Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

CẢM NHẬN “XIN ĐI TÙ”: Truyện ngắn Trần Mỹ Giống

 



“Xin đi tù” là một truyện ngắn của nhà văn Trần Mỹ Giống. Truyện kể về số phận bi thảm của Mãnh, một thanh niên nghiện ma túy, phải xin đi tù để có việc làm, có miếng ăn và có cơ hội được sống.

Tác phẩm được viết trong bối cảnh đất nước sau chiến tranh, khi tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn nghiện ma túy trở thành vấn đề nhức nhối. Xuyên suốt truyện là bối cảnh nông thôn Việt Nam với những khó khăn về kinh tế, thiếu việc làm và sự kỳ thị xã hội đối với người từng nghiện ngập, từng đi tù.

Mãnh từ một cậu bé “trắng, đẹp như cục bột, lại rất ngoan” được mọi người yêu quý, dần sa vào con đường nghiện ngập do hoàn cảnh khó khăn, bỏ học đi đào vàng để phụ giúp mẹ già. Điều đau lòng nhất là cái vòng luẩn quẩn mà nhân vật rơi vào: hút, cai, tái nghiện, đi tù, ra tù, xin đi tù. Mãnh thừa nhận: “Chỉ có đi tù thì con mới có việc làm, mới có miếng ăn, mới được hút, mới có cơ hội được sống”. Nhà tù, nơi trừng phạt lại trở thành chốn nương thân duy nhất, một nghịch lý đau đớn.

Truyện đặt câu hỏi lớn về trách nhiệm của cộng đồng: Khi một người từng lầm lỡ muốn làm lại cuộc đời, xã hội có tạo cơ hội cho họ không? Mãnh đi xin việc “ở đâu người ta cũng không nhận”. Sự kỳ thị đã đẩy con người trở lại con đường cũ. Tác giả không trực tiếp lên án mà để người đọc tự cảm nhận nỗi xót xa qua lời kể của dì: “Chẳng lẽ cứ để nó sống mãi đến chết trong tù sao hả anh…”

      Hình ảnh người dì, bà mẹ hơn tám mươi tuổi, chồng mất vì bom B52 năm 1972, chỉ trông vào 5 miếng ruộng phần trăm, tất tả ngược xuôi lo cho con là điểm sáng xuyên suốt tác phẩm. Tình yêu thương của bà vừa vô điều kiện vừa bất lực trước số phận nghiệt ngã. Người kể chuyện cũng trĩu nặng nỗi buồn, bất lực nhìn người thân sa ngã.

Cốt truyện chặt chẽ, giàu kịch tính. Truyện mở đầu bằng hình ảnh Mãnh hồn nhiên, đẹp đẽ để rồi dẫn dắt qua nhiều chặng: đi đào vàng, nghiện hút, đi trại cai nghiện, đi tù nhiều lần, cho đến cao trào nghịch lý tự “xin đi tù”. Cách kể theo dòng thời gian phi tuyến tính, hồi ức xen lẫn hiện tại, tạo nên sức hấp dẫn, giữ chân người đọc đến tình tiết cuối cùng.

Giọng kể trữ tình, giàu cảm xúc. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất. Nhân vật “tôi” là người anh họ, tạo nên tính chân thực, gần gũi. Giọng kể trầm buồn, thấm đẫm nỗi đau và sự bất lực. Đối thoại tự nhiên, đặc biệt lời than của dì: “Khổ thân tôi, kiếp trước tôi phạm tội gì mà trời đày đọa tôi thế này…” gây ám ảnh người đọc.

Hình tượng Mãnh mang tính điển hình hóa cao, đại diện cho những số phận thanh niên nông thôn sa ngã. Hình ảnh đối lập “trắng, đẹp như cục bột” ở đầu truyện với “gầy, đen, đầu trọc lốc” khi ra tù là dụng ý nghệ thuật sắc sảo của tác giả. Chi tiết Mãnh đứng trong bốt điện kêu to “Có thằng ăn trộm công tơ điện…” để được bắt đi tù là một phát hiện nghệ thuật độc đáo, tạo nên bước ngoặt đầy ám ảnh.

Ngôn ngữ truyện giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người nông dân, phù hợp với bối cảnh và nhân vật. Các từ ngữ địa phương “con dì”, “trại cải tạo”, “cải tà quy chính”… góp phần tô đậm chất hiện thực cho tác phẩm.

“Xin đi tù” là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm không chỉ là bức tranh bi thảm về một số phận mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về trách nhiệm của cộng đồng trong việc tạo cơ hội hòa nhập cho những người từng lầm lỡ. Với lối viết mộc mạc, chân thật và đầy ám ảnh, Trần Mỹ Giống đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: Phía sau người nghiện không chỉ có tội lỗi, mà còn có những mảnh đời bị xã hội lãng quên đang khao khát được sống một cuộc đời lương thiện.

 

SO SÁNH NHÂN VẬT MÃNH VỚI CHÍ PHÈO

 

Mãnh (trong truyện “Xin đi tù” của Trần Mỹ Giống) và Chí Phèo (trong truyện cùng tên của Nam Cao) là hai hình tượng nhân vật có nhiều điểm tương đồng về bi kịch số phận, nhưng cũng mang những nét riêng biệt phản ánh bối cảnh xã hội khác nhau.

Điểm tương đồng:

Cả hai nhân vật đều là những con người bị xã hội dồn vào tình cảnh bi thảm, bị tước đi quyền được sống một cuộc đời lương thiện. Chí Phèo bị Bá Kiến hãm hại, đẩy vào tù rồi trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, bị mọi người xa lánh, sợ hãi. Mãnh cũng là một người từng nghiện ngập, đi tù, nên khi muốn làm lại cuộc đời, đi xin việc thì “ở đâu người ta cũng không nhận”, bị cộng đồng nhìn bằng ánh mắt khinh bỉ. Cả hai đều rơi vào nghịch lý: nhà tù, nơi trừng phạt lại trở thành chốn nương thân duy nhất. Chí Phèo nói với Bá Kiến: “Quả đi tù sướng quá đi, ở tù có cơm ăn”, còn Mãnh thừa nhận “Chỉ có đi tù thì con mới có việc làm, mới có miếng ăn”.

Bên trong lớp vỏ “con quỷ dữ” hay “kẻ nghiện ngập”, cả hai nhân vật đều khao khát được làm người lương thiện, được hòa nhập vào cộng đồng. Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở đã thức tỉnh, nhớ về ước mơ giản dị “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, khao khát được sống một cuộc đời bình thường. Mãnh cũng không muốn trở thành gánh nặng cho người thân, muốn đi xin việc, muốn làm lại cuộc đời, mặc dù cuối cùng chỉ còn cách xin đi tù. Cả hai đều khao khát tình thương, sự công nhận từ cộng đồng.

Cả hai tác phẩm đều phản ánh sự bất công của xã hội đã đẩy con người vào con đường sa ngã. Ở Chí Phèo, đó là xã hội thực dân phong kiến với địa chủ Bá Kiến độc ác, nhà tù tàn bạo. Ở Mãnh, đó là xã hội Việt Nam sau chiến tranh, nạn nghèo đói, thiếu việc làm, định kiến xã hội nặng nề đã tạo ra bối cảnh cho tệ nạn ma túy nảy sinh, đẩy những người kém may mắn vào vòng luẩn quẩn.

Điểm khác biệt:

      Chí Phèo phản ánh xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám, với mâu thuẫn chủ yếu là giữa nông dân bị áp bức và địa chủ phong kiến.

      Mãnh phản ánh xã hội Việt Nam sau chiến tranh, với các vấn đề như đói nghèo sau chiến tranh, tệ nạn ma túy, định kiến xã hội đối với người từng nghiện ngập.

      Chí Phèo từ một anh canh điền lương thiện, hiền lành, đi tù về trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Gặp Thị Nở, anh thức tỉnh, khao khát làm người lương thiện, nhưng cuối cùng bị xã hội từ chối, nên phải giết Bá Kiến và tự sát. Đây là bi kịch của sự thức tỉnh nhưng không có lối thoát.

      Mãnh mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn nghiện, tù, tái nghiện. Anh khao khát làm lại cuộc đời nhưng không có cơ hội, nên phải xin đi tù để có miếng ăn, có việc làm. Bi kịch của anh là sự lạc lõng, bị xã hội lãng quên, không có ai sẵn sàng cho anh một cơ hội mới, chứ không phải là sự thức tỉnh thất bại như Chí Phèo.

      Kết cục của Chí Phèo là giết Bá Kiến rồi tự sát, thể hiện sự phản đối quyết liệt đối với xã hội bất công.

      Kết cục của Mãnh là bi kịch, sự bất lực của một con người không còn lối thoát, buộc phải chịu đựng số phận.

Tóm lại: Mãnh và Chí Phèo đều là những biểu tượng bi kịch về số phận con người bị xã hội kỳ thị, từ chối quyền làm người. Tuy nhiên, Chí Phèo là bi kịch của sự thức tỉnh, khao khát làm người lương thiện nhưng không có lối thoát, thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với xã hội thực dân phong kiến. Còn Mãnh là bi kịch của sự lạc lõng, bị xã hội lãng quên, bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của tệ nạn xã hội, phản ánh những vấn đề xã hội vẫn còn nhức nhối ở Việt Nam thời hiện đại.


Phương Bin

…………..

 

Truyện XIN ĐI TÙ trích trong TRUYỆN NHẶT : Tản văn / Trần Mỹ Giống. – H. : Nxb. Hội Nhà văn, 2021. – Tr. 38 – 40.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét