu rêu đá, áo bông Tàu màu xanh lá cây, chân dép cao su. Người trợ lý đi theo ông ăn mặc com lê ca ra vát, bên trong là áo sơ mi trắng tinh, quần ka ki màu đá là thẳng tắp, chân đeo giày da đen bóng, đầu mượt. Bên cạnh người trợ lý của mình, trông ông giống một ông nông dân quê mùa.

Sau khi ông giới thiệu quá trình viết Bão biển, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xoay quanh phương pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật cán bộ xã hội chủ nghĩa… Ông trả lời chúng tôi thật giản dị dễ hiểu và thực tế. Tôi có cảm giác ông không hề phô diễn hiểu biết lý luận văn học của mình, nghĩ và viết thế nào, từ thực tiễn cuộc sống vùng Xuân Trường Nam Định quê tôi ra sao mà xây dựng nhân vật…

Đó là lần duy nhất trong đời tôi được gặp ông. Ấn tượng về ông là người giản dị, thật thà còn đọng trong tôi đến giờ.

 

Tác phẩm của Chu Văn: - Ai qua Phát Diệm (truyện thơ, 1955). - Con đường lầy (tập truyện ngắn, 1957). - Cô lái đò sông Ninh (tập truyện ngắn, 1960). - Tiếng hát trên sông (tập bút ký, 1963). - Ánh sáng bên hàng xóm (tập truyện ngắn, 1964). - Bão biển (tiểu thuyết, 2 tập, 1969). - Hương cau, hoa lim (tập truyện ngắn, 1971). - Đất mặn (tiểu thuyết, 2 tập, 1975). - Bông hoa trắng (tập truyện ngắn, 1977). - Sao đổi ngôi (tiểu thuyết, 1984). - Giáp mặt (tiểu thuyết, 1986)…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ VĂN TRẦN HUY THUẬN

              (1935 – 2013)

 

 

          Nhà văn Trần Huy Thuận và tôi là đôi bạn tâm giao. Chúng tôi thường chia sẻ bàn bạc với nhau về những vấn đề gay cấn trong sáng tác, và cả chuyện riêng tư…, đối đãi với nhau bằng tình cảm chân thành, đồng cảm, trọng phục nhau.

          Xin trích lời ông viết về tôi trong bài “Chân dung văn học Trần Mỹ Giống” trên blog “Ngang qua cuộc chơi” của ông:

        “…Khi tập NGANG QUA CUỘC CHƠI vừa được NXB Văn Học xuất bản, Đặng Văn Sinh bạn tôi đưa tôi đến nhà Trần Mỹ Giống để gửi tặng sách cho Thư viện tỉnh. Mục đích ban đầu chỉ có thế, nhưng không ngờ sau đó, chúng tôi trở thành bạn tâm giao.

        Trước khi cầm bút, ông đã từng cầm súng trực tiếp chiến đấu. Năm 1972 tham gia chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch Cửa Việt, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, Huân chương chiến công. Đến năm 1979 lại lên Lạng Sơn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

        Là cán bộ quản lý thư viện, nhưng Trần Mỹ Giống còn là tác giả nghiên cứu phê bình, dịch và sáng tác văn học. Đọc những đầu sách đã xuất bản của ông, tôi thực sự kính nể. Tôi còn kính nể ông hơn khi được biết ông là người trực tính, hết lòng với công việc, có tinh thần tự học cao và đặc biệt là thực sự không màng danh vọng, đã từng từ chối khi cấp trên định đề bạt chức tước cho ông…”. (Hết trích)

Trần Huy Thuận là cây bút phiếm luận, trào phúng từng giành giải cao cuộc thi Thơ văn trào phúng ở tỉnh, Giải thưởng “Làm báo cùng tuổi trẻ” của báo Tuổi trẻ… Sau khi kết bạn với ông, tôi mới biết ông nguyên Trưởng ban kiểm tra của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh. Trưởng ban kiểm tra tất phải là ủy viên Ban chấp hành. Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội VHNT Nam Định, Chủ tịch hội Trần Đắc Trung vẫn gửi giấy mời ông dự với chức danh nguyên Trưởng ban kiểm tra của Hội. Điều bất thường là các cuốn kỷ yếu Hội VHNT Nam Định, không có một thông tin nào về nhà văn Trần Huy Thuận.

          Nhà văn Trần Huy Thuận bất đồng chính kiến với vị chủ tịch kế nghiệp chủ tịch Chu Văn nên đã xin ra khỏi hội. Ông coi cái Hội VHNT cũng chỉ là một cuộc chơi mà ông từng ngang qua. Từ ý tưởng này, ông sáng tạo ra blog “Ngang qua cuộc chơi” và tác phẩm “Ngang qua cuộc chơi” (Nhà xuất bản Văn học ấn hành, tái bản tới ba lần).

          Năm 2013 ông mất ở tuổi 78. Ông là nhà văn có tài, có nhân cách cao đẹp, dũng cảm, thẳng tính, ủng hộ cái tốt hết mình, không khoan nhượng với cái tiêu cực, giàu tình nhân ái với bạn bè… Với tôi, ông không chỉ là bạn tâm giao, mà còn là người anh đáng kính trọng.

           

 

 

          HỌA SĨ HỒ Y (1932 – 2017)

 

          Họa sĩ Hồ Y tên thật là Vũ Như Hồ Y, quê ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, trú tại 29 Nguyễn Trãi, thành phố Nam Định. Ông là Hội viên Hội VHNT tỉnh Nam Định từ 1977. Ông đã được tặng: Huy chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam, Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến (khuyến khích) 1981 – 1985.

          - Tác phẩm chính:

       + Artist Hồ Y. – H.: Văn hóa – Thông tin, 2006. - 55 tờ (in tranh 2 mặt) ; 21 cm.

       + Hồ Y vẽ và viết (2016)

          Họa sĩ Hồ Y xuất thân trong một gia đình có nhiều người tài, ở xã Bái Dương nổi tiếng là vùng địa linh nhân kiệt. Ông là hậu duệ của cụ Cử nhân Vũ Trọng Uy văn võ song toàn. Hai người anh em ruột của ông là nhà báo lão thành cách mạng Như Đàm, nhà thơ nổi tiếng Hải Như. Hồ Y tham gia cách mạng, nhiều năm làm công tác báo chí tuyên truyền của Nhà máy Dệt Nam Định.

          Là một họa sĩ không được qua trường lớp chính quy nào, chỉ bằng con đường tự học mà thành tài, Hồ Y phải phấn đấu, rèn luyện gian khổ hơn nhiều các họa sĩ khác. Vì vậy, ông không bị lệ thuộc vào trường phái nào, không mấy quan tâm đến kỹ xảo, mà chủ yếu bằng năng khiếu, lòng say mê hội họa, hồn nhiên vẽ tranh theo cảm xúc thăng hoa của chính mình. Xem tranh của ông, ta nhận ra một phong cách riêng rất gần gũi với dân gian mà không mấy họa sĩ có được.

       Ông vẽ nhiều nhất về các phố cổ thành phố Nam Định nơi ông sinh sống và những nhân tài của quê hương Nam Định. Chiêm ngưỡng các bức vẽ về phố cổ thành Nam, tôi cảm nhận rõ tình yêu con người và mảnh đất quê hương của ông tha thiết biết nhường nào. Cảm ơn họa sĩ Hồ Y đã cho chúng ta những hình ảnh xa xưa của lịch sử, những tranh vẽ phố lưu giữ hồn thành Nam. Nếu như Hà Nội có PHỐ PHÁI thì chúng ta có quyền tự hào Nam Định có PHỐ HỒ Y.

          Thường vẽ chân dung, họa sĩ cố gắng vẽ sao cho giống người thực, càng giống càng tốt. Nhưng họa sĩ Hồ Y không đi theo con đường mòn ấy. Ông tìm cho mình con đường riêng. Đó là thể hiện chân dung qua hình tượng, biểu tượng. Người xem tác phẩm chân dung của Hồ Y phải có hiểu biết nhất định về nhân vật mới cảm thụ hết cái hay, cái sâu xa, cái đẹp của tranh.

       Nam Định một thời nổi tiếng về đóng thuyền xi măng lưới thép, đáp ứng kịp thời công việc vận tải phục vụ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họa sĩ Hồ Y đã ghi lại sự kiện lịch sử đặc biệt ấy của Nam Định bằng bức tranh “Đóng thuyền xi măng lưới thép”. Tranh đã được nhà nước mua về lưu trữ ở Viện bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.

          Sau khi tôi giới thiệu chân dung Hồ Y lên trang blog cá nhân, như một phản ứng dây truyền, gần hai chục trang điện tử, báo và tạp chí giấy, đài truyền hình trung ương và đài địa phương lần lượt đưa tin về Hồ Y. Nội dung các bài viết về Hồ Y đều đồng thuận công nhận đóng góp của ông cho nền mỹ thuật nói chung và cho thành Nam nói riêng. Đặc biệt, báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam và báo Đảng của Nam Định cũng có bài cùng quan điểm như vậy.

          Với những đóng góp cho cách mạng và cho nghệ thuật hội họa của mình, ông xứng đáng được trao những giải thưởng cao quý. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi biết ông chưa được nhận một giải thưởng chính thức nào của tỉnh (không kể một giải khuyến khích). Tôi có lần tỏ ý băn khoăn về việc đó, thì ông ôn tồn bảo: “Đối với tôi, được bạn đọc, người xem tranh yêu quý và nhớ mãi tác phẩm của mình đã là phần thưởng cao quý hơn mọi giải thưởng rồi.”

          Những năm cuối đời, tuy tuổi cao sức yếu, họa sĩ Hồ Y vẫn miệt mài sáng tác tranh và viết bài cho blog Trần Mỹ Giống. Chiều chiều họa sĩ vẫn dắt chiếc xe đạp (chứ không cưỡi) đi thăm thú bạn bè, cũng là tập thể dục cho khỏe. Như vừa mới hôm qua, ông dắt xe đạp đến nhà tôi, đàm đạo văn chương hội họa một lúc, rồi lại dắt xe về. Vậy mà, chỉ ốm nằm viện mấy ngày, bạn bè cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật chưa ai biết, ông đã vội ra đi.

          Thương tiếc tiễn biệt họa sĩ Hồ Y về cõi vĩnh hằng, chúng tôi tin rằng những sáng tác của họa sĩ, đặc biệt là những bức tranh phố cổ thành Nam sẽ còn sống mãi trong lòng người Nam Định yêu quê hương xứ sở. Tôi chợt nhớ tới hai câu thơ đề từ của mình dưới bức chân dung tự họa của họa sĩ Hồ Y, ngẫm ra thật đúng với cuộc đời và sự nghiệp của ông:

          Tự học thành tài danh lặng lẽ

          Thành Nam còn mãi PHỐ HỒ Y.

 

                              TMG

 

 

Bài đã đăng ở Tạp chí Văn Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA

                           (1946 – 2020)

 

 

          Năm 2005 Đồng Ngọc Hoa vào tuổi sáu mươi mới nộp hồ sơ và đơn xin gia nhập Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, bộ môn Nghiên cứu phê bình, với vốn liếng tác phẩm là một tập hơn một trăm bài đăng báo trung ương và địa phương. Năm ấy hội chưa ra quy chế không kết nạp người trên sáu mươi tuổi, phải có hai tác phẩm sách xuất bản trên hai năm mới được kết nạp. Có nghĩa là Đồng Ngọc Hoa vẫn đủ tiêu chuẩn vào hội. Nhưng khi đưa ra bộ môn xét thì kết quả phiếu thuận không quá bán với lý do Đồng Ngọc Hoa chưa có sách. Tôi chưa biết về Đồng Ngọc Hoa nên không dám ý kiến gì. Ý kiến phủ định chiếm ưu thế. Đồng Ngọc Hoa trượt.

          Thời gian này tôi đang làm Trưởng phòng Địa chí Thư mục và phong trào Thư viện cơ sở. Công việc buộc tôi phải nắm rõ những tác giả tác phẩm Nam Định từ xưa đến nay để thường xuyên bổ sung cho Thư mục nhân vật Nam Định (đã in thành sách). Đồng Ngọc Hoa chưa có tên trong Thư mục nhân vật Nam Định.

Năm 2006, một hôm Đồng Ngọc Hoa bất ngờ xuất hiện trước cửa phòng làm việc của tôi. Đồng Ngọc Hoa dáng người thấp đậm, mặt trông phúc hậu, thật thà, hơi “cũ”, nông dân. Sau khi nghe Đồng Ngọc Hoa tự giới thiệu, tôi thầm nghĩ: “Chắc ông này tranh thủ xin phiếu mình đây.” Và tôi có ý e dè cảnh giác. Nhưng sau cuộc tiếp xúc đầu tiên ấy, Đồng Ngọc Hoa không hề có ý xin phiếu, mà ứng xử rất tự nhiên, chân thật, quý trọng tôi thực sự vì “đã nghe nhiều tiếng tốt” về tôi. Cùng cảnh từ đại học nhập ngũ, tính thẳng, trung thực, thấy chuyện bất bình không bỏ qua… Tôi linh cảm, Đồng Ngọc Hoa là người chơi được, tương lai sẽ có những tác phẩm khẳng định mình. Cái linh cảm ban đầu ấy đã không lừa tôi. Tôi và Đồng Ngọc Hoa trở thành bạn thân thiết, gắn bó nhau, đồng cảm trong sáng tác cũng như trong đời sống.

          Năm 2007, Bộ môn Nghiên cứu phê bình lại bỏ phiếu xét kết nạp Đồng Ngọc Hoa. Trưởng bộ môn Hoàng Dương Chương phát biểu:

- Ngày trước, nhiều vị ngồi đây khi vào hội đã có tác phẩm nào đâu. Sau khi vào hội rồi mới có tác phẩm…

Hoàng Dương Chương nói sự thật. Kết quả: phiếu thuận quá bán, Đồng Ngọc Hoa trúng.

Đồng Ngọc Hoa nhanh chóng hòa mình vào sinh hoạt văn học nghệ thuật và lịch sử. Sau khi vào hội mấy năm, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp trình làng sáu bảy tác phẩm. Điểm sáng nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của ông là những cuốn viết về lịch sử Phật giáo địa phương. Chợt nghĩ, tài năng Đồng Ngọc Hoa phát tiết ra khi ông đã già, tôi viết mấy câu văn vần tặng ông như sau:

          Một thời mê mải việc quân

Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo

         Cửa Thiền không - sắc lần theo

Hào quang Phật sử một chiều thăng hoa.

Đồng Ngọc Hoa còn làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử tỉnh, góp công sức tích cực cho hội này. Có lần tình cờ tôi biết giá tiền chi cho làm số tập san của hội quá cao so với thực tế. Đồng Ngọc Hoa bảo số sau sẽ nhận làm. Kết quả giá thành số tập san do Đồng Ngọc Hoa lo chỉ bằng một phần tư số trước.

Lại có lần Đồng Ngọc Hoa vừa đến nhà tôi, chưa kịp dựng xe đã bốc hỏa:

          - Bực quá ông ạ. Tôi đưa ông vào danh sách đề nghị tặng Kỷ niệm chương, nhưng ông chủ tịch gạch tên ông đi. So với một số người được đề nghị, ông có nhiều tác phẩm hơn. Ngay như ông A đấy, có tác phẩm nào riêng đâu, mấy tác phẩm nêu ra toàn là đồng tác giả. Mà mấy tác phẩm làm căn cứ đề nghị tặng kỷ niệm chương cho ông A, ông cũng là đồng tác giả nó mới hài chứ!

          - Thôi buông xả cho vui nào. Được hay không chẳng quan trọng với tôi. Danh hão rồi chết đi là hết. Với lại họ đâu coi trọng tác phẩm. Họ coi trọng việc anh sinh hoạt tổ chức góp gì cho hội, anh có làm cán bộ hội không… Thì hầu hết các vị được tặng Kỷ niệm chương là trong Ban chấp hành đấy thôi.

          Đồng Ngọc Hoa nghe tôi nói vậy mới dần dần hạ hỏa.

          Đồng Ngọc Hoa yêu cầu tôi gửi bài cho tập san hội sử học. Tôi gửi bài viết Chân dung nhà nghiên cứu lịch sử Lê Xuân Quang và bài phản biện về Người vẽ cờ Tổ quốc. Đồng Ngọc Hoa ủng hộ quan điểm làm sử là phải trung thực, có chứng cứ. Nhưng Đồng Ngọc Hoa lăn tăn về bài phản biện của tôi, liệu ban biên tập có dám ủng hộ không? Tôi bảo:

- Tôi tin là ông Chủ tịch Hội sử sẽ thích bài phản biện của tôi. Ông ấy và tôi mấy lần cùng trong Hội đồng nghiệm thu công trình nghiên cứu khoa học của tỉnh. Nghe ông ấy nhận xét thẳng thắn, coi trọng sự thật, không kiêng dè ai, tôi rất nể phục.

Đồng Ngọc Hoa bảo:

- Xưa nay Tuyên giáo và các tác giả căn cứ vào truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng, mặc nhiên công nhận trong sách báo rằng ông Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc. Nay ông phản biện điều đó, chứng minh ông Nguyễn Hữu Tiến không phải là người vẽ cờ. Tôi nghĩ các vị ấy sợ chết khiếp, không dám động đến tuyên giáo đâu. Ông có chứng cứ xác đáng, nhưng họ chưa chắc dám sử dụng. Cứ có chuyện động đến quyền lợi địa vị cá nhân họ thì mới biết họ thế nào!” 

Một thời gian sau, Đồng Ngọc Hoa đến tôi, bất cần:

          - Tôi đếch làm tập san nữa, để cho các vị ấy làm. Các vị ấy muốn hất tôi ra để tự do thao túng. Rồi ông xem, giá thành lại cao ngất, bài vở tuyền ca ngợi…

          Quả nhiên, khi tập san ra mắt, hai bài của tôi đều bị loại. Bài của Trịnh Thị Nga bảo tàng thành phố do chính tôi gửi hộ lại bị gán tên tác giả cho người khác. Lúc này tôi mới thừa nhận: Đồng Ngọc Hoa có kinh nghiệm sống hơn tôi. Tôi bảo:

- Tôi không bất ngờ về việc bài bị loại, mà tôi thất vọng vì đã nhìn nhận nhầm về ông Chủ tịch. Tôi cứ ngỡ ông ấy là người trung thực, coi trọng sự thật… Mà thôi, cho qua chuyện này đi ông ạ. Tổng biên tập Văn Nhân vừa điện báo cho tôi rằng họ đăng bài phản biện của tôi trên Văn Nhân số này.

Đồng Ngọc Hoa bảo:

- Vậy tốt rồi! Tôi chỉ buồn vì hội chuyên ngành sử của mình mà lại hèn đến vậy. 

          Đồng Ngọc Hoa vốn trực tính nhưng hiền lành. Chỉ thân thiết lắm Đồng Ngọc Hoa mới xả ra những buồn bực của mình như vậy.

          Đồng Ngọc Hoa và tôi dự kiến in chung một tuyển nghiên cứu chuyên đề. Nhưng ý tưởng không thành. Năm 2020, Đồng Ngọc Hoa bất ngờ phát hiện ra mình bị bệnh ung thư. Tôi gửi email động viên Đồng Ngọc Hoa:

       Nghe tin bạn bị ung thư

Giật mình hụt hẫng tưởng như sập giời

       Tri âm đâu được mấy hồi

Niết Bàn sao nỡ định đòi đón lên?

       Biết là sống gửi nào quên

Mà lòng tha thiết với duyên cõi trần

       Ông, tôi mới thất bát tuần

Còn hai ba chục cái xuân ở đời

       Sống chung với bệnh ta cười

Kiên gan bền chí như thời chiến binh

       Mặc cho số kiếp xoay vần

Yêu xuân quyết giữ lấy xuân đến cùng!

                             8h ngày 1 – 5 - 2020

          Chúng tôi đến thăm, Đồng Ngọc Hoa nắm tay tôi rưng rưng. Mệnh trời khó chống, Đồng Ngọc Hoa ra đi vào ngày 13 – 6 – 2020.

          Thỉnh thoảng giở xem lại ảnh Đồng Ngọc Hoa cùng chúng tôi chụp kỷ niệm trong sinh hoạt bộ môn, đi quán ăn khao mừng tác phẩm mới hoặc mừng giải thưởng, đi thăm thú bạn bè… tôi lại rưng rưng nhớ người bạn thân thiết hiếm gặp trong đời.

          Thành Nam, 20 – 5 - 2022

                        TMG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÂM THẾ TÁC GIẢ TRONG BÀI “ĐỢI” CỦA VŨ QUẦN PHƯƠNG

 

 

          Nhân em đăng hai bài tranh luận về bình thơ của hai nhà thơ kiêm phê bình thơ Phạm Đức Nhì và Châu Thạch, có nhiều ý kiến khen chê chia làm hai phe, cụ Chu thi sĩ và cụ Phạm tiên sinh thách đố em “chê” bài “Đợi” của Vũ Quần Phương. Các cụ làm khó em rồi, nhưng vì tự ái, em cũng đành phải làm cái việc “bới lông tìm vết” vậy.

Xin rào trước:

Mỗi cá nhân khác nhau về trình độ, môi trường sống, nghề nghiệp, gu thẩm mỹ, góc nhìn… nên kết quả khen chê cũng rất khác nhau. Cùng một tác phẩm, người khen ngất trời, người chê thối đất. Điều đó là bình thường. Cần có thái độ bình đẳng và tôn trọng với mọi ý kiến, miễn là ý kiến có lý...

          Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng mang trong mình nó mâu thuẫn nội tại của hai mặt đối lập trong sự thống nhất làm nên sự vật hiện tượng đó như âm và dương, trái và phải, hay và dở… Bài “Đợi” của nhà thơ nổi tiếng Vũ Quần Phương, được chọn là một trong một trăm bài thơ hay, được phổ nhạc, thì cũng không nằm ngoài quy luật chung phổ quát đó.

 

ĐỢI

 

Anh đứng trên cầu đợi em

Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm

Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy

Nước chảy bên lòng, anh đợi em

 

Anh đứng trên cầu nắng hạ

Nắng soi bên ấy lại bên này

Đợi em. Em đến? Em không đến?

Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!

 

Anh đứng trên cầu đợi em

Đứng một ngày đất lạ thành quen

Đứng một đời em quen thành lạ

Nước chảy… kìa em, anh đợi em.

 

                                      Vũ Quần Phương

 

Tìm trên mạng ta bắt gặp khá nhiều bài phê bình bài “Đợi” của nhiều tác giả nhưng hầu hết chỉ “bình”, bình một chiều, khen hay mọi nhẽ. Em không thấy bài nào “phê” bài “Đợi”, ngoại trừ ý kiến của nhà phê bình thơ Phạm Đức Nhì chê mấy điểm nhỏ về mặt thi pháp một cách dè dặt.(*)

Em xin “bới lông” bài “Đợi” để tìm một vết rất nhỏ hầu các cụ:

          Tâm thế của tác giả trong bài “Đợi” là tình cảm, tâm trạng của chàng trai chờ đợi người yêu.

          Xét lịch sử nước ta chủ yếu là lịch sử chiến tranh chống xâm lược liên miên đời này qua đời khác. Người con trai ra trận. Người con gái ở hậu phương mong ngóng chờ chồng. Biết bao chàng trai bỏ mình nơi chiến địa. Biết bao người vợ thành góa phụ. Tâm thế trai ra trận, gái ở lại quê nhà mong ngóng chờ chồng đã phổ biến trong nhân dân. Truyện “Nàng Tô Thị” kể về người chồng khi biết mình vô tình lấy phải em gái ruột đã bỏ đi biệt tích. Người vợ bế con lên núi ngóng chờ chồng đến hóa đá thành hòn Vọng Phu. Hòn Vọng Phu được dân gian coi là biểu tượng chung thủy của người phụ nữ chờ chồng…

          Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có dạy đại ý:

Sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca, vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.

          Tác giả bài “Đợi” là một chàng trai trưởng thành ở thời chiến tranh chống Mỹ, bình thường phổ biến thì đã phải ra trận. Nhưng đây tác giả ở hậu phương, viết bài “Đợi” kể về lần đứng trên cầu đợi người yêu, trải lòng với bạn đọc về tâm thế, tình cảm, tâm trạng hồi hộp, khắc khoải mong ngóng người yêu của mình. Tâm thế tình cảm đó là có thật. Nhưng cái sự thật ấy cũng chỉ là sự thật của cá nhân, sự thật của bộ phận, của một đời, không phải là sự thật phổ quát của muôn đời... Ý nghĩa giá trị xã hội và tính phổ quát của sự thật ở bài “Đợi” không cao.

          Khi nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Đợi” phổ cho bài “Đợi” đã chọn viết cho giọng nữ. Các ca sĩ khi trình bày bài “Đợi” đều đổi chỗ “ANH” thành “EM” và ngược lại. Có lẽ khi hát lên như nguyên bản lời thơ thì ca sĩ tự thấy không phù hợp, không thuận tình cảm phổ quát của dân ta… Họ tự ý đổi vị trí cho tâm thế tình cảm chàng trai - tác giả, thành tâm thế tình cảm của người con gái đợi chờ người con trai. Và như vậy, sự thật mang tính phổ quát và giá trị bài thơ cao hơn gấp bội.

          Tóm lại: Nhà thơ Vũ Quần Phương, với tâm thế tình cảm qua bài “Đợi” là một chàng trai… “mặc váy”! He he he…

          Xin lỗi các cụ, em góp vui thôi, không có ý coi thường nhà thơ quê hương đâu ạ. Bằng chứng là ngày còn công tác thư viện tỉnh, bọn em đã rất nhiều lần trọng vọng mời nhà thơ Vũ Quân Phương về nói chuyện thơ. Cụ nào không vừa lòng xin bỏ quá cho ạ.

…………………

 

Chú thích:

       (*) https://t-van.net/pham-duc-nhi-net-dep-cua-bai-tho-doi-qua-lang-kinh-ky-thuat/ 

            …“Đang yêu em, kiên nhẫn đứng đợi em mà “phang” vào câu “Đứng một đời em quen thành lạ” thì không “khéo”, không “tâm lý” tý nào. Dù thực tế khách quan của cuộc đời – trong nhiều trường hợp – có thể đúng như thế đi nữa câu thơ ấy cũng là “cung đàn lỗi nhịp” với đoạn thơ và cả với bài thơ.”

            …“Thể thơ phân mảnh, đứt đoạn nên bài thơ không có dòng chảy mà chỉ là 3 “vũng thơ” nằm 3 nơi.”

            …“Cảm Xúc Tầng 3 (Hồn thơ): Hoàn toàn không có.”

 

 

 

 

THI PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC” CỦA TRẦN ĐĂNG TÍNH

 

          Nhà thơ Trần Đăng Tính hiện sống tại số nhà 295 phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định. Ông là kỹ sư, nhưng lại có năng khiếu về thơ. Ông đã có hai tập thơ và bốn đĩa ghi hình. Ông đã được nhạc sĩ Đặng Ngọc Độ phổ nhạc và một số ca sĩ ngâm và hát thơ ông. Trên blog cá nhân của tôi đã đăng gần hai trăm bài thơ và bình thơ của ông. Bài “Thác nước” là bài đầu tiên ông gửi đăng trên blog của tôi.

 

                    THÁC NƯỚC

 

Thác nước tinh khôi chảy giữa rừng

Núi non trùng điệp ấp ủ bưng

Khe đá rậm rì xanh rêu cỏ

Nước dòng lướt thướt trắng bọt tung

Dốc nước trút lòng rần rật đổ

Suối nghiêng mở dạ phởn phơ rung

Thác tiên quyến rũ chim cánh vỗ

Nhạc nước cuồng si bướm vẫy vùng.

 

                             TRẦN ĐĂNG TÍNH

 

          THI PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC”

 

       1/ - Căn cứ từ thứ 2 câu một (“nước”) là vần trắc, xác định bài thơ làm theo thể trắc Đường luật thất ngôn bát cú. Trên cơ sở quy định thể trắc Đường luật thất ngôn bát cú, thấy một số từ thất luật:

          - Câu 2 từ thứ 6 (“ủ”) phải là vần bằng thì ở đây lại dùng vần trắc. Tương tự, câu 3 từ thứ 2 (“đá”) và từ thứ 4 (“rì”), câu 4 từ thứ 2 (“dòng”) và từ thứ 4 (“thướt”), câu 7 từ thứ 6 (“cánh”) là thất luật.

          Câu đầu, câu 5, câu 6 và câu kết đúng luật.

          Tóm lại, một số trong các vị trí từ 2, 4, 6 ở các cặp câu 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7 thất niêm, chưa đạt yêu cầu kết dính, đồng vận.

Riêng cặp câu 1 - 8 đạt yêu cầu.

 

          2/ Nhịp điệu:

 

          Nhịp điệu 4/3 của bài thơ đọc lên xuôi tai, nhịp nhàng, có nhạc tính. Nhưng do toàn bài chỉ dùng một loại nhịp nên không tạo được nhịp sinh động, phong phú, không phát huy cao nhất sự thích thú khi đọc bài thơ thành lời.

 

          3/ Vần:

 

          Bài thơ 8 câu 5 vần. Vần chính là “ưng”. Ba vần cuối là “ung”. Xét riêng về nguyên âm tạo vần thì “ư” và “u” là lân vận. Vần cụ thể “ưng” và “ung” có thể coi là vần thông. Trường hợp này chấp nhận được, vì sự khác vần ở đây tạo ra sự phong phú âm vận, tránh được sự nhàm chán.

 

          4/ Âm điệu:

 

          Âm điệu bài thơ nhìn chung có nhạc tính. Nhưng riêng câu 5 (Dốc nước trút lòng rần rật đổ) không nên để ba từ đầu câu đều là vần trắc, khi đọc lên sẽ thành khổ độc (khó đọc), trúc trắc, mất âm điệu.

 

          5/ Đối:

 

          Các cặp câu 3 - 4 và 5 - 6 đạt được yêu cầu cơ bản về đối ý và thanh:

          Khe đá rậm rì >< Nước dòng lướt thướt

xanh rêu cỏ >< trắng bọt tung

          Dốc nước trút lòng >< Suối nghiêng mở dạ 

rần rật đổ >< phởn phơ rung

          Khi đọc các cặp đối ta cảm được trạng thái sảng khoái, phấn khởi, thích thú… Âm điệu, nhạc tính rõ rệt.

 

          6/ Ngôn ngữ:

 

          Ngôn ngữ trong đời sống xã hội hiện đại dễ hiểu. Có sử dụng từ láy (rần rật, phởn phơ…) tạo điểm nhấn gây được sự chú ý, tăng thích thú, cảm nhận, khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc.

 

          7/ Kết cấu, bố cục:

 

          Bố cục bài thơ theo mô hình luật Đường thi đã quy định: Đề, thực, luận, kết. Thiết nghĩ bạn đọc đã biết, không cần đi sâu phân tích.

          Tác giả mô tả cảnh đẹp hùng vĩ của thác, rừng, núi bằng cách tiếp cận từ xa đến gần, càng gần chi tiết càng cụ thể, rõ nét. Hai câu kết mượn hình ảnh ẩn dụ chim và bướm thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả một cách khéo léo, nhẹ nhàng, gợi cảm.

 

          8/ Cảm xúc và tâm thế:

 

          Bài thơ ghi lại cảm xúc của tác giả trước cảnh thiên nhiên đẹp của đất nước (tức cảnh sinh tình): Từ trong khe đá rậm rì rêu cỏ xanh hai mép, được che phủ bởi núi rừng trập trùng, dòng nước lướt thướt chảy ra từ độ cao nhất định tuôn thẳng xuống tự do tung bọt trắng rần rật ào ào… Bên dưới là suối sung sướng mở dạ đón nhận dòng nước từ thác đổ xuống nuôi dưỡng mình một cách thích thú, đam mê, thỏa mãn đến phởn phơ rung động. Âm thanh do sự giao thoa giao hợp giữa thác và suối tạo ra, làm nên bản nhạc tự nhiên hấp dẫn đến độ chim và bướm cũng bị quyến rũ mê hoặc (huống chi khách tham quan).

          Trong tâm thế chủ thể sáng tạo, tác giả mô tả cảnh đẹp thiên nhiên mà mình trực tiếp để chia sẻ cảm xúc với bạn đọc về cảm hứng xốn xang rung động đến độ thăng hoa…  Mô tả cảnh vật thiên nhiên bằng ngôn ngữ đời thường dễ hiểu có chọn lọc, gần với ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả thể hiện rõ nét tình cảm tự hào, yêu thiết tha thiên nhiên đất nước của mình…

          Từ ngữ, ngữ cảnh trong bài làm cho bạn đọc liên tưởng tới phong cách thơ Hồ Xuân Hương, cảm được sự nhẹ nhàng, pha chút hài hước, thêm thích thú, vui vẻ...

 

          9/ Kết luận:

Luật thơ Đường được dân gian đúc kết từ hàng nghìn vạn bài thơ qua thời gian rất dài, đã đạt đến độ chặt chẽ, hoàn thiện. Bài thơ viết đúng luật chưa chắc đã hay, nhưng chắc chắn khi đọc lên sẽ có âm điệu nhạc tính bổng trầm nhẹ nhàng lưu loát. Song, cố bám chắc niêm luật nhiều khi lại gò bó, gượng ép, mất tính tự nhiên chân thực. Đôi khi, một vài sự biến thể phá cách nho nhỏ hợp lý lại đạt được sự tự nhiên, phóng khoáng, thể hiện tốt hơn sự thăng hoa cảm xúc của tác giả, đem lại cho người đọc khoái cảm thẩm mỹ cao hơn. Chỉ những tác giả nhuần nhuyễn luật thơ và có tài năng thực sự mới có thể thực hiện biến thể, phá cách có hiệu quả.

Ngoại trừ một vài từ thất luật nêu ở phần trên, bài thơ “Thác nước” khá hay. Có thể coi những điểm thất luật ấy là sự phá cách, biến thể, có chủ đích của tác giả, để bài thơ gần gũi với thơ tự do hiện đại. Tác giả có bố cục thanh trong câu nên dù thất luật đọc lên vẫn cảm nhận có sự cân bằng thanh. Từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, gợi cảm, nghệ thuật dùng từ láy, điệp từ khá đắc dụng, nghệ thuật nhân cách hóa, thể hiện được sự cao hứng thăng hoa, cảm xúc chân thật như một dòng chảy liền mạch từ câu đầu đến cuối bài thơ.

Chúc mừng tác giả Trần Đăng Tính.

 

10/ Phụ:

       - Tôi liều thử làm một biên tập viên thay đổi một vài từ nhằm minh họa cho luật thơ mà tôi nêu trên, chứ tuyệt nhiên không dám chữa thơ làm thay đổi mạch cảm xúc và thông điệp bài thơ của tác giả.

                   THÁC NƯỚC

Thác nước tinh khôi chảy giữa rừng

Núi non trùng điệp ấp che bưng

Khe sâu rậm rịt xanh rêu cỏ

Dòng mát chan hòa trắng bọt tung

Dốc đứng chao lòng rần rật đổ

Suối nghiêng mở dạ phởn phơ rung

Cảnh tiên quyến rũ chim dang cánh

Nhạc thủy cuồng si bướm vẫy vùng.

          - Tôi đã tuyên bố treo bút nghiên cứu phê bình từ bảy năm trước vì nhiều lý do, trong đó có lý do tôi đã già cảm xúc trơ lỳ, não hóa, hay quên, không còn minh mẫn. Song do tình bạn với nhà thơ Trần Đăng Tính mà tôi liều viết đôi dòng về thi pháp bài thơ “Thác nước” của ông. Nghĩ nhà thơ Trần Đăng Tính là bạn tri kỷ nên tôi có thể nói thật cảm nhận của mình về cái được và cái chưa được của bài thơ mà không lo ông giận. Tuy vậy, tôi vẫn muốn nói câu “nếu có gì không đúng, mong các bạn đọc lượng thứ và chỉ giáo”.

 

          Tệ xá bắc Thành Nam, 17-6-2022

                   TRẦN MỸ GIỐNG

NỖI NIỀM TẶNG VÀ ĐƯỢC TẶNG SÁCH

 

         

          Có lẽ tôi là tác giả ngu ngốc nhất trong việc ứng xử tặng sách, như lời một ông bạn văn thân thiết nhận xét. Tất cả sách của tôi, bảy lần xuất bản riêng, hơn hai chục lần đồng tác giả in chung, đều đem tặng biếu bạn đọc. Tôi phải vừa lo tiền mua lệnh xuất bản, tiền tự in, lại vừa lo tiền gửi bưu điện tặng bạn đọc. May mắn cho tôi được bà vợ là đồng môn Đại học Thư viện và đồng nghiệp Thư viện tỉnh, rất quý trọng sách, đã thắt bụng bóp mồm để chia sớt tiền lương hưu còm cho chồng in sách.

          Việc tặng sách đối với tôi có niềm vui và có cả nỗi buồn.

          Tôi sung sướng khi có bạn đọc không quen biết nhắn tin, gọi điện xin mua một cuốn sách của tôi. Đáp trả cái ơn bạn đọc cho mình phút giây sung sướng đó, tôi lập tức ký tặng rồi gửi “máy bay” cho bạn đọc.

          Một bác cựu chiến binh từ Hà Tĩnh gọi điện xin mua cuốn “Thời áo lính” của tôi. Bác ấy không thấy đâu bán. Cuốn này xuất bản lần đầu 2018 chỉ phát hành trong hệ thống thư viện quân đội. Xuất bản lần hai 2019 theo đơn đặt hàng của nhà nước chỉ phát hành cho các thư viện ngoài quân đội (Thư viện cấp tỉnh, bộ, viện, trường đại học…) chứ có bán ra ngoài đâu mà tìm mua được. Bác ấy nói đã đọc rất nhiều hồi ký của tướng tá, lính tráng thấy tự ca đánh bóng và lựa theo xu thế thời đại là chính, đọc không thích. Nay đọc trên mạng thấy cuốn của tôi rất chân thực, rất thích. Dù chỉ còn hai bản lưu hai lần xuất bản kỷ niệm, tôi gửi ngay tặng bác ấy một bản xuất bản lần đầu. Sau khi đọc xong, bác ấy gọi điện tiếc rẻ “giá bác viết dài hơn”…  Tôi bảo: “Sách 200 trang, đọc thấy không chán là hạnh phúc cho tác giả rồi. Nếu viết dài sợ đọc chán bác ạ!”

          Ba lần được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in bao cấp, tôi xin nhận tiền nhuận bút bằng sách để tặng bạn bè, đồng nghiệp. Vậy là tôi chỉ mất tiền gửi bưu điện tặng sách bạn bè thôi. Càng gửi tặng được nhiều, tôi càng thấy mình hạnh phúc.

          Cuốn Trạng nguyên Đào Sư Tích do tôi và Đồng Ngọc Hoa, Dương Văn Vượng hợp sức cùng làm. Một vị họ Đào xem bản thảo, đăng ký mua 200 cuốn. Nhưng khi in ra thì vị này chạy làng vì “không có tiền”. Tôi ủy quyền cho Đồng Ngọc Hoa đóng gói cả nghìn cuốn sách gửi tặng hết… Sau này có một vị họ Đào mặc cả với tôi và Đồng Ngọc Hoa, xin chi 100 triệu cho tái bản sách, chỉ yêu cầu sửa lại quê Trạng từ Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định) thành Đông Trang (Ninh Bình). Chúng tôi đã từ chối thẳng thừng. Trớ trêu là VTV1 lại phát chương trình ba chục phút về Trạng nguyên Đào Sư Tích, do Nhà sử học Lê Văn Lan chủ trì, thuyết minh quê Trạng ở Đông Trang Ninh Bình. Trong phim có 5 lần quay tư liệu cuốn sách do chúng tôi làm, nhưng tên các soạn dịch giả không được quay, không được nhắc đến.

            Cuốn sách đầu tiên tôi một mình đứng tên tác giả, tôi háo hức tặng đồng nghiệp. Có hai vị đồng nghiệp kiện Hội Văn Nghệ đã cấp tiền tài trợ in sách cho tôi, yêu cầu thu hồi. Hai vị này vu cho tôi đã nhận tài trợ của Sở Văn hóa 50 triệu rồi. May mà những người liên quan còn sống, sự thật sáng tỏ, nên vụ việc đã được dẹp yên.

          Một nhà văn Việt Nam được tôi tặng đầu tiên khi cuốn “Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến” vừa xuất bản. Mấy năm sau, tôi gửi cuốn sách này dự giải thưởng của tỉnh. Nhà văn Việt Nam nói với tôi: “Tôi được phân công viết lời nhận xét kết luận các tập sách dự giải thưởng của tỉnh ta. Tôi cứ tưởng cuốn “Các nhà khoa bảng” của ông chỉ là tập sưu tầm, thư mục tóm tắt tiểu sử các nhân vật. Đọc mới biết đây là tập nghiên cứu chuyên đề. Tôi đồng tình với việc xếp giải cuốn này của bộ môn..”  Thì ra ông bạn văn tôi quý trọng nhận sách tôi tặng rồi vứt xó, không thèm đọc.

          Soạn xong bản thảo “Truyện nhặt”, chưa có tiền xuất bản, tôi in đại ra vài chục cuốn bản thảo tặng bạn bè. Đến nhà tặng một ông nhà thơ, thấy một đống sách vứt dưới gầm bàn, tôi hỏi thì ông bảo: “Ôi trời! Toàn là sách tự in của các nhà thơ cả đấy. Tôi không đọc loại sách vớ vẩn ấy, mất thời gian. Sách phải có nhà xuất bản trung ương thì tôi mới đọc.” Nghe ông bạn nói mà tôi choáng váng hoa mắt. Thì ra mình coi trọng nội dung, chứ ông này lại trọng hình thức. Vậy là tôi không dám thò bản thảo “Truyện nhặt” đã ký tặng ông ra nữa. Sau này khi cuốn “Truyện nhặt” được Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ấn hành, tôi cũng không dám tặng ông bạn thơ này.

          Một ông bạn văn tôi rất quý trọng, đến nhà tôi chơi. Tôi đem tác phẩm vừa xuất bản ra ký tặng ông. Bút bi không ra mực. Đúng lúc ông bạn hỏi mượn cái bút để ghi điều gì đó bạn ông điện thoại. Tôi cố mài cái bút bi cho ra mực (hơi lâu một chút) mới đưa cho ông. Từ lúc ấy ông tỏ thái độ không vừa lòng, chuyện nhạt hẳn. Tôi đưa hai tay trao sách tặng cho ông. Ông thò một tay ra thờ ơ cầm cuốn sách, vứt xuống ghế ngồi. Đến giờ tôi vẫn còn tự trách mình đã tặng sách cho ông.

          Có hai ông bạn văn được tôi tặng sách. Hai tháng sau tình cờ gặp nhau, có người khen sách của tôi hay, hai ông bạn ngạc nhiên trách: “Sao ông không tặng tôi?” – “Ô hay, tôi tặng các ông ngay từ đầu mà!” – “Đâu có! Ông chưa tặng!”. Tôi đâm mất tự tin trí nhớ của mình, ký tặng sách cho hai ông. Khi về nhà mở danh sách đã tặng sách, thấy tên hai ông ghi trên đầu trang…

          Lại nói thời còn công tác, và sau này đã nghỉ hưu, tôi thường nhận sách tác giả tặng thư viện và cá nhân. Mỗi lần được tặng sách mới, tôi đều phân công cho đồng nghiệp thuộc quyền viết bài giới thiệu trên thư mục nhân vật hoặc đăng báo tạp chí để cảm ơn tác giả. Một bận Nhà văn Việt Nam Phạm Trường Thi tặng thư viện 4 tập thơ của anh. Tôi phân công cho anh em viết giới thiệu. Sau một thời gian không ai viết được vì “không có cảm hứng”. Nể Phạm Trường Thi là lãnh đạo Hội và Tạp chí Văn nghệ mà mình là hội viên, tôi đành đem bốn tập thơ về nhà, đọc liền ba bốn tối, không sao có hứng để viết. Tôi định bỏ cuộc thì vớ được bài “Đèn sen” hay quá. Tôi viết hết đêm bài bình dài 8 trang A4. Sáng đi nộp bài cho Tạp chí Văn nghệ gặp ông bạn đồng đội hiện là nhà nghiên cứu. Ông bạn cho biết bài thơ này đang bị nhà thơ Lê Hồng Thiện kiện đạo văn. Đúng là vụ việc sau lùm xùm cả hội. May chưa kịp nộp bài cho Tạp chí Văn nghệ…

          Một ông bạn văn gửi tặng sách cho tôi. Nhà xe chuyển sách điện: “Mời bác đúng… giờ ra ngã tư Đệ Tứ nhận bưu phẩm ạ. Xe cháu biển số…” – “Tôi đang cách thành phố 50 cây số, không thể về kịp”. – “Vậy cháu gửi hàng nước bà M. khi nào bác đến nhận thì gửi tiền cước bà ấy cho cháu ạ.” – “Ô kê!”. Tuần sau tôi nhận sách, một tập thơ chưa đầy 100 trang. Tiền cước 20.000 đồng, tiền lưu kho bà hàng nước 20.000 đồng. Tôi vẫn gửi tặng sách trong cả nước, bằng thư phát nhanh, chỉ một hai ngày là tới, trong tỉnh 12.000 đồng, Hà Nội 20.000 đồng, Sài Gòn 30.000 đồng… Nhà bưu điện đem sách đến tận tay người nhận.

          Một bữa, bà vợ tôi nhận hộ bưu phẩm là một tập thơ mỏng, do tác giả ký tặng. Nhân viên chuyển phát bưu phẩm yêu cầu nộp tiền vận chuyển. Tiền chả đáng kể gì, mà sao thấy buồn, như là bị coi thường, như là bị xúc phạm. Tự nhiên thấy giảm hứng thú đọc, tình yêu sách mai một đi ít nhiều

          Còn nhiều chuyện bi hài xảy ra với tôi trong chuyện tặng và nhận sách, nhưng bài dài quá rồi, đọc nhàm chán. Xin dừng lời tâm sự trải lòng mình với bạn bè ở đây. Chúc các bạn vui.

 

          Tệ xá, thành Nam, 10-3-2022

                                  TMG

      

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÁM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

 

1- Bị bệnh đái tháo đường, huyết áp, đau lưng ba bốn năm nay, tôi phải đi khám định kỳ tại Bệnh viện tỉnh. Ban đầu định kỳ hàng tháng. Thời covid 19 diễn biến phức tạp, định kỳ hai tháng.

          Mỗi lần đi khám, tôi phải dậy từ bốn giờ sáng, đi sớm xếp sổ lấy phiếu khám trước để có thể hoàn thành khám lấy thuốc trong buổi sáng. Nếu đi muộn chắc chắn mất cả ngày.

          Không hiểu sao từ đầu năm 2022, định kỳ rút ngắn còn hai tuần, rồi rút xuống một tuần. Thuốc cũng không được cấp đủ như trước, bệnh nhân phải tự mua là chính.

          Tôi phàn nàn với bà bệnh già cùng khám. Bà hỏi:

          - Thế ông có biếu tiền bác sĩ không?

          Tôi thật thà:

          - Chưa bao giờ ạ!

          - Ông cứ nghe tôi, khéo léo đừng để ai biết…

          Tôi hoang mang nghĩ: Bà bệnh này nói có lý. Đời sống bác sĩ cũng khó khăn lắm. Cháu gái tôi học bác sĩ sáu năm, lại tu nghiệp chuyên khoa hai năm mà xin việc trầy trợt, lương năm triệu. Tôi bỏ tờ tiền mệnh giá cao nhất hiện có trong ví vào phong bì, dán kín. Lại bỏ phong bì vào cuốn sách.

          - Thưa bác sĩ! Tôi muốn tặng bác sĩ cuốn sách tôi viết, được không ạ?

          Bác sĩ trẻ đẹp trai vui vẻ:

          - Vâng được ạ. Cảm ơn ông.

          Bác sĩ mở qua cuốn sách, cầm phong bì trả lại tôi:

          - Cháu nhận sách, không nhận tiền đâu ạ!

          Tôi lúng túng:

          - Tôi… Đó là nhuận đọc thôi ạ!

          - Các cụ đã bệnh tật, khổ lắm rồi. Cháu không nhận tiền đâu. Ông để tiền mua thuốc uống ạ!

          - Cảm ơn bác sĩ! 

          Tôi bỗng cảm thấy mình bé nhỏ.

          - Bệnh viện quy định mỗi lần khám chỉ cấp 30 viên thuốc tiểu đường. Ông khám hàng tuần lấy thuốc đủ dùng vậy.

          - Tôi đề nghị bác sĩ cho tôi đơn thuốc tự mua đủ dùng một tháng. Tuần nào cũng đi khám thì mệt mỏi lắm!

          - Vâng được ạ. Cháu kê cho ông thuốc ngoại. Ông tự mua nhé!

          - Vâng!

 

       2- Sáng nay đến hẹn khám định kỳ. Cả đêm qua thao thức. Cứ có việc gì là tôi lại mất ngủ. Mất ngủ thì lại thấy lưng đau hơn. Tôi nửa nằm nửa ngồi chờ đến bốn giờ sáng. Kiểm tra các thứ cần mang theo: Phiếu bảo hiểm y tế, căn cước công dân, tiền, sổ khám tiểu đường huyết áp, gói bánh gạo nứt, chai nước lọc, thuốc huyết áp tiểu đường…

Bốn rưỡi trời còn tối, tôi đã dắt xe ra khỏi nhà. Gửi xe, xếp sổ xong thì đã năm giờ sáng. Hai chồng sổ cao hơn gang tay. Chồng sổ ưu tiên bằng nửa chồng sổ nhân dân. Nhiều người xếp sổ từ tối hôm trước.

          Tôi tìm được một ghế trống trong góc hành lang, ngồi chờ. Sáu giờ uống thuốc huyết áp. Sáu giờ mười năm thì nhân viên y tế bắt đầu gọi tên phát phiếu khám. Người bệnh (hầu hết là cao tuổi) chen chúc vây kín cửa phát phiếu khám. Tôi nhận được phiếu khám bàn 1 số 27 lúc bảy giờ kém hai mươi.

Tôi cầm sẵn sổ khám tiểu đường, phiếu khám, căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế ra tay, đứng xếp hàng trước cửa bàn khám số 1. Khoảng bảy giờ hai mươi tôi nhận được hồ sơ khám phòng 201 số 27. Lên tầng hai khoa khám bệnh, tôi xếp sổ chờ đo huyết áp. Huyết áp không cao lắm do đã uống thuốc, nhưng nhịp tim cao 105.

          Đứng chờ một lúc, tôi “chớp” được ghế ngồi của một người bệnh đến lượt vào khám. Mệt mỏi, tôi nhắm mắt thư giãn. Họ khám hết các người bệnh có thẻ ưu tiên rồi mới theo thứ tự khám cho người bệnh thường. Các cụ ngồi chờ râm ran bàn tán.

          - Nam Định mình có ông bộ trưởng y tế bị còng tay đấy các cụ ạ.

          - Việt Á là cái bẫy tóm được hàng trăm con chuột cống trong ngành y tế. Chúng cướp được hàng nghìn tỷ… Cảm ơn Việt Á!

          - Có một trăm con chuột mà nó phá tanh bành cả ngành y tế… Mong ông Trọng ra tay tóm sạch lũ chuột cho dân nhờ.

          - Kết cục thì người bệnh phải hấng chịu hậu quả. Khám bảo hiểm mà phải tự mua thuốc… Là nó ăn chặn bảo hiểm của dân chứ sao!

          - Các bệnh viện không ai dám ký giao dịch mua thuốc nên không có thuốc các cụ ạ. Ai cũng sợ… 

          - Không biết tình hình này bao giờ mới kết thúc.

          Tôi đang mơ mơ màng màng thì nghe một bà bệnh nói to:

          - Ai Trần Mỹ Giống vào khám kìa.

          Tôi đứng dậy. Bà bệnh bảo:

          - Bác sĩ gọi mấy lần mà ông không nghe à?

          - Cảm ơn bà! – Tôi vừa lào phào trả lời bà bệnh, vừa bước vào phòng khám.

          Nữ bác sĩ trung tuổi cất giọng như gió thoảng:

          - Kỳ này ông thấy trong người thế nào?

          - Bình thường cô ạ. Không còn hiện tượng đói thì xỉu đi như trước.

          - Tôi sợ là lượng đường tăng. Ông cầm giấy đi xét nghiệm máu nhé.

          - Vâng!

          Đến phòng xét nghiệm máu, nhận phiếu số 67. Lấy máu xong thì tám giờ ba mươi. Tôi tìm một chỗ ngồi ngoài hành lang, chờ mười giờ đến mười giờ rưỡi lấy kết quả. Một ông bệnh già hơn tôi đang gặm bánh mì. Tôi uống thuốc tiểu đường và ăn bánh gạo nứt.

          - Ông bị bệnh gì vậy? – Ông già hỏi làm quen.

          - Tôi bị tiểu đường ông ạ!

          - Tôi cũng tiểu đường!

          - Tiểu đường thì ông nên kiêng bánh mì và xôi nếp. Hai món này tăng đường nhanh lắm!

          - Thế à ông? Cháu nó chuẩn bị cho…

          - Mời ông ăn với tôi cái bánh gạo nứt cho vui. Cái anh gạo nứt tốt cho tiểu đường lắm ông ạ.

          Tôi vừa nói vừa bỏ vào tay ông già ba cái bánh gạo nứt. Ông già cảm ơn rồi xé giấy bóng ăn bánh.

          - Dễ ăn ông ạ. Thế ông mua ở đâu, giá cả làm sao?

          - Mua ở phố Hoàng Văn Thụ, hai năm nghìn một gói hơn chục cái…

          - Đắt ông nhỉ.

          - Vâng.

          Tôi mệt mỏi ngoẹo đầu vào tường, nhắm mắt, rù đi. Lâu sau ông già đập tay vào vai tôi:

          - Chắc cũng sắp có kết quả, ta vào phòng chờ ông ạ.

          Lấy được kết quả, quay lại phòng khám ban đầu thì đã mười giờ rưỡi. Lại xếp kết quả chờ thứ tự. Mười một giờ đến lượt tôi.

          - Đúng là lượng đường tăng hơn tháng trước. Nhiều chỉ số tăng lipid hỗn hợp ông ạ. – Bác sĩ bảo.

          - Vâng!

          - Kỳ này phải tự túc nhiều đấy ông ạ.

          - Vâng!

          - Hai loại thuốc cuối ông mua toàn bộ. Hai loại thuốc trên, ông mua thêm mỗi loại một nửa nhé!

          - Vâng! Cảm ơn cô.

          Tôi bước vội xuống tầng một, nộp hồ sơ bệnh án cửa số 8 thanh toán cho kịp buổi sáng.

          Một ông bệnh hỏi tôi:

          - Bác có đi mua thuốc ở Đền Giếng cho em theo với. Ở huyện lên, em chả biết đâu vào đâu.

          - Vâng. Bác đi theo tôi.

          Đến hiệu thuốc Đền Giếng, tôi đưa đơn thuốc cho cô bán hàng. Ông bạn ở huyện hỏi nhỏ cô bán hàng:

          - Cô làm ơn xem đơn của tôi hết bao nhiêu, tôi sợ không đủ tiền!

          Tôi đã định tặng ông bạn số tiền thiếu, nếu ông không đủ. Nhưng khi nghe cô bán hàng nói số tiền thì ông bệnh thở phào:

          - Thế thì tôi vừa đủ ạ!

          Tôi giơ tay chào ông bệnh.

          Về đến nhà, tôi nằm lên võng rồi ngủ lịm đi!

          Chiều, điện cho ông bạn đồng môn đồng đội đang sống ở Hà Nội, than phiền bệnh tật... Ông bạn bảo cũng tiểu đường, huyết áp. Mỗi lần đi khám ở Bệnh viện E được lĩnh số thuốc trị giá tới một triệu hai trăm nghìn.

          Cùng bảo hiểm 100% mà Hà Nội khác xa tỉnh đến vậy?

          Giấy hẹn khám kỳ tới 23 – 8 – 2022.

          Cầu cho bình an để khám đúng hẹn!

“NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ” - TIẾNG KÊU XÉ LÒNG CỦA NHÀ THƠ CHU ĐÌNH AN - MỘT CỰU CHIẾN BINH Ở TUỔI TÁM MỐT

 

        Tôi chơi thân với nhà thơ Chu Đình An mấy chục năm nay. Ông đã có dăm tập thơ riêng và rất nhiều thơ in báo tạp chí và tuyển tập chung. Thơ ông hào sảng khí phách người lính trung kiên chống giặc ngoại xâm, chống tiêu cực, tha thiết yêu quê hương đất nước, lạc quan tin tưởng Đảng và tương lai tươi đẹp của đất nước. Ngay từ khi chưa thân quen ông, tôi đã được đọc một tập thơ của ông, và viết bài giới thiệu “Đọc Lạc nẻo đường trăng” của ông với cảm xúc dạt dào…

       Vậy mà, thời gian gần đây, ở tuổi bát tuần, ông ủ rũ buồn phiền trông thật ái ngại. Tôi hỏi thì ông lờ đi. Hỏi mãi ông mới đưa cho tôi xem bài thơ sau:

NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ

(Người trong cuộc)

(Nhiễm chất độc hoa học điôxin da cam…)

 

Xâu chuỗi tháng năm

Anh đi bộ đội

Theo Đảng ước mơ

Vào chiến trường chống Mỹ

Lấp lánh vần thơ

Ba lô nặng trĩu cong sườn núi

Mũ cối gối đầu tắm nắng sương

Mỹ đem chất độc gieo tang tóc

Oán hận ngàn sau cảnh đoạn trường

Rời chiến trường chia xa nơi ở

Anh trở lại quê

  Nặng trĩu lời thề

Đứa con ra đời công anh được trả

Chất độc da cam

Con chẳng nên người

Có đủ giấy tờ

Hỏi trời chẳng biết

Hỏi đất không hay

Hỏi người… Hãy đợi đấy!

Chịu nỗi đắng cay

Nhiều đời đau khổ…

 

ĐẮNG CAY

Mười hai năm bốn tháng mấy ngàn ngày (4400 ngày)

Chống Mỹ kiên cường chẳng đổi thay

Mười chín phần trăm thương tật loại

Nhiều đời cay đắng chẳng ai hay

 

Đời cha nhiễm chất độc da cam

Con mất trí khôn chẳng việc làm

Đã mấy lần kê khai chẳng được

Vì dân, vì Đảng, cứu nước hận tình mang.

                                CĐA

          Đọc bài thơ trên của ông, tôi cứ tự trách mình ít quan tâm đến đời sống riêng tư của người bạn văn, người anh mà mình yêu quý. Tôi không bình bài thơ về mặt văn học, mà chỉ muốn nói về tâm sự đời thường của ông qua bài thơ trên.

          Chàng thanh niên Chu Đình An từ biệt quê hương Nam Thắng (Nam Trực – Nam Định) nhập ngũ 1961. Ngay năm sau, 1962 thì theo đơn vị đi Lào, 1964 vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ông từng trực tiếp tham gia chiến đấu chống càn Gian-sơn-xi-ty ở Tây Ninh, rồi đi C giải phóng Nậm Thà… Bị thương 19% (không đủ để làm chế độ thương binh), bị nhiễm chất độc Điôxin viêm phổi nặng. Đơn vị cho ra Bắc chữa trị 10 tháng. Ông cưới vợ được chưa tròn tháng thì đã nhận lệnh đi chiến trường B lần thứ hai… Mười tám năm làm lính thì mười bốn năm ông chiến đấu ở các chiến trường miền Nam, Lào, Căm pu chia… Đứa con trai duy nhất của ông bị mang di chứng chất độc da cam của cha nên ngẩn ngơ không vợ con, không công ăn việc làm… Bà vợ ông cao tuổi nay ốm mai đau triền miên.

        Vào tuổi tám mươi, gần đất xa trời, ông luôn lo lắng cho đứa con trai sẽ sống ra sao sau khi cha mẹ qua đời? Ông chạy vạy khắp các cửa xin cho con chế độ da cam để có đồng phụ cấp ít ỏi mà sống nốt quãng đời ngơ ngẩn khi cha mẹ đã qua đời. Nhưng tiếng kêu cứu của ông không được đâu quan tâm.

        Tôi từng vịnh ông Chu Đình An:

Nửa đời chinh chiến một lòng trung

Thơ vượt vũ môn cá hóa rồng

Bút sắc kiên cường đâm tiêu cực

Hùng!

           Người linh cụ Hồ kiên trung dũng cảm đầy khí phách trước quân thù và bọn tiêu cực, giờ đây là ông già đau khổ đáng thương. Đi chiến đấu để con cháu, thế hệ sau được sống tốt đẹp mà chiến thắng rồi con trai ông lại chịu hậu quả nặng nề… Người cha cứng rắn chịu đựng gian khổ hy sinh, nhưng không chịu đựng nổi tình cảnh bi đát của đứa con trai được sinh ra trong thời chiến tranh loạn lạc….

          Tôi là người lính chiến đấu ở Quảng trị, bị di chứng thần kinh ngoại biên và tiểu đường huyết áp điều trị thường xuyên, cũng không làm được chế độ. Trong khi đó người có tiền lại mua được chế độ mà gần đây nhà nước phát hiện thu hồi rất nhiều trường hợp. Có người rỉ tai tôi phải mất bốn chục triệu mới làm chế độ được…

          Chất độc da cam có thể phát tác ngay, cũng có thể lặn hai ba đời sau mới phát tác. Phần lớn những người thực thi chế độ hiện nay chưa một ngày cầm súng chống Mỹ như cha ông. Họ đối xử với lớp cha chú có phần thiếu tình người, coi nhẹ việc tri ân. Tôi hiểu rõ và đồng cảm với tâm trạng nhà thơ Chu Đình An khi ông kêu lên thảm thiết và ai oán:

 

        Vì dân vì Đảng cứu nước hận tình mang.

        Là cựu chiến binh từng chiến đấu bảo vệ Quang Trị và chống giặc Trung Quốc ở Lạng Sơn, tôi rất hiểu và đồng cảm với tâm trạng và tình cảnh đáng buồn của cựu chiến binh Chu Đình An. Xin được góp cùng bác Chu Đình An một tiếng kêu… Mong sao tiếng kêu của chúng tôi trời xanh nghe thấu và có giải pháp công bằng, đúng chính sách, đúng pháp luật, có tình có lý, lấy lại niềm tin cho chúng tôi… Bác Chu Đình An năm nay 81 tuổi đã có 57 năm tuổi Đảng rồi.

        13 – 6 - 2020

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LAN MAN KHI TUYỂN TẬP THƠ TRẦN MẠNH HẢO ĐƯỢC XUẤT BẢN

 

 

          Về giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Trần Mạnh Hảo đã có rất rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình viết rất hay, rất trúng rồi. Bài này tôi chỉ lan man một chút cảm nghĩ khi Tuyển thơ của Trần Mạnh Hảo được xuất bản.

          Sau mấy chục năm vắng bóng trên báo chí chính thống và nhà xuất bản trong nước, nhà thơ – nhà lý luận phê bình – nhà văn Trần Mạnh Hảo mới lại có tác phẩm được phép xuất bản:

          TRẦN MẠNH HẢO TUYỂN TẬP THƠ. – H.: Nxb. Hội Nhà văn, 2022. – 475 tr.: Bìa cứng, ảnh màu minh họa ;  24 cm.

          Sự kiện này gây ra cơn bão dư luận bạn đọc. Hầu hết ý kiến tỏ thái độ đồng tình và đánh giá khá đúng đắn khẳng định vị trí Trần Mạnh Hảo trên văn đàn. Tuy nhiên cũng còn số ít không đồng thuận, có thái độ bất phục. Ngẫm lời cụ Nguyễn Du “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” thật đúng. Thì xưa nay bao nhiêu văn tài bị vùi dập chỉ vì thái độ thẳng thắn phản biện xã hội qua tác phẩm đấy thôi. Nhưng rồi lịch sử cuối cùng sẽ công nhận tài năng và cống hiến của họ. Tỷ như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, như Văn Cao, Trần Dần, Vũ Hoàng Chương…

          Tôi rất thích những bài phản biện sách giáo khoa của Trần Mạnh Hảo. Ông chỉ ra chi tiết những sai lầm của tác giả rất xác đáng. Các tác giả bị phê bình tuyền là những người mang danh GS TS. Họ huy động phe cánh học trò hội đồng chửi bới, vùi dập Trần Mạnh Hảo, nhưng rốt cuộc họ cứ lặng lẽ chỉnh sửa sai lầm qua tái bản…

          Nhớ lại, mấy chục năm trời không sao tìm được bài viết của Trần Mạnh Hảo trên báo chính thống, trên mạng cũng khó mà tìm được… Tôi thường phải lấy bài của Trần Mạnh Hảo qua một số trang mạng nước ngoài để đăng lại trên blogyahoo của mình. Blogyahoo bị đóng, tôi lại dùng blogtiengviet. Blog này lại mới bị đóng, tôi dùng blogspot đăng bài của Trần Mạnh Hảo. Tôi vui vì bài Trần Mạnh Hảo được rất đông người đọc đồng tình cảm phục.

          Tôi chỉ được gặp Trần Mạnh Hảo qua mạng. Sáng ba mươi Tết năm 2013, ông Trần Mạnh Hảo gọi điện cho tôi: “Tôi đưa vợ đi chợ, ngồi trông xe đợi, tranh thủ thời gian làm mươi bài tứ tuyệt. Tôi gửi ra ông đăng nhé.” Ít phút sau tôi nhận được chùm tứ tuyệt của ông, tuyền là viết về quê Nghĩa Hưng, Nam Định rất hay. Tôi lập tức đăng lên blog cá nhân.

          Sau này, tôi nhận được công văn hạn chế blog, không cho phép đăng bài của người khác từ cơ quan chức năng. Tôi trực tiếp chất vấn người ký văn bản, (đã có lần người này và tôi cùng trong hội đồng chấm thi công chức của tỉnh): “Blog của tôi quảng bá tác giả tác phẩm Nam Định thì sai chỗ nào mà ông ký công văn hạn chế?” Người này thật thà: “Không có gì sai cả. Là do lãnh đạo hội của bác nhiều lần kiến nghị, tỉnh giao nhiệm vụ buộc chúng tôi phải làm. Bác cứ coi việc này nhẹ như lông hồng. Việc chúng tôi chúng tôi phải làm. Việc bác bác cứ làm…” Tôi hiểu họ hạn chế blog của tôi vì tôi đăng bài của Trần Mạnh Hảo và phanh phui những tiêu cực của lãnh đạo hội thời ấy. Rất may, người ký văn bản hạn chế blog của tôi hiểu thế nào là phải trái.

          Năm 2010 tôi được mời tham gia làm cuốn “1000 năm Thăng Long Hà Nội – Thiên Trường Nam Định: Thơ”. Tôi chuyên lo mảng thơ Hán Nôm. Nhưng tôi có theo giõi mảng thơ Quốc ngữ, góp ý: “Các ông chọn nhiều tác giả thơ làng nhàng mà lại bỏ sót hai nhà thơ nổi tiếng có nhiều bài viết về quê hương và Hà Nội rất hay là nhà thơ Hải Như và nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Đề nghị các ông bổ sung hai người này vào tập”. Ý kiến của tôi không được ai ủng hộ. Có người còn bảo: “Không đưa Trần Mạnh Hảo vào để giữ cho tập sách sạch sẽ”.  Sao người ta lại có thể nhận xét thơ ông Hảo như vậy nhỉ? Sao cùng là đồng hương, đồng nghiệp, cùng Nhà văn Việt Nam mà họ xử với nhau như vậy? Buồn nhất là có nhà thơ thường khoe thân thiết với Trần Mạnh Hảo cũng làm ngơ việc này. Kết cục Hải Như và Trần Mạnh Hảo đều không được đưa vào tập sách. Tôi chợt nhớ nhận xét trong một bài thơ của nhà phê bình người Mỹ gốc Việt Phạm Đức Nhì: Khó mà tìm được một nhà văn trong nước chim có hột…

           Hôm rồi tôi nhận được Tuyển tập thơ ông Trần Mạnh Hảo gửi với lời đề tặng: “Thân quý tặng bạn đồng nghiệp đồng hương đồng tộc TRẦN MỸ GIỐNG…” Tôi cảm động nghĩ mình chỉ đáng là học trò của Trần Mạnh Hảo. Nhưng tôi vẫn tham, nghĩ: giá ông Trần Mạnh Hảo ghi thêm từ “đồng đội” thì hay quá. Ông Hảo và tôi từng nghe theo tiếng gọi của Đảng và nhà nước, hiến cả tuổi xuân trên chiến trường B trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước…

          Bây giờ thì khác rồi. Phải cảm ơn nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đương chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc, Tổng biên tập nxb. Hội Nhà văn đã dám ký lệnh cho phép xuất bản tuyển thơ của Trần Mạnh Hảo (dù từng bị ông Trần Mạnh Hảo choảng cho tơi tả cái món “thơ tân con cóc” của mình. Cũng cần nói thêm là Trần Mạnh Hảo từng công khai nể phục cổ vũ Nguyễn Quang Thiều khi ông này dám công khai bài điếu đánh giá cao đúng với công lao của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp…) Tôi nghĩ việc xuất bản Tuyển thơ Trần Mạnh Hảo là cái mốc đánh dấu khí phách, thái độ, nghĩa khí của hai “sĩ phu Bắc Hà” sẽ sống rất lâu trong lòng người đọc…

          Tôi tin rồi qua thời gian, cống hiến của Trần Mạnh Hảo sẽ được lịch sử và nhân dân công nhận đúng với giá trị của ông.

 

          Tệ xá, thành Nam 20-8-2022

                             TMG

 

 

NHÂN “HỘI THẢO KHOA HỌC THƠ ĐƯỜNG THỜI NHÀ TRẦN” CỦA “TRUNG TÂM MINH TRIẾT THƠ ĐƯỜNG VIỆT NAM”… ÔNG CHÁU TÔI “BUÔN DƯA LÊ”

 

 

          Cháu:

          - Ông ơi! Đồng nghiệp của ông vừa có bài về một hội thảo khoa học chuyên đề thơ Đường thời nhà Trần của cơ quan minh triết thơ Đường Việt Nam…

          Ông ngắt lời:

          - Ông biết rồi. Vậy cháu hiểu thế nào là thơ Đường (Đường thi) và thơ luật Đường (Đường luật)?

          - Thơ Đường là khái niệm chỉ thơ do các tác giả sinh sống trong thời Đường của Trung Hoa sáng tác. Thời Đường từ thế kỷ 7 đến đầu thế kỷ 10 (tức là trước thời Trần của Việt Nam). Thơ Đường có hai loại chủ yếu là thơ cổ phong không theo niêm luật nào cả, có từ trước thời Đường, và thơ luật Đường (Đường luật) theo quy định niêm luật rất chặt chẽ.

Thơ Đường luật có thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cũ, ngũ ngôn tứ tuyệt… Thơ Đường luật có ảnh hưởng rất nhiều tới các tác giả Việt Nam. Thơ Đường luật do các tác giả Việt Nam sáng tác, nếu dùng chữ Hán thì gọi là thơ chữ Hán, nếu dùng chữ Nôm thì gọi là thơ chữ Nôm. Ví dụ Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương…

Tóm lại: Không có cái gọi là Thơ Đường Việt Nam, càng không có cái gọi là thơ Đường thời Trần, mà chỉ có thơ Đường luật Việt Nam (thơ Việt Nam làm theo thi pháp luật thơ Đường)…

- Thế cháu nghĩ gì khi thấy cái phông hội nghị họ ghi là “Hội thảo khoa học thơ Đường thời nhà Trần – Hà Nội ngày 30-8-2022…”, hoặc cái tên bài tham luận “Thơ Đường thời nhà Trần” (của Hồ Trí Dũng), “Những tác gia thơ Đường tiêu biểu thời Trần” (của Trần Văn Đỉnh)…?

- Điều đó chứng tỏ những người chủ trì và những người tham luận trong Hội thảo khoa học này rất lơ mơ về thuật ngữ thơ Đường và thơ Đường luật. Đáng buồn là họ toàn GS, TS, Th.S…

- Cháu nghĩ gì khi đọc cái tên cơ quan “Trung tâm minh triết thơ Đường Việt Nam”?

- Làm gì có “thơ Đường Việt Nam” mà đẻ ra cái cơ quan “Trung tâm minh triết thơ Đường Việt Nam”? Tơ lơ mơ về thuật ngữ thơ Đường với thơ Đường luật, thơ Đường với thơ thời Trần… thì “minh triết” cái khỉ gì hả ông?

- Bác Trần Nguyên Trung và nhà sử học Lê Văn Lan có bài phê phán kỷ yếu hội thảo này đăng bài xuyên tạc lịch sử. Họ cổ súy cho nhân vật nhiên thần Hoằng Nghị thành nhân thần, gán cho là bố đẻ Trần Thủ Độ, cháu nên tìm đọc. Và nhớ đừng tin ngay các vị GS, TS, ThS giấy nhé!

- Vâng ạ!

 

 

 

               MỖI NGƯỜI MỖI CẢNH

 

 

        -1-

 

        Tôi và ông Bảng, bà Sen có thời cùng đơn vị. Tôi là học viên sĩ quan. Bà Sen làm y tá. Ông Bảng là anh nuôi. Từ ngày ra trường về đơn vị, tôi mất liên lạc với hai người. Cách đây hai năm, bất ngờ bà Sen điện cho tôi:

        - Ông Giống phải không?

        - Vâng! Tôi Giống đây. Ai đấy ạ?

        - Ối giời ơi! Đúng là tiếng ông Giống rồi! Tôi Sen y tá đại đội đào tạo sĩ quan đây! Còn nhớ không?

        - Ôi trời! Bà Sen hả? Hơn bốn chục năm rồi còn gì. Sao bà biết số của tôi?

        - Tình cờ thấy cháu nó mở đọc blog Trần Mỹ Giống. Cái tên độc đáo của ông chắc trên đời này chỉ có một. Tôi tò mò xem blog thì đúng là ông rồi. Tôi liền gọi theo số điện thoại ông ghi trên đó.

        Sau một hồi hỏi han sức khỏe, gia đình, công việc của nhau, tôi hỏi:

       - Thế bà có biết tin gì về ông Bảng không?

       Giọng bà Sen buồn sịu:

       - Ông Bảng mất rồi! Buồn lắm ông Giống ạ.

       - Sao mà mất vậy?

       - Để tôi kể ông nghe: Ông về đơn vị độ hai năm thì tôi và ông Bảng đều được xuất ngũ. Nhà ông Bảng cách nhà tôi hơn chục cây số, cùng huyện. Chúng tôi vẫn thường qua lại thăm nhau. Tôi thì nhỡ nhàng. Ông Bảng thì vợ mất vì ung thư, ở vậy một mình nuôi thằng con độc nhất. Hai chúng tôi muốn “rổ rá cạp lại”. Nhưng thằng con ông Bảng không đồng ý. Nó quát vào mặt tôi: “Tôi chỉ có một người mẹ đã mất. Cô đừng có mà dụ dỗ bố tôi. Âm mưu chiếm đất chiếm nhà hả? Rồi cô chết, tôi phải làm ma hả? Cô tránh xa bố tôi ra!”. Nó học xong thạc sĩ, lấy vợ thủ đô, con nhà quyền quý. Nó về bắt bố bán nhà cho nó mua nhà Hà Nội. Ông Bảng chiều con, bán nhà, đi ở với vợ chồng nó. Rồi không hiểu chuyện gì xảy ra, một năm sau, ông Bảng bỏ về quê, ở nhờ từ đường dòng họ. Từ đấy, ông Bảng sống như cái bóng. Ông ấy sinh ra rượu chè, lúc nào cũng rầu rĩ. Tôi thương ông ấy mà không biết làm sao. Ông ấy mất hai ngày mới có người biết. Vợ chồng thằng con về làm ma to lắm! Cơ man là ô tô xếp hàng phúng viếng…

 

         

       -2-

 

          Chú rể tôi mồ côi cha mẹ từ bé. Lớn lên ông đi bộ đội kháng Pháp. Hòa bình lập lại, ông về quê làm thợ quai búa lò rèn và xây dựng với dì tôi. Dì tôi không có con. Năm chú bảy mươi tuổi thì dì tôi mất. Hết tang vợ, nhờ người mai mối, chú lấy bà kế, gái son, gần bằng nửa tuổi chú. Mười năm, vợ chồng chú sòn sòn đẻ ba con trai. Chú tôi như trẻ lại. Thấy bố con chú đứa trên lưng, đứa dắt tay, có người trêu:

          - Bát tuần rồi thì có con thế quái nào được. Chắc cụ “tráng men” thằng khác rồi…

          Tưởng chú tôi sẽ nối cáu, nhưng ông lại cười rất tươi:

          - Ôi dào! Cá vào ao ta ta được! Kệ thiên hạ!

          Giờ thì chú tôi đã ngoại cửu tuần. Bà kế mới gần năm chục, trông cứ như con gái. Ông bà hạnh phúc như vợ chồng mới cưới…

 

          Thật là mỗi người mỗi cảnh. Hạnh phúc tùy thuộc vào quan niệm của mỗi người.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                        

                          BẠN FB

 

1- Một cụ bạn thơ trên blogtiengviet bảo: “Ông và tôi dù gì thì cũng không bỏ nhau nhé!”. Khi cả hai bỏ  blogtiengviet, sang FB, chỉ còn tôi giữ lời hứa, chăm chỉ đọc thơ cụ và “thích” đều đều. Nhưng cụ thì… chắc có quá nhiều bạn FB hâm mộ nên quên phắt lời hứa với tôi. 

Bạn mà không giao lưu thì có cũng như không.

 

2- Một ông kết bạn FB với tôi. Hai bên giao lưu thường xuyên. Một bận tôi vào trang ông nhận xét rất thật lòng, chỉ ra cái dở của nội dung bài viết. Ông bạn lập tức xóa nhận xét của tôi.

Thì ra ông này kết bạn để được khen, chứ kị chê…

 

3- Có đồng nghiệp đăng bài khoe mình được mời đọc tham luận trong một hội thảo khoa học cùng hàng trăm giáo sư tiến sĩ. Tôi “còm” chê cái tít hội thảo sai thuật ngữ (mà hàng trăm giáo sư tiến sĩ tham dự không ai có ý kiến gì), lại chỉ ra một bài trong tập kỷ yếu của hội thảo xuyên tạc lịch sử… Ngay lập tức, đồng nghiệp chặn và xóa kết bạn FB với tôi.

Bạn FB không cùng “kênh” thì tự rời đi thôi!

 

1-10-2022

 

          “SÁI”

 

Nhà thơ cao niên Nam Thắng yêu cầu tôi góp ý đôi câu đối bạn ông tặng. Tôi đọc rồi khen câu đối hay, nói được mối quan hệ của nhà thơ với quê hương, nhưng có một chỗ hơi bị sái. Hỏi sái chỗ nào? Bảo mấy từ “hồn Nam Thắng” đối với “đất Đại An” ấy! Không nên dùng chữ “hồn” cho nhân vật còn sống! Nhà thơ Nam Thắng tỏ ra không vui.

Chuyện thơ văn đôi khi cũng lạ lắm. Chẳng hạn chuyện “Sái” nói về hai trong nhiều trường hợp tôi kể dưới đây.

 

       1 - Tống Đức Hiển là đồng nghiệp, đồng liêu, đồng hương tri kỷ tri âm của tôi. Tôi có làm bài thơ tặng anh như sau:

 

                       TRI KỶ                                             

 Tặng nhà thơ Tống Đức Hiển

 

Bia vàng một cốc với nhà thơ

Phiêu lãng cung trời gót nhởn nhơ

Nếu chẳng có thơ, bia nước ốc

Hồn thơ men ngấm, tứ thăng hoa

Được thua, đen bạc quên quên hết

Thanh trọc, nhục vinh phớt phớt lờ

Thơ đẹp, bia nồng, người tri kỷ

Bồng lai tiên cảnh phải đâu mơ!

                                                                        

          Tống Hiển rất vui khi đọc bài thơ tôi tặng. Nhưng bác tôi - một nhà nho, khi đọc bài thơ này, bảo:

- Câu “Phiêu lãng cung trời gót nhởn nhơ” hơi bị  “sái”.

Không lâu sau, Tống Hiển qua đời ở tuổi 65.

 

       2 - Tôi và Nhà văn Nguyễn Danh Khôi chưa một lần giáp mặt nhau, chỉ qua các tác phẩm mà yêu quý nhau. Khôi nguyên sĩ quan quân đội, làm công tác văn hóa văn nghệ, họa khá, nhạc sành, thơ có hồn, văn có phong cách, được nhận nhiều giải thưởng. Vì viết bài chống tiêu cực, Khôi bị người ta loại ra khỏi Hội VHNT Nam Định. Họ còn tàn độc đưa Quyết định khai trừ nhằm đúng ngày Khôi tiễn con về nhà chồng. Bị cú sốc nặng nề trong đời văn, buồn mình, hận đời, Khôi tự dìm trong rượu tìm quên lãng. Nhưng càng rượu càng tỉnh, tác phẩm cứ bừng lên.

          Hơn chục lần Khôi gọi điện thoại tâm sự với tôi về cuộc đời, về văn nghệ, về thế thái nhân tình bằng giọng nhòe men. Mỗi lần điện thoại kéo dài cả tiếng đồng hồ.

Cảm mến con người tài hoa, tôi tặng Khôi bài thơ:

          NHÀ VĂN NGUYỄN DANH KHÔI

          Dẫu chẳng thiên tài, chẳng vĩ nhân

Văn, thơ, nhạc, họa cũng vang ngân

Đời dìm trong rượu, bừng trước tác

Thần!

 

Bác tôi lại bảo:

- Chữ “Thần” ở đây sái lắm!

Tôi nghĩ chữ “thần” thể hiện cô đọng tài hoa của Khôi nên không sửa.

Ba bốn lần hò hẹn gặp mặt nhau chưa kịp thực hiện thì tôi được tin Khôi đột ngột ra đi ở tuổi 60. “Những áng mây đa đoan” (Tên một tập truyện của Khôi) đã về cõi “thần” khi tài hoa đang chín đỏ.

Lúc viết, tôi quên hết mọi sự, chỉ chú tâm thể hiện cảm xúc của mình mà không nhận ra câu “sái”, từ “sái”. Đến khi việc xảy ra rồi lại suy diễn, chỉ còn biết tự trách mình.

Không biết là văn thơ có tinh hay chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng tôi đâm ra sợ sợ và không dám viết thơ tặng bạn nữa.

CHUYỆN BẾP NÚC…

 

             MỘT

        Một cụ đồng nghiệp cao niên mắng tôi trước hội nghị ba quân:

       - Mày kém tao 18 tuổi mà mày láo quá. Mày lại viết bài gọi tao là tên, tố tao ăn cướp giải thưởng của đồng nghiệp. Tao yêu cầu mày phải xin lỗi tao trước hội nghị hôm nay!

       - Vậy tôi xin hỏi bác, bác có đọc ba trang blog của tôi không? Bài tôi chửi bác là bài gì?

       - Tao không đọc!

       - Không đọc sao bác bảo tôi láo?

       - Có người xui tao!

       - Vậy trước hội nghị ba quân hôm nay, tôi xin tuyên bố: Tôi biết mười mươi các bố ăn gian giải thưởng, nhưng tôi chưa từng viết bài tố cáo. Tôi chỉ đăng bài viết của bạn đọc thôi.

       Nguyên tắc blog của tôi là: Chỉ đăng bài tác giả tự nguyện gửi nhờ đăng hoặc cho phép tải lại. Bản thân tôi chỉ viết bài về những người tôi nể phục yêu mến. Trên các blog của tôi, có nhiều bài tôi viết về bạn bè, đồng nghiệp có mặt ở hội nghị này, nhưng riêng bác thì không có bất cứ bài nào cả!

 

       HAI

       Một cụ nhà văn cao niên đáng kính kể cho tôi đoạn đối thoại của cụ và nhân vật về tôi như vầy:

       - Thằng Giống ranh con viết mạng láo lếu. Để tao làm việc với thành ủy kiểm điểm cho nó ra bã!

       - Đúng! Thằng ranh con nó mới có 45 năm tuổi Đảng, còn cụ những 86 năm quần chúng ngoài Đảng. Cụ cứ làm việc với thành ủy kiểm điểm cho nó ra bã cho biết mặt!

 

       BA

       Tôi biết rõ một vài “mánh” của mấy cụ nhằm tranh giải thưởng. Họ chỉ in số lượng rất ít, đủ tặng lãnh đạo, nộp cho Ban giám khảo để dự giải. Vậy nên, sách ăn giải rồi, bạn đọc không tìm thấy ở thư viện hay hiệu sách. Nhiều bạn đọc hỏi tôi, tôi cũng bó tay vì không có cách nào kiếm được. Có lần tôi đề nghị những người có liên quan, có trách nhiệm cho tôi chụp bìa và mục lục các sách ăn giải để giới thiệu với bạn đọc, nhưng không được đáp ứng. Có một tác giả vừa ăn giải cùng tai tiếng trong dư luận bạn đọc, mắng tôi trước hội nghị:

       - Anh là nhà thư viện mà không biết đến sách của tôi thì kém quá!

       Tôi mỉm cười, bụng nghĩ: Ông sợ tôi chỉ ra cái dở, cái gian nên dấu như mèo dấu cứt còn làm bộ. Mà các sách của ông giá trị ra sao, tôi lạ gì! Tôi chả cần nói ra thì bạn đọc họ cũng đã biết cả, bằng chứng là các bài của họ trên mạng ấy. Sưu tầm in các tác phẩm của người ta, mình có mỗi bài giới thiệu mà lại ghi tên mình trên vị trí tác giả đầu sách… Háo danh ăn gian còn bố tướng!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          SUÝT THÌ… TOI!

 

          Một lần nhà thơ, Tổng biên tập Văn Nhân, Phó Chủ tịch Hội VHNT Nam Định Phạm Trường Thi tặng Thư viện tỉnh 4 tập thơ của anh. Tôi thay mặt Thư viện nhận sách và phân công cán bộ trong phòng viết bài giới thiệu trong Thư mục địa chí, Thư mục nhân vật địa phương, nếu có thể thì viết bài đăng báo để cảm ơn tác giả. Sau thời gian khá lâu, không thấy ai nộp bài, tôi hỏi cán bộ trong phòng:

          - Đã hai tháng rồi, sao chưa thấy bài nào giới thiệu chùm sách thơ của Phạm Trường Thi vậy?

          Tất cả đồng ý kiến:

          - Chúng cháu đọc đi đọc lại cả bốn tập thơ mà chẳng thấy hứng thú gì nên viết không nổi ạ!

          Tôi đành mang bốn tập thơ về nhà đọc liền mấy đêm, gần hết tập thứ bốn mà chưa hình thành được ý tưởng viết giới thiệu thế nào. Tôi định bỏ cuộc thì bắt gặp bài “Đèn sen” khá thú vị. Bài thơ như một đốm sáng đẹp giữa tập thơ nhàn nhạt đến buồn ngủ. Cảm xúc trong tôi bừng dậy. Tôi viết liền một mạch bài bình bài thơ “Đèn sen” dài tới 8 trang A4. Đọc lại bài viết, tôi rất vừa lòng với chính mình. Tôi hý hửng mang bài đến Tạp chí Văn Nhân…

          Giữa đường, gặp ông bạn nhà văn Việt Nam, tôi khoe bài bình bài “Đèn sen”. Ông bạn nhà văn Việt Nam kêu lên:

          - Bài “Đèn sen” của Phạm Trường Thi là ăn cắp bài “Hoa sen” của Lê Hồng Thiện đấy. Đơn kiện của Lê Hồng Thiện còn lưu ở báo Văn nghệ và cơ quan bảo vệ bản quyền Việt Nam.  Ông đừng gửi đăng. Chờ tôi gửi bản pho to hồ sơ kiện của Lê Hồng Thiện cho xem…

          Không lâu sau tôi nhận được bản pho to hồ sơ Lê Hồng Thiện kiện Phạm Trường Thi đạo văn.

          Tôi dứt khoát xé bỏ bài viết của mình. Cảm ơn ông bạn nhà văn Việt Nam. Nếu bài được đăng lên Văn Nhân thì tôi còn biết chui xuống lỗ nẻ nào... May quá! Suýt thì… toi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

         

 

          THẰNG TIỂU NHÂN

 

          Khoảng hơn hai chục năm trước, thấy triển lãm trưng bày tờ báo địa phương có đăng bài của PV thống kê các nhà khoa bảng Nam Hà rất nhiều sai sót về danh hiệu, quê quán, cấp đỗ đạt… tôi liền gọi điện sang tòa báo góp ý. Ông Khang khi ấy là Phó Tổng biên tập trả lời tôi:

          - Bài báo ấy là của Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền đấy anh ạ.

          Tôi rất ngạc nhiên, không tin nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền lại viết sai sót đến vậy. Công việc cuốn hút, tôi không còn chú ý đến chuyện này nữa. Bỗng một hôm nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền đột ngột đến tặng tôi hai bản thảo bài báo chép tay:

          - Đây mới thực là bài viết của tôi. Bài đăng lên báo đã bị Trưởng phòng Trần Đức L. ký bút danh PV biên tập làm hỏng cả…

          Tôi đọc kỹ bản thảo thì thấy nội dung khá chuẩn xác, rất trùng hợp với kết quả công trình nghiên cứu “Các nhà khoa bảng Hà Nam Ninh” của tôi.

          Khi bác Nguyễn Văn Huyền mất, tôi viết bài “Kỷ niệm nhỏ về nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền” đăng trên Tạp chí Văn hóa tỉnh(1), có nhắc lại chuyện bài báo trên. Từ sau bài đăng này, Tạp chí Văn hóa bỗng nhiên không đăng bài của tôi nữa, dù tôi gửi bài thường xuyên. Tôi hỏi lý do thì một cán bộ tạp chí cho biết:

          - Tay Trần Đức L. điện cho cậu B. phụ trách Tạp chí Văn hóa, trách: “Sao ông lại đăng bài ông Giống kể xấu báo Đảng vậy?” Tay B. sợ xanh mặt, không dám đăng bài của anh nữa…

          Thời Trần Đại Quyết làm Tổng biên tập báo địa phương, bài vở của tôi được đăng thường xuyên. Tôi thường được mời dự hội nghị gặp mặt cộng tác viên. Nhưng từ sau vụ bài báo viết về Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền của tôi trên Tạp chí Văn hóa, nhất là sau khi Trần Đại Quyết nghỉ hưu và mất, tôi không còn được mời dự hội nghị cộng tác viên nữa. Tôi có gửi bài nhưng không được đăng. Một phóng viên dấu tên cho biết:

          - Cháu không hiểu sao, bài của chú đưa lên lãnh đạo đều bị anh Trần Đức L. loại ngay…

          Thời này Trần Đức L. là trưởng phòng rồi lên Phó Tổng biên tập. Công tư lẫn lộn như thằng này làm sao lên Tổng biên tập được? Tôi nghĩ vậy và quyết định không viết bài cho báo địa phương từ đó.

          Bữa Tiến sĩ Hoàng Ngọc Trì viết bài giới thiệu cuốn “Các tác giả Hán Nôm Nam Định” gửi cho báo địa phương, tôi bảo với nhà thơ Hoàng Ngọc Trúc:

          - Thằng Trần Đức L. thù em. Nó không đăng bài viết về em đâu bác ạ!

          Nhà thơ Hoàng Ngọc Trúc bảo:

          - Yên tâm đi! Anh Trì nguyên thư ký báo địa phương, là thầy cuả Trần Đức L. Dù không ưa chú, nhưng nó phải nể anh Trì.

          Kết cục, Trần Đức L. không đăng với lý do: “Ông Giống không xứng đáng được giới thiệu”. Cậu T. hóng chuyện buột miệng: “Cụ Hoàng Ngọc Trúc giới thiệu tác phẩm, đâu phải giới thiệu tác giả. Trước đây, tháng nào Trần Đức L. cũng sang Thư viện sưu tầm tư liệu, có lần còn mang cả nhuận bút cho chú Giống. Đúng là thằng tiểu nhân!”

          Bài giới thiệu sách “Các tác giả Hán Nôm Nam Định” của Ts. Hoàng Ngọc Trì đã đăng ở Tạp chí Văn Nhân(2). Sau đó “Tác giả không xứng đáng giới thiệu” hai lần được nhận Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh.

          Còn Trần Đức L., cho đến khi về hưu, vẫn không được duyệt lên Tổng biên tập… 

         

TMG

…………………

 

Chú thích:

 

    (1) Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr. 37 – 38.

    (2) Tạp chí Văn nhân. - 2009. – Số 63 - 64. – Tr. 54 – 55.

 

 

 

 

 

 

 

          BỚI THƠ CHÊ DỞ

 

 

          Một ông bạn nhà thơ cao niên rất thân với tôi. Ông có gần bảy chục năm làm thơ, đã in hơn hai chục tập. Sở trường của ông là thơ Đường luật. Một lần trà dư tửu hậu, ông đọc một bài thất ngôn bát cú, bảo đó là thơ của bạn ông và “thách” tôi chỉ ra được chỗ nào dở. Tôi nghe giọng thơ, biết thừa là thơ của chính ông. Muốn trêu ông một tý chơi, tôi vờ hỏi:

- Em hỏi lại: Thơ của bác, hay của ai?

Ông bạn già cũng vờ bảo:

- Thơ của một người bạn tôi! Chú cứ chê thoải mái thật lòng vào. Riêng tôi thì thấy bài thơ hay tuyệt, niêm luật chặt chẽ, đối rất chỉnh… Tôi thích nhất cặp câu thực, lấy “hoàng bào” đối với “áo vải”… Nó thể hiện rõ về người anh hùng áo vải Quang Trung.

Để không khí trầm lắng một lúc, đủ cho ông bạn già khoái chí đắc thắng, tôi mới làm bộ e ngại:

          - Bài thơ viết về anh hùng áo vải Quang Trung rất hay. Tuy nhiên, mỗi sự vật đều mang trong nó hai mặt đối lập, có hay có dở. Bác yêu cầu, em vẫn có thể bới ra chê được. Nhưng bác đừng nói với tác giả cơ!

          Ông bạn động viên:

          - Thì chú cứ thử chỉ ra chỗ nào dở coi!

          Lúc này tôi mới xổ ra một tràng:

          - Cặp câu thực, lấy “hoàng bào” đối với “áo vải” (bằng bằng đối với trắc trắc) đọc lên, thấy nó đối thanh chan chát. Nhưng về nghĩa, “hoàng bào” chỉ cái áo, “áo vải” cũng là áo. Áo đối với áo là không đạt. Áo thì phải đối với quần mới chỉnh. Lại nữa, “hoàng” trong “hoàng bào” là màu vàng, nhưng trong “áo vải” không có màu đối lại… Thế là chưa chỉnh. Về hình thức, “hoàng bào” là từ Hán Việt, “áo vải” là từ thuần Việt. Từ Hán Việt phải đối với từ Hán Việt, từ thuần Việt phải đối với từ thuần Việt… mới chỉnh. “Hoàng bào” – từ Hán Việt đối với “áo vải” – từ thuần Việt là không chỉnh, là dở...

          Ông bạn nhà thơ cao niên nghe vậy, mặt bệch ra như người trúng gió.

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ TRẦN GIA

 

         

          Kính thưa các cụ, các ông, các bà cùng con cháu Trần gia!

 

          Từ đường họ Trần Cả và từ đường các ngành họ Trần làng Trà Lũ Trung ta đã có từ lâu đời, nhưng nhà thờ Trần gia ta bây giờ mới được xây dựng. Gia đình cụ Trần Mỹ Thụy hiện tại rất ít suất đinh, còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, nên việc hoàn thành ngôi nhà thờ nhỏ này đã là một cố gắng lớn, một sự kiện đáng mừng.

          Nguyên trước đây, mảnh đất của cụ Trần Mỹ Thụy sinh sống đã hiến cho địa phương xây Nghĩa trang liệt sĩ xã. Hai anh em cụ Trần Mỹ Vượng và cụ Trần Mỹ Thụy ra mẩu đất bên sông sinh sống. Sau năm 1960, cụ Trần Mỹ Vượng đi vùng kinh tế mới Yên Thế (Bắc Giang) rồi về lập nghiệp tại xã Giao Lạc (Giao Thủy, Nam Định). Nay con cháu cụ đứng đầu là ông Trần Mỹ Hữu trưởng tộc, đã xây lăng mộ các cụ và chọn nơi thờ cúng ở Giao Lạc. Còn các con cháu cụ Trần Mỹ Thụy vẫn đi về chăm nom lăng mộ và thờ cúng tổ tiên tại quê hương xã Xuân Trung.

          Trước khi qua đời (2008), cụ Trần Mỹ Thụy di ngôn và các con đã thực hiện nghiêm túc:

          Mảnh đất hương hỏa của hai cụ (khi ấy cụ bà Trần Thị Cháu đã mất 1994) được chia làm hai phần. Phần phía bắc thừa kế riêng cho con thứ hai cụ là ông Trần Mỹ Đằng. Bốn người con còn lại (Trần Mỹ Giống, Trần Mỹ Giang, Trần Thị Hà, Trần Quốc Hải) thừa kế phần đất còn lại (tính từ giọt danh ngôi nhà cấp bốn của cụ hất về phía nam), giao cho Trưởng nam Trần Mỹ Giống quản lý, làm nơi thờ cúng tổ tiên chung cho Trần gia.

          Anh em ông Trần Mỹ Giống thực hiện di nguyện của cha như sau:

          - Năm 2020 xây lăng tổ tiên bảy chục mét vuông tại nghĩa trang nhân dân xã Xuân Trung.

          - Năm 2022 xây nhà thờ Trần gia. Đến nay công trình  cơ bản đã hoàn thành.

 

          Ban thực hiện:

- Ông Trần Mỹ Giống phụ trách chung, vận động thu gom tiền.

- Ông Trần Quốc Hải tổng chi huy thực hiện, tìm thuê thợ, thiết kế xây dựng.

- Ông Trần Mỹ Đằng giám sát thi công, trông coi vật tư.

          - Ông Trần Mỹ Trực (họ ngoại - em bà Trần Thị Cháu) giúp đỡ trực tiếp lo điều hành thi công…

 

          Nhà thờ Trần Gia nằm trên mảnh đất nhỏ, quay hướng nam, hình cá chép, đầu phía nam, đuôi phía bắc. Mắt cá là khóm tre lâu năm xanh tốt. Bên trái nhà thờ là con sông xanh mát quanh co chảy êm đềm. Bên phải nhà thờ là con đường liên xã rộng 7 mét, rải nhựa. Đúng là thế đất tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. 

          Nhà thờ Trần gia làm theo móng nhà cũ của cụ Trần Mỹ Thụy, diện tích 50 mét vuông, tường gạch đỏ, mái và các chi tiết bằng bê tông, cửa gỗ lim. Trên nóc mái đắp hai con rồng chầu quay đầu vào bức cuốn thư “Đức Lưu Quang”. Trước sân là hai cột đèn xây gạch. Hai bên cánh gà đắp tranh rồng phượng, hoa lá. Nội cung chia ba gian. Gian chính giữa bầy bộ ngai và bàn thờ.

          Trong ngai đặt bài vị cụ tổ ghi chữ Hán, phiên âm là “Trần quý công húy Oánh tự Huệ Văn, Tiền cường cơ lục đội, Chánh đội trưởng”. Nghĩa nôm na là: Cụ Trần Công Oánh, tên tự là Huệ Văn, giữ chức Đội trưởng đội quân tiên phong thứ sáu, thuộc quân cơ.

          Trên cao là bức đại tự:

 奉 先 思 孝

          Phụng tiên tư hiếu

          Nghĩa là:

          Kính thành thờ phụng tổ tiên, để cháu con giữ gìn đạo hiếu.

          Hai cột hai bên là đôi câu đối:

先 祖 滋 培  仁  德  樹

子 孫 克 绍 孝 慈 心

Phiên âm:

Tiên tổ tư bồi nhân đức thụ,

Tử tôn khắc thiệu hiếu từ tâm.

Nghĩa là:

Tiên tổ vun trồng, cây nhân đức dài lâu trên đất cũ.

          Cháu con nối tiếp, lòng hiếu từ còn mãi với nhân gian.

 

          Tổng kinh phí xây nhà thờ và các công trình phụ (bếp, vệ sinh, điện, nước, sân, cổng…) là chín trăm triệu đồng. Hiện con cháu công đức, suất đinh đóng góp được 250 triệu đồng và một chỉ vàng (quy đổi thành khoảng hơn 5 triệu đồng). Cụ thể:

          - Cụ Trần Thị Lan (tức cụ Mạo) một chỉ vàng.

          - Bà Nguyễn Thị Kim Oanh (vợ ông Trần Mỹ Giang) 10 triệu đồng.

          - Cháu Đặng Thị Hà Ngọc (con gái ông bà Hà - Rư) 30 triệu đồng.

          - Cháu Trần Thị Thanh (Con gái ông bà Giống – Khế) 30 triệu đồng.

- Cháu Trần Thị Trang (Con gái ông bà Hải – Hương) 10 triệu đồng.

- Cháu Trần Thị Huyền (Con gái ông bà Hải – Hương) 10 triệu đồng.

- Cháu Trần Thị Ngọc Hiệp (Con gái ông bà Giang - Oanh) 10 triệu đồng.

          - Cháu Trần Mỹ Hưng (Con trai ông bà Giống – Khế) 70 triệu đồng.

- Cháu Trần Ngọc Minh (Con trai út ông bà Giống – Khế) 60 triệu đồng.

- Cháu Trần Nguyên Hoàng (Con trai ông bà Giang – Oanh) 30 triệu đồng.

          Số còn lại anh em ông Trần Mỹ Giống, Trần Quốc Hải, Trần Thị Hà tạm ứng ra chi.

 

          Thay mặt Trần gia, tôi xin chân thành cảm tạ các cụ, các ông bà, anh em, con cháu nhiệt tình đóng góp sức người, sức của hoàn thành ngôi nhà thờ Trần gia. Chúng tôi ghi công đức của các vị khởi dựng nhà thờ Trần gia vào gia phả, nếu có thể sẽ lập bia công đức để con cháu đời đời ghi nhớ.

          Xin chân thành cảm ơn Nhà Hán Nôm học Dương Văn Hòe (con trai nhà nghiên cứu Hán Nôm Dương Văn Vượng) nhiệt tình tham mưu giúp đỡ Trần gia về lựa chọn thể hiện phần chữ Hán.

          Mong các con cháu Trần gia tiếp tục hướng tâm đóng góp chăm sóc duy trì và phát triển ngôi nhà thờ Trần gia tồn tại lâu dài, làm điểm quy tụ đồng tộc, tri ân tiên tổ…

         

                                      Xuân 2023

                   Trưởng nam của cụ Trần Mỹ Thụy

                                  Trần Mỹ Giống

 

 

 

 

 

 

 

THƠ TRẦN MỸ GIANG - EM TRAI RUỘT TÔI

 

Chú em tôi là cựu Thượng tá Nhà báo công an nhân dân đã nghỉ hưu tám năm hiện đang bệnh… Gần đây tự nhiên em tôi có nhu cầu thể hiện cảm xúc bằng văn vần, thơ. Cũng lạ, từ trước đến nay, bao nhiêu năm làm công tác chính trị và làm báo, chưa một lần thấy em tôi viết thơ. Vậy mà chỉ từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2020, em tôi đã viết tới gần hai trăm bài thơ, đầy hai cuốn sổ tay dày… Viết thơ thành nhu cầu mạnh mẽ thể hiện cảm xúc của em tôi. Ngày nào không viết là em tôi không chịu được, có ngày viết tới năm sáu bài, bởi “Một ngày không viết cứ chơi vơi”.

Em tôi viết về những sự vật, sự kiện thường ngày và nhớ về quá khứ. Qua đó bộc lộ cảm xúc dâng trào, tình cảm lắng đọng và mơ ước tương lai của bản thân. Một cây khoai lang trồng cảnh trên bình nước, một cơn mưa rào, một ngày nắng nóng, mùa thu, sông Hồng… cũng đều là đối tượng để em tôi tức cảnh sinh tình. Trong thơ em tôi, hình ảnh một “EM” cứ hiển hiện như một bóng hồng khi là hoài niệm quá khứ xa xôi, khi là hiện tại, trong đó chắc chắn bóng hình của thím Oanh - vợ em tôi góp phần rất lớn. Quê hương hiện lên qua  những hình ảnh xuất hiện nhiều lần như cái cổng duối vòm xanh cõng một loài cây hoa đỏ, con sông quê yên ả chảy quanh làng, trẻ con hàng ngày tắm hụp nô đùa, sân trường đầy hoa phượng rải thảm đỏ ôm ấp nuôi dưỡng tuổi thơ… Chẳng hạn, một chiều từ cửa sổ tầng cao chung cư nhìn xuống:

CẢM HỨNG SÔNG HỒNG

          …Ven sông đồng bãi non xa,

Nương ngô xanh mướt, lòng ta bồi hồi.

          Bóng ai thấp thoáng bãi bồi

Nụ cười thôn nữ chơi vơi giữa dòng.

          Vẳng nghe ai hát ven sông

Câu hò bến cũ đợi mong ai về.

          Bóng cô thôn nữ triền đê

Lối xưa còn đó em về chiều hôm.

          Vẫn đây chiếc cổng xanh vòm

Hàng trăm năm ấy vẫn còn tươi xanh.

          Em nhìn ánh mắt long lanh

Cho ai nỗi nhớ vòm xanh thắm hồng.

          Nghìn năm vẫn chảy sông Hồng

Phù sa một giải, non sông vững bền!

                                 17 giờ 22.7.2020.

Hoặc như lần cùng “EM” về thăm quan họ”:

MÙA XUÂN NÀY EM VỀ MIỀN QUAN HỌ

Mùa xuân này em về miền quan họ

Dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ

Ngồi tựa mạn thuyền nghe câu hát đợi chờ

Em sẽ vui nụ cười tươi trong gió

Bóng em trên con đường quê yên ả

Cánh đồng lúa xanh trải rộng xa xa

Em mặc áo tứ thân xinh đẹp thướt tha

Sau vành nón ba tầm nụ cười em duyên quá

Em mê say người quan họ hát trao duyên

Mưa xuân nhè nhẹ má ửng hồng e thẹn

Câu hát xưa man mác tâm hồn

Chín đợi mười trông nỗi nhớ trong ngần

Em nhớ mãi về miền quan họ

Câu hát trao duyên người níu bước chân

Người ơi người ở đừng về

Dù xa quan họ nhớ về hội xuân

14-6-2020

Tôi biết, ngày nay người người làm thơ, nhà nhà chơi thơ, nước ta như “cường quốc thơ” nên tôi không khoe nhiều về thơ của em tôi. Nhưng có một điều tôi không thể không nhắc đến. Đó là hình ảnh MẸ trong thơ em tôi cứ ẩn hiện trong nhiều bài thơ với cảm xúc tình cảm da diết sâu lắng chân thật. Có thể hình ảnh MẸ của em tôi cũng chính là MẸ của anh em chúng tôi nên cảm xúc của em tôi cũng đồng điệu cảm xúc của tôi, vì thế tôi rất ấn tượng với các bài viết về MẸ của em tôi. Xin trích một số bài về MẸ của em tôi:

NHỚ MẸ

          Mẹ xa hai bảy năm rồi

Nhớ thương những lúc con ngồi lặng im

          Lòng con nghẹn ứ trong tim

Bồi hồi trong dạ con tìm về quê

          Đường xưa, lối nhỏ còn kia

Tần ngần trước ngõ, con về nhìn lên.

          Vẫn nhà mái ngói ba gian

Vẳng nghe tiếng mẹ ru con thủa nào.

          Rưng rưng nước mắt nghẹn ngào

Lời ru da diết thấm vào tim con.

          “Cánh cò bay lả rập rờn”

Đồng xa mấy độ lúa non thu về

          Nhớ sao những sáng, chiều quê

Thanh Nhang, chợ Bể đi về sớm khuya

          Long đong, lận đận nắng mưa

Nuôi con ăn học, dạy cho nên người.

          Trời cao mẹ vẫn mỉm cười

Bên con nâng bước đường đời con đi.

          Mẹ là tất cả mẹ ơi

Nghĩa mẹ cao cả suốt đời con mang.

                                                 14.7.2020.

TIẾNG ĐÀN BẦU.

          Đàn bầu thánh thót đêm hè

Cung trầm da diết nhớ về mẹ tôi

          Như nghe tiếng mẹ ru hời

Gửi vào nỗi nhớ một thời ấu thơ

          Cánh diều bay bổng ước mơ

Cung thanh tha thiết lời thơ dâng Người

          Rưng rưng con gọi MẸ ơi!

Nhờ cơn gió mát chuyển nơi suối vàng

          Tiếng đàn trầm bổng âm vang

Hồn thơ trong trẻo xốn xang đất trời.

          Con đi những chặng đường đời

Mang theo câu hát những lời mẹ ru.

                                     5 .2020

LỜI RU

          Vẳng nghe ai hát lời ru

Ru con, con ngủ mùa thu xanh trời.

          Lòng sao lại thấy bồi hồi

Lời ru của mẹ một thời ấu thơ.

          Lời ru gọi những giấc mơ

Ngọt ngào sữa mẹ đến giờ không quên.

          Lời ru nâng bước chân con

Xa quê luôn gửi tâm hồn về quê

          Câu ca gọi kỷ niệm về

Lời ru của mẹ thềm hè mênh mang.

          Đường đời con bước xốn xang

Lời ru của mẹ con mang suốt đời.

                             7.9.2020.

Em tôi vốn không phải nhà thơ, chỉ là những cảm xúc tình cảm trong những khoảnh khắc nhất định có nhu cầu được bộc lộ, nên tôi không bàn thơ hay hay dở. Cái chính tôi cảm nhận được là tình cảm đồng điệu của anh em tôi về mảnh đất con người quê hương, đặc biệt là về MẸ. Một ai đó từng nói, đại ý: Khi ngôn ngữ không diễn đạt được thì âm nhạc sẽ lên tiếng. Thật tiếc, tôi không có khả năng viết nhạc. Vậy xin được mượn ca khúc “Qua đò nhớ mẹ” của Ngọc Tiến - Ngọc Hạnh có giai điệu và lời ca gần gũi với cảm xúc của anh em tôi để trải lòng mình.

Chúc em trai nhiều điều may mắn hạnh phúc. Cầu cho em mau hồi phục sức khỏe, tiếp tục viết những vần thơ trải lòng mình…

Thành Nam, 15-12-2020

 

 

 

BỐ CÓ BẰNG PHÓ THỦ TƯỚNG KHÔNG?

 

 

 

Thằng Tĩn:

- Con đố bố biết tỉnh ta có mấy Trạng nguyên?

Bố Tĩn vui vẻ:

- Dễ ợt! Có 5 Trạng nguyên.

Tĩn cười toe:

- Sai toét! Có 6 ông Trạng mới đúng!

Bố Tĩn:

- Trứng khôn hơn vịt! 5 Trạng của tỉnh ta là Nguyễn Hiền, Đào Sư Tích, Trần Văn Bảo, Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn Chiêu. Mày nói xem ông Trạng thứ sáu là ai?

Tĩn vênh mặt:

- Đó là Trạng nguyên Nguyễn Hiếu!

Bố Tĩn:

- Làm gì có ông Trạng Nguyễn Hiếu nào? Mày mà giỏi bằng bố à?

Tĩn:
        - Thế bố có giỏi bằng ông Phó Thủ tướng nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục không?

Bố Tĩn lúng túng:

- Ơ... à... Tao chỉ là dân đen, làm sao dám so với ông Phó thủ tướng.

Tĩn đắc thắng:

- Thì thế, chính ông Phó Thủ tướng đọc rất rõ ràng trong lời phát biểu tại buổi mít tinh kỷ niệm thành phố đón nhận quyết định lên loại một như vậy mà!

- !!!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ

 

Nhà thơ họ Đỗ là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thơ họ Đỗ vào loại khá trong mặt bằng thơ ở tỉnh. Lão coi nhà thơ họ Đỗ là bậc đàn anh đáng kính nể.

Trước Đại hội nhiệm kỳ, nhà thơ K và nhà văn Việt Nam P là hai người thân thiết với nhà thơ họ Đỗ bảo lão:

- Đại hội tới chú nên vận động cho Đỗ tranh chức chủ tịch hội để nó xốc lại hội. Lãnh đạo hội phải là những người có đẳng cấp cao…

Lão vâng vâng dạ dạ, nhưng trong lòng cứ thấy băn khoăn không biết nhà thơ họ Đỗ tuổi đã cao có chịu ra gánh vác chức vụ không. Nhân có mặt cả ba bậc đàn anh, lão nói với nhà thơ họ Đỗ:

- Nếu bác quyết ra gánh vác chức chủ tịch hội thì em sẽ bỏ phiếu cho bác, vận động bạn bè em bỏ phiếu cho bác.

Nhà thơ họ Đỗ giãy nảy như đỉa phải vôi:

- Chú chỉ xui dại. Anh bảy mươi rồi, ra mà hót cứt cho chúng nó à?

Nghe nhà thơ họ Đỗ nói vậy, lão thưa:

- Vâng! Vậy họ đề cử thì tốt nhất bác xin rút luôn cho an toàn. Kẻo nhỡ để bầu mà trúng thì… mệt lắm!

Khi đại hội bầu ban lãnh đạo, lão chẳng thấy nhà thơ họ Đỗ rút tên khỏi danh sách đề cử. Nhưng tin là nhà thơ họ Đỗ nói thật lòng với mình nên lão gạch tên nhà thơ họ Đỗ đầu tiên trong phiếu bầu. Kết quả nhà thơ họ Đỗ rớt.

Mấy tháng sau, được tin nhà thơ họ Đỗ nhận chức phó trưởng bộ môn, lão ngạc nhiên: Không thèm làm chủ tịch, sao lại ra làm tổ phó bộ môn? Lão đem thắc mắc tâm sự với mấy bậc đàn anh. Đàn anh P bảo:

- Là do các anh cử thằng Đỗ làm phó bộ môn để nó ra dọn dẹp và làm trụ cột cho bộ môn, không thì bộ môn nát hết.

Thế rồi nhân tập thơ của nhà thơ họ Đỗ đoạt giải nhất giải thưởng tỉnh, lão thức suốt một đêm cặm cụi đánh máy hết tập thơ, soát đi soát lại mấy lần, rồi đăng lên mạng khoe với thiên hạ. Bạn đọc, bạn thơ đọc tập thơ trên blog của lão đã phát hiện và phanh phui nhà thơ họ Đỗ đạo thơ. Một bạn thơ cùng bộ môn ký bút danh Minh Thư viết bài dài trên báo của Thủ đô tố nhà thơ họ Đỗ ăn gian giải thưởng trung ương trong một cuộc thi thơ bằng bài thơ phạm quy, lại là bài có câu thơ hay nhất thì đạo của một đồng nghiệp đã quá cố.

Trong mắt lão, hình ảnh thần tượng của lão bắt đầu nghiêng ngả.

Khi tạp chí Văn Nghệ in bài của nhà thơ họ Đỗ có nội dung vừa lạc hậu, vừa thiếu cơ sở khoa học, lão ngứa mắt liền viết bài phản biện. Chẳng hiểu vì lý do gì mà có mấy vị trong lãnh đạo tìm mọi cách ngăn cản để bài phản biện không được lên trang. Sự việc phải đưa ra ban thường vụ cơ quan chủ quản tạp chí, kết luận bài phản biện đảm bảo tính khoa học thuần túy, cần phải đăng. Nhưng qua ba số tạp chí, bài đã lên khuôn lại bị người có quyền có chức lệnh mồm gỡ xuống. Khi không thể ngăn cản được, phải lên trang thì người ta biên tập làm mục tiêu phản biện trệch ra ngoài ý định tác giả. Cùng thời gian này, mấy trang blog của lão bị phá liên tục. Trang FB của lão bị đóng do “có người báo cáo vi phạm”.

Niềm tin xưa nay của lão chao đảo. Trong mắt lão, thần tượng nhà thơ họ Đỗ sụp đổ hoàn toàn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÃY BỎ PHIẾU BẦU TÔI LÀM CHỦ TỊCH...

             (Phiếm)

 

Thưa các vị hội viên Hội Văn Gừng.

Khi chưa quan tâm đến việc làm quan, tôi chẳng nhìn thấy các vị đâu hết, hoặc có nhìn thấy thì chẳng khác gì nhìn những người bé nhỏ xa lạ như con sâu cái kiến. Nhưng từ mấy năm nay khát vọng làm quan trong tôi bùng cháy như Hỏa Diệm Sơn, bỗng nhiên tôi nhớ đến các vị. Lạ thay, hai con mắt tôi trở nên sáng láng, săm soi thấy từng chân tơ kẽ tóc của các vị. Các vị đừng sợ tôi nắm được gót chân A Sin của các vị nhằm khống chế các vị, miễn là các vị không chống đối tôi. Một khi các vị đã ủng hộ tôi thì các vị trở thành Thượng đế của tôi.

Có câu: “Mua quan bán chức” rất chi là thực tế. Cái này tôi sẽ tự lo liệu, không cần các vị quan tâm. Tôi chỉ mong các vị đồng cảm với những gì tôi trình bày dưới đây và bỏ phiếu cho tôi:

Kính thưa các vị hội viên Hội Văn Gừng - thượng đế của tôi!

Hội ta sắp bước vào kỳ Đại hội mới để bầu ra một ban lãnh đạo mới. Đối chiếu với tiêu chuẩn lãnh đạo, cụ thể là chức danh Chủ tịch, tôi thấy mình quá đủ. Và so với một số vị Chủ tịch tiền nhiệm, tôi không thua kém, nếu không nói là hơn hẳn. Vậy thì lý do gì tôi lại không thử vận may, ra ứng cử - đấu thầu chức Chủ tịch Hội ta?

Này nhé:

Nói về học vị thì tôi có bằng Đại học tại chức, tuy còn thua một vài vị Thạc sĩ và Tiến sĩ giấy, nhưng so với mấy vị lãnh đạo bằng đặc cách, bằng hữu nghị, bằng rởm thì bằng tại chức của tôi đâu có kém gì. Nhà nước trả lương cán bộ không phân biệt bằng chính quy hay tại chức. Tất cả các bằng cùng cấp ở mọi hình thức khác nhau đều có chung một thang lương đấy thôi. Mà dù bằng của tôi là loại tại chức, dù là văn hóa tôi mới hết cấp hai, còn cấp ba thì học nhảy cóc một năm ba lớp, thì nó vẫn là bằng đại học. Tôi thách ai chứng minh được bằng tại chức của tôi không phải là bằng đại học đấy!

Nói về cái Tâm, tôi tự thấy hơn ai hết tình cảm của tôi với Hội nói chung và chức danh Chủ tịch nói riêng là vô cùng mãnh liệt. Người có tình cảm sâu đậm như tôi tất yếu sẽ hết lòng vì lợi ích chung của Hội, trong đó có lợi ích riêng của các vị. Mấy vị lãnh đạo tiền nhiệm từng sẵn sàng hy sinh lợi ích của các vị để mưu lợi ích cá nhân mình. Cách xử lý quen thuộc của mấy vị tiền nhiệm thật là hạ sách. Thực tế hạ sách đó đã gây ra bao nhiêu chuyện thị phi, mất đoàn kết, mất hết tình đồng hội, phá vỡ sự ổn định của hội. Các vị cứ nhìn lại các giải thưởng của Hội ta thì rõ: Có kỳ giải nào mà các giải cao nhất không rơi vào tay các vị lãnh đạo không?

Tôi sẽ không dùng hạ sách như các vị tiền nhiệm, mà dùng thượng sách là hành xử sao cho vừa lợi người vừa lợi mình. Vì thượng sách này, tôi sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, kể cả lừa bịp xấu xa, ăn không nói có, làm láo báo cáo hay, lừa trên dối dưới... miễn là tôi và các vị đều hưởng lợi. Chẳng hạn, các vị có tác phẩm, tôi có quyền hoặc ảnh hưởng để các vị được giải cao. Lộc bất tận hưởng, các vị được danh, tất nhiên không quên cho tôi được tiền. Đúng không nào. Như thế chúng ta sẽ tự phát một nhóm lợi ích gắn bó chặt chẽ với nhau, đảm bảo sự đoàn kết nội bộ không một cá nhân hay một thế lực nào có thể phá vỡ.

Nói về tài, tôi có hơn chục đầu sách riêng chung đã ra mắt công chúng, đủ cả thơ, văn, nghiên cứu phê bình, nhạc, họa, sân khấu, đạo diễn... Dù là sách mỏng dính, dù là sách in vài chục bản để lấy tài trợ, dù sách chả ma nào thèm đọc, thì nó vẫn là đầu sách. Tình trạng này bây giờ phổ biến, tôi làm sao thoát ra được quy luật dòng chảy đó? Còn về giải thưởng? Quá đơn giản. Tôi đã có dăm ba giải thưởng, dù là giải thưởng phải thưởng ngược hay giải thưởng đi xin, dù là giải thưởng ăn gian, hay giải thưởng phạm quy, dù là giải thưởng vận động hay giải thưởng tranh cướp được... thì nó cũng là giải thưởng. Và, nếu cần đánh bóng thêm mình, tôi sẽ trích ra mươi tháng lương mua thêm vài giải nữa. Số lượng đầu tác phẩm và giải thưởng là tiêu chí đánh giá cái tài của mỗi hội viên, đúng không nào? Vậy thì với số đầu sách và số giải thưởng tôi sở hữu, ai dám bảo là tôi kém tài hơn người khác?

Về tuổi tác và sức khỏe: Bây giờ tôi mới lục tuần, sức khỏe còn phong độ lắm. Nhiều anh lãnh đạo Bộ và Hội bạn khen tôi trẻ, khỏe, đẹp trai nhất Liên hiệp. Nói về tuổi tác, so với Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh thì tôi chỉ là em út. Nếu lấy Hữu Thỉnh làm gương, thì tôi có thể giữ chức Chủ tịch Hội ta bốn khóa liền.

Kết luận: Tâm tầm tài đức tôi đều đủ cả. Các vị thực sự mong muốn góp sức xây dựng Hội, muốn có một minh chủ thì hãy bỏ phiếu bầu tôi làm Chủ tịch.

Nếu trúng chức Chủ tịch, tôi sẽ:

- Quan tâm và tìm mọi cách để chia chác những giải thưởng VHNT của hội cho các vị đã bỏ phiếu bầu cho tôi, nâng đỡ các vị tình nguyện gia nhập cánh hẩu với tôi. Tạp chí của Hội sẽ trở thành tạp chí riêng của nhóm lợi ích, đảm bảo số nào các vị cũng có bài đăng, dù thơ văn các vị đến chó cũng không ngửi được. Tôi sẽ ưu tiên các vị đi du hý xả láng dưới hình thức giao lưu nghiệp vụ, tập huấn tay nghề, đi trại sáng tác... bằng tiền chùa của Hội. Tôi sẽ bố trí các vị vào các vị trí phù hợp trong bộ máy quản lý, lãnh đạo của Hội ta. Đổi lại, các vị hãy ra sức tuyên truyền đánh bóng Chủ tịch của các vị...

- Các vị từng bị mạng internet bêu danh, moi móc tố cáo cái xấu xa của mình hãy yên chí lớn đi. Đảm bảo, tôi sẽ đấu tranh dẹp bỏ bằng được các trang mạng cá nhân dám viết bài nói xấu hội và các hội viên của Hội ta. Nhà nước ta có những văn bản hạn chế internet, đặc biệt là có thể bỏ tù những bloggers dám đăng bài chống đối mà chúng gọi là phản biện. Chúng ta sẽ hùa nhau sáng tác các tội danh của các trang mạng chống đối mà làm đơn tố cáo với các cơ quan chức năng, để họ có chứng cứ khép tội bọn bloggers đối lập với chúng ta, xóa bỏ các trang mạng của bọn chúng. Khi dẹp yên được các trang mạng cá nhân chống đối chúng ta rồi, thì các vị cứ tha hồ mà đạo văn, tha hồ mà ăn gian giải thưởng, tha hồ khai man lý lịch để cầu lợi, tha hồ mà tự tung tự tác. Khi những trang mạng đa chiều như trang của Trần Mỹ Giống bị dẹp yên rồi, thử hỏi còn ai dám sử dụng mạng internet để phê phán chúng ta nữa?

- Tôi sẽ thẳng tay bóp chết ngay từ trong trứng nước những mưu toan chống lại tôi. Những kẻ chống lại tôi chính là chống lại chúng ta. Bởi: Tôi mà đổ, thì bổng lộc của các vị cũng chẳng còn. Tôi còn vững vàng trên ghế Chủ tịch, thì các vị cứ việc kê cao gối mà yên nghỉ, cứ đều đều hưởng thụ bổng lộc do lợi ích nhóm đem lại. Thế nên: Các vị muốn lợi ích của mình lâu dài, tất yếu phải bảo vệ Chủ tịch của mình. Chúng ta cùng cô lập, nói xấu, hạ nhục, tẩy chay, ném phân gio vào nhà bọn chống đối chúng ta. Chúng ta sáng tác thơ văn đăng báo chí, viết đơn thư nặc danh bôi nhọ bọn chống đối chúng ta, gửi cho các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương và gia đình bọn chúng để chúng sống dở chết dở, để chúng không còn sức mà chống lại chúng ta. Và, phát huy truyền thống quý báu của các vị tiền nhiệm, chúng ta sẽ thẳng tay đơn phương truy chụp và quyết nghị khai trừ vắng mặt những kẻ cố tình chống đối chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta giữ gìn được sự đoàn kết chặt chẽ, ổn định lâu dài.

Có lẽ bằng ấy lý do cũng đủ để các vị nhận diện rõ ai không xứng đáng và ai xứng đáng mà quyết định không bỏ phiếu hay bỏ phiếu bầu ai làm Chủ tịch Hội Văn Gừng của chúng ta rồi nhỉ.

Hãy sáng suốt bỏ phiếu bầu tôi làm chủ tịch các vị nhé!

Cảm ơn các vị.

 


          CƯỠNG CHẾ THẮNG LỢI

 

Thằng Tĩn đang chúi mũi vào cái điện thoại bỗng reo lên:

- Hoan hô! Chính quyền đã dùng bộ đội, công an cưỡng chế dân chống chủ trương nhà nước thắng lợi rồi! Bọn thù địch đã bị đánh bại, ta chiến thắng vẻ vang, bắt sống 5 người, đánh bị thương nhiều người khác, đánh nhừ tử hai tên nhà báo VOV, phá tan âm mưu chống phá nhà nước của bọn thù địch, thu hồi đất cho nhà đầu tư.

Bố trợn mắt:

- “Cưỡng” là chống lại, tỷ như nói “Cưỡng lời cha mẹ”. Mà đã chống lại cha mẹ thì có hay ho gì. Còn “Chế” là phép làm ra, định ra, đặt ra, bó buộc, chống lại, tỉ như “Chế ngự” là ngăn ngừa, bắt phải theo. Vậy “Cưỡng chế” là lấy sức pháp luật mà bó buộc ý chí và hành vi của nhân dân.

Chính quyền ta là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Bộ đội, công an ta là con em nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ yên cuộc sống của dân. Chính quyền dùng lực lượng bộ đội, công an để cưỡng chế dân thì làm gì còn ý nghĩa tốt đẹp? Vậy mà mày lại hoan hỉ là chính quyền cưỡng chế dân thắng lợi! Đến nước này thì tao phải tăng cường “cưỡng chế” mày thật nghiêm mới được. Nếu không có ngày mày “cưỡng dâm”, “cưỡng bức”, “cưỡng hiếp” con nhà người ta thì khốn! Mày đúng là thằng ngu lâu khó dạy.

Tĩn ấm ức:

- Vậy ra mấy chú mấy cô nhà báo và mấy vị quan to chính quyền Hưng Yên cũng ngu lâu như con à bố?

Bố quát:

- Luận điệu của bọn thù địch đấy! Chớ có nghe bọn nhà báo... hại và những tên thù địch chui cao leo sâu chống phá ta, làm ta tự diễn biến... Nghe chửa!

- !!!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHẲNG BIẾT ĐƯỜNG NÀO MÀ LẦN

 

Chuyện này dân phường tôi rất nhiều người biết.

1-    ÔNG THỨ NHẤT

 

Một ông đảng viên, hàng tháng chi bộ sinh hoạt vào chiều ngày mồng 3, thì ngày mồng 2 nào ông cũng comle caravát, giày đen, mũ phớt rất chi là oách, rồi lên văn phòng Đảng ủy phường kiến nghị:

- Tôi còn sức khỏe, có năng lực, mong được cống hiến nhiều cho Đảng, đề nghị Đảng ủy để tôi làm bí thư chi bộ.

Rồi chiều mồng 3, ông đến sớm một tiếng chờ chi bộ họp.

Người ta gợi ý ép ông làm đơn xin nghỉ sinh hoạt, nếu không sẽ có thể phải kỷ luật…

 

2- ÔNG THỨ HAI

 

Ông là cựu chiến binh, vợ là cán bộ nhà nước đương chức. Ông cũng bình thường như bao người khác. Nhưng rồi… Dịp Đại hội cựu chiến binh phường, ông cùng vợ xin được ủng hộ 40 mâm cơm nhà hàng liên hoan chào mừng thành công của đại hội. Cuộc liên hoan diễn ra rất vui vẻ. Hôm sau tự nhiên ông phát điên, lên phường chửi chính quyền, đoàn thể thậm tệ… Người ta phải dùng vũ lực bắt ông đi viện tâm thần. Ông ra viện với hồ sơ bệnh án tâm thần. Nhờ hồ sơ này, ông được chính quyền và cơ quan chức năng nhanh chóng giải quyết cho hưởng chế độ chất độc da cam.

Bây giờ thì chả thấy ông có biểu hiện gì là tâm thần cả.

 

LỜI BÀN:

 

Ông thứ nhất tâm thần thực sự thì có nguy cơ bị kỷ luật.

Ông thứ hai giả điên để làm chế độ thì được cơ quan đoàn thể quan tâm giúp đỡ…

Cuộc sống muôn vẻ, thật giả lẫn lộn, lẫn lộn thật giả, chẳng còn biết đường nào mà lần…

 

 

          HỎI MÓC, ĐÁP XOÁY

 

Ông nhà thơ hỏi móc ông nhà nghiên cứu:

- Ông mang danh là nhà nghiên cứu, vậy ông có biết xã nào có tới ba Nhà văn Việt Nam không?

Ông nhà nghiên cứu đáp xoáy:

- Ông là nhà thơ khoác áo Nhà văn Việt Nam, vậy ông có biết xã nào có ba Nhà văn Việt Nam mà có tới hai vị từng khai man lý lịch, ăn cắp thơ người khác, ăn gian giải thưởng không?

              ĐẶC KHU LÀ GÌ?

 

Thằng cháu nội sắp lên lớp 5 hỏi ông:

- Ông ơi! Trên mạng đang có cơn bão phản đối Quốc hội làm luật Đặc khu… Vậy Đặc khu là cái gì hả ông?

Ông:

- Ừ, cháu thử phân tích từng từ xem thì rõ ngay mà…

Cháu:

- Vâng ạ. Đặc là đặc biệt phải không ông?

- Đúng rồi. Đặc chính là đặc biệt!

- Có phải nhân dân Khu Bốn gọi cái mông đít là Khu phải không ông?

- Đúng! Dân khu Bốn gọi cái mông đít là Khu…

- Vậy cháu hiểu rồi: Đặc Khu là cái MÔNG ĐÍT ĐẶC BIỆT ông nhỉ!

- !!!

 

 

 

 

 

NÉT TÍNH CÁCH ÔNG CHỦ TỊCH

 

Ông chủ tịch:

- Mấy năm nay không thấy bài của bác trên Tạp chí nhà. Bác phải có trách nhiệm với Tạp chí Hội mình. Bác gửi bài cho Tạp chí nhé!

- Tôi gửi nhiều bài rồi, có được đăng bài nào đâu!

- Bác gửi lại cho em ngay nhé!

Sau khi đọc bài của tôi, ông Chủ tịch bảo:

- Bài của bác hay thế này mà Tổng biên tập lại không dùng. Mụ Tổng biên tập này kém quá. Em cầm tay chỉ việc mà mụ vẫn làm không ra hồn. Em sẽ chỉ đạo Tổng biên tập đăng bài của bác ngay số này.

Một thời gian sau, Tổng biên tập đến tận nhà tôi, nói:

- Bác thông cảm, em không dùng bài của bác vào số này được ạ.

- Tại sao?

- Chủ tịch lệnh cho em loại bài của bác để đăng bài của một người khác…

 

***

 

Nhận được công văn Thông báo hạn chế blog do vị Phó giám đốc cơ quan chức năng ký, tôi gặp người ký văn bản chất vấn:

- Blog của tôi quảng bá tác giả, tác phẩm quê ta. Vậy sai ở chỗ nào mà các vị ngăn cản tôi?

- Đấy là do lãnh đạo Hội của bác nhiều lần kiến nghị tỉnh dẹp bỏ blog của bác. Chúng em buộc phải làm theo chỉ đạo của trên. Bác cứ coi việc này nhẹ như lông hồng. Việc chúng em, chúng em phải làm. Việc bác, bác cứ làm.

Trong cuộc họp bộ môn, tôi chất vấn Chủ tịch:

- Blog của tôi sai ở chỗ nào mà lãnh đạo Hội lại kiến nghị tỉnh dẹp bỏ?

Chủ tịch liến láu:

- Blog của bác quảng bá tác giả tác phẩm của tỉnh rất tốt ạ. Em không hề kiến nghị dẹp bỏ blog của bác.

 

 

 

 

 

 

 

                           CHẠY… CHỨC

 

Thằng cháu nội ông em ruột tôi học lớp ba. Một hôm, đi học về nó bảo:

- Ông nội ơi! Ông xem có khả năng thì cố chạy cho cháu cái chức lớp trưởng với!

Ông nội hỏi:

- Làm lớp trưởng thì chỉ vất vả, có lợi gì đâu mà chạy.

Cháu:
        - Lợi nhiều chứ ông. Làm lớp trưởng được chỉ huy các bạn, oai phong lắm ông ạ. Nhiều bạn có củ khoai, cái kẹo cũng phải hối lộ lớp trưởng…

Ông:
        - Nhưng lớp trưởng là do các bạn bầu, ông chạy làm sao được?

Cháu:
        - Không đâu, lớp trưởng là do cô giáo chỉ định ông ạ. Ông có tiền chạy cô cho cháu làm lớp trưởng đi ông!

- !!!

 

 

           BUÔNG BỎ ĐỂ THANH THẢN

 

Hiền là một trò ngoan được thầy rất yêu. Mọi vui buồn trò Hiền thường tâm sự và xin ý kiến thầy. Thầy thương nên có ý chiều Hiền.

Một hôm Hiền đến thăm thầy, mặt buồn rười rượi. Thầy hỏi:

- Sao nét mặt con khó coi thế. Chắc có gì bức xúc phải không?

Trò Hiền thưa:

- Dạ đúng vậy ạ. Ở cơ quan con, có thằng đồng nghiệp rất tinh quái, chuyên nịnh bợ cấp trên, nói xấu đồng nghiệp, chơi rất nhiều trò bẩn hại con ạ. Mới đây nó dèm pha tỉ tót với Giám đốc cơ quan loại con ra khỏi danh sách tiên tiến, không được tăng lương ạ. Con bức xúc đến mất ăn mất ngủ thầy ạ.

Thầy:

- Buông bỏ là sẽ lấy lại được thanh thản, con ạ.

- Nhưng mà con căm thằng ấy lắm. Không trả thù được nó thì con không thể vui được. Thầy giúp con làm cách nào trả thù được nó?

- Vậy con hãy ra sức tuyên truyền vận động để nó được vào hàng lãnh đạo quản lý đi.

- Sao lại thế hả thầy? Nó vừa thất đức, vừa dốt chuyên môn, lại tham lam, sao xứng làm lãnh đạo hả thầy?

- Vì đó là con đường làm tha hóa nhanh nhất những  người như nó con ạ.

Trò Hiền vâng lời.

                               *

        15 năm sau trò Hiền lại đến thăm thầy. Thầy hỏi:

     - Sao nét mặt con khó đăm đăm vậy? Không vui à?

- Vâng ạ! Từ ngày thầy chỉ giáo, con ra sức viết bài đăng báo, tuyên truyền ca ngợi tài đức của thằng đồng nghiệp. Khi sát nhập mấy cơ quan, các vị lãnh đạo đấu đá tranh giành chức tước đều bị loại cả. Thằng đồng nghiệp được chọn làm lãnh đạo cơ quan mới thầy ạ. Sau mười năm làm lãnh đạo độc đoán chuyên quyền, trù úm người tốt, nâng đỡ cánh hẩu, ăn chơi sa đọa, biển thủ công quỹ, thằng đồng nghiệp con mới bị công an xích tay, bị khám nhà và niêm phong tài sản đấy thầy ạ.

- Thế là con trả được thù rồi, sao con vẫn không vui?

- Vâng, trả được thù, lẽ ra con phải vui nhưng không hiểu sao con không những không vui mà còn day dứt trong lòng thầy ạ. Có phải do con tiếp tay để thằng đồng nghiệp nắm quyền lãnh đạo mà hại bao người tốt, phá cơ quan hả thầy? Tại con mà vợ con thằng đồng nghiệp khổ sở thầy ơi! Con không biết bây giờ phải làm như thế nào nữa thầy ạ.

- Vậy con hãy buông bỏ để lấy lại thanh thản đi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                 NHÂN BẢO NHƯ THẦN BẢO

(Giai thoại nhà nghiên cứu Đỗ Huy Vinh)

 

 

 

Nhà nghiên cứu phê bình Đỗ Huy Vinh bút danh Huy Vinh là một trong số các hội viên kỳ cựu của Hội Văn học Nghệ thuật địa phương. Nhà thơ Nam Thắng từng một dạo cắp sách theo học cụ Huy Vinh về luật thơ và cách làm thơ. Hai người thân thiết như anh em.

Khi cụ Huy Vinh ốm nặng sắp quy tiên, nhà thơ Nam Thắng đến thăm. Cụ Huy Vinh nắm tay Nam Thắng dặn dò:

- Chú có tài thơ, chắc sau này chú sẽ thành hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Nếu vào hội, chú phải ghi nhớ lời anh dặn:

Thứ nhất Trường Quy, thứ nhì Quốc Ân

Cả hai thằng ấy chớ thân thằng nào.

Nam Thắng khi ấy chưa biết gì nhiều về Trường Quy và Quốc Ân, nghe cụ Huy Vinh dặn thế thì vâng vâng dạ dạ, nhưng trong bụng nghi hoặc: “Cụ sắp quy tiên không còn minh mẫn chăng?” nên nghe rồi cũng chả để ý đến nữa.

Khi Nam Thắng đã là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, xảy ra chuyện Trường Quy cho vợ con, côn đồ đến áp đáo tại gia xỉ nhục trấn áp Nam Thằng vì nghi Nam Thắng tố chuyện tiêu cực của mình. Chuyện phải đưa ra bộ môn phân xử. Sau này Trường Quy bị cách chức. Còn Quốc Ân bị khai trừ khỏi hội.

Nhớ lời dặn của thầy Huy Vinh trước khi quy tiên, Nam Thắng mới giật mình:

- Đúng là nhân bảo như thần bảo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁI GIẺ LAU

   (Giai thoại nhà văn Trần Quốc Tiến)

 

Nhà văn Trần Quốc Tiến có nhiều bài viết trên báo Văn nghệ và một số báo, tạp chí khác về chủ đề chống tham nhũng rất sắc sảo. Nhân về thăm nhà văn (tại làng Địch Lễ, xã Nam Vân, ngoại thành Nam Định), tôi hỏi ông:

- Thưa nhà văn Trần Quốc Tiến, đọc các bài viết chống tham nhũng của ông, tôi rất thích vì nó thường ngắn gọn mà súc tích. Nhưng hình như ông chưa chú ý lý giải vì sao cái nạn tham nhũng càng chống lại càng... tham nhũng hơn? Ông có dự định viết về điều này không?

Trần Quốc Tiến sôi nổi:

- Có chứ! Ông nghe tôi kể về cái giẻ lau nhé.

Nhà văn Trần Quốc Tiến mời chúng tôi uống trà, rồi hắng giọng kể câu chuyện tưởng như chẳng ăn nhập gì tới câu hỏi của chúng tôi:

- Một lần, tôi sai thằng cháu nội lau cái bàn viết. Nó lau đi lau lại mà cái bàn vẫn không sạch. Nó bảo tôi: “Ông ơi, cái bàn của ông bẩn quá nên cháu lau mãi mà vẫn không sạch?” Thì ra cu cậu lau bằng cái giẻ lau bẩn. Tôi liền bảo cháu: “Cháu lau mãi mà bàn vẫn bẩn, không phải tại cái bàn, mà chính là tại cái giẻ lau của cháu bẩn”. Cháu tôi hiểu ra, nó liền thay bằng cái giẻ lau sạch, và tất nhiên là cái bàn cũng được lau sạch.

Tệ tham nhũng làm bẩn xã hội, cần phải có những cái giẻ sạch để lau đi. Chúng ta chưa ngăn chặn triệt để được tệ tham nhũng là vì chúng ta còn dùng những cái giẻ lau bẩn. Bốn quan thanh tra tỉnh Nam Định bị bắt quả tang nhận hối lộ 40 triệu đồng mà gần đây báo chí phanh phui là những cái giẻ lau bẩn. Còn bao nhiêu cái giẻ lau bẩn hơn mà chúng ta chưa biết hoặc chưa xử lý đến nơi đến chốn?

Chuyện cái giẻ lau của nhà văn Trần Quốc Tiến thật giản dị và dễ hiểu. Tôi trầm trồ:

- Chuyện của ông như là chuyện ngụ ngôn hiện đại ấy. Chống tham nhũng trước hết phải chống bẩn cho những cái giẻ lau, phải không nhà văn?

Trần Quốc Tiến khẳng định:

- Đúng vậy! Một trong các biện pháp hàng đầu chống tham nhũng là phải lựa chọn kỹ càng và thường xuyên làm trong sạch đội ngũ cán bộ thanh tra, những người được nhà nước trao cho trọng trách làm trong sạch xã hội. Giẻ có sạch thì mới lau sạch được bẩn. Đúng không?

Tôi chỉ còn biết tán đồng:

- Đúng thế!

……………………

 

- Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam. – 2005. – Ngày 15 – 9.

 

 

NHÂN SỰ KIỆN NGUYỄN HUY THIỆP QUA ĐỜI, MỖ CHỬI PHÁT XẢ STRESS

 

 

Sự kiện Nguyễn Huy Thiệp qua đời vừa mới đây gây ra làn sóng dư luận mạnh mẽ… Ông được đông đảo bạn đọc, bạn văn và điển hình là điếu văn của Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều ca ngợi đánh giá rất cao, thậm chí có người còn coi ông ngang với Nam Cao.

Mỗ nghĩ Thiệp sở trường truyện ngắn. Các truyện ngắn của Thiệp có phong cách, kiểu thật thà thấy sao nói vậy, thẳng thắn biểu lộ suy nghĩ của mình, giọng kể bỗ bã làm mỗ rất khoái. Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, cái thẩm mỹ của mỗ được thỏa mãn như gái góa vớ được trai tơ mà lên cực khoái… Có lẽ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mới và lạ khác hẳn những truyện ngắn bao nhiêu năm nay mỗ đã chán đọc nên mỗ thích chẳng?

Mỗ chú ý đến tiểu sử Nguyễn Huy Thiệp, thấy ông sống khổ đến chết, vì nghèo khó, vì mưu sinh, vì con cái, vì bị đối xử rẻ rúng… Giá như khi còn sống ông được hưởng một phần cái vinh quang sau khi chết nhỉ!

Còn nhớ thời kỳ mới xuất hiện hiện tượng cây bút truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với “Tướng về hưu”, “Phẩm tiết”… Nhiều người đã viết bài xỉ vả, đòi đuổi Thiệp ra khỏi hội nhà văn, đòi xử lý Thiệp thật nặng. Vậy mà khi Thiệp chết rồi, người ta ca ngợi ông ầm ĩ. Có những thằng đĩ sĩ từng chửi bới Thiệp thậm tệ bỗng “tỉnh ngộ” quay 180 độ xót thương ngợi ca Thiệp lên mây. Thậm chí có thằng còn lên ti vi khóc diễn như cha chết vì thương tiếc tài năng Thiệp, còn trơ trẽn vô liêm xỉ khoe mình là bạn thân thiết với Thiệp ba bốn chục năm nữa. Hình như đĩ sĩ – chó sĩ  này quên khuấy trước đây đã từng viết bài như dao đâm vào mạng sườn Thiệp nhiều nhát chí tử.

Bố tổ sư lũ đĩ sĩ văn nô, ứng xử như giở bàn tay, lá mặt lá trái, gió chiều nào che chiều ấy, xu thời cầu danh cầu lợi.

Xin lỗi các cụ, mong các cụ bỏ quá cho mỗ chửi phát xả stress ạ. Ô kìa, sao cụ lại bảo mỗ là chửi như Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại, sao không chỉ thẳng ra là chửi thằng cụ thể nào? Thì mỗ đã xin lỗi các cụ, mỗ chỉ mượn sự kiện Nguyễn Huy Thiệp làm cớ để chửi đổng xả stress thôi mà. Tức là mỗ chửi chỉ vì bản thân mỗ, chứ có mục đích hạ nhục cá nhân nào đâu ạ. Thằng nào bị chửi thì tự nó biết. Mà các cụ cứ cho là mỗ chửi như anh Chí chửi cả làng Vũ Đại nhưng chừa mình ra ạ!

Chửi một phát, nhẹ cả người!

 

27-3-2021

Tệ xá 13/398 đường Trường Chinh, tp Nam Định

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          CHÂN DUNG ĐỒNG NGHIỆP

 

          -1-

 

          Một lần, Đồng Nghiệp than vãn với tôi:

          - Tôi tuổi Tuất nên suốt đời chỉ làm con chó giữ nhà cho lãnh đạo thôi ông ạ.

          Khi ấy Đồng Nghiệp là phó phòng có thâm niên. Trưởng phòng nghỉ hưu, người ta lấy một cán bộ thường lên trưởng phòng. Đồng Nghiệp vẫn ở chức phó phòng cho đến về hưu.

 

          -2-

 

          Chuẩn bị bầu cử hội văn. Đồng Nghiệp khi ấy trong ban kiểm tra, chép gửi qua người khác cho tôi chứng cứ tham ô của chủ tịch, để tôi lên trang mạng. Tôi bảo: “Anh là thành viên Ban kiểm tra. Anh ý kiến người ta mới tin. Tôi công khai, họ truy lại, tôi bảo anh cung cấp nhé!” Đồng Nghiệp kêu: “Tôi sợ lắm! Đừng nói ra tôi…”

          Nhà văn Ngày Mới kiện lãnh đạo hội, đưa đơn cho ban kiểm tra, Đồng Nghiệp chắp tay vái: “Em sợ lắm! Em không dám nhận đơn đâu!” Đồng Nghiệp vừa nói vừa bỏ chạy.

 

          -3-

 

           Trong một cuốn sách viết về danh nhân địa phương, tôi và Đồng Nghiệp đều có bài viết được tuyển in. Đồng Nghiệp dựa vào chức phó phòng xuất bản của mình, lấy kinh phí của nhà nước, trích bài viết của mình in thành “sách” mỏng, khổ bé. Đây là cuốn duy nhất Đồng Nghiệp đứng tên một mình. Đồng Nghiệp đem 50 cuốn nhờ tôi ấn cho cơ quan mua. Thông lệ, các nhà phát hành đều trả lại “phát hành phí” cho cơ quan tôi từ 20 đến 30 phần trăm. Tôi vận động lãnh đạo dùng tiền công đoàn trả cho Đồng Nghiệp nguyên giá bìa, không đòi chiết khấu. Đồng Nghiệp thản nhiên nhận tiền mặt, không nỡ ký tặng tôi một muốn…

 

          -4-

         

          Lãnh đạo một tạp chí mời tôi làm thành viên biên tập duyệt chọn bài. Tôi từ chối và giới thiệu Đồng Nghiệp. Đồng Nghiệp được ký hợp đồng làm thuê cho tạp chí.

          Một nhà văn Việt Nam gửi bài cho tạp chí. Bài đã in mười năm trước ở một tạp chí quốc gia, bị bạn đọc phản biện tơi bời về thông tin sai lạc, thiếu căn cứ chính xác. Đồng Nghiệp đọc duyệt phê “Không thể in được”, loại ra. Nhưng sau khi tác giả gặp riêng thì Đồng Nghiệp lại thay đổi quyết định, phê in được.

          Khi tạp chí phát hành, tôi điện cho Tổng biên tập nói rõ sự lạc hậu và sai sự thật của bài viết. Tổng biên tập trao đổi lại với tác giả. Tác giả nổi đóa khẳng định có đủ căn cứ chính xác. Tổng biên tập yêu cầu tôi viết bài phản biện. Tôi đồng ý.

          Đồng Nghiệp hai lần đem bản thảo bài phản biện đến nhà, khuyên tôi viết lại theo dạng thông tin bình thường, không phản biện thì mới ký duyệt cho tạp chí đăng. Tôi không đồng ý. Đồng Nghiệp đe: “Nếu anh cố tình đăng bài viết, tôi sẽ là người đầu tiên phản biện lại anh!” Tôi nóng mặt: “Nếu anh phản biện, tôi rất hoan nghênh!”

          Không hiểu bằng cách nào mà người ta huy động được lãnh đạo tuyên giáo hai tỉnh liên quan, lãnh đạo cơ quan… tìm mọi cách ngăn chặn bài phản biện của tôi. Qua ba kỳ tạp chí, bài của tôi đã lên khuôn, lãnh đạo lệnh mồm phải gỡ thay bài khác. Tôi đành đưa bài lên trang cá nhân trên Facebook. Trang FB của tôi liền bị đánh sập. Tôi kiến nghị với tạp chí. Một cuộc họp khẩn cấp mời hai tác giả, ban thường vụ, phòng biên tập, phòng hành chính xem xét vụ việc. Kết quả hội nghị xác định bài phản biện đảm bảo tính khoa học, quyết nghị phải đăng đúng quy định của nhà nước. Nhưng khi tạp chí in ra, bài của tôi đã bị biên tập không đúng tinh thần bản thảo. Từ phản biện tác giả bài báo, biến thành phản biện tác giả của sách mà tác giả bài báo bị phản biện sử dụng. Tôi chất vấn Tổng biên tập, anh ngạc nhiên không tin. Khi kiểm tra lại anh mới biết là mình bị người ta lừa… 

 

          -5-

 

          Thấy trên FB có trang của Đồng Nghiệp, tôi gửi yêu cầu kết bạn. Mãi không thấy Đồng Nghiệp oke. Tôi ngỡ Đồng Nghiệp chưa thạo mạng. Một lần gặp Đồng Nghiệp, tôi hướng dẫn cách kết bạn và nhắc lại yêu cầu của tôi. Đồng Nghiệp không những không oke kết bạn mà còn chặn trang FB của tôi. Tôi nói với người bạn thân:

          - Đồng nghiệp mà tệ quá!

          Bạn thân xì một tiếng:

          - Hắn là đồng nghiệp chứ không phải là bạn của chúng mình!

 

                       12 – 2020

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI PHÁT BIỂU NGẪU HỨNG TRONG HỘI THẢO KHOA HỌC “BIÊN SOẠN CUỐN ĐỊA DANH NAM ĐỊNH” CỦA BỘ MÔN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH NAM ĐỊNH NGÀY 21 – 4 – 2023…

 

 

          RÀO ĐÓN MÀO ĐẦU

 

          Kính thưa các cụ có mặt trong hội thảo hôm nay. Bài phát biểu của tôi không có ý chê, cũng không khen Ban thực hiện đề tài. (Đã có sản phẩm “Địa danh Nam Định” đâu mà khen chê!). Tôi chỉ muốn nói một số suy nghĩ về đề tài này.

 

          SUY NGHĨ VỀ ĐỀ TÀI

 

          * Thứ nhất, tôi bổ sung một điểm nhỏ trong bản tham luận của Ban thực hiện đề tài, về đặc điểm làng xã Nam Định. Báo cáo dẫn chứng làng Trà Lũ (quê tôi) có đặc điểm: Nhất xã tam thôn, nay chia thành ba xã…

          Nói như vậy chưa đủ. Có thời Trà Lũ nhất xã tứ thôn, nhất trại. Hiện nay địa bàn Trà Lũ thuộc bốn xã (chứ không phải ba). Ngoài ba xã thành lập trên cơ sở ba thôn là Xuân Bắc, Xuân Trung, Xuân Phương, còn có xã Nam Điền nay thuộc xã Xuân Nam. Nam Điền vốn là trại thuộc thôn Trà Lũ Trung dành cho gia đình vợ con lính sinh sống. Sau dân đông, trù phú thì tách ra lập xã riêng (1890).

          Một thời gian Trà Lũ có bốn thôn (từ năm Thành Thái thứ nhất), trong đó thôn Đoài có đặc điểm riêng, tôi coi là đặc điểm độc đáo. Nó độc đáo ở chỗ, thôn do chính quyền nhà nước thành lập, tức nó là địa danh hành chính. Nó là địa danh nhưng lại không có địa bàn quản lý. Cư dân thôn Đoài là dân theo đạo Thiên chúa sống xen kẽ trên địa bàn của các thôn còn lại (Đông, Bắc, Trung). Nó độc đáo còn ở chỗ: Nó vừa là tổ chức hành chính nhà nước, vừa là tổ chức tự quản của dân theo đạo Thiên Chúa. Mô hình nhất xã nhị thôn, tam thôn thì miền Bắc tỉnh nào chả có. Nhưng mấy nơi có thôn giống như thôn Đoài của Trà Lũ?(1)

          Trà lũ từng là Đại đồn của cuộc khởi nghĩa Phan Ba Vành (1821 – 1827). Trà Lũ cũng là một trong rất ít địa điểm đầu tiên mà giáo sĩ Thiên Chúa giáo phương Tây đặt chân đến truyền đạo ở nước ta.(2) Hiện ở xã Xuân Phương có nhà thờ Phú Nhai to nhất Đông Dương… Như vậy Trà lũ không chỉ là địa danh hành chính, mà còn là địa danh lịch sử, địa danh văn hóa.

 

          * Thứ hai, về giới hạn đề tài: Tên cuốn sách sẽ biên soạn là “Địa danh Nam Định” đã hàm ý về giới hạn nội dung của đề tài. Tất cả các địa danh thuộc Nam Định hoặc liên quan đến Nam Định đều nằm trong phạm trù của nội dung đề tài này. Có rất nhiều loại địa danh: Địa danh hành chính, địa danh văn hóa, địa danh lịch sử, địa danh thương nghiệp, địa danh quân sự, địa danh giao thông, địa danh tự nhiên, địa danh dân gian v.v… Nhiều địa danh vừa là địa danh hành chính, lại vừa là địa danh lịch sử, vừa là địa danh văn hóa… Tức là nội dung đề tài rất rộng. Nghiên cứu hết các địa danh, phân loại địa danh, bố cục và lập các bảng tra địa danh… là việc tốn nhiều thời gian, sức lực và chất xám. Cứ thực hiện nghiên cứu sưu tầm địa danh trong giới hạn đề tài cũng đã là việc không đơn giản. Vấn đề địa linh nhân kiệt, nhân vật tiêu biểu đất học đất văn… nằm ngoài giới hạn nội dung đề tài. Hiện đã có nhiều tác phẩm chuyên sâu về nhân vật Nam Định như Danh nhân văn hóa Nam Định, Danh nhân Nam Định được giải thưởng Hồ Chí Minh, Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến… hoặc tác phẩm bao gồm nhiều nhân vật như Tác giả Hán Nôm Nam Định, Đông A nhân kiệt, Thư mục nhân vật Nam Định, Danh tướng thời Trần,…?(3) Trong đề tài Địa danh Nam Định chỉ cần đề cập đến nhân vật nào mà có địa danh mang tên nhân vật đó, trình bày vào từng mục địa danh cụ thể, không cần đưa thành một chương riêng.

          Cần phải xác định giới hạn về không gian và thời gian đề tài nữa. Địa danh luôn biến động thay đổi theo thời gian. Ranh giới địa danh cũng biến động theo lịch sử qua việc chia tách sát nhập. Nếu không xác định giới hạn đề tài về không gian và thời gian sẽ không xác định rõ mức độ nghiên cứu đối với địa danh hiện còn trong địa bàn Nam Định và địa danh đã cắt chuyển về tỉnh khác…

          Thực tiễn một số cuốn sách có cùng chủ đề như các sách Từ điển địa danh chuyên đề, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thuộc các tỉnh từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, Từ điển Địa danh văn hóa lịch sử Việt Nam(4)… cũng chỉ giới hạn nội dung đề tài là địa danh văn hóa, địa danh hành chính, địa danh Lịch sử hoặc bao gồm hai đến ba loại địa danh mà thôi.

          Tên sách thường bao hàm giới hạn nội dung. Tên sách vẫn giữ là Địa danh Nam Định thì nên nêu rõ giới hạn nội dung, không gian và thời gian đề tài trong lời nói đầu. Đặc biệt giới hạn nội dung đề tài chỉ trong một vài loại địa danh như địa danh hành chính, địa danh văn hóa, địa danh lịch sử… để giảm bớt phức tạp, tạo thuận lợi cho các tác giả.

 

          * Thứ ba, thực chất Công trình Nghiên cứu Biên soạn cuốn sách Địa danh Nam Định chỉ là sưu tầm biên soạn. Bởi địa danh là thực tế khách quan không phụ thuộc chủ quan của ban thực hiện đề tài. Các tài liệu tham khảo là yếu tố tiên quyết sự thành công của đề tài. Chúng ta buộc phải sưu tầm tư liệu trong các văn bản của nhà nước, của chính quyền địa phương, các sách, tài liệu của những người đi trước, trong các chuyến đi điền giã… Tài liệu tham khảo càng nhiều, càng đầy đủ thì công trình càng có uy tín. Trong phần chủ thuyết cần có một mục khảo sát đánh giá, tiếp thu kế thừa các tài liệu tham khảo.

 

          * Thứ tư, về văn phong: Đây là cuốn sách thuộc lĩnh vực địa chí. Văn phong địa chí phải rõ ràng dễ hiểu, ngắn gọn, coi trọng lượng thông tin. Lượng thông tin phải có cơ sở. Càng trần thuật đúng thực tế khách quan càng tốt. Không đưa vào sách suy nghĩ chủ quan của tác giả như ca ngợi đảng chính quyền. Không mô tả dài dòng nhiều lời ít thông tin. Không chấp nhận hư cấu bịa đặt…  

 

          * Thứ năm, trong thực tế mấy chục năm làm công tác phục vụ bạn đọc về vấn đề địa danh, tôi gặp rất nhiều câu hỏi phải trả lời, nhưng không có câu hỏi nào có tính chất nghiên cứu, mà đều là những câu hỏi phổ thông như: Xã A thuộc huyện B xưa, nay ở đâu? Nam Định có thôn B không, nay thuộc nơi nào? Xã N có bao nhiêu tên gọi qua các thời kỳ lịch sử? Tổng M xưa, nay gồm địa bàn các xã nào?...

          Bạn đọc phổ thông cần những câu trả lời ngắn gọn, chính xác, đi thẳng vào yêu cầu câu hỏi. Tôi nghĩ cuốn sách Địa danh Nam Định cần chú trọng phục vụ thiết thực bạn đọc phổ thông, bằng các bảng tra chỉ thẳng tới kết quả tìm kiếm. Ví dụ: Cuốn Tên làng xã Việt Nam thế kỷ 19 từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, phần dẫn giải chủ thuyết, nghiên cứu chỉ chiếm một phần, phần bảng tra cứu chiếm bốn phần  số trang của sách…

          Để đạt mục đích kinh phí, có thể nêu nhiều vấn đề trong công trình nghiên cứu để tăng độ dày. Nhưng khi in thành sách thì cần phải chọn lọc kỹ.

 

          * Cuối cùng, tôi bày tỏ niềm tin anh Hoàng Dương Chương và Ban thực hiện đề tài nhất định sẽ thành công trong công trình nghiên cứu này, nhất định sách Địa danh Nam Định sẽ ra mắt bạn đọc trong tương lai gần.

          Cơ sở niềm tin của tôi: Nhiều chục năm tôi và anh Hoàng Dương Chương cùng công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định. Tôi là Trưởng phòng Thư mục, Địa chí và Phong trào Thư viện cơ sở. Anh Hoàng Dương Chương là Phó Giám đốc rồi Giám đốc Thư viện tỉnh Nam Định.

Riêng công tác địa chí có ba vấn đề cơ bản: Nhân vật, Sự kiện, Địa danh. Tôi chuyên trách về mảng Nhân vật. Phạm Văn Huyên (cán bộ cùng phòng tôi) chuyên sâu về mảng Sự kiện. Anh Hoàng Dương Chương đặc trách mảng Địa danh. Dưới sự dẫn dắt của anh Hoàng Dương Chương, tôi và Phạm Văn Huyên đều đã có sản phẩm được in thành sách. Anh Hoàng Dương Chương từng là đồng tác giả với Ngô Tiến Vạnh (chủ biên) cuốn Thành Nam địa danh và giai thoại (Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2012). Anh còn làm chủ đề tài nghiên cứu cấp tỉnh chủ đề về địa danh đã được nghiệm thu xuất sắc. Đó là đề tài “Quá trình thay đổi địa danh hành chính làng xã tỉnh Nam Định thế kỷ 19 – thế kỷ 20”. Tôi có tham gia nghiên cứu hai huyện Xuân Trường, Giao Thủy góp với đề tài này. Tôi được biết anh Hoàng Dương Chương đã biên soạn kết quả đề tài thành bản thảo khá hoàn chỉnh, nhưng có lẽ không có kinh phí nên sách chưa ra đời được. Đến nay, anh Hoàng Dương Chương lại làm chủ đề tài Biên soạn cuốn Địa danh Nam Định… Với bộ não hiếm có chứa đựng nhiều thông tin về mảng Địa danh Nam Định của anh Hoàng Dương Chương, tôi tin tưởng anh nhất định sẽ thành công là vì lẽ đó.

 

          Tệ xá 13/398 đường Trường Chinh, tp. Nam Định

                             Ngày 23-4-2023.

                                      TMG

-------------------

 

Chú thích:

(1) Xem “Trà Lũ xã chí” / Lê Văn Nhưng. – Sách chữ Hán. – 1916. – Bản dịch Thư viện tỉnh Nam Định. -  Mục Phân thôn, Phân trại. Xem thêm bản dịch Trà Lũ xã chí của Đỗ Hữu Trác, nxb Tôn giáo, 2019. - tr. 25 – 27.

(2) Năm 1533 một số giáo sĩ Công giáo vào truyền đạo ở miền Bắc Việt Nam. Điểm đến đầu tiên của họ là Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường (đều thuộc Nam Định ngày nay). Xem Trà Lũ xã chí (Sách đã dẫn), mục Thiên Chúa giáo.

(3)        - Danh nhân văn hóa Nam Định / Nhiều tác giả. – Nam Định: Sở Văn hóa Thông tin Nam Định, 2000. – T. 1.

            - Danh nhân Nam Định thế kỷ XX được giải thưởng Hồ Chí Minh / Nhiều tác giả. – Nam Định : Sở Văn hóa Thông tin Nam Định, 2001.

- Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến / Trần Mỹ Giống. – H.: Quân đội Nhân dân, 2017.

- Tác giả Hán Nôm Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định : Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, 2009.

- Đông A nhân kiệt / Hoàng Dương Chương, Trịnh Thị Nga. – H.: Quân đội nhân dân, 2010, - In lần thứ 2.

- Thư mục nhân vật Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định : Thư viện tỉnh Nam Định, 2010.

- Danh tướng thời Trần / Nhiều tác giả. – H.: Thanh niên, 2020.

(4)        - Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thuộc các tỉnh từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra / Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn (Viện nghiên cứu Hán Nôm). – Khoa học xã hội, 1981.

            - Từ Điển Địa Danh Văn Hóa Lịch Sử Việt Nam / Nguyễn Như Ý chủ biên. – H.: Giáo Dục, 2013.

            v.v…

 

      

        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      

NHỮNG BÀI TRƯỚC ĐÂY KÝ HAI TÁC GIẢ HOÀNG DƯƠNG CHƯƠNG VÀ TRẦN MỸ GIỐNG, NAY TRẢ VỀ CHO TÁC GIẢ ĐÍCH THỰC

 

          Tôi và anh Hoàng Dương Chương có nhiều năm cùng công tác trong Thư viện tỉnh Nam Định. Chúng tôi thường ký tên cả hai người là đồng tác giả những bài viết in trên báo tạp chí và sách (chủ yếu viết về nhân vật Nam Định) để làm kỷ niệm một thời công tác cùng nhau.

Nhưng sau khi nghỉ hưu, anh Hoàng Dương Chương yêu cầu tôi tách riêng tác giả trong những bài viết đã ký hai tác giả, bài của ai trả về cho người đó, để anh làm Tuyển tập riêng thuận lợi, tránh rắc rối như trường hợp ông Đỗ Đình Thọ và ông Trần Quát cùng trong Bộ môn nghiên cứu phê bình(1).

          Nghe anh Hoàng Dương Chương yêu cầu như vậy tôi đành đồng ý để anh thuận lợi khi làm Tuyển tập riêng. Tôi đã công bố sự việc trên trang blog của mình.

Nhưng thực tế đến nay vẫn có nhiều bạn đọc thắc mắc tại sao bài trước ghi hai tác giả, nay chỉ còn một? Có trường hợp người thân của anh Hoàng Dương Chương đưa bài nhận định không đúng sự thật, buộc tôi phải nhắc lại sự việc.

Một lẫn nữa, tôi tuyên bố rõ ràng sự việc trong khi tôi và anh Hoàng Dương Chương còn sống đang cùng sinh hoạt trong Bộ môn Nghiên cứu phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, tránh rầy rà cho con cháu có lòng muốn làm tuyển tập của cha ông, khi chúng tôi không còn nữa.

 Dưới đây là một số cuốn sách, bài báo ghi hai tác giả, nhưng sự thật chỉ có một tác giả đích thực:

 

1- Bản thảo hai cuốn sách ghi tên hai tác giả Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đã nhận tiền tài trợ của Hội VHNT Nam Định, gửi tặng nhiều thư viện tỉnh thành. Khi xuất bản đã trả về cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống:

          - Các nhà khoa bảng Nam Định thời phong kiến / Trần Mỹ Giống. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật, 2009. (Sách đã được tặng Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh). Năm 2017, Nxb. Quân đội nhân dân đã bao cấp xuất bản phát hành trong hệ thống thư viện quân đội.

          - Tác giả Hán Nôm Nam Định thế kỷ XI – đầu thế kỷ XX / Trần Mỹ Giống. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, 2008.

 

          2- Cuốn “Danh nhân Nam Định thế kỷ XX được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh” do Sở Văn hóa Thông tin Nam Định xuất bản năm 2001 có ba bài ghi tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả là:

          - Nghệ sĩ Vũ Năng An (tr. 26 – 30)

          - Nhạc sĩ Văn Cao (tr. 52 – 55)

          - Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (tr.202 – 206)

          Ba bài này in nguyên bản bài của Trần Mỹ Giống đã từng công bố trước đó. Riêng bài “Nhạc sĩ Văn Cao” anh Hoàng Dương Chương có viết thêm một đoạn 13 dòng cuối bài, từ “Viết về Văn Cao…” đến hết bài.

          Ba bài này trả về cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống. Riêng bài về Văn Cao khi sử dụng tôi sẽ cắt bỏ 13 dòng anh Hoàng Dương Chương thêm vào.

 

          3- Cuốn “Danh nhân văn hóa Nam Định tập 1” (Sở văn hóa thông tin Nam Định xuất bản năm 2000)  có 4 bài ký tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả là:

          - Trần Tung, vị tướng, nhà thiền học, nhà thơ (tr. 83 – 93).

          - Tiến sĩ Đào Toàn Bân (tr. 184 – 188).

          - Trạng nguyên Đào Sư Tích (tr. 191 – 202).

          - Trạng nguyên Trần Văn Bảo (1524 – 1610) (tr. 237 – 244)

          Bốn bài viết trên đều của Trần Mỹ Giống được in nguyên bản trong sách. Nay bốn bài này trả về cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống.

 

          4- Cuốn “Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định”. – H.: Quân đội nhân dân, 2000. – 488 tr. ; 21 cm.

          Đây là kỷ yếu Hội thảo khoa học Anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tại thành phố Nam Định ngày 16 - 9 - 2000.

          Trong sách có bài “Trần Quốc Tuấn một con người vì nghĩa lớn” (tr. 209 – 214) ký tên Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống đồng tác giả. Bài do Trần Mỹ Giống viết nên nay trả lại cho tác giả đích thực là Trần Mỹ Giống.

 

          5- Cuốn “Văn hóa Nam Trực cội nguồn và di sản”. – Nam Định: Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Nam Trực xuất bản, 2000.

          Cuốn sách trên có 3 bài ký tên hai tác giả là Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống.

          Trả lại cho tác giả Trần Mỹ Giống hai bài là:

          - Các vị đại khoa thời Nho học huyện Nam Trực. Bảng tra các nhà khoa bảng huyện Nam Trực xếp theo triều đại. (tr.143 – 153).

          - Trạng nguyên Trần Văn Bảo (1524 – 1610) (tr. 181 – 189).

          Trả lại cho tác giả Hoàng Chương Chương bài:

          - Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (1803 – 1856) (tr. 190 – 199).

         

          6- Cuốn “Danh tướng thời Trần”. – H.: Thanh Niên, 2020. Có bài “Nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà thơ, Thiền sư Trần Tung (1230 – 1291)” (tr. 59 – 70) ký tên hai tác giả là Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Bài viết này lấy nguyên văn bài “Trần Tung vị tướng, nhà thiền học, nhà thơ” của Trần Mỹ Giống (đã in trong Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX), biên tập cắt gọt cho ngắn lại. Có lẽ do ban biên tập cuốn sách nhầm lẫn ghi thêm tên tác giả Hoàng Dương Chương vào bài của tôi. Chỉ là người biên tập không thể là đồng tác giả được(2). 

 

          7- Trong tập kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Hệ thống đặc điểm đội ngũ tác giả Hán Nôm Nam Định thời phong kiến” (lưu tại Sở Khoa học và Công nghệ Nam Định) có 29 bài ghi đồng tác giả Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Nay những bài đó được trả về cho tác giả đích thực như sau:

 

          Các bài của tác giả Trần Mỹ Giống:

 

        1- Thiền sư Dương Không Lộ

        2- Trần Tung

        3- Trần Quốc Tuấn

        4- Tiến sĩ Đào Toàn Bân

        5- Trạng nguyên Đào Sư Tích

        6- Tiến sĩ Phạm Đạo Phú

        7- Trạng nguyên Trần Văn Bảo

        8- Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường và…

        9- Tiến sĩ Phạm Thế Lịch

        10- Hoàng giáp Phạm Văn Nghị

        11- Bùi Thúc Trinh

        12- Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn

        13- Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh

        14- Phó bảng Lã Xuân Oai

        15- Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên

16- Tiến sĩ Đặng Hữu Dương

17- Lê Trọng Hàm

 

          Các bài của tác giả Hoàng Dương Chương:

 

1- Trần Quang Khải

2- Hoàng đế Trần Minh Tông

3- Tiến sĩ Đặng Phi Hiển

4- Tiến sĩ Vũ Huy Trác(3)

5- Tiến sĩ Ngô Thế Vinh

6- Tiến sĩ Đỗ Tông Phát

7- Phó bảng Đặng Đức Địch

8- Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(4)

9- Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi

10- Tam nguyên Trần Bích San

       11- Phó bảng Nguyễn Âu Chuyên

       12- Tú tài Trần Tế Xương

 

          8 – Một số bài đăng tạp chí, báo ký tên đồng tác giả Hoàng Dương Chương và Trần Mỹ Giống. Nay trả về cho tác giả đích thực.

 

          Bài của Trần Mỹ Giống:

      - Giai thoại về Tiến sĩ Vũ Huy Trác // Khoa học và công nghệ Nam Định. – 2004. – Số 2. – Tr. 34 – 35.

- Giai thoại về Trạng nguyên Đào Sư Tích // Khoa học và công nghệ Nam Định. – 2004. – Số 1. – Tr. 24 – 27.

       - Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện // Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2001. - Số 3. - Tr. 7 -10.

       - Phạm Đạo Phú, một ngôi sao sáng trong hội Tao Đàn // Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr. 26 - 28.

- Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn, một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương chống Pháp // Nam Định. – 2001. – Ngày 10 – 8.

- Tiến sĩ Phạm Đạo Phú một ngôi sao trong Tao Đàn nhị thập bát tú // Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr. 18 - 20.

          - Tiến sĩ Vũ Huy Trác // Văn nhân. – 2000. – Số 31. – Tr. 59 – 60.

       - Từ người lính kèn trở thành nghệ sĩ nhân dân // Nam Định. – 2001. – Ngày 28 – 12. 

       - Xuân Trình nhà viết kịch tài danh // Văn hoá Nam Định. – 2001. – Số 2. – Tr. 30

          - Xuân Trình nhà viết kịch tài danh // Văn hoá Nam Định. – 2005. – Số 2. – Tr. 51 – 52.

 

          Bài của Hoàng Dương Chương:

       - Kỷ niệm 125 ngày mất Tam nguyên Trần Bích San // Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. – 2002. – Số 2. – Tr. 21 – 23.

       - Một nhà giáo tài năng tâm huyết, một danh nhân văn hoá của quê hương // Văn nhân. - 2003. - Số 40 Xuân quý mùi.

       - Nguyễn Thế Rục người chiến sĩ cách mạng tiền bối, người con của quê hương Nam Định // Nam Định. - 2001. - Số ra ngày 5 - 10.

        - Tiến sĩ Đỗ Tông Phát, tác giả Hán Nôm tiêu biểu của vùng quê Hải Hậu // Khoa học và công nghệ Nam Định. – 2003. – Số 4. – Tr. 37 – 39.

          *

          Có thể còn một số bài đăng báo tạp chí khác nhưng tôi không nhớ. Do tình huống bắt buộc nên tôi đành làm phiền mọi người, mong được lượng thứ.

 

Thành Nam, tháng 5 – 2023

 

…………………..

 

Chú thích:

 

       (1)  Bài viết “Cô đào hát và người tử tù” ký tên hai tác giả Đỗ Đình Thọ và Trần Quát. Sau khi Trần Quát qua đời, Đỗ Đình Thọ tái bản bài viết này chỉ ghi tên Đỗ Đình Thọ với lý do bài viết của riêng ông, trước đây ghi thêm tác giả Trần Quát cho vui thôi. Con cháu Trần Quát kiện lên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Vụ việc ầm ĩ một dạo, để lại dư âm không hay.

 

        (2) Nói thêm cho rõ: Khi Bộ môn NCPB làm cuốn Danh tướng thời Trần, tôi đăng ký viết về Trần Tung, Trần Nguyên Đán, Đào Sư Tích, Trần Quốc Tuấn, Trần Dụ Tông… vì những nhân vật này tôi đã có bài viết in tạp chí và trong sách, nhưng không được Ban biên tập chấp nhận. Họ phân cho tôi viết bốn nhân vật mà tôi lạ hoắc chưa từng nghe tên. Biết mình không đủ tài tô vẽ các nhân vật đó thành “danh tướng” được, nên tôi quyết định không tham gia nữa. Về sau anh Hoàng Dương Chương (trong Ban biên tập) trao đổi với tôi, xin lấy bài “Trạng nguyên Đào Sư Tích” của tôi cắt bớt cho ngắn lại, thay cho bài người được phân công viết không đạt yêu cầu. Bài viết về Trần Tung thì tôi giao cho Ban biên tập bài đã in trong sách “Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX : Nghiên cứu – Lý luận – Phê bình” để họ tùy nghi sử dụng. Còn bài về Trần Nguyên Đán thì Ban biên tập cho rằng ông không phải danh tướng thời Trần (???!!!).

 

(3) Trần Mỹ Giống cũng có bài Vũ Huy Trác viết riêng đã công bố trên tạp chí và sách trước đó.

 

(4) Trần Mỹ Giống cũng có bài Đặng Xuân Bảng viết riêng công bố trước đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỚ NHÀ THƠ TRẦN GIA THỊNH

 

 

         Tôi quen biết bác Trần Gia Thịnh từ những năm bác còn làm Giám đốc Trại gà giống Châu Thành. Chú em rể tôi cũng học ở Mông Cổ cùng trường với bác Trần Gia Thịnh. Chú về làm Trưởng phòng kỹ thuật cho bác Thịnh, rồi lên Phó Giám đốc, rồi Giám đốc. Mỗi lần nhà em rể tôi có việc, tôi thường ngồi tiếp bác Trần Gia Thịnh.

            Khi bác Trần Gia Thịnh có tác phẩm thơ đầu tay, tổ chức giới thiệu tác phẩm và tác giả tại Thư viện tỉnh Nam Định, tôi trực tiếp lo khâu trang trí, tự tay làm khung pa nô vải, tự tay cắt chữ dán phông.

            Sau tôi mấy năm, bác Trần Gia Thịnh cũng được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, bộ môn thơ. Khác bộ môn nên tôi ít có dịp giao thiệp với bác Thịnh. Tôi chưa một lần đăng thơ bác Thịnh trên blog cá nhân vì nguyên tắc tôi đặt ra là chỉ đăng khi tác giả tự nguyện yêu cầu, mà khi ấy bác Thịnh thì chưa yêu cầu tôi đăng thơ của bác. Rồi, nhân tôi giới thiệu một số tác phẩm trong tuyển tập của bộ môn thơ, chẳng hiểu làm sao mà tự nhiên bạn đọc cứ comments vào blog của tôi, phê bình thơ bác Thịnh và một số tác giả khác. Khen chê tác phẩm là quyền của bạn đọc. Tôi không thể tùy tiện xóa các ý kiến của bạn đọc. Một lần nhà thơ Vũ Ngọc Phác gặp tôi ở nhà họa sĩ Hồ Y, đã trách tôi trước mặt ông bà họa sĩ Hồ Y:

            - Tại sao ông lại đăng bài chửi bới Trần Gia Thịnh như vậy?

            Tôi vừa ngạc nhiên, vừa bực mình, hỏi:

            - Thế bác đã đọc blog của tôi chưa?

            - Chưa!

            - Chưa sao bác lại kết tội tôi như vậy?

            - Tôi nghe anh em họ nói.

Tôi nối đóa lên, tung ra một bài khai tâm về blog:

            - Blog như trang báo cá nhân, có hai phần: phần do chủ trang đăng lên và chịu trách nhiệm nội dung bài đăng, phần cho bạn đọc nêu ý kiến của mình. Viết ý kiến như thế nào là quyền của bạn đọc, trừ khi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức thì trang chủ mới xóa đi. Có nghĩa là những ý kiến mà bác quy cho tôi chửi bác Trần Gia Thịnh ấy thực ra không phải của tôi, cũng không phải do tôi đăng lên. Đó là của các bác đấy, tức bạn đọc đấy. Mà tôi nghĩ bạn đọc chê thơ dở hay khen thơ hay là quyền của họ. Đâu phải họ chửi bới tác giả như bác nói. Bác cứ phát ngôn hồ đồ như vậy thì không được đâu!

Thời ấy blog của tôi đang bị một số người đố kị, đến nỗi Sở Thông tin tỉnh phải ra công văn hạn chế blog của tôi. Tôi truy đến cùng thì vị có trách nhiệm ở Sở Thông tin nói thật là blog của tôi chẳng sai phạm gì, họ phải ra công văn gửi tôi là do sức ép của lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật đối với tỉnh, vậy nên “Bác cứ coi việc này nhẹ như lông hồng. Việc chúng em chúng em phải làm, còn việc bác bác cứ làm”. Tôi lại về truy chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật trước hội nghị. Vị này chối bay chối biến, lại còn loen loén khen blog của tôi tôn vinh tác giả tác phẩm Nam Định rất tốt nữa.

            Trong tình cảnh ấy, tại một cuộc họp bộ môn thơ, bác Trần Gia Thịnh đã phát biểu gần nửa giờ phê phán blog của tôi nói riêng, phê phán mạng internet nói chung là thứ độc hại, chẳng có lợi gì, để ủng hộ Chủ tịch Hội. Do tôi chỉ nghe bạn văn nói lại, chứ không được trực tiếp nghe phát biểu của bác Thịnh, nên tôi lờ đi, không phản ứng gì. Nhưng từ đấy, tôi không giao tiếp với bác Thịnh như trước nữa. Cho đến hôm cưới cháu gái con em gái tôi, tôi lại ngồi cùng bác Thịnh và ông cậu tôi là nhà thơ Trần Hùng Thắng. Ông Thắng dành nhiều thời gian nói về thơ ca, về internet và blog của tôi, khen blog của tôi được nhiều người mến mộ, trong ngoài nước nhiều người biết. Ông bảo bác Thịnh cần gửi bài để tôi quảng bá cho nhiều người đọc. Tôi để ý thấy bác Thịnh gật gù với ông cậu tôi, có vẻ hợp gu với ông Thắng lắm.

            Ít lâu sau, tôi ngạc nhiên và vui khi nhận được file ca khúc nhạc sĩ Trần Công Thủy phổ cho thơ Trần Gia Thịnh đề nghị đăng blog của tôi. Tôi lập tức bỏ mọi việc để lên trang chùm sáu ca khúc phổ thơ của bác Thịnh. Một thời gian sau bác Thịnh điện thoại cảm ơn tôi đã đăng bài. Bác bảo nhiều bạn bè điện thoại khen ngợi bác vì họ đọc blog của Trần Mỹ Giống mà biết. Bác hỏi tôi:

            - Hết bao nhiêu tiền đăng bài để tôi chuyển trả cho ông.

Tôi cười:

- Blog của em không mất tiền, không có nhuận bút, cũng chẳng có thu tiền của ai.

 Bác Thịnh cũng cười, bảo:

            - Bạn tôi đang viết tập hồi ký Trần Gia Thịnh, khi nào xong, nhờ ông đăng lên blog. Trước mắt, tôi chuẩn bị ra tập thơ mới, ông giới thiệu trên blog giúp tôi nhé.

            - Vâng!

Nhưng tôi chưa nhận được tài liệu bác Thịnh nhờ đăng blog thì đã phải lên trang FB thông tin về lễ tang vĩnh biệt bác theo thông lệ đối với các cộng tác viên blog của mình.

            Tôi nhớ về nhà thơ Trần Gia Thịnh không phải từ những bài cảm nhận khen thơ bác bằng những lời có cánh (bởi tôi tự tin mình đủ năng lực để thẩm định), mà chính từ những chuyện vặt đời thường, phần nào phản ánh sự chuyển biến tư tưởng tình cảm của bác như kể trên.

            Giờ đây nhà thơ Trần Gia Thịnh đã phiêu diêu miền cực lạc, chẳng còn vướng bận bụi trần.

            Nhớ về bác Thịnh, tôi lấy tuyển thơ cuối cùng của bác để lại cho đời ra miêu tả thư mục bổ sung vào mục TRẦN GIA THỊNH trong cuốn “THƯ MỤC NHÂN VẬT NAM ĐỊNH” đã xuất bản, hy vọng có dịp Thư viện tỉnh Nam Định sẽ tái bản:

            GIỮA ĐẤT TRỜI QUÊ HƯƠNG: Thơ tuyển chọn / Trần Gia Thịnh. - 279 tr.: Nhiều ảnh minh họa ; 21 cm.

 

                                                02/02/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            ÔNG TIÊN CỦA BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI

 

 

            Trong khi hàng loạt thư viện thiếu nhi độc lập bị giải thể, nhiều phòng đọc thiếu nhi trong thư viện người lớn bị thu lại vì khó khăn về kinh phí và biên chế, thì ở huyện Hải Hậu (thuộc tỉnh Nam Định) vẫn tồn tại một Phòng đọc sách thiếu nhi hoạt động rất hiệu quả.

            Là một thư viện cấp huyện loại lớn, Thư viện Hải Hậu có 25.000 bản sách được chia làm 4 phòng phục vụ: Phòng mượn, Phòng đọc nghiên cứu và báo chí, Phòng đọc thiếu nhi, Kho luân chuyển cho các thư viện cơ sở. Từ năm 1990 Thư viện Hải Hậu cũng như nhiều thư viện khác trong tỉnh gặp khó khăn lớn về biên chế và kinh phí. Về biên chế, từ 3 cán bộ có trình độ đại học và trung học thư viện, giảm còn 1 cán bộ chưa có nghiệp vụ thư viện. Với thực tế này, Thư viện Hải Hậu khó mà hoàn thành tốt khối lượng công việc phục vụ ở trung tâm, chưa kể còn phải chỉ đạo mạng thư viện và tủ sách cơ sở trong huyện. Kinh phí hoạt động cho thư viện cũng giảm nhiều. Trước đây, hàng năm Thư viện Hải Hậu bổ sung ít nhất là 1.000 bản sách, 84 loại báo và tạp chí, tổ chức các hội thi tuyên truyền giới thiệu sách thường xuyên. Nay bổ sung giảm còn 500 bản sách và 30 loại báo tạp chí mỗi năm. Số lượng bạn đọc thường xuyên từ trên 1.000 giảm còn một nửa. Phòng đọc thiếu nhi không có cán bộ chuyên trách nên hoạt động cầm chừng và có nguy cơ đóng cửa lâu dài. Nhu cầu đọc của bạn đọc nhỏ tuổi ở huyện lá cờ đầu về văn hoá thông tin toàn quốc phát triển mạnh, nay không được thoả mãn trở thành vấn đề bức xúc và là sức ép đối với cơ quan văn hoá huyện.

            Để tháo gỡ khó khăn trong công tác thư viện, Hải Hậu đã mạnh dạn thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” một cách sáng tạo nhằm duy trì Phòng đọc sách thiếu nhi, phục vụ thanh thiếu niên trong huyện.

            Được các đồng chí lãnh đạo Phòng Văn hoá Thông tin – Thể thao và Trung tâm Văn hoá - Thể thao huyện Hải Hậu lựa chọn, động viên, lại vốn ham công tác văn hoá nên bác Đặng Văn Khảm đã nhận trách nhiệm duy trì Phòng đọc thiếu nhi của huyện. Sinh năm 1944 và lớn lên tại xóm Đông Biên, xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, trong một gia đình theo đạo Thiên chúa có truyền thống yêu nước, bác Khảm rất gắn bó với quê hương và mong muốn làm được nhiều điều tốt đẹp đóng góp vào công cuộc xây dựng của huyện nhà. Năm 13 tuổi đã mồ côi cha và mẹ, bác Khảm tần tảo nuôi 3 em nhỏ nên người. Khi Tổ quốc kêu gọi, bác đã động viên hai em trai nhập ngũ, một người là liệt sĩ. Vợ bác là người sùng đạo, hiền lành và thương chồng con hết mực. Hai vợ chồng bác hết lòng thương yêu và gây dựng cho các em bác trưởng thành. Từ thực tế anh em bác đùm bọc yêu thương nhau, được bà con lối xóm thừa nhận là gia đình văn hoá gương mẫu, tình yêu thương con trẻ trong bác thêm sâu đậm. Bác tâm sự: “Tôi nhận phụ trách Phòng đọc thiếu nhi vì tôi rất yêu trẻ và thích làm công tác văn hoá. Nhận công tác này là dịp để tôi thực hiện nguyện ước sống tốt đời, đẹp đạo”.

            Những ngày đầu mở cửa, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu gặp không ít khó khăn từ dư luận nhân dân và ý kiến của một số người làm công tác quản lý. Nhiều phụ huynh lo lắng cho việc học tập của con em mình, sợ chúng ham mê đọc mà sao nhãng học tập. Có cán bộ quản lý cho rằng việc hợp tác với tư nhân trong công tác thư viện là “trệch” quan điểm, là sử dụng tài sản công không đúng mục đích. Có người lại không tin cách làm của Hải Hậu, cho rằng vì mục đích kinh tế mà cá nhân phụ trách sẽ phát hành sách xấu, độc “đánh” vào thị hiếu lệch lạc của bạn đọc. Theo hợp đồng với Phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao huyện Hải Hậu, việc xây dựng và duy trì kho sách Phòng đọc thiếu nhi hoàn toàn do kinh phí của cá nhân bác Khảm. Bác không phải nộp cho Phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao số tiền thu được từ lệ phí đọc và cũng không nhận một đồng nào từ kinh phí nhà nước. Phòng Văn hoá Thông tin – Thể thao quy định cho bác được thu phí đọc từ 100 đến 200 đồng/lượt người đọc. Làm thế nào để vừa đảm bảo yêu cầu đưa sách tốt tới bạn đọc, vừa thu hút được nhiều người đọc để có thu nhập đủ duy trì hoạt động là nỗi trăn trở đối với bác trong nhiều ngày. Sau một thời gian hoạt động, số tiền lệ phí đọc thu được không đủ bù chi làm cả nhà bác lo lắng.

            Trong 28 năm công tác, lần lượt giữ các chức vụ Đội trưởng sản xuất, Trung đội trưởng dân quân huyện, Phó Chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi xã, Phó Chủ nhiệm hợp tác xã mua bán Hải Bắc, cán bộ khung xây dựng thị trấn Yên Định, bác Khảm luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó. Bác đã được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến. Câu nói cửa miệng của nhân dân trong xã thời bác công tác “Đâu khó có ông Khảm” là lời khen mà bác xứng đáng được nhận. Tinh thần không lùi bước trước khó khăn được vun đắp từ nhiều năm công tác trước đây đã thôi thúc bác vượt lên trở ngại. Từ khi nghỉ công tác, bác Khảm mở phòng đọc sách tại nhà, phục vụ nhân dân nơi cư trú và đã thu hút được nhiều người tới đọc. Kinh nghiệm trong những năm mở phòng đọc tại nhà có ích cho bác nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công tác hiện nay. Bác tranh thủ đi học hỏi về kinh nghiệm và nghiệp vụ thư viện ở các thư viện và cơ sở cho thuê sách trong tỉnh để tìm con đường cho Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu tồn tại và phát triển. Bác chủ động gây dựng và giúp đỡ nhiều cơ sở cho thuê sách trong và ngoài tỉnh bằng cách trao đổi kinh nghiệm và bán rẻ cho họ những sách của Phòng đọc sau khi đã sử dụng khoảng một tháng. Việc này tự phát tạo ra mạng lưới phục vụ bạn đọc trên địa bàn và là một biện pháp thu hồi vốn để bổ sung sách mới, thoả mãn cao yêu cầu đọc của thanh thiếu niên. Mỗi tuần hai lần bác đi Nam Định bổ sung từ 500 đến 800 bản sách. Bác còn tranh thủ mượn luân chuyển sách của Thư viện tỉnh Nam Định để đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Bác đề xuất và được Phòng Văn hoá Thông tin – Thể thao và trực tiếp là Trung tâm Văn hoá - Thể thao huyện Hải Hậu đồng ý bỏ tất cả các thủ tục phiền hà cho bạn đọc như phải viết đơn, xác nhận của nhà trường, trình hộ khẩu, nộp lệ phí và ảnh theo quy định. Khẩu hiệu “Tất cả vì bạn đọc” là phương châm hành động của Phòng đọc bác phụ trách. Bất kỳ bạn đọc nhỏ tuổi nào trong và ngoài huyện đều có thể sinh hoạt tại Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu chỉ với điều kiện là thực hiện đúng quy định nếp sống văn hoá nơi công cộng và trả một khoản lệ phí nhỏ theo quy định. Trên thực tế, việc trả lệ phí đọc hoàn toàn do bạn đọc tự giác. Nhiều bạn đọc gặp khi không có tiền nộp lệ phí vẫn được bác phục vụ nhiệt tình. Những bạn đọc trốn học bị bác phát hiện đều được bác khuyên nhủ ân cần. Hằng đêm, bác tranh thủ đọc sách mới nhập và biên soạn bài tuyên truyền giới thiệu sách phục vụ nhiệm vụ của địa phương. Mỗi tuần một lần, bạn đọc lại háo hức nghe bác Khảm nói chuyện về sách. Khi thì bác kể một câu chuyện hay trong sách, khi điểm ba, bốn cuốn sách về một chuyên đề, khi giới thiệu sâu về một tác phẩm. Việc làm thường xuyên này của bác là biện pháp thực hiện tốt chức năng dẫn dắt việc đọc của thư viện. Nhiều năm qua, phòng đọc do bác phụ trách chưa để lọt vào một cuốn sách nào thuộc loại “sách cấm” hoặc ấn phẩm độc, hại. Bác còn thuê một người trông coi xe đạp để bạn đọc yên tâm đọc và đảm bảo trật tự trị an nơi công cộng. Từ nhiều năm nay, Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu liên tục mở cửa phục vụ từ 7 giờ sáng tới 10 giờ tối.

Sự nhiệt tình, cần cù chịu khó và lòng yêu nghề, hết lòng vì bạn đọc của bác Khảm đã có tác động rất lớn đến bạn đọc và lôi cuốn được cả nhà bác cùng tham gia vào hoạt động thư viện. Bạn đọc nhỏ tuổi rất yêu mến bác và đến thư viện ngày càng đông. Vợ bác tự nguyện làm thủ thư hỗ trợ cho bác. Con trai bác giúp bác phục vụ tại Phòng báo, tạp chí của Thư viện huyện và tham gia trông coi khu vui chơi trong sân Thư viện. Điều đáng nói là cả nhà bác đều làm việc với tất cả lòng yêu trẻ và yêu công tác văn hoá mà không hề có lương ngoài số tiền lệ phí thu được ở Phòng đọc thiếu nhi theo quy định.

            Về thăm và theo dõi nhiều lần, tôi đã tận mắt thấy sự “nhộn nhịp, sống động” của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, thấy những điều mà nếu không tận mắt thì khó mà tin là thật. Nội dung sách được chọn lọc, đảm bảo chất lượng tốt, có đủ các loại sách văn học, xã hội chính trị, khoa học kỹ thuật, sách thiếu nhi, sách ngoại văn. Kho sách thường xuyên có trên 25.000 bản và luôn được đổi mới phù hợp với yêu cầu đọc và hứng thú đọc của thanh, thiếu niên.  Sách báo được trưng bày trong các tủ sách bỏ ngỏ, trên giá sách treo xung quanh tường để bạn đọc tự do lựa chọn sách cần đọc một cách thuận lợi. Diện tích phòng đọc gần 50 mét vuông nằm trong trụ sở Thư viện huyện, khang trang, sạch sẽ.  Trong phòng xếp 60 ghế ngồi mà nhiều khi không đủ chỗ cho bạn đọc. Hàng ngày có từ 300 đến 400 lượt người đến đọc, thứ bảy và chủ nhật có ngày tới 500 lượt người.

Khi tôi hỏi vì sao gia đình bác lại mê một việc làm tốn nhiều công sức, thời gian mà thu nhập thấp như vậy, bác Khảm trầm giọng trả lời: “Các con tôi đều là cán bộ nhà nước hoặc đã trưởng thành, kinh tế gia đình vào loại khá ở địa phương nên vấn đề kinh tế không phải là mục đích cao nhất. Đối với tôi, được làm việc mà mình thích là niềm vui lớn. Hàng ngày tiếp xúc với trẻ em, tôi như trẻ lại. Tôi thật sung sướng khi vợ và các con nhiệt tình ủng hộ và cùng tham gia hoạt động thư viện với tôi. Cả nhà tôi thường tâm niệm: Làm được nhiều việc tốt cho xã hội là thực sự yêu nước, kính chúa, là hạnh phúc.”

            Đánh giá về Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu, ông Cao Phan, nguyên Trưởng thư viện huyện Hải Hậu, người từng gần 40 năm công tác trong nghề thư viện đã nói: “Cái được trông thấy của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu là đã thu hút được đông đảo thanh niên, thiếu niên tham gia hoạt động đọc bổ ích, góp phần làm cho việc đọc trở thành thói quen tốt đẹp của nhân dân, dù việc thoả mãn nhu cầu đọc phục vụ học tập còn ít hơn nhu cầu đọc giải trí. Dẫu sao, như thế còn hơn là để các cháu dùng thời gian rỗi lang thang ngoài phố, la cà trong quán bia rượu, sa vào nghiện hút và các tệ nạn xã hội khác”.

            Nói về dự định sắp tới, bác Khảm trăn trở: “Tôi không muốn dừng lại ở việc thoả mãn nhu cầu đọc giải trí, mà phải phấn đấu sao cho thư viện thực sự là trường học thứ hai của bạn đọc nhỏ tuổi. Tôi đang chú trọng bổ sung mảng sách giáo khoa và sách tham khảo. Nhưng để phục vụ tốt nhu cầu đọc học tập của các cháu thiếu nhi, cần phải có diện tích nhà và bàn ghế đủ dùng cho số lượng bạn đọc thường xuyên đông như hiện nay. Việc này vượt ra ngoài khả năng của gia đình tôi. Tôi mong được các cơ quan chức năng hỗ trợ.”

Sự trăn trở của bác Khảm thật đúng đắn, đáng quý, đáng khâm phục. Đúng như bác nói, việc bồi dưỡng thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng, cần được toàn xã hội quan tâm mới có thể đạt kết quả cao. Bác Khảm thực sự là một cán bộ thư viện tiên tiến, là tấm gương sáng trong ngành thư viện.

            Trong hoàn cảnh kinh phí và biên chế thư viện còn quá thiếu so với nhu cầu thì Phòng đọc sách thiếu nhi nhà nước và nhân dân cùng làm ở Hải Hậu là một mô hình mới, một biểu hiện cụ thể sinh động việc xã hội hoá thư viện, tăng cường đáp ứng nhu cầu đọc của thanh, thiếu niên, góp phần đẩy lùi tác hại của xuất bản phẩm xấu, độc.

            Hơn hai chục năm hoạt động liên tục, phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu đã đứng vững và phát triển không ngừng, được dư luận trong và ngoài tỉnh khen ngợi, chứng tỏ cách làm của Hải Hậu là đúng đắn. Thành tích của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu như hiện nay, có sự đóng góp rất lớn của bác Khảm. Bác thực sự là “linh hồn của Phòng đọc thiếu nhi Hải Hậu”. Tiếng lành đồn xa, hơn một trăm đoàn tham quan của các ngành, các tỉnh bạn đã đến thăm và rất tâm đắc với cách làm của Hải Hậu. Nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Nguyễn Khoa Điềm có lần tới thăm đã khen ngợi Phòng đọc thiếu nhi và khuyến khích cách làm của Hải Hậu. Nguyên Bộ trưởng đã gọi bác Khảm là “người số một về sách thiếu nhi trong toàn quốc”. Nhiều nhà báo về tận nơi xem xét và đã viết bài biểu dương Phòng đọc của bác đăng trên báo Đại đoàn kết (Số 67 ngày 22 – 8 – 2001), Tạp chí Sách (Số 8 năm 2001), Tập san Thư viện (Số 1 – 2000), Tạp chí văn hoá Nam Định (Số 1 năm 2004)... Với những cố gắng không mệt mỏi và kết quả công tác của mình, bác Khảm đã được nhận nhiều Bằng khen và giấy khen về hoạt động thư viện của Bộ Văn hoá Thông tin, của tỉnh và Sở Văn hoá Thông tin Nam Định. Đó là những phần thưởng quý giá mà bác xứng đáng được nhận. Nhưng phần thưởng quý nhất đối với bác Khảm là bác được bạn đọc nhỏ tuổi gọi là “Ông tiên của thiếu nhi”.

 

………………

 

            Nguồn: Những người giữ lửa tình yêu với sách. – H.: Văn hóa Dân tộc, 2004. – T.1. – Tr. 164 - 172

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÚ TÔI - ÔNG TRẦN QUỐC SỬ

 

           

          Quê tôi là làng Trà Lũ Trung nay là xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông ngoại tôi mất khi tôi chưa ra đời. Sau khi ông ngoại mất, hai bà tôi bỏ con cái ra đi kiếm sống. Bà cả tái giá ở làng bên. Bà hai bỏ về quê (Thái Bình). Mẹ tôi có hai em gái đều còn nhỏ tuổi. Mẹ tôi do bà cả sinh ra, hai dì tôi do bà hai sinh. Ba chị em mẹ tôi được người chú ruột nuôi dưỡng. Song ông chú lại quá nghèo nên phải để dì út tôi đi tu, nương nhờ nhà chùa. Sau ngày hòa bình lập lại, dì bỏ chùa về lấy chồng cùng làng là ông Trần Quốc Sử.

          Ông Trần Quốc Sử từng đi lính Cụ Hồ, là lính Đại đoàn 308 và Trung đoàn Thủ đô, tham gia chiến dịch Điện Biên phủ, rồi chuyển ngành về Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Dì tôi theo chồng về Gia Lâm sinh sống. Khi chú rể tôi nghỉ hưu, cả nhà lại về quê làm ruộng. Theo tiếng gọi của Đảng, dì chú tôi kéo cả nhà đi phát triển kinh tế vùng biển Trí Thiện (nay là xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) cho đến hiện nay. Con cái dì chú tôi đều trưởng thành và làm ăn phát đạt. Nhiều năm chú tôi làm Trưởng ban văn hóa xã. Ông có năng khiếu văn nghệ và rất hay làm ca dao, thơ. Do không được đào tạo, không có bằng cấp học vị gì nên ông làm thơ tự phát, theo kiểu thơ kể việc, thơ nói tình cảm. Nhà văn nhà thơ thường gọi thơ như của chú tôi là vè, là văn vần, là thơ nhân dân. Phớt lờ những điều đó, chú tôi say mê làm thơ và trình diễn thơ mọi lúc, mọi nơi theo yêu cầu của người nghe. Một đám cưới, một đám tang, một ngôi chùa được khánh thành, một người bạn mừng thọ, một hội nghị, một sự kiện... chú tôi đều có thơ chia buồn, góp vui hay chúc mừng tùy theo hoàn cảnh.

          Nhà thơ Trần Hùng Thắng – em mẹ tôi, là một nhà thơ bác học. Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội cách đây hơn năm chục năm. Bạn ông nhiều người làm lớn như ông Thứ trưởng Đặng Hùng Võ. Ông cậu đã có cả trăm bài thơ được đăng báo, tạp chí và tuyển in trong nhiều sách. Nay đã gần tám chục tuổi, ông vẫn say mê sáng tác. Vậy nhưng nhuận bút không đủ cho ông trà nước với bạn bè. Mà năm thì mười họa mới có nhuận bút.

          Còn ông chú rể tôi chỉ làm vè, làm văn vần mà rất nhiều bà con biết tên tuổi ông, còn thuộc thơ ông nữa, lại tín nhiệm thơ ông. Ông không bao giờ đòi “nhuận bút”, nhưng các gia chủ, các nhà chùa được ông đọc thơ chúc mừng thì thường phong bao cho ông, mà phong bao lại gấp năm gấp bảy lần nhuận bút của ông cậu tôi.

          Trong tình hình thơ không được mấy ai quan tâm như hiện nay, vè của ông chú rể tôi lại được bà con thích thú thật cũng là điều lạ. Dù là vè, là thơ Bút Tre mà đi được vào sinh hoạt tinh thần của nhân dân cũng là có ích, đáng quý rồi. Như thế chả hơn là thơ của các nhà thơ, lều thơ, chòi thơ ở nhiều câu lạc bộ, hội này hội nọ, hàng năm tốn bao tiền của xuất bản hàng nghìn, hàng vạn tập thơ mà trong số đó không ít chỉ để cho tác giả tự sướng mà chả có ma nào thèm đọc.

          Nhân chú rể tôi sang tuổi 90 và 65 tuổi Đảng, xin chép lại một số bài thơ của ông làm kỷ niệm.

              GIỖ TỔ ĐẦU XUÂN

          Xuân sang hoa đỏ nhị vàng

Mười hai giỗ Tổ họ hàng đông vui

          Hân hoan xin có đôi lời

Kính chúc trong họ người người an khang

          Thưa trong họ:

          Bao năm vấn Tổ tầm Tông

Chín nhăm tìm được Tổ ông Tổ bà

          Thật là đại phúc họ ta

Chính thức quê nhà là xứ Kính Danh

          Theo lời truyền khẩu Tổ mình

Cháu con tìm đến Kính Danh quê nhà

          Đó là tông tích quê ta

Chính nơi an nghỉ ông bà tổ tiên

          Báu vật kỷ niệm thiêng liêng

Tổ dựng thánh giá ở trên mộ này

          Tam hợp vôi cát đã xây

Cốt bằng tre hóa đến nay vẫn còn

          Trải bao tuế nguyệt không mòn

Hoa văn đường nét vẫn còn y nguyên

          Phúc thay con cháu thảo hiền

Tìm ra tông tích Tổ tiên Đô Ngàn

          Một thời cụ đã làm quan

Được vua ban thưởng kiệu vàng về quê

          Cháu con cụ rất đề huề

Chuyển về Giao Lạc làm nghề canh nông

          Thế rồi cụ bỏ Đại Đồng

Cụ tòng ông Bách một lòng về đây

          Các cụ ở dải đất này

Mở mang đồng ruộng từ ngày xa xưa

          Sa Châu đã lập thành bia

Ghi tên các cụ thiên thu vẫn còn

          Đến nay thế hệ cháu con

Tổ chức cúng giỗ vẹn tròn hiếu trung

          Thật là phấn khởi vô cùng

Cháu chắt họp mặt vui chung một nhà

          Thật là đại phúc họ ta

Cháu chắt họ nhà mạnh khỏe an khang

      

                        HỒI TƯỞNG

          Người người vui đón xuân sang

Đầu xuân Tân Mão lại càng mừng vui

          Xuân nay tám chục tuổi rồi

Bồi hồi nhớ lại một thời tuổi xuân

          Nghe lời non nước tòng quân

Vượt bao nguy hiểm khó khăn quản gì

          Sẵn sàng có lệnh là đi

Mọi nơi mọi lúc những khi Đảng cần

          Được vào quân đội nhân dân

Tích cực góp phần giải phóng quê hương

          Đánh Pháp ở các chiến trường

Đồng bằng giải phóng lên đường Điện Biên

          Trải qua năm sáu ngày đêm

Quyết chiến quyết thắng ghi trên sử vàng

          Hàng vạn quân giặc ra hàng

Điện Biên đại thắng tiếng vang hoàn cầu

          Hoàn thành nhiệm vụ về sau

Chuyển về nhà máy sửa tàu hỏa xa

          Sáu năm trở lại quê nhà

Chuyển cư Giao Thiện thật là mừng vui

          Tham gia công tác lâu rồi

Văn hóa, mặt trận, hội người cao niên

          Gia đình hạnh phúc ấm êm

Ba trai ba gái dịu hiền nết na

          Ba dâu ba rể hiền hòa

Cháu nội cháu ngoại ríu ra vui cười

          Cháu trai có bảy đứa rồi

Cháu gái năm người học tập chăm ngoan

          Ông bà mạnh khỏe song toàn

Gia đình đông đủ lại càng yên vui

          Xuân nay ông có đôi lời

Chúc cho con cháu mọi người an khang

          Năm mới mạnh khỏe an toàn

Học tập công tác vẻ vang sáng ngời

          Luôn luôn phấn đấu vui tươi

Vạn sự như ý lộc trời ban cho

          Gia đình hạnh phúc ấm no

Ông bà con cháu cả nhà mừng vui.

 

MỪNG KHÁNH THÀNH CHÙA VẠN LINH

          Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

          Xưa có câu:

          Xây chùa tô tượng đúc chuông

Trong ba việc lớn thập phương cùng làm

          Chùa Trà Lũ rất vẻ vang

Ông Dũng giám đốc Ngân hàng đầu tư

          Thưa các vị:

          Theo bản di chúc gia đình

Con về tìm đến Vạn Linh quê nhà

          Đó là quê quán của ta

Là nơi an nghỉ ông bà tổ tiên

          Ông Dũng con thảo cháu hiền

Đầu tư tiền vốn xây lên ngôi chùa

          Xi măng gạch sắt đã mua

Thầy Kim chỉ đạo xây chùa Vạn Linh

          Ngôi chùa vừa đẹp vừa xinh

Hậu nâu tiền thánh dáng hình Á châu

          Long li quy phượng đủ màu

Lưỡng long chầu nguyệt trên lầu thanh cao

          Nghiêm trang kính cẩn trông vào

Thật là tráng lệ biết bao ân tình

          Tượng Phật tượng Thánh uy linh

Sơn son thiếp bạc dáng hình nguy nga

          Y môn đại tự trong nhà

Câu đối chữ Hán thật là nghiêm trang

          Ông Dũng có tấm lòng vàng

Đầu tư tiền vốn vẻ vang cho đời

          Đến nay chùa đã xong rồi

Khánh thành mở hội người người hân hoan

          Đại biểu Đảng ủy, ủy ban

Hòa thượng, Đại đức, dân làng đông vui

          Mừng vui xin có đôi lời

Chúc chùa Trà Lũ đời đời vinh quang

          Chúc dân Trà Lũ đàng hoàng

Cuộc sống hạnh phúc mở mang quê nhà.

 MỪNG NHÀ MỚI EM TRẦN HÙNG THẮNG

         Chúc mừng cậu Thắng họ ta

Xây ngôi nhà mới thật là khang trang

          Hai gian nhà ống gọn gàng

Mái bằng chắc chắn trông càng gọn xinh

          Thợ xây cũng rất nhiệt tình

Xây ngay một đỏ đẹp xinh hài hòa

          Ngồi trong nhà mới nhìn ra

Sân xây, cổng sắt ngõ nhà đẹp thay

          Tiện nghi mua sắm đủ đầy

Sa lon, tủ đứng, bàn quầy, gương trong

          Bạn bầu trong họ ngắm trông

Ai ai cũng tỏ tấm lòng ngợi khen

          Ngôi nhà cậu mợ dựng lên

Gọn gàng chắc chắn vững bền dài lâu

          Mừng vui anh có đôi câu

Chúc cho cậu mợ mạnh giàu an khang

          Lời thơ chưa được kỹ càng

Nói lên tình cảm họ hàng mừng nhau.

                             Trần Quốc Sử

         Nhân đây tôi cũng “xuất khẩu thành... vè” làm một bài chúc mừng chú tôi theo cách của ông:

          MỪNG ÔNG TRẦN QUỐC SỬ

           Mừng ông vào tuổi tám hai

Lão nhi ích tráng, trẻ trai theo cùng

          Năm bảy tuổi Đảng thủy trung

Một thời oanh liệt hào hùng còn đây

          Cháu con đông đúc xum vầy

Chúc ông giai lão vững cây sum cành

          Bách niên mà vẫn tuổi xanh

Vần thơ lai láng tinh anh mãi còn...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ÔNG LỢN

 

 

Bà nhà văn Ngày Mới vừa đi thăm chiến trường xưa về kể:

- Chị khoe chị có bạn cũng là hội viên Hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 tên là M, thằng Lợn bảo: “Không có thằng này đâu. Tôi là sĩ quan quân lực, nắm hết danh sách ai vào ai ra…” Chị bảo: “Bạn tôi có Huân chương chiến công giải phóng, Dũng sĩ Quyết thắng…” thì hắn dè bửu: “Úi dào! Mua cả đấy! Bây giờ có tiền là mua được hết!”  Chị tức lộn ruột…

 

Năm 2013 chuẩn bị Đại hội thành lập Hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 cấp tỉnh… Có người đưa cho tôi một tập thư phản ánh trường hợp ông Lợn tự đánh bóng, nói phét lác là sĩ quan lãnh đạo chiến đấu trong thành cổ (thực chất ông ta chỉ là hạ sĩ quan làm trợ lý quân lực tiểu đoàn), đòi mọi người phải bầu ông vào ban lãnh đạo hội để làm chủ tịch. Tôi không quen biết ông Lợn, lại cho rằng bầu bán phe phái vận động là chuyện thường, nên không đưa thư bài lên mạng.

Mấy năm sau, dư luận ồn lên ông Lợn được lên ti vi kể công lao bảo vệ thành cổ. Lại nghe ông ta tự làm đơn xin nhà nước phong anh hùng. Tôi cùng ông Đặng họa sĩ, ông Trần nghệ sĩ, cụ Trần nguyên lãnh đạo thành phố đến nhà ông Lợn chơi, xem ông ta là người thế nào, để thu thập tài liệu viết về gương điển hình. Sau vài lần tiếp xúc với ông Lợn, cụ Trần nguyên lãnh đạo thành phố nhận xét: “Thằng Lợn kiêu quá, tự phụ, công thần, phét lác, chẳng coi ai ra gì. Cứ như chỉ có nó là nhất vậy.” Từ đó chúng tôi không giao lưu với ông Lợn nữa. Ý định viết về gương điển hình của tôi thất bại.

Ông Lợn nguyên là trợ lý quân lực cấp tiểu đoàn thì cũng chỉ là hạ sĩ quan, lo tổng hợp báo cáo giúp tiểu đoàn trưởng về quân số, chứ lãnh đạo chỉ huy cái mẹ gì? Có người biết rõ về ông ta, bảo ông ta có phải vào thành đánh đấm gì đâu mà bây giờ thánh tướng. 

Đại hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 lần ba cấp thành vừa rồi tôi không thấy ông đâu. Ban chấp hành báo cáo có hai ông tự thôi sinh hoạt. Không biết ông ta có phải là một trong số này không?

Tìm hiểu kỹ, biết tiểu đoàn địa phương (có ông Lợn làm trợ lý quân lực) vào thành cổ một thời gian rồi rút ra chỉ còn một tiểu đội sống sót. Thường đơn vị chia hai: một vào thành, một ở ngoài, đổi phiên nhau. Các loại trợ lý bậu xậu của Ban chỉ huy thường ở hậu cứ. Ông Lợn không phải vào thành trực tiếp chiến đấu là khả năng lớn. Thế mà bây giờ cứ bốc phét với dân rằng ông ta là sĩ quan cán bộ quân lực nắm danh sách ai vào thành ai ra thành. Hơn nữa tiểu đoàn chỉ là đơn vị tép rưu, còn nhiều sư đoàn, trung đoàn trực tiếp giữ thành cổ, nhiều đơn vị khác nữa, mà ông ta nói cứ như ông là ông giời con, bốc khoác không ngượng mồm.

81 ngày đêm giữ thành cổ, ta hy sinh hơn một vạn, bình quân mỗi ngày ta mất một đại đội. Cái tiểu đoàn cứ cho là đủ 4 đại đội thì cũng chỉ ba bốn trăm lính. Thử hỏi nếu chỉ có tiểu đoàn của ông ta giữ thành thì trụ được mấy ngày?

Phó chủ tịch Hội toàn quốc chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã nhấn mạnh, đại ý: Một số người cứ cho rằng chỉ họ trực tiếp chiến đấu trong thành cổ mới là bảo vệ thành cổ. Thực ra, những người lo hậu cần, súng đạn, cơm ăn, giải quyết thương binh liệt sĩ (vận tải, quân y…) cho lực lượng trực tiếp chiến đấu trong thành, lực lượng pháo binh tên lửa, những người chốt trên các vị trí xung quanh cổ thành, trên phòng tuyến Thạch Hãn đều là chiến sĩ bảo vệ thành cổ… 

Đúng như vậy. Hội chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 hiện nay riêng tỉnh tôi đã có hơn một nghìn. Nếu chỉ ai trực tiếp chiến đấu trong mảnh đất cổ thành gần 2 km vuông mới là chiến sĩ bảo vệ thành cổ thì thử hỏi họ trụ được mấy ngày? Giờ còn được mấy người?  

Ông Lợn may mắn sống sót dù chưa trực tiếp chiến đấu trong thành cổ, trong khi đồng đội vào thành đã thương vong gần hết, thì ông ta cứ ba hoa bốc phét cũng chẳng chết ai. Nhưng ông ta công thần tự phụ, coi thường người khác, nói và nghĩ xấu về đồng hội, tự huyễn hoặc đề cao bản thân thì chẳng đáng để ai tôn trọng nữa.

 

PHONG ĐỘ... CHÍN MẤY?

 

 

 

         Năm 2022, có lần lão hát karaoke ở nhà hàng Ánh Sao, cô nhân viên phục vụ trẻ đẹp khen:

         - Anh hát hay như ca sĩ chuyên nghiệp ấy. Anh phong độ lắm. Hát cặp với anh, em rất thích. Lần sau anh lại đến nhé. Em sẽ phục vụ riêng anh thôi...

          - Ừa ừa...

          Cảm giác lâng lâng, sướng âm ỉ trong lão còn kéo dài mấy ngày.

 

          Năm 2024, sau nửa năm truyền hóa chất trị bệnh nan y, hôm nay lão mới dắt xe 82 ra cây xăng gần nhà đổ xăng đi công việc. Cô gái bán xăng nắc nỏm:

         - Ôi giời, cụ còn giữ được cái xe 82 quý quá. Ngày xưa nhà giàu mới dám sắm cái 82 cụ nhỉ.

         - Ừa ừa...

         - Cho cháu hỏi khí không phải: Cụ chín mấy rồi mà vẫn còn đi được xe máy? Cụ khỏe thật đấy!

         - Ừa ừa...

         Lão dắt xe đi, vừa đi vừa lỏm bỏm: "Cha con mẹ mày. Vô duyên. Bố mày mới bảy sáu mà mày lại bảo chín mấy... Con sỏ lá mất dạy. Mày mà là cháu con ông thì ông cho mấy roi quắn đít."

 

 

 

QUÀ…

 

          Trên trang nhóm hội CCB ấy có đăng tin của Chi hội trưởng: Ngày ấy giờ ấy mời các đồng chí hội viên đến số nhà ấy để nhận quà!

          - Ngày ấy trùng với ngày tôi phải đi khám bệnh định kỳ, không đến nhận quà được rồi.

          Ông bạn cùng hội gần nhà bảo:

          - Ông cứ yên tâm đi điều trị đúng hẹn. Sức khỏe là quan trọng. Tôi sẽ nhận quà hộ ông.

          - Cảm ơn ông. Nhưng mà ông có biết quà của ai cho, quà gì không?

          - Không. Chỉ biết mập mờ như thông báo trên mạng…

 

          Tuần sau, ông bạn gọi điện bảo:

          - Tôi đi lĩnh quà rồi. Các vị ấy bảo ai trực tiếp đến mới được nhận. Các vị ấy không phát cho ông đâu. Thì ra là cái công ty thuốc thổ tả nào ấy, nó đến quảng cáo thuốc là chính ông ạ. Đây, quà tôi nhận đây. – Ông bạn quay lên mạng hình một hộp Philatop, một hộp hoạt huyết dưỡng lão.

 Bình luận:

          - Quà nhỏ bé giá trị kinh tế không đáng kể. Cái quan trọng là phải thể hiện được sự quan tâm chân thành từ tấm lòng của người tặng quà đối với đối tượng được tặng quà. Giá trị tinh thần lớn hay nhỏ, ý nghĩa hay không nó phụ thuộc vào cách ứng xử của người tặng quà và của người đứng đầu đơn vị được tặng quà. Cụ thể ở đây quà là thuốc. Thuốc cần cho người yếu bệnh. Người bệnh phải nằm viện lại không được nhận quà. Hóa ra họ giả vờ tri ân, chẳng qua vì mục đích vụ lợi thôi.

          Quà ấy còn ý nghĩa gì nữa mà cần, mà trân trọng nhỉ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC TRUYỆN NHẶT TẬP 2

                                                                                   

BÀI HỌC NHỚ ĐỜI                                                             126

BÀI PHÁT BIỂU TRONG HỘI NGHỊ …               109

BÀI PHÁT BIỂU NGẪU HỨNG                             303

BÀI THƠ “BÍ ẨN”                                                     188

BÀI THƠ TRÒ TẶNG THẦY                                    44

BẠN FB                                                                     244

BỐ CÓ BẰNG PHÓ THỦ TƯỚNG?                                   270

BỚI THƠ CHÊ DỞ                                                   256

BUÔNG BỎ ĐỂ THANH THẢN                              289

BỨC TRANH CẦU TRƯỜNG                                   22

CÁI GIẺ LAU                                                                       294

CHẠY… CHỨC                                                        288

CHẲNG BIẾT ĐƯỜNG NÀO MÀ LẦN               283

CHÂN DUNG ĐỒNG NGHIỆP                                299

CHÚ TÔI – ÔNG TRẦN QUỐC SỬ                        332

CHÚC MỪNG!                                                          175

CHÚC MỪNG SINH NHẬT (15-9) DÂU LỚN      157

CHÚC MỪNG SINH NHẬT (2-9) GIAI ÚT           155

CHÚC MỪNG SINH NHẬT (5-10) DÂU ÚT         160

CHUYỆN BẾP NÚC                                                 248

CHUYỆN TÂM LINH                                                11

CHUYỆN TÔI ĐƯỢC NGƯỜI TA ĐẠO VĂN                    25

CÒN DUYÊN                                                                          61

CƯỠNG CHẾ THẮNG LỢI                                     281

ĐẶC KHU LÀ GÌ?                                                    285

ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ                                              152

HAI TƯ TƯỞNG LỚN GẶP NHAU                                     29

HÃY BỎ PHIẾU BẦU TÔI LÀM CHỦ TỊCH...    275

HỌ TRẦN VỐN GỐC HỌ DƯƠNG?                      116

HỌA SĨ HỒ Y (1932 – 2017)                                    197

HOAN HÔ TỔNG BIÊN TẬP TỪ CHỨC                 36

HỎI MÓC, ĐÁP XOÁY                                           284

KẺ ĐẠO VĂN DƯƠNG MINH NGỌC LÀ AI?        38

KHÁM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG                                223

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ TRẦN GIA                258

KHOÁ HỌC 32 GIỜ RÈN CHỮ ĐẸP                     135

KHOẢNH KHẮC BẠN GIÀ GẶP NHAU                           42

“LẠI” HAY “CÒN”                                                    50

LÀM KHÓ ÔNG                                                       177

LAN MAN THƠ TRẦN MẠNH HẢO                                235

MÁU CA HÁT DI TRUYỀN                                                  53

MÁY BAY CÓ… CHÂN                                         149

MÌNH HẾT THỜI RÔI!                                              55

MỘT CUỘC ĐẤU... THƠ                                           86

MỘT KỶ NIỆM VỚI HOÀNG NGỌC BÍCH                       89

MỘT LẦN GẶP TS HOÀNG XUÂN SÍNH           183

MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA   201

“MUỐN VỀ QUÊ MẸ MÀ KHÔNG CÓ ĐÒ”        164

NÉT TÍNH CÁCH ÔNG CHỦ TỊCH                       286

NGÀY 12 - 8 – MỐC THỜI GIAN ĐÁNG NHỚ   162

NGỒI BUỒN XEM ẢNH CŨ…                                47

NGƯỜI NAM ĐỊNH VỚI PHAN BỘI CHÂU           3

NHÀ VĂN CHU VĂN (1922 – 1994)                      193

NHÀ VĂN TRẦN HUY THUẬN                            195

NHÂN BÀ CỤC TRƯỞNG CỤC …                         63

NHÂN BẢO NHƯ THẦN BẢO                              292

NHÂN “HỘI THẢO THƠ ĐƯỜNG…”                   239

NHÂN SỰ KIỆN NGUYỄN HUY THIỆP             296

NHẬT KÝ ĐI VIỆN                                                               71

“NHIỀU ĐỜI ĐAU KHỔ”                                                   229

NHỔ RĂNG KHÔN                                                   91

NHỚ NHÀ THƠ TRẦN GIA THỊNH                      320

NHỮNG BÀI GHI HAI TÁC GIẢ….                     311

NỖI NIỀM TẶNG VÀ ĐƯỢC TẶNG SÁCH                     217

ÔNG LỢN                                                                  339

ÔNG TIÊN CỦA BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI               324

“PHÚC KHẢO”…                                                     186

PHONG ĐỘ… CHÍN MẤY?                                   243

QUÀ…                                                                       343

“SÁI”                                                                          245

SỐ PHẬN… BÀI THƠ ...                                         167

SÓC ĐI SIÊU THỊ                                                     169

SUÝT THÌ… TOI!                                                     251

TÂM THẾ TÁC GIẢ TRONG BÀI “ĐỢI”                          207

THĂM NHÀ LƯU NIỆM NAM CAO, BÁ KIẾN    58

THĂM TỦ SÁCH NGUYỄN ĐỨC CƯƠNG          128

THẨM ĐỊNH TÁC PHẨM                                       180

THẰNG TIỂU NHÂN                                                           253

THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ                                          272

THI PHÁP BÀI THƠ “THÁC NƯỚC”                    211

THƠ TRẦN MỸ GIANG                                          263

TÌM VỀ THỜI TRẺ THƠ                                          103

TÌM XUẤT XỨ BỨC THƯ HỌA…                           68

TÔI CHỮA ĐAU LƯNG                                            82

TÔI NHẬN GIẢI LƯƠNG THẾ VINH                   171

TRẢ LỜI BẠN VĂN                                                            100

TRÀ LŨ TRUNG YÊU DẤU                                               141

VĂN HÓA TRONG CÁI BẮT TAY                          93

VÀI NÉT VỀ THƯ PHÁP                                         120

VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ                          98

VỀ QUÊ NGÀY KỊ MẸ ĐẺ, DÌ RUỘT                       8

VỀ THĂM NHÀ                                                          66

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét