(Đọc Hạc Hồng – tiểu thuyết của Lê Hoài Nam. NXB Hội
Nhà văn tháng 1/2019)
Tiểu thuyết Hạc Hồng
mang nhiều màu sắc, nhiều chiều ý nghĩa, nhưng chủ đề lớn bao trùm, xuyên suốt
tác phẩm ấy là vấn đề chấn hưng đạo đức, mà thông qua câu chuyện giữa Đạo và Đời,
vốn là hai lĩnh vực rất khác nhau ở xứ xở của chúng ta: Đạo theo chủ nghĩa hữu
thần, Đời theo chủ nghĩa vô thần với hai hệ tư tưởng khác nhau
như Nước với Lửa này có thể dung hòa, đi
cùng đường với nhau hay triệt tiêu nhau? Tuy không phải người theo đạo Thiên
Chúa nhưng nhà văn Lê Hoài Nam cung cấp cho chúng ta những vấn đề cốt lõi của đạo
Thiên Chúa mà chủ yếu tập trung vào hai cuốn kinh căn bản Cựu Ước và Tân Ước.
Ông lại rất am hiểu về cuộc sống của những người theo đạo Thiên Chúa trong thời
hiện đại ở vùng quê Nghĩa Hưng – Nam Định của ông nên những gì ông đưa vào tác
phẩm rất chân thật, sống động. Trong tiểu thuyết, người đại diện tiêu biểu cho
phái hữu thần là linh mục Dương Khắc Thiệu. Vị linh mục này đang độ tuổi tráng
niên, có phông văn hóa khá cao, nhất là lĩnh vực khoa học xã hội & nhân
văn, có tầm hiểu biết khá sâu rộng về xã hội, phong cách sống hiện đại, tươi mới.
Ông kính Chúa, đương nhiên, và ông cũng rất yêu nước, yêu con người. Thời trẻ,
ông từng xung phong nhập ngũ cầm súng ra trận, chứng kiến những chết chóc đau
thương nên khi trở về cuộc sống thời bình ông biết nâng niu, trân quý từng phút
từng giây của cuộc sống. Ông muốn làm những việc thật hữu ích cho cuộc sống cộng
đồng. Ông yêu văn học, dầy công nghiên cứu văn học, tìm thấy ở văn học những
giá trị đích thực, mang tầm nhân loại, do đó ông nhìn cuộc đời khá cởi mở và
minh triết. Trong ngôi đền thánh Hải Hà, nơi ông cai quản, mỗi khi bước lên bục
giảng Kinh Thánh, ông thường lấy những dẫn chứng rất sinh động từ cuộc sống khi
Kinh Thánh soi chiếu, rút ra những bài học rất được bầy chiên ngưỡng mộ. Ra khỏi
nhà thờ, ông tham gia vào nhiều công việc của cộng đồng. Dường như cứ khi nào
cuộc sống cộng đồng trở nên trì độn, khó khăn, bế tắc thì ông lại xuất hiện
đúng lúc, góp phần khai thông bế tắc. Chẳng hạn, khi người dân phát hiện hàng
ngày có những thai nhi gói trong những chiếc túi nhựa thả trôi ra cửa sông, ông
liền cho lập một nghĩa trang trong khuôn viên đền thánh để những linh hồn bé bỏng
có mồ yên mả đẹp. Khi vùng quê, nơi có giáo xứ mà ông cai quản, bị ô nhiễm
nghiêm trọng đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, ông đã tự nguyện xắn tay lên tham
gia khắc phục bằng cách mua một một cỗ máy xử lý rác thải. Khi nhận thấy học
sinh vùng này chán học môn văn, bởi chúng phải học những tác phẩm khô khan,
giáo điều, giá trị văn chương thì ít, giá trị ngoài văn chương thì nhiều, ông
đã giành ra khá nhiều buổi đứng trên bục giảng của đền thánh nói về văn học cho
bầy chiên, nhất là bầy chiên đang trọng độ tuổi học đường. Những tâm huyết của
ông đã có tác động thực sự tới các em, nhen nhóm lên trong các em tình yêu văn
học thực sự…
























