“Xin đi tù” là một truyện ngắn của nhà văn Trần Mỹ Giống. Truyện kể về số phận bi thảm của Mãnh, một thanh niên nghiện ma túy, phải xin đi tù để có việc làm, có miếng ăn và có cơ hội được sống.
Tác
phẩm được viết trong bối cảnh đất nước sau chiến tranh, khi tệ nạn xã hội, đặc
biệt là nạn nghiện ma túy trở thành vấn đề nhức nhối. Xuyên suốt truyện là bối
cảnh nông thôn Việt Nam với những khó khăn về kinh tế, thiếu việc làm và sự kỳ
thị xã hội đối với người từng nghiện ngập, từng đi tù.
Mãnh
từ một cậu bé “trắng, đẹp như cục bột, lại rất ngoan” được mọi người yêu quý, dần
sa vào con đường nghiện ngập do hoàn cảnh khó khăn, bỏ học đi đào vàng để phụ
giúp mẹ già. Điều đau lòng nhất là cái vòng luẩn quẩn mà nhân vật rơi vào: hút,
cai, tái nghiện, đi tù, ra tù, xin đi tù. Mãnh thừa nhận: “Chỉ có đi tù thì con
mới có việc làm, mới có miếng ăn, mới được hút, mới có cơ hội được sống”. Nhà
tù, nơi trừng phạt lại trở thành chốn nương thân duy nhất, một nghịch lý đau đớn.
Truyện
đặt câu hỏi lớn về trách nhiệm của cộng đồng: Khi một người từng lầm lỡ muốn
làm lại cuộc đời, xã hội có tạo cơ hội cho họ không? Mãnh đi xin việc “ở đâu
người ta cũng không nhận”. Sự kỳ thị đã đẩy con người trở lại con đường cũ. Tác
giả không trực tiếp lên án mà để người đọc tự cảm nhận nỗi xót xa qua lời kể của
dì: “Chẳng lẽ cứ để nó sống mãi đến chết trong tù sao hả anh…”
Hình
ảnh người dì, bà mẹ hơn tám mươi tuổi, chồng mất vì bom B52 năm 1972, chỉ trông
vào 5 miếng ruộng phần trăm, tất tả ngược xuôi lo cho con là điểm sáng xuyên suốt
tác phẩm. Tình yêu thương của bà vừa vô điều kiện vừa bất lực trước số phận
nghiệt ngã. Người kể chuyện cũng trĩu nặng nỗi buồn, bất lực nhìn người thân sa
ngã.
Cốt
truyện chặt chẽ, giàu kịch tính. Truyện mở đầu bằng hình ảnh Mãnh hồn nhiên, đẹp
đẽ để rồi dẫn dắt qua nhiều chặng: đi đào vàng, nghiện hút, đi trại cai nghiện,
đi tù nhiều lần, cho đến cao trào nghịch lý tự “xin đi tù”. Cách kể theo dòng
thời gian phi tuyến tính, hồi ức xen lẫn hiện tại, tạo nên sức hấp dẫn, giữ
chân người đọc đến tình tiết cuối cùng.
Giọng
kể trữ tình, giàu cảm xúc. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất. Nhân vật “tôi” là
người anh họ, tạo nên tính chân thực, gần gũi. Giọng kể trầm buồn, thấm đẫm nỗi
đau và sự bất lực. Đối thoại tự nhiên, đặc biệt lời than của dì: “Khổ thân tôi,
kiếp trước tôi phạm tội gì mà trời đày đọa tôi thế này…” gây ám ảnh người đọc.
Hình
tượng Mãnh mang tính điển hình hóa cao, đại diện cho những số phận thanh niên
nông thôn sa ngã. Hình ảnh đối lập “trắng, đẹp như cục bột” ở đầu truyện với “gầy,
đen, đầu trọc lốc” khi ra tù là dụng ý nghệ thuật sắc sảo của tác giả. Chi tiết
Mãnh đứng trong bốt điện kêu to “Có thằng ăn trộm công tơ điện…” để được bắt đi
tù là một phát hiện nghệ thuật độc đáo, tạo nên bước ngoặt đầy ám ảnh.
Ngôn
ngữ truyện giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người nông dân, phù hợp với
bối cảnh và nhân vật. Các từ ngữ địa phương “con dì”, “trại cải tạo”, “cải tà
quy chính”… góp phần tô đậm chất hiện thực cho tác phẩm.
“Xin
đi tù” là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm không chỉ
là bức tranh bi thảm về một số phận mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về trách nhiệm
của cộng đồng trong việc tạo cơ hội hòa nhập cho những người từng lầm lỡ. Với lối
viết mộc mạc, chân thật và đầy ám ảnh, Trần Mỹ Giống đã gửi gắm một thông điệp
nhân văn sâu sắc: Phía sau người nghiện không chỉ có tội lỗi, mà còn có những mảnh
đời bị xã hội lãng quên đang khao khát được sống một cuộc đời lương thiện.
SO SÁNH NHÂN VẬT MÃNH VỚI CHÍ
PHÈO
Mãnh
(trong truyện “Xin đi tù” của Trần Mỹ Giống) và Chí Phèo (trong truyện cùng tên
của Nam Cao) là hai hình tượng nhân vật có nhiều điểm tương đồng về bi kịch số
phận, nhưng cũng mang những nét riêng biệt phản ánh bối cảnh xã hội khác nhau.
Điểm
tương đồng:
Cả
hai nhân vật đều là những con người bị xã hội dồn vào tình cảnh bi thảm, bị tước
đi quyền được sống một cuộc đời lương thiện. Chí Phèo bị Bá Kiến hãm hại, đẩy
vào tù rồi trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, bị mọi người xa lánh, sợ
hãi. Mãnh cũng là một người từng nghiện ngập, đi tù, nên khi muốn làm lại cuộc
đời, đi xin việc thì “ở đâu người ta cũng không nhận”, bị cộng đồng nhìn bằng
ánh mắt khinh bỉ. Cả hai đều rơi vào nghịch lý: nhà tù, nơi trừng phạt lại trở
thành chốn nương thân duy nhất. Chí Phèo nói với Bá Kiến: “Quả đi tù sướng quá
đi, ở tù có cơm ăn”, còn Mãnh thừa nhận “Chỉ có đi tù thì con mới có việc làm,
mới có miếng ăn”.
Bên
trong lớp vỏ “con quỷ dữ” hay “kẻ nghiện ngập”, cả hai nhân vật đều khao khát
được làm người lương thiện, được hòa nhập vào cộng đồng. Chí Phèo sau khi gặp
Thị Nở đã thức tỉnh, nhớ về ước mơ giản dị “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc
mướn cày thuê, vợ dệt vải”, khao khát được sống một cuộc đời bình thường. Mãnh
cũng không muốn trở thành gánh nặng cho người thân, muốn đi xin việc, muốn làm
lại cuộc đời, mặc dù cuối cùng chỉ còn cách xin đi tù. Cả hai đều khao khát
tình thương, sự công nhận từ cộng đồng.
Cả
hai tác phẩm đều phản ánh sự bất công của xã hội đã đẩy con người vào con đường
sa ngã. Ở Chí Phèo, đó là xã hội thực dân phong kiến với địa chủ Bá Kiến độc
ác, nhà tù tàn bạo. Ở Mãnh, đó là xã hội Việt Nam sau chiến tranh, nạn nghèo
đói, thiếu việc làm, định kiến xã hội nặng nề đã tạo ra bối cảnh cho tệ nạn ma
túy nảy sinh, đẩy những người kém may mắn vào vòng luẩn quẩn.
Điểm
khác biệt:
Chí Phèo phản ánh xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng
tháng Tám, với mâu thuẫn chủ yếu là giữa nông dân bị áp bức và địa chủ phong kiến.
Mãnh phản ánh xã hội Việt Nam sau chiến tranh, với các vấn đề
như đói nghèo sau chiến tranh, tệ nạn ma túy, định kiến xã hội đối với người từng
nghiện ngập.
Chí Phèo từ một anh canh điền lương thiện, hiền lành, đi tù về trở
thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Gặp Thị Nở, anh thức tỉnh, khao khát làm
người lương thiện, nhưng cuối cùng bị xã hội từ chối, nên phải giết Bá Kiến và
tự sát. Đây là bi kịch của sự thức tỉnh nhưng không có lối thoát.
Mãnh mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn nghiện, tù, tái nghiện. Anh
khao khát làm lại cuộc đời nhưng không có cơ hội, nên phải xin đi tù để có miếng
ăn, có việc làm. Bi kịch của anh là sự lạc lõng, bị xã hội lãng quên, không có
ai sẵn sàng cho anh một cơ hội mới, chứ không phải là sự thức tỉnh thất bại như
Chí Phèo.
Kết cục của Chí Phèo là giết Bá Kiến rồi tự sát, thể hiện sự phản
đối quyết liệt đối với xã hội bất công.
Kết cục của Mãnh là bi kịch, sự bất lực của một con người không
còn lối thoát, buộc phải chịu đựng số phận.
Tóm
lại: Mãnh và Chí Phèo đều là những biểu tượng bi kịch về số phận con người bị
xã hội kỳ thị, từ chối quyền làm người. Tuy nhiên, Chí Phèo là bi kịch của sự
thức tỉnh, khao khát làm người lương thiện nhưng không có lối thoát, thể hiện sự
phản đối mạnh mẽ đối với xã hội thực dân phong kiến. Còn Mãnh là bi kịch của sự
lạc lõng, bị xã hội lãng quên, bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của tệ nạn xã hội,
phản ánh những vấn đề xã hội vẫn còn nhức nhối ở Việt Nam thời hiện đại.
Phương Bin
…………..
Truyện
XIN ĐI TÙ trích trong TRUYỆN NHẶT : Tản văn / Trần Mỹ Giống. – H. : Nxb. Hội
Nhà văn, 2021. – Tr. 38 – 40.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét