Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

THOÁNG BÓNG VĂN NHÂN / Trần Mỹ Giống

 

TRẦN MỸ GIỐNG




 

THOÁNG BÓNG VĂN NHÂN

 Bản thảo

(Tuyển bút ký, nghiên cứu, phê bình)

 

 

NHÀ XUẤT BẢN ...

 

 

LỜI THƯA 

 

       Thưa các bạn đọc kính mến!

       Tôi là Trần Mỹ Giống, tuổi Kỷ Sửu, quê xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1971, đang theo học năm thứ tư đại học thư viện, tôi nhập ngũ. Năm 1972 – 1973 tôi là chiến sĩ Trung đội vệ binh Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1974 tôi học khóa 35 Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Ra trường, tôi được điều về làm Trợ lý Ban tuyên huấn Sư đoàn 338, bảo vệ biên giới phía Bắc tại Đình Lập, Lạng Sơn. Năm 1981 tôi chuyển ngành học tiếp rồi về công tác đến khi nghỉ hưu tại Thư viện tỉnh Nam Định. 

       Yêu cầu công tác phụ trách mảng địa chí thư mục, phải sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, tuyên truyền về địa phương, trong đó có mảng nhân vật chí. Tôi đã viết một số bài giới thiệu tác giả, tác phẩm địa phương đăng báo và tạp chí. Nay tôi tuyển chọn một số bài đó in thành tập sách đặt tên là “Thoáng bóng văn nhân”. Tự biết bản thân kiến văn nhỏ hẹp, năng lực có hạn, tôi chỉ dám viết về những nhân vật của quê hương Nam Định theo nhận thức của cá nhân, chú trọng nhân vật ít người nói đến. Tên sách là “Thoáng bóng văn nhân” mang hàm ý soạn giả chỉ cung cấp cho bạn đọc về nhân vật, tác phẩm một cách sơ lược. Tất nhiên, số lượng nhân vật được đề cập trong sách chỉ là một phần nhỏ, còn nhiều nhân vật của Nam Định khác mà tôi bỏ qua (vì kiến văn hẹp, hiểu biết quá ít, hoặc nhân vật đã có quá nhiều người viết mà tôi lại không có phát hiện riêng)…

       Nội dung sách được bố cục:

- Các nhân vật Nam Định xếp theo thời gian sống.

- Giới thiệu tác phẩm của một số tác giả Nam Định.

- Một số bài có tính chất phản biện được xếp cuối sách.

       Nhiều bài viết đã đăng báo, tạp chí ký tên tác giả: Trần Mỹ Giống, Trần Thanh Minh, Trần Thị Thanh, Trần Tuấn Phương, Trần Hoàng, Trung Thực, Đinh Thị Khế… Đó đều là những bút danh của Trần Mỹ Giống. Có một số bài ký tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống nay cũng được tuyển vào sách này dưới tên một tác giả là Trần Mỹ Giống. Nguyên do là: Tôi và anh Hoàng Dương Chương cùng là cán bộ Thư viện tỉnh Nam Định, hiện nay cùng sinh hoạt ở Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – Nam Định. Một thời chúng tôi ghi tên hai tác giả trong các bài viết của mình… cho vui. Năm 2008, anh Hoàng Dương Chương thống nhất với tôi: Bài của ai trả về cho người đó để thuận lợi khi làm tuyển tập cá nhân. Vì thế, có một số bài trước đây ghi tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống (như các bài viết về Trần Tung, Xuân Trình, Văn Cao… vốn do tôi viết) nay được trả về cho tác giả đích thực.

       Riêng một số bài phản biện, tôi có sử dụng tư liệu dịch của nhà nghiên cứu Hán - Nôm Dương Văn Vượng, hoặc sử dụng tư liệu, góp ý thiết thực của nhà nghiên cứu Trịnh Thị Nga nên tôi ghi rõ tên các tác giả cộng tác dưới bài viết.

       Chắc chắn tập sách còn nhiều khiếm khuyết, tôi vẫn hy vọng, “Thoáng bóng văn nhân” sẽ đem đến cho bạn đọc hiểu khái quát về một số nhân vật, tác giả, tác phẩm của đất Nam Định quê tôi. 

Xin chân thành cảm ơn các bạn.

 

       Thành Nam, tháng 12 - 2021

                 Trần Mỹ Giống

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       THIỀN SƯ DƯƠNG KHÔNG LỘ

 

 

          I - Sơ lược tiểu sử Dương Không Lộ

 

        Thiền sư Dương Không Lộ hiệu Khổng Lồ đọc tránh là Không Lộ, biệt hiệu Thông Huyền, quê làng Giao Thuỷ (sau đổi là làng Hộ Xá), phủ Hải Thanh (đời Trần đổi là Thiên Thanh, sau lại đổi là Thiên Trường). Ông sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7(1016) đời Lý Thái Tổ, tại quê mẹ là làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

          Gia đình Dương Không Lộ sống ở làng Giao Thuỷ, chuyên nghề chài lưới ven sông. Khi lớn lên, ông lấy việc câu cá, quăng chài làm vui và thường du ngoạn nhiều nơi danh lam thắng cảnh, tuỳ hứng ngâm vịnh và sáng tác thơ ca.

          Năm Giáp Thân (1044) triều Lý Thái Tông, ông 29 tuổi, bỏ nghề đánh cá để theo học đạo thiền. Ban đầu ông theo học Noãn cư sĩ làng Bảo Tài (chưa rõ nay ở đâu). Sau ông đắc đạo, trở thành Tổ thứ 10 của thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền phái được thành lập ở nước ta vào đầu thế kỷ thứ IX.

        Năm Đinh Dậu (1057) ông chuyển sang theo học thiền phái Thảo Đường. Thảo Đường thiền sư từng nhận xét về học trò Không Lộ của mình: “Chú này cốt cách phi phàm, sau này tất làm pháp tự.” Quả nhiên về sau, Không Lộ trở thành Tổ đời thứ 3 của thiền phái Thảo Đường.

          Năm Kỷ Hợi (1059), Không Lộ tu tại chùa Hà Trạch, rồi chuyển về tu ở chùa Duyên Phúc (tức chùa làng Hộ Xá) sau đổi là chùa Viên Quang.

       Năm Nhâm Dần (1062) Không Lộ cùng Giác Hải và Đạo Hạnh đi Tây Trúc cầu kiến Phật Tổ, được Phật Tổ giác ngộ và truyền cho phép lạ.

          Năm Quý Mão (1063) Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang (sau đổi là Thần Quang) tại làng Dũng Nhuệ. Sau do đất lở xuống sông Hồng, chùa được chuyển sang làng Dũng Nghĩa (Vũ Thư, Thái Bình).

          Năm Nhâm Tý (1072), Không Lộ cùng Giác Hải chữa khỏi bệnh sợ tắc kè kêu cho vua Lý Nhân Tông. Ông được phong làm Quốc sư. Vua Lý Nhân Tông có bài thơ ca ngợi hai ông như sau:

          Giác Hải tâm như hải

          Thông Huyền đạo cánh huyền

          Thần thông năng biến hoá

          Nhất Phật nhất thần tiên.

          (Giác Hải lòng tựa biển

          Thông Huyền đạo lại huyền

          Thần thông hay biến hoá

          Một Phật, một thần tiên).

          Có tác giả cho rằng Thông Huyền là đạo sĩ nên vua Lý mới phân biệt “Bên Phật” (chỉ Giác Hải) và “Bên thần tiên” (chỉ Thông Huyền). Nếu đúng Thông Huyền là đạo sĩ thì không thể là Không Lộ. Nhưng về tiểu sử cuả Thông Huyền đạo sĩ thì chưa thấy tác giả nào nêu được, mà Thông Huyền là biệt hiệu của Không Lộ thì một số thư tịch đã nói rõ. Trong bài thơ, có thể tác giả chỉ đơn thuần sử dụng hình tượng Phật và Tiên là những đấng bất tử và có phép nhiệm màu để ca ngợi Giác Hải và Không Lộ mà thôi.

          Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1094), Không Lộ thiền sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Ngày 10 tháng 8 năm Ất Hợi (1095) Giác Hải thu thập xá lị của Không Lộ, xây tháp để chôn cất, tạc tượng để thờ tại chùa Nghiêm Quang. Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa, cắt 3.000 hộ hương khói phụng thờ ông.

          Do thời gian đã quá xa, thư tịch lịch sử không còn nhiều, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Không Lộ phần lớn dựa vào truyền thuyết và huyền thoại nên còn một số điều chưa rõ ràng, không thống nhất. Một số tác giả cho rằng Không Lộ chính là Minh Không. Chẳng hạn, trong cuốn Không Lộ - Minh Không (Văn hoá dân tộc, 2000) tác giả Lê Xuân Quang chứng minh hai ông là một người. Tác giả Nguyễn Lang cho rằng Không Lộ mất cùng năm mất với Minh Không, nghĩa là Không Lộ cũng là Minh Không. Những cứ liệu mà các tác giả chứng minh rằng Không Lộ là Minh Không đều chưa đủ sức thuyết phục. Một số tác giả khác lại cho rằng Không Lộ và Minh Không là hai người khác nhau. Trong “Bài bạt về việc khảo cứu sự tích đức Thánh tổ”, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng đã đưa ra những chứng cứ khá thuyết phục chứng minh Không Lộ không phải là Minh Không. So sánh Chích quái của Nguyễn Quỳnh với chính sử, ông đã chỉ ra những điểm khác nhau rõ ràng giữa Không Lộ và Minh Không:

          - Thứ nhất, họ và tên hai người khác nhau: Không Lộ họ Dương huý Minh Nghiêm, Minh Không họ Nguyễn huý Chí Thành.

          - Thứ hai, quán chỉ hai ông khác nhau: Không Lộ quê Giao Thuỷ phủ Hải Thanh, Minh Không ở Đàm Xá.

          - Thứ ba, năm sinh và năm mất hai ông khác nhau: Không Lộ sinh năm Bính Thìn (1016), Minh Không sinh năm Bính Ngọ (1066), Không Lộ hoá năm Giáp Tuất (1094), Minh Không hoá năm Tân Dậu (1141).

          Như vậy, Không Lộ và Minh Không không thể là một người. Có lẽ Không Lộ và Minh Không, người trước người sau đều từng tu ở một chùa, đều có pháp thuật linh hiển, đều được vua Lý phong làm Quốc sư, đều chữa bệnh cho vua Lý (Không Lộ chữa bệnh sợ tiếng tắc kè kêu của Lý Nhân Tông, Minh Không chữa bệnh hoá hổ cho Lý Thần Tông) nên người đời sau nhầm hai ông là một. Tài liệu liên quan đến Không Lộ phần lớn là truyền thuyết, huyền thoại nên cũng khó xác định đâu là thực, đâu là hư. Tuy vậy, với cãi lõi là lịch sử, các huyền thoại đã thể hiện rõ Không Lộ là một thiền sư nổi tiếng thời Lý, kỳ tài, tâm hồn phóng khoáng và tài thơ văn. Sáng tác của ông hiện không còn nhiều, nhưng đều là những tuyệt tác.

 

          2 - Nhà thơ Dương Không Lộ

 

          Trong các sách giáo khoa văn, các tổng tập và tuyển tập văn học Việt Nam và một số sách khác xuất bản gần đây cho biết Không Lộ chỉ còn hai bài thơ là “Ngôn hoài” và “Ngư nhàn”.

          Khi chọn được đất làm chùa Nghiêm Quang, ông có bài kệ nổi tiếng mà người đời sau gọi là bài “Ngôn hoài” (Nói nỗi cảm hoài):

          Trạch đắc long xà địa khả cư

          Dã tình chung nhật lạc vô dư

          Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh

          Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

          (Chọn đất long xà tới nghỉ ngơi

          Lòng quê vui thích thú thảnh thơi

          Núi cao có lúc trèo lên đỉnh

          Thét một tiếng vang lạnh cả trời.)

          Bài thơ thể hiện nỗi vui mừng khi chọn được đất tốt để xây chùa làm nơi trụ trì, bộc lộ tình cảm bất tận của tác giả đối với đồng quê, thiên nhiên, tạo vật, đất nước. Có khi tác giả trèo lên một đỉnh núi, nhìn ngắm thiên nhiên hùng vĩ, với tâm hồn phóng khoáng, cảm khoái và cao hứng thét lên một hơi dài làm lạnh cả bầu trời. Bài thơ cũng thể hiện tinh thần “Vô chấp giới” nhằm đạt tới sự tự do hoàn toàn, giải phóng bản thể mà hoà nhập với vũ trụ theo quan điểm nhà Phật “Vạn vật nhất thể”. Câu kết của bài thơ, “Trường khiếu nhất thanh hàn thái dư” - Thét một tiếng dài làm lay động cả bầu trời là hình ảnh hào hùng, sảng khoái hiếm thấy trong lịch sử thơ thiền Việt Nam.

          “Ngư nhàn” cũng là một bài thơ đặc sắc của Không Lộ. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh sơn thuỷ sinh động và tuyệt đẹp: Dòng sông xanh liền với trời bát ngát, bãi dâu chen mọc, làn khói toả thanh bình trong thôn xóm, bác chài ngủ ngon lành trong thuyền khi tỉnh giấc thấy thuyền đầy hoa tuyết... Bài thơ mang cảm xúc thiền học tinh tế, trong trẻo, thể hiện trạng thái tâm hồn lâng lâng trong cõi không hư, mông lung và huyền ảo:

          Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,

          Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên,

          Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán

          Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

          (Bát ngát sông xanh, bát ngát trời,

          Một thôn mây khói, một dâu gai.

          Ông chài ngủ tít không người gọi,

          Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi).

                                            (Ngọc Liên dịch)

          Có tác giả cho rằng bài “Ngư nhàn” không phải của Dương Không Lộ, mà là của Hàn Ô (Trung Quốc). Việc hai nhà thơ lớn cách xa nhau ngàn dặm có tứ thơ trùng nhau cũng là lẽ thường. Khẳng định “Ngư nhàn” không phải là của Dương Không Lộ cũng cần phải được khảo cứu kỹ lưỡng. Hơn nữa, cảm xúc và những hình ảnh được sử dụng trong bài thơ rất phù hợp với tâm hồn phóng khoáng và cuộc sống thực tế của ông chài sông nước - nhà thơ thiền sư Dương Không Lộ.

          Trong dân gian và một số tài liệu chữ Hán như Hoàng triều thông chí thần phật môn Thiên tiên Phật thánh lục (không rõ tác giả), Sự tích đức Thánh tổ (Đặng Xuân Bảng biên soạn)... cho biết ngoài hai bài trên, Không Lộ còn một số bài khác (không có tiêu đề) sáng tác mỗi khi cao hứng. Việc xác định các bài thơ này có đúng là của Không Lộ không, còn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Chúng tôi không đi sâu phân tích cái hay của thơ ông, mà chỉ nêu ra một số bài để bạn đọc tham khảo.

          Năm 62 tuổi, một hôm Không Lộ đang tĩnh toạ thì chú tiểu hỏi: “Từ khi tôi đến đây chưa được thầy dạy cho tâm yếu”. Không Lộ trả lời: “Chú đem kinh cho ta thì ta tiếp, đem nước cho ta thì ta nhận, lúc nào ta cũng dạy tâm yếu chú” rồi cười và đọc bài kệ sau:

          Đoàn luyện tâm thâm thuỷ đắc tinh

          Sâm sâm trực thượng đối hư đình

          Hữu nhân lai vấn không không pháp

          Thân toạ bình biên ảnh tập hình.

          (Tu luyện bao phen phép đã tinh

          Muốn lên đối phó chốn hư đình

          Không không nhẽ đó nào ai biết

          Ngồi tựa bình phong, bóng ẩn hình.)

          Trong cuốn Thiên tiên Phật Thánh lục có chép bài thơ sau đây của Không Lộ, khi ông gặp Giác Hải. Bài thơ rất lạ, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng từ ngữ:

          Thiên liên bích thụ, thụ liên thiên,

          Yên toả thanh sơn, sơn toả yên,

          Thụ nhiễu tùng la, la nhiễu thụ,

          Xuyên thông vu giáp, giáp thông xuyên,

          Tửu mê tuý khách, khách mê tửu,

          Thuyền tống hành nhân, nhân tống thuyền,

          Hội đắc tri âm, âm đắc hội,

          Truyền kim đáo cổ, cổ kim truyền.

          (Da trời giòng biếc nhuộm màu cây

          Một giải non xanh toả khói mây

          Cây quấn cây tùng, cây rậm rạp

          Nước quanh đỉnh giáp, nước vơi đầy

          Rượu mê người, người mê rượu đấy

          Khách giục thuyền, thuyền giục khách đây

          Liệu được tri âm, nào được mấy

          Xưa nay vẫn nhớ mãi xưa nay.)

                                      (Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng dịch)

          Hoặc khi gặp Từ Đạo Hạnh, ông cũng làm bài kệ trả lời Đạo Hạnh như sau:

          Ngọc nang bí quyết nghĩ chân kim

          Cá chung mãn nguyệt lộ thần tâm

          Hà sa cách thị Bồ đề đạo

          Nghĩ hướng Bồ đề mãn liễu cầm.

          (Túi ngọc bí truyền rõ thực vàng

          Tháng qua mưa móc dạ xốn xang

          Hà sa thu gót Bồ đề đạo

          Tìm gặp được nhau mấy đoạn trường.)

          Một buổi chiều thu, trời trong mây đẹp, ngồi trên thuyền câu, ông cảm hứng đọc thơ:

          Ngọc phái chi trường, không sơn hà vạn lại

          Dung toạ ngư, ngư khiếp điểu

          Dương cung tiễu hạc, hạc nghi cung

          Quang phóng vân tiêu ngoại

          Phong quang đô hảo đạo khoái lạc.

          (Ngọc Phái dẫu dài, không bằng núi sông muôn trùng ngọn gió

          Thung dung ngồi câu cá, nhưng cá lại sợ chim

          Dương cung bắn hạc, hạc ngờ cung

          Vút bay rẽ mây lên tít trời cao

          Thời tiết đẹp trên đường đi vui vẻ)

          Bài thơ tác giả tự sự về bản thân mình cũng là một bài rất xuất sắc:

          Lão hỷ yên hà tẩu

          Na tri lợi lộc mến

          Thuỳ điểu đương liễu ngạn

          Tán võng địch hoá thôn

          Bả trạo ngân phong tuyết

          Đặc ngư thí tửu tôn

          Sơn tiều thời ngộ ngã

          Kim cổ mạn tương luân.

          (Yên hà mùi vẫn thích

          Danh lợi tính không ưa

          Bến liễu buông câu sớm

          Làn lau vãi lưới trưa

          Gác mái ca phong nguyệt

          Được cá chén say sưa

          Kiếm củi người đi lại

          Vui cùng dở chuyện xưa.)

                              (Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng dịch)

          Các sáng tác của Dương Không Lộ thể hiện tình yêu cuộc sống, yêu đất nước, gắn bó với thiên nhiên, tạo vật và con người, bằng bút pháp tài hoa, phóng khoáng hiếm thấy ở một thiền sư. Vì thế, thơ ông trải qua hàng nghìn năm vẫn được lưu truyền, vẫn gây được xúc cảm và tình cảm thẩm mỹ cho người đọc.

 

…………….

 

Nguồn: Văn nhân. - 2003. - Số 43. - Tr. 43 - 44.

 

 

 

 

 

 

TRẦN TUNG: VỊ TƯỚNG, NHÀ THIỀN HỌC, NHÀ THƠ

 

 

 

          Trần Tung (còn gọi là Trần Quốc Tung) hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ, sinh năm Canh dần 1230, mất ngày 1 tháng 4 năm Tân Mão 1291, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Ông là một vị tướng, nhà ngoại giao, cư sĩ Thiền sư, nhà thơ Thiền thời Trần, nổi tiếng với bài “Phóng cuồng ngâm” và các sáng tác khác của ông trong bộ “Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục”. Nhiều tài liệu văn học và sách nhà Phật viết về ông, nhưng các tài liệu lịch sử lại hầu như không nhắc gì đến ông. Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” chỉ có một lần nhắc đến Trần Tung trong lời bình về Trần Minh Tông cuả Ngô Sĩ Liên như sau:

          "Vua vốn nhân hậu với họ hàng, nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính. Kẻ thần hạ hễ ai cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì cùng tên với Thượng phụ (Trần Thủ Độ), Tung đổi thành Thúc Cao vì cùng tên với Hưng Ninh Vương (con trưởng của An Ninh Vương)".(1)

          Qua lời bình trên (ngoại trừ tước hiệu An Ninh Vương không đúng với tước hiệu An Sinh Vương của Trần Liễu) đã chứng tỏ Trần Tung là một nhân vật được vua Trần Minh Tông hết sức tôn kính. Chắc chắn Trần Tung phải là người có tài đức, công lao to lớn mới được vua kính trọng như vậy.

          Do không tìm thấy một tài liệu Việt sử nào viết về Trần Tung nên nhiều tài liệu viết về ông gần đây thường nhầm lẫn ông với Trần Quốc Tảng. Trong cuốn “Hoàng Việt văn tuyển”, không rõ vì lý do gì hay căn cứ vào tài liệu nào mà Bùi Huy Bích lại cho rằng Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Tảng, tác giả của “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” cũng là Trần Quốc Tảng(2).

           Chúng ta dễ dàng nhận ra kết luận trên của Bùi Huy Bích là sai lầm, vì Tuệ Trung Thượng Sĩ mất năm 1291, còn Trần Quốc Tảng mãi năm 1313 mới qua đời. Từ sai lầm của một học giả nổi tiếng cách đây trên 200 năm đã làm nhiều người sau này tin theo mà lặp lại sai lầm đó. Chẳng hạn, cuốn “Lược truyện tác gia Việt Nam” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1972, tập 1), cuốn “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” (nhà xuất bản Văn học, 1976, tập 2)... đều cho rằng bài “Phóng cuồng ngâm” và toàn bộ sáng tác của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” là của Trần Quốc Tảng(3). Gần đây, cuốn “Tuệ Trung nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ” của Nguyễn Duy Hinh (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1998) cho rằng Tuệ Trung và Trần Tung có thể là hai nhân vật khác nhau(4). Trong cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992), tác giả Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế khẳng định Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Tung chứ không phải là Trần Quốc Tảng, nhưng các tác giả này lại thừa nhận bài “Phóng cuồng ca” (tức “Phóng cuồng ngâm”) là của Trần Quốc Tảng(5). Đa số các tài liệu và công trình nghiên cứu khác về Trần Tung đều kết luận Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung, bài “Phóng cuồng ngâm” và các sáng tác khác của ông trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” cũng là của Trần Tung, như: “Thơ văn Lý Trần” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1988, tập 2, quyển thượng), “Từ điển văn học” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1984, tập 2), “Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền Lý - Trần” (của Nguyễn Huệ Chi, Tạp chí Văn học số 4 năm 1977)...(6)

          Theo “Thượng Sĩ hành trạng”(7) của Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung) là con An Sinh Vương Trần Liễu, anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu, bác ruột Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, anh rể vua Trần Thánh Tông. Ông là người có phẩm chất cao sáng, thuần hậu, từ nhỏ đã tỏ ra yêu mến đạo Phật. Vốn dòng tôn thất nên ngay từ khi còn trẻ ông đã được cử coi giữ đất Hồng Lộ (thuộc Hải Dương ngày nay). Năm 1251 cha ông là Trần Liễu mất, Thượng Hoàng Trần Thái Tông cảm nghĩa đã ban cho ông tước Hưng Ninh Vương.

          Hưng Ninh Vương Trần Tung là người có nhiều công lao trong kháng chiến chống Nguyên Mông, lần hồi được phong đến chức Tiết độ sứ. Theo “Nguyên sử”, trong cuộc xâm lăng nước ta lần thứ hai của quân Mông Cổ (1285), vào ngày 10 tháng 6, khi Thoát Hoan thất thế bắt đầu rút chạy khỏi bờ bắc sông Hồng, Hưng Ninh Vương Trần Tung đã cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đem hai vạn quân đón đánh địch, kịch chiến với tướng giặc Lưu Thế Anh và truy kích Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt.  Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba (1287 - 1288), Trần Tung từng nhiều lần làm nhiệm vụ sứ giả, thay mặt vua Trần, tới lui nơi trại giặc, thương thuyết với chúng, hoặc giả cách cầu hoà, làm tinh thần chúng mỏi mệt, tạo điều kiện cho quân ta tập kích giành thắng lợi. Lê Trắc đã phải thừa nhận trong “An Nam chí lược”(8) như sau:

          "Tháng hai năm Mậu tý (1288) thế tử (Đại Việt) phái người anh con bác ruột là Hưng Ninh Vương Trần Tung nhiều lần tới ước hẹn việc đầu hàng, cốt làm cho quân ta mỏi mệt, rồi ban đêm cho quân cảm tử tới cướp doanh trại "...

          Rõ ràng các tài liệu trên đã khẳng định Trần Tung là một tướng lĩnh có tài, một nhà ngoại giao đắc lực của nhà Trần, có nhiều đóng góp vào chiến thắng Nguyên Mông lần thứ hai và lần thứ ba. Sau đại thắng Nguyên Mông, Trần Tung được phong làm Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay). Không lâu sau, ông bỏ chức tước để trở về ấp Tịnh Bang (thuộc làng Yên Quảng, huyện Vĩnh Lại) lập ra Dưỡng Chân trang làm nơi toạ Thiền, tu Phật. Có lẽ việc ông bỏ chức tước đi theo đạo Phật là nguyên cớ để các sử gia không nhắc tới công lao của ông trong “Đại Việt sử ký toàn thư”. Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” được hoàn thành chủ yếu vào thế kỷ 15 là thế kỷ độc tôn của Nho giáo. Với thái độ "Bài Phật", các sử gia đã thể hiện sự chê trách của mình đối với Trần Tung cùng tư tưởng vượt ra ngoài quỹ đạo nhà Nho của ông, bằng cách không nhắc đến ông trong khi viết sử. Điều này dễ hiểu, vì ngay cả đối với vua Trần Nhân Tông vào những năm cuối đời bỏ ngôi báu ra đi cũng bị các sử gia lên án, huống hồ là Trần Tung.

          Nho gia ghét bỏ Trần Tung, nhưng Phật gia lại hết lời ca ngợi ông. Từ vị Tiết độ sứ, Hưng Ninh Vương Trần Tung sớm trở thành Tuệ Trung Thượng Sĩ, một ngôi sao sáng trên bầu trời thiền Việt Nam. Tuệ Trung Thượng Sĩ là học trò xuất sắc của Thiền sư Tiêu Diêu. Tiêu Diêu thiền sư còn gọi là Phúc Đường đại sư, cư trú ở Phúc Đường tinh xá (chưa rõ ở đâu) là một thiền sư nổi tiếng thời Lý. Ông là đệ tử của Ứng Thuận phái Vô Ngôn Thông, đồng thời là người thừa kế thiền sư Đại Đăng, tổ thứ ba chùa Hoa Yên núi Yên Tử (xem “Thuyền Uyển tập anh”)(9). Trần Tung rất mực cung kính, khâm phục thiền sư Tiêu Diêu:

          Tu tri thế hữu nhân trung Phật

          Hưu quái lô khai hoả lý liên

               (Bài “Trình thiền sư Tiêu Diêu ở Phúc Đường”)

          Nên biết trong đời sinh đức Phật

          Lạ chi giữa lửa nở sen vàng

                                   (Đỗ Văn Hỷ dịch).

          Tuệ Trung Thượng Sĩ đã tiếp thu được mọi nguyên lý sâu xa, vi diệu nhất của Thiền học từ sư phụ Tiêu Diêu, rồi truyền dạy lại cho Trần Nhân Tông, đệ nhất tổ phái Thiền học Trúc Lâm Yên Tử. Chính vì thế Tuệ Trung Thượng Sĩ được coi là người tiên phong của phái Thiền học Trúc Lâm Yên Tử.

          Tuệ Trung Thượng Sĩ là một nhà thiền học có bản lĩnh, có lý trí, không giáo điều sách vở. Ông tu Phật nhưng không xuất gia, không toạ thiền, không trì giới, không ăn chay, không cầu thành Phật, không thuyết pháp... mà "hoà quang đồng trần" (cùng thế tục hoà sáng), sống "hoà lẫn với thói thường chứ không làm ra cách trái hẳn với người đời", "cứ tuỳ cái tính tự nhiên của mình mà làm chứ không câu chấp ở cái danh" (Thượng Sĩ hành trạng). Không ăn chay, không trì giới đối với người tu Phật là thái độ trái với truyền thống giáo điều mà các tín đồ không thể hiểu nổi. Khi thấy trong khi dự tiệc, Tuệ Trung Thượng Sĩ gặp thịt cứ ăn, Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu lấy làm lạ, hỏi rằng: "Anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?" Câu trả lời của Tuệ Trung Thượng Sĩ sau đây đã thể hiện rõ tinh thần tự do, độc lập trong nhận thức sự vật ở chính sự vật chứ không lệ thuộc vào bất cứ tín điều nào:

          "Phật tự Phật, huynh tự huynh. Huynh dã bất yếu tố Phật, Phật dã bất yếu tố huynh. Bất kiến cổ đức đạo: "Văn Thù tự Văn Thù, giải thoát tự giải thoát?"

          (Phật là Phật, anh là anh. Anh không cầu làm Phật, Phật không cầu làm anh. Chẳng thấy các bậc đại đức xưa nói: "Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát" đó sao?)(10)

          Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tuệ Trung Thượng Sĩ là người đầu tiên đưa ra khái niệm “bản thể”, một khái niệm mà ngày nay triết học Đông Tây thường nói tới. Bản thể luận (bàn về nguồn gốc sự vật) là vấn đề ông thường thể hiện trong sáng tác của mình. Theo ông, bản thể là KHÔNG. Mọi hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội đều là những khái niệm không phản ánh được thực chất của vạn pháp, chỉ là ước định của người đời mà thôi. Từ bản thể KHÔNG sẽ xuất hiện ảo hoá, vô minh mà phân thành nhị kiến. Bởi nhị kiến mà xuất hiện mọi thứ: sinh tử, mê ngộ, phàm thánh, chân vọng, sắc không, phải trái... Do nhị kiến mà kiến giải cũng thiên lệch. Nếu lấy kiến giải để trình kiến giải thì lại càng sai lệch hơn:

          Kiến giải trình kiến giải

          Tự niết mục tác quái.

                             (Kiến giải)

          Kiến giải bày kiến giải

          Như dụi mắt làm quái.

          Con người muốn nhận thức đúng sự vật phải xoá bỏ vô minh, mà thủ tiêu nhị kiến thì vô minh tự diệt. Cho nên Tuệ Trung Thượng Sĩ chủ trương "vong nhị kiến". Để diệt nhị kiến, ông đưa ra phương pháp phá chấp. Muốn giác ngộ tới chân lý tối hậu phải tự tìm hiểu, phải có tâm hồn trẻ thơ không thiên không lệch. Khi đã giác ngộ, lại trở về với tồn nhiên như nhiên, trở về với không (vô). Có người chấp vào kinh sách mà hỏi ông: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" (Sắc là không, không là sắc) là thế nào?" Ông trả lời: "Sắc bản vô không, không bản vô sắc" (Sắc vốn chẳng phải không, không vốn không phải sắc). Theo ông, kinh điển chỉ là phương tiện mà thôi và ông khuyên mọi người:

          Đừng gánh nặng hai vai

          Mới qua cầu khỉ được.

          Tư tưởng Thiền tông của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng thể hiện ở mệnh đề "Tức tâm, tức Phật". Tâm, không thể nói được; Phật, không thể thấy được. Tâm và Phật quan hệ mật thiết với nhau, hễ có cái này thì cũng có cái kia, hễ cái này mất thì cái kia cũng mất. Bản thể của Tâm không tướng, không hình, không nhìn thấy được. Nếu muốn biết bộ mặt thật của Tâm thì thật là chuyện nực cười. Ông khuyên mọi người không nên tìm Tâm ở ngoài ta, bởi vì Phật trong ta. Đó chính là Tâm ta vậy:

          Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm

          Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp.

                                           (Phật tâm ca)

          Tâm của muôn loài tức Phật tâm

          Tâm Phật cũng phù hợp với tâm ta.

          Một khi tâm con người bao dung, mở rộng, chứa được tâm của vạn pháp, đạt được tâm Phật là giác ngộ, là giải thoát.

          Sinh tử là vấn đề quan trọng nhất trong nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông cho rằng sinh tử đều là vọng (không chân thực), chỉ là nhận thức sai lầm mà thôi. Sinh tử phụ thuộc vào Tâm: Tâm sinh thì sinh tử sinh, Tâm diệt thì sinh tử diệt. Sinh tử vốn không có tự tính. Sinh tử cũng tuân theo quy luật tự nhiên như mặt trời mọc đằng đông, mặt trăng lặn đằng tây vậy. Con người chẳng nên lo lắng trước sống chết, hãy coi sống chết là việc nhẹ nhàng không quan trọng, vì sống chết là lẽ thường mà thôi.

          Tâm chi sinh hề sinh tử sinh

          Tâm chi diệt hề sinh tử diệt

          .........

          Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.

                           (Sinh tử nhàn nhi dĩ)

          Tâm sinh thì sống chết sinh

          Tâm diệt thì sống chết diệt

          .........

          Bậc trí có cái nhìn thông đạt xem sống chết là lẽ thường mà thôi.

           Thiền học của Tuệ Trung Thượng Sĩ là tín ngưỡng nội tâm, luôn luôn tự khai phóng, tự hoàn thiện, hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp ở ngay trần thế. Mặc dù quan điểm Thiền học của ông cũng như của Thiền tông Việt Nam nói chung là quan điểm duy tâm, nhà Trần vẫn lấy hệ tư tưởng của Thiền tông làm hệ tư tưỏng chủ đạo của đất nước và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực văn hoá và chống ngoại xâm. Vào thời Lý, Phật giáo Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với ba trường phái Thiền tông cùng tồn tại. Trong thời kỳ đầu, vừa tiếp nhận chính quyền từ tay nhà Lý, nhà Trần vẫn phải đề cao Phật giáo để thu phục nhân tâm và tiếp tục phát triển nền văn hoá mà nhà Lý đã đạt được, đồng thời tiến tới xây dựng một hệ tư tưởng độc lập của mình. Cùng với Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng rất lớn vào việc hoà nhập ba phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, dẫn tới sự phát triển của Thiền phái duy nhất thời Trần là Trúc Lâm Yên Tử vào thế kỷ XIII. Phật giáo thời Trần được coi là Phật giáo nhất tông.

          Quan niệm Thiền và tư tuởng tuỳ nghi "Vào xứ mình trần cởi áo đi, phải đâu quên lễ, chỉ tuỳ nghi" (bài “Vật bất năng dung”) và "Hợp thời đúng lúc cốt tinh anh" (bài “Ngẫu tác”) của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có tinh thần nhập thế tích cực, nhập thế vì quê hương đất nước, vì đồng loại chứ không phải vì cá nhân. Theo ông, mọi hoạt động trong cuộc sống hàng ngày đều là thiền (Hành diệc thiền, toạ diệc thiền). Khi đất nước bị xâm lăng thì đánh giặc cứu nước là biết tuỳ nghi, là hợp thời đúng lúc, là thiền. Hệ tư tưởng Thiền tông với vị trí là hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước thời Trần đã góp phần quyết định làm nên ba lần đại thắng Nguyên Mông của dân tộc ta. Nhờ ảnh hưởng tư tưởng thiền mà quân dân nhà Trần đã từng chích lên cánh tay hai chữ "Sát Thát", coi cái chết vì nước vì dân nhẹ như lông hồng, tạo nên sức mạnh tinh thần Đại Việt, quét sạch giặc xâm lăng ra khỏi bờ cõi.

          Là một quý tộc trí thức uyên bác, nhà thiền học lớn, Tuệ Trung Thượng Sĩ được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi là sư huynh và ban cho tên hiệu Thượng Sĩ (danh hiệu tương đương như bồ tát; Thượng Sĩ là người mà mọi hành động đều lợi mình và lợi cả người). Trần Nhân Tông - Nhà văn hoá lớn, nhà thơ xuất sắc thế kỷ XIII, người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã thừa nhận Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy và đánh giá ông là một bậc đại trí tuệ, một quả núi lớn trong rừng Thiền:

          Pháp hải độc nhãn

          Thiền lâm tam giác

          (Biển pháp một ngươi

          Rừng Thiền ba phía)(11)

          Trần Tung - Tuệ Trung Thượng Sĩ còn là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt sáng giá trong làng thơ thiền Việt Nam thế kỷ XIII. Những sáng tác chủ yếu của ông được tập hợp trong bộ “Thượng Sĩ ngữ lục”.

          Tính chất phóng khoáng, không quá lệ thuộc vào bất kỳ một tín điều nào (kể cả tín điều nhà Phật) là đặc điểm chủ yếu tạo nên bản sắc tư tưởng và chi phối phong cách nghệ thuật thơ của ông. Xuất phát từ việc đập vỡ thái độ bám víu vào khái niệm, đả phá những vấn đề giả tạo trong đời sống đạo để ca lên khúc nhạc huyền diệu của muôn đời (Diệu khúc bản lai tu cử xướng - Bài “Thị chúng” ), Trần Tung đã tạo cho thơ Thiền của mình một phong cách riêng, phong cách mà các nhà nghiên cứu gọi là “phong cách phóng cuồng”.

          Là một nhà Thiền học nhưng thơ Trần Tung lại có khí cốt cao ngạo, tung hoành như Trang Tử. Trước cảnh đẹp hùng tráng của núi sông, vũ trụ, ông chống gậy đi du ngoạn, không quan tâm đến ăn uống, hoàn toàn tự tại, tiêu dao, thoát tục đến hoá cuồng. Cái cuồng siêu thoát vì nhận thức bản thể KHÔNG của Thiền tông. Siêu thoát đến cùng cực, siêu thoát từ trần gian đi vào cõi Thiền (Bài “Phóng cuồng ngâm”). Có lúc thơ ông lại mang tâm sự ẩn nhẫn của một xử sĩ. Ban đầu ông chưa nghĩ tới thú giang hồ, vì còn bận với đường công danh. Nhưng rồi thời gian thoi đưa, công danh lận đận, tuổi đã cao, ông mới nghĩ đến thú giang hồ. Ông theo con thuyền tiêu dao của Tạ Tam, vượt thác ghềnh, đắm mình với non xanh nước biếc, tiếng sáo chiều hôm, gió mát trăng thanh, tiếng nhạn báo thu về... Tiêu dao là cuộc sống ẩn sĩ của ông (Bài “Giang hồ tự thích”). Đôi khi ông lại day dứt khôn nguôi về những chuyện "thanh trọc", "đắc thất" ở đời. Ông từng cố sức chen chân trên đường công danh nhưng không đạt sở nguyện. Ông tự đánh giá mình cao hơn những gì triều đình ban cho ông nên ông bất mãn thế thái nhân tình.

          Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào,

          Ngũ thất niên gian thị xưởng tào.

          Túng dã siêu quần kiêm bạt tuỵ,

          Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao.

                                  (Bài “Chiếu thân”)

          Sém đầu dập trán bởi đua chen,

          Năm bảy năm nay kiếp ngựa hèn.

          Ví phỏng tài năng siêu việt hết,

          Mỗi lần rớt xuống, một lần lên.

          Trong thế giới huyền bí nhà Phật mà Trần Tung dấn thân vào, ông vẫn cố gắng suy nghĩ độc lập, kiểm nghiệm mọi tín điều, mọi hành động, mọi thói quen. Ngay cả việc ngồi thiền ông cũng coi chẳng qua chỉ là quá trình tập trung tư tưởng, chẳng liên quan đến niệm Phật:

          Đường trung đoan toạ tịch vô nghiên

          Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên

          Tự thị quyện thời tâm tự tức

          Bất quan nhiếp niệm, bất quan Thiền.

                                           (Bài “Ngẫu tác”)

          Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên

          Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên

          Lúc mệt mỏi rồi tâm tự tắt

          Cần chi niệm Phật với cầu Thiền.

          Ông phê phán sự mù quáng tin theo những giáo lý có sẵn, vì như thế là mình chỉ làm theo người khác chứ đâu còn là mình nữa. Ông khuyên mọi người hãy độc lập xét đoán sự vật, không nên dựa dẫm vào người khác. Chỉ khi nào vứt bỏ được thái độ dựa vào người khác và tự mình tư duy hành động thì ánh sáng trí tuệ mới bừng dậy trong ta.

          Báo quân hưu ỷ tha môn hộ

          Nhất điểm xuân quang, xứ xứ hoa

                                          (Bài “Thị học”)

          Thôi chớ cửa người nương dựa nữa,

          Một tia xuân đến nở hoa đầy.

          Là một người cuồng ngông trong vườn Thiền thời Trần, Trần Tung đã để lại những vần thơ phóng túng đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam. Hơn thế nữa, không dừng lại ở những vần thơ phóng túng, ông còn thể hiện tâm trạng phóng cuồng của mình bằng những bài ca phóng cuồng như: “Phật tâm ca”, “Phóng cuồng ngâm”, “Trừu thần ngâm”, “Sinh tử nhàn nhi dĩ”, “Phàm thánh bất dị”... Những bài ca phóng cuồng của ông về đời sống tu hành thường mang triết lý sâu sắc, cảm xúc tinh tế, hình tượng phong phú và sinh động, câu thơ giàu âm điệu:

          Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mông,

          Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài phương.

          Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi,

          Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.

          Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý,

          Mệt thì ngủ chừ, làng không làng.

          Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,

          Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương.

                (Bài “Phóng cuồng ngâm”. Huệ Chi và Đỗ Văn Hỷ dịch)

 

          Trần Tung là nhà thơ thiền có phong cách phóng cuồng sôi nổi và dữ dội, độc đáo và hấp dẫn. Thơ thiền của ông chứa đầy Phật lý và thế tục, mỗi hình tượng thế tục đều gắn với Phật lý và Phật lý nằm trong hình tượng thế tục. Con người đời thường và con người Phật giáo ở ông hoà quyện vào nhau. Bằng cách lập luận sắc sảo, sử dụng linh hoạt nhiều hình tượng độc đáo thể hiện sâu sắc quan điểm Thiền và đậm chất Lão Trang, Trần Tung đã sáng tạo được những vần thơ đầy hào khí, bay bổng, sinh sắc, lạ thường, phóng cuồng mà vẫn tỉnh táo, huyền diệu và thoát tục mà không xuất thế.

           Là nhân sĩ yêu nước, mỗi khi Tổ quốc bị giặc xâm lăng, Trần Tung đã đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm nhất, khi làm sứ giả vào tận sào huyệt của địch đấu trí trên mặt trận ngoại giao, lúc làm tướng trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập nhiều công trạng.

          Là một nhà thơ thiền, ông để lại số lượng thơ thiền nhiều nhất đương thời (49 bài thơ, 4 bài kệ, 13 bài tụng), những bài thơ có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật, thể hiện một phong cách mà không một nhà thơ nào bắt chước được: Phong cách phóng cuồng.

          Là một nhà Thiền học, nhà tư tưởng, ông có công đóng góp vào việc hình thành hệ tư tưởng thời đại nhà Trần, góp phần không nhỏ vào chiến thắng Nguyên Mông, viết lên trang sử vẻ vang, hào hùng và oanh liệt của dân tộc ta.

          Nhà quân sự, nhà thơ, nhà Thiền học Trần Tung - Tuệ Trung Thượng Sĩ cùng những di sản quý giá ông để lại là niềm tự hào của nhân dân Nam Định và của cả đất nước.

-----------------

Chú thích:

            * Tất cả các đoạn trích thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài viết này được lấy trong cuốn Thơ văn Lý Trần / Nguyễn Huệ Chi chủ biên. - H.: Khoa học xã hội, 1988. - T.2. - Q. thượng. - Tr. 223 - 351, có đối chiếu tham khảo một số sách khác như Thượng Sĩ ngữ lục, sách lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A1932...

            (1) Đại Việt sử ký toàn thư. - H.: Khoa học xã hội, 1988. - T.2. - Tr.100.

            (2) Hoàng Việt văn tuyển / Tồn Am Bùi Huy Bích. - Sách lưu Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A203, mục tiểu dẫn về Trần Quốc Tảng viết rằng:

            "Trần Ninh vương Quốc Tảng, là con cả của Hưng Đạo..." ..." Tự đặt hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Thường cưỡi thuyền rong chơi ở khúc Cửu Giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng ca".

            Bùi Huy Bích (1744 - 1802) tự Hy Chương, hiệu Tồn Am, người xã Định Công, huyện Thanh Trì, trú ở xã Thịnh Liệt cùng huyện (nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội). Ông đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ sửu 1769 đời Lê Hiển Tông, làm quan đến Hành Tham tụng, tước Kế Liệt hầu, sau lui về ở ẩn. Ông là một nhà sử học, văn học nổi tiếng, có nhiều tác phẩm như: Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển, Nghệ An thi tập, Tồn Am thi văn tập, Châu Phong tạp ký...

            (3) - Lược truyện các tác gia Việt Nam. - H.: Khoa học xã hội, 1972. - T.1. - Mục 40 : Trần Quốc Tảng.

            - Hợp tuyển thơ văn Việt Nam: Văn học thế kỷ X - Thế kỷ XVII. - In lại lần 2 có sửa chữa, bổ sung. - H.: Văn học, 1976. - T.2. - Tr. 137 - 145.

            (4) Tuệ Trung nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ / Nguyễn Duy Hinh. - H.: Khoa học xã hội, 1998. - Tr. 38, viết:

            "Hoàn toàn có thể có một Yên Ninh vương khác Yên Sinh vương Trần Liễu, cũng như thực tế có hai ông Liễu, hai ông Tung, hai bà Thuận Từ..."

            (5) Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam / Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế. - H.: Khoa học xã hội, 1992. - Tr. 884 và 897.

            Thuyết nói Phóng cuồng ngâm là của Trần Quốc Tảng nói chung và ở sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam nói riêng đã bị nhiều tác giả phê phán, bác bỏ một cách xác đáng và đầy đủ. Căn cứ vào văn phong của Phóng cuồng ngâm hoàn toàn thống nhất với những bài thơ khác của Tuệ Trung Thượng Sĩ có thể kết luận: Phóng cuồng ngâm không phải là của Trần Quốc Tảng, mà là của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.

            (6) Ngoài ra còn một số sách khác cũng có quan điểm Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung, như cuốn Từ điển văn hoá Việt Nam: Phần nhân vật chí. - H.: Văn hoá - Thông tin, 1993. - Tr. 539, viết:

            "Trần Tung (1230 - 1291) có hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ, con trai của Trần Liễu và là anh ruột của Trần Hưng Đạo..."

            (7) Thơ văn Lý Trần. - H.: Khoa học xã hội, 1984. - T.2. - Q. thượng. - Tr. 538 - 548.

            (8) An Nam chí lược / Lê Trắc.- Q.4. - Sách lưu Thư viện Viện Hán Nôm.

            Lê Trắc (Tắc) tự Cảnh Cao, người ái Châu (Thanh Hoá) làm quan đến Tịnh hải tả tướng quân và làm Tham mưu cho Chương Hiến hầu Trần Kiện thời Trần. Khi quân Nguyên xâm lược nước ta, Lê Trắc cùng Trần Kiện đã phản bội Tổ quốc, ra hàng giặc và theo về Trung Quốc làm quan cho nhà Nguyên.

            Xem thêm:

            - Lại một lần nữa buộc tôi nhắc đến cái tên Lê Tắc và bản sách An Nam chí lược / Huỳnh Thúc Kháng // Tao Đàn. - 1939.- Số 7. - Tr. 670.

            - Lại nói về quyển An Nam chí lược của Lê Tắc / Huỳnh Thúc Kháng // Tao Đàn. - 1939. - Số 6. - Tr. 495.

            - Một nhà viết sử hai nước, một quyển sử nhục nhã: Lê Tắc và quyển An Nam chí lược của y / Trần Thanh Mại // Tao Đàn. - 1939. - Số 3. - Tr. 203.

            - Tìm hiểu kho sách Hán Nôm / Trần Văn Giáp. - H.: Văn hoá, 1984. - T.1. - Tr. 340 - 344.

            (9) Thuyền uyển tập anh. - Sách lưu Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv1267 và A3144...

            (10) Thơ văn Lý Trần. - Sách đã dẫn. - Tr. 542.

            (11) Thơ văn Lý Trần. - Sách đã dẫn. - Tr. 544.

          - Danh nhân văn hoá Nam Định: Công trình nghiên cứu cấp tỉnh do Sở Văn hoá - Thông tin thực hiện. - Nam Định: Sở Văn hoá Thông tin Nam Định, 2000. - T.1. - Tr. 83 - 96

          - Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX: Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình. - H.: Văn hoá Thông tin, 2005.

 

Nguồn: Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế kỷ XX: Nghiên cứu lý luận phê bình. - H.: Văn hóa thông tin, 2004. - Tr, 154 - 165.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

 

I- ĐÔI NÉT TIỂU SỬ HÀNH TRẠNG TRẦN QUỐC TUẤN

         Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn quê tại xã Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).

       Năm sinh của ông có sách chép là 1228, 1230, 1231…

        Ông là con trai thứ ba của Khâm Minh đại vương Trần Liễu – anh cả của Trần Thái Tông Trần Cảnh, do vậy Trần Quốc Tuấn gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột. Cho đến nay vẫn không rõ mẹ ông là ai, có một số giả thiết đó là Thiện Đạo quốc mẫu, huý là Nguyệt, một người trong tôn thất họ Trần.(1) Sau khi Trần Liễu mất (1251), theo "Trần triều thế phả hành trạng" thì bà Trần Thị Nguyệt đã xuất gia làm ni sư, hiệu là Diệu Hương. Ông có người mẹ nuôi đồng thời là cô ruột, Thụy Bà công chúa.(2)

         Năm1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược lần thứ nhất (1258).

        Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, ông được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. 

          Năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược của Trấn Nam vương Thoát Hoan xâm lược nước ta lần thứ hai.

         Năm 1288, ông chỉ huy quân Trần đánh bại cuộc xâm lăng nước ta lần thứ ba của quân Nguyên.

         Tháng 4 âm lịch năm 1289, ông được gia phong "Đại vương". Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp, mất năm 1300.

         Ông để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến tận ngày nay.

        Các đền thờ ông tiêu biểu:

       Đền Kiếp Bạc, Tp.Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đệ Nhất Linh từ.

       Đền Sơn Hải, Bạch Đằng, Quận Hoàn Kiếm,Thành Phố Hà Nội. Sơn Hải Linh Từ.

       Đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

       Đền Trần, xã Khánh Lợi, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

       Đền A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đệ Nhị Linh từ.

Đền Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Đền Cao An Phụ, xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

       Đền Trần Hưng Đạo, xã Khánh Cư, Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

       Đền Trần, làng Thổ Khối, xã Hà Dương, huyện Hà Trung, Thanh Hóa.

       Đền Trần Hưng Đạo, làng Thành An, xãNghĩa Phong, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

       Đình An Quý, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

       Đền Tân Phẩm, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Đền Linh Quang, phường Phú Hiệp, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

       Đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam.

       Đền Thái Vi, hành cung Vũ Lâm, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

       Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, ở 36 đường Võ Thị Sáu, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

       Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, số 92 Dương Khuê, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

       Đình Tân Phong, thôn Sào Thượng, xã Lạng Phong, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

       Điện thờ Đức Thánh Trần, thôn Quang Trung, xã Diên Hông, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

       Đền thờ Đức Thánh Trần, thôn Hoàng Sơn, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

       Đền thờ Đức Thánh Trần, ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

       Đền thờ Đức Thánh Trần, đường Nguyễn Ái Quốc, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

       Đền thờ Hồi Nguyên Đường, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

       Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, thôn Cao Trung, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

       Di tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

       Đền thờ Trần Hưng Đạo, số 124 đường Nguyễn Trãi, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

       Đền thờ Đức Thánh Trần, số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

 

II- MỘT NHÂN CÁCH LỚN

         Người anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trở thành vị Thánh trong tâm thức người Việt Nam. Nhân dân suy tôn Trần Quốc Tuấn là Thánh vì sự hoàn thiện cả về tài năng và nhân cách của ông.

       1- Trần Quốc Tuấn luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân và gia đình. Ý thức trách nhiệm đó đã chi phối mọi hành động và mọi mối quan hệ xã hội trong cả cuộc đời và sự nghiệp của ông, làm cho nhân cách ông trở nên lớn lao và cao đẹp.

         Cuộc đời của Trần Quốc Tuấn là một tấm gương sáng về lòng trung quân ái quốc. Chính lòng trung thành đó đã giúp ông xử sự các mối quan hệ xã hội một cách đúng đắn, luôn vì lợi cho quốc gia, dân tộc. Trong xã hội phong kiến, chữ “trung” và chữ “hiếu” rất được coi trọng. Trần Quốc Tuấn đã nêu một tấm gương trong việc giải quyết mối quan hệ giữa trung và hiếu một cách trọn vẹn, biểu hiện rõ nhân cách lớn của ông – một bài học về đạo làm con khi quốc gia có đại sự.

          Cha Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu bị Trần Thủ Độ ép nhường vợ đang có mang cho em trai là vua Trần Thái Tông. Trần Liễu nổi dậy chống lại nhưng bị thất bại. Từ đấy, Trần Liễu mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh (Trần Liễu) cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng: “Con mà không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.(3)

          Sau này Trần Quốc Tuấn đem chuyện đó hỏi con trai mình là Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng có ý muốn ông cướp ngôi nhà Trần. Ông nổi giận rút gươm toan xử tội và dặn người nhà rằng: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.(4)

          Lúc vua Trần lâm nguy, khi quân quyền đất nước nằm trong tay, Trần Quốc Tuấn vẫn một lòng trung thành với vua Trần, không hề có ý định thực hiện nguyện vọng của cha. Điều đó càng khẳng định nhân cách cao đẹp dũng cảm hiến dâng quyền lợi cá nhân và gia đình cho dân tộc của Trần Quốc Tuấn.

          Vào thời thịnh trị, các vua Trần có tài cao đức lớn đã thực sự là những ông vua sáng xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân. Vì vậy trung với vua cũng là trung với nước. Nhận thức sâu sắc điều đó, Trần Quốc Tuấn một lòng phò vua cứu nước.

        Trong lúc xa giá nhà vua xiêu dạt, Trần Quốc Tuấn thường dùng cây gậy đầu bịt sắt nhọn để chống khi đi theo vua. Vua và quần thần thấy Trần Quốc Tuấn là bậc kỳ tài, lại có mối hiềm cũ của Yên Sinh Vương nên rất lo ngại. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi, chỉ chống gậy không. Những việc làm như thế đã xua tan mối ngờ vực của mọi người. Ông được vua Trần tin cậy ban cho đặc quyền nhưng ông không bao giờ lạm dụng những đặc quyền đó.

          Ngô Sĩ Liên có lời bình về việc này như sau:

          “Ban tước cho người là quyền của Thiên tử, không phải là quyền của kẻ làm tôi”... “Bề tôi nhà Trần mà biết đạo ấy, phải chăng chỉ có Quốc công Hưng Đạo Đại Vương”.(5)

         Điều đó cho thấy Hưng Đạo Vương rất nghiêm trong giữ gìn kỷ cương phép nước.

          2- Trong hoàng tộc, Trần Quốc Tuấn luôn cẩn trọng xử sự sao cho triều đình đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm. Ông chủ động dẹp mối bất hòa với Trần Quang Khải. Mối bất hòa giữa Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu) và Trần Quang Khải (con vua Trần Thái Tông) bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa hai chi của họ Trần. Sự hòa hợp giữa Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải chính là biểu hiện thống nhất ý chí của vương triều Trần, góp phần đánh thắng giặc Nguyên hung hãn.

          Trần Quốc Tuấn hiểu rằng ông có được quân dân tin yêu hay không, sự thành bại của cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông mà ông làm Quốc công tiết chế phụ thuộc rất nhiều vào sự đoàn kết trong hoàng tộc mà mối quan hệ giữa ông và Trần Quang Khải là tiêu biểu. Đoàn kết hoàng tộc vì lợi ích quốc gia là yếu tố quan trọng để chiến thắng quân xâm lược. Vì vậy Trần Quốc Tuấn sẵn sàng từ bỏ cái lợi ích riêng của mình, khi cần ông dám từ chối ân huệ của vua.

         Khi Trần Quang Khải theo Trần Thánh Tông đi đánh giặc, ghế Tể tướng bỏ không, vừa lúc sứ phương Bắc đến. Thái Tông phong Trần Quốc Tuấn là Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn chỉ nhận nhiệm vụ tiếp sứ, còn chức Tư đồ thì ông từ chối vì sợ “tình nghĩa trên dưới e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng quan gia và Quang Khải”.(6)

          3- Trần Quốc Tuấn rất quý trọng nhân tài. Ông cưu mang, bồi dưỡng, trọng dụng và tiến cử nhiều người tài đức cho triều đình nhà Trần như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực... Ông biết nhận xét đánh giá và sử dụng các tướng lĩnh bằng cả tài thao lược và nhân tâm. Những người này đều vốn là gia thần hoặc môn khách của Trần Quốc Tuấn. Họ thực sự là những người nổi tiếng về văn chương, quân sự và chính trị thời bấy giờ.

          Quả là Trần Quốc Tuấn chọn tướng thật tinh tường, thương quân hết mực. Tướng ấy, quân ấy sẽ là đội quân không thể chiến bại.

          4- Trần Quốc Tuấn là người có ý thức trách nhiệm rõ nét về cuộc đời mình. Chúng ta chưa có đủ tài liệu để dựng lại toàn bộ cuộc đời riêng, những quan hệ và sinh hoạt cá nhân đời thường của Trần Quốc Tuấn, nhưng ta vẫn có thể tìm thấy trong chính sử những dấu ấn về cuộc đời ông trong lĩnh vực này.

          Năm 1251, vua Trần Thái Tông “Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai Yên Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn”.

          “...Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa...”

          “...Vua bất đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn”.(7)

          Chúng ta biết rằng Đại Việt sử ký toàn thư được hoàn thành chủ yếu vào thế kỷ XV, thế kỷ mà tư tưởng Nho giáo là tư tưởng thống trị. Các nhà viết sử với quan điểm Nho giáo đã tỏ thái độ rất khắt khe đối với các hành động vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo của nhà Nho. Họ nghiêm khắc phê phán hành động “cướp lấy công chúa” của Trần Quốc Tuấn. Còn ở thế kỷ XIII, tư tưởng Phật giáo được coi là tư tưởng chính thống, các mối quan hệ con người với con người chưa bị ràng buộc chặt chẽ, nghiệt ngã của tư tưởng Nho giáo. Những biểu hiện nhân cách kiểu như Trần Quốc Tuấn chưa bị xóa bỏ hoàn toàn. Ở thế kỷ này, chúng ta bắt gặp một Trần Ích Tắc sắc sảo nhưng đố kị và ích kỷ, một Trần Khánh Dư tài giỏi nhưng cũng mang đầu óc vụ lợi cá nhân, một Trần Tung thiền sư nổi tiếng với phong cách phóng cuồng... Những nhân cách rất riêng ấy là biểu hiện của yếu tố làm nên bản sắc riêng của từng người, tạo ra bản sắc thời Trần tỏa sáng hào khí Đông A.

         Hành động táo bạo cướp công chúa, bất chấp lệnh vua, không sợ nguy hiểm, làm một việc đã rồi buộc vua Trần phải chấp nhận của Trần Quốc Tuấn là biểu hiện sự “nổi loạn” của mối tình không chịu ép buộc và xếp đặt của người khác, đòi được tự do yêu đương và lựa chọn xây dựng hạnh phúc lứa đôi, cho thấy thời trai trẻ Trần Quốc Tuấn có tình yêu mãnh liệt và bột phát.

          Nhân cách của Trần Quốc Tuấn luôn được đề cao trong các tài liệu lịch sử, cũng như trong các tác phẩm văn học. Vào thế kỷ XV, khi chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh, một học giả uyên thâm là Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm (1456-1522) đã làm thơ ca ngợi như sau:

          Sinh phùng gia hấn thệ thấu trung

          Mậu kiến Trung hưng đệ nhất công

          Một hậu uy do tôi bắc lỗ

          Ỷ thiên trường kiếm dạ minh phong.

Dịch:

          Quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung

          Trung Hưng nghiệp lớn lập nhiều công

          Uy còn phá giặc thân tuy thác

          Tiếng gió gầm đêm kiếm múa vung(8)

          Đến thế kỷ XVII, trong Thiên Nam ngữ lục (chữ Nôm) cũng hết lời ca ngợi công đức, nhân cách của Trần Quốc Tuấn:

          Đền công huyết thực muôn xuân

          Sắc Thượng đẳng thần, muôn kiếp khói hương(9)

          Nhiều tác phẩm như Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, hay Nam hải dị nhân của Phan Kế Bính cũng luôn đề cao nhân cách của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

          Tính cách mạnh mẽ đấu tranh cho quyền tự do, ý thức sâu sắc và hành động đúng đắn về trách nhiệm của bản thân đối với quốc gia dân tộc thể hiện nhân cách lớn của Trần Quốc Tuấn. Có lẽ ông trở thành Đức Thánh Trần trong tâm thức dân gian không chỉ vì ông là một tài năng, mà còn là vì nhân cách cao đẹp của ông.

 

       III- TƯ TƯỞNG “DĨ ĐOẢN, CHẾ TRƯỜNG" – ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

          Vào thế kỷ XIII, trong 30 năm (1258 – 1288) quân dân nhà Trần đã ba lần đại thắng Nguyên Mông, viết lên trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Vì sao và bằng cách nào mà nước Đại Việt nhỏ bé, quân ít, dân không đông, tiềm lực có hạn lại đánh thắng một đội quân xâm lược khổng lồ, hùng mạnh và tàn bạo nhất trong lịch sử, có trang bị mạnh, từng chinh phục đại bộ phận lục địa từ Á sang Âu? Để lý giải triệt để điều này, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn tiếp tục phân tích ngày càng rõ ràng hơn. Một trong những lý giải cho điều đó là Đại Việt đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự “Dĩ đoản (binh), chế trường (trận)” mà Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã tổng kết.

          Năm 1300 Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua Trần tới thăm và hỏi ông về kế sách giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã đúc kết kinh nghiệm trong suốt cuộc đời đánh giặc giữ nước của mình một cách súc tích:

          - “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã(10), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng được người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.

          Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tuỳ thời tạo thế, có được một đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.(11)

          Trần Quốc Tuấn cũng từng dạy: “Phàm đánh trận thì đánh chỗ tĩnh yếu, lánh chỗ tĩnh mạnh; Đánh chỗ nhọc mệt, lánh chỗ nhàn rỗi; Đánh chỗ sợ lớn, lánh chỗ sợ nhỏ; Đó là đạo lý từ xưa nay vậy”... “Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến”.(12)

          Theo tinh thần câu nói trên của Trần Quốc Tuấn, ta có thể hiểu:

          - Đại quân là quân lớn, quân đông, tức trường trận dùng để đánh những trận lớn.

          - Đoản binh là quân nhỏ, quân ít dùng để đánh tập kích và phục kích.

          Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần hồi thế kỷ XIII, ta có thể hiểu dĩ đoản chế trường là dùng lực lượng bộ binh nhỏ bé của Đại Việt để chế ngự kỵ binh hùng mạnh của quân Nguyên, bằng cách tránh cái mạnh của địch là tác chiến kỵ binh, công phá thành, đánh trên bộ... đồng thời lợi dụng và khoét sâu cái yếu của địch như thuỷ chiến, cướp lương, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng trên địa bàn nhiều sông ngòi lầy thụt mà không phát huy được thế mạnh để tiêu diệt chúng.

       Tóm lại, thực chất của tư tưởng quân sự dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn là dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng trang bị kém đánh đối phương có trang bị mạnh, phát huy mặt mạnh của ta, hạn chế mặt mạnh của địch để đánh thắng chúng.

          Tư tưởng chỉ đạo tác chiến dĩ đoản chế trường được thực hiện trong suốt lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và là một biểu hiện độc đáo của trường phái quân sự Việt Nam.

          Nước ta đất không rộng, người không đông, tiềm lực dựng nước và giữ nước hạn chế, lại luôn luôn phải đối phó với sự xâm lăng của quốc gia phong kiến phương Bắc lớn mạnh hơn hẳn.  Muốn đứng vững, tồn tại và phát triển với tư cách là một nước độc lập tự chủ, không bị đồng hoá, không bị thôn tính và biến thành nước chư hầu của phong kiến phương Bắc, cộng đồng người Đại Việt phải đoàn kết chặt chẽ, lựa chọn kế sách, tìm ra nghệ thuật giành thắng lợi trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần. Dĩ đoản chế trường là một sáng tạo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành từ thời Đinh, Lý đến thời Trần, được Trần Quốc Tuấn tổng kết, khái quát, vận dụng và phát triển với chất lượng mới. Thực tiễn ba lần đại thắng Nguyên Mông là một điển hình cho sự vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn.

          Trần Quốc Tuấn đã chỉ rõ, muốn đánh thắng giặc Nguyên, phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, phải đề cao tinh thần cố kết dân tộc, quân với dân một ý chí, tướng sĩ như cha con, toàn dân đánh giặc. Để thực hiện được tư tưởng dĩ đoản chế trường, lấy ít đánh nhiều, đòi hỏi quân đội phải tinh nhuệ, thiện chiến. Trong việc xây dựng quân đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng chất lượng hơn số lượng. Ông từng nói: “Quân sĩ quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm được gì?”(13)

         Chính Trần Quốc Tuấn đã rèn luyện tướng sĩ theo nguyên tắc “quân quý tinh bất quý đa”, nhờ vậy mà quân Trần đánh thắng quân Nguyên dù chúng đông hơn gấp nhiều lần. Trần Quốc Tuấn từng soạn Binh thư yếu lược và sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư để truyền dạy binh pháp và luyện tập tướng sĩ.(14)

          Trước số lượng đông của đội quân xâm lược, Trần Quốc Tuấn không hề dao động. Ông chỉ rõ vai trò của người làm tướng và binh lính tinh nhuệ trong chiến đấu: “Kể ra, tướng là chí, ba quân là khí. Khí dễ động mà khó chế. Do tướng chế mà trấn tĩnh thì sợ hãi có thể định, phản trắc có thể yên, trăm vạn quân có thể tiêu diệt được. Chí ngay thẳng mà mưu có một, khí phấn khởi mà dũng gấp đôi thì thắng”.(15)

          Rõ ràng, trong việc xây dựng quân đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng yếu tố tinh thần, quân tinh nhuệ phải là đội quân có lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc sâu sắc, phải biết biến lòng yêu nước thành hành động thiết thực. Ông đọc Hịch tướng sĩ kêu gọi mọi người “huấn luyện binh sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ; Có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”. Ông chỉ rõ lợi ích thiết thực của việc đánh giặc giữ nước, lên án những kẻ “lo làm giàu mà quên việc nước”. Ông đòi hỏi quân sĩ phải đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Ông nêu một tấm gương sáng về lòng trung thành với dân với nước, dẹp hiềm khích gia đình để chiến thắng quân xâm lược. Quân sĩ nhà Trần đã thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” thể hiện quyết tâm không đội trời chung với giặc Nguyên.

         Trong nghệ thuật dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn, vấn đề nổi bật là tránh cái mạnh của địch, lấy cái mạnh của ta để đánh cái yếu của địch.

         Quân Nguyên Mông vốn quen với yên ngựa, cung tên từ khi năm, sáu tuổi, rất giỏi chiến đấu bằng kỵ binh, cơ động nhanh, mạnh về tiến công phá thành luỹ. Đội quân kỵ binh Nguyên Mông đã từng làm mưa làm gió từ Á sang Âu mà không hề thất bại. Ba lần xâm lược Đại Việt, nhất là lần thứ hai và ba, chúng dùng đội quân viễn chinh thiện chiến đông gấp nhiều lần quân Trần. Đó là cái mạnh cơ bản của địch. Nhưng vào đất Việt, chúng gặp phải những khó khăn không dễ gì khắc phục được như đường xa mỏi mệt, vận chuyển lương khó khăn, thuỷ binh yếu kém, gặp địa hình núi sông ngang dọc nên kỵ binh không thể phát huy ưu thế như tác chiến trên thảo nguyên đồng cỏ. Đó là chỗ yếu cơ bản của địch.

       Quân ta có đội tượng binh nhưng cơ động chậm, khó thắng được kỵ binh địch, ta phải dùng bộ binh đánh kỵ binh. Quân ta thông thạo địa hình, quen tác chiến trên sông và vùng ven biển, thuỷ quân của ta mạnh hơn thuỷ quân địch, huy động toàn dân đánh giặc với tinh thần cố kết dân tộc cao độ.

          Tháng 12 – 1257 quân Trần đánh chặn quân Nguyên ở Bình Lệ. Mặc dù có đội tượng binh chiến đấu ngoan cường và đích thân vua Trần chỉ huy, nhưng không thắng nổi kỵ binh thiện chiến của giặc, quân Trần phải làm vườn không nhà trống, bỏ kinh thành Thăng Long, rút về vùng Thiên Mạc. Khi quân Nguyên lâm vào cảnh thiếu lương ăn, mất đi cái nhuệ khí ban đầu thì quân Trần phản công, thắng lớn trận Đông Bộ Đầu, đánh tan cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ nhất của quân Nguyên.

          Tư tưởng lấy nhàn chờ nhọc, dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn hẳn đã manh nha và hình thành từ cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất, để rồi được bổ sung và hoàn chỉnh trong lần kháng chiến sau, khi Trần Quốc Tuấn đã toàn quyền chỉ huy quân đội.

          Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn tổ chức phòng ngự có chiều sâu nhằm tiêu hao sinh lực địch và không để chúng đánh vu hồi, nếu có thể thì chặn đứng giặc tại biên giới. Đích thân Trần Quốc Tuấn chỉ huy đánh thắng trận đầu ở ải Nội Bàng, nhưng thế giặc hung hãn buộc quân ta phải lui về phòng tuyến Vạn Kiếp, Bình Than, Phả Lại. Tháng 2 – 1285 quân Nguyên tăng cường đội chiến thuyền lớn, tấn công quyết liệt. Quân ta chặn đánh gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng kéo dài tình trạng này sẽ không có lợi cho ta. Trần Quốc Tuấn quyết định thực hiện kế “thanh dã” rút khỏi Thăng Long, lui quân về vùng Thiên Trường để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công. Giặc chiếm được kinh thành rỗng không. Trần Quốc Tuấn đem 1000 chiến thuyền trở lại Vạn Kiếp đánh vào sau lưng địch, làm cho Thoát Hoan phải kinh hoàng vì “bị treo lơ lửng ở giữa”.(16)

          Như vậy, từ phòng ngự chiến lược không thực hiện được, mau lẹ chuyển sang rút lui chiến lược một cách tài tình, Trần Quốc Tuấn đã thực hiện được điều ông suy nghĩ: “Vì là biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến mà mất vậy”.(17)

          Tư tưởng này được thể hiện rõ rệt trong cuộc thoát hiểm tài tình vào tháng 3 – 1285, khi Trần Kiệm đầu hàng giặc ở Thanh Hoá, bỏ ngỏ phía Nam, làm cho quân Trần lâm vào tình thế hết sức nguy cấp là nằm giữa hai gọng kìm của địch. Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống Thiên Trường, Toa Đô từ phía nam tiến công Trường Yên. Quân ta bí mật rút lui qua cửa bể Giao Hải ra biển, làm cho giặc chưng hửng vì mất mục tiêu, không thi thố được sở trường và nhanh chóng rơi vào tình trạng quẫn bách vì thiếu lương ăn, vì ốm đau do không quen khí hậu.

         Chỉ trong một tháng (từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 - 1285) quân ta phản công thắng lớn trong các trận A Lỗ, Giáng Khẩu, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng Thăng Long, truy kích địch ra khỏi biển giới.

         Tránh cái mạnh của địch, dùng cái mạnh của ta để đánh cái yếu của địch, buộc địch phải bị động theo ý định tác chiến của ta, nắm thời cơ khi địch quẫn bách để phản công giành toàn thắng. Đó là biểu hiện sáng tạo tư tưởng dĩ đoản, chế trường mà Trần Quốc Tuấn đã vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai. Tư tưởng này đã được Trần Quốc Tuấn đưa tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự đương thời.

          Năm 1288 quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ ba với 50 vạn quân, ngoài bộ binh và kỵ binh còn có 500 chiến thuyền và một đoàn thuyền chở 70 vạn thạch lương. Trần Quốc Tuấn tự tin nhận định: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Lần kháng chiến này Trần Quốc Tuấn tổ chức trận địa phòng ngự tiêu hao địch nhưng đều để chúng đi qua, chủ động dụ chúng vào vòng vây thế trận của ta. Tháng 1 – 1288 Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, thọc một mũi dao vào tử huyệt của giặc, làm chúng không thể kéo dài cuộc chiến. Giặc vào Thăng Long nôn nóng tiêu diệt đối phương nhưng không tìm thấy dấu vết quân Trần, chúng buộc phải lui về Vạn Kiếp và tính kế rút quân. Từ thế chủ động tiến công, giặc lâm vào thế bị động lui quân và rơi vào trận địa quân Trần chờ sẵn. Quân thuỷ của giặc bị ta phá tan trong trận Bạch Đằng. Quân bộ của Thoát Hoan bị quân Trần cùng dân binh truy kích đánh cho tơi tả trên đường rút lui ra biên giới.

Với cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Trần Quốc Tuấn đã chứng tỏ là một vị tướng lĩnh tài ba. Tư tưởng dĩ đoản chế trường mà ông có công tổng kết không chỉ là những tri thức quân sự thuần tuý, mà nó được bảo đảm chắc thắng dựa trên lĩnh vực chính trị “dân là gốc”, “toàn quốc đánh giặc”, “anh em hoà mục”, “tướng sĩ như cha con”.

         Tránh cái thế “hăng hái lúc ban mai” của địch, làm cho đội kỵ binh địch bị dàn mỏng trên địa hình sông ngòi chật hẹp, lầy thụt mà không phát huy được tác dụng; Dùng kế “thanh dã”, triệt lương của giặc, đẩy chúng vào cái thế “tàn lụi lúc buổi chiều”; Lợi dụng sở đoản, kiềm chế sở trường của địch; Phát huy sở trường của ta là quen đánh giặc ở vùng sông nước và ven biển, buộc địch phải bị động tác chiến theo ý đồ của ta. Đó là nguyên tắc nghệ thuật quân sự, phép dùng binh của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Cả hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông mà Trần Quốc Tuấn nắm toàn quyền chỉ huy quân đội, ông đều lợi dụng được địa hình, khí hậu, thuỷ văn có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Hai cuộc rút lui chiến lược của quân Trần đều theo đường thuỷ làm cho kỵ binh địch trở nên bất lực. Các trận thắng quyết định của quân Trần thường là thuỷ chiến, ở vùng sông nước mà đỉnh cao là trận Bạch Đằng lịch sử.

          Tư tưởng “dĩ đoản (binh), chế trường (trận)” được Nguyễn Trãi phát triển trong kháng chiến chống Minh thắng lợi. Nhân dân ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự dĩ đoản, chế trường, phát triển chiến tranh du kích kết hợp với quân chủ lực, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, nâng tư tưởng quân sự này tới đỉnh cao mới trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Nghệ thuật dĩ đoản, chế trường là một sáng tạo sâu sắc của dân tộc ta dùng chống lại kẻ thù đông và trang bị mạnh hơn hẳn mà Trần Quốc Tuấn có công khái quát, tổng kết với chất lượng mới trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông toàn thắng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

….………….

Chú thích:

(1) "Trần triều thế phả hành trạng", tr.542, 543.

(2) Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2) tr. 21 và 77.

(3), (4) Đại Việt sử ký toàn thư. - H.: Khoa học xã hội, 1998. – T.2. – Tr. 79-80.

(5), (6), (7) Sđd. – Tr. 10.

(8) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. – H.: Văn hóa, 1958. – Tr. 81.

(9) Tổng tập văn học Việt Nam. – Khoa học xã hội, 1997. – T.7. – Tr. 904.

(10) Thanh dã: Làm vườn không nhà trống, khiến quân xâm lược tới không có một nguồn hậu cần tại chỗ nào.

(11) Đại Việt sử ký toàn thư. – BK5. – T9a

(12) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970.

(13) Đại Việt sử ký toàn thư. BK 5. T51b

(13) Đại Việt sử ký toàn thư. BK5. T14a

(15) Binh thư yếu lược. H.: Khoa học xã hội, 1970. Tr.56

(16) Nguyên sử. – Q.13. – T.8b

(17) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970. – Tr. 385

* Phần II bài viết đã in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định. - H.: Quân đội nhân dân, 2000. - Tr. 209 - 214.

* Phần III bài viết đăng tạp chí Văn hoá Nam Định. – 2004. – Số 3. – Tr. 45 – 48 và trong Khoa học công nghệ Nam Định. – 2005. – Số 1. – Tr. 16.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       TRẦN NGUYÊN ĐÁN

 

       1 - Trần Nguyên Đán sinh năm 1325, mất năm 1390, hiệu Băng Hồ tử (chàng trai có tấm lòng trắng trong như tuyết), quê hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Thân phụ ông là Uy Túc công Trần Văn Bích giữ chức Nhập nội Thái bảo, từng giúp Văn miếu gây nên nghiệp thái bình. Tổ là Văn Túc vương Trần Đạo Tái, 14 tuổi đã đỗ Bảng nhãn. Tổ bốn đời là Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, con thứ vua Trần Thái Tông.

       Vốn dòng tôn thất, lại thông minh đức độ nên Trần Nguyên Đán được bổ làm quan từ khi còn trẻ tuổi. Ông hăng hái mong được đem hết sức mình phục vụ đất nước, đáp đền ơn vua, sẵn sàng xông vào nơi nguy hiểm. Trong bài “Canh Tân Bình an phủ Phạm công Sư Mạnh “Tân Bình thư sự” vận” (Họa vần bài thơ “Tân Bình thư sự” của quan An phủ sứ trấn Tân Bình Phạm Sư Mạnh) của ông có đoạn:

Chí sĩ ninh từ đạo hải nguy

Cao ca tràng khiếu nhậm thiên nghê

Sương soa, thử lạp thù minh chúa

Hổ lạc xà khu uý viễn lê.

(Người chí sĩ đâu chịu chối từ cái nguy vượt biển

Cất cao tiếng hát với tất cả lòng mình

Mang tơi sương, đội nón nắng đền đáp minh chúa

Vào hang hùm, tới ổ rắn an ủi dân xa)

       Dưới triều Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Trần Nguyên Đán làm quan Ngự sử Đại phu, chuyên lo việc khuyến cáo, can gián những lỗi lầm của vua và đàn hặc các quan phạm tội. Bấy giờ vua không chăm lo việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không coi trọng phép nước, Trần Nguyên Đán nhiều lần can gián nhưng vua không nghe. Sau khi Trần Dụ Tông mất, Hiến từ Hoàng Thái hậu cho Dương Nhật Lễ lên làm vua. Dương Nhật Lễ là kẻ hoang dâm vô độ, tính tình tàn ác nên việc nước càng trở nên tồi tệ. Trần Nguyên Đán lại dâng thư trình bày chính sự nhưng vẫn không được vua đếm xỉa đến. Sau này, Hồ Nguyên Trừng đã viết trong Nam Ông mộng lục về Trần Nguyên Đán như sau:

       “Vào năm Chí Chính nhà Nguyên (1341 - 1367) ở Giao Chỉ (tức Việt Nam) có Trần Nguyên Đán đứng đầu hàng tông thất nhà Trần, giúp vua Dụ Tông ở chức Đại phu Ngự sử. Vua không chăm việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không tôn trọng phép tắc, Nguyên Đán nhiều phen can gián nhà vua không nghe, đến khi vua Dụ Tông mất, cháu kế ngôi là người mê nuội. Bấy giờ việc nước càng tệ, Nguyên Đán dâng thư trình bày không được vua hỏi đến, ông bèn xin cáo lỗi mà đi...”

       Năm 1370 Trần Nguyên Đán từ chức, bỏ đi giúp Cung Định Đại vương Trần Phủ (tức vua Trần Nghệ Tông) tập hợp lực lượng, dẹp được loạn Dương Nhật Lễ. Do có nhiều công lao với nhà Trần, nhất là đã giúp Trần Nghệ Tông lên ngôi Hoàng đế, khôi phục nhà Trần, ổn định chính sự, nên năm 1371 Trần Nguyên Đán được phong chức Tư đồ phụ chính. Ông ở ngôi Tể tướng lâu năm. Đến thời Trần Duệ Tông (1374 - 1377) ông được ban tước Chương Túc Quốc Thượng hầu, lại được giao thêm trọng trách trông coi việc quân ở trấn Quảng Oai.

       Trần Nguyên Đán là viên quan trụ cột của vương triều Trần hồi cuối thế kỷ 14. Khi xuất thế, Trần Nguyên Đán đem hết sức lực và tài năng phò vua, giúp nước. Nguyễn Trãi đã viết về ông trong Ức Trai di tập như sau:

       “Vững tay lái trong cơn sóng gió, chống nhà siêu giữa lúc phong ba. Chỉ trong ít năm mà trong nước bình trị. Người trong nước đều khen là hiền tướng, từ đứa trẻ thơ đến người lính tốt cũng đều biết tiếng”.

       Không chỉ là vị quan tài năng, hết lòng với dân với nước, mà Trần Nguyên Đán còn nổi tiếng là người có tấm lòng bao dung nhân hậu hiếm có. Trong dân gian còn lưu truyền, sử sách còn ghi câu chuyện về thái độ của Trần Nguyên Đán đối với hiền sĩ.

       Chuyện kể rằng, Nguyễn Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh) là một thanh niên nổi tiếng hay chữ, giỏi văn thơ nên dù xuất thân từ tầng lớp nhà nghèo vẫn được Trần Nguyên Đán mời về dạy con gái mình là Trần Thị Thái. Chẳng bao lâu đôi trai tài gái sắc cảm mến nhau, tình duyên nảy nở, kết quả là bà Trần Thị Thái mang thai. Đến ngày bà Trần Thị Thái sinh nở, Nguyễn Ứng Long sợ bị trọng tội liền bỏ trốn. Biết chuyện, Trần Nguyên Đán liền sai người đi tìm Nguyễn Ứng Long trở về. Nguyễn Ứng Long sợ hãi vào gặp quan Tư đồ, trong lòng cầm chắc cái chết. Không ngờ Trần Nguyên Đán không hề bắt tội mà lại ôn tồn bảo:

       “Người xưa có việc như thế, chẳng thấy Văn Quân và Tương Như(1) đấy ư? Hay được như Tương Như, danh truyền đời sau, đấy là sở nguyện của ta”.

       Cảm động trước đức độ của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Ứng Long chăm chỉ học tập, đến năm 1374 đời Trần Duệ Tông thì thi đỗ Thái học sinh. Sau này Nguyễn Ứng Long ra làm quan cho nhà Hồ tới chức Đại lý Tự khanh. Vợ chồng Nguyễn Ứng Long và Trần Thị Thái đã sinh ra Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi cũng đỗ Thái học sinh, trở thành một vĩ nhân, một anh hùng dân tộc mà tên tuổi ông gắn liền với Lê Lợi trong mười năm kháng chiến chống giặc Minh.

       Nếu không có tấm lòng bao dung nhân hậu của Trần Nguyên Đán, có lẽ dân tộc Việt Nam sẽ không có nhà văn hoá lớn, thi sĩ thiên tài, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, tác giả Bình Ngô đại cáo nổi tiếng.

       Trần Nguyên Đán làm quan vào thời kỳ nhà Trần suy yếu. Hồ Quý Ly ngày càng thâu tóm quyền bính và lũng đoạn triều đình. Tiên đoán trước nguy cơ nhà Trần sẽ mất về tay Hồ Quý Ly, ông luôn ý thức nhắc nhở bạn bè về nghĩa vụ làm tôi. Bản thân bất lực trước thời thế, cuối cùng ông kết thông gia với Hồ Quý Ly mong đảm bảo sự yên ổn cho con cháu về sau.

 

       2  - Trần Nguyên Đán lui về ẩn dật, song thâm tâm ông vẫn không nguôi nỗi lo cho nước cho dân. Bài thơ gửi bạn đồng liêu trong đài quan của ông khi đã về hưu thể hiện rõ nỗi lo ấy:

Đài quan nhất khứ tiện thiên nhi

Hồi thủ thương tâm sự sự vi

Cửu mạch trần ai nhân dị lão

Ngũ hồ phong vũ khách tư quy

Nho phong bất chấn hồi vô lực

Quốc thế như huyền khứ diệc phi

Kim cổ hưng vong chân khả giám

Chư công là nhẫn gián thư hy.

(Đứng đầu hàng quan gián nghị một khi đi liền ra tận chân trời

Ngoảnh lại lòng đau vì mọi việc đều sai lầm cả

Người ta trong bụi trần trăm năm dễ già cỗi

Cho nên bạn nghĩ về cảnh mưa gió năm hồ theo gót Phạm Lãi

       Tinh thần Nho học không chấn hưng quay lại đã hết sức

Thế nước treo sợi tóc, bỏ đi thực không phải

Xưa nay suy thịnh thật có thể soi xem

Các ông sao nhẫn tâm ít lời can gián.)

       Ngụ ý chê việc Trần Nghệ Tông “không biết chọn mặt gửi vàng”, đem con là Trần Thuận Tông giao phó cho Hồ Quý Ly, chẳng khác nào đem trứng cho ác, Trần Nguyên Đán viết bài Thập cầm (Mười giống chim) khuyên vua hãy cảnh giác với “con quạ già hiểm độc” (chỉ Hồ Quý Ly). Trong bài thơ có câu:

Nhân ngôn ký gửi dữ lão nha

Bất thức lão nha liên ái phầu

(Gửi con cho lão quạ già

Biết là lão quạ thương là mấy thương)

       Tiếc là lời cảnh tỉnh của Trần Nguyên Đán đã không được vua Trần đếm xỉa đến, để rồi kết cục nhà Trần mất về tay Hồ Quý Ly, đúng như tiên đoán của Trần Nguyên Đán.

       Trước sự suy vong của triều Trần, khi làm quan cũng như khi về ẩn dật, Trần Nguyên Đán luôn day dứt về nỗi bất lực của mình:

Tam phần đầu bạch thốn tâm đan

Thế thượng phân phân vạn sự nan

(Ba phần tóc trên đầu đã bạc, vẫn tấc lòng son

Sự đời bối rối, muôn việc khó khăn).

       Bài “Mậu thân chính nguyệt tác” (Thơ làm tháng Giêng năm Mậu Thân).

       Có lúc ông lại nghĩ rằng khoẻ mạnh mà không giúp được việc nước thì thà cứ bệnh còn đỡ day dứt hơn:

Mục tiền tận thị quân tâm sự

Bệnh dũ bất như do bệnh thì

(Trước mắt đều là những việc phải lo lắng

Khỏi bệnh không bằng đang bị bệnh.)

       Năm 1385, thấy rõ “vận nước sắp hết”, Trần Nguyên Đán xin về trí sĩ ở Côn Sơn. Ông vẫn không nguôi băn khoăn về việc xuất xử của mình, vẫn canh cánh bên lòng nỗi ưu thời mẫn thế, vẫn đau đáu tâm sự ưu tư vì nước vì dân. Nhiều khi ông hy vọng vào một kỳ thi chọn được những người trẻ tuổi tài năng... Ông nhắn gửi các quan trường về việc thi chọn nhân tài:

Ngọc thạch tối nghi khu biện biệt

Loan kê nhẫn sử tính phi tường

Đắc hiền Đổng Tử lưng viêm Hán

Truất thực Lưu Phần nhược vãn Đường

Thiên chiếu đinh ninh dung bác thủ

Yếu tiên trung đảng, hậu từ chương.

(Ngọc hay đá phải phân biệt cho rõ

Đừng để phượng với gà phải bay chung với nhau

Được người hiền tài như Đổng Tử làm hưng thịnh nhà Hán

       Truất người trung thực như Lưu Phần làm suy yếu nhà Đường

Chiếu vua cặn kẽ cho phép lấy rộng

Trước phải xem phần trung chính sau hãy xét đến văn chương)

       Với quan điểm chọn nhân tài như vậy, Trần Nguyên Đán đã hết sức vui mừng khi Chu Văn An, một nhà giáo nổi tiếng tài đức, người từng dâng “Thất trảm sớ” lên vua Trần, được giao chức Quốc Tử Giám tư nghiệp. Trong bài “Hạ Tiều ẩn Chu tiên sinh bái Quốc tử Tư nghiệp” (Mừng ông Chu Tiều Ẩn được bổ chức Tư nghiệp ở Quốc Tử giám) của ông có câu:

Học hải hồi lan tục tái thuần

Thượng tường Sơn, Đẩu đắc tư nhân

Cùng kinh bác sử công phu đại

Kính Lão, sùng Nho chính hoá tân.

       (Xoay làn sóng biển học làm cho phong tục lại được thuần hậu

       Nhà trường đã được bậc đạo đức như Thái Sơn, Bắc Đẩu đến dạy

Đọc hết kinh, xem rộng sử, công phu rất lớn

Kính đạo Lão, sùng Nho học, chính sự và giáo hoá được đổi mới)

       Rõ ràng cái học của Trần Nguyên Đán là cái học thực tiễn, luôn vì nước mà lo cho vận nước, vừa sùng mộ Nho giáo, vừa coi trọng cái học của Đạo gia. Nho phong mà Trần Nguyên Đán muốn chấn hưng là thứ Nho học tâm linh khai phóng, chứ không phải thứ Nho học của bọn “Bạch diện thư sinh” lệ Tống nho, hình thức, giáo điều.

       Thơ Trần Nguyên Đán là tiếng lòng của một người yêu nước thương dân. Ông thông cảm với nỗi khổ của dân, đau cùng cái đau mất mùa của dân. Trước cái đau của dân, ông cảm thấy mình có lỗi:

Niên lai hạ hạn hựu thu lâm

Hoà cảo miêu thương hại chuyển thâm

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ

Bạch đầu không phụ ái dân tâm.

Bài “Nhâm dần niên lục nguyệt tác”

(Năm nay hạ hạn lại thu mưa

Đau nỗi mùa màng những thiệt thua

Ba vạn sách dày đành xếp xó

Yêu dân còn nợ, mái đầu phơ)

       Trần Nguyên Đán dùng thơ chủ yếu để dãi bày tâm sự, thể hiện lòng yêu nước thương dân, tâm trạng lo đời, thương mình trước hiện thực vận nước sắp hết. Những bài thơ về chủ đề này như “Đề Huyền Thiên quán”, “Sơn trung túc sự”, “Dạ quy chu trung tác”, “Bất mị”... là những bài hay nhất của ông.

       Về nghệ thuật, thơ Trần Nguyên Đán tha thiết, gợi cảm, đằm thắm, phong cách tự trào, hình tượng gợi tả, hình ảnh đối lập mạnh mẽ đã làm nên sự thành công của thơ ông. Chẳng hạn bài “Phụng canh Thái Thượng hoàng ngự chế đề Thiên Trường phủ Trùng Quang cung” (Họa bài thơ của Thái Thượng hoàng đề ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường) là một ví dụ:

Trường không thu hạo Hoàng giang nguyệt

Phương thảo xuân hồi Lục Phố phong

Thanh hạ mỗi tồn tông xã niệm

Liệu tri mộng mị đáo Thăng Long.

(Mênh mông trời thu bóng trăng Hoàng giang

Hương cỏ xuân về thoảng gió Lục phố

       Trong nhàn nhã Thượng hoàng vẫn nghĩ đến việc nước

       Chắc trong giấc ngủ vẫn mộng thấy mình đến Thăng Long).

       Bài Đề Huyền Thiên quán cũng là một bài hay:

       Bạch nhật thăng thiên dị

Trí quân Nghiêu Thuấn nan

Trần ai lục thập tải

Hồi thủ quí hoàng quan.

(Ban ngày bay lên trời còn dễ

Giúp vua để vua được như Nghiêu, Thuấn mới khó

Sáu mươi năm sống trong cõi trần

Ngoảnh lại luống thẹn với người đội mũ vàng).

        Trần Nguyên Đán còn là một nhà khoa học. Sinh thời ông rất chú trọng việc nghiên cứu khoa học phục vụ thực tiễn. Ông đi sâu nghiên cứu thiên văn học, khí tượng học Việt Nam. Tác phẩm Bách thế thông kỷ (còn gọi là Bách thế thông khảo hoặc Bách thế thông kỷ thư) của ông là một bộ lịch pháp rất giá trị, khảo cứu về năm tháng, nhật thực, nguyệt thực, thời tiết, vị trí các ngôi sao... từ trước công nguyên tới thế kỷ 15. Với tác phẩm này, ông được coi là một nhà khoa học Việt Nam cuối thời Trần. Hồ Nguyên Trừng trong Nam Ông mộng lục có đoạn đánh giá về ông như sau:

       “Ông thông hiểu lịch pháp, thường xem sách thông kỷ trăm đời, ngược lên khảo đến Giáp Thìn vua Nghiêu, vua Thuấn xuống đến nhà Tống, nhà Nguyên, vạch ra vận hành tiền độ của mặt trăng, mặt trời giao dung (che lấp lẫn nhau) so với thời xưa rất phù hợp...”

       Sáng tác chủ yếu của Trần Nguyên Đán là hai tác phẩm “Bách thế thông kỷ” và “Băng Hồ ngọc hác tập”. Rất tiếc cả hai tác phẩm này đã thất lạc đến nay chưa tìm thấy. Hiện chỉ tìm thấy 51 bài thơ của ông chép trong các sách Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Trích Diễm thi tập, Tinh tuyển gia luật thi... Dù vậy, với công lao to lớn đóng góp cho lịch sử dân tộc và tư tưởng yêu nước thương dân tiến bộ thể hiện trong những sáng tác văn thơ của mình, Trần Nguyên Đán xứng đáng là một danh nhân văn hoá, một tác gia Hán - Nôm tiêu biểu cuối thời Trần.

……………..

Chú thích :

  (*) Tương Như: Tư Mã Tương Như (179 – 118 trước Công nguyên) tự Trường Khanh, người Thành Đô nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) là nhà viết phú tiêu biểu đời Hán. Ông nổi tiếng là người tài hoa. Tiếng đàn của ông đã lôi cuốn được người đàn bà goá còn trẻ và đẹp là Trác Văn Quân.

 

 

Nguồn: Nam Định cuối tuần. – 1998. – Ngày 9 – 10.

 

 

 

 

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN DỤ TÔNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT*

 

 

          Trong 175 năm tồn tại (1225 - 1400), nhà Trần đã để lại một di sản to lớn, độc đáo trên các mặt quân sự, kinh tế, chính trị xã hội, văn hoá giáo dục... đưa nước Đại Việt lên một tầm cao mới. Gần 7 thế kỷ đã trôi qua, hào quang của vương triều Trần vẫn toả sáng lịch sử Việt Nam. Trong việc đưa đất nước đến thịnh trị, các vua Trần có vai trò đặc biệt quan trọng. Trần Dụ Tông là một trong số 14 vị hoàng đế nhà Trần đã có công đóng góp đáng kể vào văn hóa Trần.

 

          1 - VÀI NÉT TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG TRẦN DỤ TÔNG:

          Trần Dụ Tông tên thật là Trần Hạo, sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý 1336, mất ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369, thọ 34 tuổi, làm vua 28 năm (1341 - 1369), lấy niên hiệu là Thiệu Phong (1341 - 1357) và Đại Trị (1358 - 1369)(1).

          Trần Dụ Tông là con thứ 10 của vua Trần Minh Tông, do Hiến Từ hoàng hậu sinh ra. Năm Tân Tị 1341 vua Trần Hiến Tông mất khi mới 23 tuổi. Do Hiến Tông không có con nên Thượng hoàng Trần Minh Tông lập Hoàng tử Hạo lên làm vua.

          Ngày 21 tháng 8 năm Tân Tị 1341, Trần Hạo lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Dụ Hoàng, đổi niên hiệu là Thiệu Phong năm thứ nhất. Các quan trong triều đình dâng tôn hiệu là Thống Thiên Thế Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Lúc này Trần Dụ Tông mới lên 6 tuổi.

          Là một Hoàng tử, Trần Dụ Tông được nuôi dạy chu đáo, có điều kiện phát triển trí tuệ. Từ nhỏ ông đã có tư chất thông minh hơn người, lớn lên càng thông tuệ, học vấn cao minh, giỏi cả văn và võ.

          Năm 13 tuổi Trần Dụ Tông lấy công chúa Ý Từ là con gái thứ tư của Bình Chương Huệ Túc vương sách phong làm Nghi Thánh Hoàng hậu.

       Những năm đầu làm vua, có Thượng hoàng Trần Minh Tông và các đại thần giúp đỡ nên dù đất nước gặp nhiều khó khăn, mất mùa đói kém, Trần Dụ Tông vẫn duy trì được việc chính trị có nề nếp. Bản thân Trần Dụ Tông có nhiều đóng góp vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển quốc gia.

          Về việc võ, Trần Dụ Tông ý thức thường xuyên cảnh giác kẻ thù xảo quyệt và tàn bạo phương Bắc, chăm lo việc phòng thủ biên giới Tây Nam, tăng cường củng cố quốc phòng như tổ chức đóng chiến thuyền, chế tạo vũ khí, luyện tập binh sĩ, bố trí các quan có năng lực đảm đương nhiệm vụ ở những nơi xung yếu, cử binh chinh phạt Chiêm Thành...

          Về ngoại giao, Trần Dụ Tông duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng, vì mục đích hoà bình cho đất nước. Tháng 8 năm Ất Dậu 1345, nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang hỏi về việc cột đồng. Mặc dù lúc này chính sự nhà Nguyên đã suy đồi, Trần Dụ Tông vẫn dùng chính sách ngoại giao mềm dẻo, sai Phạm Sư Mạnh đi biện bạch nhằm gìn giữ hoà bình. Năm Mậu Thân 1368, Minh Thái Tổ lên ngôi ở Kim Lăng, sai Dịch Tế Dân sang thăm ta. Trần Dụ Tông sai Lễ bộ thị lang Đào Văn Đích sang nhà Minh đáp lễ, thiết lập mối quan hệ bang giao giữa hai nước.

          Về đối nội, Trần Dụ Tông quan tâm cải tổ chính quyền, quân đội, chăm lo đời sống nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.

          Theo quy chế cũ, cấm quân thuộc về Thượng thư sảnh. Đến năm Nhâm Ngọ 1342, Trần Dụ Tông đặt Khu mật viện để quản lãnh cấm quân. Năm Giáp Thân 1344, Trần Dụ Tông tiến hành một loạt đổi mới nhằm tăng cường quyền lực của nhà nước (Đổi Hành khiển ty ở cung Thánh Từ làm Thượng thư sảnh; Đặt đại sứ và phó sứ của viện Tuyên Huy; Đổi Kiểm pháp quan của viện Đăng Văn thành Đình uý, Tự khanh và Thiếu khanh; Đặt Đồn điền sứ và phó sứ ở Ty khuyến nông; Lộ lớn thì đặt An phủ sứ và phó sứ, thuộc châu thì đặt Thông phán...). Các biện pháp cải cách trên đây của Trần Dụ Tông đã có tác dụng tăng cường sức mạnh quốc phòng và bộ máy quản lý nhà nước, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, mở mang kinh tế nông nghiệp...

          Trong việc giữ gìn an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội, vấn đề kỷ cương luật pháp có vị trí hết sức quan trọng. Năm Tân Tỵ 1341, khi vừa mới lên ngôi, mặc dù mới lên sáu tuổi, nhưng có các đại thần học rộng tài cao tham mưu cho, Trần Dụ Tông đã bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh kỷ cương. Ông trực tiếp chủ trì và sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển (Thể lệ lớn của triều Trần) gồm 10 tập và khảo soạn cuốn Hình thư gồm 1 quyển. Bộ Hoàng triều đại điển (có sách chép là Trần triều đại điển) là một bộ luật lớn thời Trần Dụ Tông. Cuốn Hình thư (có sách chép là Hình luật thư) có lẽ đã được biên soạn từ các đời trước nhưng chưa có điều kiện khắc in. Đến nay Trần Dụ Tông cho khảo soạn lại, khắc in và phát hành rộng rãi để thực thi. Cả hai bộ sách này ngày nay đều đã thất lạc chưa tìm thấy.

          Không chỉ quan tâm tới việc hoàn chỉnh luật pháp để điều chỉnh xã hội, Trần Dụ Tông còn quan tâm tới đời sống dân nghèo. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, mất mùa, đói kém... vua đều có những chính sách kịp thời cứu trợ nhân dân như giảm tô thuế các năm: 1343, 1354, 1362... Tháng 4 năm Đinh Dậu 1357, xuống chiếu cho các lộ Thanh Hoá, Nghệ An khơi các kênh ngòi cũ. Năm Mậu Tuất 1358, hạn hán, sâu cắn lúa, cá chết nhiều. Tháng 8 năm đó xuống chiếu khuyến khích các nhà giàu bỏ thóc ra chẩn cấp dân nghèo, các quan địa phương tính giá trị ra tiền để hoàn trả lại. Tháng 9 năm 1362 vua về Thiên Trường, ban thuốc công và tiền gạo cho người đau ốm. Dân nghèo ai đến cũng đều được ban cho 2 tiền, 2 thăng gạo và 2 viên thuốc Hồng Ngọc Sương chữa bách bệnh.

          Dưới thời Trần Dụ Tông, nhiều nhân tài đã được trọng dụng như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... Trong thời kỳ đầu làm vua, Trần Dụ Tông do đã biết trọng dụng nhân tài nên mặc dù đất nước gặp rất nhiều khó khăn vẫn duy trì được nề nếp chính sự.

       Để nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước, Trần Dụ Tông quan tâm đến việc tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài, tuyển quan lại qua thi cử đã giúp cho triều đình chọn được người có thực tài để giao cho họ những chức vụ quan trọng, hạn chế tình trạng người không có tài đức lọt vào cơ quan nhà nước. Dùng thi cử để tuyển chọn quan lại là biện pháp tích cực được Trần Dụ Tông quan tâm, đã góp phần làm tăng cường năng lực quản lý của bộ máy nhà nước.

          Từ năm Đại Trị 1358 về sau, Trần Dụ Tông sa vào con đường ham chơi bời, cờ bạc, bỏ bê chính sự, dẫn đến sự kiện Dương Nhật Lễ lên ngôi gây ra rối ren sóng gió cho đất nước. Thời gian này Thượng hoàng Trần Minh Tông và các cựu thần như Trương Hán Siêu là trụ cột của triều đình đều đã qua đời. Ngoài thì mất mùa đói kém, giặc giã nổi lên như ong, làm cho dân tình vô cùng khổ sở. Trong thì bọn gian thần kéo bè kết cánh lũng đoạn triều đình. Năm Nhâm Dần 1362 Chu Văn An dâng sớ xin chém đầu 7 tên gian thần để ổn định chính sự, gọi là Thất trảm sớ, nhưng Trần Dụ Tông không nghe. Đã thế Trần Dụ Tông lại ham chơi bời, xây cung điện để đánh bạc, mở tiệc bắt các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng thì thưởng cho hai trật... Năm Quý Mão 1363 Trần Dụ Tông cho dựng điện Song Quế, xếp đá làm núi, đào hồ Lạc Thanh trong vườn ngự uyển ở hậu cung, sai người chở nước mặn đổ vào hồ, nuôi cá sấu... để làm nơi chơi bời hưởng lạc. Năm Bính Ngọ 1366 vua đi chơi nhà Trần Ngô Lang về khuya bị cướp cả ấn báu và gươm báu.

          Trong cuộc đời Trần Dụ Tông có một sự kiện ảnh hưởng đến tâm lý của vua sau này. Năm vua 3 tuổi đi chơi Hồ Tây bị chết đuối, được Trâu Canh châm cứu sống lại nhưng lại bị bệnh liệt dương. Năm Tân Mão 1351 Trâu Canh lại chữa cho vua khỏi bệnh. Sự ức chế sinh lý kéo dài, khi được đột ngột giải toả ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tâm lý và tác động vào sự sa đoạ của Trần Dụ Tông sau này.

          Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369 Trần Dụ Tông băng ở chính tẩm trong tâm trạng u uất không có con nối dõi tông đường, thọ 34 tuổi. Trần Dụ Tông được táng ở Dụ Lăng (nay thuộc xã Yên Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

          Các sử gia đã đánh giá Trần Dụ Tông trong Đại Việt sử ký toàn thư là:

          - "Vua tính rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di đều thần phục. Đời Thiệu Phong chính sự tốt đẹp; Từ năm Đại Trị về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu từ đó."(2)

 

          2 – NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN DỤ TÔNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

          Về văn hoá, Trần Dụ Tông được coi là người đặt nền móng cho một số môn nghệ thuật dân tộc như tuồng cổ, một số trò chơi dân gian như leo dây, múa rối...

          “Trước đây, khi đánh Toa Đô, bắt được người phường hát là Lý Nguyên Cát rất giỏi hát, những con ở trẻ của các nhà thế gia theo y tập hát điệu phương Bắc. Nguyên Cát sáng tác các vở tuồng truyện cổ, có các tích như Tây Vương Mẫu hiến bàn đào. Trong tuồng có các vai quan nhân, chu tử, đán nương, câu nô gồm 12 người, mặc áo gấm, áo thêu, đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, gõ ồn phím đàn (Chú: Chu Hậu chết, Hậu Chủ ghi vào mặt sau đàn tỳ bà: Hương trời còn đuôi phượng, hơi ấm tỏa phím đàn), thay đổi nhau ra vào làm trò, khiến người xem xúc động, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui được vui. Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đấy”.(3)

          Dần dần những hoạt động biểu diễn tuồng cổ như vở Tây Vương Mẫu hiến bàn đào, hát các điệu hát phương Bắc trở thành phong trào văn nghệ quần chúng rộng rãi. Dấu ấn ca nhạc thời Trần hiện còn đến nay như điệu Sa Mạc do Lý Nguyên Cát sáng tác rất giống với nhạc phương Bắc thể hiện nỗi nhớ quê hương nơi sa mạc xa xăm.

          Năm 1310 vua Trần Nhân Tông băng, dân chúng thương mến bậc minh quân đã đánh tan giặc Nguyên nên đi đưa tang rất đông, đến nỗi không thể đưa quan tài ra khỏi thành Thăng Long. Theo lệnh vua Trần Anh Tông, Trịnh Trọng Tử bèn đặt ra bài ca Long Ngâm, dạy cho quân lính hát ở sân Thiên Trì. Dân chúng đua nhau đến nghe hát, lúc đó mới có thể đưa được quan tài vua cha ra khỏi thành và đem về mai táng ở Long Hưng (thuộc Nam Định hiện nay). Bản nhạc Long Ngâm cũng được dùng để nhịp đường đi nước bước của những người lính khiêng quan tài vua Trần Nhân Tông từ Thăng Long tới Long Hưng.

          Đời Trần Dụ Tông, năm thứ 10 (1350) có người Nguyên tên là Đinh Bàng Đức, nhân nước loạn, đưa vợ con xuống thuyền vượt biển sang nước ta. Bàng Đức cầm gậy hát những lời rất khéo, người nước ta đua nhau theo học.

          “Nhâm Dần, [Đại Trị] năm thứ 5(1362) (Nguyên Chí Chính năm thứ 22): Mùa xuân, tháng giêng, lệnh cho các nhà vương hầu, công chúa dâng các trò tạp hý vua xét duyệt trò nào hay thì thưởng cho”.(4)

          Như vậy, Trần Dụ Tông đã cho phép và khuyến khích các vương hầu diễn các vở hát, chính vua duyệt lại, người nào hát hay, pha trò khéo đều được hậu thưởng. Các hoạt động này coi như hội diễn tổng kết phong trào văn nghệ do vương triều đứng ra tổ chức để phát triển văn hoá. Đây cũng là lần đầu tiên có tổ chức hội diễn văn nghệ cung đình quy mô toàn quốc.

Trần Dụ Tông là một tác gia văn học thời Trần. Hiện nay các tác phẩm của Trần Dụ Tông như Hoàng triều đại điển, Hình thư và các sáng tác văn thơ khác của ông đều đã thất lạc. Trong Toàn Việt thi lục chỉ còn ghi được một bài thơ của Trần Dụ Tông là bài Đường Thái Tông dữ bản triều Thái Tông (có sách chép là Thư hoài):

Đường, Việt khai cơ lưỡng Thái Tông

Bỉ xưng Trinh Quán, ngã: Nguyên Phong

Kiến Thành tru tử, An Sinh tại

Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.

Dịch thơ:

Đường, Việt hai vua hiệu Thái Tông

Đường xưng Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong

Kiến Thành bị giết, An Sinh sống

Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng.

                                 (Đào Phương Bình dịch).

          Bài thơ tỏ rõ chí khí, lòng kiêu hãnh tự hào của Trần Dụ Tông về các vương triều của nhà Trần. Tác giả so sánh nhà Trần với nhà Đường bên Trung Quốc, vua mở nghiệp nhà Trần và vua mở nghiệp nhà Đường đều có thuỵ là Thái Tông nhưng đức độ hai vua lại không giống nhau, vua Thái Tông nhà Trần đức độ hơn hẳn Thái Tông nhà Đường.

          Hiện nay, việc đánh giá Trần Dụ Tông chưa đồng thuận, thậm chí trái ngược nhau. Có người tôn vinh ông vào hàng danh nhân. Chính quyền tỉnh Nam Định còn đúc tượng thờ ông tại Đền Trần, tuyên truyền rộng rãi trên báo chí để nhân dân tri ân ông. Một số người khác lại phủ định ông, coi ông là vị vua tha hóa, có tội trong việc đẩy nhanh nhà Trần đến diệt vong. Năm 2000, tôi có viết bài về Trần Dụ Tông theo yêu cầu của thạc sĩ Hoàng Dương Chương, khi ấy là thủ trưởng cơ quan tôi và là thư ký đề tài khoa học cấp tỉnh “Danh nhân văn hóa Nam Định” do Sở Văn hóa Thông tin Nam Định thực hiện. Sau đó Hội đồng nghiệm thu đề tài gồm toàn là các giáo sư tiến sĩ đã loại bỏ bài viết của tôi với lý do “Trần Dụ Tông không thể là danh nhân”. Sở dĩ có hai quan điểm trái ngược nhau đó là do mỗi người căn cứ vào một tiêu chí danh nhân riêng không giống nhau. Dù vậy, hẳn ai cũng phải thừa nhận Trần Dụ Tông là một nhân vật lịch sử lớn của nước ta. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật thời Trần như chúng tôi đã trình bày ở trên là không thể phủ nhận.

………………

Chú thích :

          * Bài phát biểu trong Hội thảo “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định”, chuyền đề “Thiên Trường – Nam Định mảnh đất đậm đà dấu ấn văn hóa Trần” ngày 6 – 12 – 2011 do Hội VHNT Nam Định và Sở Khoa học Công nghệ Nam Định tổ chức tại thành phố Nam Định.

            (1) - Theo Đại Việt sử lược (Nguyễn Gia Tường dịch. - Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1993. - Tr. 301) thì đời Trần Dụ Tông có 3 lần đổi niên hiệu là Thiệu Hưng (1341 - 1357), Đại Trị (1358 - 1368), Thiên Định (1369). Ở đây chúng tôi theo Đại Việt sử ký toàn thư.

            (2) - Đại Việt sử ký toàn thư. – H.: Khoa học xã hội, 1998. - T.2. – Tr. 127.

            (3), (4) - Đại Việt sử ký toàn thư. – H.: Khoa học xã hội, 1998. - T.2. – Tr. 141.

 

 

 

 

       TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH

CUỘC ĐỜI VÀ GIAI THOẠI

 

          Đào Sư Tích sinh năm Canh dần (1350), mất năm Bính Tý (1396), quê làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định). Ông là người thứ hai đỗ Trạng nguyên trong số 5 Trạng nguyên của đất Nam Định văn hiến. Do thời gian đã lâu, các tài liệu lịch sử viết về ông hiện còn rất ít, lại sơ lược, nhưng công danh sự nghiệp của ông được dân gian truyền tụng khá nhiều.

          Đào Sư Tích xuất thân trong một dòng họ có truyền thống khoa bảng lâu đời. Ngay từ thời Trần Nhân Tông, họ Đào đã có Đào Dương Bật đỗ Thái học sinh, là bậc Khai quốc công thần nhà Trần, từng giữ chức Thượng thư bộ binh kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 1285 ông vâng lệnh triều đình về vùng đất Đông Trang thuộc lộ Trường Yên (nay là thôn Đông Trang, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) để chiêu dân lập ấp làm nơi cảnh giới cho căn cứ địa Trường Yên trong kháng chiến chống quân Nguyên. Cha Đào Sư Tích là Đào Toàn Bân (có sách chép là Đào Toàn Mân, Đào Tuyền Phú, Đào Kim Bản, Lê Toàn Môn...) vốn người ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, hồi nhỏ đi học ở Cổ Lễ rồi lấy vợ và sinh sống ở đó. Ông đỗ Hương cống khoa Giáp Tý thời Trần, đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1362) đời Trần Dụ Tông, làm quan tới Lễ bộ Thượng thư, Tri thẩm hình viện sự. Ông là một nhà giáo nổi tiếng về phương pháp dạy học, học trò có nhiều người thành đạt. Quốc tử giám Tư nghiệp Chu Văn An đã phải khen ông là "Đại sư vô nhị".

          Đào Sư Tích là con thứ của Đào Toàn Bân. Vốn có tư chất thông minh, ham học, được người cha nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích sớm bộc lộ tài thơ phú, lực học hơn hẳn các bạn cùng lứa tuổi, năm 7 tuổi đã nổi tiếng là Thần đồng. Hồi còn đi học, một lần Đào Sư Tích phải qua sông Hồng (sang đất Thái Bình hiện nay) cắt thuốc chữa bệnh cho cha. Vì đò đông khách, Đào Sư Tích phải đợi chuyến sau. Trong lúc ngồi chờ đò, cảm xúc trước cảnh trời nước mênh mang, Đào Sư Tích có làm mấy câu thơ:

          Trời mênh mông

          Nước mênh mông

          Tôi phải chờ

          Bởi đò đông.

          Bài thơ tuy đơn giản chỉ có mấy câu nhưng đã thể hiện rõ khung cảnh bến đò, phù hợp với tâm lý người chờ đò nên được nhiều người thuộc và lan truyền rất nhanh. Tình cờ, cô lái đò lại tên là Đông. Cô Đông là người có học, cũng võ vẽ biết làm thơ. Khi biết tên tác giả bài thơ "Chờ đò" là Tích, cô Đông liền gửi cho anh một bài thơ theo kiểu bài thơ của anh:

          Đêm tĩnh mịch

          Nhà tĩnh mịch

          Tôi ngồi đọc

          Truyện cổ tích.

          Bài thơ của cô Đông thật đơn giản mà rất lạ, có hàm ý, chữ cuối cùng của bài thơ cũng trùng với tên của tác giả bài thơ "Chờ đò". Từ đó hai người trở nên thân thiết với nhau. Nhưng chẳng được bao lâu thì cô Đông bị gia đình ép gả cho một người dân chài ở bên kia sông (nay là đất Thái Bình), còn Đào Sư Tích thì đỗ Trạng nguyên và đi làm quan ở triều đình nên hai người không có dịp gặp lại nhau nữa. Mối tình từ bài thơ trên bến đò năm ấy còn vương vấn mãi hai người nhiều năm sau này.(1)

          Một hôm quan Nhập nội hành khiển Đào Sư Tích nhận được một bức thư không đề tên người gửi, vẻn vẹn chỉ có hai câu:

          Chức trọng quyền cao ngày nay đã thoả

          Còn nhớ năm xưa ngồi đợi con đò?

          Sau nhiều năm làm quan, chịu bó tay trước những hiện tượng tiêu cực trong triều đình, Đào Sư Tích cảm thấy ngao ngán. Bức thư đã làm ông nhớ lại những kỷ niệm đẹp của mối tình tuổi học trò. Vào một đêm trằn trọc không ngủ được, ông ngồi dậy cầm bút viết hai câu thơ:

          Mười mấy năm trời quyền cao chức trọng

          Không bằng một khắc trên chuyến đò xưa.

          Có lẽ sự kiện này không chỉ bộc lộ tài năng văn học của Đào Sư Tích mà còn là một tác động vào quyết định cáo quan của ông sau này.

          Truyền thống khoa bảng nổi tiếng của dòng họ Đào và của vùng đất Nam Chân hiếu học đã ảnh hưởng sâu sắc tới Đào Sư Tích. Ông đi thi với niềm tin tưởng và quyết tâm đỗ đạt danh vị cao. Tương truyền, khi ông đi thi Đình, vừa ra đầu ngõ thì gặp ngay một thiếu nữ. Ông tỏ vẻ không vui, xẵng giọng:

          - Ta đi thi mà gặp gái!

          Người thiếu nữ kia vốn thông minh, liền bảo:

          - Ông đi thi thì ông đỗ Tiến sĩ, việc gì đến chị em?

          Ông mắng luôn:

          - Tiến sĩ thì thấm tháp gì?

          Thiếu nữ tươi cười:

          - Không đỗ Tiến sĩ thì đỗ Trạng nguyên vậy, được chưa?

          - Thế thì được!

          Khoa ấy ông đậu Trạng nguyên thật.

          Dù câu chuyện trên chỉ là tương truyền song cũng phần nào phản ánh được cái chí khí quyết đạt danh vị cao của Đào Sư Tích. Trong Nam thiên trân dị tập có lời bình về sự kiện này như sau:

          - "Gặp gái" là tiếng đùa. "Tiến sĩ thấm tháp gì?" lại là lời thật. Ông Cổ Lễ (chỉ Đào Sư Tích) đã cầm chắc hai chữ "Khôi nguyên" trong tay rồi, đâu phải đợi người khác nói ra mới nghiệm!”

          Vốn có tư chất thông minh, ham học, có quyết tâm cao, lại được người thày nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích đỗ cao là điều tất yếu.

          Khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2(1374) đời Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên. Đào Sư Tích và Bảng nhãn Lê Hiến Giản, Thám hoa Trần Đình Thâm là ba vị Tam khôi được vua ban yến và áo xếp, được dẫn đi chơi phố ba ngày, được phong quan chức theo thứ bậc khác nhau. Các tài liệu đăng khoa lục đều nói Đào Sư Tích đỗ đầu từ thi Hương đến thi Hội, thi Đình vì thế nhiều người nghiên cứu sau này cho là ông đạt danh hiệu Tam nguyên. Thời Lý - Trần, thi Đình là giai đoạn cuối của thi Hội. Chỉ từ năm 1442 thi Đình mới thực sự được tách ra thành một kỳ thi độc lập. Do vậy, cũng chỉ từ năm này mới có danh hiệu Song nguyên (đỗ đầu hai kỳ thi Hội và thi Đình) và Tam nguyên. Cả nước chỉ có 7 người đạt danh hiệu Tam nguyên. Đào Sư Tích dù không phải là Tam nguyên nhưng vì từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu nên dân gian vẫn thừa nhận ông là Tam nguyên. Điều đó chứng tỏ Đào Sư Tích là người có kiến thức uyên bác, đạo đức trong sáng, được nhân dân cảm phục và yêu mến.

          Một hiện tượng kỳ lạ hiếm có trong lịch sử khoa cử nước ta là trong khoa thi Giáp dần (1374), cả ba người học trò của cụ Đào Toàn Bân đều đỗ cao: Con trai cụ là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, hai học trò của cụ là Lê Hiến Giản (tức Lê Hiến Phủ) đỗ Bảng nhãn, Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ (Thái học sinh). Cả bốn thày trò sau này đều làm quan đồng triều. Trong buổi lễ đăng khoa, biết Đào Toàn Bân đã dạy con và hai học trò đều đỗ đại khoa, vua Trần khen ông là "Phụ giáo tử đăng khoa" (Cha dạy con đỗ đạt) và tặng ông bốn chữ "Phụ tử đồng khoa" (Cha con cùng đỗ) kèm theo vế đối:

          Phụ đăng khoa, tử đăng khoa, phụ tử kế đăng khoa chi nghiệp;

          (Cha đỗ, con đỗ, cha con nối nhau làm nên sự nghiệp học vấn đỗ đạt)

          Tân Trạng nguyên Đào Sư Tích liền xin phép vua và cha cho đối như sau:

          Tổ tích đức, tôn tích đức, tổ tôn bồi tích đức chi cơ.

          (Ông tích đức, cháu tích đức, ông cháu cùng vun trồng cơ nghiệp đức)

          Câu đối của Đào Sư Tích ca ngợi dòng họ nhà vua đức nghiệp cao, văn học lớn, các bậc vua ông, cha, con, cháu đều như thế. Câu đối cũng đồng thời ngầm tự hào về dòng họ Đào của tác giả có truyền thống khoa giáp vẻ vang. Tài ứng đối của Đào Sư Tích đã làm đẹp lòng vua Trần.

       Sau khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được bổ chức Lễ bộ thượng thư trông coi việc văn hoá, giáo dục của triều đình. Đến tháng 5 năm Tân Dậu (1381) ông lại được thăng làm Nhập nội hành khiển kiêm Hữu ty lang trung. Nhập nội hành khiển là chức quan cao cấp trong triều đình thời Trần, chỉ đứng sau Tể tướng, nắm giữ các việc cơ mật của đất nước. Cùng năm này cha ông là Đào Toàn Bân cũng được thăng làm Tri thẩm hình viện sự, nắm giữ các việc thực thi pháp luật, "cầm cân nảy mực" xã hội.

          Nhiều năm liền Đào Sư Tích làm nhiệm vụ đi kinh lý các lộ miền biên giới phía bắc, lập được nhiều công trạng, được vua hết lòng khen ngợi. Năm Quý hợi (1383), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông làm sách Bảo Hoà điện dư bút để dạy bảo quan gia, sai Đào Sư Tích làm bài đề tựa. Sự kiện này chứng tỏ Trần Nghệ Tông rất tin ở tài văn học và đức độ của Đào Sư Tích. Tiếc rằng bộ sách này ngày nay đã thất lạc.

          Đào Sư Tích làm quan trong thời kỳ nhà Trần suy thoái. Ba vị vua mà ông từng phụng sự là Trần Duệ Tông (1372 - 1377), Trần Phế Đế (1378 - 1388), Trần Thuận Tông (1388 - 1398) đều chỉ làm vì, thực quyền vẫn trong tay Thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Nhưng Trần Nghệ Tông bản tính nhu nhược, chẳng giám tự quyết đoán việc gì, lại hết lòng tin dùng Hồ Quý Ly, giải quyết mọi việc thường nghe theo lời Hồ Quý Ly nên Hồ Quý Ly mới thực sự là người có vai trò quyết định mọi việc chính sự của triều đình. Từ năm 1371 triều đình nhà Trần nổi lên mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là các tôn thất quý tộc nhà Trần muốn duy trì vương triều của mình, với một bên là phái muốn cải cách đứng đầu là Hồ Quý Ly. Để củng cố địa vị và tạo vây cánh, Hồ Quý Ly tìm mọi cách đưa người tâm phúc và họ hàng của mình vào nắm giữ các cương vị chủ chốt trong triều đình, đồng thời tiêu diệt các phe đối lập. Tháng 2 năm Kỷ mùi (1379) Hồ Quý Ly lại được giao chức Tiểu tư không kiêm Hành khu mật đại sứ, được phép chọn cử quan viên không nhất thiết phải là tôn thất nhà Trần. Hồ Quý Ly đã lợi dụng dịp này đưa người của mình vào giữ các cương vị trọng trách như: lấy Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm quyền Đô sự... Đối với các phe đối lập, Hồ Quý Ly ra tay triệt hạ: diệt Thái uý Trang Định Vương Ngạc (1391), Trần Nhật Chương (1392), Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận (1395)... Trong khi đó vua Trần Duệ Tông là người có tài cầm quân, bản tính cứng cỏi nhưng quá tự kiêu, dẫn đến cái chết về tay Chế Bồng Nga khi đi đánh Chiêm Thành. Vua Trần Phế Đế là ông "Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì, uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Hồ Quý Ly), xã tắc lung lay, đến thân mình cũng không giữ được"(2). Năm 1388 mưu giết Hồ Quý Ly không thành, Trần Phế Đế bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nghe theo lời Hồ Quý Ly đem thắt cổ cho chết. Vua Trần Thuận Tông lên ngôi lúc mới 11 tuổi, Hồ Quý Ly liền gả con gái lớn của mình là Thánh Ngâu cho vua làm Hoàng hậu. Hồ Quý Ly làm Phụ chính Thái sư nắm mọi quyền hành trong triều đình.

          Giai đoạn Trần mạt, bọn quyền thần lợi dụng sự tối tăm của vua, tha hồ làm mưa làm gió trong triều, thẳng tay bóc lột ức hiếp dân chúng, gây ra một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách. Trước hoàn cảnh bi đát này, những người có tâm huyết đều bất lực. Tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn An dâng Thất trảm sớ để chấn chỉnh chính sự nhưng không được vua Trần chấp nhận đã phải từ quan về ở ẩn. Tháng 4 năm Nhâm thân (1392) Bùi Mộng Hoa dâng thư lên Thượng hoàng cảnh báo nguy cơ Hồ Quý Ly dòm ngó ngôi báu, Trần Nghệ Tông lại đưa thư cho Hồ Quý Ly xem, sau Bùi Mộng Hoa phải lẩn tránh. Đào Sư Tích là vị quan ngay thẳng, cương trực, luôn giữ chính nghĩa, không vào hùa với kẻ phản thần. Trong triều có một số người không ưa ông. Tháng 12 năm Nhâm thân (1392), Hồ Quý Ly viết sách Minh đạo (làm sáng tỏ đạo Nho) hạ thấp vai trò của Khổng Tử, đề cao Chu Công... Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói Hồ Quý Ly bàn như vậy là không phải, liền bị đày đi châu gần. Đoàn Xuân Lôi nói Đào Sư Tích có xem thư của mình phê phán Hồ Quý Ly nên Đào Sư Tích cũng bị giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự. Sau sự kiện đối đầu với Hồ Quý Ly này, có câu đối ca ngợi cha con Đào Sư Tích như sau:

          Kim âu xã tắc quân thần nghĩa

          Thạch mã sơn hà phụ tử danh.

          (Nghĩa vua tôi bình vàng xã tắc

          Tiếng cha con ngựa đá non sông)

          Chán ngán trước cảnh trong triều vua quan mưu hại lẫn nhau, bất mãn vì Hồ Quý Ly chuyên quyền, tiên đoán được nhà Trần sẽ mất về tay họ Hồ mà mình bất lực, Đào Sư Tích đã cáo quan về quê làm thuốc chữa bệnh và dạy học. Là một vị quan trông coi pháp luật, Đào Sư Tích luôn giữ mình trong sạch, khi về chỉ để lại cho con cháu một cái ao, vài sào ruộng và một mảnh đất làm nhà.(3) Đào Sư Tích từng là một đại quan hàng Á tướng của triều đình mà liêm khiết như vậy, ngày nay vẫn còn là một tấm gương sáng.

          Về năm cáo quan của Đào Sư Tích, các tài liệu viết về ông đều không nói tới, hoặc có nói thì cũng chỉ viết chung chung là "Khoảng năm Quang Thái đời vua Trần Thuận Tông (1388- 1398) ông cáo quan về trí sĩ". Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Đào Sư Tích bị giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự vào tháng 12 năm Nhâm thân (1392). Gia phả họ Đào - Phạm - Dương ở Cổ Lễ chép Đào Sư Tích mất ngày 4 tháng 9 năm Bính Tý (1396) thọ 47 tuổi. Trong thời gian từ 1393 đến 1396 ông còn phải đi sứ Trung Quốc (sau khi đã cáo quan). Vậy thời điểm cáo quan của ông rất có thể là vào năm 1393, tức là ngay sau khi bị giáng chức, lúc mà tâm trạng bất mãn của ông đã bị đẩy tới đỉnh cao.

          Đào Sư Tích cáo quan về quê nhưng ông không an phận làm một xử sĩ. Ông bí mật lên vùng Lý Hải, huyện Tam Đảo (nay thuộc xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo) với mục đích quy tụ nhân tài, nuôi chí lớn chấn hưng đất nước. Tại đây ông đã viết bộ Sách lược phục hưng Đại Việt cuối thời Trần. Bộ sách này ngày nay đã mất nên không rõ tư tưởng phục hưng canh tân đất nước của ông cụ thể thế nào. Con cháu họ Đào chỉ còn lưu truyền được câu cuối cùng trong bộ sách này là: "Việc lớn mà thành, ta sẽ tâu với trăm họ dời đô về Tam Đảo". Nhưng ông chưa đủ thời gian để thực hiện chủ trương phục hưng đất nước thì đã phải phụng mệnh triều đình đi sứ Trung Quốc.

          Thời gian này, nhà Minh tăng cường sức ép với vua Trần nhằm tạo cớ thực hiện âm mưu xâm chiếm Đại Việt. Chúng liên tiếp đưa các yêu sách ngày càng nặng nề đối với nước ta:

          - Tháng 9 năm Giáp Tý (1384) chúng đòi ta phải nộp lương thực cung cấp cho quân Minh đóng ở Lâm An (Vân Nam, Trung Quốc).

          - Tháng 3 năm ất sửu (1385) chúng đòi ta nộp 20 tăng nhân (nhà sư).

          - Tháng 2 năm Bính dần (1386) chúng đòi ta nộp những loài cây ăn quả quý, lại đòi cấp cho chúng 50 con voi và cho chúng mượn đường đi đánh Chiêm Thành.

          - Tháng 6 năm Ất Hợi (1395) quân Minh đánh các man làm phản ở Long Châu và Phụng Nghĩa (Quảng Tây, Trung Quốc), đòi ta phải cấp cho chúng 5 vạn quân, 50 thớt voi, 50 vạn thạch lương... Ta chỉ nộp một ít gạo, chúng lại đòi ta phải nộp tăng nhân, thanh niên bị thiến, phụ nữ xoa bóp...

       Trước tình thế đó, vua Trần rất cần người tài giỏi, có đủ khả năng xoay chuyển tình thế đi sứ để thực hiện chủ trương hoà hoãn. Trong triều có người nói chỉ có Đào Sư Tích mới có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ này. Mặc dù không ưa gì Đào Sư Tích, Hồ Quý Ly vẫn phải xin vua Trần giao cho ông nhiệm vụ đi sứ. Khi Hồ Quý Ly về Cổ Lễ để triệu Đào Sư Tích vào triều thì ông đã ở Tam Đảo. Tưởng ông bỏ trốn, Hồ Quý Ly ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ thì sẽ bị chu di tam tộc. Đề phòng họ Đào sau này bị Hồ Quý Ly tàn sát, Đào Sư Tích đã cho con cháu đổi ra họ Phạm và hồi triều nhận trách nhiệm đi sứ nhà Minh. Sau này con cháu ông lại có người đổi thành họ Dương, do đó từ đường họ Đào ở Cổ Lễ hiện nay có bức đại tự ghi là Đào - Phạm - Dương.

          Đào Sư Tích đã đi sứ nhà Minh vì quyền lợi của trăm họ, vì yêu cầu của đất nước. Bằng tài năng hơn người, ông đã thuyết phục được vua Minh giảm nhẹ yêu sách, đặc biệt đã bãi bỏ việc đòi cống nạp tăng nhân, kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt. Tương truyền, thời đó nhà Minh cho người vơ vét sách thuốc bằng chữ Nôm của nước ta, đem về nước xếp cao đến nóc nhà, nhưng không có ai đọc thạo. Nhân có Đào Sư Tích sang sứ, vua Minh nhờ ông đọc và tóm tắt giúp để Lý Sỹ Tài ghi lại bằng chữ Hán thành bộ Y tông tất đọc, ông chỉ đọc trong ít ngày là hết kho sách. Vua Minh vô cùng kinh ngạc và khâm phục, đã tặng ông bốn chữ Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước). Hiện bốn chữ này còn được khắc trong lăng Trạng nguyên Đào Sư Tích ở Cổ Lễ.

          Việc đi sứ của Đào Sư Tích không thấy ghi trong lịch sử. Do thời gian đã quá lâu, việc biên soạn lịch sử có nhiều sự kiện bị bỏ sót là điều dễ hiểu. Nhiều tài liệu của những tác gia nghiên cứu về Đào Sư Tích hiện nay đều thừa nhận việc đi sứ cuả ông nhưng không nói rõ là ông đi sứ vào thời gian nào. Lý lịch di tích lịch sử văn hoá nhà thờ Trạng nguyên Đào Sư Tích của Bảo tàng Nam Hà chép rằng:

          - "Theo truyền thuyết và tư liệu lịch sử thì khi ông mất tại đất Trung Quốc có 23 người, ngựa của nhà Minh đã hộ tống thi hài Trạng nguyên Đào Sư Tích về an táng tại quê hương xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ) theo lời di chúc của ông..."

          Nếu đúng như vậy thì Đào Sư Tích đi sứ nhà Minh vào năm 1395 - 1396 và mất trong khi đi sứ ở Trung Quốc chăng? Có một ý kiến khác cho biết Đào Sư Tích mất tại quê.(4) Tuy nhiên, về cái chết của Đào Sư Tích, trong dân gian còn lưu truyền một giai thoại như sau:

          Thời hạn đi sứ của Đào Sư Tích sắp hết, vua Minh hỏi rằng:

          - Nếu Bắc (chỉ Trung Quốc) đánh Nam (chỉ Đại Việt) thì ai thắng?

          Đào Sư Tích trả lời bằng hai câu thơ:

          - Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng

          Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

          Nghe câu trả lời của sứ thần Đại Việt, các quan võ nhà Minh cười vang khoái trá. Nhưng vua Minh lại không thể cười được vì hiểu ý câu trả lời của Đào Sư Tích. Trong câu trả lời có 5 chữ thắng, 5 chữ thua, nghĩa là đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng hoà là hơn. Câu trả lời của Đào Sư Tích không làm phật lòng vua Minh mà lại duy trì được mục đích kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt.

          Vua Minh lại hỏi:

          - Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?

          Đào Sư Tích trả lời cũng bằng hai câu thơ:

          - Trần thực, Hồ hư, hư hư thực

          Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư

          (Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực

          Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư)

          Vua Minh biết Đào Sư Tích là người tài giỏi, không thể khuất phục được bèn nghĩ cách giết đi. Vua Minh sai một quan đại thần tiễn Đào Sư Tích về nơi nghỉ và đưa cho vị này 4 phong thư, dặn mở theo thứ tự như thế như thế... Khi mở phong thư thứ nhất thấy có dòng chữ: Thượng văn vấn, hạ tri vương.

          Vị đại thần nhà Minh không hiểu ra làm sao. Đào Sư Tích liền bảo:

          - Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu giám nhận lời khen đó.

          Và ông giải thích cho vị đại thần nhà Minh rõ:

          - Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ. Vấn là hỏi, hỏi là mồm, mồm là khẩu. Bên dưới có chữ vương. Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh. Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà.

          Trong phong thư thứ hai có câu trả lời cho phong thư thứ nhất. Câu trả lời của Đào Sư Tích hoàn toàn đúng với đáp án trong phong thư thứ hai.

          Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm Lưỡng quốc Trạng nguyên.

          Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

          Hậu hoạ

          Nhất dược nhị đao

          Vị đại thần hiểu rằng vua Minh lệnh cho ông phải giết Đào Sư Tích nên ông rất hoang mang, buồn bã. Đào Sư Tích bình thản đón nhận cái chết, vì ông đã đoán biết trước việc này. Ông an ủi vị đại thần nọ:

          - Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu. Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực tiếp giết ta.

       Trước khi uống thuốc độc, ông dặn dò người nhà đi theo rằng:

          - Sau khi ta chết hãy đưa thi hài về chôn ở xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ quê ông). Ở chỗ giáp ranh ba thôn Đông (Đông Trung nay thuộc Trung Lao, Đông Thượng nay thuộc Đông Thượng, Đông Hạ nay thuộc Trực Đông) có một ngôi mộ, hãy trồng một cây đa ở ngôi mộ đó cho ta.

          Ngôi mộ đó chính là mộ bà Lê Thị Đông, người bạn thân thiết thời thơ ấu của Đào quan trạng.

          Sau khi Đào Sư Tích mất, Vua Minh đã cho đưa thi hài ông về quê theo lời di chúc của ông. Dân gian còn lưu truyền câu: "Nhị thập tam kỵ mã Ngô Minh quân hồi hương linh cữu Lưỡng quốc Trạng nguyên".

          Trong di cảo của Trạng nguyên Đào Sư Tích cũng nói rõ việc đi sứ nhà Minh và nhiều khả năng ông mất trên đường về. Bài Bắc khứ (Đi lên phương Bắc) và bài Dữ tiểu thiếp Giang thị (Nói với tiểu thiếp là Giang thị) ghi lại việc ông đi sứ, dọc đường lấy cô gái miền núi làm thiếp, phần chú thích của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị nói rõ Đào Sư Tích đi sứ là do bị Hồ Quý Ly bắt buộc. Hồ Quý Ly còn làm thơ tiễn Đào trạng nguyên. Rồi bài Hồi thời bệnh ngộ đại vũ (Lúc trở về, đang bị bệnh gặp mưa lớn) gợi cho chúng tôi nhận định: Trạng vốn sức khoẻ kém, bệnh nặng, trên đường đi đầy gian khổ, có thể Trạng đã mất trên đường đi sứ về chăng.

 

                                                 ***

 

          Trạng nguyên Đào Sư Tích là người tiêu biểu nhất trong truyền thống khoa bảng của họ Đào ở Cổ Lễ (Nam Định), Song Khê (Bắc Giang) và Đông Trang (Ninh Bình). Truyền thống đó được hậu duệ của ông nối tiếp không ngừng. Đào Thục Viên đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1502) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Hàn lâm. Dương Bật Trạc đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến Hiến sát sứ. Bật Trạc nguyên trước họ Đào, đến đời ông mới đổi ra họ Dương. Điều đáng chú ý là từ Đào Toàn Bân, Đào Sư Tích đến Dương Bật Trạc đều từng là các vị quan trông coi pháp luật. Chắc chắn họ phải là những người ngoài tài năng còn phải có đạo đức trong sáng mới được giao những nhiệm vụ "cầm cân nảy mực" giữ gìn phép nước này.

       Sinh thời Đào Sư Tích nổi tiếng về văn học. Cha con ông được coi là những người khơi dòng văn học của họ Đào. Câu đối ở nhà thờ họ Đào - Phạm - Dương Cổ Lễ còn ghi rõ:

          Đào tộc Song Khê khai học hải

          Dương danh Cổ Lễ khởi văn giai.

          (Họ Đào ở Song Khê mở ra biển học

          Tiếng Dương ở Cổ Lễ xây dựng nền văn).

          Những sáng tác của ông hầu hết đã bị thất lạc. Thời kỳ giặc Minh đô hộ nước ta, chúng đã thực hiện chính sách đốt sách vở của Đại Việt. Số phận những sáng tác của Đào Sư Tích không nằm ngoài sự huỷ diệt này. Một số tác phẩm của ông mà ngày nay chúng ta được biết là: Sách lược phục hưng Đại Việt cuối thời Trần (đã mất), Bài tựa sách Bảo Hoà điện dư bút (đã mất), Văn sách thi Đình (chép trong Lịch triều đình đối sách văn), Mộng ký (chép trong Công dư tiệp ký), Cảnh tinh phú (chép trong Quần hiền phú tập), nhiều thơ chép trong một số sách của các tác giả đời sau...

          Hiện tôi cùng dịch giả Dương Văn Vượng và nhà nghiên cứu văn học Đồng Ngọc Hoa đã sưu tầm và dịch năm chục bài thơ của Trạng nguyên Đào Sư Tích chép rải rác trong nhiều thư tịch cổ, biên soạn thành cuốn Trạng nguyên Đào Sư Tích đời và thơ văn xuất bản năm 2010. Qua thơ văn của Đào Sư Tích, bạn đọc hiểu thêm về tâm tư tình cảm, những suy nghĩ và hoàn cảnh sống của ông.

          Mặc dù những sáng tác của Đào Sư Tích hiện còn không nhiều, nhưng chỉ một bài Cảnh tinh phú nổi tiếng đã đủ đưa ông vào hàng những tác gia văn học Việt Nam tiêu biểu thế kỷ 14. Tô Thế Huy khi bàn về thể phú thời Trần về sau đã đánh giá Đào Sư Tích rất cao: "Đào Sư Tích khơi dòng, Lý Chuyết Am, Nguyễn Cúc Pha, Nguyễn Ức Trai giúp cho lớp sóng thêm mạnh. Hùng văn trong thiên hạ không gì lớn hơn được."(5)

          Cảnh tinh phú là một trong số hiếm hoi những bài phú thời Trần còn lại, là tư liệu quý cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học nước nhà.

          Sự nghiệp văn chương và cuộc đời vì nước vì dân của nhân cách lớn Đào Sư Tích còn sống mãi trong lòng nhân dân. Sau khi mất, ông được phong làm phúc thần và được nhiều nơi lập đền thờ như ở Cổ Lễ (Nam Định), Đông Trang (Ninh Bình), Song Khê (Bắc Giang), Lý Hải (Tam Đảo)... Sự nghiệp khoa giáp của ông được lưu danh muôn thuở như câu đối ở Lăng quan Trạng:

          Cổ Lễ miếu đường lưu vạn đại

          Trần triều khoa giáp đệ nhất môn.

          (Miếu thờ Cổ Lễ còn muôn thở

          Khoa giáp triều Trần mấy kẻ hơn).

          Đúng như vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Trạng nguyên Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, trong các câu ca dao và hát ru của nhân dân. Vùng Trực Ninh (Nam Định) còn lưu truyền bài Lời ru của mẹ ca ngợi ông như sau:

                   Trăm năm bia đá thì mòn,

          Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.

                   Kim ngôn có tự bao giờ

          Trạng nguyên Sư Tích bấy giờ Duệ Tông

                   Bảy tuổi đắc phong thần đồng,

          Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành.

                    Thi Hương, thi Hội, thi Đình,

          Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời.

                   Bảo Hoà dư bút vua tôi,

          Viết lên sử sách như lời núi sông.

                   Nhập nội Hành khiển Tướng công

          Thượng thư Lễ bộ một lòng sắt son.

                   Nhà Minh bỏ lệ tăng nhân,

          Y tông tất đọc muôn năm tôn thờ.

                   Lý Hải chí lớn bấy giờ

          Viết lên kế sách cơ đồ nước non.

                   Một đời trung hiếu sắt son

          Làm lành để phúc cháu con cậy nhờ.

                   Ơn người viết mấy vần thơ

          Muôn đời con cháu phụng thờ Trạng nguyên.

                   Cầu mong đất tổ Nam Chân

          Cháu con lớp lớp muôn phần nở hoa...

          Những nơi Trạng nguyên Đào Sư Tích đi qua còn lưu truyền câu ca dao:

                   Cha con lập ấp mở mang

          Quán ở Nam Định, quê làng Song Khê.

          Vùng Tam Đảo cũng có bài thơ dân gian truyền tụng về họ Đào:

                   Hai Đào mở đất khơi nguồn

          Văn chương pháp luật tuôn tràn mấy nơi.

                   Bảo Hoà lời tựu truyền đời

          Phú cảnh tinh cũng sáng ngời hùng văn

                   Và lời Mộng ký băn khoăn

          Song Khê, Cổ Lễ muôn năm nhớ người.

                   Lý Hải mến đức đời đời

          Hoa Đào muôn cánh đỏ trời mùa xuân...

          Như trên đã nói, các tài liệu lịch sử hiện còn viết về Trạng nguyên Đào Sư Tích rất ít và sơ lược, nên nghiên cứu về ông phần nhiều phải căn cứ vào dân gian. Những giai thoại về Đào Sư Tích do dân gian sáng tạo ra trên cơ sở sự thật lịch sử, có cái đúng sự thật, có cái do nhân dân hư cấu nên. Nhưng dù là do dân gian hư cấu thì những giai thoại vẫn mang trong mình nó cái lõi lịch sử. Những giai thoại về Đào Sư Tích là hình thức thể hiện, gửi gắm tình cảm, ước vọng của nhân dân đối với ông. Qua các giai thoại ta hiểu về nhân cách Trạng nguyên Đào Sư Tích thêm sáng tỏ.

---------------------------------------

Chú thích:

(1) Về sự kiện mối tình từ bài thơ "Chờ đò" của Đào Sư Tích, dân gian còn lưu truyền một thuyết khác. Theo thuyết này thì cô Đông không phải là người mà tình cờ Đào Sư Tích quen sau khi làm bài thơ "Chờ đò", mà chính là em của hai người bạn học thân thiết của Đào Sư Tích là Lê Hiến Giản và Lê Hiến Tứ. Đông và Tích yêu nhau từ nhỏ nhưng không được hai bên cha mẹ đồng tình mà trái lại còn kiên quyết ngăn cấm. Cha mẹ cô Đông là ông Tô Hiến Chương và bà Lê Thị Nga. Ông bà lấy nhau mãi vẫn không có con. Bà Lê Thị Nga liền bí mật đi lại với người bạn thân của chồng mình là Đào Toàn Bân (cha của Đào Sư Tích ) và sinh ra Giản, Tứ và Đông. Đông và Tích không biết rằng họ là hai anh em cùng cha khác mẹ nên đã vô tình yêu nhau. Bị cha mẹ ngăn cấm không lấy được Đào Sư Tích, cô Đông quẫn trí nhảy xuống sông tự vẫn. Nơi cô tự vẫn ngày nay còn cây cầu dân gian gọi là cầu Vô Tình.

       (2) Đại Việt sử ký toàn thư, BK8, 1a.

       (3) Thần tích tổng Thần Lộ.

(4) Thời Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà, Sở Văn hoá và Thông tin Nam Hà xuất bản 1996, trang 119.

       (5) Tựa Quần hiền phú tập.

 

       Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 1998. - Số 2. - Tr. 34 - 35.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      

BÙI NGỌC OÁNH

       VỊ TƯỚNG TÌNH BÁO CỦA NGHĨA QUÂN LÊ LỢI

 

          Năm 1427 cuộc kháng chiến 10 năm chống quân xâm lược Minh của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo đã giành thắng lợi. Trong chiến thắng đó có công lao đóng góp của vị tướng quân tình báo Bùi Ngọc Oánh. Bùi Ngọc Oánh cũng có nhiều đóng góp xây dựng quê hương Thọ Tung như mở trường thuê thày dạy học cho con em trong xã, chiêu dân khai hoang phục hóa vùng đất phía đông làng tạo thành vùng đất trù phú. Hiện ở  làng Thọ Tung (xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) còn ngôi đền thờ Bùi Ngọc Oánh và Trần Hưng Đạo được xây dựng từ thời Lê và chùa Thọ Tung thờ thiền sư Bùi Huệ Tộ. Cụm di tích đền chùa Thọ Tung đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 52/2001/QĐ-BVHTT ngày 28 tháng 12 năm 2001.

          Bùi Ngọc Oánh là người võ giỏi văn hay. Tại đền thờ anh em Bảng nhãn Lê Hiến Giản và Thái học sinh Lê Hiến Tứ ở xã Nam Thanh (huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) còn có câu đối của Bùi Ngọc Oánh:

          Huynh đệ nhất môn giai hiển tích

          Võ văn lưỡng vị tịnh phong thần

          (Anh em từ một cửa nhà, tiếng hay đều nổi;

          Văn võ dù chia đôi ngả, đều được phong thần).

          Tiến sĩ triều Mạc Trần Đình Huyên, người xã Cổ Chử (nay thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) có bài “Thọ Tung thành hoàng” (chép trong cuốn “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh) ca ngợi Bùi Ngọc Oánh như sau:

          Trất phong mộc vũ đáo tha phương

          Kỷ độ lâm nguy bất cải thường

          Vị quốc vong gia thùy đắc thử

          Thiên thu hương hỏa sắc tư chương.

          (Tắm mưa gội gió chốn quê người

          Bao độ gian nguy chẳng đổi dời

          Vì nước quên nhà ai sánh được

          Ngàn thu hương khói sắc phong rồi).

          Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh người xã Chân Mỹ huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) là Tế tửu Quốc Tử giám triều Nguyễn cũng có bài “Thọ Tung phúc thần” nói về Bùi Ngọc Oánh chép trong “Cố hương vịnh tập” như sau:

          Diệc vi khai quốc nhất công thần

          Lê đế đương thời dị chí trân

          Sơ vị gia bần hương bất trọng

          Hậu thành lương tướng sắc phong thần

          Khai hoang tế cấp do tồn tích

          Tộc miếu hương từ thượng mộc ân

          Khuất chỉ hoang hoa tứ bách tán

          Hương yên thi chúc kế truyền vân.

                   (Cũng là khai quốc công thần

          Đương thời Lê đế nhiều lần ban khen

                   Lúc đầu nghèo, có ai tôn

          Sau thành tướng giỏi ơn trên phong thần

                   Khẩn hoang còn giúp khó bần

          Họ thờ, làng cúng đội ân tỏ lời

                   Bốn trăm năm chục năm rồi

          Khói nhang cầu vọng nối đời không quên).

         Chúng tôi cung cấp tài liệu “Lê triều đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Bùi công sắc phong nhân đức phúc thần sự tích” của Nguyễn Bính soạn năm 1572 qua bản dịch của Dương Văn Vượng để bạn đọc rõ thêm về thân thế, công lao của Bùi Ngọc Oánh:

       SỰ TÍCH ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN BÙI CÔNG SẮC PHONG NHÂN ĐỨC PHÚC THẦN TRIỀU LÊ SƠ

           Ở nước ta vào thời cuối Trần, tại xã Bùi Xá, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa nội, có Bùi bá công tên là Ngọc Khuê, ban đầu đã dự vào giám sinh Quốc Tử giám, sau vì chán cảnh đời loạn lạc nên lùi bước về quê lấy vợ tên là Nguyễn Thị Khương người thôn Trạng Sơn cùng xã, lấy nghiệp gia truyền chữa bệnh làm kế sống. Vợ chồng hòa thuận ở ăn, một chút hại người không để dạ, thoáng điều ích kỷ chẳng sinh lòng, hàng ngày chế tác thuốc lá, ra bán tại chợ thôn Hoa cùng xã cũng đủ ấm no sớm tối. Vào năm Kỷ Tỵ (1389) em ruột Bùi bá công là thúc công Ngọc Huy đang làm trấn quan ở huyện Nông Cống bị thất thủ(1) bèn cùng vợ con nhân đêm trốn đi. Một ngày kia lưu lạc đến xã Thọ Tung, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Hạ, thấy dân cư nơi này khá giả, phong tục thực thà, bèn gửi lời với phụ lão sở tại xin ngụ lại, vẫn lấy nghề y làm kế sống, mai danh ẩn tích, cùng vợ con 6 người, rồi định cư và trở nên một nhà giàu có.

          Ở nơi quê cũ còn Bùi bá công, đến giờ Dần ngày 14 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1394), khi Nguyễn thị vừa mới ở chợ thôn Hoa trở về nhà thì sinh được một trai. Lúc này Bùi bá công còn đi hái thuốc chưa về, vì buồn ngủ nằm ở trong rừng mơ thấy có con hổ xám từ trong hốc đa đến nằm ở bên dưới chân mình, khi tỉnh dậy về nhà thấy vợ đã sinh, bèn đặt tên cho con là Ngọc Oánh. Ông vui mừng sắp lễ ra  tạ ở miếu Thành hoàng làng. Năm con lên 7 tuổi, ông mời thầy Lâm ở làng bên về nhà dạy học cho con. Qua mấy năm luyện tập, phàm các sách thao lược của Tôn Ngô, kinh nghĩa của Khổng Mạnh, Ngọc Oánh đều thông thạo cả. Đến năm Giáp Ngọ (1414) Ngọc Oánh nghe tin ông Nguyễn Chích đang tụ nghĩa ở núi Hoàng Nghiêu là người có lượng bao dung, có tài ngang dọc, bèn đem 20 người khỏe mạnh cùng quê đi theo. Năm Canh Tý (1420) ông theo Nguyễn Chích đến dưới cờ ông Lê Lợi xin đi dẹp giặc. Lê Lợi thấy Ngọc Oánh là người có học vấn sâu rộng, khỏe mạnh khác thường, bèn cất nhắc làm chức Chủ bạ trong quân. Phàm các việc xảy ra hàng ngày dưới ngọn bút ông đều tuân theo mệnh trên ghi chép cả.

          Năm Ất Hợi (1419) ông làm chức Tiên phong, trong việc đánh đồn Nga Lạc, bắt sống được tướng giặc Minh tên là Nguyễn Sao. Cùng năm này, ông lấy người con gái ở Chí Linh tên là Nguyễn Thị Khung làm vợ. Bố vợ ông là Nguyễn Thiệp đang làm chức Điều hộ ở trong quân. Nguyễn thị là người có nhan sắc, lại có sức khỏe. Bà nhận chức vệ sỹ chấp kích dưới trướng chồng mình, tạo được nhiều tiếng tốt.

          Tháng 10 năm Tân Sửu (1421) ông được Lê Lợi chọn làm Chinh Tây phó tướng chống quân Ai Lao, đêm ngày tiến gấp đánh úp. Mặc dù quân giặc đông tới ba vạn song vẫn bị bại trận nặng nề, bởi thế chúng không giám giúp quân Minh đánh cướp nước ta nữa.

          Năm Giáp Thìn (1424) Ngọc Oánh thấy vợ con bốn người, lúng túng không thể theo ra trận được, bèn xin trên đưa về đất Thọ Tung nhờ cậy ông thúc công Ngọc Huy che chở. Lê Lợi cử Nguyễn Công Bạch người Cổ Nhuế đem năm người giỏi khỏe đi theo bảo vệ trên đường.

          Tháng 9 năm ấy Ngọc Oánh cùng Nguyễn Chích vây bức thành Trà Long. Trong trận này ông cũng làm tướng tiên phong một đạo quân, được trên biết rõ, ban thưởng cho 50 lạng vàng để giúp đỡ gia đình.

          Năm Ất Tị (1425) theo lệnh trên, ông đem theo 20 người thân tín đi sâu vào đất phương Bắc thăm dò tin tức giặc. Tháng 5, ông giả làm nhà buôn trên bốn chiếc thuyền khởi hành từ Diễn Châu ra biển, lợi dụng gió nồm đi gấp. Tháng 6 thì vào vùng biển Quỳnh Châu bán các thứ thuốc nam. Ông cử phó đội trưởng Hoàng Duy Thành dựng một quán rượu tại ngã ba đường để làm nơi thường xuyên ăn ở rồi cắt cử 5 người ở đó, 5 người đi lấy tin, 8 người đi về trên đường chuyển tin. Tám người này lại chia ra 4 nhóm, đặt ra 4 trạm trên đường kế tiếp nhau không lúc nào đình hoãn.

       Một lần Ngọc Oánh đi tới đất Quế Lâm thì bị giặc phát hiện truy đuổi. Ông được một người con gái ở Lưu gia trang tên là Lâm Lâm Oanh khuyên giả làm người làm ruộng để tránh. Sau ông lấy Lâm Lâm Oanh làm vợ lẽ và sinh được hai con trai là Bùi Ngọc Trinh và Bùi Ngọc Cát. Ông còn được bố vợ là Lâm Tuyền Thủy, em vợ là Lâm Sơn Khê và Lâm Hoa Thảo giúp thu thập tin tức giặc.

          Tháng Giêng năm Mậu Thân (1428) ông được Lê Lợi triệu về bản quốc. Ông trình bày sự tình với gia đình vợ, xin đem vợ con cùng về. Nhưng ông Tuyền Thủy không ưng, chỉ cho em vợ ông là Sơn Khê cùng gia đình 5 người về ở tại quê ông thuộc xã Bùi Xá cùng với chi thứ ba là Bùi Ngọc Xuân tạo thành một xóm. Sau được vua ban bốn chữ “Hiệu trung trợ thuận” (Hết lòng trung, thuận theo việc làm lành), biển vàng và vàng tốt 100 lạng để khuyến khích lòng dân trong nước.

          Tháng 11 năm Mậu Thân (1428) Ngọc Oánh về xã Thọ Tung, nhưng gặp ý nghĩ không tốt của dân sở tại nên ông chán ngán đem vợ con trở về quê cũ. Ông được vua ban cho danh hiệu đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân. Độ gần mười năm ở cựu quán, ông nghe con ông chú là Ngọc Dụ mang theo thư của thúc công khuyên dời về đất Thọ Tung, nói rằng đất ấy có khí thiêng có thể cư trú lâu dài được, ông bèn nghe theo trở lại Thọ Tung rồi định cư ở đó.

          Lại nói từ khi trong nước bình yên, ông được vua cử làm quan cai trị đất Kinh Bắc. Thấy vùng đất thuộc huyện Quế Sơn thuộc phủ Từ Sơn sau loạn lạc nhân dân phiêu tán đói rét, ông bèn đem tiền của mình khuyên mọi người trở về quê giúp nhau dựng nhà tranh ở tạm, khai khẩn lại đất cũ. Nay 5 xã Mai Ổ, Trúc Ổ, Lãm Sơn, Phù Lưu, Bồng Lai trong huyện đều có đền thờ ông là để ghi nhớ công đức của ông đối với dân địa phương sâu sắc vậy!

          Ngày 20 tháng 10 năm Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6(1475) ông về thần tại lị sở. Bà chính thất cùng 10 con trai, 42 cháu nội và 200 quân rước linh cữu ông về quê an táng tại cồn Kim Kê. Việc đến tai vua, ông được sắc phong làm bản cảnh thành hoàng nhân đức phúc thần xã Thọ Tung, được ban 500 quan tiền, tế điền 3 mẫu, cho phép trong xã được miễn các lệ đóng góp, bốn mùa lo việc thờ tự. Từ đấy về sau, mỗi khi sở tại có việc lo nghĩ nghi ngờ không quyết thì tới cầu đảo đều có linh ứng rõ rệt không sao kể xiết. Tới nay làng thôn đông đúc, nhân dân no đủ đều là nhờ ơn nhờ phúc của thần để lại cho cả. Thế thì sao lại không nói ra, không ghi lại lưu truyền mà răn dạy đời sau?

          Mỗi khi đến ngày sinh ngày hóa của thần, dân xã trước một ngày làm lễ cáo ở từ đường và đền, đều dùng lễ xôi gà, chính lệ thì dùng lễ tam sinh bánh dày... Ngày thứ ba làm lễ tạ thì cũng như lễ cáo.

          Các tên húy thánh phụ thánh mẫu và thành hoàng, lúc lễ đều nhất thiết kiêng đọc.

          Ngày 9 tháng 10 niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) Hàn lâm viện Đông các Đại học sỹ, bề tôi là Nguyễn Bính vâng mệnh soạn thảo.

          Ngày 5 tháng chạp niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4(1738) Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh bề tôi là Nguyễn Hiền theo bản cũ của tiền triều chép lại.

          Ngày 18 tháng 11 niên hiệu Thành Thái năm đầu (1889) Thư lại của bộ Lễ là Nguyễn Đình Hoàn lại theo bản cũ chép lại.

......................................

Chú thích:

   (1)Tháng 8 năm Kỷ Tị có Nguyễn Thanh tự xưng là Linh Đức vương, Nguyễn Kị tự xưng là Lỗ vương, hai người tụ tập quân mã cướp chính quyền ở Nông Cống. Quân nhà Trần chống cự không nổi, ban đầu phải thua trận rút chạy, trong đó có Bùi Ngọc Huy.

 

       Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 2003. – Số 3. – Tr. 31 – 32.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                    TIẾN SĨ PHẠM ĐẠO PHÚ

   MỘT NGÔI SAO TRONG TAO ĐÀN NHỊ THẬP BÁT TÚ

 

 

         1- Phạm Đạo Phú (có sách chép nhầm là Nguyễn Phú Đạo, Nguyễn Đạo Phú) sinh năm Quang Thuận 4(1463), mất năm Nguyên Hoà 7(1539), quê ở làng Hoàng Xá, huyện Đại An (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

        Phạm Đạo Phú là một nhà khoa bảng Nam Định nổi tiếng về văn học. Ông là một ngôi sao trong Tao Đàn nhị thập bát tú thời Lê Thánh Tông. Trong tiềm thức dân gian, tên tuổi ông thường gắn liền với tên tuổi người em họ của ông là Hoàng giáp Đại tướng đổng quân Phạm Bảo. Hai anh em ông liên tiếp cùng đỗ đại khoa, cùng làm quan một triều, cùng được tôn làm phúc thần và được thờ chung trong một ngôi đền.

        Phạm Bảo (có sách chép là Phạm Nguyễn Báu) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đại khoa, ông được bổ làm Phó đô ngự sử ở Ngự sử đài, giúp cho Đô ngự sử chuyên lo việc can gián nhà vua và thanh tra các quan lại trong cả nước. Do ông rất giỏi võ nghệ nên vua Lê Thánh Tông chuyển ông sang ngạch vũ giai. Lúc đầu ông giữ chức Chưởng quản Nội thị, sau được thăng đến Đại tướng Đổng quân. Ông từng được cử cầm quân đi chiêu dụ Ai Lao, đánh dẹp giặc Ngọc Lâu nổi loạn ở miền Hưng Hoá. Năm Hồng Đức 23(1492) trại của Đa La Lý họp người Man Cam Cát nổi loạn, triều đình cử ông cùng Đại tướng Trần Tường mang quân đi đánh dẹp. Ông có công bắt sống Đa La Lý, chiêu an được các Man động nên vua Lê phong cho ông là Võ huân tướng quân Tả hiệu điểm, giữ chức Trấn thủ Nghệ An. Năm Cảnh Thống 4(1501) đời Lê Hiến Tông, ông hộ giá vua thân chinh đi đánh đồn Bổn Man, giữa đường thì mất. Vua thương xót ông là người văn võ song toàn, có nhiều công lao hiển hách nên truy phong cho ông hàm Thiếu uý và ban tên thuỵ là Vũ Thành. Linh cữu của ông được đưa về an táng tại làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Lăng mộ ông hiện nay vẫn còn ở xứ Mả Người, đường Đồng Tân, thôn Hưng Thịnh (thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Năm Quang Hưng 18(1595) đời Lê Thế Tông, ông được phong làm phúc thần và được lập đền thờ tại làng Hưng Thịnh.

        Người anh họ của Phạm Bảo là Phạm Đạo Phú cũng nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21(1490) đời Lê Thánh Tông. Năm Hồng Đức 26(1495) ông được giao chức Hàn lâm viện Hiệu kiểm (tức Hàn lâm viện Kiểm thảo sau này), chuyên lo việc kiểm thảo các văn thư ở Viện Hàn lâm. Sau ông lại được thăng đến chức Hình bộ Tả thị lang, một chức quan cao cấp ở bộ Hình, chỉ đứng sau Thượng thư và Tham tri, mang hàm Chánh tam phẩm, giúp Thượng thư trông coi việc pháp luật, duyệt lại những tội nặng án ngờ, tra xét kỹ những tù giam ngục cấm. Ông làm quan cần mẫn trải bảy đời vua: Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục Đế, Tương Dực Đế, Chiêu Tông, Cung Hoàng. Cùng với Phạm Bảo, ông được người đời đánh giá là "Anh em cùng nhau nối tiếp trước sau, trọn vẹn tiếng tốt ở đương thời" (Văn bia ở miếu thờ hai ông đỗ đại khoa ở làng Hưng Thịnh do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị soạn).

        Năm Đinh Hợi niên hiệu Thống Nguyên 6(1527) Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Phạm Đạo Phú một lòng trung thành với nhà Lê đã treo ấn từ quan về quê dạy học. Nhà Mạc nhiều lần triệu ra làm quan nhưng ông kiên quyết từ chối. Thực chất những năm về ở ẩn, Phạm Đạo Phú ngầm chiêu tập nghĩa binh dưới hình thức mở trường dạy học để mưu nổi dậy chống nhà Mạc. Việc không thành, ông cho con cháu đổi họ Phạm thành họ Ngô để đề phòng nhà Mạc trả thù. Con cháu ông mang họ Ngô nhưng vẫn trông coi từ đường họ Phạm. Gần đây con cháu ông đã được chính quyền sở tại cho phép đổi họ Ngô trở lại họ Phạm.

        Ngày 2 tháng 8 năm Nguyên Hoà 7(1539) Phạm Đạo Phú mất. Lăng mộ ông hiện nay ở gò Con Ngựa, xứ đồng Mả Cả, đường Trung Đồng, thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sau khi ông mất, vua Lê Thế Tông xếp ông vào hàng các trung thần của triều Lê, truy tặng ông hàm Tham tri và ban tên thuỵ là Trung ý Trung đẳng thần, sức cho dân bản xã lập đền thờ làm phúc thần. Năm Tự Đức 7(1854) dân làng Hưng Thịnh lấy số hoa lợi "Cấp tứ" (20 mẫu ruộng do triều Lê Trung Hưng cấp cho dân làng làm hương hoả thờ cúng Phạm Đạo Phú gọi là ruộng "Cấp tứ") và tiền khao vọng hơn 3000 quan xây dồn đền thờ ông với đền thờ Phạm Bảo. Bài vị thờ ông ghi là: "An dân trấn quốc hiển sĩ binh thần tuấn lương đại vương".

        Hiện nay đền thờ hai anh em Phạm Đạo Phú ở thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng được thờ chung với Thuỷ thần. Trải các triều đại phong kiến, các vua chúa đời sau đều có sắc phong để nhân dân hai làng Hưng Thịnh và Phạm Xá thờ cúng hai anh em ông.

 

        2 - Về quê quán của hai anh em Phạm Đạo Phú, các tài liệu viết không thống nhất. Một số tài liệu chép quê các ông ở làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Một số tài liệu lại viết quê các ông là làng Hoàng Xá, huyện Đại An. Theo "Hương chỉ" của làng Hưng Thịnh, anh em Phạm Đạo Phú là những người có công sáng lập làng Hưng Thịnh. Người đầu tiên khai phá vùng đất Hưng Thịnh là ông Nguyễn Đại Lang, thứ hai là anh em Phạm Đạo Phú và Phạm Bảo. Hai anh em ông đã cùng bà con khai khẩn đất hoang, tạo lập thành làng. Lúc đầu đặt tên là làng Hưng Phú. Dần dần làng Hưng Phú ngày thêm trù phú và đông đúc mới đổi lại là làng Hưng Thịnh. Phạm Đạo Phú sau khi từ quan về dạy học đã sống đến hết đời ở làng Hưng Thịnh. Có lẽ vì thế mà có tài liệu chép quê ông là làng Hưng Thịnh chăng. Sau khi anh em ông mất, thi hài hai ông đều được an táng ở làng, đều được làng Hưng Thịnh thờ làm Phúc thần. Trong đền thờ hai ông có câu đối:

        Sơn nhạc giáng thần cố lý tân từ linh tích tại

        Văn chương minh thế thạch bi kim bảng thịnh danh truyền.

        (Núi lớn giáng thần, dấu thiêng thiêng ở làng xưa đền mới

        Văn chương sáng sủa, tiếng tốt đẹp truyền bia đá bảng vàng).

        Gần ngôi đền thờ Phạm Đạo Phú có tấm bia đá do Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị soạn nói về hành trạng của hai anh em ông, có câu:

       "Sinh vi danh thần, tử vi phúc thần, nhi miếu ủ ấp cổ lai hãn hỹ" (Sống là danh thần, khi mất làm phúc thần mà đền miếu ở quê nhà, từ xưa đến nay quả là hiếm vậy).

        Như vậy, làng Hưng Thịnh là nơi hai anh em Phạm Đạo Phú có công tạo lập, còn quê quán của các ông chính là làng Phạm Xá. Theo gia phả họ Phạm ở làng Phạm Xá (nay thuộc xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) thì ông bà, cha mẹ Phạm Đạo Phú là những người đầu tiên đến khai phá vùng ven biển Đại An. Lúc đầu dân cư còn thưa thớt, làng còn nghèo nàn, những người khai phá vùng đất này thành lập trại cô bần. Sau làng đông đúc và trù phú mới đặt tên làng là Hoàng Xá. Tương truyền, sau khi anh em Phạm Đạo Phú đỗ đại khoa, làng Hoàng Xá được đổi thành làng Phạm Xá để ghi nhớ sự vinh hiển của con cháu họ Phạm. Từ đường họ Phạm có bức hoành phi đề là "Văn minh tổ" (Tổ khai sáng văn minh). Cũng ở làng Phạm Xá hiện còn có ngôi đình thờ anh em Phạm Đạo Phú, gọi là đình ông Nghè. Trong đình có một số bia ghi công đức của những người đóng góp tu sửa đình và hơn vài chục câu đối bằng chữ Hán khắc vào cột đá của các bậc đại khoa đời sau đề tặng. Câu đối của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, người làng Chân Mỹ, huyện Đại An (nay thuộc làng Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) viết là:

        Tích Lê triều Hồng Đức thái bình thiên, Đinh Mùi, Canh Tuất lưỡng khoa phật kinh liên kế;

        Kim Nam quận Đại An văn vật địa, Phạm Xá, Hưng Thịnh nhị xã thần miếu tương vương.

        (Xưa Hồng Đức triều Lê, trời thanh bình, Đinh Mùi, Canh Tuất hai khoa liền nhau đỗ đạt.

        Nay quận Đại An nước Nam, đất văn vật, Phạm Xá, Hưng Thịnh hai xã cùng thờ miếu thần).

        Trước hiên đình có câu đối của Hoàng giáp La Ngạn Đỗ Huy Liêu (người làng La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Đinh) như sau:

        Hồng Đức đương thiên huynh đệ bảng

        Nha thành thử địa cổ kim danh.

        (Anh em đề bảng thời Hồng Đức ấy,

        Muôn thuở lừng danh đất Nha Thành này).

        Nha Thành còn có tên là cửa Nha Ác. Vùng đất Hưng Thịnh, Phạm Xá xưa kia liên tiếp nhau chính là cửa biển Đại Ác (sau đối là Đại An). Ngày nay hai làng này ngăn cách nhau bởi cửa sông Độc Bộ và thuộc hai huyện khác nhau: Hưng Thịnh thuộc xã Hoàng Nam của huyện Nghĩa Hưng, Phạm Xá thuộc xã Yên Nhân của huyện Ý Yên.

 

        3 - Hai anh em họ Phạm đều xuất thân là những vị đại khoa nhưng Phạm Bảo nổi tiếng về võ công hiển hách, Phạm Đạo Phú lại nổi tiếng có tài văn học. Ngay từ nhỏ Phạm Đạo Phú đã thông minh, học giỏi, có tiếng là làm từ phú hay. Năm Hồng Đức 21(1490) đỗ Tiến sĩ thì ngay năm sau (1491) ông được vua Lê Thánh Tông cho cùng về thăm Lam Kinh với một số quần thần khác. Trong chuyến đi này vua tôi cùng xướng hoạ thi ca, chép lại thành tập gọi là "Văn minh cổ xuý" . Phạm Đạo Phú có 6 bài thơ phụng hoạ trong tập này. Năm Hồng Đức 26(1495) vua Lê Thánh Tông thành lập Tao Đàn hội. Phạm Đạo Phú được chọn làm Hội viên chính thức. Nhân hai năm Quý Sửu (1493) và Giáp Dần (1494) được mùa liền, vua Lê Thánh Tông làm 9 bài thơ gọi là Quỳnh Uyển cửu ca, chọn 28 văn thần ứng với 28 ngôi sao trên trời phong làm Tao Đàn nhị thập bát tú, có nhiệm vụ phụng bình, phụng canh, phụng hoạ các bài thơ của vua. Hai mươi tám ngôi sao đó là: Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Chương, Dực, Chẩn. Phạm Đạo Phú được xếp ở vị trí thứ 27 (tức là sao Dực) trong số 28 ngôi sao trên đàn văn chương này.

        Mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (từ năm 1495 đến năm 1497) Tao Đàn hội vẫn được coi là một thi xã cung đình đầu tiên, có quy mô khá lớn ở nước ta. Tao Đàn hội do vua Lê Thánh Tông làm Nguyên suý. Các hội viên được chọn lọc trong hàng ngũ quan lại cao cấp, có học vị từ Đồng Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Tôn chỉ mục đích của hội được nhà vua nói rõ trong bài Tựa và trong chùm thơ Quỳnh Uyển cửu ca. Tôn chỉ mang ý nghĩa chính trị và giáo dục sâu sắc, góp phần bảo vệ hoà bình và xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh. Hai vị Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận được phong là Phó nguyên suý. Ngoài 28 hội viên chính thức của hội, vua Lê Thánh Tông còn phong cho Trạng nguyên Lương Thế Vinh và Tiến sĩ Sái Thuận chức Tao Đàn sái phu, có nhiệm vụ "quét dọn" (biên tập) các sáng tác của hội. Cơ cấu của hội mang tính chất khoa học nhiều mặt: sáng tác, bình văn, thẩm văn, nhuận sắc văn. Tác phẩm chủ yếu của hội là Quỳnh Uyển cửu ca (Chín khúc ca trong vườn Quỳnh) gồm hơn hai trăm bài thơ xướng hoạ. Chín bài thơ xướng của Lê Thánh Tông có đầu đề là:

        - Sửu, Dần nhị tuế, bách cốc phong đăng hiệp vu ca vịnh ký kỳ thuỵ (Hai năm Sửu, Dần mùa màng tươi tốt, làm thơ phổ vào lời ca để ghi lại điềm lành ấy). Viết tắt là: Bách cốc phong đăng.

- Quân đạo (Đạo làm vua).

       - Thần tiết (Tiết tháo bề tôi).

       - Dư tĩnh toạ thâm cung hà tư cổ tích, quân minh thần lương, dữ đương kim cơ nghiệp chi thịnh, ngẫu thành nhất luật (Ta ngồi trong chính điện, nghĩ tới các bậc vua sáng tôi hiền ngày xưa và cơ nghiệp thịnh trị ngày nay, ngẫu nhiên làm một bài thơ). Viết tắt là : Quân minh thần lương.

        - Dư độc thư chi bạ, dao tưởng anh hiền, tự dư thi hoài triển chuyển, ngẫu thành nhất luật (Ta trong lúc đọc sách rỗi, nghĩ tới các bậc tài giỏi, ý thơ trăn trở, bỗng thành một bài thơ). Viết tắt là Dao tưởng anh hiền.

- Kỳ khí (Khí tiết kỳ diệu).

- Thư thảo hý thành (Đùa thành bài thơ về viết thảo).

- Văn nhân (Văn nhân).

- Mai hoa (Hoa mai).

              Tiến sĩ Phạm Đạo Phú làm đủ cả 9 bài thơ phụng hoạ các bài thơ xướng của vua Lê Thánh Tông. Phạm Đạo Phú là người duy nhất ở vùng đất Nam Định được mời làm hội viên chính thức của hội thơ nổi tiếng này. Nam Định còn có Trạng nguyên Lương Thế Vinh được phong làm Tao Đàn sái phu, nhưng không phải là hội viên chính thức của hội. Việc được Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng tài đức chọn làm hội viên chính thức của Tao Đàn hội đã chứng tỏ Phạm Đạo Phú là người có tài có đức, đặc biệt về văn thơ.

        Năm Cảnh Thống 1(1498) dựng bia Quang Thục thái hoàng thái hậu ở Lam Kinh, khắc bài thơ khóc bà của vua Lê Hiến Tông và thơ của 36 vị quần thần khác. Phạm Đạo Phú có một bài thơ được chọn khắc trong bia này. Bài thơ của ông tình cảm rất thống thiết, có câu:

        Xuất thổ quần sinh mộng ủ hú

        Bất thăng cảm đức lộ triêm cân.

        (Cõi đất muôn loài ơn ấp ủ

        Xót thương mến đức lệ trào khăn).

        Sự nghiệp thơ văn của Phạm Đạo Phú còn lại không nhiều. Con cháu họ Phạm ở Phạm Xá còn lưu giữ được một tập thơ chiêu hồn bằng chữ Nôm chép lại vào năm 1913, đề là: "Do tướng công Phạm Đạo Phú soạn, Khiếu Năng Tĩnh viết lời bạt". Phần thơ xướng hoạ của ông còn 15 bài chép trong các sách Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xuý, Lê triều thi tập, Cúc Đường thi tập, Quỳnh Uyển cửu ca, Toàn Việt thi lục.

        Thơ Phạm Đạo Phú lời lẽ giản dị, khiêm nhường, rất ít dùng điển cố. Hai vị Phó nguyên suý của Tao Đàn hội là Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận đã từng bình thơ ông là: "Phá, kết ý hảo. Dư diệc bình thường" (Câu mở đầu và câu kết có ý hay, ngoài ra bình thường).

        Trong khuôn khổ của các bài thơ hoạ nguyên vận, các sáng tác của Phạm Đạo Phú cũng như của những Tao Đàn hội viên khác đều có hạn chế là khuôn sáo, cầu kỳ, tư tưởng tình cảm bị gò bó. Dẫu sao thơ ông vẫn mang những yếu tố tích cực nhất định. Đó là sự thể hiện tấm lòng yêu nước thiết tha, tự hào về truyền thống vinh quang của ông cha, và nhất là sự quan tâm đến nhân dân, mong muốn cho dân giàu nước mạnh. Trong bài "Phụng hoạ ngự chế: Bách cốc phong đăng" ông đưa ra tiền đề:

        Tuế lũ kim nhương thượng thuỵ đẳng

        (Đã bao năm được mùa lúa vàng).

        Ở câu kết của bài này ông viết :

        Tứ dã nghiêu dân tư hạo hạo

        (Khắp chốn thôn dã dân lành vui vẻ hớn hở).

        Bài thơ đã diễn đạt rất đúng tâm trạng vui vẻ của người nông dân khi được mùa, thể hiện sự cảm thông của tác giả đối với nhân dân lao động. Không chỉ cảm thông với người nông dân mà ông còn ước mong cho dân có được đời sống yên ổn, thanh bình:

        Cửu tự cửu ca quân thánh hoá

        Khang cù kích nhưỡng lạc Nghiêu niên.

                                  (Bài Phụng hoạ ngự chế: Quân đạo )

        (Chín khúc ca vui là sự giáo hoá của bậc thánh nhân,

        Dân lành vui vẻ trong cảnh thái bình của vua Nghiêu).

        Triều đại vua Lê Thánh Tông là thời đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời kỳ này mọi mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục... đều phát triển và có nhiều thành tựu đáng kể. Phạm Đạo Phú đã ca lên:

        Xuân hồi thảo mộc tân tiên nghiên,

        ...

        Đa hạnh tư thần phùng thánh đại,

        Nguy nguy hiếu trị nhật trung thiên.

              (Bài "Phụng hoạ ngự chế: Bái yết Sơn lăng cảm thành")

       (Xuân về cây cỏ thảy đều tươi,

        ...

        Vua sáng tôi hiền may mắn gặp,

        Xây nền hiếu trị vững muôn đời).

        Vua sáng, tôi hiền và nền hiếu trị là ước mơ mong muốn về một xã hội tốt đẹp của ông cũng như của nhân dân ta thời đó. Cho nên ông lấy làm sung sướng được là tôi hiền của vị vua sáng Lê Thánh Tông.

        Giữa những bài thơ xướng hoạ thù tạc, ca ngợi vua, ca tụng chế độ phong kiến, mang tính chất khuôn sáo, gò bó, cầu kỳ... lại có được những ý thơ, những câu thơ, những bài thơ quan tâm đến đời sống nhân dân, thể hiện lòng yêu đất nước, yêu dân như của Phạm Đạo Phú là điều rất đáng quý.

        Mặc dù thơ Phạm Đạo Phú chỉ còn rất ít, nhưng chỉ với những tác phẩm còn lại đó cũng đủ để ông xứng đáng được ghi nhận là một tác gia của dòng văn học bác học Việt Nam cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16 mà lịch sử văn học nước ta không thể không nhắc đến ông.

 

………………..

 

       Nguồn: Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr. 18 - 20.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỀ

           TRẠNG NGUYÊN TRẦN VĂN BẢO

 

          Trần Văn Bảo là một trong 5 vị Trạng nguyên của tỉnh Nam Định. Ông từng làm quan triều Mạc đến Thượng thư. Học vị Trạng nguyên đã khẳng định Trần Văn Bảo là người học rộng, tài cao, giỏi văn thơ. Nhưng tiếc rằng tài liệu cổ viết về ông hiện còn rất ít, lại quá sơ sài, nhiều chi tiết không thống nhất. Điều này dễ hiểu: vì Trạng nguyên Trần Văn Bảo làm quan triều Mạc, mà triều Mạc lại bị các nhà viết sử thời phong kiến coi là nguỵ triều nên không ghi chép đầy đủ, kỹ càng. Trải hơn 400 năm, các di tích đền thờ, sắc phong về ông bị mai một, thất lạc hầu như không còn gì đáng kể.

          Sinh thời Trạng nguyên Trần Văn Bảo có tiếng về sự nghiệp làm quan và tài văn học vang lừng sang cả Bắc quốc như người đời ca ngợi "Sự nghiệp, văn chương đằng Bắc quốc". Nhưng đáng tiếc là chúng tôi chưa tìm thấy tác phẩm nào của ông còn lại đến ngày nay.

          Bước đầu nghiên cứu về Trạng nguyên Trần Văn Bảo, chúng tôi chỉ giám hy vọng tập hợp và phân tích tư liệu viết về ông, góp phần tái hiện chân dung xác thực về một danh nhân văn hoá tiêu biểu của tỉnh nhà.

 

          I - Sơ lược tiểu sử, sự nghiệp của Trạng nguyên Trần Văn Bảo

          Trần Văn Bảo (sau đổi tên là Trần Văn Nghi, có tài liệu chép là Trần Văn Tuyên) sinh năm Giáp Thân 1524, mất năm Canh Tuất 1610, quê làng Cổ Chử, huyện Giao Thuỷ, trấn Sơn Nam (nay là thôn Dứa, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

          Theo gia phả họ Trần làng Cổ Chử, cha Trần Văn Bảo là Trần Công, người ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Vào thời Lê, Trần Công di cư xuống làng Cổ Lãm (sau đổi là Cổ Chử), huyện Giao Thuỷ. Trần Công lấy vợ người làng Cổ Chử, sinh được hai người con là Trần Văn Bảo và Trần Văn Hoà. Mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, anh em Trần Văn Bảo sống rất khổ cực nhưng vẫn ham học. Thân mẫu hai ông phải tần tảo buôn bán hoa quả ở chợ Lạc Đạo (nay thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) để lấy tiền nuôi hai con ăn học. Khi hai con vừa đến tuổi trưởng thành thì bà qua đời. Sau khi mẹ mất, gia cảnh Trần Văn Bảo lại càng khốn khó nhưng ông vẫn quyết chí học tập.

          Năm 27 tuổi, Trần Văn Bảo đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên.

          Sau khi đỗ Trạng nguyên, Trần Văn Bảo được bổ làm quan trong triều đình nhà Mạc. Sau này ông đổi tên là Trần Văn Nghi rồi đi sứ nhà Minh (Trung Quốc). Khoảng đầu niên hiệu Diên Thành (1578) triều Mạc Mậu Hợp, Trần Văn Bảo được thăng chức Thượng thư, tước Nghĩa Sơn bá. Đến tháng 7 năm Tân Tị 1581 ông lại được Mạc Mậu Hợp giao chức Lại bộ Thượng thư, cho vào hầu giảng ở toà Kinh Diên.

          Thời kỳ này nhà Mạc suy tàn, kỷ cương lỏng lẻo, xã hội rối ren, quan quân đánh dẹp liên miên, dân tình vô cùng khổ cực. Mạc Mậu Hợp lên ngôi từ khi mới hai tuổi, lớn lên chỉ ham chơi bời rượu chè, gái đẹp, chẳng quan tâm đến chính sự. Các quan đại thần trong triều như: Hộ bộ Thượng thư Giáp Trưng, Thiêm đô Ngự sử Lại Mẫn, Đông các học sĩ Nguyễn Năng Nhuận, các Đô cấp sự trung ở sáu khoa (Nguyễn Phong, Nguyễn Tự Cường, Phạm Như Giao, Nguyễn Ích Trạch, Lê Viết Thảng, Nguyễn Quang Lượng)... liên tiếp dâng sớ lên Mạc Mậu Hợp, chỉ rõ chính sự suy đồi, khuyên răn Mạc Mậu Hợp hãy chăm lo chính sự, nhưng Mạc Mậu Hợp vẫn không thay đổi.

       Trước tình hình suy sụp của triều đình và Mạc Mậu Hợp càng ngày càng lao vào ăn chơi sa đoạ, Trần Văn Bảo đã tiên đoán sự diệt vong tất yếu của vương triều Mạc. Ông cảm thấy buồn nản và bất lực, muốn lui về ẩn dật. Trong tờ sớ của các Đô cấp sự trung sáu khoa dâng lên Mạc Mậu Hợp hồi tháng 6 năm Tân Tị 1581 có đoạn viết về Trần Văn Bảo như sau:

          "... Văn thần trọng trách như Nghĩa Sơn bá Trần Văn Nghi, Vịnh Kiều bá Hoàng Sĩ Khải, An Khê bá Mai Công, Đam Xuyên bá Nguyễn Triệt, thì đều giữ vẻ khoan hậu, không cần nghĩ tới việc sâu xa. Bởi thế các liêu thuộc nhân đó mà trễ nải..."(1)

          Lời nhận xét trên chứng tỏ Trần Văn Bảo đã mang tâm trạng chán nản, không còn ham chức tước, muốn lui về quê làm một xử sĩ.

       Ngày mồng 7 tháng 8 năm Tân Tị 1581, Trần Văn Bảo vào triều yết cáo xin về cố hương và dâng sớ từ chức Lại bộ Thượng thư. Đại lược nội dung tờ sớ của ông như sau:

          "Trong khoảng trời với người giao cảm, đều ứng vào cùng loại với nhau, như nhân sự hay thì trời ứng điềm lành, nhân sự dở thì trời ứng điềm dữ.

          Chính sự thời nay, rất nhiều việc hại đạo trái lẽ, không thể kể xiết.

       Những tờ sớ của các vị đình thần trước sau đã tâu bày, đều nói thẳng những sự sai lầm, có thể như những liều thuốc hay, rất đáng cứu xét để tu tỉnh. Bệ hạ tuy đã ban chỉ dụ khen ngợi, mà vẫn chưa thấy mở rộng lượng theo lời can gián, như bệ hạ dạy rằng: lời này có thể làm theo, mà sao vẫn chưa thấy thi hành thực sự; như việc nọ đã qua bàn luận rất nên châm chước thi hành, mà sao vẫn không thi hành; như văn bản kia lưu ở trong cung, rất nên truyền ra, mà sao vẫn chưa phát ra... Không biết đó có phải là do ý định của bệ hạ mà tạo ra tình trạng đó hay là hoặc có kẻ làm mờ ám thông minh, lừa dối bệ hạ chăng?

          Những việc như thế, rất trái với đường lối trị nước. Cho nên thể thống triều đình, ngày càng rối loạn, những lời công luận, ngày càng bế tắc. Trong nước không có chính trị hay, cho nên trời ra điềm dữ để cảnh tỉnh, như là sao chổi xuất hiện; núi tự nhiên lở, cùng là nhật thực nguyệt thực. Nay lại phạt bằng trận mưa bão dữ dội ngay tại kinh sư, đó là tai dị rất lớn.

       Thời xưa vua Cảnh Công chỉ nói một lời thiện, mà sao chổi phải lui; nước Trịnh vì có chính trị hay, mà khỏi tai hoạ về sau. Đó đều là điểm đã nghiệm về người thắng trời, đức giải hạn, mà cũng đủ làm tấm gương soi tỏ cho ngày nay.

          Kính mong bệ hạ, sợ oai trời, sửa đức mình, ban sắc lệnh cho phụ chính ứng vương phải hết sức tu tỉnh, giúp việc triều đình, để tâm vào việc giữ yên hoàng gia, nằm gai nếm mật, lấy việc diệt quốc thù làm trách nhiệm của mình. Lại cần đòi hỏi các vị đại thần, tin dùng những lời can gián trung thực; cải cách các điều lỗi, sắp đặt hết mọi việc. Như vậy là nhân sự đã hoàn thiện, thì thiên ý tự khắc vãn hồi, và thiên hạ quốc gia sẽ ngày một thịnh vượng thái bình. Nếu không thì thời kỳ bại vong khó tránh được.

       Hạ thần không xứng chức, tự hạch xin miễn chức, và tới trước cửa khuyết để đợi tội, hoặc biếm hoặc truất, kính theo mệnh của bệ hạ".(2) (Hết trích)

          Sau khi xem xong tờ sớ của Trần Văn Bảo, Mạc Mậu Hợp liền ban sắc uý dụ và buộc ông phải nhận chức.

          Ngày 29 tháng giêng năm Nhâm Ngọ 1582, Mạc Mậu Hợp cho dựng ngôi điện giảng học, nhưng kỳ thực là để làm nơi yến tiệc chơi bời. Điện vừa làm xong thì bị hoả hoạn cháy trụi. Nhân sự kiện này, Trần Văn Bảo lại dâng sớ khuyên răn Mạc Mậu Hợp. Sớ rằng:

          "Kinh thư có câu: "Duy cát hung bất tiếm tại nhân, duy thiên giáng tai tường tại đức" (Sự lành dữ xảy ra không lộn, tại người, trời giáng tai ương hay điềm lành, đều bởi đức).

          Nay bệ hạ mới ngự ngôi điện mới dựng, đáng lẽ là lúc bắt đầu ban bố chính sự và giáo hoá, thế mà lại tới đấy để thoả vui yến tiệc, không có đề phòng, đến nỗi ngôi điện bị cháy, việc này không thể đổ cả cho trời được, đó chính là bởi nhân sự xui lên vậy. Nếu người không có sơ hở, thì tai biến đâu có xảy ra. Ý trời răn bảo đã rõ ràng như vậy, chính là lúc bệ hạ nên lo sợ chăm chỉ.

          Kính mong bệ hạ, kính sợ lời răn của trời, nghĩ tới vương đạo, đừng cho lời nói của hạ thần là viển vông.

          Đến như sự sửa sang lại kinh thành, trù hoạch quy củ, dự định dựng ngôi điện, để bệ hạ tới ngự, cũng là một cơ hội trung hưng thứ nhất. Vậy nên mong bệ hạ quyết đoán: giữa mong ứng vương tán trợ; dưới mong tất cả văn võ bá quan hoà mục, để cùng bàn tính kinh doanh, dựng lên một ngôi điện nguy nga giữa trời".(3) (Hết trích)

          Mạc Mậu Hợp xem sớ rồi khen là thiết đáng, nhưng chỉ phán: "Trẫm đang suy nghĩ" và chứng nào vẫn tật ấy.

          Nội dung các tờ sớ của Trần Văn Bảo thật thẳng thắn, chí lý, phân tích rõ nguyên nhân suy tàn của triều Mạc, đồng thời đề ra biện pháp cứu vãn tình thế, khuyên răn Mạc Mậu Hợp phải kịp thời sửa mình và chăm lo chính sự... Hơn 30 năm làm quan dưới triều Mạc, Trần Văn Bảo đã đem hết sức lực, tài năng, trí tuệ giúp cho việc củng cố vương triều Mạc. Thật đáng tiếc là Mạc Mậu Hợp đã không nghe theo những đề xuất của Trần Văn Bảo, để đến nỗi bị nhà Lê tiêu diệt vào năm 1592.

          Tháng 3 năm Nhâm Ngọ 1582, Trần Văn Bảo lại xin từ chức Lại bộ Thượng thư để nhường cho các vị sứ thần vừa đi Trung Quốc về nhưng Mạc Mậu Hợp vẫn không chấp nhận.(4)

          Tháng 11 năm Bính Tuất 1586, Lại bộ Thượng thư Nghĩa Sơn hầu Trần Văn Nghi (tức Trần Văn Bảo, thời gian này ông đã được thăng tước hầu) xin tu sửa Trường quốc học, hai giải vũ ở điện Đại Thành và nghi môn tiền, nghi môn hậu, giảng đường, định lễ nhạc để tỏ rõ sự tôn sư trọng đạo và mở rộng nền văn hoá giáo dục. Mạc Mậu Hợp không theo.(5)

          Sau nhiều lần đề xuất những biện pháp cải thiện nền chính trị không được Mạc Mậu Hợp chấp nhận, khuyên răn vua Mạc sửa mình và chăm lo chính sự mà Mạc Mậu Hợp vẫn để ngoài tai, liên tiếp xin từ chức để về cố hương cũng không được Mạc Mậu Hợp đồng ý, Trần Văn Bảo cảm thấy mình bất lực. Tâm trạng buồn chán của ông ngày càng nặng nề, dần dần mất lòng tin đối với Mạc Mậu Hợp, dẫn đến hành động tất yếu là từ quan đi ẩn dật. Trần Văn Bảo bỏ nhà Mạc nhưng không làm quan cho nhà Lê. Đó là nỗi day dứt với quan điểm "Tôi trung không thờ hai chúa" và cũng chứng tỏ Trần Văn Bảo vẫn mong muốn nhà Mạc làm được những điều tốt đẹp cho dân cho nước.

          Khoảng cuối năm Bính Tuất 1586, Trần Văn Bảo bỏ quan về quê rồi đi ẩn dật ở làng Phù Tải, huyện Bình Lục (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Tại đây ông mở trường dạy học kiếm sống và đào tạo nhân tài cho đất nước. Học trò theo học rất đông. Thương thày một thân vất vả, sớm khuya không người giúp đỡ, học trò bàn nhau mối manh và xin ông kết duyên cùng bà Đào Thị Phượng, người làng Tiêu Động gần bên.  Trần Văn Bảo có một người con với bà Đào Thị Phượng là Trần Ngọc Lâm.

       Năm Canh Tuất 1610 Trạng nguyên Trần Văn Bảo qua đời, thọ 87 tuổi. Học trò lập đền thờ ông ở Đông Lân điếm. Dân làng Phù Tải tôn ông làm Đương cảnh phúc thần. Mộ ông hiện còn tại khu Mả Cả (Phượng Hoàng), làng Phù Tải, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông làm quan trải thăng đến tước hầu, sau khi mất được tặng tước Nghĩa Quận công.

          Trần Văn Bảo có ba người con (hai con với bà vợ cả ở Cổ Chử, một con với bà vợ hai ở Phù Tải):

          - Con cả là Trần Đình Huyên, sinh năm Tân Dậu 1561, không rõ năm mất. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái 1(1586) đời Mạc Mậu Hợp. Sau ông theo về nhà Lê, làm quan đến Công khoa Đô cấp sự trung.

          - Con thứ là Trần Văn Thịnh thi đỗ tứ trường (Hương cống) khoa Mậu Tý 1588, thi hội đỗ tam trường khoa Kỷ Sửu 1589 đời Mạc Mậu Hợp. Ông được Mạc Mậu Hợp gả em gái là Quyền Lộc công chúa cho làm vợ. Theo gia phả họ Trần ở Cổ Chử thì Phò mã Đô uý Trần Văn Thịnh làm quan nhà Mạc đến Thượng thư. Năm Nhâm thìn 1592 nhà Mạc mất, Phò mã Trần Văn Thịnh quyên sinh. Quyền Lộc công chúa cũng tự vẫn theo chồng.

          - Con út là Trần Ngọc Lâm, sau làm quan đến Tri huyện, được phong tới tước hầu, là thuỷ tổ họ Trần làng Phù Tải. Hậu duệ của Trạng nguyên Trần Văn Bảo ở Phù Tải, tính đến năm 1789, có 25 người ra làm quan thì 14 người trúng ngạch võ cử, trong đó có 4 người đỗ Tạo sĩ. Trong số con cháu Trạng nguyên Trần Văn Bảo ra làm quan có 1 người được phong tước bá, 1 người tước tử, 2 người tước nam.

 

          II - Một số vấn đề về Trạng nguyên Trần Văn Bảo cần làm rõ:

Như trên đã trình bày, do Trạng nguyên Trần Văn Bảo làm quan với triều Mạc, mà triều Mạc đối với các sử gia thời trước bị coi là nguỵ triều, nên không được ghi chép đầy đủ. Do đó tài liệu viết về Trần Văn Bảo hiện còn rất ít, lại sơ lược và nhiều điều không thống nhất, cần phải làm rõ.

 

          1- Về người em của Trần Văn Bảo là Trần Văn Hoà có phải đỗ tới Tiến sĩ không?

          Cuốn “Thờ thần ở Việt Nam” (Nxb Hải Phòng, 1996.- T.2) chép anh em Trần Văn Hoà và Trần Văn Bảo cùng đỗ Hương cống khoa Kỷ mùi 1548, lại cùng đỗ đại khoa khoa Canh Tuất 1550 triều Mạc Phúc Nguyên (Trần Văn Bảo đỗ Trạng nguyên, Trần Văn Hoà đỗ Tiến sĩ).

          Khoa Canh Tuất triều Mạc lấy đỗ 26 Tiến sĩ. Các sách đăng khoa lục và lịch sử đều chép đủ cả tên tuổi, quê quán các vị đỗ khoa này. Một người là Trần Vi Nhân (người huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vì gặp đại tang nên không dự thi Đình, do vậy “Đại Việt sử ký toàn thư” chỉ ghi khoa này lấy đỗ 25 người. Trong số 26 người đỗ khoa này không có Trần Văn Hoà. Tra cứu rộng ra các khoa thi triều Mạc và triều Lê cũng không thấy tên ai là Trần Văn Hoà người Cổ Chử đỗ Tiến sĩ.

          Có thể kết luận Trần Văn Hoà không phải là đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên. Nói Trần Văn Hoà đỗ Tiến sĩ cũng không có cơ sở. Như vậy Trần Văn Hoà có thể chỉ đỗ tới Hương cống thôi. Tuy nhiên nói Trần Văn Hoà đỗ Hương cống khoa Kỷ Mùi 1548 cũng không phải. Năm 1548 là năm Mậu Thân chứ không phải Kỷ Mùi.

 

          2 - Về dòng dõi Trạng nguyên Trần Văn Bảo

          Hiện có hai thuyết về dòng dõi Trạng nguyên Trần Văn Bảo:

a- Thuyết thứ nhất nói rằng Trần Văn Bảo là con Trần Công, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, di cư xuống vùng Cổ Chử, lấy vợ người làng, sinh ra anh em Trần Văn Bảo và Trần Văn Hoà... như đã trình bày ở phần trên, theo Gia phả họ Trần làng Cổ Chử, thần tích thần phả địa phương và một số tác giả thời nay.

          b- Thuyết thứ hai nói Trần Văn Bảo vốn họ Lê, con Lê Minh Triết ở làng Đại Bối, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Lê Minh Triết là một trong 5 vị hổ tướng triều Lê, được phong tước tới Hán Quận công. Năm 1527 Lê Minh Triết mất, Lê Minh Bảo theo mẹ về quê ngoại ở Cổ Chử sinh sống và đổi tên theo họ mẹ là Trần Văn Bảo... Thuyết này theo Gia phả họ Trần ở Phù Tải và các bài nghiên cứu về Trần Văn Bảo của một số tác giả gần đây.

       Tra cứu nhiều tài liệu lịch sử, chúng tôi không tìm thấy sách nào nói về 5 vị hổ tướng triều Lê cả. Chẳng lẽ một vị hổ tướng được phong tước tới Quận công mà không một tài liệu nào nhắc đến?

          Tuy nhiên, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt thông sử” đều nói tới một Lê Minh Triết (Triệt) nổi dậy khởi nghĩa ở vùng Nghệ An, bị Trịnh Duy Sản đánh dẹp, chém đầu vào năm 1512. Rõ ràng Lê Minh Triết này không thể là cha Trần Văn Bảo, người ra đời năm 1524.

          Tìm hiểu cuốn “Gia phả họ Trần ở Phù Tải” thấy có nhiều điều mâu thuẫn, phi lý. Trần Văn Bảo bỏ quan về quê rồi đi ẩn dật với mục đích "mai danh ẩn tích". Có lẽ vì thế các tác giả viết gia phả họ Trần ở Phù Tải sau này đã không biết được gốc tích của Trần Văn Bảo. Họ đã dùng hình thức "phụ đồng giáng bút" để hư cấu những điều họ không biết rõ về Trần Văn Bảo. Một số tác giả nghiên cứu gần đây đã căn cứ vào cuốn gia phả này dựng lại chân dung Trạng nguyên Trần Văn Bảo mà không chọn lọc, phân tích, đối chiếu với tài liệu lịch sử, đã đưa ra thuyết về nguồn gốc Trần Văn Bảo không đúng sự thật này.

 

          3 - Trần Văn Bảo có phải là Tam nguyên không?

          Một số tác giả viết rằng Trần Văn Bảo đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình (tức Tam nguyên). Thực ra đỗ Hội nguyên khoa Canh Tuất 1550 triều Mạc là Tiến sĩ Ngô Bật Lượng, người làng Bái Dương, huyện Tây Chân (nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Các đăng khoa lục còn chép rõ điều này.

          Như vậy, Trần Văn Bảo không phải là Tam nguyên. Ông chỉ là người đỗ Đình nguyên thôi. Trạng nguyên là bậc đỗ Tiến sĩ cao nhất thời phong kiến, cho nên danh hiệu này đã bao hàm danh hiệu Đình nguyên rồi. Khi nói Trạng nguyên thì không cần nói Đình nguyên nữa.

 

          4 - Trạng nguyên Trần Văn Bảo đi sứ thời gian nào?

          Về việc đi sứ của Trần Văn Bảo, các thư tịch cổ chỉ chép chung chung là: "Sau ông đổi tên là Trần Văn Nghi đi sứ Trung Quốc" hoặc chỉ nói "Ông có đi sứ Trung Quốc".

          Cuốn “Thần tích Việt Nam” (Nxb. Văn hoá thông tin, 1995, sau Nxb. Hải Phòng in lại đổi tên là “Thờ thần ở Việt Nam”), cuốn “Thành hoàng Việt Nam” (Nxb. Văn hoá, 1997) và một số bài viết đăng tạp chí gần đây đều viết Trần Văn Bảo cầm đầu 4 bộ sứ thần nhà Mạc đi sứ Trung Quốc vào năm Canh Thìn 1580 (Lê năm Quang Hưng thứ 3, Mạc năm Diên Thành thứ 3). Sau khi đi sứ về ông lại giữ chức Thượng thư sáu bộ.

          Tra cứu các thư tịch cổ thấy rằng, cuối năm Canh Thìn 1580 nhà Mạc có cử 4 bộ sứ thần đi Trung Quốc. Đoàn đi sứ này mãi đầu năm Nhâm Ngọ 1582 mới về nước. “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt thông sử” đều chép đầy đủ danh sách 12 vị sứ thần là: Lương Phùng Thì (Thìn, Thời), Nguyễn Nhân An, Nguyễn Uyên, Nguyễn Khắc Tuy, Trần Đạo Vịnh, Nguyễn Kính, Đỗ Uông, Vũ Cẩn, Nhữ Tống, Lê Đình Tú, Vũ Tính, Vũ Cận (Vũ Hoàng). Rõ ràng không có Trần Văn Bảo (Nghi, Tuyên) trong danh sách sứ thần. Hơn nữa, “Đại Việt thông sử” chép năm Tân Tị 1581 Trần Văn Nghi (tức Trần Văn Bảo) được Mạc Mậu Hợp giao chức Lại bộ Thượng thư nhưng ông đã xin từ chức mà không được Mạc Mậu Hợp đồng ý. Tháng 3 năm Nhâm Ngọ 1582 ông lại xin từ chức Lại bộ Thượng thư để nhường cho các vị sứ thần vừa đi Trung Quốc về. Như vậy Trần Văn Bảo không đi sứ vào thời gian từ năm 1580 đến năm 1582.

          Tháng 10 năm Giáp Thân 1584 nhà Mạc cử Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Vĩnh Thác (có sách chép là Nguyễn Vĩnh Kỳ), Nguyễn Năng Nhuận, Đặng Hiển, Vũ Sư Thước và Nguyễn Phong (có sách chép là Nguyễn Lễ hoặc Nguyễn Nồng) đi sứ nhà Minh để cống nạp theo thường lệ. Trần Văn Bảo không có tên trong danh sách đi sứ lần này.

          Năm Mậu Thân 1548 có Lê Quang Bí đi sứ Trung Quốc mãi đến năm Bính Dần 1566 mới trở về nước. Nhà Mạc sai Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên Lạng Sơn đón ông. “Đại Việt thông sử” chép về việc này như sau:

          "Quang Bí đi sứ sang nhà Minh lo việc cống hiến thường niên, từ năm Mậu Thân, niên hiệu Gia Tĩnh thứ 27 (1548), ông đến Nam Ninh, bị nhà Minh ngờ là quan giả mạo, bắt phải chờ để tra xét minh bạch đã, rồi mới cho dâng lễ phẩm. Thế rồi họ gửi văn thư đi tra xét, nhưng chẳng có hồi âm, Quang Bí cứ phải lưu tại sứ quán chờ mệnh lệnh, Phúc Nguyên thì vì lúc ấy trong nước nhiều nạn, bỏ khiếm khuyết việc cống hiến đã mấy năm liền, nên cũng không giám tâu xin. Đến năm Quý Hợi, niên hiệu Gia Tĩnh thứ 42(1563), quan quân Lưỡng Quảng nhà Minh mới sai người đưa Quang Bí tới Bắc Kinh. Nhân dịp đó Phúc Nguyên cũng sai quan hầu mệnh gửi cho Quang Bí 25 lạng bạc để thưởng lạo..." (Hết trích)

          Theo “Đại Việt thông sử” viết trên đây thì từ năm 1550 đến năm 1566 rất ít khả năng nhà Mạc đi sứ Trung Quốc.

          Như vậy có nhiều khả năng Trần Văn Bảo đi sứ Trung Quốc vào khoảng thời gian từ 1567 đến 1578. Nhưng không có tài liệu nào chép về việc đi sứ Trung Quốc của nhà Mạc trong khoảng thời gian này nên chưa xác định được Trần Văn Bảo đi sứ vào năm nào.

 

          5 - Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn vào năm nào?

          Về năm bỏ quan đi ở ẩn của Trần Văn Bảo, các tài liệu viết về ông không thống nhất, có nhiều điểm mâu thuẫn với lịch sử. Đa số các thư tịch cổ chép Trần Văn Bảo thọ 63 tuổi, hoặc chết năm 63 tuổi. Có sách lại chép ông đi sứ rồi không về. Có lẽ các tác giả không biết rằng năm 63 tuổi Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn nên đã cho là ông chết chăng? Năm 1586 cũng là năm Trần Văn Bảo 63 tuổi, do vậy việc bỏ quan về quê của ông có nhiều khả năng là vào năm này.

          Sách “Thành hoàng Việt Nam” chép Trần Văn Bảo về trí sĩ năm 1592, nhưng lại viết "lúc đó Trạng nguyên đã ngoại tứ tuần" thì thật là vô lý (vì Trần Văn Bảo sinh năm 1524).

          Sách “Thờ thần ở Việt Nam” viết Trần Văn Bảo từ quan năm 1591 và cho biết "năm đó Trạng nguyên 63 tuổi" cũng là không đúng. Nếu Trần Văn Bảo từ quan năm ông 63 tuổi thì năm ông từ quan phải là năm 1586 mới đúng.

          Sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn lần cuối cùng nhắc đến Trạng nguyên Trần Văn Bảo vào tháng 11 năm Bính Tuất 1586, sau đó không thấy nói gì về ông nữa. Trong số các quan chức của nhà Mạc ra hàng nhà Lê vào năm 1592 có Lại bộ Thượng thư nhưng không phải là Trần Văn Bảo, mà là Đỗ Uông. Trong số quan chức nhà Mạc ra hàng nhà Lê còn có một người mang tước là Nghĩa Quận công nhưng không rõ tên là gì. Vậy Nghĩa Quận công này có phải là Trần Văn Bảo hay không?

          Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có chép về Trần Văn Bảo, cho biết ông làm quan "trải thăng đến tước hầu, năm 63 tuổi chết". Sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn cũng chép vào thời điểm năm 1581 cho biết tước của Trần Văn Bảo là "Nghĩa Sơn bá", đến năm 1586 lại chép là "Nghĩa Sơn hầu". Điều này cũng khẳng định sinh thời Trần Văn Bảo làm quan trải thăng tới tước hầu. Còn tước Nghĩa Quận công là ông được tặng sau khi mất. Do đó Nghĩa Quận công ra hàng nhà Lê năm 1592 không phải là Trần Văn Bảo.

          Từ những nhận xét trên chúng tôi nghĩ rằng có nhiều khả năng Trạng nguyên Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn vào cuối năm 1586, sau khi ông xin tu sửa trường quốc học và định lễ nhạc để tỏ rõ sự tôn thày trọng đạo mà không được Mạc Mậu Hợp đồng ý. Lúc đó tâm trạng chán nản vì bất lực của ông đã tới đỉnh cao, tất yếu dẫn đến hành động bỏ quan đi ở ẩn.

          Bước đầu tìm hiểu về Trạng nguyên Trần Văn Bảo với tham vọng góp phần dựng lại chân dung ông một cách xác thực, nhưng lực bất tòng tâm, chắc chắn còn nhiều điều phải tìm hiểu kỹ. Mong được bạn đọc chỉ giáo…

…………………..

Chú thích:

(1)        - Lê Quý Đôn toàn tập. - H.: Khoa học xã hội, 1978. - T.3. - Tr. 328 - 329).

(2)        - Lê Quý Đôn toàn tâp. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr.335 - 336

(3)        - Lê Quý Đôn toàn tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 339 - 340

(4)        - Lê Quý Đôn toàn tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 340.

(5)        - Lê Quý Đôn toàn tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 347

 

 

Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 1998. – Số 2. – Tr. 36 – 37.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           TIẾN SĨ VŨ HUY TRÁC

VÀ “GIANG NAM LÃO PHỐ THI TẬP”

 

       I – Tiểu sử Vũ Huy Trác:

       Tiến sĩ Vũ Huy Trác (gia phả họ Vũ chép là Vũ Duy Trác) hiệu Giác Trai, thuỵ Trung Thận, sinh ngày 7 tháng 5 năm 1730 tại ấp Lộng Điền, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (nay là thôn Lộng Điền, xã Nghĩa Đồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Ông mất ngày 3 tháng 10 năm 1793. Thân phụ ông là Huấn đạo phủ Trường Khánh Vũ Hưng Nhai, thân mẫu là bà Vũ Thị Ngọ. Theo tộc phả họ Vũ, ông thuộc đời thứ tám tính từ khi cụ thuỷ tổ họ Vũ về lập nghiệp ở Lộng Điền.

       Vũ Huy Trác là một học trò thông minh, hiếu học. Năm lên tám tuổi, ông theo học thầy Kim Lan họ Trịnh là Tri phủ Cẩm Giàng. Năm Đinh Mão (1747) ông dự kỳ thi sát hạch ở huyện Đại An được xếp thứ ba khi mới 18 tuổi. Năm Canh Ngọ (1750) ông theo học Thám hoa Phan Kính(1). Năm Tân Mùi (1751) Vũ Huy Trác thọ nghiệp quan Quốc tử giám trực giảng Trần Văn Trứ(2).

Năm Quý Dậu (1753) Vũ Huy Trác đỗ Tỉnh nguyên Hương cống. Lúc này cha ông đã mất được ba năm. Theo yêu cầu của mẹ, sau khi hết tang cha, ông lập gia đình với con gái cụ sinh đồ Phạm Khắc Du.

Sau khi lấy vợ, Vũ Huy Trác vẫn quyết chí học hành để đỗ đạt cao hơn. Ông đã tìm đến nhiều thày giỏi để học tập. Năm Ất Hợi (1755) ông theo học thầy Hà Tông Huân(3). Sau đó ông lại tìm đến tận nhà Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục xin theo học(4). Sau khi đã ra làm quan, ông còn tìm đến theo học Hoàng giáp Nguyễn Tông Quai ở Phúc Khê(5).

Vũ Huy Trác là người học giỏi, có chí và đức độ nên được tiến cử làm Thị nội thư tả công phiên tùng giảng ứng vụ vào năm Tân Tỵ (1761). Năm Nhâm Ngọ (1762) ông được thăng Binh bộ Tư vụ. Năm Giáp Thân (1764) ông được bổ làm Huấn đạo phủ Tiên Hưng. Năm Mậu Tý (1768) ông làm Tri huyện Nam Chân. Tương truyền, thời gian làm quan Tri huyện Nam Chân ông đã hết lòng giúp đỡ nhân dân nên được dân sở tại rất yêu mến. Thấy ông hiếu học, ham đọc sách, nhân dân trong huyện đã góp tiền mua một mảnh đất làm ngôi nhà ba gian khang trang ở khu đất Long Đàm để ông làm nơi đọc sách. Nhưng ông chưa được ở ngôi nhà đó ngày nào thì phải chuyển đi làm quan ở nơi khác.

Năm Cảnh Hưng 33 đời Lê Hiển Tông khoa Nhâm Thìn (1772) Vũ Huy Trác đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Năm Quý Tỵ (1773) ông được thăng Hàn lâm viện hiệu thảo. Năm Giáp Ngọ (1774) ông làm Giám sát ngự sử đạo Thanh Hoá. Cuối năm này ông lại được đổi làm Hiến sát sứ Kinh Bắc. Năm 1776 ông làm Công khoa đô cấp sự trung. Năm Đinh Dậu (1777) ông được đổi làm Tham chính Thanh Hoá. Năm 1779 ông làm Hiến sát sứ Nghệ An. Ông tỏ ra là viên quan mẫu mực, có tài thu phục nhân tâm, được triều đình tín nhiệm. Nhiều nơi ông đến nhậm chức được dân sở tại xin vẽ hình để thờ phụng. Năm Quý Mão (1783) triều đình cử ông làm Tham chính Kinh Bắc. Năm 1784 ông được thăng Hàn lâm viện thị thư và làm Đốc trấn Lạng Sơn. Ông đã giải quyết nhiều vụ tai ương thấu tình đạt lý, được nhân dân mến phục. Bằng tài đức và tấm lòng chân thực yêu thương con người, ông còn cảm hoá quy tụ được dân phiên mục. Năm Ất Tỵ (1785) ông lại được Triều đình triệu về kinh giao cho chức Hàn lâm viện thị giảng (hàm tòng ngũ phẩm).

Ngày 2 tháng 12 năm Ất Tỵ (1785) thân mẫu ông qua đời. Ông được về quê chịu tang. Tháng 6 năm 1786 Bắc Bình vương Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh. Vũ Huy Trác đang cư tang mẹ ở quê thì được chiếu của vua Lê liền đến Nhĩ Độ theo việc binh và được cử làm Giám quân đạo Sơn Nam. Ông có công giữ vững thành Vị Hoàng (nay thuộc thành phố Nam Định), được vua Lê ban chức Hàn lâm viện Thị độc, tước Côi Lĩnh bá. Năm 1788 ông về kinh nhận chức Lễ bộ Tả thị lang (hàng tam phẩm) kiêm Quốc Tử giám Tư nghiệp.

Năm Kỷ dậu (1789) kinh thành thất thủ, Quang Trung đại phá Quân Thanh, vua Lê chạy đi Trung Quốc. Vũ Huy Trác theo vua Lê đến biên giới nhưng vua Lê dụ ông về quê vì ông đã già yếu.

Sau khi về trí sĩ ở quê, Vũ Huy Trác dạy học, làm vườn, làm thuốc chữa bệnh, làm thơ, sống thanh đạm. Ông là một nhà giáo có nhiều học trò giỏi như Tri huyện Chân Ninh Đặng Xưởng người làng Ninh Cường, Tri phủ Nghĩa Hưng Nguyễn Văn Tường…

Vũ Huy Trác chẳng những hiếu thảo với cha mẹ mà còn có tình nghĩa với làng xóm. Ông đã dành dụm tiền lương mua gỗ lim làm lại ngôi chùa làng Lộng Điền.

Ngày 3 tháng 10 năm 1793 Vũ Huy Trác tạ thế, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân làng. Ông được táng ở sứ Hậu Đồng làng Vân Cù (nay thuộc huyện Nam Trực). Sau khi mất ông được thờ phối tự với thành hoàng làng Lộng Điền.

Quan Đông các hiệu thư Ngô Tiêm (1749 – 1818) người Cát Đằng (nay thuộc xã Yên Tiến, huyện Ý Yên), đỗ Tiến sĩ năm 1779 đã làm câu đối viếng Vũ Huy Trác như sau:

Vị giang nhất phiến cô trung, Gia Cát vị vong do thị Hán

Lão bạ lục niên nhiêu hạng, Bá Di trung tử bất thần Chu.

Câu đối lấy sự tích ở Trung Quốc ca ngợi Tiến sĩ Vũ Huy Trác tài đức như Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, trung quân như Bá Di thời Chiến Quốc vậy.

 

II – Một số giai thoại về Tiến sĩ Vũ Huy Trác:

 

        Đối đáp với sứ giả Tây Sơn:

       Sau khi bình định Bắc Hà, vua Quang Trung có chủ trương sử dụng những quan lại có năng lực của nhà Lê. Xét thấy Vũ Huy Trác là vị quan nhà Lê có tư cách đạo đức trong sáng và có tài thu phục nhân tâm, vua Quang Trung sai sứ giả về tận quê mời ông ra làm quan với triều Tây Sơn. Nhưng ông mang nặng tư tưởng “Tôi trung không thờ hai chúa”, cho rằng mình hưởng lộc nhà Lê mà lại ra giúp Tây Sơn thì sẽ bị người đời chê cười nên ông đã từ chối, không ra làm quan nữa.

Khi sứ giả Tây Sơn về quê mời Vũ Huy Trác ra làm quan với nhà Tây Sơn, ông viện cớ mắt thong manh để từ chối. Sứ giả không tin, liền lấy cây kim nhọn bất ngờ dứ dứ vào mắt ông. Thấy ông mắt không chớp, nét mặt vẫn bình thản, sứ giả liền đọc một vế đối:

Con ngươi lồng lộng trong như ngọc.

Ông ứng khẩu đáp lại ngay:

Thằng bé ngăm ngăm cứng tựa đanh.

Vế đối của sứ giả thanh mà tục, tỏ ý xấc xược lại nhắc đến tên làng Lộng Điền của Vũ Huy Trác. Vế đối của Vũ Huy Trác dùng chữ “nghiêm trang” nói đến tên làng Ngăm của sứ giả (Vị sứ giả này là người làng Nghiêm Trang), cũng rất thanh mà rất tục, tỏ rõ ý coi khinh sứ giả (coi vị sứ giả này cũng như… cái chim thằng bé mà thôi). Vế đối của Vũ Huy Trác rất chuẩn, chữ đối chữ, ý đối ý làm sứ giả tím mặt mà không chê vào đâu được. Sau sự kiện này, vua Quang Trung biết không thể thuyết phục được Vũ Huy Trác nên đành cho biên tên ông vào sổ nhiêu lão và để yên cho ông sống ở quê.

Dân gian lưu truyền và nhiều sách ghi lại chuyện Vũ Huy Trác đối đáp với sứ giả Tây Sơn như là một giai thoại xác nhận tài năng văn học của ông.

       Làm quan không sợ uy quyền:

       Trong cả cuộc đời làm quan, Vũ Huy Trác luôn giữ mình trong sạch, thanh liêm và cương trực. Thời gian làm Hiến sát sứ Kinh Bắc, ông đã xử nhiều vụ án rất nghiêm minh, bênh vực người dân vô tội, trấn áp bọn quan lại và kẻ giàu có cậy quyền thế hà hiếp nhân dân, được nhân dân hết lời ca ngợi. Vụ phạt Đặng Mộng Lân là một trong những vụ án Vũ Huy Trác đã xử được nhân dân ca ngợi. Chuyện kể rằng:

Đặng Thị Huệ người làng Phù Đổng, huyện Tiên Sơn, sứ Kinh Bắc là người có nhan sắc nhưng vô cùng xảo quyệt và đầy tham vọng. Sau khi được tuyển làm cung nữ, thị Huệ tìm mọi cách quyến rũ Thái tử Lê Duy Vĩ. Nhưng khi biết vua Lê không có thực quyền, thị Huệ lại tìm cách chạy sang phủ chúa để quyến rũ Trịnh Sâm. Từ một cung nữ, Đặng Thị Huệ trở thành Tuyên phi đầy quyền lực, được chúa Trịnh vô cùng yêu chiều. Đặng Mộng Lân (thường gọi là Ba Trà) là em trai Đặng Thị Huệ, đã ỷ thế của chị tha hồ tác oai tác quái, làm nhiều điều ngang ngược côn đồ mà không ai giám trị tội. Khi Vũ Huy Trác về làm Hiến sát sứ Kinh Bắc, có người đánh bạo kêu lên ông là Ba Trà tự do giết người cướp của, hãm hiếp phụ nữ giữa ban ngày, ai chống cự thì bị cắt vú sẻo tai… Nhân dân vô cùng căm phẫn nhưng các quan sở tại đều phải làm ngơ vì sợ uy quyền nhà chúa. Vũ Huy Trác cho gọi Đặng Mộng Lân đến công đường xét xử nhưng y không đến. Ông liền sai lính đến bắt giải y tới công đường, kể tội và ra lệnh phạt 30 trượng rồi tống giam y vào ngục. Việc đến tai nhà chúa, Tuyên phi vô cùng tức giận, nhưng chúa Trịnh đành phải làm thinh vì biết Vũ Huy Trác là người cương trực. Vua Lê thì hết lời khen ngợi và thưởng cho ông 500 quan tiền.

       Làm quan nghiêm minh, không sợ uy quyền, quyết giữ nghiêm phép nước như Vũ Huy Trác là tấm gương sáng muôn đời.

 

       III – Giang nam lão phố thi tập(6):

 

       Sinh thời Vũ Huy Trác làm nhiều thơ phú, nhất là giai đoạn từ sau khi ông về sống ở quê nhưng không ghi lại thành tập nên ngày nay phần lớn đã bị thất lạc. Người học trò của ông là Nguyễn Văn Tường đã sưu tầm được 50 bài, chép lại đặt tên là Giang nam lão phố thi tập.

       Thơ Vũ Huy Trác bộc lộ tâm trạng yêu nước, thương dân, biết ơn công đức tiền nhân. Ông khẳng định quan điểm sống của mình thật chí lý:

       Vinh vi ngưu mã thân tâm sỉ

       Nhục tác thần tiên miếu tự truyền.

                               (Thế nhân)

       (Vinh làm trâu ngựa thân thêm nhục

       Nhục được dân thờ lại hoá vinh).

       Cuộc đời ông đã hành động theo quan niệm sống ấy, tất cả vì dân. Bởi vậy, khi làm quan cũng như khi về hưu, ông tự thấy mình “mái cỏ suy tư không vướng vít”, “hành tàng đều không thẹn”.

       Ông viết một loạt bài về chủ đề danh nhân, di tích lịch sử của đất nước với thái độ trân trọng, tự hào: Xuân nhật bái mộ tổ, Nhân quy ngoại tổ gia yết phúc thần miếu, Hoà Lạc miếu, Hiến Nam Cần thôn Dương Hậu miếu, Nguyễn gia tam tướng, Hải Khẩu tiên từ, Độc Cước từ sơn, Nham Sơn động, Tang lâm Thánh Mẫu từ, Dữ Từ Quán Hoàng Tiến sĩ, Tạo sĩ công, Quá Phùng Vương từ, Triệu Vương miếu, Quá Phạm tổ từ, Phạm công miếu, Đức Nhuệ công…

       Trên đường công cán, qua bến Kim Tông thuộc huyện Ý Yên, ông nhớ người họ Đặng thời Trần từng có công bảo vệ và xây dựng vùng đất nơi đây qua bài Kim Tông cổ độ (Kim Tông nơi bến sông xưa):

       Trần mạt Đặng công vi sự quốc

       Thiên sơn vạn thuỷ cảm ngôn nan

       Phúc Thành ngự tặc tiêu Nam sử

       Già cảng trừ Minh khứ vãn lan

       Cổ độ trúc đê tồn tự miếu

       Thuỷ thần thác tích ký từ nhan

       Toán lai chí kim tứ bách tải

       Tư đức hương yên bất cải quan.

       (Trần mạt Đặng công lo việc nước

Muôn sông ngàn núi chẳng từ nan.

Phúc Thành gặp giặc ghi Nam sử,

Cảng Thái trừ Minh lớp sóng buông.

Ngăn lũ đắp đê dân kể lại,

Thuỷ thần mượn bóng đặt tên đền.

Bốn trăm năm trải không thay đổi,

Nhang khói ơn sâu mãi mãi bền).

Trước cảnh một số di tích ghi công các tiền nhân bị bỏ hoang phế, ông lấy làm đau lòng, như bài Lê sơn Lý Đại Thành từ (Đền thờ Lý Đại Thành ở núi Lê):

Mạc thời đại tướng trấn biên cương

              Hải tặc văn thanh bất cảm đương

Cộng đạo Nam nhân sùng tiết nghĩa

Như hà hương hoả thái thê lương?

(Mạc tướng biên cương từng trấn giữ

Nghe danh giặc biển đã kinh hoàng

Người Nam vốn trọng điều ân nghĩa

Sao để nơi này lạnh khói hương?)

Ông tỏ ra hài lòng trước việc nhân dân chăm sóc nơi tưởng niệm danh nhân, hoặc nhắc nhở người sau phải nhớ công ơn của tiền nhân. Trong bài Hoà Lạc miếu ông ca ngợi công tích đánh đuổi giặc phương Bắc dưới thời Trần của hai anh em được thờ làm thành hoàng làng và nhắc nhở:

              Ký ngữ Nguyễn, Lê thị

              Phụng sự yếu tình thành.

              (Nhắn lời cho Lê, Nguyễn

              Thờ cúng phải chân thành).

              Do điều kiện lịch sử hạn chế, ông luôn tâm niệm quan điểm “Tôi trung không thờ hai chúa”, cuối đời còn luyến tiếc nhà Lê:

Thân cư giang chi nam

          Tâm tại giang chi bắc

                     (Giang nam lão phố.)

          (Thân ở bên bờ nam

          Tâm lại bên bờ bắc).

           Ông thừa hiểu thời thế không thể đảo ngược bánh xe lịch sử, nhưng ông vẫn canh cánh bên lòng nỗi luyến tiếc nhà Lê :

          Lợi độn binh gia nan dĩ vọng

          Quân thần nghĩa tụ huấn lương lân

                                    (Tạc nhật)

          (Trông thắng việc binh không thể được,

       Dựng cờ dấy nghĩa lại khó khăn).

Phong tiền trà cúc phô xuân sắc

          Thế ngoại hương dân yếm cựu liêu

          Thí bốc hồi kinh chân bất vọng

Ỷ lan song lý ức đan biều.

                           (Nhàn ngâm)

       (Trước gió cúc trà khoe sắc mới

Ngoài đời dân chúng chán vua quan

          Về kinh ngày ấy dường không thể

Tựa cửa người xưa vẫn nhớ mong).

Vũ Huy Trác là một y sư có tiếng ở vùng đất Sơn Nam. Trong Giang nam lão phố thi tập của ông có tới 18 bài thơ về các bài thuốc Nam. Ông rất trọng nghề y, coi người làm cha làm mẹ biết nghề y là nhân từ, con cái biết nghề y là có hiếu:

          Phụ mẫu tri y khả dĩ từ

Nữ nhi học dược hiếu tiên kỳ.

          (Cha mẹ biết y đáng gọi là từ

          Con gái học y là điều đầu tiên của hiếu).

          Ông tuyển chọn những bài thuốc Nam gia truyền đơn giản mà công hiệu, viết thành thơ (Tác dược phương thi) để dạy học trò và cho nhân dân dễ nhớ:

          Gia truyền kinh nghiệm vi thi tụng

       Gia giảm tuỳ thời bất tận quy.

          (Đem các phương gia truyền viết thành thơ cho dễ nhớ,

          Gia giảm phải tuỳ thời mà vận dụng cũng không hết phép tắc).

          Một số bài “thơ thuốc” của ông như Nông nhân tứ thời cảm mạo phương, Giải thử phương, Ẩm thực phúc thống phương, Ngược tật phương, Phong thấp tửu, Sang độc gia truyền phương, Trần bì phương… thường ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ thực hành mà hiệu nghiệm, rất thuận lợi cho dân nghèo. Chẳng hạn bài Trị xà giảo phương (Phương thuốc chữa rắn cắn) là một trong số đó:

          Xà giảo tầm thường chúng bất tri

Mã đề lộ thượng chính kham y

Địa dương khương thảo phù đao diệp

Khởi tử hồi sinh lập khả kỳ.

(Rắn cắn tầm thường mấy kẻ hay

Mã đề trên lối đắp ăn ngay

Cỏ gừng, cỏ may, bồ cu vẽ

Khởi tử hồi sinh mới có ngày).

Hầu hết các bài trong Giang nam lão phố là thơ Đường luật, chủ yếu là thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt, còn ngũ ngôn bát cú chỉ có ba bài. Nói chung các bài thơ Đường luật của “Thần phú Giác Trai” niêm luật chặt chẽ, đối chỉnh. Một vài bài phá cách khá đẹp hoặc ở thể cổ phong phóng túng. Thơ Vũ Huy Trác ít dùng điển cố, từ ngữ dễ hiểu, hình ảnh giản dị gần gũi với nhân dân, gây được cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc, đồng thời mang tính tư tưởng của tác giả rõ nét, như bài Giai tiền thảo vịnh (Bản dịch):

Trước thềm dải cỏ sinh

Mây tóc bốn mùa xanh

Củ rễ dưỡng da, phế

Xinh tươi đã rõ rành

Người nằm trên chiếu nghỉ

Thịt rượu dùng thường xuyên

Ngày một thêm già yếu

Vô tình việc nước non.

Đọc Giang nam lão phố, phần nào ta hiểu được những suy tư tình cảm và tài năng văn học của Tiến sĩ Vũ Huy Trác, một danh nhân của Nam Định địa linh nhân kiệt, tác gia Hán Nôm tiêu biểu cho tầng lớp sĩ phu Bắc Hà thời Hậu Lê, ta thêm tự hào về truyền thống cha ông. Đặc biệt, đối với bạn đọc yêu mến thơ Đường luật, Giang nam lão phố thi tập là tài liệu tham khảo bổ ích.

 

                                  Mùa Đông năm 2008

………………..

 

Chú Thích:

            (1) Phan Kính (1715 – 1761) người xã Lai Thạch, huyện La Sơn nay thuộc xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Thám hoa năm 1743, làm quan đến Đốc đồng Tuyên Quang, có tập Dĩ Trực thi tập để lại ở đời.

            (2) Trần Văn Trứ (1716 – ?) người xã Từ Ô, huyện Thanh Miện nay thuộc xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1743, làm quan đến Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Thiêm đô ngự sử kiêm Quốc tử giám Trực giảng.

            (3) Hà Tông Huân (1697 – 1766) người xã Kim Vực, huyện Yên Định nay thuộc huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá. Ông đỗ Bảng nhãn năm 1724, làm quan đến Tham tụng, Binh bộ Thượng thư. Ông nổi tiếng là bậc tôn sư, đào tạo được nhiều học trò đỗ đạt cao.

(4) Đoàn Nguyễn Thục trước tên là Đoàn Duy Tĩnh (1728 – 1783) người xã Hải An, huyện Quỳnh Côi nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1752, làm quan đến Phó đô ngự sử.

            (5) Nguyễn Tông Quai (1693 – 1767) người xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hội nguyên Hoàng giáp khoa Tân Sửu (1721), làm quan đến Hộ bộ Tả thị lang, tước Ngọ Đình hầu.

            (6) Các trích dẫn thơ trong bài theo bản dịch của nhóm Dương Văn Vượng, Trần Mỹ Giống, Hoàng Dương Chương.

 

       Nguồn: Văn nhân. – 2008. – Số 59. – Tr. 32 – 34.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                       TIẾN SĨ NGÔ THẾ VINH

 

 

        Tự là Trọng Phu, Trọng Nhượng, Trọng Dực, hiệu là Dương Đình, Khúc Giang, Trúc Đường.  Quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

        Ông là em Cử nhân Ngô Đình Thái, ông nội Cử nhân Ngô Huy Trình.

        Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý 1828, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh 10(1829), được bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, lĩnh Tri phủ Định Viễn. Sau ông chuyển làm Viên ngoại lang bộ Lại, rồi được thăng Lễ bộ Lang trung. Do phạm lỗi trong khi chấm thi, ông bị cách chức và bị tước cả học vị Tiến sĩ. Ông về quê mở trường dạy học, học trò theo học đông tới hàng nghìn, có nhiều người thành đạt như Bảng nhãn Phạm Thanh, Thám hoa Nguỵ Khắc Đản...

        Khi còn làm quan, ông nhiều lần đề nghị triều đình sửa đổi cách học cách thi nhưng không được chấp nhận. Ông biên soạn tới 72 bộ sách, phần nhiều là sách giáo khoa dùng trong các trường dạy chữ Hán. Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: thơ, phú, trướng, đối, liên, tấu, biểu, sớ, tụng, tự, bạt, bi, minh...

        Biết ông là người có tài văn thơ, là nhà giáo nổi tiếng đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, vua Tự Đức đã khôi phục danh hiệu Tiến sĩ cho ông.

        Tác phẩm:

        - Bài tựa và phê bình sách Ức Trai di tập.

        - Bái Dương Ngô Thế Vinh kinh hồi tiễn hành thi tập.

        - Bái Dương Ngô tiên sinh trường thi tập.

        - Bái Dương phú lược.

        - Bái Dương thi tập.

        - Bái Dương thư tập.

        - Bái Dương Tiến sĩ Ngô tiên sinh thi tập.

        - Dương Đình phú tuyển.

        - Dương Đình thi phú văn tập.

        - Hoàng các di văn.

        - Khái đồng thuyết ước nhuận sắc.

        - Khảo xích đạc bộ pháp.

        - Khúc Giang Ngô Dương Đình văn tập.

        - Luận thức đại lược.

         - Nam Chân vịnh.

        - Ngô Dương Đình văn tập.

        - Nguyễn triều tấu biểu.

        - Nhị Đào công từ bi.

        - Nữ huấn tân thư.

        - Tống sử lược.

        - Trúc Đường chu dịch tuỳ bút.

        - Trúc Đường khoá sách.

        - Trúc Đường phú tập.

        - Trúc Đường phú tuyển.

        - Trúc Đường thi văn tập.

        - Trúc Đường thi văn tập tuỳ bút.

        - Trúc Đường thi văn thảo.

        - Trúc Đường tuỳ bút.

    + Tham gia biên soạn các sách :

        - Chuẩn định Hương Hội thí pháp.

        - Thượng dụ huấn điều.

    + Bình sách : 

        - Tốn Phủ thi tập.

    + Duyệt các sách :

        - Hoàng Việt sách tuyển.

        - Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký lục.

       - Long kiều linh ứng thánh chiêu Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký lục.

   + Có thơ, văn trong các sách :

        - Bách quan tạ biểu.

        - Bái Dương Ngô tiên sinh thi tập.

        - Bùi gia Bắc sứ hạ văn thi tập.

        - Ca trù thể cách.

        - Cao Bằng ký lược.

        - Chu tiên sinh hành trạng thảo.

        - Chư đề mặc.

        - Danh biên tập lục.

        - Dương Đình phú lược.

        - Dương Đình phú phả.

        - Dương Đình tang sự thi trướng đối liên tập.

        - Dương Đình thi trướng tập.

        - Dương mộng tập.

        - Đại Nam bi ký thi trướng bảo tập.

        - Đối liên sao tập.

        - Giai văn tập ký / In chung với Phan Đình Phùng...

        - Hoàng triều văn tập.

        - Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí.

        - Nam hành tập.

        - Sơn đường khánh thị tập.

        - Tập mỹ thi văn.

        - Thần dân biểu lục phụ Bùi gia bắc sứ hạ văn thi tập.

        - Thi phú tạp sao.

        - Thuý Sơn thi tập.

        - Tiên đan tuỳ bút chư gia thi tập hợp đính.

        - Trúc Đường tiên sinh thi tập phụ tạp liên trướng..

        - Trúc Đường trường văn sách.

        - Trướng đối cập ứng chế văn.

        - Trướng đối tạp lục.

        - Tùng trúc liên mai tứ hữu.

        - Ức Trai di tập.

        - Yên hành khúc.

 

…………………

 

       Nguồn: Tác giả Hán Nôm Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật, 2008.

 

 

 

             HOÀNG GIÁP PHẠM VĂN NGHỊ

 

                                                                                                                                                                                                      

          Phạm Văn Nghị tự là Nghĩa Trai (1805 - 1880), quê làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay thuộc thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

          Xuất thân trong một gia đình thanh bạch nghèo, trọng chữ nghĩa, cha đỗ nhị trường và làm thày đồ làng, mẹ làm ruộng tần tảo nuôi cả gia đình, Phạm Văn Nghị được đi học từ khi lên 8 tuổi, đỗ Tú tài khoa Ất Dậu (1825), đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1837), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19(1838). Sau khi đỗ Hoàng giáp, ông được bổ chức Hàn lâm viện Tu soạn, rồi lần lượt giữ các chức: quyền Tri phủ Lý Nhân, thăng Hàn lâm viện Thị độc sung Sử quán Biên tu, Đốc học Nam Định, Thương biện tỉnh vụ, thăng Hàn lâm Học sĩ, phụ trách Dinh điền sứ. Năm 70 tuổi, ông về nghỉ tại động Liên Hoa (Ninh Bình) cho đến khi mất.      

          Năm 1858 quân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu giai đoạn xâm lược nước ta. Trước sức tấn công uy hiếp của quân Pháp, triều đình Nguyễn ngày càng ngả theo phái chủ hoà, nhượng bộ, tiến tới chịu khuất phục. Trong bối cảnh đó, Phạm Văn Nghị đã đi đầu trong giới sĩ phu Bắc Hà, giương cao ngọn cờ quyết chiến. Trà Sơn kháng sớ vang lừng muôn thuở của ông đã làm nức lòng mọi người, tăng quyết tâm cho phái chủ chiến. Trong bài sớ bất hủ này, ông đề xuất "phải làm cho trên dưới một lòng, ba quân chung sức", phải "dời căn cứ phòng thủ vào sâu trong nội địa, lấy ngắn đánh dài, đánh đêm, đánh phục kích, dùng vũ khí thô sơ tiếp cận giặc". Đó chính là phương châm chiến tranh du kích, phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân, chọn cách đánh phù hợp trước kẻ địch mạnh để giành thắng lợi. Tiếc rằng triều đình Nguyễn đã không chấp nhận đề nghị của ông.

          Không chỉ bằng lời nói, Phạm Văn Nghị còn thể hiện quyết tâm chủ chiến bằng hành động. Chính ông đã chiêu mộ và chỉ huy đoàn nghĩa dũng, ngày 29 - 2 - 1860 lên đường vào Đà Nẵng để đánh chiếm lại Sơn Trà. Sự kiện này được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam như một mốc son tươi thắm, chứng tỏ lòng nhiệt thành yêu nước và quyết tâm chủ chiến của Phạm Văn Nghị.

          Từ năm 1861 Phạm Văn Nghị chuyển sang công việc phòng thủ địa phương. Với chức Hiệp lí quân vụ đồn Bình Hải, rồi Thương biện Hải phòng sứ, ông đã rong ruổi khắp miền duyên hải Nam Định (lúc đó gồm cả Thái Bình), có lần sang cả Hải Dương, Quảng Yên tiễu phỉ do Tạ Văn Phụng -  một tên tay sai của Pháp -  cầm đầu quấy rối hậu phương ta. Ông lại hiến kế tổ chức các đội dân dũng để điều động phòng thủ tỉnh nhà, góp phần giữ yên trị an ở địa phương. Khi đắp đồn Tròn gần cửa Ba Lạt, ông đã lấy 100 mẫu ruộng công chưa sử dụng đến của xã Hà Cát (thuộc huyện Giao Thuỷ) để binh lính cày cấy tự túc lương thực.

          Cuối năm 1873 quân Pháp bất ngờ đánh úp Nam Định. Ngày 10 - 12 - 1873 tàu giặc đến ngã ba Độc Bộ, quan quân chính quy của triều đình hốt hoảng bỏ chạy, chỉ có đội dân binh của Phạm Văn Nghị là kiên cường chống trả, cầm cự được 3 giờ, diệt 3 tên Pháp, bắn cháy tàu chiến giặc. Chính người Pháp cũng phải thừa nhận trong cuốn Cuộc viễn chinh của Pháp ở Bắc Kỳ (Le Haucourt, Pari, 1888) về sự kiện này như sau:

          "Lối vào con ngòi (chỉ sông Đào) dẫn đến sông Hồng có ba khẩu pháo trấn giữ, ngăn chặn tàu Scorpion và đã xảy ra cuộc chiến đấu kéo dài 2 giờ. Hạm đội Pháp cũng thiệt hại tương đối nặng".

          Thành Nam thất thủ, Phạm Văn Nghị đưa quân về xây dựng căn cứ ở vùng núi Yên Hoà (Ý Yên), chỉ trong ba ngày đã có 7.000 người kéo về ứng mộ. Ông tổ chức lực lượng, đập tan cuộc tập kích của Đề đốc Định -  một tên tay sai do Pháp dựng lên - khi chúng phối hợp với quân Pháp đánh căn cứ Yên Hoà. Ông phái quân thủ hạ đi trấn áp bọn phản động, hào mục theo giặc, giữ yên ba huyện Phong Doanh, Ý Yên, Thanh Liêm.

          Tháng 3 năm 1874, theo điều ước Philastre, quân Pháp rút khỏi Bắc Kỳ, Phạm Văn Nghị nhận lệnh đi hiểu dụ, ổn định tình hình trong tỉnh.

          Trong cuộc kháng chiến bảo vệ Nam Định, Phạm Văn Nghị có vai trò quan trọng. Nếu như lệnh của triều đình cử Phạm Văn Nghị làm quyền Tuần phủ Nam Định không vì giao thông ách tắc mà đến được tay ông, chắc chắn công cuộc phòng thủ tỉnh nhà sẽ thu được nhiều thắng lợi vẻ vang hơn.  

          Khi làm quan, Phạm Văn Nghị thường tự nhủ: "Trị dân quý ở chỗ chớ nhiễu dân". Ông cấm các nha lại thuộc quyền hạch sách đòi dân đút lót. Mỗi khi dân đến phủ kiện cáo điều gì, ông đều tự mình xem xét, giải quyết thấu tình đạt lý. Những người thuộc quyền ông phàn nàn rằng: "Cứ thế này thì đại nhân lấy gì chi dùng trong gia đình còn thiếu thốn, mà kẻ nha lại thì uống nước mà làm việc ư?"  Ông chỉ cười và an ủi họ: "Ta lạm giữ chức vụ là cha mẹ dân. Đã là cha mẹ, có khi nào còn tìm cách cướp đoạt gia sản của con!"  Ông thanh liêm như thế nên dân rất quý phục.

          Năm 1840 đê Thanh Liêm trong hạt ông bị vỡ. Vua Thiệu Trị vừa lên ngôi đã thừa nhận: "Nước lụt là thiên tai, sức người không thể lại". Tuy vậy ông vẫn day dứt tự trách mình chưa làm tròn nghĩa vụ chăm lo cho dân. Với nỗi niềm thương dân vô hạn đó, mỗi khi có điều kiện là ông lại tìm cách hết sức giúp dân. Năm 1855 ông đang nghỉ dưỡng bệnh, thấy vùng ven biển Đại An có nhiều bãi sa bồi chưa khai khẩn, ông đã xin tỉnh cho lập trại Sỹ Lâm (sau phát triển thành tổng Sỹ Lâm), tạo cho nhiều gia đình an cư lạc nghiệp. Nhớ công ơn người mở đất, dân làng Sỹ Lâm đến nay vẫn còn thờ ông.

          Trong thời gian giữ chức Hải phòng sứ Nam Định, ông thường qua lại vùng Giao Thuỷ, Xuân Trường, thấy mùa màng thất bát, dân tình đói khổ, ly tán, ông đã vận động những hào phú trong vùng và học trò đóng góp tiền, thóc lập kho nghĩa thương ở từng vùng để cho dân nghèo vay lãi nhẹ vượt qua cơn túng quẫn. Bản thân ông cũng bỏ ra 1000 quan tiền mua ruộng giao cho dân địa phương cày cấy, gọi là nghĩa điền.

          Khi con cả ông là Phạm Đăng Giảng đỗ Phó bảng và được bổ làm Tri huyện Mê Linh (nay là Vĩnh Linh), người trong nhà ngại đó là huyện nghèo và xa quê hương, riêng ông lại lấy làm mừng vì cho rằng dân nghèo quan mới dễ liêm. Ông khuyên răn con ba điều mà cả cuộc đời ông đã thực hiện triệt để, coi như là những điều cốt yếu trong đạo làm quan, mà gốc giữ được là "tâm": Thanh liêm, chăm chỉ, thận trọng.

          Bắt đầu dạy học từ năm 16 tuổi khi còn đi học, Phạm Văn Nghị gắn bó với nghề dạy học trong suốt cuộc đời. Khi ông vào kinh thi Hội vẫn có nhiều học trò theo học. Thời gian làm quan ở Quốc sử quán trong kinh thành Huế (1840 - 1846), ông vẫn dành thời gian dạy học. Khi ông cáo bệnh về quê mở trường Tam Đăng, trong 12 năm, từ Thanh Nghệ trở ra, "người bốn phương cắp sách tới học hàng ngàn"(1). Từ năm 1857 đến năm 1862 Phạm Văn Nghị làm Đốc học Nam Định, chuyên trách lo việc học chính trong tỉnh. Ngay cả khi đã ngoài 60 tuổi, lại rất bận với việc võ bị phòng giữ duyên hải, ông vẫn tranh thủ kết hợp mở trường dạy học ở Hoành Nha (nay thuộc xã Giao Tiến, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định). Trường Hoành Nha là một loại trường khá đặc biệt trong lịch sử giáo dục nước ta, vừa dạy văn, vừa luyện võ.

          Là một nhà giáo tâm huyết với nghề, Phạm Văn Nghị chăm lo cải tiến phương pháp giảng dạy. Ông sáng tác những bài thơ giáo dục để học trò dễ thuộc, dễ nhớ. Ông chú trọng việc dạy làm người cho học trò. Tự biết mình không có sở trường làm quan cai trị và cũng không tha thiết với danh vọng, lợi lộc, Phạm Văn Nghị tự nhủ mình: "Báo ơn nước, chỉ còn có việc dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước". Trong số học trò của ông có nhiều người đỗ đạt cao, trở thành những nhân sĩ yêu nước, làm nên sự nghiệp nổi tiếng như: Tam nguyên Trần Bích San, Tam nguyên Nguyễn Khuyến, Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu, Phó bảng Đặng Ngọc Cầu, Phó bảng Lã Xuân Oai, Tiến sĩ Tống Duy Tân, Thủ khoa Nguyễn Cao, Đại thần Cơ mật viện Phạm Thận Duật... Nhiều học trò của ông trở thành những lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp mà chí khí và sự nghiệp của họ còn lẫy lừng trong lịch sử như Phạm Nhân Lý, Đinh Công Tráng...

          Thế kỉ 19 nước ta có ba người đạt danh hiệu Tam nguyên thì trường Tam Đăng của Phạm Văn Nghị đã chiếm hai người. Có thể coi trường Tam Đăng là một trung tâm giáo dục tốt nhất Bắc Kỳ thời đó.

          Phạm Văn Nghị đã dồn hết tâm trí và tài năng vào việc dạy học. Không được thày Phạm Văn Nghị nuôi dạy trong nhà như con đẻ thì chưa chắc đã có ông Cử nhân Phạm Thật Duật, một danh nhân nổi tiếng từng cáng đáng hầu hết các công việc mũi nhọn của đất nước thời Tự Đức, một trong những người khởi động phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ 19. Không có thày Phạm Văn Nghị có lẽ cũng không thể có Tiến sĩ Tống Duy Tân, một thủ lĩnh phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hoá.

          Câu đối của trò Tống Duy Tân viếng thày phần nào đã thể hiện được cái chí nguyện của Phạm Văn Nghị và tình nghĩa của trò đối với ông:

          Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thế nổi chìm ôi mấy độ;

          Đệ tử coi thày như thân phụ, mất còn chung thuỷ mãi trăm năm.

          Khối lượng tác phẩm của Phạm Văn Nghị hiện còn đến nay khá nhiều: gần 600 bài gồm nhiều thể loại, riêng thơ khoảng 250 bài, được tập hợp trong Tùng Viên văn tập(2). Thơ văn yêu nước của ông chỉ chiếm một phần nhỏ trong số này, nhưng đã thể hiện rõ chí khí quyết không dung tha lũ giặc ngoại xâm và bọn tay sai bán nước. Trà Sơn kháng sớ của ông được coi như là một lá phiếu biểu quyết cho quan điểm chủ chiến. Còn câu thơ hào hùng sau đây chính là tuyên ngôn quyết chiến của ông:

       Giặc Tây sao giám phạm bờ cõi,

Chẳng mấy gươm trời quét sạch bay.

              (Bài Ngẫu tác khi đi thuyền qua Hưng Yên, thấy ruộng đồng rộng rãi, làng mạc liên tiếp, đêm xuân yên ổn, dân chúng yên vui làm ăn / Nguyễn Văn Huyền dịch).

          Trước cảnh quê hương bị quân thù dày xéo, ông uất ức:

          Mắt căm quân giặc phạm Trà Sơn

             (Bài Phụng chỉ cho về giữ chức cũ, thuật hoài /  Nguyễn Văn Huyền dịch).

          Lòng căm thù giặc ở ông đến mức "Giận sôi, tóc dựng mũ" và nhà thơ đã tự nhận lấy trách nhiệm "Bút gác, há thua ai"(3) như nhiều trí thức có lương tri thuở ấy. Ông đi vào cuộc chiến chống ngoại xâm với niềm lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của chính nghĩa, của dân mình, nước mình:

                   Sĩ dân đó, núi sông đây

          Muôn năm bền vững nước non này.

                     (Bài Ngẫu tác khi đi thuyền qua Hưng Yên, thấy ruộng đồng rộng rãi, làng mạc liên tiếp, đêm xuân yên ổn, dân chúng yên vui làm ăn / Nguyễn Văn Huyền dịch).

          Ông tin vào sức mạnh tinh thần của mình, tin vào đạo lí mà ông suốt đời thờ phụng sẽ được đáp ứng:

Suốt đời trung hiếu một lòng

Tự nhiên sẽ được non sông phù trì.

                (Bài Trên đường hành quân tự thuật / Đỗ Văn Toại dịch).

          Niềm tin ấy đã tiếp cho ông sức mạnh vượt qua bao thử thách gian lao, kiên trì sự nghiệp chống giặc cứu nước.

          Bên cạnh những bài thơ đầy chí khí căm thù giặc, quyết không dung tha lũ xâm lược thì ông lại có những bài thơ thắm đượm tình cảm nồng hậu đối với gia đình, người thân, học trò, bạn hữu, nhân dân. Tình yêu nước ở ông là yêu mảnh đất quê hương, yêu những người thân của mình. Mấy năm làm quan ở trong kinh, ông có tới ba bài thơ tưởng nhớ vợ, tha thiết ước mong những giây phút hạnh phúc hiếm hoi:

         Ước gì họp mặt đêm nay

Thoả lòng ao ước một ngày ba thu.

              (Bài Mùa xuân trạnh nhớ ai /Đỗ Ngọc Toại dịch).

          Lòng nhớ thương người em đã mất của ông thật cảm động:

Từ khi khuất nẻo chim hồng

       Khăn đầm lệ thấm, cõi lòng nát tan.

                   (Bài Nhân ngày giỗ nhớ đến người em đã mất / Nguyễn Văn Huyền dịch).

          Ông hết lời ca ngợi, biểu dương và thương tiếc những con người nghĩa khí. Nhân ngày giỗ Đặng Ngọc Cầu, ông thương tiếc người học trò yêu quí của mình:

       Ví còn anh ở dương gian

         Thanh gươm yên ngựa dọc ngang chiến trường.

                    (Bài Cảm tác nhân ngày giỗ đoạn tang Phó bảng Đặng Xá họ Đặng /  Vũ Minh Am dịch).

          Khi người học trò của ông là Tam nguyên Trần Bích San mất, ông khóc thổn thức:

          "Cha con một nhà: Thanh tiết lừng vang, tài chính trị trác việt. Đất nước được mấy người làm quan như thế thì còn lo gì, sợ gì nữa. Sao trời nỡ cướp đi vội bấy?  Thế là xong! Thế là xong!"

              (Bài Viếng Trần Bích San / Nguyễn Văn Huyền dịch).

          Trước cảnh quê hương gặp thiên tai, mất mùa đói kém, dân tình khổ sở, ông xót xa:

Chiêm thất bát rồi, chua xót dạ

Mùa tiêu khô nữa, đớn đau lòng.

                (Bài Gặp hạn cầu mưa, cảm tác / Nguyến Văn Huyền dịch).

          Nói chung thơ văn yêu nước của ông thể hiện sâu sắc tấm lòng trung hiếu sắt son và tình yêu thiết tha với nước, với dân, lòng căm thù giặc, quyết không dung tha quân xâm lược. Ông được coi là một nhà thơ yêu nước tiêu biểu cuối thế kỉ 19 và là một tác gia có vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam.

*

          Phạm Văn Nghị là một trí thức Việt Nam đã sống và chiến đấu hết mình cho dân tộc. Từ một vị đại khoa, một quan văn, ông tự nguyện trở thành một lão tướng, mộ quân ứng nghĩa, xông pha trận mạc, đem hết tài năng và sức lực phục vụ sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Danh vọng, uy tín, những hành động thiết thực của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ ở Bắc Hà, mà còn có tác dụng khích lệ động viên quân dân cả nước tích cực kháng chiến chống thực dân Pháp.

          Phạm Văn Nghị là một vị quan hết lòng thương yêu và chăm lo cho dân, được dân yêu mến và kính phục. Là một nhà giáo, ông đã suốt đời tâm huyết với nghề, đào tạo được nhiều người tài đức cho đất nước.

          Là một tác gia văn học, một nhà thơ yêu nước tiêu biểu cuối thế kỉ 19, ông để lại một di sản văn học có giá trị (Tùng Viên thi tập, Nghĩa Trai trường văn sách, Bài phú Nôm Pháp đánh Bắc Kỳ...). Thơ văn của ông với cuộc đời ông là một, ở ông lời nói và hành động luôn luôn nhất quán. Sự nghiệp vì dân vì nước và thơ văn của ông đều vẻ vang hiển hách.    

          Ngày 12 - 12 năm 1880 ông qua đời, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho học trò, sĩ phu, bà con làng xóm và nhân dân trong nước. Phạm Thận Duật, một học trò của ông đã viết về ông:

          "Tiên sinh mất rồi, song cái điều không bao giờ mất là cái chính khí "hạo nhiên" vẫn cùng với non Côi, bể Nhạ, động Liên Hoa mãi mãi bất hủ. Người đời nay, người mai sau, nghe thấy phong độ của tiên sinh ai mà chẳng kính mộ, ai mà chẳng noi theo, như thế thì tiên sinh chưa phải là mất".                                                                                         

.........................................

 

Chú thích:

       (1) Văn viếng Phạm Văn Nghị của Phạm Thận Duật.

(2) Sách lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A1337, dày 672 trang.

(3) Dâng sớ xin đi quân thứ Quảng Nam, được chỉ, cùng các quan tỉnh dự tiệc tiễn / Nguyễn Văn Huyền dịch.

 

Nguồn: Văn nghệ trẻ. – 2006. - Số 45 ngày 6 – 12.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          THỦ KHOA HOÀNG VĂN TUẤN

 

 

          I – Tấm gương kiên cường chống Pháp

 

          Hoàng Văn Tuấn còn gọi là Hoàng Văn Liêm, sinh năm 1823 tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên (nay là thôn Phú Khê, xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định), trong một gia đình nổi tiếng về học vấn:

          Anh trai ông là Hoàng Kim Chung (sau đổi là Hoàng Trọng) đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thân niên hiệu Tự Đức 1(1848), làm quan đến Đốc học Hải Dương. Sau ông cáo quan về quê dạy học, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Tam nguyên Hoàng giáp Tổng đốc Nguyễn Khuyến, một nhà thơ lớn của dân tộc và Tam nguyên Hoàng giáp Tuần phủ Trần Bích San đều từng là học trò của ông.

          Cháu gọi Hoàng Văn Tuấn bằng chú ruột là Hoàng Văn Cẩn cũng đỗ Cử nhân khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức 29(1876), làm quan Huấn đạo, rồi Tri huyện Yên Phong. Ông là một tác gia Hán Nôm, có tác phẩm Vân Sơn ký viết về Thiền phái Trúc Lâm hiện còn đến ngày nay...

          Cháu ruột và cháu họ Hoàng Văn Tuấn là Chu Thiên (tức Hoàng Minh Giám) và Nhượng Tống (tức Hoàng Phạm Trân) đều là những nhà văn nổi tiếng.

          Hoàng Văn Tuấn nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Do ông đỗ Tú tài liền ba khoa nên dân gian gọi ông là Mền Liêm.

          Khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức 29(1876), Hoàng Văn Tuấn đỗ Giải nguyên Cử nhân tại trường thi Thanh Hoá. Cháu ruột gọi ông bằng chú là Hoàng Văn Cẩn cũng đỗ Á nguyên Cử nhân cùng khoa với ông. Nhân sự kiện này, Tam nguyên Hoàng giáp Nguyễn Khuyến nguyên là học trò của thày Hoàng Kim Chung có làm đôi câu đối mừng như sau:

          Thí vấn thế huynh, Thanh Hoá sĩ hà như Nam Định sĩ;

          Đắc ư gia học, điệt Á nguyên duy nhượng thúc Khôi nguyên.

          (Thử hỏi thế huynh học trò Thanh Hoá so với học trò Nam Định thế nào?

          Học giỏi sở đắc ở nhà dạy, cháu đỗ Á nguyên chỉ nhường có chú đỗ Thủ khoa).

          Sau khi đỗ Cử nhân, Hoàng Văn Tuấn được bổ làm Tri huyện Nam Xang (nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Về nhận chức được ít ngày, ông bắt tay ngay vào việc trấn áp bọn cường hào, lý dịch để nhân dân yên ổn làm ăn. Bọn này rất căm thù ông. Nhân dịp tết Nguyên Đán, chúng cho tay chân đến tết ông một con cò trắng nhốt trong chiếc lồng sơn son, ngầm ý chửi ông là quân cò trắng không thức thời theo Pháp để được vinh thân phì gia. Ông nổi giận sai lính đánh cho tên đem lễ vật 100 roi cảnh cáo. Để trả thù ông, bọn phản động tập hợp lực lượng bao vây uy hiếp huyện đường. Trong tình thế nguy cấp, ông phải cho người tin cẩn giả bộ đi chợ để về báo tin cho gia đình ứng cứu. Chiều 30 tết, có quan án sát đem một đội quân gươm giáo tuốt trần, tiền hô hậu ủng, vào thẳng huyện đường, đọc lệnh bắt quan huyện Tuấn giải về tỉnh trị tội. Đội quân đưa ông về thẳng làng Phú Khê, kịp lúc giao thừa. Biết tin quan huyện Tuấn đã về, dân làng kéo đến chúc tụng rất đông. Thì ra quan án sát và quân lính đều do người nhà ông đóng giả.

          Sau sự kiện này, Hoàng Văn Tuấn liền bỏ quan về nhà dạy học và dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp. Nhiều lần triều đình Nguyễn triệu ông ra làm quan, ông đều kiên quyết từ chối vì thấy triều đình và các quan tỉnh cứ nhượng bộ giặc Pháp, để cho bọn phản động đội lốt tôn giáo hoành hành, gây cho nhân dân nhiều khổ cực.

          Cảm phục ông là người nghĩa khí, có chí lớn, không bị bả vinh hoa phú quý cám dỗ, lại nổi tiếng học giỏi nên học trò theo học ông rất đông. Ngoài việc dạy chữ nghĩa, văn chương, Hoàng Văn Tuấn còn thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện về thời thế, bồi dưỡng cho học trò lòng yêu nước, căm thù giặc xâm lược, khích lệ học trò nuôi chí lớn cứu nước. Rất nhiều học trò đã cùng ông tham gia phong trào Văn thân Cần vương chống Pháp.

          Năm 1858, quân Pháp tấn công Đà Nẵng. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, ông đã tổ chức một đội quân gồm những học trò ở các huyện Ý Yên, Thanh Liêm, Bình Lục đi theo đoàn nghĩa dũng vào nam chiến đấu để "lấy lại nước".

          Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần đầu. Ông tích cực cùng các văn thân tập hợp lực lượng thân hào, đinh tráng trong huyện, cùng Phạm Văn Nghị giữ vững hai huyện Phong Doanh và Ý Yên, đánh đuổi bọn Việt gian ra khỏi Thanh Liêm và Phủ Lý.

          Sau Hoà ước 1874, quân Pháp trao trả thành Nam Định cho triều đình Nguyễn. Vua Tự Đức đã tự tay viết tặng huyện Ý Yên 8 chữ "Ý Yên tứ tú: Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương" biểu dương bốn người tài giỏi, bốn ông Tú tài đã đứng ra tổ chức nhân dân huyện Ý Yên chống Pháp là Phạm Lý ở xã An Hoà, Trần Văn Nghĩa ở xã Văn Xá, Hoàng Văn Tuấn và Lê Văn Phương ở xã Phú Khê.

          Năm 1883, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai. Không đợi có Chiếu Cần Vương, Hoàng Văn Tuấn đã chủ động mộ quân khởi nghĩa, vận động nhân dân tích trữ lương thực, góp tiền mua vũ khí tham gia chống Pháp. Ông tự nhận trách nhiệm làm Bang biện chỉ huy chiến đấu. Ông tổ chức nghĩa quân thành các cơ, các ngũ, cắt cử người làm cai đội, suất đội, cai quản và huấn luyện nghĩa quân rất có kỷ luật. Ông đã chỉ huy nghĩa quân đánh úp đoàn thuyền Pháp trên sông Đáy (nơi gần bến đò Khuốt), chặn đánh quân bộ của giặc ở Bình Lương (thuộc huyện Ý Yên), đem quân đánh tiếp ứng cho Bang biện Phạm Lý ở An Hoà... Năm 1885 nghĩa quân của ông đã đánh lấy lại được thành Phủ Lý. Ông còn liên hệ mật thiết với nghĩa quân của Thiên Hộ Giảng ở Nho Quan (Ninh Bình) cùng hiệp đồng đánh Pháp. Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã thu được nhiều thắng lợi, gây cho quân Pháp thiệt hại lớn.

          Năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần Vương lắng xuống rồi tan rã dần. Giặc Pháp đưa quân về đóng lô cốt ở Cổ Đam (thuộc huyện Ý Yên) và đóng giữ đình Quán Chàm ở làng Phú Khê - quê Hoàng Văn Tuấn. Chúng bao vây, truy nã ông ráo riết. Cuối cùng chúng lừa bắt được ông đem giam giữ ở nhà lao Ninh Bình, kết án ông 10 năm phát vãng, rồi chuyển ông lên Hà Nội đợi ngày đưa đi Côn Đảo. Học trò cũ của ông là Cả Tương, người làng Nham Kênh, có lần đã cứu được vợ chồng tên quan năm Pháp có thế lực ở Sở Kiện gọi là thằng Tây Sứt khỏi chết đuối, đã yêu cầu tên này vận động xin tha cho ông. Khi thả ông, bọn Pháp dặn:

          - Về sống yên ổn, không được làm giặc nữa nhé!

          Ông trỏ tay vào bụng, khảng khái trả lời:

          - Cái đó còn tuỳ ở bụng tôi. Tôi không làm giặc, tôi chỉ đánh lại những kẻ lấn cướp nước tôi. Tôi hứa với các ông, rồi về tôi lại cứ đánh Tây, chả hoá ra người nói dối à?

          Bọn Pháp biết không thể khuất phục được, đành để ông về quê, giao cho tỉnh quản thúc. Bọn phản động tay sai Pháp ở Kẻ Non, Sở Kiện thường cho người đến thăm hỏi, biếu quà cáp để lấy lòng ông, đồng thời để dò xét ông. Một lần có tên hào mục ở Sở Kiện đến chơi, khoe các cố Tây như cố Phước (Puginier), cố Đông (Gendrau) tài giỏi và cứng cổ lắm. Ông liền ngắt lời hỏi hắn:

          - Cổ các anh cứng có bằng gươm không?

          Tên hào mục chột dạ, chuồn mất.

          Năm 1892, Hoàng Văn Tuấn mất, thọ 70 tuổi. Ông đã giữ vững khí tiết cho đến hơi thở cuối cùng.

 

          II – Tác gia văn học yêu nước và cách mạng:

 

          Hoàng Văn Tuấn không chỉ nổi tiếng là một nhà giáo yêu nước, một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương kháng Pháp vùng sông Đáy, mà còn là một tác gia văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ 19. Ông có tác phẩm “Nam Xương nhàn ký” và nhiều thơ văn nói lên chí nguyện của mình, nhưng tập thơ của ông ngày nay đã thất lạc. Hiện nay thơ văn của ông chỉ còn một số bài in trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh và lưu truyền trong dân gian.

          Thơ văn Hoàng Văn Tuấn là tiếng lòng của ông yêu thương, quý trọng bạn văn thân, căm thù quân xâm lược, thể hiện tình yêu đất nước, yêu nhân dân, tinh thần tự tin, vui đời và ý chí quật cường kháng Pháp.

       Ông tố cáo tội ác của quân Pháp xâm lược, đau đớn trước cảnh khổ cực của nhân dân ta do bọn cướp nước gây ra:

          Xã tắc luân vong, dân thống khổ,

          Ngư, hà, điểu, thú diệc tai ương.

                                                     (Vô đề)

          Đất nước đắm chìm, dân đau thương,

          Chim, muông, tôm, cá cũng tai ương.

                                                  (Phan Cổn dịch )

          Ông nhận thức rõ rằng muốn thoát khỏi tai ương đó thì chỉ có một con đường là đứng lên chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược, giành lại đất nước:

          Hà thời tái đốc quân vương thổ,

          Ngâm khải hoàn ca, xứ xứ xương.

                                                         (Vô đề)

          Bao giờ đất nước thu về được,

          Ngâm khúc khải hoàn, yên bốn phương.

                                                    (Phan Cổn dịch)

          Ông dứt khoát chọn con đường chống Pháp xâm lược để lấy lại non sông. Ông sẵn sàng chấp nhận tù đầy, tự nguyện từ bỏ vinh hoa phú quý, quyết không cộng tác với quân thù, một lòng vững bước trên con đường đã chọn. Tâm sự của ông, ý chí của ông thể hiện trong bài thơ "Không ra làm quan", ông làm nhân thấy việc bọn "bợm" Pháp xâm lược ngày càng lấn tới đè nén dân ta, còn triều đình Nguyễn lại ngày càng thoả hiệp với giặc:

          Chẳng thiêng cũng thể bụt chùa nhà,

          Sao phải ra đường lạy Thích Ca.

          Làm tốt cho người, người chẳng biết,

          Kể ơn với bợm, bợm không tha.

          Tìm đường khôn khéo càng thêm bận,

          Mượn bước công danh ngại chóng già.

          Sự nghiệp chẳng qua ăn với ngủ,

          Học thêm mấy chữ để ngâm nga.

          Ông kêu gọi mọi người hãy theo nếp cũ của người Nam, không nên theo thói tục Tây để tỏ rõ thái độ quyết không đội trời chung cùng quân xâm lược:

          Tổ, lạp* biết rằng theo lối cũ,

          Văn minh sao phải học thời nay.

          Chữ Nam thôi để người Nam biết,

          Ai kể rằng hay với chẳng hay.

                                (Thơ Tết năm bảy mươi tuổi)

          Khi ông bị giặc bắt giam ở đền Quan Thánh (Hà Nội) chờ đưa đi Côn Đảo, có một số bạn nhà nho của ông nay đã làm tay sai cho giặc, gửi sách và rượu cho ông, khuyên ông thôi đừng mơ mộng nữa, nên quay lại thoả hiệp với Pháp để được yên thân. Ông làm bài thơ "Ngục trung bất thuỵ" (Trong nhà giam không ngủ) để ngụ ý trả lời họ và thể hiện niềm tin vào thắng lợi ngày mai của dân tộc. Ông khẳng định tuy thân ông còn ở trong tù, nhưng ông vẫn tin vào thắng lợi của sự nghiệp mà bạn bè ông cùng nhân dân ở bên ngoài đang thực hiện. Nguyên văn bài thơ như sau:

          Thê thê phong vũ, dạ trì trì,

          Tức tức trùng thanh nhiễu tứ vi.

          Dục bổ di biên lai thuỵ pháp,

          Nan tương trọc tửu áp hàn uy.

          Mê đồ vi tất tri kim thị,

          Mộng kính hà tu lãm cố phi.

          Hồi thủ bách niên đô thị mộng,

          Lân tường kê hưởng nhật tranh huy.

          Nhà văn Chu Thiên là cháu nhà thơ yêu nước Hoàng Văn Tuấn đã dịch bài này như sau:

          Gió mưa buồn thảm kéo đêm dài,

          Tiếng dế quanh nhà váng cả tai.

          Sách nát khôn nhờ đưa tới ngủ,

          Rượu nồng khó át rét ra oai.

          Đường mê vị tất là nay đúng,

          Lối mộng sao đành bảo trước sai.

          Nghĩ lại trăm năm đều mộng cả,

          Tiếng gà dục sáng rộn bên ngoài.

          Đối với bọn cướp nước và bán nước, ông căm thù thề quyết không đội trời chung, nhưng đối với nhân dân và bạn văn thân cùng chí hướng, ông lại hết lòng yêu thương, kính trọng. Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị là một lãnh tụ nổi tiếng trong phong trào Cần Vương kháng Pháp. Khi Phạm Văn Nghị mất, ông có câu đối viếng như sau:

          Văn vị táng thiên, sinh Phạm lão;

          Vũ vô dụng địa, tử Nhan khanh.

          (Trời chửa chôn văn, sinh cụ Phạm;

          Đất không dùng võ, chết chàng Nhan).

          Phạm là Phạm Trọng Yêm, một danh nho đời Tống. Nhan là Nhan Chấn Khanh đời Đường, từng đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hữu Thừa tướng, sau bị giết khi đi thuyết khách với một đảng làm phản. Câu đối của Hoàng Văn Tuấn đã ca ngợi Phạm Văn Nghị như hai nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc vậy.

          Thiên Hộ Giảng là một lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp, nổi dậy mưu chiếm lại thành Ninh Bình, chẳng may bị giặc bắt đem xử tử vào một ngày mưa gió. Hoàng Văn Tuấn vô cùng thương tiếc. Ông viếng người bạn chiến đấu của mình câu đối thật cảm động:

          Thuý sơn đồng ngã chẩm, nhật thuyết sự, dạ đàm tâm, tâm sự bách niên do ký ức;

          Vân thuỷ tống quân quy, địa minh lôi, thiên thuỳ vũ, vũ lôi nhất trận bộ thê lương.

          (Núi Thuý cùng ta chung gối, ngày bàn việc, tối ngỏ lòng, lòng việc trăm năm ghi nhớ mãi;

          Sông Vân đưa bác trở về, trời đổ mưa, đất dậy sấm, sấm mưa một trận xót thương thêm).

          Thơ văn và cuộc đời Hoàng Văn Tuấn nhất quán với nhau. Ông dùng thơ văn để nói tâm sự và ý chí chống Pháp của mình. Cả đời ông cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Mọi hành động, việc làm của ông, khi trực tiếp tổ chức chiến đấu đối mặt với quân thù, cũng như khi dạy học trò đều hướng vào phục vụ cho sự nghiệp đó. Ông giữ vững khí tiết, quyết không phản bội lại con đường đã chọn. Ông trở thành một lãnh tụ tiêu biểu trong phong trào Cần Vương kháng Pháp miền sông Đáy, cùng nhân dân Nam Định tô thắm thêm trang sử oanh liệt của tỉnh nhà. Chính sự nhất quán giữa thơ văn và cuộc đời của vị Thủ khoa nổi tiếng đã làm cho thơ văn yêu nước của ông giá trị, đưa ông vào hàng tác gia văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.

       Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn, nhà giáo yêu nước, lãnh tụ nổi tiếng trong phong trào Cần Vương chống Pháp, tác gia văn học yêu nước và cách mạng là một tấm gương sáng cho thế hệ trẻ học tập, là niềm tự hào của nhân dân tỉnh ta.

    -----------

Chú thích :

            • Tổ, lạp: "Tổ" là lễ xuất hành đầu năm, "lạp" là lễ cuối năm. Sách Hán thư chép: Cha con Trần Hàm chống Vương Mãng - khi tên này cướp ngôi nhà Hán - bỏ về làng, đóng cửa không chơi với ai, ngày tết vẫn dùng nghi lễ "tổ, lạp" của nhà Hán. Ở đây ý nói vẫn theo nếp cũ để tỏ rõ thái độ chống Tây.

 

       Nguồn: Văn hoá Nam Định. - 1998. - Số 1. - Tr. 24 - 25.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC LIÊN

 

 

          Nguyễn Ngọc Liên hiệu là Châu Phong, sinh năm Nhâm Tý 1852(1) tại làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nhà Nho nghèo. Ông nội của Nguyễn Ngọc Liên là cụ Cử nhân Nguyễn Bá Nghi làm Tri huyện Ninh Giang (Hải Dương). Cha ông là cụ đồ Nguyễn Duy Hiệu làm nghề dạy học ở làng. Anh trai ông là Nguyễn Đức Ban, đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất 1886, làm Huấn đạo Văn Giang được ít lâu thì cáo quan về nhà làm nghề thuốc và dạy học, sau nổi tiếng là bậc y sư.

          Nguyễn Ngọc Liên được cha dạy dỗ, từ nhỏ đã thông minh ham học. Ông đã đỗ Tú tài ba khoa. Sau khi đỗ Tú tài, ông theo học Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích là người nổi tiếng văn thơ và tinh thần chống Pháp. Nguyễn Quang Bích (1830 - 1890) tự là Hàm Huy, hiệu là Ngư Phong, quê xã Trình Phố, huyện Chân Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp Ân khoa Kỷ Tỵ niên hiệu Tự Đức 22 (1869), làm quan trải các chức Giáo thụ, Tri huyện, Án sát... Năm 1875 ông làm Sơn phòng sứ kiêm Tuần phủ Hưng Hoá. Năm 1884 quân Pháp đánh Hưng Hoá, ông liều chết giữ thành nhưng vì lực lượng mỏng nên thất thủ. Triều đình lệnh cho ông phải ngừng chiến và trở về triều. Ông không chấp hành lệnh của Tự Đức, vẫn tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân lập căn cứ ở Nghĩa Lộ (Lai Châu), Phù Yên (Sơn La), rồi Yên Lập, Sơn Dương (Vĩnh Phú) kiên trì chống Pháp. Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, phong ông làm Hiệp thống Bắc Kỳ, hàm Lễ bộ Thượng thư. Ông lãnh đạo nghĩa quân vùng tây bắc Bắc Kỳ cầm cự chống Pháp cho đến khi bị bệnh và qua đời. Cuộc đời và tư tưởng của thày Nguyễn Quang Bích đã có ảnh hưởng nhiều đến trò Nguyễn Ngọc Liên về lòng yêu nước và tinh thần chống Pháp.

          Nguyễn Ngọc Liên đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất 1886, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889). Khoa này làng Hành Thiện còn có Đặng Hữu Dương cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Nhân sự kiện này, Cử nhân Nguyễn Bạt Tuỵ (1865 - ?) người làng Hạ Miêu (nay thuộc xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) có câu đối mừng như sau:

          Kỷ Sửu vi ngô huyện thịnh khoa Hạ ấp tằng chiêm vân ngũ sắc;

          Hành Thiện nãi Nam bang văn hiến hoa cù khoáng kiến mã đề song.

          (Khoa Kỷ Sửu huyện ta thịnh đạt, ấp Hạ từng xem mây ngũ sắc;

          Đất Hành Thiện nước Nam văn hiến, đường hoa rộng rãi hai ngựa song song)

          Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông vào làm việc trong dinh Kinh lược Bắc Kỳ của Hoàng Cao Khải 5 tháng, rồi được bổ chức Tri phủ Nam Sách (Hải Dương). Ông làm việc siêng năng, mẫn cán, công bằng, liêm khiết, được nhân dân và thân hào trong địa hạt rất yêu mến. Nhưng ông phải sớm từ bỏ con đường làm quan sau khi xảy ra hai sự kiện làm ông bị kỷ luật...

          Năm 1892 Toàn quyền Đông Dương De Lanessan đi kinh lý Hải Dương. Tổng đốc Hải Dương đã thông báo cho các Tri phủ, Tri huyện trong tỉnh phải có mặt tại Nha công sứ Hải Dương đúng ngày giờ đã định để đón chào viên Toàn quyền. Phủ lỵ Nam Sách chỉ cách thành Hải Dương 6 cây số và qua 1 con đò mà Tri phủ Nguyễn Ngọc Liên lại đến địa điểm tập trung rất muộn. Khi ông đến nơi thì các quan trong tỉnh đã có mặt đầy đủ, viên toàn quyền đang đọc lời hiểu dụ. Ông lẳng lặng đứng vào hàng với các bạn đồng liêu. Thấy Tri phủ Nam Sách đến muộn đã không xin lỗi, lại không thèm lạy chào mình, viên Toàn quyền rất tức giận. Hắn cho là Nguyễn Ngọc Liên có tinh thần chống Pháp nên đã đề nghị Nha Kinh lược Bắc Kỳ phải kỷ luật ông thật nặng.

          Trong thời gian này lại xảy ra vụ nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo đã tấn công đồn lính Pháp trong huyện, giết chết 4 tên lính Pháp trong đó có tên Thiếu uý đồn trưởng, thu 17 khẩu súng và rút lui an toàn. Đồn lính này chỉ cách phủ lỵ của Tri phủ Nam Sách Nguyễn Ngọc Liên chưa đầy nửa cây số nhưng ông đã "án binh bất động", để cho nghĩa quân tự do hành động. Việc này làm cho bọn Pháp nghi ngờ ông có liên hệ với nghĩa quân Bãi Sậy. Nha Kinh lược Bắc Kỳ đã ra nghị định phạt ông nghỉ không lương một năm. Ông về nhà dạy học được gần một năm thì cha và bác ông mất. Sau thời hạn bị kỷ luật, nha Kinh lược bảo ông làm đơn xin tái bổ chức Tri phủ. Ông lấy cớ đang cư tang cha và bác xin Nha Kinh lược hoãn lại một thời gian hãy bổ chức. Khi ông hết thời gian cư tang, Nha Kinh lược lại bảo ông có đồng ý nhận chức Đốc học Nam Định đang khuyết thì sẽ ra quyết định. Nhiều học trò đã van lạy, khóc lóc, tha thiết xin ông ở lại dạy học. Ông đã chán cảnh làm quan và cảm động trước tình cảm của học trò nên quyết không ra làm quan nữa. Từ đó ông ở nhà làm nghề thuốc và dạy học.

          Nguyễn Ngọc Liên trở thành nhà giáo nổi tiếng ở vùng Sơn Nam. Ông mở trường ở làng Hành Thiện, thu nhận những học trò có phẩm hạnh, đạo đức tốt. Học trò muốn được vào học trong trường của ông phải có đạo đức tốt và trình độ nhất định vì ông chỉ dạy cho học trò đi thi Hương để lấy học vị Cử nhân, Tú tài. Ông có sang dạy học ở Tiền Hải và Kiến Xương (Thái Bình) một vài năm theo đề nghị khẩn thiết của các thân hào mấy xã trong phủ. Cảm phục khí tiết và kiến thức Nho học của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên, học trò ở khắp nơi dồn về theo học ông rất đông. Ông là người thông kim bác cổ, dạy học rất có phương pháp nên trong số trên 700 học trò của ông có 30 người đỗ Cử nhân, 70 người đỗ Tú tài và rất nhiều người đỗ Nhất trường, Nhị trường. Ông thành lập thư viện gia đình tạo điều kiện cho học trò học tập. Thư viện của ông là một trong những thư viện tư nhân có tiếng ở Hành Thiện cuối thế kỷ 19. Khi ông mất, hơn 200 học trò cũ của ông về chịu tang thày, góp tiền mua 4 mẫu ruộng gọi là "ruộng môn sinh" để lấy hoa lợi dùng vào việc cúng giỗ hàng năm, tu sửa từ đường và phần mộ thày. Sự kiện này chứng tỏ Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên là một nhà giáo được học trò kính trọng, yêu mến và nhớ ơn sâu sắc. Thày trò trường Nguyễn Ngọc Liên đã góp phần tô đẹp thêm truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta. Ông Mai Đình Đặng Tư Kiêm là người Hành Thiện, có bài vịnh về việc cụ Nghè Liên có tài dạy học và coi thường công danh như sau:

          Cụ Nghè Hành Thiện hiệu Châu Phong

          Cạm bẫy vinh hoa chẳng lọt vòng...

          ... Cáo quan dạy học mấy mươi năm

          Nội ngoại học trò quá bảy trăm

          Ba chục Cử nhân, bảy chục Tú

          Tiếng tăm lừng lẫy khắp thành Nam.

          Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên là một người yêu nước đến cực đoan. Ông căm ghét bọn Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước. Ông ghét luôn cả chữ Pháp và chữ Quốc ngữ do người Pháp truyền bá ở nước ta. Ông có 6 con gái và 4 con trai. Bốn con trai ông là Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Ngọc Khuê, Nguyễn Thành Phát, Nguyễn Như Lệ đều theo Nho học và có tinh thần yêu nước sâu sắc. Chỉ có Nguyễn Như Lệ là con út của ông mới được học chút ít tiếng Pháp rồi theo nghề đông y, sau nổi tiếng là y sư giỏi. Ông Nguyễn Thế Rục trốn ra nước ngoài rồi sang Liên Xô học trường Đại học Phương Đông, sau về nước hoạt động trong phong trào yêu nước và mất năm 1938.

          Sau khi nghỉ làm quan, có lần Nguyễn Ngọc Liên cải trang cùng người cháu đồng thời là học trò của mình tên là Nguyễn Tư Thuyết, lên Yên Thế (Bắc Giang) để tìm cách liên hệ với nghĩa quân Yên Thế. Nhờ sự môi giới của Tri huyện Hiệp Hoà Đặng Hữu Nữu (em Tiến sĩ Đặng Hữu Dương) là người cùng quê, ông đã được một số thủ lĩnh của nghĩa quân như Đề Thám, Cả Trọng, Cả Huỳnh đón tiếp và cùng luận đàm chính sự.

          Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925) quê ở xã Liên Bạt, huyện Sơn Lãng (nay thuộc huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây) là anh em đồng hao với Nguyễn Ngọc Liên, từng làm Đốc học Nam Định, đã bỏ quan để xuất dương tìm đường cứu nước. Trước khi sang Nhật, Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đã về Hành Thiện thăm Nguyễn Ngọc Liên và vận động cho phong trào Đông Du. Nguyễn Ngọc Liên rất tâm đắc với chủ trương đưa thanh niên sang du học tại Nhật của hội Duy Tân. Ông đặt niềm tin vào thế hệ trẻ đi du học về sẽ làm cách mạng giành lại non sông đất nước. Ông đã giới thiệu một số học trò ưu tú của mình tham gia phong trào Đông Du. Bốn học trò của ông là Đặng Hữu Bằng, Đặng Tử Mẫn, Đặng Quốc Kiều, Nguyễn Xuân Thức(2) là những thanh niên đầu tiên của làng Hành Thiện xuất dương sang Nhật vào năm 1906 trong phong trào Đông Du.

          Ngoài việc giới thiệu những thanh niên ưu tú đi sang Nhật học tập, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên còn nhiều lần tổ chức quyên tiền ủng hộ phong trào Đông Du.

          Là người ghét Pháp xâm lược, ủng hộ cách mạng, nhưng Nguyễn Ngọc Liên rất thận trọng. Ông không bao giờ tuyên truyền cho phong trào cách mạng trong khi dạy học để phòng bọn mật thám bắt và không làm liên luỵ đến học trò.

          Ông giữ chức Tiên chỉ làng Hành Thiện từ 1836 đến 1937 , làm Tiên chỉ Tư văn làng kiêm Tiên chỉ Tư văn phủ Xuân Trường từ 1910 đến 1937. Ông làm việc rất có trách nhiệm và chu đáo. Hàng năm ông tổ chức tế lễ tưởng nhớ đức Khổng Tử và các vị tiên hiền, khoa bảng, khoa mục đã tạ thế, thỉnh thoảng lại tổ chức bình thơ văn. Hoạt động của hội Tư văn do ông phụ trách đã góp phần tích cực vào việc giáo dục đạo đức truyền thống và nâng cao trình độ cho học trò.

          Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên có nhiều sáng tác nhưng không được ghi lại thành tập. Theo Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh viết trong “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” thì Nguyễn Ngọc Liên "có khá nhiều thơ từ tản mát khắp nơi ở trấn Sơn Nam". Trong sách này chỉ chép lại bài Tạo sĩ cố hương từ của Nguyễn Ngọc Liên ca ngợi người có công với nước như sau:

          Phiên âm:

          Tạo sĩ Nam phương đắc kỷ nhân

          Vi thần vi tướng thế giai khâm

          Cung trương ác điểu vô phương tị

          Lực phụ vương gia phản ngộ truân

          Bốc ngụ Đông Ba thành đại sách

          Trùng tu từ tự lệ dân tuân

          Quy thì Thịnh Đức gia phong sắc

          Diệc thị hoàn danh hưởng quốc ân.

Dịch thơ:

          ĐỀN THỜ ÔNG TẠO SĨ Ở CỐ HƯƠNG

                    Cõi Nam Tạo sĩ mấy người

          Là thần là tướng ở đời kính tôn

                   Giương cung chim ác chết liền

          Phò vua mà mắc oan khiên mới kỳ

                   Đông Ba chọn đất dời về

          Sửa sang chùa miếu dễ bề khuyên ai

                   Vẹn tròn danh tiết chầu trời

          Được vua Thịnh Đức ban lời khen công.

          Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên là một nhà giáo mẫu mực, đã đào tạo cho đất nước nhiều thanh niên ưu tú. Ông là một người yêu nước nhiệt thành, nổi tiếng về hành động "Bất bái Toàn quyền", nêu tấm gương sáng về khí tiết nhà Nho, khích lệ tinh thần bất khuất và tự hào dân tộc. Cho đến trước khi mất ông vẫn mong đợi những người du học trở về nước và phong trào khởi nghĩa trong nước nổi dậy quét sạch bọn xâm lăng. Ngày 15 tháng 9 âm lịch 1937 Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên qua đời trong nỗi khắc khoải hy vọng tương lai tốt đẹp của đất nước và giấc mơ đền nợ nước của ông chưa thực hiện được.

          Cháu ngoại của ông là thi sĩ Nam Đường Đặng Thiệu Bạt có bài "Ông ngoại tôi" nói lên tâm trạng của cụ Nghè Liên như sau:

           Nguyễn Thượng Hiền ông đốc tỉnh Nam

          Cùng đồng chí hướng với ông làm

          Phong trào lớn mạnh trong toàn quốc

          Rồi trốn ra ngoài lãnh đạo đoàn

          Ở nhà ông ngong ngóng trông chờ

          Đồng chí lai hương để phất cờ

          Khởi nghĩa diệt thù đền nợ nước

          Nhưng lời ước hẹn cứ phai mờ

          Ngày buồn lặng lẽ lững lờ trôi

          Thế cuộc làm ông lệ lén rơi

          Mắc chứng ung thư bên má trái

          Ông tôi tạ thế! Ối giời ơi!

...........................................

Chú thích:

(1) Về năm sinh của Nguyễn Ngọc Liên các tài liệu viết không thống nhất: 1848, 1852, 1856 hoặc viết ông thọ 82, 84, 86 tuổi.

            (2) Bốn học trò của Nguyễn Ngọc Liên đều là người Hành Thiện, cùng xuất dương sang Nhật năm 1906 :

            - Đặng Tử Mẫn (1885 - 1926) vào học trường Võ bị Tôkiô, năm 1908 gia nhập Đông Á đồng minh hội, năm 1912 làm Uỷ viên kinh tế của Việt Nam Quang phục hội, năm 1926 tổ chức Việt Nam Quang phục hội tấn công các đồn biên phòng Pháp dọc biên giới Việt Hoa, bị bọn quân phiệt Vân Nam bắn chết.

            - Đặng Đoàn Bằng (1887 - 1938) học trường Võ bị Tôkiô, đỗ thủ khoa. Năm 1909 bị trục xuất sang Trung Quốc, rồi Xiêm La. Năm 1912 gia nhập Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Châu (Trung Quốc), làm Uỷ viên vận động của hội ở Bắc Kỳ. Bị Pháp kết án đày biệt xứ, ông sang Trung Quốc tham gia quân đội Trung Hoa dân quốc ở Quảng Tây, làm tới Đại tá tham mưu trưởng. Năm 1922 ông làm giáo sư trường quân sự Hoàng Phố. Năm 1938 Nhật ném bom, ông bị sức ép loạn thần kinh, một lần nhảy xuống sông chết đuối.

            - Đặng Quốc Kiều (1892 - 1976) học tiếng Nhật và tiếng Anh, thường gặp gỡ cụ Phan ở Hoành Tân. Năm 1909 ông sang Trung Quốc, rồi Thái Lan, mãi năm 1928 mới về nước và bị Pháp quản thúc tại làng. Năm 1946 ông làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Hà Nam.

            - Nguyễn Xuân Thức (1888 - 1945) cùng học tiếng Nhật với Đặng Quốc Kiều ở Hoành Tân, năm 1910 về nước bị Pháp bắt quản thúc ở Thanh Hoá.

 

       Nguồn: Nam Định. - 2001.  - Số ra ngày 21 - 9.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       NGUYỄN XUÂN PHIÊU – MỘT NGƯỜI THỰC HỌC

 

 

       Việc học ở trường lớp mà có bằng cấp để được thăng quan tiến chức là chuyện bình thường. Người không có bằng cấp gì mà được giao trọng trách nhà nước, cống hiến được nhiều cho dân cho nước mới là chuyện hiếm có. Nguyễn Xuân Phiêu là một trường hợp như thế.

       Nguyễn Xuân Phiêu (1859 – 1936), người làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, cha là Cử nhân Công bộ Thị lang Nguyễn Xuân Huyền, anh là Cử nhân Tri huyện Nguyễn Xuân Thống, nhưng Nguyễn Xuân Phiêu không có một bằng cấp, học vị gì. Từ nhỏ ông đã ham tìm hiểu những kỹ thuật ứng dụng trong đời sống của phương Tây, tỏ ra có năng khiếu về kỹ thuật thực hành. Ông rất khéo tay nên được các chùa và nhà thờ trong huyện nhờ làm các vật gia dụng.

Năm 1881, ông được cha tiến cử với vua. Vua nể quan Thị lang bộ Công mà nhận cho ông vào làm việc trong cơ quan của cha mình với chức Thừa biện Công bộ, một chức quan nhỏ được giao việc một thời gian và chỉ có quyền thừa hành các việc được giao mà không được phép bàn bạc. Ông làm việc rất mẫn cán và thông minh nên được Tự Đức cử đi học các khoa kỹ nghệ của Tây Âu ở nước ngoài. Trước khi ông đi học, Tự Đức khuyến khích: “Hễ học tập được kỹ nghệ một nước thì lấy lệ Cử nhân bổ dụng, kỹ nghệ hai nước thì lấy lệ Tiến sĩ bổ dụng, kỹ nghệ ba nước thì lấy lệ Hoàng giáp bổ dụng”. Điều này chứng tỏ Tự Đức rất coi trọng kỹ nghệ Tây Âu. Đối với người Việt Nam thời đó, các môn kỹ thuật chính xác của phương Tây là môn kỹ thuật cao và mới lạ.

Sau 6 tháng nghiên cứu thực tế tại Hồng Công và Xinhgapo, bằng trí thông minh hiếm có và sự chăm chỉ chịu khó học tập, Nguyễn Xuân Phiêu đã nắm được nhiều kỹ thuật mới của phương Tây. Về nước, ông chế ra 2 khẩu súng (một khẩu kiểu của Anh, một khẩu kiểu của Pháp), mô hình một chiếc tàu Xàlup, một cái đồng hồ kiểu Anh dâng lên vua để báo cáo kết quả học tập của mình. Một người không có bằng cấp khoa học, chỉ bằng con đường tự học mà chế tạo được những vật tinh xảo không kém gì kỹ thuật châu Âu thì thật là một nhân tài.

Nguyễn Xuân Phiêu xin vua cho thành lập các xưởng Bách công kỹ nghệ ở Hải Phòng, Đà Nẵng, Biện Sơn để chế tạo vũ khí, đóng tàu thuỷ, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc bờ cõi, nhưng không được triều đình chấp nhận. Vua chỉ phong cho ông chức Chủ sự Công bộ.

Đến năm 1886, Nguyễn Xuân Phiêu được giao nhiệm vụ mở xưởng đúc tiền niên hiệu Đồng Khánh. Năm 1887 ông được phong làm Bang biện Nha đúc tiền Quốc gia. Năm 1894 ông được cử ra Thanh Hoá mở Nha Thông Bảo (tức Nha đúc tiền) ở Cẩm Thuỷ và làm Bang tá nha này. Năm 1901 triều đình triệu ông về Huế, giao trông coi việc đóng tàu và sửa chữa tàu. Ông phát huy sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được vua ban cho áo gấm có thêu hình 9 con rồng, lại sai ông chế tạo xe hơi và các đồ ngự dụng.

Năm 1906 ông làm Hộ lý Cục Nông Công kỹ nghệ. Năm 1911 ông chuyển làm Hộ lý Trường Bách công. Có thể coi ông là Hiệu trưởng đầu tiên của trường kỹ nghệ nước ta. Ông còn được triều đình tín nhiệm giao cho phụ trách sửa chữa các công trình trong Nội điện. Công việc hoàn thành mỹ mãn, vua thưởng cho ông 500 lạng bạc nhưng ông chỉ nhận 200 lạng đủ thanh toán tiền công cho thợ. Năm 1915 ông phụ trách tu sửa điện Thái Hoà. Việc hoàn thành, ông được ban Nhị hạng kim khánh và được thăng Tham tri bộ Công. Năm 1916 ông lại được thăng Thượng thư bộ Công.

Năm 1918 ông nghỉ hưu, mở trường dạy học ở quê. Nghỉ hưu rồi ông vẫn được vua ưu ái. Năm 72 tuổi ông còn được vua mời về triều dự Chưởng yến.

Là người không có học vị, bằng cấp gì mà Nguyễn Xuân Phiêu phấn đấu trở thành quan Thượng thư bộ Công, có nhiều đóng góp thiết thực về kỹ nghệ phục vụ đất nước. Sự học của ông không câu nệ hình thức mà chủ yếu là con đường tự học, quan trọng nhất là thực học. Ông là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo…

                 TIẾN SĨ ĐẶNG HỮU DƯƠNG

 

       1 - Một vị quan công minh

 

        Đặng Hữu Dương sinh năm Canh Thân 1860(1) tại làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình có truyền thống nho học. Ông là con trưởng ông Đặng Hữu Thới và là cháu đích tôn Cử nhân Giáo thụ phủ Kinh Môn (Hải Dương) Đặng Văn Bính. Em ruột ông là Đặng Hữu Nữu (tức Do) cũng đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang).

          Hồi nhỏ, Đặng Hữu Dương học cụ đồ Đặng Vũ Diễn ở làng. Ông tỏ ra rất thông minh, học giỏi. Ông mặt mũi sáng sủa, trán cao, mắt sáng, khôi ngô. Sau này khi thấy ông đỗ Tiến sĩ vinh quy, cưỡi trên lưng ngựa bạch, thong thả đi trong đám rước, một nhà nho đã thốt lên: "Một vùng như thể cây quỳnh cành giao"(2).

         Khoa thi Hương năm Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức 32(1879), Đặng Hữu  Dương đỗ Cử nhân. Theo lời khuyên của vợ, ông vào Huế theo học ở Quốc Tử giám là trường lớn nhất nước thời đó, có nhiều sách vở rất thuận lợi cho học tập.

         Khoa Ất Dậu 1885 Đặng Hữu Dương thi Hội trúng cách, đã truyền lô. Đến khi thi Đình, ông đã được chấm đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, nhưng vì kinh thành có biến nên chưa kịp truyền lô(3). Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường rước vua rời kinh thành để tổ chức việc kháng Pháp. Đến khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889) ông chỉ phải vào thi Đình và đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này làng Hành Thiện còn có Nguyễn Ngọc Liên cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Đám rước của hai ông nghè Hành Thiện được tổ chức rất long trọng và là sự kiện hiếm có đáng tự hào của nhân dân Giao Thuỷ. Nhiều nhà khoa mục đã tặng câu đối mừng hai tân Tiến sĩ. Câu đối mừng của Cử nhân Nguyễn Bạt Tuỵ người làng Hạ Miêu cùng huyện như sau:

       Kỷ sửu, vi ngô huyện thịnh khoa, Hạ ấp tằng chiêm vân ngũ sắc;

       Hành Thiện, nãi Nam bang văn hiến, hoa cù khoáng kiến mã đề song.

       (Khoa Kỷ Sửu huyện ta thịnh đạt, ấp Hạ từng được xem mây ngũ sắc;

       Đất Hành Thiện nước Nam văn hiến, đường hoa rộng rãi hai ngựa song song).

         Sau khi đỗ Tiến sĩ, Đặng Hữu Dương vinh quy một tháng thì được bổ thực thụ Tri phủ Nam Sách (Hải Dương). Nguyên ông đã giữ chức quyền Tri phủ Nam Sách từ cuối năm 1888 theo Nghị định ngày 24 tháng 12 năm 1888 của quan Kinh lược Bắc Kỳ được Thống sứ Bắc Kỳ phê chuẩn. Trước đó ông đã làm Giáo thụ phủ Kiến Thuỵ.

         Nhận chức Tri phủ Nam Sách, ông giải quyết công việc hành chính, tư pháp rất mau lẹ, công bằng và có tiếng là liêm khiết. Tháng 4 năm 1890 ông được thăng Án sát Hà Nội. Tỉnh Hà Nội thời kỳ này bao gồm thành Hà Nội (theo chỉ dụ ngày 3 tháng 10 năm 1888 vua Đồng Khánh ký nhượng cho quân Pháp) và các phủ, huyện của Hà Đông, Hà Nam. Các vụ án liên quan đến dân thành Hà Nội do Toà án Pháp xử. Các vụ án liên quan đến dân các phủ, huyện còn lại do quan án sát Đặng Hữu Dương chịu trách nhiệm.

           Đặng Hữu Dương luôn tỏ ra là người có trách nhiệm và cần mẫn với công việc được triều đình giao phó. Trước khi xử kiện, ông thường ăn chay, tắm gội bằng nước ngũ vị, đốt hương trầm cầu nguyện trời phật phù hộ cho ông đủ sáng suốt để không lầm lẫn. Ông không bao giờ tắc trách để người ngay bị oan. Ông khoan hồng, phạt nhẹ và khuyên nhủ cải tà quy chính đối với những bị can vì lầm lẫn mà phạm tội. Ông kiên quyết trừng phạt bọn côn đồ, bọn nhà giàu, bọn cậy quyền thế hà hiếp người khác. Trước khi tuyên án, bao giờ ông cũng nghiên cứu kỹ hồ sơ, đến tận nơi xảy ra vụ án mà quan sát, tìm hiểu kỹ lưỡng những uẩn khúc của sự việc và nguyện vọng của nhân dân, nhờ vậy mà những kết luận của ông thật công minh. Thường sau mỗi vụ án ông xử, cả bên bị và bên nguyên, bên thua kiện cũng như bên thắng kiện, đều thoả mãn, khâm phục và ca ngợi quan án sát thật công minh, liêm khiết.

           Có lần, Tổng lý một xã ở huyện Từ Liêm được ông xử cho thắng kiện một xã lân cận trong vụ tranh chấp ruộng đất, đã đem vàng bạc tạ ơn. Ông dứt khoát từ chối và nói rõ ông chỉ làm theo bổn phận. Nhân dân xã này khẩn khoản xin ông nhận một cậu bé người làng đi theo hầu hạ ông. Cậu bé đó chính là ông Đặng Nguyên Roanh (tức Đồ Sơn), con nuôi của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương, sau này được ông nuôi dạy nên người.

       Ông nổi tiếng là vị quan công minh, thanh liêm, được nhân dân trong tỉnh sở tại vô cùng kính nể, yêu mến, tin tưởng. Con đường làm quan có điều kiện giúp dân, giúp nước được nhiều đang rộng mở thì bất hạnh xảy đến với ông. Giữ chức Án sát Hà Nội được ba năm, ông bị bệnh đau mắt. Ông xin về quê chữa trị. Được hai tháng thì mắt ông mù hẳn. Từ năm 1893 đến khi mất, ông sống trong cảnh mù loà, kết thúc con đường khoa hoạn.

 

       2 - Một tấm lòng nhân ái, yêu nước, thương dân

 

        Trong cuộc đời và trong thơ văn của mình, Tiến sĩ Đặng Hữu Dương đã thể hiện rõ tấm lòng yêu nước, thương dân. Đối với ông, yêu nước là yêu dân và những người ruột thịt của mình. Ông luôn mong muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người dân, và thực tế ông đã làm được điều đó qua các vụ xử án công minh khi còn làm quan.

          Lòng nhân ái của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương thể hiện sâu đậm, cảm động nhất trong tình yêu của ông đối với người vợ quá cố. Vợ ông là người cùng làng, đẹp người, đẹp nết, lại giỏi thơ văn. Bà chia sẻ với ông mọi nỗi buồn đau, hoà điệu tâm hồn với ông trong sinh hoạt thơ văn. Khi ông bị mù, bà nâng giấc, chăm sóc, động viên ông, không nề hà khổ cực. Được hy sinh cho chồng con là niềm hạnh phúc của bà. Sau hai năm chăm sóc chồng mù loà, năm 1895 bà ốm rồi mất, để lại cho Đặng Hữu Dương suốt những ngày tháng còn lại thương nhớ khôn nguôi. Từ khi vợ mất cho đến khi ông qua đời, suốt hai mươi tám năm ròng, ông vẫn giữ lòng chung thuỷ với bà. Nhiều người khuyên ông nên lấy vợ khác vì khi vợ mất, ông mới 36 tuổi, nhưng ông không chịu. Hằng đêm, ông ôm bọc quần áo của vợ và chìm vào nỗi đau thương nhớ. Những bài thơ khóc vợ của ông thật thống thiết, lâm ly, chung thuỷ:

            Tang em nay đã đoạn rồi

          Nhưng lòng ta vẫn suốt đời tang em.

           Sống thiếu bà, người bạn tri âm, ông cảm thấy cuộc đời thật giá lạnh :

           Dưới đèn ẩn hiện mặt hoa

           Dịu dàng giọng nói đậm đà thu ba

           Lứa đôi hạnh phúc chan hoà

           Cùng nhau sống giấc mơ hoa tuyệt vời

         Thế mà nay âm dương cách trở đôi nơi

         Tri âm vắng bóng cuộc đời giá băng.

                                                              (Bài Khóc vợ)

           Thơ văn Đặng Hữu Dương, nhất là thơ viết về người vợ của ông đã trở nên nổi tiếng. Nhiều nhà khoa mục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã tìm về Hành Thiện để được thưởng thức những áng thơ văn của nhà khoa bảng nổi tiếng.

          Những người con của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương được cha giáo dục chu đáo và khuyến khích tham gia các hoạt động yêu nước. Con cả ông là Đặng Hữu Bằng tham gia phong trào Đông Du, đã đỗ thủ khoa trường Đại học quân sự Chấn Vũ (Nhật) được Minh Trị Thiên hoàng tặng một đồng hồ bỏ túi có chữ ký của Thiên hoàng. Sau ông tham gia quân đội Trung Quốc và mất vì bom Nhật. Tiến sĩ Đặng Hữu Dương có lần đã sai con rể là ông Khải mang tiền tiếp tế cho Đặng Hữu Bằng hoạt động cách mạng. Con thứ Đặng Hữu Dương là Đặng Hữu Đài làm Trợ tá phủ Ninh Giang, có tiếng liêm khiết, cũng bị Pháp bắt tù vì nghi ông tham gia phong trào Đông Du. Con nuôi Đặng Hữu Dương là Đặng Nguyên Roanh được cha hết lòng thương yêu, giáo dục đã trở thành ông Đồ Sơn làm nghề dạy học và rất giỏi nghề thuốc. Đặng Nguyên Roanh cũng tham gia phong trào Đông Du và từng bị Pháp bắt giam.

           Không chỉ khuyến khích, giúp đỡ con cái tham gia hoạt động yêu nước, Đặng Hữu Dương còn liên hệ với Nguyễn Thượng Hiền trong việc thực hiện đưa thanh niên Việt Nam ra nước ngoài và quyên góp tiền ủng hộ phong trào Đông Du.

           Đối với bà con trong làng, ông không bao giờ có lời nói, hành động làm mất lòng ai. Hàng xóm rất kính trọng và quý mến ông. Mỗi lần đi chợ sớm qua ngõ nhà cụ Nghè Dương, ai nấy nhắc nhau giữ im lặng để không làm mất giấc ngủ của cụ Nghè.

          Có lần ông đồ Sơn kể chuyện cụ Tam nguyên Nguyễn Khuyến cho chữ "Đại hạ" ("Đại hạ" là "hè to", đọc lái là "tò he") chế diễu anh đội khố đỏ xuất thân là lính thổi kèn suốt ngày tò he, tò hét mà cũng lên mặt làm sang khi anh đến xin chữ cụ Tam nguyên nhân dịp khánh thành nhà mới, làm anh xấu hổ phải bỏ làng ra đi. Đặng Hữu Dương cho rằng cụ Tam nguyên vô cớ gây khổ não cho người biết tằn tiện tiết kiệm và biết tôn trọng các vị đại khoa là không nên.

         Bùi Hướng Thành (người Hà Nam) đỗ Cử nhân thứ 78 cũng được Nguyễn Khuyến mừng câu đối chế diễu như sau:

       Thánh thượng diệc lân tài, cống viện trì lai tam ngũ nhật;

       Khuê trung ưng phá liễu, lang quân áp đắc kỷ hà nhân.

       (Nhà vua có ý thương tài, nên cho hoãn kỳ thi hương lại năm ba bữa;

       Cô cử cười vỡ bụng, chồng mình đè được bao nhiêu người.)

          Nghe chuyện này, Đặng Hữu Dương bảo rằng Bùi Hướng Thành không làm điều gì lố lăng đáng bị chế diễu, hơn nữa đã đỗ Cử nhân dù là thứ 78 cũng là giỏi rồi, vì cứ 150 người thi mới có một người đỗ Cử nhân. Cụ Tam nguyên vì khoe tài chơi chữ mà chế diễu cử Bùi học dốt đỗ gần cuối bảng, làm đau lòng cử Bùi thì thật không phải.

         Cách nhìn nhận đánh giá sự việc của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương chứng tỏ ông có tấm lòng nhân ái biết bao.

          Trước cảnh quan lại Nam triều không có ý chí chống Pháp, lại chỉ lo cho cá nhân mình mà quên nỗi nhục mất nước, ông phê phán, cảnh tỉnh :

       Chống giặc chưa đi toan lo rút,

       Mặt vênh mà đến luỵ ông Tây.

       Tổ tiên đã bỏ không thờ nữa,

       Cơ nghiệp ngàn xưa cũng dễ bay.

                                    (Bài Thành phủ Xuân Trường)

           Đặng Hữu Dương là một tác giả Hán Nôm nổi tiếng có tài làm thơ văn hết sức mau lẹ mà vẫn đặc sắc. Khi làm Tri huyện Nam Sách, có lần ông đến thăm một vị quan cấp trên, gặp lúc vị này đang làm câu đối mừng bạn đồng liêu mà nghĩ mãi chưa ra. Vị này nhờ ông làm giúp. Ông hỏi về thân thế người bạn đồng liêu của quan trên và quan mừng nhân dịp gì, rồi phóng tay múa bút viết câu đối vào tấm vóc. Vị quan cấp trên thấy câu đối thật chỉnh, diễn tả tình bạn đậm đà, chữ viết lại đẹp như hoa thì vô cùng khâm phục ông.

         Những sáng tác thơ văn của ông thường không ghi lại thành tập nên ngày nay chỉ còn một số bài do con cháu ghi lại và lưu truyền trong dân gian. Về y học, ông có tập Nông gia tự liệu gồm trên sáu nghìn câu thơ lục bát ghi lại các vị thuốc và bài thuốc nam dân gian rất có giá trị.

        Tháng 5 năm 1923 Tiến sĩ Đặng Hữu Dương qua đời, thọ 64 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông vẫn còn áy náy vì mình chưa giúp được nhiều cho dân, cho nước như mong muốn. Trong bài biểu tạ ơn vua của ông sau khi đỗ Tiến sĩ có đoạn viết:

          ..."Hạ thần chỉ biết lấy đạo thờ cha mẹ ra thờ vua, đem tấm lòng yêu thương con cái mà yêu thương dân chúng trong quản hạt cai trị của hạ thần để không hổ với các điều thánh hiền đã dạy, không hổ với bảng vàng bia đá"(4).

           Cả cuộc đời ông luôn luôn hành động theo tâm nguyện vì dân vì nước. Tên tuổi và sự nghiệp của ông được ghi lại không chỉ ở bảng vàng bia đá, mà còn sống mãi trong lòng nhân dân Nam Định.

………………………..

Chú thích :

       (1) Khi đi thi ông khai tăng ba tuổi nên có tài liệu chép ông sinh năm 1857.

       (2) Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện / Đặng Hữu Thu. - Paris : 1992. - Tr. 141.

       (3) Sau khi Kiến Phúc chết, năm 1884 Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu là Hàm Nghi. Lễ đăng quang của Hàm Nghi không được Nam triều thông báo cho Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ biết nên Rê-na không thừa nhận vua mới. Tướng Đờ Cuốc - xy doạ sẽ đem quân bắt vua. Trước tình thế căng thẳng không thể trì hoãn được, Tôn Thất Thuyết tổ chức lực lượng tấn công đồn Mang Cá và đồn quân Pháp đóng ở gần toà Khâm sứ. Cuộc tấn công bị thất bại, Tôn Thất Thuyết phải hộ giá vua chạy ra Quảng Trị phát hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp.

       (4) Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện. - Sđd. - Tr. 161 – 162.

 

       Nguồn: Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr. 34 - 36.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LÊ TRỌNG HÀM  

       TRONG LĨNH VỰC THƯ MỤC HỌC

 

 

          Lê Trọng Hàm tự Quốc Ninh, hiệu Đông Giang, Nam Á Dư Phu, Nam Sử Thị, tục gọi Nhì Hàm, sinh năm Nhâm Thân (1872) (có tài liệu viết ông sinh ngày 12 - 6 năm Quý Dậu 1873), mất ngày 2 tháng 9 năm Tân Mùi (1931), quê làng Hội Khê Ngoại, huyện Giao Thuỷ nay thuộc xã Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

          Ông là một nhà nho yêu nước, cần cù sưu tầm tài liệu, biên soạn sách và sáng tác thơ ca tuyên truyền lòng yêu nước trong nhân dân. Tính ông rất hào hiệp, thường chu cấp tiền gạo cho học sinh nghèo ăn học và nuôi các nhà nho trong nhà viết sách.

          Khoảng năm Nhâm Tuất Khải Định (1922), ông thành lập và đứng ra làm Hội chủ Nam Việt Đồng Thiên hội. Hội thu hút được nhiều nhà nho địa phương tham gia. Hoạt động chủ yếu của hội là biên soạn bộ Minh Đô sử. Sau 10 năm làm việc chuyên cần, hội đã hoàn thành bộ Minh Đô sử.

          Thư viện gia đình của Lê Trọng Hàm có trên 2.000 sách xếp trong 20 tủ gỗ có cánh. Sách được đóng dấu “Xuân Hội - Lê Thị Gia Tàng”. Thư viện này hai lần bị tịch thu trong thời gian Kháng chiến chống Pháp và trong Cải cách ruộng đất. Con cháu Lê Trọng Hàm cất dấu được một số cuốn sách quý, sau giao lại cho Viện sử học, đích thân ông Nguyễn Đổng Chi nhận, trong đó có bộ Minh Đô sử và bộ Đại Việt sử ký toàn thư (bản khắc đời Cảnh Thịnh).

          Theo thống kê chưa đầy đủ của Thư viện tỉnh Nam Định, Lê Trọng Hàm có trên ba mươi tác phẩm viết về sử học, địa chí, ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, sách giáo khoa, văn học nghệ thuật... như: Á châu tôn giáo (3 quyển), Bách niên nhân vật kỷ, Bảo Hán châu liên (10 quyển), Bùi gia huấn hài chú thích (giáo khoa), Cường dư (20 quyển, tóm tắt tri thức khoa học tự nhiên và xã hội), Di quyết văn (2 quyển, giáo khoa, những bài văn hay), Đại số học đại biên, Đàm Hoa pháp tự, Đăng khoa bị khảo, Đông cầu văn hoá sơ giải, Hải Nam văn chiến (20 quyển), Hán tự phong giao (Sưu tầm Ca dao sáng tác bằng chữ Hán), Hoàn hải kính đài (3 quyển, địa lý các nước), Hội Khê địa bạ, Kinh học chính tôn, Lê gia tộc phổ (2 quyển), Nam học tinh hoa (10 quyển), Ngũ truyện văn thông (15 quyển, tìm hiểu 5 nhà bác học Trung Quốc), Phạm Chỉ Trai văn tập (3 quyển, sưu tầm các tác phẩm của Phạm Thế Lịch), Phần hương chính yếu (Phong tục, lễ hội của làng Hội Khê Ngoại), Quảng tiếu lâm thư (sưu tầm truyện cười dân gian Việt Nam), Quế Hải văn kỳ (10 quyển, Các tác phẩm cổ văn chữ Hán của vùng đất Nam Định), Quốc sử quy tôn (50 quyển bản thảo), Quốc văn (7 quyển, tập hợp văn thơ Nôm hay), Thi gia tương độ (10 quyển), Thổ âm chính biên, Ty vô cao sử (3 quyển ), Vạn tự liên châu (2 quyển, giáo khoa)... Ngoài ra, ông còn nhiều thơ, ca dao có giá trị nuôi dưỡng và khích lệ lòng yêu nước được lưu truyền trong dân gian.

          Trong việc biên soạn bộ Minh Đô sử, Lê Trọng Hàm đóng góp nhiều công sức và trí tuệ. Ông vừa là người chủ trì, lo kinh phí cho hội hoạt động, vừa làm công việc trực tiếp biên soạn của một soạn giả. Một số tác phẩm của ông đã được đưa vào trong Minh Đô sử như: Hán văn Nam kỵ khảo (Sách 1), Mạc Kính thao truyện dịch thuật (Sách 46), Thuỷ tử ca (Sách 20)...

          Minh Đô sử gồm 93 quyển chính và 7 quyển phụ được chia làm 48 sách. Sách chép tay trên giấy bản thường, khổ 28 cm x 16 cm. Bản Minh Đô sử hiện còn lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu HV285 thiếu 4 sách (số 32, 43, 44, 47). Tổng cộng 44 sách hiện còn gồm 3856 tờ, tờ 2 trang, trang 8 dòng, dòng 26 chữ. Chữ viết đá thảo, không đẹp nhưng dễ coi.

          Tên sách đầy đủ là Tân đính Nam Á Đại Minh đô đế quốc, quốc sử vựng toản xuân thu đại toàn. Như vậy, Minh Đô sử chỉ là tên gọi tắt của bộ sách. Theo cụ Đoàn Ngọc Phan viết trong cuốn Tác giả thơ văn Hán Nôm Hải Hậu (Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định xuất bản năm 2001), Minh Đô là tên gọi cũ của quận Giao Chỉ, tức nước ta thời Bắc thuộc. Nhưng trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hoá, 1984, tập 1), cụ Trần Văn Giáp - Nhà Thư mục học Việt Nam giải thích rằng Minh Đô là một danh từ cổ, nghĩa là vùng đất ở phía Nam. Tác giả Lê Trọng Hàm đã theo nghĩa đó đặt tên cho sách của mình, ý muốn nói Minh Đô là sử nước Nam.

          Nội dung sách chép đủ 4 mục: Quốc sử, Liệt truyện, Địa chí, Văn tuyển. Phần Quốc sử được coi là phần chính, các phần còn lại (liệt truyện, địa chí, văn tuyển) chỉ là phụ thêm vào.

          Giá trị cơ bản của Minh Đô sử :

          1- Liên hệ đối chiếu lịch sử Việt Nam với lịch sử Đông Tây trong tiểu mục Trung Tây liệt sử. Điều này góp phần làm rõ bối cảnh lịch sử Việt Nam trong lịch sử thế giới nói chung, giúp bạn đọc sáng tỏ thêm các vấn đề lịch sử nêu trong sách.

          2- Nhiều tài liệu được rút ra trong dã sử, gia phả, thi văn tập, truyền thuyết, văn Nôm về nhiều môn loại... không có trong chính sử và ít người còn nhớ, làm cho tư liệu phong phú và minh hoạ cho lịch sử sáng tỏ hơn.

          3- Lịch sử Tây Sơn được chép thành một kỷ riêng gọi là Tây Sơn kỷ (Quyển 46 - 47, Sách 21 - 27), chứng tỏ tác giả đã nhận thức đúng và coi trọng vai trò của Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

          Các tác giả Minh đô sử đã biến tính chất sử sách của mình thành một bộ bách khoa không đầy đủ, lưu tàng được nhiều tài liệu văn sử quý báu, góp phần gìn giữ cho đời sau các giá trị văn hoá của dân tộc.

          Đặc biệt, trong Minh Đô sử có hai bản thư mục của Lê Trọng Hàm rất có giá trị trong bối cảnh lịch sử thư mục học Việt Nam đương thời phát triển khá chậm so với thế giới và chịu ảnh hưởng sâu sắc kiểu phân loại “Tứ bộ” (Kinh - Sử - Tử - Tập ) của Trung Quốc. Mãi đến thế kỷ 18, Việt Nam mới xuất hiện công trình thư mục Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn và Văn tịch chí của Phan Huy Chú. Hai công trình thư mục tiêu biểu của nước ta thời kỳ đầu hình thành và phát triển thư mục học Việt Nam có hình thức theo kiểu Tứ bộ của Trung Quốc, nhưng đã thể hiện được ý thức bảo tồn di sản văn hoá và tinh thần tự hào dân tộc; Nội dung và phương pháp phân loại sách, miêu tả các yếu tố thư mục hoàn toàn khác với Tứ bộ của Trung Quốc. Lê Trọng Hàm đã tiếp thu được tinh hoa của hai bản thư mục này, phát triển theo quan điểm riêng qua việc biên soạn hai bản thư mục Hoàng Lê tứ khố thư mục và Hoàng Nguyễn tứ khố thư mục.

          Hoàng Lê tứ khố thư mục là bản danh mục các sách Việt Nam có từ trước thời Nguyễn, thu thập được 84 bộ sách, chia ra:

          1- Hiến chương loại (8 bộ)

          2- Kinh sử loại (13 bộ)

          3- Thi văn loại (29 bộ)

          4- Truyện ký loại (28 bộ)

          5- Tạp loại (6 bộ)

          Cách phân chia như trên cơ bản như cách chia trong Văn tịch chí của Phan Huy Chú, lấy căn cứ chủ yếu là nội dung sách, nhưng đưa Tạp loại thành một đề mục chính thức. Trong Văn tịch chí, mục Tạp loại (toán, đạo Phật, địa lý...) chỉ là môn loại phụ, gọi là Phương kỹ loại. Đến Hoàng Lê thứ khố thư mục, nhóm tác giả Lê Trọng Hàm đã nhận thức rõ giá trị trong đời sống xã hội của các loại sách trong Tạp loại, đưa Tạp loại thành môn loại chính thức ngang với các môn loại khác. Đó là một nét mới, tiến bộ trong nhận thức của các nhà thư mục học Việt Nam, góp phần đưa công tác thư mục nước ta phát triển thêm một bước.

          Hoàng Nguyễn tứ khố thư mục thu thập các sách từ đầu triều Nguyễn đến đầu thế kỷ 20. Bản thư mục chia làm 5 đề mục:

          1- Thần kinh (Huế ) 20 bộ

          2- Bắc kỳ 70 bộ

          3- Trung kỳ 42 bộ

          4- Nam kỳ 21 bộ

          5- Các nữ sĩ 6 bộ

          Cách chia như trên thiếu thống nhất, trong khi lấy cơ sở chủ yếu là yếu tố địa lý lại có mục chia theo giới tính. Theo cách chia này, nội dung sách không được tính đến. Tuy vậy, bản thư mục cũng có những giá trị nhất định:

          - Góp phần lưu giữ tài liệu, ấn phẩm Việt Nam lâu dài.

          - Thể hiện sự phát triển văn hoá, khoa học, nghệ thuật và tình hình các tác giả của từng vùng địa lý riêng.

          - Việc đưa các tác giả nữ thành đề mục riêng thể hiện sự coi trọng vai trò của phụ nữ, là đòn đánh vào tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ tồn tại từ lâu trong xã hội phong kiến Việt Nam.

          Trên phương diện thư mục học, Hoàng Lê tứ khố thư mục và Hoàng Nguyễn tứ khố thư mục đã thể hiện được các yếu tố thư mục rất cơ bản như tên tác giả, tên sách, các chi tiết bổ sung cho tên sách, thời gian xuất bản, tình trạng sách còn hay mất, hình thức in ấn hay chép tay, tóm tắt nội dung, bình luận về sách... Hai bản thư mục của Lê Trọng Hàm đã kế thừa tinh hoa từ các công trình thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, đồng thời có chỉnh lý, phát triển, sáng tạo, mang sắc thái riêng, góp phần làm phong phú và là cơ sở cho công tác lý luận phân loại sách và thư mục học Việt Nam sau này.

 

……………

 

       Nguồn: Văn nhân. – 2005. – Số 48. – Tr. 33 – 35.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

        NGUYỄN KHẮC DOANH 

 

 

            Nguyễn Khắc Doanh còn gọi là Nguyễn Khách Doanh, hiệu Hải Đàm, thường gọi Tú Khắc, Tú Khách, Tú Doanh. Không rõ năm sinh. Chỉ biết ông mất năm 1930.

           Ông quê thôn Đầm, làng Tang Trữ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

           Ông đỗ Tú tài năm 1906. Khoa này ông được vào phúc hạch nhưng vì bài làm có mấy câu văn “láo xược” nên bị đánh rớt xuống Tú tài. Sau ông có đi thi một lần nữa nhưng vẫn không đỗ Cử nhân.

           Ông là người giàu lòng yêu nước, chán ghét thời thế, quyết không ra cộng tác với giặc Pháp. Sau khi đỗ Tú tài ông về sống bình thường ở quê, thường giao du với các bạn nhà nho bất đắc chí, làm thơ đả kích chế độ thực dân.

            Năm 1925 bọn thực dân Pháp bắt cóc cụ Phan ở Thượng Hải đem về nước xử án. Trước đó, năm 1912 thực dân Pháp đã kết án vắng mặt cụ Phan. Nguyễn Khắc Doanh đã cưỡi bò đi xem xử án. Giữa công đường, ông tha thiết xin chết thay cho cụ Phan Bội Châu. Ông bị giặc Pháp bắt giam. Sau khi được thả về, ông lại đón xe Toàn quyền Varenne, một lần nữa đòi được tù thay cho cụ Phan. Cùng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân đòi thực dân Pháp phải thả cụ Phan, hành động khảng khái của Nguyễn Khắc Doanh góp phần gây sức ép buộc tòa án Pháp kết án cụ Phan tù chung thân, không dám xử tử cụ. Toàn quyền Varenne phải can thiệp để cụ Phan được về an trí tại Bến Ngự - Huế…

            Nguyễn Khắc Doanh là một nhà thơ trào phúng nổi tiếng của Nam Định chuyển sang sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Thơ ông đả kích sâu cay bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, được nhân dân hào hứng đón nhận. Ông có tập thơ trào phúng “Chim oanh học nói” đả kích chế độ của thực dân cướp nước. Bọn thực dân Pháp phải ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành những sáng tác của ông.

           Hầu hết các sáng tác của ông đã bị chính quyền đô hộ Pháp tịch thu tiêu hủy. Chỉ còn một bài lưu truyền đến ngày nay. Đó là bài phú nổi tiếng “Thi trường thảm trạng” được in trong một số sách tuyển tập văn học (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. – Nxb. Văn hóa, 1963. – Tập 4 ; Tổng tập văn học Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, 1996. – Tập 21. – Tr. 823 – 825).

           Chỉ một bài “Thi trường thảm trạng” cũng đủ đưa ông vào hàng các tác giả yêu nước chống Pháp của đất Nam Định văn hiến và của cả nước hồi đầu thế kỷ hai mươi…

 

……………

 

Nguồn: Văn Nhân. – Số 139 ra tháng 9 & 10 năm 2021. – Tr. 33 – 34.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

               KIẾN TRÚC SƯ NGUYỄN CAO LUYỆN

 

 

       Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (1907 - 1987) sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo có nề nếp ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ ông may mắn được người cha thường cho đi theo trong những lần thăm thú, vãng cảnh chùa chiền, đình miếu, di tích, danh lam trong nước. Được tiếp cận nhiều với nghệ thuật dân tộc ngay từ tuổi ấu thơ, trong ông sớm nảy sinh những cảm thụ sâu sắc với vẻ đẹp kiến trúc truyền thống. Những cảm thụ sâu sắc với kiến trúc dân tộc ấy đã giúp ông định hướng chọn nghề kiến trúc và trở thành một kiến trúc sư nổi tiếng sau này.

       Được thừa hưởng những nét tinh hoa tốt đẹp trong môi trường giáo dục của một gia đình nhà nho thanh bạch, Nguyễn Cao Luyện chăm chỉ học tập, sớm thể hiện rõ năng khiếu của mình. Ông là một trong những học trò giỏi và có năng khiếu vào bậc nhất của trường Thành Chung Nam Định.

Năm 21 tuổi Nguyễn Cao Luyện thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau một năm học khoa mỹ thuật, ông chuyển sang học khoa kiến trúc khoá 3(1928 - 1933). Năm 1933 ông đỗ thủ khoa, được gửi sang Pháp tu nghiệp một năm tại xưởng thiết kế của Le Corbusier và A. Péret. Kiến trúc sư A. Péret nổi tiếng là bậc thầy trong sử dụng bê tông. Những kinh nghiệm học được từ người thầy tài ba A. Péret đã có ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Cao Luyện và thể hiện rõ trong các công trình kiến trúc do ông thiết kế sau này.

Khi về nước, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện mở phòng kiến trúc tư ở Hà Nội. Ông góp phần sáng lập và tham gia giảng dạy ở trường tư thục Thăng Long. Ông còn tham gia giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, góp phần đào tạo đội ngũ trí thức trẻ cho đất nước. Nhiều kiến trúc sư thế hệ trước Cách mạng tháng Tám 1945 là học trò của ông, trong đó có kiến trúc sư nổi tiếng Huỳnh Tấn Phát.

Năm 1935 người bạn học của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện là kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp từ Huế ra Hà Nội. Hai kiến trúc sư tài năng và đầy nhiệt huyết đã kết hợp chặt chẽ với nhau trong công trình thiết kế khu "Nhà ánh sáng" ở bãi Phúc Xá (Hà Nội). Kiểu "nhà ánh sáng" do hai ông thiết kế thật giản dị, lại bằng vật liệu rẻ tiền, nhưng đã tạo được nơi ăn chốn ở văn minh, hợp vệ sinh dành cho xóm thợ và dân nghèo thành thị. Công trình "Nhà ánh sáng" là một biểu hiện thiết thực của tấm lòng kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện yêu thương, quan tâm đến những người nghèo. Công trình khu "Nhà ánh sáng" không những đã gây được tiếng vang lớn trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó mà còn vọng sang một số nước thuộc địa của Pháp ở châu Phi.

Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã thể nghiệm thành công nhiều công trình nhà ở, nhà hàng, biệt thự, trường học, bệnh viện ở Hà Nội, Nam Định, Lạng Sơn... với giải pháp tổ chức không gian đưa con người tiếp xúc với thiên nhiên và khai thác vật liệu truyền thống. Cùng những đồng nghiệp giỏi như kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức trong phòng kiến trúc tư của mình, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã khởi xướng những ý tưởng về không gian và hình dáng của kiến trúc Việt Nam. Ông trân trọng tìm hiểu, giữ gìn và khai thác triệt để vốn truyền thống, đồng thời đón nhận những thành tựu mới của nền văn minh nhân loại. Những ý tưởng ấy được thể hiện trong các công trình kiến trúc của ông, đã để lại cho nền kiến trúc Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 dấu ấn đặc sắc, gắn bó với lịch sử phát triển kiến trúc nước nhà. Một số công trình ở Hà Nội do ông thiết kế, hoặc tham gia thiết kế đã trở nên nổi tiếng như Bệnh viện 167 Phùng Hưng, Trường tư thục Thăng Long ở Ngõ Trạm, biệt thự số 77 Nguyễn Thái Học, biệt thự số 65 Lý Thường Kiệt (nay là Đại sứ quán Cu ba)...

Cách mạng tháng Tám 1945 bùng lên, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội. Một thời kỳ lịch sử mới mở ra đối với ông. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, ông đã lên Việt Bắc để góp phần xây dựng và bảo vệ chế độ mới với tất cả nhiệt tình của một trí thức yêu nước, yêu nghệ thuật dân tộc. Ông là thành viên trong Ban lãnh đạo Vụ Kiến trúc thuộc Bộ Giao thông công chính (tiền thân của Bộ Kiến trúc - Thuỷ lợi, sau đổi là Bộ Kiến trúc và nay là Bộ Xây dựng). Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã có nhiều đóng góp về mặt tổ chức của ngành kiến trúc non trẻ nước nhà và tìm hướng đi cho nghệ thuật kiến trúc vừa phục vụ kháng chiến, vừa chuẩn bị cho công cuộc kiến quốc sau ngày thắng lợi.

Năm 1948, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện là một trong những người có công sáng lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam (tức là Hội Kiến trúc sư Việt Nam ngày nay).

Trong thời gian tham gia kháng chiến ở Việt Bắc, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đi sâu nghiên cứu nhà ở dân gian của đồng bào Dao, Tày, Nùng ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng. Ông tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo các kiểu nhà có nội dung và hình thức mới mẻ để phục vụ thiết thực cho cách mạng và nhân dân như các kiểu nhà triển lãm, chòi thông tin, trụ sở Uỷ ban kháng chiến hành chính, trạm y tế, trường học, nhà ở nông thôn... Nhiều kiểu nhà do ông thiết kế hồi đó đã được vẽ, in trên giấy học sinh một cách đơn sơ để phổ biến rộng rãi trong nhân dân ở chiến khu Việt Bắc.

Năm 1954, kháng chiến thắng lợi, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện trở về Hà Nội. Ông tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ nhà nước và công tác đoàn thể. Ông là Đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, Uỷ viên thường vụ Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiến trúc (thuộc Bộ Kiến trúc - Thuỷ lợi), Thứ trưởng Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng). Khi giữ những trọng trách nhà nước giao phó, ông đã cùng đồng nghiệp xây dựng và hình thành nên ngành kiến trúc - xây dựng của Việt Nam. Ông còn là hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Kiến trúc. Ông dành nhiều công sức xây dựng cho trường Đại học Kiến trúc ngày thêm vững vàng. Ông dồn tâm huyết vào việc đào tạo lớp trẻ kế cận sự nghiệp kiến trúc Việt Nam. Ở cương vị phụ trách ngành, ông vẫn suy tư, tìm tòi, sáng tạo và thể hiện những hiểu biết tinh tế về nghề kiến trúc trong các sáng tác mở rộng toà biệt thự làm trụ sở Quốc hội ở 35 Ngô Quyền, Hội trường Ba Đình ở Hà Nội (đồng tác giả với kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm). Trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghĩa Lộ cũng là một trong những công trình đẹp do ông thiết kế. Ở công trình này, ông để tâm khai thác những đặc điểm đặc sắc của kiến trúc dân gian dân tộc Thái, kết hợp hài hoà với các yếu tố kiến trúc hiện đại để đạt tới chất lượng và hiệu quả nghệ thuật cao.

Năm 65 tuổi, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện nghỉ hưu. Ông từng thổ lộ:

- "Tôi đã nghỉ hưu trên danh nghĩa một cán bộ nhà nước. Nhưng với tư cách là một người hoạt động kiến trúc thì tôi không chấp nhận nghỉ hưu."

Đúng như lời tâm sự của mình, sau khi đã nghỉ hưu, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện vẫn tích cực hoạt động kiến trúc. Ông tham gia viết bài đăng báo, tạp chí và viết sách để truyền kinh nghiệm cho lớp kiến trúc sư trẻ, tuyên truyền cho nền kiến trúc vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Công trình nhà Bảo tàng Cổ vật trên hồ Thượng Lỗi ở thành phố Nam Định do kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện sáng tác là một công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi dành cho thành phố quê hương ông.

Ngay sau ngày giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã cùng đồng chí Phan Điền - Bí thư tỉnh uỷ Nam Hà, nhiều lần đến khảo sát thực địa tại khu hồ thuộc làng Thượng Lỗi ngoại thành Nam Định, nơi chiếc máy bay thứ 100 của không lực Hoa Kỳ bị quân ta bắn rơi tại chỗ. Từ trên cao nhìn xuống, mảnh đất ấy hình con đại bàng giống như phù hiệu con chim trên máy bay Mỹ bị quân dân Nam Định bắn rơi. Và chính trên mảnh đất ấy đã xây nhà Truyền thống, tường phía ngoài nhà được đắp bê tông để tạo dáng một quả núi hình con sư tử nằm đè lên con đại bàng tượng trưng cho sức mạnh của quân dân ta đã đè bẹp được không lực Hoa Kỳ. Toàn bộ công trình nằm trên mặt hồ nước, giống như hòn non bộ thường thấy ở trước sân một ngôi nhà cổ thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Chỉ có điều bể nước ở đây là cả một quần thể nhiều hồ được khai thông liên hoàn thành một hệ thống rộng tới mấy chục mẫu, còn hòn non bộ là toà nhà cao ngót ba tầng trên gò đất nổi rộng tới 16.150 m2. Khi trát những mảng tường xi măng phía ngoài của nhà Truyền thống, giả làm vách núi, những người thợ xây dựng đã quét lên đó một lớp cháo loãng cho rêu phong chóng mọc lên. Rồi những cây lớn được ô tô vận chuyển đến và cần cẩu dựng lên thành rừng cây rợp bóng. Từ đó khu hồ có tên là hồ Truyền thống, nay chính thức được gọi là Công viên văn hoá Tức Mặc. Từ cổng công viên vào qua sân rộng trước trụ sở Ban quản lý di tích, du khách bước lên một cây cầu cuốn vòm, rồi theo con đường lát gạch uốn khúc quanh co giữa hai hàng cây bóng mát. Theo con đường này, ta còn bước lên những cây cầu đá vắt qua những ao sen, hồ súng. Ở phía tây giải đất trung tâm có dựng một ngôi đình cổ mái cong, có cây đa, giếng nước. Trong khuôn viên còn có nhiều tượng đá cổ như ngựa đá, voi đá, tượng người, bia đá được đặt bên những khóm tre đằng ngà với những cây xi, cây xanh rủ những chùm rễ phụ đu đưa như níu kéo chào mời, bên những hàng cau toả hương thơm ngát mỗi đêm hè.

Với tất cả tình yêu mảnh đất quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã dành cả tâm hồn, sức lực vào thiết kế và chỉ đạo thi công với lòng mong muốn thể hiện công trình gần gũi với tình cảm dân tộc, đồng thời giới thiệu tinh hoa của kiến trúc cổ truyền qua giải pháp quy hoạch kiến trúc, tạo cho công trình trở thành một điểm sáng, một danh lam thắng cảnh của tỉnh Nam Định.

Nguyễn Cao Luyện không chỉ là một kiến trúc sư có tay nghề lão luyện mà còn là một nhà văn hoá thiết tha với cội nguồn dân tộc. Ông là một trong số những kiến trúc sư tiên phong hướng về kiến trúc cổ truyền, khai thác, tìm tòi những giá trị nghệ thuật dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn với các yếu tố hiện đại để tạo ra một phong cách riêng trong kiến trúc. Các công trình ở Hà Nội do ông thiết kế như toà nhà số 7 Thuyền Quang, số 215 Đội Cấn, số 104 Yết Kiêu, số 1 Phan Đình Phùng, số 23 Hàng Than, số 36 Bà Triệu... đã thể hiện sâu sắc, đậm đà nét truyền thống ở cả nội dung và hình thức, với những lớp lang có không gian ấm cúng, thoải mái, giản dị, trữ tình, chân thực, trong sáng, gắn bó và hài hoà với thiên nhiên. Ông kiên nhẫn duy trì cuộc "đối thoại với đồng bào mình". Theo ông, "các sáng tạo kỹ thuật đều nảy sinh từ điều kiện tự nhiên, tâm tính con người".  Ông hiểu rõ "trong vòm trời nhiệt đới không thể xê dịch được, tổ tiên ta đã nhận ra những gì là bầu bạn và kẻ thù". Do vậy, ông chủ trương "từ không gian xưa của nếp nhà cổ truyền, chúng ta kế thừa những gì làm giường mối"(1) cho kiến trúc hiện đại hôm nay. Từ những khảo sát thiên nhiên, xã hội, ông chỉ rõ nhà ở là một không gian văn hoá chứ không phải "cỗ máy ở". Ông cảnh báo sự suy thoái của nền kiến trúc chỉ biết du nhập, tự nó huỷ hoại môi trường sống, và người kiến trúc sư vô tình đã trở thành kẻ tàn phá những giá trị khoa học nhân văn của dân tộc.

Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện là tác giả của bộ sách đầy chất thơ, tuyên truyền và khẳng định cho vẻ đẹp và giá trị kiến trúc dân tộc - dân gian. Hai tập đầu của bộ sách đã hoàn thành là "Từ những mái nhà tranh cổ truyền" (Nhà xuất bản Văn hoá, 1977) và "Chùa Tây Phương - Một công trình kiến trúc cổ độc đáo" (1978). Tập ba của bộ sách chưa hoàn thành thì ông qua đời.

Nguyễn Cao Luyện là một kiến trúc sư đầu ngành có nhiều công lao trong xây dựng và phát triển ngành kiến trúc Việt Nam nói riêng và hoạt động xã hội nói chung. Những ý tưởng về nghệ thuật của ông theo thời gian vẫn còn đọng lại trong tâm khảm của nhiều thế hệ kiến trúc sư, thôi thúc lớp trẻ luôn nhớ về cội nguồn để xây dựng một nền kiến trúc dân tộc và hiện đại. Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện thật xứng đáng với sự tôn vinh của nhân dân quê hương, xứng đáng với những phần thưởng cao quý mà nhà nước dành cho ông: Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng hai, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

….……..

Chú thích:

(1)                    Từ những mái nhà tranh cổ truyền / Nguyễn Cao Luyện. - H.: Văn hoá, 1977.

 

       Nguồn: Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định. - 2001. - Số 3. - Tr. 7 -10.

 NHẠC SĨ ĐINH NGỌC LIÊN TỪ NGƯỜI LÍNH KÈN

            TRỞ THÀNH NGHỆ SĨ NHÂN DÂN

 

                                                   

 Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên, thường gọi là Quản Liên sinh năm 1911  tại xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cũng như nhiều thanh niên khác trong thời kỳ trước Cách mạng, Đinh Ngọc Liên bị bắt đi lính khố xanh. Do có năng khiếu về âm nhạc nên ông được cho làm lính kèn, rồi dần dà thành người chỉ huy của đội lính kèn của quân đội tay sai cho thực dân Pháp. Sau này, khi đã nghỉ hưu, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên thường tâm sự với bà con làng xóm: "Cuộc đời tôi nếu không có Đảng, không có Cách mạng thì đâu được như ngày nay..."

 Ngày 20 tháng 8 năm 1945 được xem như là ngày thành lập Đoàn quân nhạc Việt Nam, cũng là ngày mà nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên không thể nào quên được. Sáng hôm đó, chính tướng Vương Thừa Vũ (lúc đó là chỉ huy của quân giải phóng) đã vào trại Bảo an binh, nơi có Đội lính kèn do Quản Liên phụ trách, nói rõ về đường lối, chủ trương, mục tiêu của cách mạng, về sự quan tâm của cách mạng đối với âm nhạc. Tướng Vương Thừa Vũ cũng nói rằng cách mạng sẵn sàng đón nhận những ai tình nguyện tham gia Đoàn quân nhạc của quân đội cách mạng, còn ai muốn trở về nhà thì cách mạng tạo điều kiện cho về. Quản Liên thay mặt cho hơn 70 người lính kèn xúc động phát biểu:

     - "Chúng tôi hoan nghênh cách mạng giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng đứng trong Đoàn quân nhạc cách mạng. Những ai tán thành ý kiến của tôi, xin đứng dậy!"

     Cả 70 người lính kèn đồng loạt đứng dậy hưởng ứng, hoan hô vang dội. Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên được chỉ định làm nhạc trưởng, toàn quyền chỉ huy Đoàn quân nhạc. Từ ngày 20 - 8 - 1945 đáng ghi nhớ ấy, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên vĩnh viễn trút bỏ bộ sắc phục của lính khố xanh một thời nô lệ, để mặc bộ quân phục của quân đội cách mạng. Cuộc đời ông bắt đầu sang trang mới. Ông lao vào công tác cách mạng, hào hứng say sưa, quên ăn quên ngủ, dồn hết sức lực và tài năng vào việc hoà âm, phối khí những ca khúc cách mạng và hướng dẫn Đoàn quân nhạc luyện tập, chuẩn bị phục vụ ngày Tuyên ngôn độc lập. Bài Tiến quân ca, lúc đó chưa có Quốc hội để xác định là Quốc ca, nhưng đã được xem như là Quốc thiều của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Do vậy, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên hết sức chú trọng việc hoà âm, phối khí sao cho thật chính xác, thật hoàn chỉnh. Ông  phát hiện ra vài chỗ nhịp điệu bài hát chưa thật hoàn chỉnh và đã tìm gặp Văn Cao, tác giả của Tiến quân ca, xin được phép sửa chữa đôi chút để bài hát thật hoàn hảo... Cụ thể là rút ngắn trường độ của nốt "Rê" đầu tiên (tương ứng với từ "Đoàn") và nốt "Mi" ở đoạn giữa (tương ứng với từ "xác" trong câu "Xây xác quân thù") để làm cho giai điệu ca khúc thêm hùng tráng. Văn Cao vui vẻ đồng ý, vì chính ông cũng đang băn khoăn về vài chỗ nhịp điệu của bài hát còn chưa được hoàn chỉnh mà chưa biết sửa như thế nào.

     Trong buổi lễ ra mắt của Chính phủ tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi lá cờ Tổ quốc được từ từ kéo lên, cùng lúc giai điệu bài Tiến quân ca của Văn Cao do nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên chỉ huy dàn quân nhạc trình tấu cũng vang lên hùng tráng, làm xúc động đến nghẹn ngào hàng vạn người.

     Đoàn quân nhạc, thời kì 1945 - 1954 gọi là Ban âm nhạc Giải phóng quân, Ban âm nhạc Vệ quốc quân, rồi Đoàn nhạc binh Trung ương. Từ năm 1955 mới đổi gọi là Đoàn quân nhạc trực thuộc Tổng cục quân huấn (sau thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô).

     Từ 1945, gần bốn mươi năm liên tục, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên là nhạc trưởng, trưởng đoàn Đoàn quân nhạc Việt Nam. Ông vinh dự được chỉ huy dàn quân nhạc trong những ngày lễ trọng đại của dân tộc như  ngày Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 - 1945, ngày Giải phóng Thủ đô 10 - 10, đón Bác Hồ và Chính phủ ta về lại Hà Nội, ngày Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh 1969... Ông đã hoà âm, phối khí hàng trăm ca khúc cách mạng phục vụ nghi lễ của Đảng, Chính phủ, Quân đội ta và đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của chiến sĩ và nhân dân. Những ca khúc do ông hoà âm, phối khí như Tiến quân ca, Chiến sĩ ca, Diệt phát xít, Du kích ca, Cùng nhau đi hùng binh... đã trở thành những tiết mục nổi tiếng của Đoàn quân nhạc. Ngoài hoà âm, phối khí các ca khúc cách mạng, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên còn biên soạn, sáng tác nhiều nhạc phẩm, ca khúc phục vụ nhiệm vụ cách mạng từng thời kì, nổi tiếng là Xuân chiến thắng, Hành khúc chiến thắng, Chiến thắng Phủ Thông (ca khúc, nhạc Đinh Ngọc Liên, lời Ngô Gia Khánh ), Hành khúc tang lễ (bản nhạc trống vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh 1969)... Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên cũng có công lớn trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhạc công cho Đoàn quân nhạc, giỏi về kĩ thuật và nghệ thuật biểu diễn, vững về phẩm chất chính trị. Đoàn quân nhạc ngày nay gọi là Đoàn nghi lễ 781 còn không ít người đã từng được nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên bồi dưỡng, dìu dắt.

     Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Âm nhạc Việt Nam. Bằng chính cuộc đời lao động nghệ thuật sáng tạo không mệt mỏi của mình, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã góp phần cống hiến cho nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, đặt những viên gạch đầu tiên cho Hội Âm nhạc Việt Nam ra đời và phát triển, và chính ông là một viên gạch đẹp trong nền móng đó.

     Năm 1960 nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã vinh dự trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1963 ông được phong quân hàm Thiếu tá, rồi Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã được nhà nước ta tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất, Huân chương quân công hạng nhì. Năm 1989 ông được công nhận là Nghệ sĩ nhân dân, người Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Những phần thưởng cao quí mà Đảng, quân đội và nhà nước ta trao tặng cho ông thật xứng đáng với công lao của ông đóng góp cho cách mạng, minh chứng sự phấn đấu đầy nghị lực, vượt qua mọi gian khổ của Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên, để từ một người lính khố xanh trở thành người cán bộ quân đội cách mạng, người Đảng viên cộng sản, người Nghệ sĩ nhân dân.

     Năm 1991, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã đi về cõi vĩnh hằng, nhưng những nhạc phẩm quí báu của ông để lại cho chúng ta sẽ mãi mãi còn âm vang trong lòng nhiều thế hệ. Những bản thánh ca trong nhà thờ Thiên chúa giáo ở quê hương Xuân Phương đã tạo nguồn cảm hứng và tình yêu âm nhạc cho ông từ nhỏ. Quê hương văn hiến giàu truyền thống yêu nước và cách mạng đã sinh ra và nuôi dưỡng tình yêu đất nước và tài năng  Đinh Ngọc Liên, và chính ông là niềm tự hào của quê hương Nam Định.

 

…………………………

 

Nguồn: Văn nhân. - 1999. - Số 27. - Tr. 12 - 13.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                      NGHỆ SĨ  VŨ NĂNG AN

 

       Tác phẩm tiêu biểu :

Ảnh :

- Bác Hồ ở Yxưccun (Kadắcxtan 1959)

- Bác Hồ tại mặt trận Đông Khê 1950

- Chân dung Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945)

- Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra mắt quốc dân

       - Đánh chiếm phủ Khâm Sai - Mít tinh Tổng khởi nghĩa tại quảng trường Nhà hát lớn 19 - 8 – 1945 - Quốc hội họp lần đầu.

Bài viết :

- Chụp ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Báo Người Hà Nội)

- Giơ-ne-vơ 1954 những khoảnh khắc... (Báo Văn hoá 27 - 8 - 1995)

- Mãi mãi thiêng liêng

- Những bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Nguồn sáng thiêng liêng ảnh Người (Báo Văn hoá 3 - 9 - 1995)

- Tre già măng mọc (Tạp chí Điện ảnh ngày nay IV - 1992)

- Từ thu Mi-xtơ-ran đến thu heo may (Báo Nhân dân 6 - 8 - 1992).

 

       Nhiều người Việt Nam rất quen thuộc với những tấm ảnh tư liệu lịch sử nổi tiếng về Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, kháng chiến chống Pháp, về Bác Hồ... như Mít tinh Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội 19 - 8 - 1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 - 1945, Quốc hội họp lần đầu, Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở hẻm núi Lam Sơn 1950... được in phổ biến trên sách báo, nhưng ít người biết tác giả của những bức ảnh đó là nghệ sĩ Vũ Năng An.

       Vũ Năng An sinh năm 1916 tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Hiện nay ông trú tại khu tập thể Điện ảnh số 72 phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội.

       Năm lên 10 tuổi, Vũ Năng An mồ côi mẹ. Cha ông là Côi Sơn Vũ Năng Tĩnh, một người viết báo phê phán những chuyện bất bình xảy ra hàng ngày trong tỉnh. Vũ Năng Tĩnh từng giao du với Nguyễn Thế Truyền, một trí thức Tây học có tư tưởng mới. Vũ Năng Tĩnh là bạn thân thiết của thi sĩ Lê Đại Thanh và một sỗ văn sĩ khác. Cuộc đời của cụ Vũ Năng Tĩnh có ảnh hưởng nhiều đến Vũ Năng An.

       Tuổi thơ của Vũ Năng An gặp nhiều khó khăn vì cha ông nghèo túng và luôn không ổn định về nơi ăn chốn ở. Hoàn cảnh đó đã thúc đẩy Vũ Năng An ý nghĩ phải tìm một nghề tạo dựng cuộc sống độc lập và đầy đủ. Năm 16 tuổi, ông trốn nhà ra Hải Phòng, xin thi vào Trường Kỹ nghệ nhưng không đỗ. Ông đành phải trở về Nam Định, song ý chí phải thay đổi cuộc sống càng mạnh mẽ trong tâm hồn sôi nổi và khát vọng của ông.

       Năm 1936 ông lên chuyến tàu xuyên Đông Dương chạy qua Nam Định để vào Tuy Hoà, rồi đi xe đò vào Sài Gòn với hy vọng tìm được một nghề kiếm sống. Ông được chủ hiệu Studio Géo Thơm là Đỗ Hữu Thơm nhận cho học việc. Ông đã nhanh chóng bộc lộ những dấu hiệu của một tài năng nhiếp ảnh lớn, được các bậc đàn anh trong nghề nể trọng. Một lần ông chụp ảnh cho vợ chồng viên Phó Giám đốc tàu Aramis được khen là ảnh đẹp và nhận xét với tay nghề của mình, Vũ Năng An có thể sang hành nghề tại Pháp.

       Tại Sài Gòn, ông đã được chứng kiến vụ Toà Đại hình xử án những nhà cách mạng. Những lời lẽ đanh thép tranh cãi chống lại lời buộc tội kết án của Toà án thực dân Pháp của ông Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu và lời biện hộ của luật sư Trịnh Đình Thảo đã gây xúc động và làm bừng sáng lên trong đầu óc non trẻ của Vũ Năng An những điều mới mẻ. Ông tham gia trong nhóm 7 người vận động thành lập Hội Điện ảnh An Nam, thu hút được nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thời đó như Năm Phỉ, Phùng Há, Ái Liên, Năm Châu... Việc vận động thành lập Hội Điện ảnh An Nam không thành, ông bỏ đi làm thợ chụp ảnh trên tàu Aramis (từ Mácxây đi Côbê). Sau hai tháng lênh đênh trên biển, ông tới Mácxây. Ở Pháp, ông lăn lộn kiếm sống và được chứng kiến cảnh sống khổ cực của người nghèo. Cùng với tay nghề chụp ảnh được nâng cao, ông nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống, cảm thông với những người cùng khổ, bừng cháy lên tình yêu và nỗi nhớ quê hương đất nước. Một số người bạn rủ ông đi Thuỵ Sĩ, Canađa kiếm sống, nhưng ông từ chối. Năm 1939 ông trở về Tổ quốc với ý nghĩ luôn trăn trở là phải làm được cái gì đó có ích cho đất nước.

       Năm 1940 Vũ Năng An làm việc ở Central photo của ông Phúc Lai phố Tràng Thi, Hà Nội. Ở đó, Vũ Năng An đã cùng Hồng Tranh chụp và tổ chức trưng bày 40 tấm ảnh chân dung văn nghệ sĩ. Đầu năm 1942 ông lại sang làm cho cửa hiệu Photo Atelier mới khai trương của ông Trần Văn Lưu trên đường Cột Cờ, Hà Nội. Trong cửa hiệu có trưng bày một số ảnh chân dung do Vũ Năng An và Hồng Tranh chụp. Một số bức ảnh chân dung này đã được hoạ sĩ Tô Ngọc Vân giới thiệu trên tạp chí Thanh  Nghị và nhà văn Henri Bouchon giới thiệu trên báo La Voilonté Indochinoise số ra ngày 16 -  5 - 1942. Bài báo có đoạn viết: "Ảnh chân dung và các bức études, ở đây Hồng Tranh và Vũ Năng An đã đạt được những tác phẩm thật sự nghệ thuật. Tôi đã nhận ra những gương mặt quen thuộc mà tính cách với một kỹ năng chuyển hoá làm cho những nét nổi nhất được tức thời tiếp cận..."

           Từ thuở nhỏ, Vũ Năng An có hai người bạn học thân thiết là Vũ Đức Toa và Vũ Đức Oong (con cụ Đồ Đôi người làng Đại Đê, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) từng hoạt động cho Đảng Cộng sản. Có lần họ rủ ông tham gia hội viết báo trong lớp. Vũ Đức Toa từng bị địch bắt giam vì treo cờ búa liềm trên cây ngái xế cửa trường Maurice Graffeuil phố Bến Củi thành phố Nam Định trong ngày 1 - 5. Sau hai người bạn này đã lên Hà Nội tham gia hoạt động Việt Minh... Từ hoạt động của hai người bạn nói riêng và phong trào cách mạng ở quê hương nói chung, ý thức cách mạng thấm dần vào tư tưởng Vũ Năng An.

       Sau này, khi đã nghỉ hưu, Vũ Năng An tâm sự: "Tôi không phải là người hoạt động chính trị, tôi không có năng khiếu đó, tôi đến với Cách mạng rất tự nhiên, hoàn toàn xuất phát từ lòng mong mỏi được làm một công việc gì đó hữu trách cho đất nước..."

       Từ lòng mong muốn giản dị và thiết thực đó, Vũ Năng An đã hoà mình vào không khí sôi sục của nhân dân Hà Nội trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Những ngày sôi sục khí thế Cách mạng Tháng Tám 1945 còn khắc sâu trong tâm khảm Vũ Năng An mà ông không bao giờ quên được. Ông sung sướng khi được Việt Minh chính thức mời chụp ảnh phục vụ cách mạng. Sáng ngày 17 - 8 - 1945, Vũ Đức Toa đến tìm Vũ Năng An, yêu cầu ông cùng đến trước Nhà hát lớn chụp ảnh. Ông bồi hồi đi theo bạn và hiểu rằng đây là khoảnh khắc lịch sử quan trọng của dân tộc, nếu bỏ lỡ không ghi lại sẽ phải ân hận suốt đời. Đến trước Nhà hát, ông trèo vội lên cột đèn và kịp bấm máy ghi lại cảnh lá cờ của chính phủ bù nhìn tơi tả rơi xuống, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên phấp phới tung bay. Ngày 19 - 8 - 1945, nhân dân Hà Nội vùng lên giành chính quyền với khí thế sôi sục đấu tranh của cuộc Tổng khởi nghiã. Ông theo nhà văn Nguyên Hồng, với vũ khí là máy ảnh trong tay, hoà mình vào dòng thác cách mạng. Ông say mê thu vào ống kính toàn cảnh cuộc mít tinh khởi nghĩa của nhân dân Hà Nội với một rừng cờ đỏ sao vàng... Cũng trong ngày 19 - 8 - 1945, ông đã ghi lại được cảnh tượng lực lượng khởi nghĩa buộc các lính Bảo an tay sai cho Pháp phải hạ vũ khí đầu hàng, quân ta vượt rào sắt chiếm lĩnh hành dinh bù nhìn. Bức ảnh Đánh chiếm phủ Khâm sai là tư liệu quý giá ghi lại thời khắc thiêng liêng của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta đập tan ách thống trị trên 80 năm của thực dân Pháp để xây dựng chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân. Ngày 27 - 8 - 1945, ông chụp ảnh Cuộc duyệt binh ở Quảng trường Nhà hát lớn. Ngày 2 - 9 - 1945, ông được giao nhiệm vụ chụp ảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra mắt quốc dân... Những tấm ảnh về Hà Nội kháng chiến của ông đã được chủ hiệu ảnh Trần Đăng Lưu phóng lớn trưng bày tại phòng Thông tin phố Tràng Tiền (Hà Nội) và được đồng chí Vũ Đức Toa phóng thêm hai bộ đem đi trưng bày ở thị xã Phủ Lý và thành phố Nam Định, kịp thời tuyên truyền cho cách mạng.

       Sau ngày Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 - 1945, trước yêu cầu của nhân dân cần có ảnh lãnh tụ, Nha tuyên truyền Chính phủ lâm thời đã triệu tập hội nghị gồm 32 đại diện các hiệu ảnh ở Hà Nội để chọn người tài đức làm nhiệm vụ chụp chân dung Hồ Chủ tịch. Vũ Năng An là một trong sáu người được chọn vào Phủ Chủ tịch để chụp ảnh Bác Hồ. Thời gian để chụp ảnh Bác Hồ cho mỗi người chỉ có 5 phút, Vũ Năng An lại là người được bố trí chụp sau cùng, nhưng với tấm lòng kính yêu lãnh tụ vô hạn và bằng tài năng nghề nghiệp, ông đã chụp được hai tấm chân dung Bác Hồ mang tính nghệ thuật cao. Tấm ảnh chân dung Bác Hồ có hai chấm sáng ở mỗi mắt đã được chọn cho công bố trên báo chí, treo ở các công sở và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân. Chính Bác Hồ đã ký tên vào bức ảnh này để gửi tặng bạn bè quốc tế. Hồi đó ai cũng bảo mỗi mắt Cụ Hồ có hai con ngươi, sự đồn đại về một lãnh tụ anh minh càng trở nên huyền thoại. Vũ Năng An được ghi nhận là tác giả bức chân dung đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

       Năm 1947, Vũ Năng An nhập ngũ. Ông được cử phụ trách Ban nhiếp ảnh tại Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh và Cục Tuyên huấn Tổng cục chính trị. Năm 1950 bộ đội ta mở chiến dịch Biên giới. Đây là chiến dịch có quy mô lớn đầu tiên của bộ đội ta nhằm củng cố và mở rộng khu căn cứ Việt Bắc. Vũ Năng An được theo Bác Hồ đi chiến dịch. Sáng 16 - 9 - 1950 Bác Hồ lên đài quan sát trên đỉnh núi Phia Lăng Đồn, theo dõi pháo binh ta nổ súng bắn vào cứ điểm quân Pháp ở Đông Khê. Vũ Năng An đã chớp được cái khoảnh khắc Bác Hồ đang tập trung quan sát trận đánh, gương mặt sống động, cương nghị, đầy suy nghĩ và tự tin, chiếc mũ vải đã sờn, quân phục nhàu, ống quần xắn cao, toát lên vẻ bình dị lạ thường... Ông chọn góc độ chụp hất từ dưới lên làm cho hình ảnh Bác Hồ cao vời vợi in trên nền trời, sừng sững như một pho tượng trên đỉnh Phia Lăng Đồn, thể hiện rõ nét hình tượng đẹp của vị lãnh tụ - vị tướng lĩnh tài ba của dân tộc. Bức ảnh Bác Hồ trên Mặt trận Đông Khê 1950 là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật và là tư liệu lịch sử quý báu, làm xúc động biết bao người Việt Nam qua nhiều thế hệ.

       Sau chiến dịch Biên giới, Vũ Năng An còn hai lần được đi theo Bác Hồ làm nhiệm vụ nhiếp ảnh. Đó là những lần Bác Hồ đi thăm Liên Xô vào năm 1955 và năm 1959. Nhiều bức ảnh nghệ thuật của ông chụp trong dịp này được dư luận đánh giá là xuất sắc như bức ảnh chụp Bác Hồ đi thăm Bảo tàng Lê - nin trong điện Cremli, Bác Hồ thăm hồ Y- xức - kun trên dãy A - la - tao... Bức ảnh Bác Hồ thăm cảnh ở hồ Y - xức - kun và núi A - la - tao (Kadắctan năm 1959) được tác giả chụp vào khoảnh khắc ca nô vừa quay mũi, ánh sáng chếch ngược tạo thành những nét đẹp giàu chất tạo hình, được giới nhiếp ảnh ghi nhận như một sáng tạo về chụp ảnh lãnh tụ.

       Năm 1954, Vũ Năng An còn được tham gia đoàn cán bộ ngoại giao của Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng lãnh đạo đến bàn đàm phán ở Hội nghị Giơ - ne - vơ với nhiệm vụ nhiếp ảnh. Những bức ảnh của ông về đoàn đại biểu nước ta trong hội nghị này là những tư liệu quý về một giai đoạn lịch sử quan trọng.

       Gần hai mươi năm Vũ Năng An làm nhiệm vụ nhiếp ảnh cách mạng, ông trở thành một trong những nhà nhiếp ảnh cách mạng xuất sắc. Ông có nhiều dịp được chụp ảnh Bác Hồ, nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, các tướng lĩnh quân đội, các văn nghệ sĩ và các nguyên thủ nước ngoài đến thăm Việt Nam... Nhiều tác phẩm ảnh nghệ thuật của ông về Cách mạng Tháng Tám 1945, về cuộc kháng chiến chống Pháp, về lãnh tụ Hồ Chí Minh... được coi là tài sản quốc gia, được lưu giữ trong các Viện Bảo tàng.

       Từ năm 1960, Vũ Năng An được giao nhiệm vụ quản lý trong ngành Điện ảnh. Ông từng được mời tham gia làm phim Việt Nam trên đường thắng lợi của đạo diễn Rô - manh Các - men, phim Cây tre Việt Nam của nữ đạo diễn Ba Lan Hê - lê - na  Lê - man - xca. Ông được cử đi thực tập về công tác quản lý ở hãng Mốt - phim Liên Xô. Năm 1960 ông làm Chủ nhiệm phim Lửa trung tuyến ở xưởng phim tổng hợp. Năm 1964 - 1969 ông làm Phó Giám đốc xưởng phim truyện Việt Nam. Năm 1969 - 1972 ông làm Giám đốc xưởng kỹ thuật sản xuất phim. Năm 1972 - 1979 ông được đề bạt làm Giám đốc xưởng phim truyện Việt Nam. Năm 1977 ông là thành viên Ban Giám khảo phim ngắn của Liên hoan Điện ảnh quốc tế Matxcơva. Xưởng phim truyện Việt Nam do ông lãnh đạo đã sử dụng hàng vạn mét phim tài liệu dựng thành 5 bộ phim có giá trị về lịch sử dân tộc: Sài Gòn tháng 5 - 1975, Tháng 5 những gương mặt, Qua cầu Công Lý, Gặp đảo tự do  Thành phố lúc rạng đông. Bộ phim Thành phố lúc rạng đông đã được Giải thưởng cao nhất tại Hội thi phim quốc tế ở Lai - xich (CHDC Đức) 11 - 1975.

       Trong 15 năm giữ các cương vị quản lý chủ chốt ở xưởng phim truyện Việt Nam, ông đã hết lòng với "nghệ thuật thứ bảy" và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp điện ảnh Việt Nam. Ông là điển hình của người lãnh đạo có quan điểm thực tiễn và tinh thần trách nhiệm cao. Ông thường tâm niệm rằng mỗi bộ phim ra đời là kết quả của trí tuệ sáng tạo và thái độ trách nhiệm của người nghệ sĩ. Ông là tấm gương về đạo đức trong sáng, nhiệt tình công tác, thấu hiểu và tin tưởng đồng nghiệp, luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho những hoạt động sáng tạo.

       Từ tuổi thơ bế tắc và nghèo khổ, Vũ Năng An không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành một nghệ sĩ có nhiều đóng góp cho cách mạng và có uy tín. Cuộc đời ông là tấm gương sáng về thái độ sống có trách nhiệm với đời, phấn đấu học tập không mệt mỏi để hoàn thiện bản thân.

       Với 85 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, hơn 60 năm sự nghiệp nhiếp ảnh và điện ảnh, nghệ sĩ Vũ Năng An là nhân chứng lịch sử những ngày đầu Cách mạng. Nhiều khoảnh khắc lịch sử vĩ đại và quý giá của dân tộc được ông ghi lại bằng máy ảnh. Những bức ảnh của ông đã tạc vào trang sử vàng chói lọi của cách mạng và dân tộc sẽ còn sống mãi với non sông đất nước. Vì sự đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực nhiếp ảnh, nghệ sĩ Vũ Năng An đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về bức ảnh Bác Hồ trên mặt trận Đông Khê năm 1950.

 

………………………

 

       Nguồn: Danh nhân Nam Định thế kỷ XX được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. – Nam Định : Sở Văn hoá thông tin, 2001. – Tr. 25 – 36.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          VĂN CAO BẬC TÀI DANH THẾ KỶ

 

 

       Nhạc sĩ Văn Cao hăng say hoạt động cho cách mạng từ trước mùa thu 1945. Ông sáng tác bài "Tiến quân ca" cho Trường Quân chính kháng Nhật, theo yêu cầu của tổ chức. Tự tay ông viết bài ca này lên đá in ở trang văn nghệ của tờ Độc lập. Ông kể:

         - "Một tháng sau khi báo phát hành, tôi từ cơ quan ấn loát về Hà Nội. Qua một đường phố nhỏ (Bây giờ là đường Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe tiếng đàn măng-đô-lin từ một căn gác vọng xuống. Có người đang tập Tiến quân ca. Tôi đứng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc động đến với tôi hơn cả những tác phẩm, tôi đã ra mắt ở các rạp hát trước đây... Có thể những người cùng khổ, mà tôi đã gặp trên bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát".(1)

        Ngày 17 / 8 / 1945 lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom, hàng ngàn người cất tiếng hát vang: "Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc... " Chính Hồ Chủ tịch đã chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca cho nước Việt Nam mới. Quốc hội khoá I chính thức phê chuẩn Quốc ca. Năm 1993 Quốc hội một lần nữa khẳng định vị trí bất di bất dịch bài Quốc ca Việt Nam của nhạc sĩ Văn Cao.

Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, quê nội ở làng An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Vì sinh kế ông Nguyễn Văn Tề (1885 - 1941), thân phụ Văn Cao đã đưa gia đình ra Hải Phòng lập nghiệp. Khi Văn Cao cất tiếng khóc chào đời thì người cha làm cai máy nước. Nhưng không lâu sau vì tị hiềm mà ông Tề bị mất chức. Văn Cao sớm chịu cuộc sống vất vả từ thuở thiếu niên. Cậu học trò Văn Cao thường cùng hai bạn Trần Liễn và Đoàn Tòng, đầu trọc lốc, cởi trần, quần đùi, học trường Bon-nan rong ruổi khắp các phố, từ Thượng Lý qua Cầu Đất, xuống Lạch Tray. Khi vào trường Xanh Giô-Dép Văn Cao đã sớm phải bỏ học vì cảnh nhà ngày càng sa sút. Rồi theo anh Tú tập võ, ném dao, phi đinh thuyền như một hiệp sĩ. Người cha đã xin cho con làm điện thoại viên ở Sở dây thép Hải Phòng gần nhà. Nhưng không bao lâu chàng tuổi trẻ đã bỏ việc, ôm đàn Vi-ô-lông theo nhập nhóm Du ca Hải Phòng. Sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao bắt đầu từ bài “Buồn tàn thu” (1939). Khi nhóm Du ca lên Hà Nội, Văn Cao lại viết truyện ngắn, kịch ngắn và làm thơ. Dù được in trên Tiểu thuyết thứ bảy nhưng văn thơ của Văn Cao rất ít người nhắc tới. Ông lại về Hải Phòng. Năm 1941 cụ Nguyễn Văn Tề qua đời, gia đình về quê An Lễ sinh sống, Văn Cao thì nay đây mai đó, liên tiếp sáng tác ca khúc: “Thiên Thai”, “Bến xuân”, “Cung đàn xưa”, “Suối mơ”, đã làm lay chuyển, say đắm bao người.

       Được bạn bè giúp đỡ, Văn Cao lao vào hội hoạ và đã theo lớp dự thính ở Mỹ thuật Đông Dương được hai năm. Trong triển lãm "Duy nhất", Văn Cao có ba bức tranh treo ở nhà Khai trí Tiến Đức. Trong đó bức "Cuộc khiêu vũ của những người tự tử" được báo chí rất ca ngợi, nhưng tranh lại không bán được, nghèo vẫn hoàn nghèo, tủi cực vẫn hoàn tủi cực. Ông lại được mời viết ca khúc cho nhóm Đồng vọng của Hoàng Quý như bài "Gò Đống Đa", “Thăng Long hành khúc ca"...

        Năm 1944, năm biến chuyển trong cuộc đời Văn Cao. Sau khi được đồng chí Vũ Quý (quyền Bí thư tỉnh uỷ Hà Nội lúc ấy)(2) giác ngộ, Văn Cao tham gia hoạt động cách mạng bí mật. Với lòng hồ hởi nhiệt thành, ông viết bài in sách báo và truyền đơn của Đảng. Văn Cao còn được giao nhiệm vụ viết “Tiến quân ca” đồng thời phụ trách đội danh dự trừ gian. Việc làm của đội danh dự trừ gian này đã gây ảnh hưởng lớn cho cách mạng ở Hải Phòng và Hà Nội. Về nạn đói 1945, ông có thi phẩm “Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc”.

       Sau cách mạng Tháng Tám vì không ai mời nên Văn Cao không có trong "Văn hoá cứu quốc". Đồng chí Vũ Quý đã đưa ông đến với báo Lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Sau đó đồng chí Hà Đăng Ấn đã bố trí Văn Cao đi áp tải chuyến tàu hoả chở vũ khí và tiền Việt Nam vào cho chiến trường Nam bộ. Tàu đến Quảng Trị được chuyển giao. Bà Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam) đã tổ chức đưa tiếp vào Nam bộ. Về đến Hà Nội, cái nghiệp lại kéo Văn Cao về với âm nhạc. Thông qua Tố Hữu, Văn Cao được gặp Bác Hồ. Khí thế cách mạng đã giúp ông vượt qua được những khó khăn nhất thời. Ông lại có bộ tứ bình viết về lực lượng vũ trang non trẻ của cách mạng, đó là: “Chiến sĩ Việt Nam”, “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” và “Bắc Sơn” - Bài ca của dân quân du kích. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đưa gia đình đi tản cư, nhưng những bản hành khúc cách mạng thì nhanh chóng loang xa, loang sâu vào từng đơn vị bộ đội, từng người lính. Nó như hồi kèn thúc giục họ lên đường chiến đấu.

       Văn Cao lại có dịp về quê hương thăm mẹ già. Tại đình làng An Lễ, ông đã diễn thuyết: "Trường kỳ kháng chiến chia làm ba giai đoạn"(3). Ông đã dạy cho thanh niên trong làng học chữ, học võ, học bắn súng và hát những bài ca cách mạng. Ông còn kể cho họ nghe về hoạt động du kích và những cuộc tiễu trừ Việt gian phản động...

         Đầu năm 1947 Văn Cao đưa gia đình về Ba Thá (Chương Mỹ, Hà Đông). Sau ngày cưới vợ, theo yêu cầu của đồng chí Lê Giản, Văn Cao đã móc nối với đồng chí Minh già - Công an khu X để lên Lào Cai tổ chức phòng mật, lập ra một màng lưới để ngăn chặn gián điệp Tàu Tưởng xâm nhập vào nước ta. Theo yêu cầu của tổ chức, Văn Cao đã làm lễ kết nghĩa anh em với vua Mèo Voòng A Tưởng ở Bắc Hà. Đồng chí Trần Huy Liệu nhân danh Trung ương có mặt để chứng kiến.(4)

        Sau chiến thắng Sông Lô thu đông 1947, Văn Cao đã đến bên bờ sông lau sậy còn chưa tan khói súng sáng tác "Trường ca Sông Lô" hoành tráng, bất hủ ở chiến khu Việt Bắc.

       Sau khi được kết nạp vào Đảng (tháng 3 - 1948) Văn Cao trở về khu III công tác phong trào văn nghệ, làm báo Thủ đô của Uỷ ban hành chính Hà Nội. Cũng trong thời gian này ông viết "Làng tôi", "Ngày mùa" và đặc biệt là hành khúc trữ tình "Tiến về Hà Nội" - một dự báo trong âm nhạc về ngày giải phóng Thủ đô. Cuối năm 1949 Văn Cao thôi làm báo Văn nghệ, chuyển sang phụ trách đoàn Nhạc sĩ Việt Nam - Trưởng ban âm nhạc Vụ Văn học nghệ thuật thuộc bộ Giáo dục. Năm 1951 ông trở về Hội Văn nghệ công tác trong Ban Chấp hành hội. Ông vẫn tiếp tục sáng tác: "Tiểu đoàn Lũng Vài", "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" và "Toàn quốc thi đua". Ông vinh dự được nhận phần thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất vì có công soạn “Tiến quân ca”.

       Hoà bình lập lại (1955 - 1958) ông là cán bộ thuộc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, hội viên các hội: Nhạc sĩ, Mỹ thuật và Nhà văn - Tổng thơ ký Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Văn Cao còn trở lại với thơ, ông đã cho ra đời trường ca nổi tiếng "Những người trên cửa biển".

        Năm 1959 ông chuyển về hội Nhạc sĩ làm công tác nghiên cứu âm nhạc. Văn Cao âm thầm lặng lẽ làm thơ, lặng lẽ tự học để viết các tác phẩm khí nhạc cho Pianô như: “Sông tuyến”, “Biển đêm”, “Hàng dừa xa” và soạn nhiều nhạc phim như: nhạc phim Lửa rừng, Đi bước nữa... Với mùa xuân thống nhất đất nước, Văn Cao có "Mùa xuân đầu tiên", bài này đã được dịch ra tiếng Nga và ấn hành tại Mátxcơva. Ông lại tiếp tục làm thơ, vẽ minh họa và làm bìa sách.

         Năm 1968 thân mẫu ông, cụ Phạm Thị Nhìn (1891 - 1968) qua đời, gia đình Văn Cao đã đưa về quê an táng bên cạnh mộ người cha. Từ đó vào các ngày giỗ, tết, thanh minh ông thường cùng gia đình con cháu về thăm quê hương đều đặn hơn trước để thắp nén hương cho tổ tiên, cha mẹ và người em xấu số. Ông cũng có mặt trong buổi lễ long trọng khi xã nhà (xã Liên Minh) được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Năm 1983, sau khi tái cử trở lại là uỷ viên chấp hành hội Nhạc sĩ khoá III, Văn Cao tròn 60 tuổi, và năm đó 60 đêm nhạc Văn Cao được mở ra từ mùa xuân đến mùa thu. Ông vinh dự được nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng III. Cũng từ đó vị trí của Văn Cao được xác lập như chính những cống hiến của ông cho tổ quốc và dân tộc. Ông được mời sang Đức với danh nghĩa là tác giả Quốc ca Việt Nam. Nhạc sĩ đã đến Kentô tỉnh Pốxđam nghỉ tại nhà riêng của nhạc sĩ Henâyxlơ, tác giả Quốc ca Đức. Năm 1993 Văn Cao được vinh dự nhận Huân chương Độc lập hạng nhất - phần thưởng cao quí ở tuổi 70, phần thưởng của một đảng viên 45 tuổi đảng. Năm 1996 Văn Cao đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về cụm ca khúc: "Tiến quân ca", "Chiến sĩ Việt Nam", "Làng tôi", "Sông Lô", "Tiến về Hà Nội", "Ca ngợi Hồ Chủ tịch". Văn Cao đã về cõi vĩnh hằng, nhưng nhạc Văn Cao vẫn âm vang cùng núi sông đất nước. Văn Cao ra đi, nhưng tên tuổi và sự nghiệp, những giai điệu, những vần thơ, những bức tranh của ông sẽ mãi mãi thấm vào tâm can của người Việt Nam.

          Văn Cao thật xứng đáng là bậc tài danh thế kỷ.

------------------------------

Chú thích:

(1)         Văn Cao – Tại sao tôi viết Tiến quân ca.

(2)         Phí Văn Bài: Văn Cao với những nốt nhạc đầu.

(3)         Trần Hồng – Tình quê hương của người viết Quốc ca // Văn hóa Nam Định. – Số 1. – Tr. 55.

(4)         Nguyễn Thụ Ca – Văn Cao cuối cùng và còn lại. – Tp HCM. : Nxb. Trẻ, 1998. – Tr. 271.

 

Nguồn trích: “VĂN CAO BẬC TÀI DANH THẾ KỶ”: Thư mục nhân vật /  Trần Mỹ Giống biên soạn. - Nam Định: Thư viện tỉnh, 1998.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          NHỚ KỲ NHÂN LÊ XUÂN QUANG

 

 

           Một số bài viết trên báo và tạp chí của tác giả Lê Xuân Quang để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi hình dung tác giả là một người đạo mạo, kiểu như một giáo sư tiến sĩ với kính trắng trên mắt, ca-táp da trong tay, giày “I lích” dưới chân và đóng bộ “com-lê ca-ra-vát”... Nhưng khi được gặp tác giả trong một lần đi công tác ở xã Khánh Phú (Tam Điệp - Ninh Bình) hồi năm 1984, tôi ngẩn ra vì Lê Xuân Quang không hề giống với những gì tôi vẫn mường tượng về ông. Trước mặt tôi là ông già sáu chục tuổi, thân thể gầy gò trong bộ đồ xuềnh xoàng, cưỡi trên cái xe đạp cà tàng, trông như một lão nông nghèo khó. Tôi băn khoăn tự hỏi: “Tác giả của Bảy làng Cà, ba làng Hóp và Làng rèn Vân Chàng trên ba miền đất nước là lão nông này ư?” Duy có đôi mắt của ông cứ sáng lạ làm tôi phải chú ý. Sau mấy buổi cùng ở nhà khách xã và trò chuyện với ông, tôi bị ông cuốn hút vào thế giới lịch sử, văn hoá dân gian Việt Nam bằng vốn hiểu biết Hán - Nôm và niềm say mê nghiên cứu của ông. Từ ngày ấy, tôi trở thành người bạn nhỏ của ông. Quan hệ của ông với tôi càng gắn bó hơn từ khi tôi được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, cùng Bộ môn Nghiên cứu – Phê bình với ông.

           Kể từ ngày tôi gặp ông lần đầu, tháng một hai lần, ông đến Thư viện tỉnh Nam Định, nơi tôi công tác, khi thì trao đổi về một vấn đề mới phát hiện, khi tra cứu tài liệu, khi nộp cho Thư viện công trình nghiên cứu mà ông vừa hoàn thành hoặc tặng sách vừa được xuất bản. Lần nào đến thư viện, ông cũng đề nghị tôi đóng cho ông cái dấu cơ quan vào cuốn sổ nhật trình công tác của mình, chỉ để ghi lại những nơi ông đã đến như là một thú chơi, chứ chẳng có ai trả công tác phí cho ông.

           Quen biết ông đã hai mươi năm, nhưng mãi năm 2004 tôi mới có dịp về thăm ông tại nhà ở làng Đồng Côi, xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Nơi ông ở là cái gác xép 5 mét vuông, chật như nêm bởi sách báo, tài liệu, bản thảo, trên tường la liệt những giấy chứng nhận giải thưởng và giấy khen. Một lần nữa tôi lại băn khoăn tự hỏi: “Những công trình nghiên cứu có giá trị của nhà nghiên cứu mà tôi ngưỡng mộ được ra đời tại cái nơi ở khốn khổ thế này ư?”

          Có một vị tiến sĩ khi nói về Lê Xuân Quang đã khinh thường: “Chuông khánh còn chả ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ ao”. Thế nhưng cái “mảnh chĩnh” ấy đã được nhận cả chục giải thưởng của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và nhiều giải thưởng của một số hội, tổ chức xã hội khác.

       Lê Xuân Quang sinh năm 1924 trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cụ thân sinh là thày đồ làng, cụ tổ bốn đời là Cử nhân Tri phủ Lê Xuân Thành, một trong “Nam Chân tứ hổ” nổi tiếng hay chữ ở huyện Nam Chân. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Lê Xuân Quang chỉ được học chữ Hán hết Luận ngữ, chữ quốc ngữ tới sơ học, rồi phải vào đời mưu sinh. Để kiếm sống, ông làm mọi việc, từ làm giáo viên bổ túc văn hoá, làm ruộng, đến bán lẻ sản phẩm cơ khí. Năm 1947, ông tản cư vào Kim Sơn (Ninh Bình), tham gia Công đoàn rèn, sản xuất vũ khí cho bộ đội và du kích địa phương. Nhưng ông say mê nhất “nghề” sưu tầm, nghiên cứu lịch sử - văn hoá dân gian, cái nghề không đủ sống, càng không thể làm giàu. Ông cần mẫn lặn lội khắp nơi, lúc đầu ở trong huyện, trong tỉnh, sau đi các tỉnh bạn trên toàn quốc để tìm... hồn dân tộc. Không được học trong nhà trường đến nơi đến chốn như nhiều người khác, ông học trong trường đời. Dần dà, hiểu biết của ông cứ nhiều thêm theo năm tháng. Thời gian chuyển cư vào Hà Trung (Thanh Hoá) ông hoàn thành công trình “Từ căn cứ Nham Tràng đến chiến khu Ba Đình lịch sử”. Nhờ công việc giao dịch, mua bán ông đã đặt chân đến nhiều địa phương và miền biên giới phía Tây. Khi qua Lào ông không bỏ lỡ việc khảo sát di tích Cánh đồng chum. Năm 1954 ông hồi cư, tham gia cộng tác viên Ty Văn hoá Nam Định rồi Sở Văn hoá Hà Nam Ninh, Nam Hà, được điều động tổng kiểm kê văn hoá nhiều huyện. Ông là cộng tác viên của Viện Khảo cổ, Trung tâm hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám, Trung tâm UNIMA Việt Nam, Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Lịch sử Văn hoá Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam.

Năm 1966, Lê Xuân Quang được kết nạp vào Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, rồi hội viên các hội: Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh (nay là Nam Định). Bằng con mắt tinh đời, sớm nhận ra năng lực và lòng nhiệt tình của Lê Xuân Quang, năm 1981 quyền Chủ tịch Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Giáo sư Phạm Huy Thông đã cấp giấy giới thiệu cho ông hoạt động nghiên cứu lịch sử trong cả nước, như là một phái viên đặc biệt của hội. Từ đó, Lê Xuân Quang như được tiếp thêm sức mạnh để đi điền dã nghiên cứu và cống hiến cho đời nhiều công trình có giá trị, với bút danh Sơn Hà Khách, Bá Ngọc, Hà Tuyết, Minh Chính... Một số công trình của ông đã xuất bản, được nhận giải thưởng như: Thần tích Việt Nam đoạt Giải C Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1996, Giải C giải thưởng Nguyễn Khuyến của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Hà lần thứ 3 (1991 - 1995), Vũ Thư văn hoá và sự tích đoạt Giải C Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2001, Truyện đức Dương Không Lộ - Minh Không đoạt Giải C Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh của UBND tỉnh Nam Định (1996 - 2000), Tuyển câu đối thờ Nam Định (đồng tác giả với Dương Văn Vượng) đoạt Giải C Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998...

           Ngoài các công trình đã được xuất bản, nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang còn hàng chục tác phẩm với gần 4.000 trang chưa xuất bản nhưng đã được nhận giải khuyến khích hoặc khen thưởng của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và một số tổ chức xã hội khác như: Làng nghề truyền thống Nam Hà (1994), Sao sáng trời Nam (1995), Truyện cổ Nam Hà (1996), Hội làng và tục cổ Nam Định (1997), Văn hoá hai bên sông Đào (1998), Trò Ổi Lỗi (1999), Ninh Bình văn hoá và sự tích (1999), Hương ước Nam Định (2000), Ca khúc - Trù văn và Mục lục trong hội làng Việt Nam (2001), Tướng lĩnh và di văn, di vật đời Tây Sơn trên đất Nam Chân xưa, Danh nhân họ Vũ ở Nam Định (tập 1), Câu đối thờ Việt Nam, Phát hiện nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử qua gia phả, Dọn vườn văn sử địa…

Từ năm 1992 đến 2005, năm nào ông Lê Xuân Quang cũng có công trình nghiên cứu công bố rộng rãi hoặc nộp cho các cơ quan Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Sử học Việt Nam, Thư viện và Bảo tàng tỉnh Nam Định. Báo Nam Hà số ra ngày 19 tháng 6 năm 1992 thống kê trong 6 tháng đầu năm 1992 ông Lê Xuân Quang đã nộp cho Hội Sử học 20 tài liệu (154 trang), Hội Văn nghệ Dân gian 60 tài liệu (364 trang), Viện Sử học 36 tài liệu (191 trang), Viện nghiên cứu Hán - Nôm 8 tài liệu (50 trang), Trung tâm nghiên cứu lịch sử 23 tài liệu (169 trang).

Theo số liệu chưa đầy đủ mà Thư viện tỉnh Nam Định sưu tầm được, tác giả Lê Xuân Quang có trên 200 bài nghiên cứu được đăng trong các báo và tạp chí trung ương và địa phương.

Một số bài viết của ông mà có người gọi là “những quả bom Lê Xuân Quang” đã gây được ấn tượng mạnh trong bạn đọc. Chính ông đã phát hiện, làm sáng tỏ nửa cuối cuộc đời Trạng nguyên Trần Văn Bảo mà lâu nay lịch sử còn bỏ trống. Ông đưa ra quan điểm mới lạ trong nhận thức về “Tứ bất tử” một cách rất thuyết phục, làm chao đảo nhận thức từ trước tới nay của nhiều người về vấn đề này. Theo ông, tứ bất tử là bốn loại người: Thần, Tiên, Phật, Thánh chứ không phải là bốn người cụ thể. Ông kịch liệt phê phán một số sách viết về Bà chúa Kho trái với lịch sử của những người viết vì mục đích kinh tế. Khi tranh luận với một vị giáo sư tiến sĩ xung quanh vụ án Lệ Chi Viên, ông dùng lý luận kết hợp với thực tế lịch sử để bẻ gẫy quan điểm của đối phương. Ông lấy chân lý làm mục đích trong tranh luận, không nể nang ai. Có lúc quá lời, ông gọi người này là kẻ phá hoại, người kia là tên xuyên tạc lịch sử. Cái tính thẳng thắn, lòng say mê nghiên cứu và vốn kiến thức của ông được nhiều người yêu quý và cảm phục. Ông được lãnh đạo nhiều cơ quan, địa phương nhiệt tình đón tiếp. Chủ tịch huyện Vũ Thư (Thái Bình) Đinh Văn Thứ có lần chỉ thị cho bộ phận hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện: “Đối với bác Lê Xuân Quang, bất kỳ bác đến lúc nào cũng phải đón tiếp như thượng khách”.

Nhưng một số người có bài viết bị ông phản bác lại không ưa ông. Ông là cộng tác viên tích cực của một tạp chí ngành, nhưng mấy năm liền không thấy bài viết nào của ông trên tạp chí đó. Tôi hỏi thì ông bảo ông vẫn gửi bài nhưng không biết vì lí do gì mà tạp chí không đăng. Tình cờ, trong bữa liên hoan ở cơ sở, khi đã ngà ngà hơi men, tôi hỏi vị biên tập viên của tạp chí nọ thì anh này thật thà trả lời: “Bài của Lê Xuân Quang thường dính đến chữ Hán, em không biết chữ Hán nên không thẩm định được, tốt nhất là không đăng. Với lại Tổng biên tập của em không mặn mà với bác Quang...”! Tôi biết rõ ông Tổng biên tập này có một số bài viết bị Lê Xuân Quang phản biện gay gắt mà không “cãi” lại được. Thật may là những bài của Lê Xuân Quang bị loại bỏ ở tạp chí nọ lại được đăng báo và tạp chí trung ương.

Cách đây 5 năm, chúng tôi có đắp đôi câu đối chữ Hán ở hai cột cổng cơ quan:

Sơn Nam địa thiên niên văn hiến

Thư viện tự vạn đại lưu truyền.

Tôi khoe với ông Lê Xuân Quang. Xem câu đối xong, ông liền “dội” cho tôi “một gáo nước lạnh”:

- Hỏng! Hỏng! Đục đi ngay, không thì xấu hổ quá!

Tôi cụt hứng, hỏi vì sao thì ông giảng giải say sưa về những yêu cầu của câu đối và chỉ ra những cái dở trong câu đối của chúng tôi:

- Không thể chấp nhận việc đối chữ không chỉnh và hình thức viết câu đối ngược thế này. Phải viết vế đầu bên phải thì các ông lại viết ở bên trái. Phải viết chữ “hiến” bằng chữ nguyên thể với ý nghĩa dâng đồ cúng, nghĩa rộng là cống hiến, chứ không nên dùng chữ “hiến” giản thể là chữ ghép chữ “nam” với chữ “cẩu” do phong kiến Trung Quốc dùng miệt thị dân phương Nam ta. Chữ “lưu” với ý nghĩa kiến thức, sách vở còn lại mãi lâu đời như trong chữ “lưu tồn” hay “truyền lưu”, các ông lại dùng chữ “lưu” trong “lưu thuỷ” thì kiến thức nó chảy đi mất hết cả còn lưu được đâu. Lại còn chữ “đại” là không chuẩn, nên dùng chữ “thế” (30 năm một thế, hoặc đời cha sang đời con là một thế) để làm rõ sự truyền lưu sách vở từ đời này qua đời khác.

Nghe ông phê phán như thế, tôi nóng cả mặt. Sau bình tĩnh lại, tra cứu từ điển Hán - Việt và tham khảo một số sách tiếng Hán thì thấy phần nhiều ông “nói có sách” cả. Tôi vốn rất ham học nên không những không giận, mà còn yêu quý ông hơn. Không chỉ tôi yêu quý ông, mà đông đảo bạn đọc và đồng nghiệp cũng yêu quý và cảm phục ông, bằng chứng là có khá nhiều bài ca ngợi ông trên báo và tạp chí như: Xưa và Nay số 12 - 1995, Đại đoàn kết 13 - 3 – 1999, Lao động số 28 – 2005, An ninh thế giới, ngày 4 – 5 – 2005, Hà Nam số Xuân 2005, Bưu điện Việt Nam số 12 – 2005, Khoa học và đời sống số 14 – 2006, Nông nghiệp Việt Nam số 20 – 2005, Lao động xã hội số 45 - 2005, Công an nhân dân số 201 – 2005, Nông thôn ngày nay 2005, Bảo hiểm xã hội số 37 – 2005 ... Năm 1999, Đài VTV3 Truyền hình Việt Nam dành cả một chương trình “Cây cao bóng cả” nói về ông với tiêu đề “Người khơi nguồn văn học dân gian”.

Khi ngoài 80 tuổi, sức khoẻ giảm sút, nhưng ông vẫn không thể bỏ thói quen đạp xe đi sưu tầm nghiên cứu. Bình quân 4 năm (2001 – 2004), mỗi ngày ông đi tới 30 km. Báo Nhân dân số ra ngày 1 – 10 - 1960 có in bài thơ của Bác Hồ (ký tên là T.L.):

Càng già, càng dẻo lại càng dai

Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai

       Đôn đốc con em làm nhiệm vụ

Vuốt râu mừng xã hội tương lai.

Ông Lê Xuân Quang có bài hoạ được đăng trong Tạp chí Đông Nam Á, Văn hoá Hà Nam, Khoa học Công nghệ và Môi trường Nam Định như sau:

Càng già gân sức lại càng dai

Xông xáo việc đời có kém ai

Ra sức phát huy tuỳ nghiệp vụ

Góp phần xây xã hội tương lai.

Thường người ta về già thì “Lão giả an chi” (Người già nhàn hạ nghỉ ngơi), nhưng nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang đúng là “Lão đương ích tráng” (Càng già càng dẻo càng dai).

Thầm trong lòng, tôi cầu nguyện cho ông sống trăm tuổi, để ông cống hiến nhiều hơn cho xã hội, để ông cùng cái xe đạp tàng tiếp tục cuộc hành trình đi và viết, để ông ghi tiếp vào nhật trình công tác của mình những kilômét mới mà hiện tổng cộng số kilômet ông đi đã bằng quãng đường hai vòng trái đất...

                                                   ***

Đầu thu 2006 đang khi tôi đi công tác dài ngày, bốn năm lần ông thuê xe ôm lên tìm tôi. Hẳn ông có chuyện quan trọng đây. Nghĩ thế, tôi vội xuống thăm ông, nhưng ông lại vừa được nhà thơ Phạm Trọng Thanh đưa ra Nam Định cắt thuốc nam chữa bệnh. Hôm sau ông lại thuê xe ôm ra Nam Định, đề nghị tôi thu xếp cho ông được giao toàn bộ bản thảo các tác phẩm của ông cho Thư viện tỉnh lưu giữ.

Khi ông bệnh trọng, tôi vào thăm. Ông chỉ còn da bọc xương, cổ chân phù lớn, mắt vàng như nghệ, nói không rõ tiếng. Con dâu ông chỉ vào tôi hỏi ông: “Ông có biết ai đây không?” Ông gật gật đầu, phát âm phều phào: “Gi…ống, Gi…ống” (Giống, Giống). Ông chỉ lên giá sách nói đi nói lại điều gì đó mà tôi không sao hiểu được. Cô con dâu “phiên dịch”: “Ông cháu bảo ông Giống lấy hết sách vở đi, hoặc thiếu cái gì, cần cái gì thì lấy đi”. Tôi không nhắc gì đến việc ông muốn giao toàn bộ bản thảo và tác phẩm của mình cho thư viện lưu giữ, vì được biết anh con cả của ông có nguyện vọng gìn giữ tài sản của cha.

Nhờ con dâu đỡ dậy, ông gắng sức kí vào cuốn Thần tích Việt Nam tập 3 vừa in xong để tặng tôi. Tôi giơ hai tay trân trọng đỡ cuốn sách có chữ kí kỉ niệm cuối cùng của ông. Hai tuần sau, ngày 23 – 11 – 2006, ông qua đời trong niềm tiếc thương sâu sắc của nhiều đồng nghiệp và bạn đọc. Tôi hụt hẫng vì mất một người bạn lớn, một đồng nghiệp yêu kính.

Mới đấy mà đã 5 năm nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang về cõi vĩnh hằng. Đọc lại các tác phẩm của ông, tôi bồi hồi thương nhớ người bạn văn có cốt cách tùng bách mà nhiều nhà báo gọi là “Vị giáo sư nông dân”, “Người kỳ lạ”. Sau khi ông qua đời hơn một năm mà tờ Kinh tế & đô thị số ra ngày 21 tháng 12 năm 2007 vẫn còn đăng bài “Trò chuyện với đại giáo sư Lê Xuân Quang” dạng phỏng vấn. Thế mới biết cốt cách của ông có ảnh hưởng đến bạn viết sâu sắc biết nhường nào. Lại nhớ lần tôi có bài thơ in trên tạp chí viết về ông có câu “Đi vạn dặm, viết nghìn trang”, ông “phê bình” tôi là viết chưa chính xác, ông đã viết trên một vạn trang chứ không phải chỉ nghìn trang và đề nghị tôi sửa lại. Tôi nghĩ là ông tư duy khoa học, còn đây là... thơ nên lần khân không chỉnh sửa. Khi ông quy tiên rồi, tôi cứ tự trách mình cố chấp. Giá như tôi sửa ngay câu thơ để ông vui. Nhưng đã lỡ rồi. Tôi thầm gọi: Bác Quang ơi, bây giờ em sửa lại câu thơ ấy đây, coi như đó là một nén tâm nhang thành kính tưởng nhớ bác:

       Đất trời linh khí giao hoà

Trăm năm sinh một ông là kỳ nhân

       Đi muôn dặm, viết vạn trang

Một đời gạn đục khơi trong cho đời.

 

 Thành Nam, 11 - 2011

 

       Nguồn: Văn nghệ trẻ. – 2005. - Số 35+36 ngày 28 – 8.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                       KỶ NIỆM NHỎ VỀ

NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN VĂN HUYỀN  

 

 

       Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền (6/1/1930 – 2003) bút danh Võ Hoàng, Mai Thanh, Lê Vũ Hoàng. Quê xã Yên Tân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.  Ông là Đảng viên Đảng CSVN, nhiều năm dạy học, thành viên Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, nguyên Ủy viên thường vụ (khóa 1), Ủy viên thư ký (khóa 2), Trưởng Bộ môn Nghiên cứu Phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh, tỉnh Nam Hà.

      KHEN THƯỞNG:

      - Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp VHNT Việt Nam1995. - Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến lần I (1985), lần II (1990), lần III (1995).

     TÁC PHẨM CHÍNH

  - Phạm Thận Duật cuộc đời và tác phẩm (H. : Khoa học xã hội, 1991).  - Thơ văn Bùi Kỷ (H. : Khoa học xã hội, 1994).  - Nguyễn Khuyến tác phẩm (1984).  - Thơ văn Phạm Văn Nghị (H.: Khoa học xã hội, 1979).  - Tú Xương tác phẩm và giai thoại (Chủ biên). (Hà Nam Ninh: Hội Văn học Nghệ thuật, 1986).  - Văn học yêu nước và cách mạng (Hà Nam Ninh: Hội Văn học Nghệ thuật, 1986).  - Thơ văn yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh (Chủ biên) (1982).  - Truyện Trạng Lợn (1987).  - Liêu trai chí dị (Dịch, in chung 1989)…

 

       Vẫn biết rằng một ngày không xa, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền sẽ qua đời vì tuổi cao, bệnh trọng đã lâu, nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi nghe tin bác mất. Vài kỷ niệm về bác sống dậy trong tôi.

       Khi thấy báo Nam Hà số Xuân Ất Hợi 1995 được trưng bầy trong Nhà triển lãm tỉnh có đăng bài “Những vị đại khoa của đất Nam Hà” (không đề tên thật tác giả mà chỉ ghi là PV), tôi háo hức đọc vì nội dung bài báo trùng hợp với đề tài nghiên cứu “Các nhà khoa bảng Nam Hà” mà tôi đang thực hiện. Nhưng đọc hết bài báo, tôi cảm thấy rất thất vọng vì những nhầm lẫn không thể chấp nhận trong bài báo về tên tuổi, quê quán, học vị của các vị khoa bảng Nam Hà. Gọi điện sang tòa báo Nam Hà, tôi được anh Khang (Phó tổng biên tập) cho biết tác giả của bài báo là nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền. Tôi lấy làm ngạc nhiên và không tin là một nhà nghiên cứu nổi tiếng như bác Nguyễn Văn Huyền lại “lẩm cẩm” đến nỗi đưa ra công bố trên báo chí một bài viết thiếu chính xác  đến vậy.

        Chuyện bài báo tưởng cũng qua đi như nhiều trường hợp khác. Nhưng thật bất ngờ, chính bác Huyền chủ động tìm gặp tôi thanh minh rằng bài viết của bác bị biên tập viên báo sửa chữa làm sai lệch nhiều so với bản thảo. Nhân tiện bác tặng tôi hai bản sao bản thảo bài viết của bác để làm tài liệu tham khảo và cũng để chứng tỏ là bác nói đúng sự thật.

        Tôi cứ băn khoăn tự hỏi: tại sao một nhà nghiên cứu có tên tuổi như bác lại phải cẩn thận thanh minh với một người bình thường như tôi về một việc nhỏ như vậy. Được tiếp xúc với bác, sau này tôi mới hiểu: Việc làm của bác chỉ có thể có ở một người rất khiêm tốn, có trách nhiệm cao với bạn đọc. Trong thực tiễn có không ít những bài viết sai sót nhưng không mấy ai lo chuyện đính chính. Tôi càng quý phục bác Nguyễn Văn Huyền vì bác là người cầm bút có trách nhiệm.

        Cả Thư viện tỉnh, ai cũng biết bác là một độc giả trung thành, tích cực. Khi khỏe bác đi xe đạp, lúc yếu bác nhờ con cháu đưa đi hoặc đi xích lô tới phòng đọc. Nhiều lần trèo lên bậc tam cấp, bác run rẩy như sắp ngã, phải nhờ người đỡ lên xuống. Thấy bác ham đọc như thế, chúng tôi rất cảm động.

        Từ sau sự kiện được bác Huyền gặp gỡ trao đổi về bài báo của bác, tôi có nhiều dịp được nghe bác chuyện trò. Thấy tôi ham nghiên cứu về danh nhân quê hương, bác khuyến khích động viên và cung cấp cho tôi những tư liệu bác đã nghiên cứu trước, giúp tôi tiết kiệm nhiều thời gian và công sức. Có lần bác bảo tôi:

        - Ông làm công tác địa chí nên cần phải học Hán – Nôm.

        Bác thường gọi tôi bằng đại từ “ông” như thế. Tôi thật tình thưa với bác:

        - Cháu tuổi đã ngoài bốn mươi, học không vào nữa, mà có học thì biết tìm thầy ở đâu…

        Bác Huyền bảo:

        - Tự học thôi ông ạ. Trước tôi có biết Hán – Nôm đâu. Có việc là phải nhờ ông Dương Văn Vượng, chuyên gia Hán – Nôm của Bảo tàng tỉnh dịch hộ. Tôi cứ kiên trì tự học. Thế rồi “kiến tha lâu cũng đầy tổ” thôi. Bây giờ tôi cũng tự dịch được rồi.

        Có lần bác khuyên chúng tôi:

        - Các ông có trong tay kho tư liệu lớn thế này mà không khai thác thì tiếc quá. Nếu chưa có điều kiện nghiên cứu sâu thì các ông làm công trình về diện vậy, chẳng hạn như nghiên cứu về đội ngũ tác giả Hán – Nôm của tỉnh ta…

        Theo gợi ý của bác Huyền, tôi quyết tâm chọn nghiên cứu một số đề tài trong đó có đề tài “Tác giả Hán - Nôm Nam Định thế kỷ XI – thế kỷ XX”, tập hợp được trên hai trăm tác giả. Năm 2000 đề tài này được anh Hoàng Dương Chương, giám đốc Thư viện tỉnh Nam Định lấy làm cốt cho đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu hệ thống đặc điểm đội ngũ tác giả Hán – Nôm Nam Định từ thế kỷ X đến thế kỷ XX”. Năm 2002 đề tài được Hội đồng nghiệm thu của tỉnh đánh giá đạt loại xuất sắc.

        Bẵng đi một thời gian không thấy bác Huyền đến thư viện. Nghe tin hồi này bác hay ốm đau. Rồi một hôm bỗng thấy bác đi xích lô chở theo 20 cặp tài liệu bản thảo đến thư viện. Lúc này bác đi lại đã rất khó khăn. Chúng tôi dìu bác lên tầng hai phải mấy lần dừng để bác nghỉ. Bác vừa thở hổn hển vừa trình bầy nguyện vọng:

        - Tâm nguyện của tôi là cống hiến cho đời những thành quả lao động của mình. Tôi tuổi đã cao, sức yếu rồi, chẳng biết sống chết ngày nào. Tôi xin nhờ Thư viện tỉnh bảo quản và phục vụ những ai cần tham khảo những bản thảo viết tay của tôi, trong này có cả những công trình chưa có điều kiện in ấn hoặc còn chưa hoàn thiện…

        Chúng tôi xúc động đến lặng người khi tiếp nhận những bản thảo mà bác đã cả đời lao tâm khổ tứ nghiên cứu.

        Không lâu sau, nghe tin bác ốm liệt giường, chúng tôi đến thăm thì bác không còn nhận ra ai nữa.

        Bác Nguyễn Văn Huyền đã ra đi, nhưng hình ảnh một bạn đọc tiêu biểu của thư viện, một nhân cách tốt đẹp của người cầm bút vẫn còn sống trong tâm khảm chúng tôi. Chúng tôi tự đặt cho mình một trách nhiệm: Phải sưu tầm tập hợp các tác phẩm, hệ thống lại các bản thảo chép tay của bác, nhằm lưu giữ lâu dài di sản văn hóa quý của một nhà nghiên cứu tâm huyết của tỉnh ta. Các tác phẩm, các bản thảo thể hiện đầy đủ, chính xác quá trình tư duy của bác còn lại mãi mãi với bạn đọc. Và như thế, nhà nghiên cứ Nguyễn Văn Huyền vẫn còn mãi bên chúng ta.

………………..

 

* Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr. 37 - 38.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                    HỌA SĨ HỒ Y

                              (1932 – 2017)

 

 

          Họa sĩ Hồ Y tên thật là Vũ Như Hồ Y, sinh năm 1932, mất 3-5-2017. Họa sĩ quê ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; Trú tại 29 Nguyễn Trãi, thành phố Nam Định. Ông là Hội viên Hội VHNT tỉnh Nam Định từ 1977. Ông đã được tặng: Huy chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam, Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến (khuyến khích) 1981 – 1985.

          - Tác phẩm chính:

       + Artist Hồ Y. – H.: Văn hóa – Thông tin, 2006. - 55 tờ; 21cm.

       + Hồ Y vẽ và viết (2016)

 

          Họa sĩ Hồ Y xuất thân trong một gia đình có nhiều người tài, ở xã Bái Dương nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt. Ông là hậu duệ của cụ Cử nhân Vũ Trọng Uy văn võ song toàn. Hai người anh em ruột của ông là nhà báo lão thành cách mạng Như Đàm, nhà thơ nổi tiếng Hải Như. Hồ Y tham gia cách mạng, nhiều năm làm công tác báo chí tuyên truyền của Nhà máy Dệt Nam Định.

          Là một họa sĩ không được qua trường lớp chính quy nào, chỉ bằng con đường tự học mà thành tài, Hồ Y phải phấn đấu, rèn luyện gian khổ hơn nhiều các họa sĩ khác. Vì vậy, ông không bị lệ thuộc vào trường phái nào, không mấy quan tâm đến kỹ xảo, mà chủ yếu bằng năng khiếu, lòng say mê hội họa, hồn nhiên vẽ tranh theo cảm xúc thăng hoa của chính mình. Xem tranh của ông, ta nhận ra một phong cách riêng rất gần gũi với dân gian mà không mấy họa sĩ có được.

       Ông vẽ nhiều nhất về các phố cổ thành phố Nam Định nơi ông sinh sống và những nhân tài của quê hương Nam Định. Chiêm ngưỡng các bức vẽ về phố cổ thành Nam, tôi cảm nhận rõ tình yêu con người và mảnh đất quê hương của ông tha thiết biết nhường nào. Cảm ơn họa sĩ Hồ Y đã cho chúng ta những hình ảnh xa xưa của lịch sử, những tranh vẽ phố cổ lưu giữ hồn thành Nam. Nếu như Hà Nội có “phố Phái” thì chúng ta có quyền tự hào Nam Định có “phố Hồ Y”.

          Thường vẽ chân dung, họa sĩ cố gắng vẽ sao cho giống người thực, càng giống càng tốt. Nhưng họa sĩ Hồ Y không đi theo con đường mòn ấy. Ông tìm cho mình con đường riêng. Đó là thể hiện chân dung qua hình tượng, biểu tượng. Người xem tác phẩm chân dung của Hồ Y phải có hiểu biết nhất định về nhân vật mới cảm thụ hết cái hay, cái sâu xa, cái đẹp của tranh.

       Nam Định một thời nổi tiếng về đóng thuyền xi măng lưới thép, đáp ứng kịp thời công việc vận tải phục vụ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họa sĩ Hồ Y là người duy nhất ghi lại được sự kiện lịch sử đặc biệt của Nam Định bằng bức tranh “Đóng thuyền xi măng lưới thép”. Tranh đã được nhà nước mua về lưu trữ ở Viện bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.

          Sau khi tôi giới thiệu chân dung Hồ Y lên trang blog cá nhân, như một phản ứng dây truyền, gần hai chục trang điện tử, báo và tạp chí giấy, đài truyền hình trung ương và đài địa phương lần lượt đưa tin về Hồ Y. Nội dung các bài viết về Hồ Y đều đồng thuận công nhận đóng góp của ông cho nền mỹ thuật nói chung và cho thành Nam nói riêng. Đặc biệt, báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam và báo Đảng của Nam Định cũng có bài cùng quan điểm như vậy.

          Với những đóng góp cho cách mạng và cho nghệ thuật hội họa của mình, ông xứng đáng được nhận những giải thưởng cao quý. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi biết ông chưa được nhận một giải thưởng chính thức nào của tỉnh (không kể một giải khuyến khích). Tôi có lần tỏ ý băn khoăn về việc đó, thì ông ôn tồn bảo: “Đối với tôi, được bạn đọc, người xem tranh yêu quý và nhớ mãi tác phẩm của mình đã là phần thưởng cao quý hơn mọi giải thưởng rồi.”

          Những năm cuối đời, tuy tuổi cao sức yếu, họa sĩ Hồ Y vẫn miệt mài sáng tác tranh và viết bài cho blog Trần Mỹ Giống. Chiều chiều họa sĩ vẫn dắt chiếc xe đạp (chứ không cưỡi) đi thăm thú bạn bè, cũng là tập thể dục cho khỏe. Như vừa mới hôm qua, ông dắt xe đạp đến nhà tôi, đàm đạo văn chương hội họa một lúc, rồi lại dắt xe về. Vậy mà, chỉ ốm nằm viện mấy ngày, bạn bè cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật chưa ai biết, ông đã vội ra đi.

          Thương tiếc tiễn biệt họa sĩ Hồ Y về cõi vĩnh hằng, chúng tôi tin rằng những sáng tác của họa sĩ, đặc biệt là những bức tranh phố cổ thành Nam sẽ còn sống mãi trong lòng người Nam Định yêu quê hương xứ sở. Chợt nhớ tới hai câu thơ đề từ của tôi dưới bức chân dung tự họa của họa sĩ Hồ Y, ngẫm ra thật đúng với cuộc đời và sự nghiệp của ông:

          Tự học thành tài danh lặng lẽ

          Thành Nam còn mãi “phố Hồ Y”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       NHÀ THƠ TRẦN HÙNG THẮNG

 

       Nhà thơ Trần Hùng Thắng, bút danh Hoài Ngọc Anh, sinh năm 1942, quê xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Ông là hậu duệ của Tả Hãn Tướng Quân. Tả Hãn tướng quân là cụ Trần Bá Khoản (tức Nghiễm) quê làng Trà Lũ. Cụ có sức khỏe hơn người, lại tinh thông võ nghệ. Cụ thường sử dụng thanh đao to bằng tàu lá chuối có cán bằng sắt luyện, hai người mới khênh nổi. Năm 1740 Trịnh Doanh thân chinh mộ quân đánh dẹp khởi nghĩa Ngân Già. Cụ ứng mộ lập công lớn được phong Đô chỉ huy đồng tri cai hãn tả hùng hữu đẳng trung tiệp, kiêm chỉ huy đội thuyền tráng tiết tướng quân Nghiễm trung hầu, quan võ tứ phẩm triều Lê, giữ chức thủy quân tứ cơ. Khi cụ giải giáp về quê, gia tư có hàng chục vạn. Dân gian có câu “Đệ nhất Thiêm Kì, Đệ nhì Hãn Tả” nói về sự giàu sang của cụ. Cuối thời Lê, kho nhà nước trống rỗng, triều đình quyên góp các xã, Trà Lũ phải nộp 80 vạn quan tiền. Cụ bỏ của nhà ra nộp thay dân làng. Hiện nay còn đền thờ quan Tả Hãn ở xã Xuân Trung (Xuân Trường – Nam Định). Con cháu cụ đều theo ngạch võ như: con trai cụ là Trần Đình Thạc làm Tham đốc vũ huân tướng quân, tước Trọng Nghĩa hầu; Cháu cụ là Trần Đình Lãm làm Đô chỉ huy sứ; Chắt, chút cụ có nhiều người đỗ Tú tài...

       Năm 1949 đến 1955 Trần Hùng Thắng theo gia đình tản cư vào Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Bạn học tuổi thơ của ông nhiều người thành đạt như PGS TS Nguyễn Lương Tiểu Bạch, Đại tá họa sĩ Đinh Quang Tỉnh, Đại tá nhà phê bình Hồng Diệu… 

       Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội khóa 9. Bạn cùng lớp với ông ngày ấy nhiều người thành đạt như PGS TS Nguyễn Trọng San, TS Chí Hùng, Nhà nghiên cứu lịch sử Phan Duy Kha, nguyên Thứ trưởng GS TS Đặng Hùng Võ, Nhà văn Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu,...

       Thời trẻ ông đã bộc lộ năng khiếu hội họa, thể thao. Các môn điền kinh, bóng chuyền, bơi lội ông tham gia nghiệp dư đều đạt thành tích đáng khen. Năm 1960 ông tham gia cuộc thi bơi vượt sông Đào đoạn dài 5000 mét về đích tốp đầu. Ông từng nhảy cao qua xà 1,8 mét và được tặng huy chương cá nhân.

       Ra trường, năm 1967 ông về công tác tại Tổng cục Vật tư (sau là Bộ Vật tư, nay là Bộ Công thương). Năm 1969 ông tham gia thi công công trình B12 (Đường ống dẫn dầu từ Quảng Ninh về Hà Nội) cùng chuyên gia Liên Xô. Sau đó ông từng tham gia xây dựng các công trình kho dầu sân bay Nội Bài, Kho vật tư Thanh Hóa, Sơn La, Lạng Sơn, Tổng kho H101, H102, H204, A315, A318, A320…

       Ông từng tham gia thiết kế trưng bày tại các khu triển lãm sáng kiến của các cơ quan trung ương (1972), Khu triển lãm quốc gia Vân Hồ (1980), Triển lãm tại Văn phòng Bộ Vật tư, Khu triển lãm thành phố Nam Định, Triển lãm trưng bày Phòng truyền thống Cấp 3 Xuân Trường kỷ niệm 40 năm ngày thành lập (2001)… 

       Năm 1977 ông xây dựng gia đình. Vợ ông là một y tá Bệnh viện tỉnh Nam Định. Ông có hai con, một trai, một gái đều tốt nghiệp đại học, công việc ổn định. Thập niên 80 thế kỷ trước, tình hình kinh tế khó khăn, vợ chồng ông ở đôi nơi càng thêm khó khăn. Sau vụ ông viết văn theo phương pháp hiện thực phê phán bị người ta gây khó dễ, ông đã bỏ về sống với gia đình, theo đuổi nghiệp thơ văn.

       Trong những năm sống ở Hà Nội, ông quan hệ bạn bè khá rộng rãi. Ông thường lui tới nhà hát kịch giao lưu với các văn nghệ sĩ như Mạnh Linh, Trọng Khôi, Đoàn Dũng, Thanh Tân, Nguyệt Ánh… Một lần ông cùng bạn bè tụ tập ở phòng ông Song Thương (Biên tập viên Đài truyền hình Việt Nam gồm các nghệ sĩ Trọng Khôi, Nguyệt Ánh NSND, NS Thanh Tân, đạo diễn Doãn Hoàng Giang, nhà biên kịch Ngọc Chanh, Song Thương, Văn Ngạn Phó ban biên tập Đài TNVN), mọi người thống nhất mỗi người phải thể hiện năng lực của mình. Thanh Tân thể hiện vai ông gác rừng say, Nguyệt Ánh nhảy “thoát y” trong vai Ni na vở  Cậu bé đánh trống trận, Trọng Khôi – kẻ điên đốt đền, Ngọc Chanh – tên tướng cướp (sau đổi thành Tình yêu và tội phạm)… Đến lượt mình, Trần Hùng Thắng ứng khẩu đọc bài thơ vui nhắc tên những người có mặt trong cuộc hội ngộ.

HẠNH NGỘ VĂN NGHỆ SĨ

              Ni Na Nguyệt Ánh thoát y

       Doãn Hoàng Giang có chạy đi đằng trời

              Trọng Khôi đền đốt tả tơi

       Song Thương, Văn Ngạn nổi trôi màn hình

              Ngọc Chanh tướng cướp đa tình

       Thắng thua ai tỏ chuyện mình với ta…

       Thời gian này ông thường hay buổi tối ngồi lều của nhà văn Phùng Quán (trong nhóm Nhân văn giai phẩm) bên Hồ Tây. Phùng Quán nổi tiếng “Văn chui, rượu lủi, cá trộm”. Sau khi đi cải tạo về, gặp nhiều khó khăn, để thêm thu nhập, Phùng Quán phải nhờ nhà thơ Tế Hanh đứng tên sáng tác của mình mới được ra mắt bạn đọc. Một đôi lần ông đến thăm nhạc sĩ Văn Cao. Đến nay ông vẫn còn tiếc là ngày ấy không chú ý ghi chép nhiều tình tiết về nhạc sĩ. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng bảo: Văn Cao là nhạc sĩ sáng tác quốc ca trên thế giới duy nhất còn sống. Sau này những chuyện về ông sẽ đắt như tôm tươi.

       Từ ngày ông về sống ở thành phố Nam Định, chẳng ai biết ông là Kỹ sư, mà quen gọi ông là Họa sĩ, Nhà thơ. Ông chơi thân với nhạc sĩ nhà giáo Nguyễn Hữu Thắng cùng phố Hoàng Văn Thụ. Sau khi báo Nam Định đăng bài “Giáo viên nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng” của ông, bà chị ông Nguyễn Hữu Thắng là Việt Kiều sống ở Pháp về, mới biết hoàn cảnh cơ cực của em mình mà mua cho Nguyễn Hữu Thắng ngôi nhà ở Hà Nội. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng nổi tiếng với ca khúc Không ai ngăn nổi lời ca. Qua nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng, ông quen biết và giao lưu với giới văn nghệ sĩ Nam Định như Chu Văn, Kim Ngọc Diệu, Vũ Quốc Ái, Phạm Như Hà, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Kỳ, Đức Miên, Minh Đoan, Thanh Hòa, Nhật Tân…

       Sau lần gặp nạn do viết truyện ngắn theo phương pháp hiện thực phê phán, ông không viết truyện nữa, chỉ sáng tác thơ. Tuy nhiên, ông vẫn ẩn danh chấp bút hồi ký cho bạn bè. Nhiều sáng tác thơ văn của ông đã đăng các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Người Hà Nội, Đại đoàn kết, Người cao tuổi, Cựu chiến binh, và nhiều tạp chí…

       Một lần bù khú với bạn bè về chủ đề “Đầu đường thiếu tá bơm xe / Cuối đường đại tá bán chè đỗ đen” ông đã ứng khẩu:

       Nhạc công lạc vật phỏng tay

Úy tá rời trận ra ngay vỉa hè

       Bà giáo ngồi ôm nồi chè

Công nhân máy Dệt đêm về thêm ca

       Một lần sáu ông bạn “buôn dưa” tại dinh Nhà giáo Trần Đình Thi ở cạnh ga tàu Nam Định, theo yêu cầu của bạn, ông đã đọc sáu câu thơ ghép tên của mỗi người theo vòng tròn mà ông là người sau cùng:

       Sáu thầy xơi cô Thi ca

Minh Đoan nhấp nhổm vào ra mấy lần

       Thắng điếc ham “Dệt mùa xuân”

Khiến ông Xuân Huấn dương cần nhảy ngay

       Đức Miên nửa tỉnh nửa say

Thắng thua chưa tỏ, việc này chửa xong.

       Hiện ông sống cùng bà kế ở quê. Ông lấy việc thăm thú bạn bè, xướng họa thơ ca... làm vui.

       Trước đây, có lần Chu Văn - Chủ tịch hội Văn nghệ tỉnh, mời ông tham gia hội nhưng ông từ chối vì muốn được tự do sáng tác chứ không chịu phụ thuộc vào tổ chức nào. Tác phẩm chính của ông là tập thơ “Trầu một lá”, ngoài ra còn hàng trăm bài đăng tạp chí và in trong nhiều tuyển thơ như “Hành Thiện tự ngàn xưa”, “Giáo sư Vũ Khiêu trong vòng tay bạn bè”, “Vũ Khiêu và bè bạn”, “Tuổi cao nêu gương sáng”, “Một thoáng Xuân Hương”, “Thi đàn truyền thống Việt Nam”, “Tuyển thập Đường thi”...

          Mảng thơ nổi nhất của ông là thơ tình. Thơ ông khi buồn não nuột, lúc say đắm dâng trào, có lúc như biển cả bão tố, có khi êm đềm dịu ngọt, sâu lắng như nước hồ lặng gió...

       Nhân đây chép ra mấy bài thơ của ông đã đăng tạp chí:

 

TRĂNG NON THÔN NỮ

 

       Ngọc ngà trăng dãi cầu cao

Hàng cây nghiêng ngả, lao xao ngỡ ngàng

Dậu thưa thấp thoáng mơ màng

Trời xanh hé mở khuôn vàng nghiêng soi

Dại ngây chết đứng giữa trời

Trăng non thôn nữ, bóng người cầu ao.

 

THĂM VƯỜN

 

Vườn em lâu vắng người chăm bón

Đâu ngỡ thu này anh ghé thăm

Cỏ lác um tùm không xén tỉa

Thiếu mưa đất xốp cũng khô cằn.

 

Tay mới lướt qua đám cỏ gà

Gặp màn sương phủ phía bờ xa

Cung đàn năm ngón: Mây vờn núi

Nước bỗng tràn khe đẫm suối hoa.

 

Hoa trái đung đưa khéo đón mời

Mới vừa chạm lưỡi đã mê ngay

Thỏa thê tận hưởng xua cơn khát

Uống mãi ngàn đời chẳng hết say.

 

       VŨ KHÚC TÌNH YÊU

 

Chiếc lá chắn cuối cùng buông rơi

Vòm trời chao đảo

Nhật, nguyệt nhận trao

Sóng cồn vũ bão

 

Sừng sững tượng đài

Sương dầm đảo xa

Những âm thanh đứt quãng, nguyên sơ

Nhành liễu rủ

 

Trời xanh lửng lơ

Không gian chìm

Bão qua, biển thở

Gió lặng rừng già

 

Hoa khép sườn non

Khúc giao hoan đời đời thao thức

Trái đất trường tồn

Vũ khúc tình yêu.

 

 MÁI TRƯỜNG KHÔNG TIẾNG TRỐNG

 

Mái trướng ấy không hề vang tiếng trống

Máy bay thù quần đảo suốt ngày đêm

Không ghế không bàn, trơ trọi tấm bảng đen

Lũ học trò nghèo dong đèn, đeo sách, bàn đến lớp.

 

Đứa ngoài khu Ba, đứa trong khu Bốn

Dưới mái đình thiêng* ươm con chữ chuyên cần

Tan học về buồn ngủ díu bước chân

Bụng sôi cồn cào, mắt hoa đom đóm

Cơn mưa đầu mùa ào ào ập xuống

Mấy mái đầu che tạm manh áo tơi

Cô bạn tôi trượt ngã, sách, bàn rơi

Mặt dính đầy bùn, ngượng ngùng chữa thẹn

Mắt bồ câu ngày thường lúng liếng

Sấm giật lưng trời sợ hãi nép vào tôi.

 

Tiếng súng ngừng, mỗi đứa mỗi nơi

Người trở lại quê hương, người ngược ra Hà Nội

Cuộc sống bộn bề chẳng mấy ai nghĩ tới

Về ngôi trường không trống giục, ánh đèn dong.

Đã xa rồi những năm tháng chiến tranh

Lớp học trò xưa nay đã lên ông, lên cụ.

Ông kỹ sư già bàng hoàng gặp lại người bạn cũ

Trước mắt mình, nữ nhà giáo tóc bạc phơ

Sâu thẳm đáy lòng đánh thức hồn thơ

Họ bên nhau nhớ về cơn mưa đầu mùa

Và ngôi trường không tiếng trống.

                                 Thu 2018

…………….

       * Hồi kháng chiến chống Pháp, để tránh máy bay địch bắn phá, các lớp học ở vùng tự do được tổ chức vào ban đêm. Học nhờ trong các đình, đền cổ. Học sinh đến trường phải mang theo sách, đèn và bàn học. Bàn cá nhân đóng theo kiểu ghế cắt tóc. Hộp ghế đựng sách kẹp bởi chân vào mặt bàn.

 

        LỜI THỀ CON SÁO 

 

Sóng xé nát trăng thề thành mảnh vụn

Gió thét gào dồn nén mây trôi

Tình lang thang

Sóng nước đầy vơi

Ta lạc giữa đường đời ôm mộng ảo

*

Vẫn còn đây!

Lời thề con sáo

Hoa phượng bay nhuộm đỏ sân trường

Nụ hôn đầu đời

Tình bước sang trang

Bàn tay dại ngây thấu mùi da thịt

Ánh mắt nụ cười nồng say ngây ngất

Trời đất sững sờ thời khắc cũng ngừng trôi

Ánh trăng thề ngọt lịm làn môi

Nguyện bên nhau:

Tới cùng trời cuối đất.

*

Không gian nhạt nhòa

Bình minh vụt tắt

Ánh trăng thề vỡ nát giữa trời xuân

Ta về đây!

Nhẹ bước chân trần

Biết bao cánh chim bay

Sau mỗi mùa phượng nở

Lớp lớp học trò

Sớm chiều hớn hở

Lại thêm những chuyến đò “Lỡ bước sang ngang”

Những dở hay phía trước con đường

Thất bại, thành công nào ai biết trước

Hãy chấp nhận những gì ta có được

Quy luật cuộc đời:

Gió cuốn phượng bay.

              Mùa phượng 2018

 

              GIÁ MÀ

Giá mà mình chẳng gặp nhau
Thì sao có được thương đau tháng ngày
       Giá mà rượu uống chẳng say
Đời còn đâu nữa những ngày nhớ thương
       Giá mà buổi ấy tới trường
Guốc em đừng đứt giữa đường gặp anh
       Giá mà biển chẳng còn xanh
Đất lành đâu dễ hoá thành sông sâu
       Giá mà cau chẳng cần trầu
Tình yêu trai gái còn đâu đến giờ
       Giá mà tình đẹp như mơ
Thì anh đâu có câu thơ - Giá mà...

 

ĐỢI

 

       Hôm qua em đến phòng anh
Giường đơn thay ghế chân thành mời em
       Ngoài trời thấp thoáng trăng lên
Trong phòng anh có trăng em dọi vào
       Mới nghe tiếng nói ngọt ngào
Tim anh run rẩy trăng nào có hay
       Xin đừng như cánh chim bay
Như làn gió thoảng chiều nay qua thềm
       Ước gì đời mãi bên em
Chăn đơn đỡ lạnh những đêm gió lùa
       Em về trời lại đổ mưa
Sương nhoà lối vắng canh khuya mơ màng
       Em về mai em có sang
Bên này, bên ấy cách hàng dậu thưa
       Ngày ngày hai buổi sớm trưa
Ngóng em qua ngõ kẻng vừa tan ca
       Bên này, bên ấy bao xa
Thế mà em chẳng ghé qua những chiều
       Giật mình đâu biết mình yêu
Phòng đơn anh vẫn bấy nhiêu đợi chờ.

 

       Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như “Tiếng chuông”, “Vũ khúc tình yêu” (Nhạc: Trần Công Thủy), “Thành phố sinh thái năm sao” (Nhạc: Trọng Đài. Ca sĩ Mai Hoa thể hiện), “Người chiến sĩ Ra đa” (Nhạc: Nguyễn Hữu Thắng), “Khúc ca mùa xuân” (Nhạc: Lý Dũng)…

       Ở tuổi bát tuần, ông vẫn say mê nghiệp thơ văn. Tài ứng khẩu thành thơ của ông vẫn rất nhanh nhạy. Họa sĩ Ba Tỉnh – bạn ông, có ý định vẽ chân dung ông, nhưng chưa biết vẽ thế nào thể hiện rõ tính cách và tài năng của ông. Tình cờ đọc được bài thơ của tôi viết về nhà thơ Trần Hùng Thắng, họa sĩ Ba Tỉnh chợt bùng cảm xúc và phóng tay liền ba bức chân dung Trần Hùng Thắng, bức nào cũng rất có thần. Bài thơ còn được nhạc sĩ Trần Công Thủy phổ thành ca khúc “Chúc mừng sinh nhật Trần Hùng Thắng” do ca sĩ Mạnh Hùng thể hiện. Bài thơ tôi viết về nhà thơ Trần Hùng Thắng như sau:

       CHÂN DUNG NHÀ THƠ TRẦN HÙNG THẮNG

 

              Vốn dòng Tả Hãn Tướng Quân

              Hồn thêu nét bút, thơ văn dạt dào

             Kỹ sư lớp trước, tự hào

              Màng chi quan chức, thiết nào hư danh

                     Cho đi muôn vạn nhánh cành

              Nhận về một lá trầu xanh cay nồng

                     Ngỡ ngàng đứt gánh tơ hồng

              Còn hai trái ngọt trời không phụ người

                     Lên xe, xuống ngựa một thời

              Khi thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng

                     Tao nhân mặc khách đãi đằng

              Túi thơ bầu rượu kém chăng Đào Tiềm*?

………….

Chú thích:

          *Đào Tiềm tự Uyên Minh, người đời Tấn, nổi tiếng cao thượng, ham đọc sách, giỏi thơ văn, không màng danh lợi, an bần lạc đạo, lấy tiếng đàn, câu thơ, chén rượu làm vui...

 

       Đầu năm 2022 Hội người cao tuổi địa phương mừng thọ tuổi 80 của nhà thơ Trần Hùng Thắng, tôi lại nghĩ về cuộc đời chìm nổi của ông. Đó là yếu tố gợi cảm xúc để tôi viết bài thơ chân dung ông… Tôi viết lan man về tiểu sử ông để bạn đọc thêm hiểu, thêm cảm bài thơ tôi viết chân dung ông.

 

       TMG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           SAO VỘI BẤY, BÁC THUẬN ƠI!

 

 

        Sáng ngày 8 – 9 – 2013, tôi đang dự cuộc họp của Cựu chiến binh bảo vệ thành cổ Quang Trị thì nhà văn Hoàng Ngọc Trúc điện thoại: “Hình như bác Thuận mất rồi hay sao ấy. Tôi nghe có tiếng kèn trống từ khu ở của bác Thuận. Mắt tôi sưng húp không đi được.” Tôi không tin, nói: “Không đâu! Vừa mới tuần trước bác Thuận gọi điện nói chuyện với em hơn chục phút cơ mà! Bác hỏi lại cho rõ, có gì điện cho em”. Cuộc họp của chúng tôi phải lui lại đến gần trưa mới tiến hành được vì trời mưa như trút nước, không nghe được tiếng người nói. Trưa, tôi nhận hai cú điện, một của bác Trúc, một của bác Vũ Đình Phàm – bạn đồng môn của bác Thuận và cũng là cộng tác viên tích cực của blog Trần Mỹ Giống, báo tin chính thức bác Thuận mất. Tôi bàng hoàng, gọi điện báo cho họa sĩ Đặng Văn Nam, nghệ sĩ Trần Chính Nghĩa, nhà thơ Chu Đình An là những văn nghệ sĩ thân thiết với bác Thuận, tập trung ở nhà bác Hoàng Ngọc Trúc, cùng sang viếng bác Thuận.

        Nhìn di ảnh bác Thuận, tôi bồi hồi nhớ những kỷ niệm về bác, những hình ảnh cứ hiện lên trong đầu, không thứ tự…

                                *

        Trong số những văn nghệ sĩ quê Nam Định, tôi quý trọng, kính phục và hân hạnh được quan hệ thân thiết với ba người có tài năng và nhân cách cao đẹp. Đó là nhà thơ Hải Như, nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang, nhà văn Trần Huy Thuận. Tôi kính trọng gọi nhà thơ Hải Như là Cụ. Nhà thơ Hải Như quý tôi như với con cháu trong nhà. Còn đối với nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang và nhà văn Trần Huy Thuận, tôi là bạn vong niên thân thiết của hai ông. Nói về cố nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang, tôi có bài “Nhớ kỳ nhân Lê Xuân Quang” thể hiện mối quan hệ của tôi với ông, đăng báo Văn nghệ trẻ năm 2005 và một số trang mạng.

        Với nhà văn Trần Huy Thuận, tôi quen ông mới năm năm nay, nhưng tình cảm của chúng tôi như bạn tri kỷ từ kiếp trước. Lần đầu tôi được tiếp xúc với ông vào năm 2009, trong đám cưới con nhà báo Trần Mạnh Sỹ ở khu 5 tầng (thành phố Nam Định). Trần Mạnh Sỹ dắt tôi tới bàn của một nhóm già và giới thiệu:

        - Đây là bác Trần Huy Thuận, nguyên Giám đốc Công ty xây lắp Hà Nam Ninh… Còn đây là nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống…

        Bác Thuận giơ tay bắt tay tôi, bàn tay bác nóng truyền sang tôi cảm giác ấm cúng. Nhìn khuôn mặt “Quan Vân Trường” và đặc biệt đôi tai Phật của bác, tôi nghĩ thầm: Bác Thuận hẳn là người thẳng thắn, trung trực, chân thành, có thể tin tưởng tuyệt đối ở bác. Bác Thuận nhìn tôi nói:

        - Hay quá! Ông là nhà nghiên cứu văn học, tôi xin địa chỉ để có dịp đến thăm…

        Tôi ghi địa chỉ cho bác nhưng trong bụng nghĩ: Chắc bác chỉ xã giao thôi, chứ em ít tuổi hơn bác nhiều, em phải đến thăm bác mới phải chứ!

        Thế rồi ba hôm sau, bác cùng một người bạn tìm đến nhà tôi từ 7 giờ sáng. Cũng lạ, vừa quen nhau, tôi và bác đã dốc hết bầu tâm sự về gia cảnh, về bản thân, về những trắc trở trong đời làm văn học nghệ thuật, về những tiêu cực trong xã hội… rất tự nhiên và thân thiết. Hóa ra bác nguyên là Trưởng ban kiểm tra Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, nay là Nam Định mà tôi hiện là hội viên. Do bất đồng chính kiến với lãnh đạo hội, bác thôi sinh hoạt. Gần ba chục năm bác không quay lại Hội, nhưng vẫn âm thầm sáng tác. Nhìn đồng hồ gần 11 giờ, bác lấy từ trong túi xách ra tặng tôi cuốn tản văn “Ngang qua cuộc chơi” do Nhà xuất bản Văn học xuất bản lần thứ 2 năm 2009 và bảo:

        - Tôi tặng ông tập sách. Cũng nói để ông biết: Tôi có nhờ một ông lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh viết cho một bài giới thiệu, ông ta nhận lời nhưng gần năm nay vẫn chưa viết.

        - Cảm ơn bác tặng sách. Em sẽ nhờ một nhà văn viết bài giới thiệu cuốn sách. Được không bác?

        - Thế thì hay quá.

        Sau đó tôi điện nhờ nhà văn Lê Hoài Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định viết bài giới thiệu cuốn “Ngang qua cuộc chơi”. Lê Hoài Nam nhận lời nhưng yêu cầu:

        - Thứ bảy này tôi về Nam Định làm việc với nhà thơ Phạm Trọng Thanh. Tôi tranh thủ dành ít phút gặp các ông từ 4 giờ đến 4 giờ rưỡi chiều rồi đi Hà Nội luôn. Anh mang sách và dẫn ông Thuận đến nhà anh Thanh gặp tôi. Tôi đã biết mặt tác giả vuông tròn ra sao đâu…

        Tôi nói lại cho bác Thuận biết. Bác tỏ ra không vui, nói:

        - Lê Hoài Nam thời cùng ở Văn phòng Hội với tôi còn lạ gì nhau. Thôi ông ạ…

        Tôi gọi điện ngay cho Lê Hoài Nam báo tin chúng tôi bận không đến được, việc tôi nhờ Nam viết bài coi như bỏ. Thế mà chiều thứ bảy, lúc 4 giờ rưỡi, tôi đang ở Thái Bình, anh Phạm Trọng Thanh gọi điện, giọng bực dọc:    

        - Chúng tôi đợi hai ông suốt chiều nay, Lê Hoài Nam từ mãi Hà Nội về, sao các ông hẹn rồi không đến? - và cúp máy ngay.

        Tôi rất áy náy, cảm thấy có lỗi với bác Thuận. Chuyện chẳng ra làm sao thế này, nếu biết, chắc bác Thuận không vui. Tôi tập trung tinh thần đọc cuốn sách bác tặng. Cuốn sách hút hồn tôi. Đọc xong, tôi viết ngay trong một đêm bài giới thiệu. Ít lâu sau, bài viết được đăng trên trang Việt Văn Mới.

        Bác Thuận tỏ ra hài lòng với bài giới thiệu cuốn “Ngang qua cuộc chơi” do tôi viết. Tôi tập trung khai thác mặt phiếm luận là thế mạnh của bác Thuận, làm rõ giá trị phản biện, phê phán xã hội mà nhiều người khác tránh né, điều đó hợp với tạng – sở trường của bác và tôi. Tình bạn giữa hai chúng tôi càng gắn bó hơn. Mỗi khi có bài viết mới, hoặc chỉnh sửa bài viết cũ, bác đều tham khảo ý kiến tôi và dành cho blog của tôi trước.

        Một buổi sáng, bác Thuận điện mời tôi đến nhà “có tí việc muốn bàn với ông”, khi đó bác Thuận đang ốm. Tôi kéo nhà thơ Chu Đình An cùng đi. Bác Thuận kể cho chúng tôi nghe chuyện gần ba mươi năm trước, Trần Nhật Quang - con trai bác đoạt giải thưởng “Thí sinh giỏi nhất từ các nước ở rất xa” tại cuộc thi Olympic Vật lý Quốc tế lần thứ 15 (năm 1984), bị người ta ăn chặn giải thưởng, dấu nhẹm đi. Nay tình cờ bác biết được. Bác muốn tham khảo ý kiến bạn bè có nên làm rõ vụ việc hay không. Tôi góp ý: Quyết đưa vụ việc ra ánh sáng, đòi lại công bằng cho cháu Trần Nhật Quang. Thế là tôi phối hợp với bác đăng tin vụ việc trên blog của mình.

        Cuối cùng thì Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã phải thừa nhận sự thật, xác nhận giải thưởng của cháu Trần Nhật Quang.

        Sau này, trong bài “Chân dung văn học Trần Mỹ Giống” trên blog “Ngang qua cuộc chơi” của mình, bác Trần Huy Thuận viết về tôi như sau:

        “…Khi tập “Ngang qua cuộc chơi” vừa được Nhà xuất bản Văn học xuất bản, Đặng Văn Sinh bạn tôi đưa tôi đến nhà Trần Mỹ Giống để gửi tặng sách cho Thư viện tỉnh. Mục đích ban đầu chỉ có thế, nhưng không ngờ sau đó, chúng tôi trở thành bạn tâm giao.

        Trước khi cầm bút, ông đã từng cầm súng trực tiếp chiến đấu. Năm 1972 tham gia chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch Cửa Việt, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, Huân chương chiến công. Đến năm 1979 lại lên Lạng Sơn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

        Là cán bộ quản lý thư viện, nhưng Trần Mỹ Giống còn là tác giả nghiên cứu phê bình, dịch và sáng tác văn học. Đọc những đầu sách đã xuất bản của ông, tôi thực sự kính nể. Tôi còn kính nể ông hơn khi được biết ông là người trực tính, hết lòng với công việc, có tinh thần tự học cao và đặc biệt là thực sự không màng danh vọng, đã từng từ chối khi cấp trên định đề bạt chức tước cho ông…”.

        Trích “Tác giả thành Nam: Trần Mỹ Giống”

        Posted 15.04.2011 by tranhuythuan in Chân dung văn học.

                                *

        Nhóm văn nghệ sĩ thành Nam chúng tôi tự phát gắn bó nhau có Nhà văn Hoàng Ngọc Trúc ở bộ môn thơ (Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định), nhà thơ Chu Đình An cũng ở bộ môn thơ, họa sĩ Đặng Văn Nam bộ môn mỹ thuật, nghệ sĩ Trần Chính Nghĩa bộ môn nhiếp ảnh và tôi ở bộ môn nghiên cứu phê bình. Chúng tôi, mỗi người một tính. Bác Trúc tính cẩn thận, chu đáo, sống nội tâm, có trước có sau, là nhà thơ nhưng lại sở trường về truyện cực ngắn. Bác Nghĩa trung thực, thẳng thắn, chuyên chú vào học thuật, gặp bạn là nói hàng giờ về nghệ thuật không chán. Là nghệ sĩ nhiếp ảnh, bác lại viết truyện ngắn, thơ, kịch rất có phong cách, đều hay. Bác An là nhà thơ có nhân cách, tính Thiên Lôi, từng dùng ngòi bút “chiến đấu” chống một vị lãnh đạo khai man lý lịch, một vị Tiến sĩ ăn gian giải thưởng… Họa sĩ Đặng Văn Nam, học cùng trường thời đại học với tôi, tính vô tư, ruột để ngoài da, sống giản đơn, lạc quan, miệng thường trực nụ cười ha ha, dễ mến và tin tưởng. Tôi thường tụ họp với bác Trúc, Nam, Nghĩa đàm đạo văn chương nghệ thuật rất tâm đầu ý hợp, khi ở quán bún chả số 67 Bắc Ninh, lúc ngồi hàng giờ trong quán cà phê Alto trên đường Lê Hồng Phong đầu bờ hồ La Két, rồi dắt díu nhau thăm các bạn văn. Chúng tôi thường đến thăm bác Thuận, mỗi lần đến ngồi cả buổi không hết chuyện. Từ khi bác Thuận bệnh trọng, phải đi Bệnh viện ở Hà Nội định kỳ, chúng tôi cứ mong ngóng bác về là điện báo nhau đến thăm. Lần bác bị hạch cổ, bác sĩ nghi là lao, phải vào viện Lao (Nam Định). Được tin, chúng tôi đến viện ngay. Tìm các phòng không thấy bác. Gọi điện mới biết bác vừa về nhà chuẩn bị đi viện ở Hà Nội. Chúng tôi đến nhà thăm bác. Bác nắm tay từng người chặt và lâu hơn bình thường. Tay bác nóng hổi. Bác sốt mệt nhưng cố gượng ngồi với chúng tôi. Bác bảo: “Tôi đang lo in thêm hai chục cuốn “Ngang qua cuộc chơi” có bổ sung chỉnh lý, khi lấy được sách sẽ tặng các ông”. Nhưng chưa in xong, bác đã phải đi Hà Nội nhập viện. Từ Hà Nội bác điện về: “Tôi rất cảm động và trân trọng tình cảm của các ông. Khi biết tôi nghi lao, có mấy ông bạn vội tránh xa. Vậy mà các ông tìm vào tận viện thăm tôi… Ba lần hẹn các ông đi quán mừng tôi nhận “Giải thưởng làm báo cùng Tuổi trẻ” không thành, vì tôi ốm, tôi hy vọng kỳ này khỏe về sẽ thực hiện được…”.

        Vậy mà… bác đột ngột ra đi… Sao vội bấy, bác Thuận ơi!

                                *

        Bác Thuận và tôi đều thú chơi blog. Blog “Ngang qua cuộc chơi” của bác bài vở phong phú, đa dạng, được bạn đọc truy cập rất đông. Nhiều bạn đọc gửi thư, comments tỏ thái độ rất thích blog của bác, nhất là những bài chính luận, phiếm luận của chủ blog. Những bài tản văn, phiếm luận của bác mạch lạc, khúc triết, dễ hiểu, tính chiến đấu cao, có sức hấp dẫn kỳ lạ. Đông đảo bạn đọc yêu mến blog “Ngang qua cuộc chơi”, nhưng một số người “tai to mặt lớn” lại sợ hãi, khó chịu với bác. Có người trực tiếp yêu cầu bác dừng ngay blog lại, nhưng bác bảo: “Đó là thú chơi, là nơi thể hiện trách nhiệm xây dựng xã hội của cá nhân tôi. Không ai có quyền ngăn cấm”. Không dọa được bác, người ta quay ra đe nẹt con cháu bác để gây sức ép với bác. Từ thành phố Hồ Chí Minh, thăm con trai, bác Thuận điện về, giọng buồn rầu:

        - Ông Giống ơi! Có lẽ vì con cháu mà tôi đành phải làm thằng hèn… ông ạ! Ông bảo tôi sao đây? - Rồi bác kể cho tôi nghe người ta o ép buộc bác dẹp blog như thế nào…

        Tôi rất hiểu tình cảm người cha đối với con nên nói với bác:

        - Thì bác và em chả sống vì con cháu đó thôi!

         Bác thở dài:

        - Cảm ơn ông, ông hiểu cho thế là tôi nhẹ nhõm phần nào rồi!

        Sau đó bác xin lỗi bạn đọc và tuyên bố đóng lại blog của mình. Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, con cháu bác vẫn bị liên lụy. Bác tâm sự với tôi và quyết mở lại blog “Ngang qua cuộc chơi”. Tôi hòa điệu cùng niềm vui được làm điều mình thích với bác. Chơi blog trở thành niềm hạnh phúc, cái cần thiết như cơm ăn nước uống của bác và tôi.

        Còn nhớ blog làm trên Yahoo của tôi đang được bạn đọc chú ý, trung bình ngày hơn nghìn lượt đọc thì nhà mạng đóng cửa. Tôi dốt vi tính, chỉ còn biết buồn rũ ra. Thật may có hàng chục bạn đọc tình nguyện làm blog mới cho tôi. Tôi cảm động chảy nước mắt khi nhà thơ Trần Hồng Giang, nhà văn Trần Huy Thuận cũng làm blog tặng tôi. Giang làm blog tiếng Việt, bác Thuận làm trên wordpress. Bác Thuận khi ấy bệnh đã trọng, đi bệnh viện thường xuyên. Tôi quyết định dùng cả hai blog, nhưng bác Thuận bảo: “Ông đừng ngại, tôi thấy blog của Giang đẹp hơn blog tôi làm cho ông nhiều. Ông dùng hai blog song song nó kỳ lắm, phân tán người đọc, không cần thiết. Ông nên dùng blog Giang làm”.

        Tôi nghe bác, dùng blog tiếng Việt do Trần Hồng Giang tặng.

                                *

        Khi tôi soạn bài “Post Hồ Chí Minh và thư gửi Tổng Bí thư của nhà thơ Hải Như”, nội dung thuộc loại nhạy cảm, rất dễ bị quy chụp, tôi hỏi ý kiến bác Thuận. Bác bàn: “Để khỏi bị rầy rà, ta nhờ một số blog của người nổi tiếng đăng trước, mình đăng sau…” Bác Thuận gửi bài cho Nguyễn Trọng Tạo. Tôi và bác túc trực thường xuyên trên máy tính, hồi hộp chờ đợi mạng Nguyễn Trọng Tạo đăng bài. Nhưng chủ blog nguyentrongtao không dùng. Bác Thuận lại gửi cho Trần Nhương. Chờ cả tuần không thấy Trần Nhương động tĩnh gì, tôi thất vọng và đoán chắc là bác Trần Nhương không đăng, thì bất ngờ bài được lên trang. Thật tiếc, chỉ mấy ngày sau trang web của bác Trần Nhương bị tin tặc phá tan tành, bài viết của tôi không hồi phục được. Nhưng tôi đã vững tâm lên bài trong blog của mình rồi.

        Bác Thuận rất tâm đắc với một số bài tôi viết về cụ Hải Như. Bác bảo tôi: “Khi nào cụ Hải Như ra Nam Định, ông đưa tôi đến thăm làm quen với cụ”. Khi ấy bác Thuận ốm đã không còn tự đi xe máy được nữa. Mấy tháng sau, cụ Hải Như dự định ra Nam Định, điện báo cho tôi trước. Tôi và bác Thuận mong cụ hàng ngày. Cuối cùng thì cụ cũng ra Nam Định, nghỉ tại nhà em trai là họa sĩ Hồ Y. Tôi cùng Hoàng Ngọc Trúc lai bác Thuận đến nhà họa sĩ Hồ Y thăm cụ Hải Như. Cuộc giao tiếp với cụ Hải Như thật thú vị. Phong thái toát ra từ nhà thơ Hải Như đã chinh phục bác Thuận. Còn nhà thơ Hải Như thì rất quý bác Thuận bởi tính trung thực, thẳng thắn, thông minh hiếm có của bác. Sau lần gặp ấy, bác Thuận công bố bài “Nhà thơ Hải Như như tôi biết” đăng trên mấy báo mạng “lề phải”.

        Cách đây không lâu, bác Thuận điện cho tôi: “Ông Giống ơi, tôi phải viết một bài tổng hợp về cụ Hải Như mới được. Có thể là bài cuối cùng của tôi. Ông gửi cho tôi tất cả tư liệu chưa công bố của ông và ảnh về cụ Hải Như chụp chung với vợ chồng Trần Xuân Bách nhé!”

        Ít ngày sau, cụ Hải Như đang nằm viện từ thành phố Hồ Chí Minh điện bảo tôi: “Giống ơi! Giống nói với Trần Huy Thuận là giữ sức khỏe đã, bài viết về Hải Như để sau. Sức khỏe là quan trọng nhất. Thương Trần Huy Thuận quá Giống ơi!”

        Tôi chưa kịp thực hiện yêu cầu của cụ Hải Như thì bác Thuận đã ra đi. Bác đã kịp hoàn thành bài viết tổng hợp về cụ Hải Như. Sau khi viếng bác Thuận về, tôi đọc bài viết dài 28 trang của bác do Kỳ Hạnh (con út cụ Hải Như) gửi tới, vô cùng xúc động, nước mắt tràn mi. Theo di nguyện của bác Thuận, tôi chờ vietnamnet đăng rồi mới tải lại, hoặc nếu họ không đăng thì tôi đăng trên blog của mình. (Vì nếu tôi đăng trước, họ sẽ không đăng).

        Tác phẩm còn đây, tác giả đã thành người thiên cổ. Sao vội bấy, bác Thuận ơi!

                                        *

        Ông trời thật trớ trêu: Những đứa bạc ác vô nhân thường sống dai như cỏ, người tốt lại hay gặp nạn. Nhưng kẻ bạc ác dù chúng đang sống đấy, người đời cũng coi như chúng đã chết. Người tốt dù mất rồi vẫn còn sống mãi trong lòng bạn bè, người thân…

        Sao vội bấy, bác Thuận ơi!

        Sao vội bấy, bác Thuận ơi!

 

Thành Nam, 9 – 2013

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 TRƯƠNG XƯƠNG HỒN THƠ VẪN NGÁT HƯƠNG RỪNG 

(Hương rừng: Thơ / Trương Xương. – H.: Hội Nhà văn, 2005)

                                                    

 

           Trương Xương là một trong số không nhiều các tác giả thơ ở Nam Định được bạn đọc, nhất là bạn đọc nhỏ tuổi yêu thích. Thơ Trương Xương không cầu kỳ, không ồn ào mà cứ lặng lẽ toả hương từ chính tấm lòng, cốt cách của một nhà giáo lâu năm và tâm hồn nghệ sĩ thực thụ. Thơ cho trẻ em với tấm lòng thương yêu chan chứa, thơ trữ tình cho người lớn chân chất, mộc mạc, giản dị, đằm thắm là hai mảng chính trong sáng tác của ông. Ông đã gặt hái được những thành công ở cả thơ cho trẻ em và thơ trữ tình.

           Trương Xương sinh ngày 6 – 3 – 1937 tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, trú tại 28N Ô17 phường Hạ Long, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông từng được chọn đi học ở Khu học xá Trung Quốc, về công tác trong ngành giáo dục tỉnh Hà Nam. Sau đó ông lại được cử đi học Khoa Tâm lý giáo dục và Khoa Hoá Trường đại học Sư phạm Hà Nội rồi về công tác tại Khoa Đào tạo giáo viên cấp II của trường đặt ở Phủ Lý. Từ năm 1976 ông chuyển về công tác tại Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Nam Định.

            Ông có thơ in báo từ năm 1960, một số tác phẩm được tuyển chọn in trong sách giáo khoa tiếng Việt, được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định từ năm 1983, Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2000.

            Tập thơ in sớm nhất của ông là Bầu trời vắng tiếng chim (Nxb. Thanh niên, 1989) vừa ra đời đã được bạn đọc nhiệt tình đón nhận và được Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao Giải thưởng. Từ đó đến khi qua đời, ông không ngừng tích luỹ vốn sống, miệt mài sáng tác, cống hiến cho đời nhiều tập thơ có giá trị như: Bắc lên ngọn gió (Nxb. Kim Đồng, 1992), Quê núi (Nxb. Văn học, 1994), Hoa trái vườn em (Nxb. Thanh niên, 1999), Nhành xuân (Nxb. Hội Nhà văn, 2006), Mắt bão (Hội Nhà văn, 2010)…

            Một số Giải thưởng thơ Trương Xương được tặng đã phần nào khẳng định giá trị thơ ông: Giải thưởng thơ Báo Người giáo viên nhân dân 1990, Giải thưởng thơ viết cho thiếu nhi của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam 1991, Giải thưởng thơ viết cho thiếu nhi của Uỷ ban CSBVTE và Hội Nhà văn Việt Nam 1997, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Khuyến 1990 của UBND tỉnh Hà Nam Ninh, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Khuyến 1995 của UBND tỉnh Nam Hà, Giải thưởng thơ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 1999…

            Hương rừng (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2005), tập thơ thứ năm của Trương Xương tràn trề cảm xúc, tình cảm yêu nước, yêu cảnh vật quê hương, yêu người, thể hiện tấm lòng trung hiếu của một nhà giáo, nhà thơ suốt một đời gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và văn học nghệ thuật. Trong Hương rừng, địa danh của đất nước thường được nhắc đến bằng tấm lòng trải rộng của nhà thơ, từ Đồng Văn, Cổng Trời, sông Vân, núi Cốc, Kim Liên đến Mê Công, Trường Sa, Tháp Mười… Nhưng có lẽ nhiều hơn và sâu nặng hơn là tấm lòng nhà thơ dành cho Nam Định, quê hương thứ hai của ông. Đề tài về Nam Định, những tên đất, tên sông, tên người Nam Định thường xuyên xuất hiện trong tập thơ, toát ra tình cảm thiết tha của tác giả.

              Người từng lên ngọn sông Đào

  Xuống mom sông Vị hay vào hàng Nâu

              Bây giờ câu lục ở đâu

  Để câu bát đợi bên cầu Đò Quan.

                                  (Tìm người mang dải lưng xanh)

           Sông Đào, sông Vị, hàng Nâu, đò Quan là những cái tên quen thuộc của Nam Định được nhắc đến trong bài thơ hết sức tự nhiên, giản dị, chân thành, gieo vào lòng người đọc cảm giác lâng lâng, man mác, ngọt ngào nghĩa tình với quê hương Nam Định. Chỉ đọc một lần tôi đã thuộc, dường như những lời thơ của tác giả đã đi vào gan ruột của mình. 

            Nhớ lần nhà thơ Trường Xương điện thoại cho tôi: “Tôi cứ băn khoăn chưa thật vừa ý với câu “Để câu bát đợi bên cầu Đò Quan” nên tôi viết ra một vài câu khác thay thế câu này, ông nghe góp ý cho tôi nên chọn câu nào nhé”. Rồi ông đọc liền hai ba câu thơ sửa lại… Tôi trả lời ông: “Theo em, bác không nên sửa câu thơ đó nữa, vì câu đó đã đi vào lòng bạn đọc rồi”… Ông bảo: “Ông nói vậy thì tôi yên tâm, không sửa nữa”.

           Cả cuộc đời sống xa quê, trong ông luôn canh cánh nỗi niềm nhớ về quê mẹ Ninh Bình:

           Ngày đi thổn thức đầu đình

  Mắt long lanh thế cho mình vấn vương

           Ngọt bùi cay đắng chín phương

  Vẫn canh cánh một nẻo đường sông Vân

                                                   (Trở lại sông Vân)

            Trước việc chia tỉnh, Trương Xương nặng một nỗi niềm với “nỗi lòng ngổn ngang” giằng níu tình cảm giữa người đi và người ở:

            Đi Hồng Phú, nhớ Đò Quan

  Mấy mươi năm một giang san Nam Hà.

                                             (Nỗi niềm chia tỉnh)

           Tình yêu của Trương Xương trong Hương rừng nhiều hơn cả là yêu người. Đọc Hương rừng, chúng ta bắt gặp một Trương Xương không chỉ yêu thương con trẻ (thơ cho thiếu nhi được coi là sở trường của ông) như trong một số tập thơ cho trẻ em trước đó, mà còn là tâm hồn đa cảm, hồn hậu yêu thương con người, từ những người nổi tiếng như Lê – nin, Trần Hưng Đạo, nhà thơ Đoàn Văn Cừ, bà Tú đến người thầy giáo cũ, ông Dần (một người có công với cách mạng), người nuôi ong, bác sĩ… Bài thơ Mẹ của ông đã nói hộ mỗi chúng ta tình yêu vô hạn đối với người mẹ đã khuất của mình:

            Mệnh trời – mẹ đã đi xa

  Cõi thăm thẳm với hồn cha vĩnh hằng

           Mịt mùng chín ngọn suối băng

  Đêm triền miên lạnh không trăng không đèn.

           Qua thơ, Trương Xương không chỉ thể hiện lòng thành kính, ngợi ca những danh nhân đất nước (Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh…) mà còn phát hiện ra những vẻ đẹp thuần khiết ở những người lao động. Ông hiểu người nuôi ong “mấy mươi năm đội nắng mưa, cùng ong đi suốt những mùa hoa tươi” để “làm nên giọt mật sáng trong” cho đời, trong vị ngọt của mật “còn có muôn giọt đắng trong đời con ong” – người nuôi ong.

          Một lần Trường Xương bị bệnh thập tử nhất sinh được các bác sĩ hết lòng cứu chữa, ông cảm kích gọi bác sĩ là “người trồng cây hạnh phúc”. Ông phát hiện ra người bác sĩ không chỉ đẹp “tà áo trắng – lương y như từ mẫu” cứu người bệnh mà còn đẹp về nhân cách, về những hành động cao cả rộng lớn hơn là góp phần đấu tranh vun trồng hạnh phúc cho mọi người:

          Chẳng cầu mong bia đá tượng đồng

          Chỉ thầm lặng vun trồng cây hạnh phúc

          Giữa đời thường khơi trong gạn đục

          Bình dị khiêm nhường – người thầy thuốc của nhân dân!

          Tình yêu thương con người của Trương Xương còn dành cho cả “người dưng” tình cờ gặp trên một chuyến xe. “Nép nhường nhau nửa chỗ thôi” mà rồi “bâng khuâng…”, mà để lại nhớ nhung đến ngẩn ngơ khi “người về… đột ngột xe vơi”. Cái khoảnh khắc xao động – cảm xúc đẹp khi gặp một người không quen ấy hẳn ai cũng gặp ít là một lần trong đời. Trương Xương đã ghi lại cái cảm xúc đẹp ấy bằng những câu lục bát mượt mà, giản dị, tinh tế, lay động tâm hồn người đọc.

 

           Thơ Trương Xương không cách tân hình thức cầu kỳ. Cái mới trong thơ Trương Xương ở chính cảm xúc trẻ trung, chân thật và ở cách diễn đạt trong sáng, tứ thơ, hình ảnh sáng tạo (“Nỗi gian truân đời mẹ / Như khắc vào hương quê”, “Chùm hoa thơm níu sao rơi / Mắt em với ánh sao trời lung linh” ). Sở trường của Trương Xương trong Hương rừng là thể thơ lục bát. Những câu lục bát nhuần nhị, mượt mà, giàu nhạc điệu, sử dụng tiểu đối khá khéo léo có khá nhiều trong Hương rừng, đem lại cho người đọc cảm xúc thẩm mỹ dạt dào:

        - Ngỡ mình đứng trước đại dương

  Mắt xao xuyến mắt, lòng vương vấn lòng.

        - Thân quen đường xuống Vĩnh Yên

  Nẻo sang Thác Bạc, lối lên Thạch Bàn.

        - Thương ngọn đèn, xót mảnh trăng

  Người quen mà lại chẳng bằng người dưng.

        - Tài thao lược, sách nhu cương

  Có đường tiêu diệt, sau đường răn đe.

         Đầu năm 2009 Trương Xương hỏi tôi Hương rừng của ông thế nào, tôi nói rằng bút lực trong Hương rừng của ông không hề giảm sút. Vậy mà tháng tư năm đó ông phải vào viện rồi đột ngột về trời, để lại cho bạn văn, bạn đọc niềm tiếc thương vô hạn. Cho đến những ngày cuối cùng, ông vẫn đau đáu những suy tư đóng góp ý kiến xây dựng Hội Văn học Nghệ thuật địa phương.

           Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu có tên tuổi mến mộ thơ ông và công nhận tâm và tài của ông như Nhà thơ Đoàn Văn Cừ, Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt… thể hiện qua những bút tích thơ ca đề tặng ông. Bài Ngày xuân còn mãi của Nhà thơ Đoàn Văn Cừ tặng Trương Xương tuy ngắn mà hàm chứa bao ý tình khắc hoạ chân dung Trương Xương thật rõ nét, đã thể hiện tấm lòng người đọc yêu quý nhà thơ:

            Óc tim rèn giũa chuốt mài

  Đúc thành châu ngọc tặng người tri âm

            Ngai vàng bệ ngọc phù vân

  Văn chương trung hiếu ngàn xuân mãi còn!

              Chắc hẳn thơ Trương Xương còn âm vang mãi trong lòng bạn đọc.

……………………

 

       Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình. – 2011. - Số Tết.

 

 

 

 

 

 

 

 

     XUÂN TRÌNH – TÁC GIẢ KỊCH TÀI NĂNG

                                  (1936 – 1991)

 

Xuân Trình tên thật là Nguyễn Xuân Trình, sinh ngày 6 - 1 - 1936, quê thôn Lỗ Xá, xã Yên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Xuân Trình tham gia kháng chiến từ năm 1952, công tác trong Đội cầu đường Việt Bắc. Năm 1954 ông được cử vào công tác trong đội cải cách ruộng đất. Năm 1955 ông làm biên tập viên Đài tiếng nói Việt Nam, đồng thời theo học khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1961 ông chuyển về công tác ở Tạp chí Văn nghệ. Năm 1963 ông sang công tác tại Tuần báo Văn nghệ, phụ trách phần văn xuôi, sau đó lại chuyển công tác về Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Từ năm 1983 ông làm Phó Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản Sân khấu, Tổng biên tập Tạp chí Sân khấu.

Xuân Trình là nhà báo, nhà văn, nhà viết kịch. Từ viết báo, viết văn, ông chuyển hẳn sang viết kịch và nhanh chóng trở thành một trong những tác giả kịch xuất sắc nhất của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Ông là điển hình của một cán bộ sáng tác xã hội chủ nghĩa. Những sáng tác của ông đều lấy chất liệu từ những chuyến đi thực tế và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn của đất nước. Nhân vật trong kịch của ông thường mang dáng dấp của những khái niệm nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc cho người xem. Ai đã xem một lần vở hài kịch trữ tình “Mùa hè ở biển” của Xuân Trình (do Đoàn kịch nói Nam Hà biểu diễn) thì không thể nào quên hình tượng Đoàn Xoa, một điển hình sống động và chân thực về sự lạc hậu của con người trước yêu cầu đổi mới của cuộc sống. Tính dự báo chính xác và táo bạo trong kịch Xuân Trình đã khẳng định tài năng của tác giả, nhưng chính đặc điểm này đã gây cho ông nhiều trắc trở trong cuộc sống. Vở “Lập xuân” (1970) thể hiện sự thay thế hệ giữa trẻ và già diễn ra quyết liệt, cuối cùng thế hệ trẻ có tri thức đã thắng. Khi ra mắt công chúng, vở kịch đã bị một số người lên án quyết liệt. Ngày nay một cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn, chính trị cao và đạo đức tốt được giao những cương vị chủ chốt trong guồng máy quản lý xã hội là việc đương nhiên, nhưng vào những năm bảy mươi điều đó khó được dư luận xã hội chấp nhận. Vở “Bạch đàn liễu” (1973) viết về cuộc vận động cải cách dân chủ, chống tệ nạn cường hào mới ở nông thôn cũng bị dư luận lên án. Vở “Thời tiết ngày mai” (1980) viết về công cuộc tổ chức lại sản xuất nhằm tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa đã bị nhà chức trách địa phương đình diễn một thời gian dài cũng chính vì nó đã dự đoán khá tinh tường về số phận con người.

Trong kịch Xuân Trình, nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống được đặt ra và đã được chính tác giả giải quyết, nhưng vẫn còn những câu hỏi nhức nhối đòi hỏi chúng ta phải trả lời: Một người tốt, có tác phong công nghiệp trở nên cô đơn, lạc lõng giữa một tập thể lạc hậu (“Nghĩ về mình”), một cuộc đời tận tuỵ hy sinh cho cách mạng nhưng khi về già phải gửi thân ở nhà trẻ mồ côi (“Nửa ngày về chiều”), một hành động hồn nhiên thánh thiện bỗng thành tai hoạ khi cái ác lộng hành trước mắt mọi người và pháp luật (“Tai hoạ hay rủi ro”)... Nhưng nói chung, ngòi bút Xuân Trình nhạy bén, sắc sảo nắm bắt và thể hiện kịp thời những vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Các kịch bản của ông thể hiện đậm nét tính dự báo và tràn đầy chủ nghĩa nhân văn. Chỉ khi nào phát hiện được vấn đề và lý giải được vấn đề, tác giả mới có thể có được tính dự báo trong tác phẩm của mình. Ngay từ thời bao cấp nặng nề, chuyện khoán sản phẩm còn phải làm “chui”, Xuân Trình đã nhìn thấy tương lai và mạnh dạn khẳng định một cơ chế khoán sản phẩm trong sản xuất tất yếu phải diễn ra. Cái không khí ngột ngạt, bức bối trong “Lập xuân”, “Xóm vắng” là dấu hiệu sự thay đổi tất yếu của “Thời tiết ngày mai”, để vươn tới sự đổi mới phóng khoáng hơn, tầm nhìn và lòng người rộng mở hơn như “Mùa hè ở biển”.

Kịch Xuân Trình thuyết phục người xem không chỉ ở tính dự báo chính xác mà còn ở tính chân thực và lòng nhân hậu. Thông qua các nhân vật điển hình, ông gửi gắm vào kịch bản tình cảm của mình và kêu gọi mọi người hãy đề cao tính nhân văn cộng sản cao đẹp. Kịch Xuân Trình không những thừa nhận và nâng cao giá trị của con người mà còn chủ trương và thể hiện tính chiến đấu nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, đưa con người đến chỗ thắng được tự nhiên và làm chủ vận mệnh của mình. Kịch Xuân Trình giàu chất văn học nên bạn đọc chỉ cần đọc kịch bản đã thấy hay và bị lôi cuốn. Chính vì thế mà kịch Xuân Trình một thời được khán giả háo hức chờ đón và đã để lại dấu ấn đậm đặc trong nền sân khấu hiện đại Việt Nam.

Ngày 8 - 12 - 1991 Xuân Trình mất, một ngôi sao sáng trên bầu trời sân khấu hiện đại Việt Nam đã tắt. Trước khi mất, trên giường bệnh, Xuân Trình vẫn đau đáu vì nước vì dân: Ông đọc cho một người bạn ghi chép bức thư gửi Tổng Bí thư Đỗ Mười đề đạt ý kiến của mình về việc sử dụng những người có thực tài trong công tác văn hoá. Ông thực xứng đáng với dòng chữ “Vĩnh biệt một tài năng lớn” trên vòng hoa viếng của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Khánh ngày ông vĩnh biệt chúng ta.

 

………………..

 

       Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 2001. – Số 2. – Tr. 30.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                            HOÀNG DƯƠNG CHƯƠNG

                 NGƯỜI GIỮ LỬA TÌNH YÊU VỚI SÁCH                                                                                            

                                       

       

      Năm 1982 tôi chuyển ngành về Thư viện tổng hợp tỉnh Hà Nam Ninh, công tác dưới quyền anh Hoàng Dương Chương gần ba chục năm, cho đến khi nghỉ hưu. Chúng tôi yêu quý, kính trọng anh không chỉ vì anh là một thương binh giàu nghị lực, một giám đốc có năng lực, mà còn vì anh là một cán bộ nghiên cứu khoa học nghiêm túc và có tâm huyết với nghề.

       Hoàng Dương Chương sinh năm 1943 tại xã Mai Xá, thành phố Nam Định. Từ nhỏ anh đã chăm chỉ học tập và luôn là học sinh giỏi. Năm 1960 anh thi đỗ vào trường cấp 3 Lê Hồng Phong - Nam Định, một trường chuyên nổi tiếng của cả nước. Tốt nghiệp cấp 3, với lý lịch gia đình cán bộ cách mạng, tương lai được đi học nước ngoài mở rộng đối với anh, nhưng anh đã chọn con đường đầy gian khổ mà vinh quang. Năm 1963, anh tình nguyện nhập ngũ, làm thuỷ thủ tầu tuần tiễu T122 khu tuần phòng I Hải quân nhân dân Việt Nam. Do có ý thức kỷ luật và tích cực rèn luyện, anh được tuyển về đơn vị huấn luyện quân đặc biệt tinh nhuệ. Sau khoá huấn luyện, anh về đơn vị đặc công nước và vào Nam chiến đấu. Anh cùng đơn vị Đội 1 Đoàn 10 đặc khu Rừng Sác đã đánh chìm, đánh cháy nhiều tàu chiến Mỹ - nguỵ trên vùng sông Lòng Tàu và Xoài Rạp ở cửa ngõ cảng Sài Gòn. Anh đã được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt tàu chiến.

       Năm 1966, một lần đi trinh sát địch ở sông Lòng Tàu để chuẩn bị cho trận đánh lớn, xuồng của anh bị biệt kích Mỹ bắn chìm. Tuy bị thương anh vẫn cố sức bơi trên 10 cây số về báo cho đơn vị. Lúc bơi qua Rạch Chàm, anh bị cá sấu cắn ngang thân. Anh bình tĩnh dùng tay móc mắt cá sấu, rút dao găm đâm vào mũi cá sấu, làm nó phải nhả anh ra. Anh dùng lựu đạn tống vào miệng cá tiêu diệt nó. Thoát chết, nhưng vết thương chảy nhiều máu làm anh ngất đi. Tỉnh lại, anh đã kịp báo cho đoàn thuyền chở 7 trái thuỷ lôi về nơi cất dấu an toàn. Sau chiến công này, anh được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt cá sấu. Cảm phục tinh thần dũng cảm, mưu trí, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của anh, nhiều nhà báo đã viết bài ca ngợi. Một nhà văn đã viết truyện "Dũng sĩ diệt cá sấu". Cuốn sách được hàng ngàn bạn đọc nhỏ tuổi đón đọc say mê.

       Lần thứ ba bị thương do đạn pháo địch bắn hỏng chân, anh được đưa ra miền Bắc điều trị. Năm 1972, sau khi vết thương lành, anh đã dự thi tuyển vào đại học và được cử đi học tại Liên Xô. Năm 1977 anh tốt nghiệp đại học thư viện. Cũng năm đó anh được nhận Giải nhì nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên thành phố Khác Cốp. Về nước, anh công tác tại Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Từ một thủ thư ngoại văn, anh được đề bạt Phó Giám đốc, rồi Giám đốc Thư viện tỉnh Nam Hà, nay là Nam Định. Anh luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Anh bộ đội Cụ Hồ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Khi là thủ thư ngoại văn, anh cần mẫn làm việc với tinh thần "Tất vả vì bạn đọc". Lúc tham gia giảng dạy chuyên môn ở Trường Văn hoá Nghệ thuật tỉnh và các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thư viện, anh dồn hết tâm huyết vào bài giảng để truyền thụ kiến thức nhiều nhất cho học sinh. Anh là một cán bộ quản lý có công đem lại thành tích cho đơn vị. Khi ngành thư viện tổ chức xếp hạng, Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh là một trong tám tỉnh đầu tiên trong cả nước được xếp hạng hai. Hai năm liền (1987 - 1988) Thư viện Hà Nam Ninh được công nhận là thư viện cấp tỉnh mạnh nhất toàn quốc. Anh thông thạo tiếng Nga, có bằng B tiếng Anh. Dù tuổi cao, anh vẫn không ngừng học tập nâng cao trình độ. Anh tham gia lớp học Hán - Nôm của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh do thày Trương Đình Nguyên (đại học sư phạm Hà Nội) dạy. Năm 1996 anh bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ thư viện.

       Hai mặt công tác nổi nhất của Thư viện tỉnh Nam Định trong hai thời kỳ là tổ chức phong trào đọc sách báo, xây dựng thư viện cơ sở (1980 – 1990) và công tác địa chí những năm (1990 - 2005). Hai mặt công tác này đều được Bộ Văn hoá cấp Bằng khen cho tập thể và cá nhân.        

      Vào những năm 80, phương tiện đi cơ sở của chúng tôi chủ yếu là xe đạp. Là cán bộ chuyên trách công tác phong trào, tôi thường xuyên phải đi cơ sở, có lần ở cơ sở hai, ba tháng liền. Mặc dù là Phó Giám đốc, anh Hoàng Dương Chương vẫn thường xuyên cùng chúng tôi đi về tận các xã xa nhất ở các huyện Duy Tiên, Kim Bảng (Hà Nam), Hoàng Long, Gia Viễn (Ninh Bình), Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định)... Bằng chiếc xe đạp đua đưa từ Liên Xô về, anh đi khắp các xã trong tỉnh. Lần đi xã ở Hoàng Long xa tới 60 km dưới trời nắng gắt, chúng tôi lo là cái chân bị thương của anh thường rất đau khi trái gió trở trời sẽ làm anh không theo được chúng tôi. Thật không ngờ, chính anh lại là người động viên chúng tôi cố gắng để đến đích kịp vào buổi trưa như đã hẹn với cơ sở. Thời gian này Hà Nam Ninh xây dựng được tới 105 thư viện xã đạt tiêu chuẩn quy định và hoạt động thường xuyên. Những thư viện cơ sở đã có tiếng là mạnh và được nhiều cấp khen như Khánh Phú (Tam Điệp), Hải Phú (Hải Hậu), Trác Bút (Duy Tiên)... đều có sự chỉ đạo trực tiếp và đóng góp công sức của anh. Song song với xây dựng phong trào thư viện cơ sở, anh cũng rất cố gắng trong việc xây dựng thư viện điển hình như thư viện huyện Lý Nhân, Thư viện huyện Hải Hậu. Đến nay hai thư viện này vẫn là những điểm sáng được đánh giá cao trong hệ thống thư viện công cộng. Công tác tổ chức phong trào đọc cũng được đẩy mạnh. Anh đã mời nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà lý luận phê bình, nhà khoa học về nói chuyện chuyên đề với bạn đọc tại thư viện tỉnh và một số địa phương. Khi Ban giám đốc có chủ trương tổ chức các hội thi tuyên truyền giới thiệu sách, anh đưa cán bộ đi học tập các đơn vị đã làm tốt công tác này như Thanh Hoá, Hải Phòng... Anh bám sát cơ sở, tập huấn, bồi dưỡng diễn giả. Các năm 1985, 1986, 1988 Hà Nam Ninh tổ chức liền ba Hội thi giới thiệu sách đạt kết quả lớn, góp phần đưa Thư viện tỉnh nhà lên vị trí "con chim đầu đàn của các thư viện tỉnh ở miền Bắc". Hội thi giới thiệu sách Hà Nam Ninh năm 1988 đã được đón Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Lê Thành Công về dự.

       Những năm 90, Hà Nam Ninh biến động, chia thành hai tỉnh Ninh Bình và Nam Hà, rồi Nam Hà lại chia thành Hà Nam và Nam Định. Cùng với việc chia tỉnh, thư viện tỉnh cũng biến động rất lớn. Trên cương vị Giám đốc, anh Hoàng Dương Chương đã lãnh đạo Thư viện tỉnh Nam Định nhanh chóng ổn định, duy trì hoạt động thường xuyên. Tổng số bạn đọc của thư viện vẫn đảm bảo 2000, rồi tăng dần đến 2500. Anh chú trọng đẩy mạnh công tác phục vụ, đặc biệt quan tâm đến công tác địa chí. Khi nhận nhiệm vụ làm công tác địa chí, tôi rất lo vì công tác này đòi hỏi cán bộ phải có hiểu biết sâu sắc về địa phương và có trình độ mới có kết quả tốt. Lại chính anh Hoàng Dương Chương là chỗ dựa tinh thần của tôi. Anh động viên, gợi ý cách làm, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ. Hơn thế nữa, anh còn trực tiếp làm công tác địa chí. Anh đến nhiều cơ quan, đơn vị  và những nhà nghiên cứu địa phương để sưu tầm tài liệu địa chí. Nhiều cuốn sách địa chí cơ bản, hạt nhân của đất Nam Định được bổ sung cho kho địa chí là do anh bỏ tiền cá nhân ra mua, như các cuốn: Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục của Nguyễn On Ngọc, Nam Định tỉnh chí của Ngô Giáp Dậu, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Khiếu Năng Tĩnh, Trà Lũ xã chí của Lê Văn Nhưng. Nhiều văn bia, thần phả, ngọc phả và các bản hành trạng của các nhân vật Nam Định cũng được anh sưu tầm về kho địa chí. Qua thực tế phục vụ, anh rút ra nhận xét: Nguồn tư liệu địa chí thường tản mát trong nhiều sách, nhiều nơi khác nhau, bạn đọc nghiên cứu chuyên đề gặp rất nhiều khó khăn trong việc tra tìm và mượn tài liệu, nhất là khi Nam Định chưa in được sách địa chí. Nếu chỉ dừng lại ở việc biên soạn các thư mục địa chí truyền thống thì tác dụng của các bản thư mục này mới chỉ đạt được yêu cầu gợi ý, chỉ chỗ. Anh chỉ đạo chúng tôi biên soạn nhiều thư mục địa chí có nội dung vừa thông tin thư mục, vừa thông tin dữ liệu. Các bản thư mục phục vụ các hội thảo khoa học và bạn đọc nói chung đã phát huy hiệu quả cao như  Anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định (Thư mục phục vụ Hội thảo cấp quốc gia về Trần Quốc Tuấn), Thánh Mẫu Liễu Hạnh và lễ hội Phủ Dày (Thư mục phục vụ Hội thảo quốc gia về Phủ Dày), Văn Cao bậc tài danh thế kỷ, Tổng Bí thư Trường Chinh (Thư mục nhân vật), Tác giả Nam Định được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (Thư mục danh nhân), Nam Định phòng chống ma tuý (Thư mục chuyên đề)... Với sự chỉ đạo của anh, công tác địa chí của Thư viện tỉnh Nam Định dần dần được khẳng định, kết quả phục vụ nâng lên rõ rệt. Hàng năm, riêng số lượt bạn đọc nghiên cứu chuyên đề được phục vụ đã tới gần hai trăm người, trong đó có cả người nước ngoài và nhiều sinh viên làm luận văn tốt nghiệp. Trong dịp tổng kết công tác mười năm công tác địa chí toàn quốc (1990 - 2000), anh đã được nhận Bằng khen của Bộ Văn hoá Thông tin về thành tích hoạt động địa chí. Anh được một số bạn đọc tín nhiệm nhờ hướng dẫn tài liệu khi viết luận văn tốt nghiệp hay sưu tầm tài liệu cho các đề tài nghiên cứu khoa học. Anh được mời hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho sinh viên Khoa thư viện của trường Đại học Văn hoá Hà Nội và Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn. Có hai luận văn đề tài về Thư viện Nam Định và công tác địa chí ở Thư viện Nam Định do anh hướng dẫn đã đạt loại xuất sắc.

       Anh luôn động viên chúng tôi phải vươn xa hơn những gì đã đạt được. Anh trực tiếp viết bài nghiên cứu và giúp đỡ chúng tôi viết bài đăng báo, tạp chí tuyên truyền cho thư viện. Anh đã có nhiều bài đăng trên Tập san Thư viện (Thư viện Quốc gia), Thông tin thư viện phía Nam (Thư viện thành phố Hồ Chí Minh). Anh đã có hàng trăm bài viết và công trình nghiên cứu về các lĩnh vực thư viện, lý luận văn hoá, công tác địa chí được đăng trên các báo, tạp chí địa phương và trung ương. Trên báo Nam Định đã đăng hàng loạt bài của anh trong chuyên mục “Nam Định, mảnh đất - con người”. Trong hoạt động báo chí, anh được Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam tặng Bằng khen. Anh nguyên là Phó rồi Trưởng bộ môn Nghiên cứu sưu tầm của Hội Văn học Nghệ thật tỉnh, Uỷ viên Ban chấp hành khoá 6, Trưởng ban kiểm tra Hội VHNT Nam Định, thư ký Hội đồng khoa học Sở Văn hoá Thông tin nên rất quan tâm đến việc biên soạn sách địa chí. Anh chỉ đạo chúng tôi biên soạn thành công các cuốn sách có nội dung địa chí, được dư luận bạn đọc đón nhận và hoan nghênh như: Lược khảo tác gia văn học Nam Định (H.: Văn học, 1997), Tác giả Hán Nôm Nam Định (Nam Định, 2000), Các nhà khoa bảng Nam Định (Nam Định, 1999)... Công trình Địa danh Nam Định của anh được trích đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (Bộ Văn hoá Thông tin), Tạp chí Xưa và Nay (Hội Sử học), Tạp chí Văn hoá Nam Định. Công trình  Nam Định mảnh đất con người của anh được chọn biên tập làm chương mở đầu cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định (H. : Chính trị Quốc gia, 2001). Anh còn tham gia một số công trình nghiên cứu cấp tỉnh và là đồng tác giả của các cuốn: Văn hoá Nam Trực cội nguồn và phát triển (Nam Định: UBND, Huyện uỷ, HĐND huyện Nam Trực, 2000), Danh nhân văn hoá Nam Định (Nam Định: Sở Văn hoá Thông tin, 2000), Danh nhân Nam Định được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh (Nam Định: Sở Văn hoá Thông tin, 2001), Địa danh thành Nam xưa & nay (H.: Thanh niên, 2021), Tiến sĩ Đặng Phi Hiển (H.: Hội nhà văn, 2009), Tiến sĩ Vũ Huy Trác (Nam Định: Sở Văn hóa Thông tin, 2008), Đông A nhân kiệt (H.: Quân đội, 2010)... Anh là chủ đề tài công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh Hệ thống đặc điểm của đội ngũ tác giả Hán - Nôm Nam Định từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX.  Cho đến những ngày cuối cùng trước khi nghỉ hưu, anh vẫn say mê làm việc để hoàn thành công trình trước thời hạn. Tháng 8 - 2003 đề tài này đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu xếp loại xuất sắc. Anh được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tặng Bằng khen và Huy chương Vì sự nghiệp khoa học.

       Những sản phẩm tiêu biểu trên đây của anh là kết quả của quá trình lao động vất vả, có trách nhiệm cao, lòng yêu nghề và tài năng của một cán bộ thư viện điển hình. Tuổi đã cao nhưng tinh thần và sức làm việc của anh vẫn không hề giảm sút. Anh thực sự là trụ cột của cơ quan, là đồng nghiệp gần gũi của chúng tôi. Riêng tôi, cả hai thời kỳ nhận nhiệm vụ phụ trách mảng công tác phong trào và địa chí ở Thư viện Nam Định đều may mắn được gắn bó với anh. Anh để lại dấu ấn sâu sắc không chỉ ở riêng tôi, mà còn rất đậm nét trong nhiều người và trong một thời kỳ lịch sử của Thư viện Nam Định. Khi còn cầm súng đánh giặc, anh đã được nhận nhiều danh hiệu Dũng sĩ, Huy chương và Huân chương. Khi là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, anh luôn được bầu là Chiến sĩ thi đua và được nhận nhiều Bằng khen của Uỷ Ban nhân dân tỉnh, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ khoa học công nghệ và môi trường, Bộ Văn hoá Thông tin và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Anh thật xứng đáng với nhứng phần thưởng mà Nhà nước trao tặng.

 

………………..

 

       Nguồn:  Tập san thư viện. - 1997. - Số 4. - Tr. 46 - 47.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           NHÀ VĂN TRẦN THỊ NHẬT TÂN

 

 

         Có lẽ bởi có nhiều điểm giống với nhà văn Trần Thị Nhật Tân nên tôi yêu quý chị chăng. Tôi và chị cùng có thời gian là bộ đội chống Mỹ (chị là lính thông tin chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng Thanh Hoá, tôi là lính bộ binh chiến đấu ở Quảng Trị), cùng sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định (chị ở Bộ môn Văn, rồi vì tự thấy không thể ở Bộ môn Văn được nên chị đã xin sang Bộ môn Thơ. Còn tôi ở Bộ môn Nghiên cứu Phê bình), cùng được “đúc” từ một “lò” đào tạo là Trường Đại học Văn hoá Hà Nội (Tôi học chuyên ngành Thư viện học, chị học Khoa viết văn Nguyễn Du sau gọi là Trường viết văn Nguyễn Du), cùng sống trong một thành phố (nhà chị cách nhà tôi chưa đầy cây số), cùng có nhiều trắc trở trong đời thường (nhưng những trắc trở của chị vượt xa những trắc trở của tôi), cùng có nhiều suy nghĩ trùng hợp về công việc viết văn và về quan hệ ứng xử trong cuộc sống.

         Tôi quen biết Trần Thị Nhật Tân từ năm 1983 sau khi tôi chuyển ngành về công tác tại Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Hồi ấy, chị đang viết tiểu thuyết Dòng xoáy. Hàng ngày chị đến Thư viện tỉnh, ngồi ở một góc khuất trong Phòng đọc để viết sách. Tối đến, chị đi làm thuê làm mướn kiếm sống. Đêm đêm, chị ngủ nhờ khi ở chợ Rồng, lúc ở vỉa hè Nhà hát 3 – 2. Còn gia đình tôi có 5 người, sống trong một nửa gian nhà tập thể chừng 8 mét vuông. Sau giờ làm việc ở cơ quan, tôi tranh thủ lao động kiếm thêm mớ rau, bát gạo. Đêm về tôi ngủ nhờ trên bàn làm việc. Tôi thường than vãn sao đời mình khổ thế. Tuy khổ vậy, tôi vẫn còn có một gia đình và một túp lều che mưa nắng, chứ Nhật Tân thì không. May thay, đời vẫn còn nhiều người tốt. Ông Phan Điền nguyên Bí thư tỉnh uỷ Nam Hà, khi biết hoàn cảnh khốn khó của Nhật Tân, ông đã mời chị về nghỉ tại nhà.

              Lần đầu làm quen chị, tôi hỏi: “Chị công tác ở đâu?” Chị cười mà trông như mếu: “Tôi là giáo viên, nhưng hiện đã “mất dạy” rồi chú ạ!” Chị là giáo viên dạy văn giỏi, nhưng dòng xoáy cuộc đời đã “hất văng” chị ra khỏi ngành giáo dục.

              Dần dần, chị trở thành người thân của gia đình tôi và nhiều gia đình khác trong khu tập thể Thư viện tỉnh. Hai con tôi, đứa lớp ba, đứa lớp bảy, là những bạn đọc đầu tiên được bác Nhật Tân cho đọc bản thảo Dòng xoáy. Cứ ngơi ra là các con tôi lại quẩn quanh bên bác Nhật Tân chờ để được đọc bản thảo tiểu thuyết của bác. Chúng đọc háo hức, khi thì khóc, khi thì cười tuỳ theo bước thăng trầm của nhân vật Lý. Một hôm, con lớn tôi bảo: “Bố ơi! Tiểu thuyết của bác Nhật Tân hay lắm bố ạ. Bác Tân bảo, bao giờ in thành sách, bác ấy tặng nhà ta. Nhưng mà bác ấy nghèo lắm, bố cho tiền chúng con mua sách của bác ấy bố nhé!”. Tò mò, tôi cũng xin chị cho đọc thử. Càng đọc, tôi càng bị cuốn hút vào nội dung tác phẩm. Quả thật, lắm lúc tôi cũng không cầm lòng được trước cảnh éo le của nhân vật Lý, thương nhân vật Lý, thương Nhật Tân. Khi tôi đọc xong bản thảo, Nhật Tân hỏi: “Chú thấy chị viết được không? In được không?” Vốn tính thẳng thắn, tôi bảo: “Nói thật, chị đừng giận, về nghệ thuật thì tiểu thuyết của chị không có gì “ghê gớm” cả, cũng chỉ là tả thực, giọng kể hấp dẫn thôi. Nhưng về nội dung, tính thời sự thì quả tiểu thuyết của chị thật là “ghê gớm”. Chị xoáy vào những tiêu cực trong ngành giáo dục như vậy thì thật dũng cảm. Thời điểm hiện nay khó có nhà xuất bản nào giám in Dòng xoáy. In ra, có khi tác giả phải đi tù chưa biết chừng”. Chị trầm ngâm: “Chị biết. Đấu tranh chống tiêu cực sẽ không tránh khỏi hy sinh mất mát, nhất là những người đi đầu. Nhưng không ai giám đi đầu chịu hy sinh thì để tiêu cực nó làm loạn à?”

              Thế rôi, thời cơ để in Dòng xoáy cũng tới. Năm 1989, Dòng xoáy tập 1 được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành đã tạo ra một cơn “địa chấn” trong dư luận bạn đọc Nam Định. Dòng xoáy tập 2 cũng được Nhà xuất bản Thanh niên cho ra đời năm 1991. Từ khi Dòng xoáy được xuất bản, Trần Thị Nhật Tân phải hứng chịu biết bao khốn khổ cả về việc mưu sinh, cả về mặt tinh thần do những hành động “phản đòn” của nhiều nguyên mẫu ở địa phương gây ra. Nhiều lần chị bị kẻ xấu dùng tiền mua chuộc để thôi không đấu tranh chống tiêu cực, nhưng chị quyết không thoả hiệp. Mua chuộc không được, họ quay ra thoá mạ, đe doạ chị bằng thư nặc danh. Có kẻ còn trực tiếp doạ giết chị. Nhiều năm chị sống căng thẳng vì phải lo đối phó với bọn người xấu, căng thẳng đến ốm mòn. Vậy mà chị vẫn hiên ngang đối đầu với tiêu cực. Có lần nản thay cho chị, tôi bảo: “Hay là chị tập trung vào viết tiểu thuyết, đừng mất thời gian vào việc chống tiêu cực đời thường nữa, nhất là đừng dây vào bọn quan chức thoái hoá”. Chị bảo: “Nếu thế thì chị đâu còn là chị nữa. Không đấu tranh trong thực tế thì chị viết làm sao được.”

              Những cố gắng của chị đã không uổng. Dòng xoáy được nhiều bạn đọc quan tâm tìm đọc. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ viết thư tay gửi chị mà còn hai lần mời chị lên gặp để nghe chị nói về những việc cần làm ngay ở địa phương. Chị còn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp và động viên, khen ngợi về những hành động dũng cảm chống tiêu cực, góp phần làm xã hội tốt đẹp.

         Sau Dòng xoáy, Trần Thị Nhật Tân cho ra đời các tiểu thuyết: Chân trời (Nxb. Quân đội nhân dân, 2005), Tuổi thơ (Nxb. Thanh niên, 2011), Mây trắng (Nxb. Hội Nhà văn, 2015)…

Trần Thị Nhật Tân không chỉ viết tiểu thuyết, mà chị còn viết thơ. Thơ chị khá hay, nhất là thơ cho thiếu nhi. Mơ chín (Nxb. Thanh niên, 1995), Quả trăng (Nxb. Văn hoá Thông tin, 1996), Cuội thế kỷ 20 (Nxb. Thanh Hoá, 1998) là ba tập thơ của chị với bút danh Tú Út. Sau đó chị trình làng các tập thơ ký tên tác giả Trần Thị Nhật Tân như: Thỏ ngoan (Nxb. Thanh niên, 2007), Hồn lá: Thơ lục bát (Nxb. Hội Nhà văn, 2011), Cây đa làng (Nxb. Hội Nhà văn, 2012), Sóng xanh: Thơ (Nxb. Hội Nhà văn, 2019), Nhà em (Nxb. Hội Nhà văn, 2020), Ngựa bố (Nxb. Hội Nhà văn, 2021)...

       Đọc thơ Trần Thị Nhật Tân, tôi nhận ra rất rõ “chất Nhật Tân” ở chất trữ tình pha màu sắc dân gian, làm cho tiếng cười trong thơ chị tăng tác dụng làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Có thể coi bài Thân tằm của Nhật Tân đăng trên Lucbat.com là ngôn chí của chị. Những suy nghĩ và hành động của chị đã luôn hướng vào thực hiện tinh thần ngôn chí đó:

                     Tằm tôi ăn lá dâu xanh

       Âm thầm rút ruột kéo thành sợi tơ

                     Nhảy vào nước lửa khói mờ

Tằm xin được chết dâng tơ cho đời.

              Mỗi lần có sách được in, Nhật Tân lại tặng vợ chồng tôi. Lần chị đem tiểu thuyết Chân trời mới xuất bản tặng tôi, kèm theo một lẵng những rau, bí, khế, ổi do chính tay chị trồng. Chị bảo rau của chị là rau sạch, viết văn cũng phải viết văn sạch. Trong khi chị hăng hái nói về chủ đề rau sạch, văn sạch, tôi mở lướt Chân trời, ngạc nhiên vì bản thảo của chị hai phần (kháng chiến và cải cách ruộng đất ở Nam Định) cả ngàn trang, mà sách lại chỉ in phần một. Hoá ra nhà xuất bản in bao cấp toàn bộ cho tác giả, chi kinh phí chỉ đủ khả năng in một phần. Thấy tôi tỏ ý tiếc rẻ vì phần hai không được in, chị bảo: “Được thế cũng là mừng lắm rồi chú ạ.”

         Năm 2009 nhà xuất bản Thanh niên bao cấp tái bản Dòng xoáy. Sự kiện này lại tạo ra một cơn “địa chấn” mới trong dư luận bạn đọc. Trên báo Thanh niên, báo Người cao tuổi xuất hiện hàng chục bài viết về giá trị và tính thời sự của cuốn sách, về cuộc đời “ba chìm bảy nổi” của tác giả. Hàng ngày chị nhận được hàng chục cú điện thoại, tin nhắn, thư từ của bạn đọc động viên khen ngợi. Nhiều bạn đọc coi chị là tấm gương sáng về tinh thần kiên cường dũng cảm đấu tranh vì quyền con người, vì một xã hội trong sạch, tốt đẹp.

       Nhìn nhà văn Trần Thị Nhật Tân cứ ngày ngày âm thầm đi thực tế rồi viết, lại đi thực tế rồi viết, viết như vắt kiệt chất xám và sức lực của mình mà lòng tôi trào dâng niềm cảm phục. Quả thật tiểu thuyết của Nhật Tân ngồn ngộn chất liệu cuộc sống, chân thực đến độ nhiều bạn đọc cứ quả quyết rằng tiểu thuyết của chị viết về ông X, bà N ở địa phương mình, ở trường học của mình. Chị lấy những sự kiện có thực trong đời sống, từ chính những trải nghiệm trong đời chị, từ tài liệu trong các cơ quan lưu trữ của nhà nước, quân đội, công an làm chất liệu cho tiểu thuyết của mình. Những sự việc có thật trong đời sống nhiều khi tự nó đã hấp dẫn, chị chỉ cần sáng tạo chút ít là thành tác phẩm. Điều đó tăng tính hấp dẫn người đọc, nhưng nếu tác giả non tay nghề là có thể biến tiểu thuyết của mình thành bản ghi chép tư liệu. Thật may là chị được trang bị kiến thức từ Trường Viết văn Nguyễn Du, tay nghề khá nên điều đó đã không xảy ra với tiểu thuyết của chị.

          Nhiều lần tôi xin ý kiến chị để viết về chị, nhưng chị cứ lần khân “để chị xem đã”. Tôi biết chị không muốn tôi phải hứng chịu những hệ luỵ không hay vì chị. Có lần chị bảo: “Chú là cây bút nghiên cứu phê bình “trẻ” (chả là tôi mới vào Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định từ năm 2000) cần phải được yên thân mà viết. Chú không nên vì chị mà rầy rà với bọn tiêu cực. Chú “bênh” chị, bọn nó không để cho yên đâu”. Khi đọc bài “Nhà nghiên cứu lịch sử - văn hoá dân gian Lê Xuân Quang” của tôi trên báo Văn nghệ trẻ số 35+36 năm 2005, chị động viên: “Chú viết rất có hồn, có tình. Cố lên”. Ngày giỗ đầu bác Lê Xuân Quang, chị ốm lử khử mà vẫn đòi tôi lai về quê thắp hương cho bác. Bữa ấy, chị kể mãi về những kỷ niệm với nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang – người bạn vong niên chí cốt của chị em tôi.

         Có điều tôi không hiểu, trong khi dư luận bạn đọc cả nước xôn xao về Dòng xoáy và về tác giả Nhật Tân, thì ở chính quê hương các tác phẩm dự thi của chị đều bị loại ngay từ “vòng để xe”. Còn nhớ khi Dòng xoáy ra đời, có người chụp cho chị là “bới lông tìm vết, vạch áo cho người xem lưng, bôi xấu bộ mặt tỉnh văn hiến”. Tôi lại nghĩ, trái lại, bằng tính chiến đấu và tính chân thật cao của Dòng xoáy, Trần Thị Nhật Tân đã góp phần làm cho địa phương ngày một tốt đẹp hơn.

      

CÔ GIÁO NHÂN HẬU

 

          Đã có rất nhiều bài viết về nhà văn Trần Thị Nhật Tân trên báo chí. Các tác giả tập trung khai thác về những thăng trầm cuộc đời chị, về những tác phẩm của chị như “Dòng xoáy” (đã tái bản 7 lần), “Chân trời”, “Mây trắng”... Nói đến nhà văn Trần Thị Nhật Tân, bạn đọc nghĩ ngay đến điển hình chống tiêu cực và cuộc đời ba chìm bảy nổi của chị. Nhưng có một chi tiết, mấy chục năm qua chị dạy học từ thiện môn văn cho các cháu ôn thi đại học, thì chưa nhà báo nào nói đến.

          Nhà văn Trần Thị Nhật Tân nguyên là nhà giáo bị “mất dạy” (như lời chị nói) từ sau vụ “Dòng xoáy” của chị ra đời. Những phần tử tiêu cực bị nhà văn phanh phui đã sử dụng cả guồng máy chính quyền, đoàn thể, hất văng chị ra ngoài lề xã hội, đe dọa và đầy ải chị sống trong cảnh không nhà, không công ăn việc làm, lang thang bất định.

          Bằng sự kiên trì phấn đấu chị đã vượt lên hoàn cảnh khốn khổ của mình. Năm 1994 chị dành dụm mua được ngôi nhà lá lụp xụp ở xã Lộc Hạ, thành phố Nam Định. Chị dùng ngôi nhà đó làm lớp dạy một số cháu học sinh lớp 12 có hoàn cảnh khó khăn ôn thi đại học, không thu tiền học phí. Chị dạy học từ thiện vì phần thương các cháu nhà nghèo hiếu học, phần để đỡ nhớ nghề của mình. Ngay cả những ngày bị tai biến não, phải nằm liệt giường, chị vẫn dạy văn các cháu ôn thi đại học. Điểm lại các cháu được chị dạy văn, cháu nào cũng đỗ đại học. Nhiều cháu thi đại học, môn văn bị điểm liệt, trượt. Năm sau học chị đã đạt điểm khá giỏi và đỗ đại học.

          Việc nhà văn Trần Thị Nhật Tân dạy học ban đầu cũng không được phụ huynh tin tưởng. Có phụ huynh mắng con: “Học lò luyện thi mất mấy chục triệu còn trượt, nữa là học bà không thu tiền thì ăn thua gì.” Nhưng thời gian và kết quả việc dạy ôn thi cho các cháu đã làm những người không tin chị phải thay đổi nhận thức.

       Cháu Đàm Thị Bích Ngọc, ở cạnh nhà chị Tân, được nhà văn hướng dẫn đọc các tác phẩm văn trong chương trình lớp 12, đọc “Tuổi thơ dòng xoáy” của nhà văn, cháu đã viết bài “Gửi người gieo hạt giống tâm hồn” được đăng trên báo Pháp luật Việt Nam số 50 ngày 19-2-2012. Cháu vừa tốt nghiệp Bác sĩ điều dưỡng, làm việc tại Hà Nội.

       Cháu Trần Xuân Tùng, cùng xóm với nhà văn Nhật Tân, được nhà văn kèm học từ lớp 3 đến lớp 12. Tốt nghiệp đại học loại giỏi năm 2015 nhưng không xin được việc làm. Nghe lời nhà văn Trần Thị Nhật Tân khuyên, cháu đã xin đi lao động ở Nhật. Trước khi đi, cháu ôm chặt nhà văn: “Giờ cháu mới thấy tiếc. Giá cháu nghe lời bà học tiếng Anh cho giỏi thì đâu đến nỗi khổ nhục. Bà cao tuổi, nhưng suy nghĩ của bà lại rất hiện đại, rất trẻ. Sang Nhật, cháu sẽ cố học tiếng Anh, tiếng Nhật thật giỏi bà ạ”.

       Năm nào cũng có dăm ba cháu theo học cô giáo Nhật Tân. Cháu nào đã học cô Nhật Tân, điểm thi đại học môn văn cũng đều khá giỏi. Năm học 2010-2011, cháu Trần Thị Oanh là con cô giáo Hải, bạn đồng nghiệp với nhà văn ở trường Trần Quốc Toản ngày chị Tân còn chưa “mất dạy”, được nhà văn hướng dẫn ôn thi môn văn, đã đỗ đại học, môn văn đạt 8,5 điểm. Cháu được cấp học bổng đi Ấn Độ. Mẹ cháu tặng cô Nhật Tân cái xe đạp để cảm ơn.

       Năm 2015-2016, cháu Trần Ngọc Ánh cùng tổ dân phố với nhà văn, rủ 5 bạn theo học bà Tân. Kết quả cả 5 cháu đều đỗ đại học. Vở ghi bài giảng của cô giáo Nhật Tân được mấy chục cháu ở Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong pho to tham khảo. Cháu Trần Ngọc Anh có nguyện vọng theo nghiệp nhà văn như cô giáo Nhật Tân, mơ ước trở thành tác giả kịch bản phim. Chị Tân hướng dẫn cháu viết kịch bản ngắn. Cháu thi năng khiếu đỗ Đại học Điện ảnh. Cháu vừa gọi điện về khoe với cô Nhật Tân: “Bà ơi, cháu được các thầy cô khen là giỏi nhất lớp. Cháu được nhà trường chọn cho đi Sơn La, Mộc Châu quay phim bà ạ.”

       Năm vừa qua, nhà văn Nhật Tân dạy 11 cháu lớp 9 ôn thi vào lớp 10. Có cháu tâm sự: “Bố mẹ cháu nghèo, chạy tiền học cho cháu rất vất vả. Mỗi năm học thêm cô giáo mỗi môn hết cả chục triệu bạc. Nhưng cháu học bà thì bố mẹ lại lo cháu không đỗ. Cháu nói với bố mẹ cháu là bà Tân dạy ngắn gọn, dễ hiểu, rất dễ hệ thống kiến thức. Với lại bố mẹ đừng lo. Thi vào cấp 3 thì thầy cô giáo cấp 3 chấm bài thi, chứ cô giáo con có chấm đâu.”  Nhà văn bảo: “Các cháu cố gắng học để đỗ vào cấp 3, nếu các cháu trượt thì chắc chắn bà bị các phụ huynh chửi cho nhức óc”. Khi nghe tin cả 11 cháu đều đỗ, nhà văn Nhật Tân mới thở phào nhẹ nhõm.

       Nhà văn Nhật Tân nói với tôi: “Nhờ dạy học từ thiện mà chị khỏi bại liệt đấy. Số là con ông lang gia truyền dốt văn. Nghe tiếng chị dạy văn các cháu đều đỗ, ông lang liền đưa con đến nhà nhờ chị kèm cho môn văn. Khi ấy là năm 2004, chị đang kèm mấy cháu học ôn thi đại học. Thấy chị nằm dạy học, ông lang cắt cho chị 10 thang. Chị uống hết 10 thang thuốc thì bò dậy chống gậy đi lại được. Chị uống liền một năm trời, mỗi ngày một thang, sức khỏe hồi phục, đi lại bình thường. Dạy con ông lang không thu tiền, nhưng chị trả hết tiền thuốc của ông lang. Khi con ông lang đỗ đại học, chị cho cháu tiền để tỏ lòng cảm ơn ông lang chữa cho chị khỏi bại liệt.”

       Nhớ chuyện chị di chúc hiến tặng tài sản nhà đất cho Hội Văn học Nghệ Thuật Nam Định mà không được toại nguyện, tôi lại càng thương chị. Nhìn người phụ nữ già nua khắc khổ, nổi tiếng “đánh đấm” chống tiêu cực, mấy ai nghĩ nhà văn Nhật Tân lại là người có tấm lòng nhân hậu rất đáng quý trong thời buổi đạo đức xuống cấp như hiện nay. Việc chị lặng lẽ dạy không thu tiền cho các cháu hoàn cảnh khó khăn ôn thi đại học là một minh chứng cho điều tôi nghĩ.

 

       VƯỢT LÊN BỆNH TRỌNG

 

          Nhà văn Trần Thị Nhật Tân bệnh trọng từ năm 2000 đến nay vẫn kiên trì níu vào những vần thơ, trang văn để thắng bệnh tật.

         Viết xong tiểu thuyết “Chân trời” đề tài chiến tranh nhân dân (Kỷ niệm sau lần Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mời gặp và thực hiện lời khuyên của Đại tướng), nhà văn Nhật Tân bị tai biến não nằm liệt giường. Nhờ thầy thuốc giỏi nhiệt tình cứu chữa, nhà văn đã chống gậy đi được, rồi dần dần hồi phục.

         Năm 2015 nhà văn lại bị u máu, phải đi viện chữa trị thường xuyên, kéo dài đến 2017 vẫn không khỏi. Khối u ngày càng lớn. Cuối cùng bệnh viện quyết định phẫu thuật. Hiện tại nhà văn lại bị một u mới. Nhà văn kiên trì tích cực sắc thuốc uống theo hướng dẫn của thầy lang. Dù bệnh tật, đau đớn, ngay cả khi phải nằm liệt, nhà văn vẫn duy trì việc dạy học miễn phí bồi dưỡng các cháu nhà nghèo thi đại học. Trên bàn viết văn của Nhật Tân có ghi bốn câu thơ tự động viên viết từ năm 2000:

              Ốm đau là việc của mày

Bút tao vẫn thẳng đường cày giấy thơm

              Gieo vần chọn chữ sớm hôm

Trồng cây tác phẩm hoa đơm bốn mùa.

         Năm 2019, nhà văn viết bài thơ “Lao động”:

              Tuổi cao bệnh trọng kệ mày

Luôn tay xới đất bút cày giấy thơm

              Bốn mùa quả ngọt hoa đơm

Trang văn bướm lượn rập rờn tiếng chim

              Đất lành già trẻ đi tìm

Chia vui câu chuyện nhấn chìm khổ đau

                     Nhật Tân nghèo trở nên giàu

Giàu tình nhân ái phép màu bệnh xa.

       Ở tuổi 78, khi viết thơ cho trẻ nhỏ, nhà văn Nhật Tân vẫn giữ được tâm hồn trong sáng của tuổi mầm non, tiểu học.

Trần Thị Nhật Tân sống độc thân. Ngày ngày nhà văn lao động làm vườn phụ với đồng lương ít ỏi sinh sống, chăm chỉ viết văn in sách rồi tự mình mang sách đi bán. Nhà văn Nhật Tân gò gẵng đạp xe đi khắp các trường tiểu học trong thành phố, chầu chực gặp các hiệu trưởng chào bán tập thơ thiếu nhi vừa in. Có lần tôi định bảo chị còn bao nhiêu sách thì bán cho em, nhưng nhà văn vui như hội bảo: “Vui quá chú ơi! Hôm nay gặp được một số phụ huynh và Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lộc Hạ, bán được gần hai chục cuốn. Sách đến tay bạn đọc nhỏ tuổi thật mừng chú ạ!”. Ôi, mừng cho chị.

         Trong mắt tôi, nhà văn Trần Thị Nhật Tân là một nhà văn chân chính của công chúng, một nhà văn khác thường.

       Khi tôi viết những dòng cuối cùng của bài ký này thì được tin vui: Một số học trò cũ đang làm việc ở Đức đã quyên góp tiền xây nhà mới bốn tầng cho cô giáo Trần Thị Nhật Tân. Tôi vội qua nhà chị Tân xem thế nào thì thấy ngôi nhà cũ của chị đã bị phá. Thay vào đó là một nền móng nhà mới đang hình thành. Không gặp chị, tôi vẫn nói thành lời: Mừng cho chị.

 

       Thành Nam, 8-3-2022

                  TMG

 

 

 

       MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA

                            (1946 – 2017)

 

 

       Năm 2005 Đồng Ngọc Hoa vào tuổi sáu mươi mới nộp hồ sơ và đơn xin gia nhập Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, bộ môn Nghiên cứu phê bình, với vốn liếng tác phẩm là một tập hơn một trăm bài đăng báo trung ương và địa phương. Năm ấy hội chưa ra quy chế không kết nạp người trên sáu mươi tuổi, phải có hai tác phẩm sách xuất bản trên hai năm mới được kết nạp. Có nghĩa là Đồng Ngọc Hoa vẫn đủ tiêu chuẩn vào hội. Nhưng khi đưa ra bộ môn xét thì kết quả phiếu thuận không quá bán với lý do Đồng Ngọc Hoa chưa có sách. Tôi chưa biết về Đồng Ngọc Hoa nên không dám ý kiến gì. Ý kiến phủ định chiếm ưu thế. Đồng Ngọc Hoa trượt.

       Thời gian này tôi còn làm Trưởng phòng Địa chí Thư mục và phong trào Thư viện cơ sở. Công việc buộc tôi phải nắm rõ những tác giả tác phẩm Nam Định từ xưa đến nay để thường xuyên bổ sung cho Thư mục nhân vật Nam Định (đã in thành sách). Đồng Ngọc Hoa chưa có tên trong Thư mục nhân vật Nam Định.

Năm 2006, một hôm Đồng Ngọc Hoa bất ngờ xuất hiện trước cửa phòng làm việc của tôi. Đồng Ngọc Hoa dáng người thấp đậm, mặt trông phúc hậu, thật thà, hơi “cũ”, nông dân. Sau khi nghe Đồng Ngọc Hoa tự giới thiệu, tôi thầm nghĩ: “Chắc ông này tranh thủ xin phiếu mình đây.” Và tôi có ý e dè cảnh giác. Nhưng sau cuộc tiếp xúc đầu tiên ấy, Đồng Ngọc Hoa không hề có ý xin phiếu, mà ứng xử rất tự nhiên, chân thật, quý trọng tôi thực sự vì “đã nghe nhiều tiếng tốt” về tôi. Cùng cảnh từ đại học nhập ngũ, tính thẳng, trung thực, thấy chuyện bất bình không bỏ qua… Tôi linh cảm, Đồng Ngọc Hoa là người chơi được, tương lai sẽ có những tác phẩm khẳng định mình. Cái linh cảm ban đầu ấy đã không lừa tôi. Tôi và Đồng Ngọc Hoa trở thành bạn thân thiết, gắn bó nhau, đồng cảm trong sáng tác cũng như trong đời sống.

       Năm 2007, Bộ môn Nghiên cứu phê bình lại bỏ phiếu xét kết nạp Đồng Ngọc Hoa. Trưởng bộ môn Hoàng Dương Chương phát biểu:

- Ngày trước, nhiều vị ngồi đây khi vào hội đã có tác phẩm nào đâu. Sau khi vào hội rồi mới có tác phẩm…

Hoàng Dương Chương nói sự thật. Kết quả: phiếu thuận quá bán, Đồng Ngọc Hoa trúng.

Đồng Ngọc Hoa nhanh chóng hòa mình vào sinh hoạt văn học nghệ thuật và lịch sử. Sau khi vào hội mấy năm, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp trình làng sáu bảy tác phẩm. Điểm sáng nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của ông là những cuốn viết về lịch sử Phật giáo địa phương. Chợt nghĩ, tài năng Đồng Ngọc Hoa phát tiết ra khi ông đã già, tôi viết mấy câu văn vần tặng ông như sau:

       Một thời mê mải việc quân

Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo

         Cửa Thiền không - sắc lần theo

Hào quang Phật sử một chiều thăng hoa.

Đồng Ngọc Hoa còn làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử tỉnh, góp công sức tích cực cho hội này. Có lần tình cờ tôi biết giá tiền chi cho làm số tập san của hội quá cao so với thực tế. Đồng Ngọc Hoa bảo số sau sẽ nhận làm. Kết quả giá thành số tập san do Đồng Ngọc Hoa lo chỉ bằng một phần tư số trước.

Lại có lần Đồng Ngọc Hoa vừa đến nhà tôi, chưa kịp dựng xe đã bốc hỏa:

       - Bực quá ông ạ. Tôi đưa ông vào danh sách đề nghị tặng Kỷ niệm chương, nhưng ông chủ tịch gạch tên ông đi. So với một số người được đề nghị, ông có nhiều tác phẩm hơn. Ngay như ông A đấy, có tác phẩm nào riêng đâu, mấy tác phẩm nêu ra toàn là đồng tác giả. Mà mấy tác phẩm làm căn cứ đề nghị tặng kỷ niệm chương cho ông A, ông cũng là đồng tác giả nó mới hài chứ! Tôi áy náy với ông quá!

       - Thôi buông xả cho vui nào. Danh hão rồi chết đi là hết. Với lại họ đâu coi trọng tác phẩm. Họ coi trọng việc anh sinh hoạt tổ chức góp gì cho hội, anh có làm cán bộ hội không… Thì hầu hết các vị được tặng Kỷ niệm chương là trong Ban chấp hành đấy thôi.

       Đồng Ngọc Hoa nghe tôi nói vậy mới dần dần hạ hỏa.

       Đồng Ngọc Hoa yêu cầu tôi gửi bài cho tập san hội sử học. Tôi gửi bài viết Chân dung nhà nghiên cứu lịch sử Lê Xuân Quang và bài phản biện về Người vẽ cờ Tổ quốc. Đồng Ngọc Hoa ủng hộ quan điểm làm sử là phải trung thực, có chứng cứ. Nhưng Đồng Ngọc Hoa lăn tăn về bài phản biện của tôi, liệu ban biên tập có dám ủng hộ không? Tôi bảo:

- Tôi tin là ông Chủ tịch Hội sử sẽ thích bài phản biện của tôi. Ông ấy và tôi mấy lần cùng trong Ban nghiệm thu công trình nghiên cứu khoa học của tỉnh. Nghe ông ấy nhận xét thẳng thắn, coi trọng sự thật, không kiêng dè ai, tôi rất nể phục.

Đồng Ngọc Hoa bảo:

- Xưa nay Tuyên giáo và các tác giả căn cứ vào truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng, mặc nhiên công nhận trong sách báo rằng ông Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc. Nay ông phản biện điều đó, chứng minh ông Nguyễn Hữu Tiến không phải là người vẽ cờ. Tôi nghĩ các vị ấy sợ chết khiếp, không dám động đến tuyên giáo đâu. Dù ông có chứng cứ xác đáng, họ chưa chắc dám sử dụng. Cứ có chuyện động đến quyền lợi địa vị cá nhân họ thì mới biết họ thế nào! 

Một thời gian sau, Đồng Ngọc Hoa đến tôi, bất cần:

       - Tôi đếch làm tập san nữa, để cho các vị ấy làm. Các vị ấy muốn hất tôi ra để tự do thao túng. Rồi ông xem, giá thành lại cao ngất, bài vở tuyền ca ngợi…

       Quả nhiên, khi tập san ra mắt, hai bài của tôi đã bị loại. Bài của Trịnh Thị Nga bảo tàng thành phố do chính tôi gửi hộ lại bị gán tên tác giả cho người khác. Đúng là Đồng Ngọc Hoa có kinh nghiệm sống hơn tôi. Tôi bảo:

- Tôi không bất ngờ về việc bài bị loại, mà tôi thất vọng vì đã nhìn nhận nhầm về ông Chủ tịch. Tôi cứ ngỡ ông ấy là người trung thực, coi trọng sự thật… Mà thôi, cho qua chuyện này đi ông ạ. Tổng biên tập Văn Nhân vừa điện báo cho tôi rằng họ đăng bài phản biện của tôi trên Văn Nhân số tới.

Đồng Ngọc Hoa bảo:

- Vậy tốt rồi! Tôi chỉ buồn vì hội chuyên ngành sử của mình mà lại hèn đến vậy. 

       Đồng Ngọc Hoa vốn trực tính nhưng hiền lành. Chỉ thân thiết lắm Đồng Ngọc Hoa mới xả ra những buồn bực của mình như vậy.

       Đồng Ngọc Hoa và tôi dự kiến in chung một tuyển nghiên cứu chuyên đề. Nhưng ý tưởng không thành. Năm 2020, Đồng Ngọc Hoa bất ngờ phát hiện ra mình bị bệnh ung thư. Tôi gửi email động viên Đồng Ngọc Hoa:

       Nghe tin bạn bị ung thư

Giật mình hụt hẫng tưởng như sập giời

       Tri âm đâu được mấy hồi

Niết Bàn sao nỡ định đòi đón lên?

       Biết là sống gửi nào quên

Mà lòng tha thiết với duyên cõi trần

       Ông, tôi mới thất bát tuần

Còn hai ba chục cái xuân ở đời

       Sống chung với bệnh ta cười

Kiên gan bền chí như thời chiến binh

       Mặc cho số kiếp xoay vần

Yêu xuân quyết giữ lấy xuân đến cùng!

                     8h ngày 1 – 5 - 2020

       Chúng tôi đến thăm, Đồng Ngọc Hoa nắm tay tôi rưng rưng. Mệnh trời khó chống, Đồng Ngọc Hoa ra đi vào ngày 13 – 6 – 2020.

       Thỉnh thoảng giở xem lại ảnh Đồng Ngọc Hoa cùng chúng tôi chụp kỷ niệm trong sinh hoạt bộ môn, đi quán ăn khao mừng tác phẩm mới hoặc mừng giải thưởng, đi thăm thú bạn bè… tôi lại rưng rưng nhớ người bạn thân thiết hiếm gặp trong đời.

 

       Thành Nam, 20 – 5 - 2022

 

 

 

 

 

 

NHÀ VĂN TRẦN THỊ HẰNG

 

 

            Trần Thị Hằng tên thật là Trần Thị Nguyệt Hằng, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1947 tại xóm Đông Thành, xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tuổi ấu thơ của chị được nuôi dưỡng bằng tình yêu sâu sắc của mẹ và tính nghiêm khắc của cha, một sĩ quan hải quân. Tâm hồn chị thấm đẫm những câu hát ru, những chuyện kể của mẹ về truyền thống làng Trà Lũ, một làng nổi tiếng nhiều giai thoại về văn và võ.

              Năm 1969 chị nhận công tác ở Đài Phát thanh Hải Phòng (nay là Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng) và gắn bó với nghề báo tới khi nghỉ hưu. Chị lần lượt đảm nhiệm các công việc và chức vụ: Phóng viên Kinh tế - Văn hoá xã hội - Thời sự Chính trị, Trưởng phòng chuyên đề, Phó ban kinh tế, Trưởng ban văn nghệ, Trưởng ban văn xã thời sự chính trị. Hiện nay chị là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Hải Phòng, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng.

              Hơn ba mươi năm gắn bó với Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, bằng tài năng và lòng yêu nghề, chị đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đài phát triển và được đồng nghiệp quý mến. Trong cương vị một nhà báo, chị luôn bám sát thực tế, dồn hết tâm huyết vào tác phẩm, phản ánh cuộc sống một cách chân thực. Các tác phẩm của chị đã thể hiện thái độ khen chê rõ ràng, nhiệt tình ủng hộ cái tốt, kiên quyết đấu tranh với cái tiêu cực. Những kẻ làm ăn bất chính bị chị phơi bày trên công luận đã gây cho chị không ít phiền phức bằng những lời đe doạ, những hành vi trả thù hèn hạ, mua chuộc tinh vi. Trước sự phản kích của cái tiêu cực, chị vẫn vững vàng, dũng cảm, giữ trọn phẩm chất người làm báo. Chị được dư luận đồng tình ủng hộ và khuyến khích. Các tác phẩm của chị liên tiếp nhận được những giải thưởng của trung ương và địa phương: "Hợp tác xã Sông Hương và những vấn đề của nghề thêu xuất khẩu" (Phóng sự điều tra) được Giải nhì Báo chí toàn quốc năm 1983, "Đường vào của những con tàu" (Phim tài liệu) đoạt Huy chương bạc trong Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1992, "Thấy gì nơi cửa ngõ thành phố" (Phóng sự điều tra) được nhận Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1993, "Đằng sau những hợp đồng kinh tế" (Phóng sự điều tra) được nhận Huy chương vàng Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1994, "Mùa xuân hát đúm cho em hẹn hò" (Phim tài liệu) giành Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1998...

              Không chỉ thành công trong nghề làm báo, đặc biệt là phóng sự điều tra, mà chị còn thành công trong cả sự nghiệp văn chương.  Tác phẩm đầu tiên của chị được in thành sách là kịch ngắn "Cứu xe"  (Nhà xuất bản Văn hoá, 1968). Chị bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, lấy tiêu đề là "Chúng tôi đang sống với nhau". Khi viết xong, chị hăm hở đem bản thảo đến một số nhà xuất bản và... không được in. Mất bao công sức, thời gian mà không thành công, chị không nản chí. Chị tự nhủ coi như đây là sự tập dượt trong nghề văn. Chị lao vào công tác báo chí, dự các trại sáng tác để tăng vốn sống và hiểu biết về lý luận văn học. Một số bút ký, truyện ngắn, bài viết của chị được đăng trong báo, tạp chí trung ương và địa phương. Năm 1993 chị hoàn thành bản thảo tiểu thuyết "Những người đàn ông đã gặp" và gửi Nhà xuất bản Hải Phòng rồi chờ đợi trong lo âu, phấp phỏng. Không đầy ba tháng sau, cuốn tiểu thuyết đã được xuất bản và phát hành rộng rãi. Tác giả được nhà xuất bản bao cấp toàn bộ. Ngay sau đó, cuốn sách lại được nhận Giải nhì (Không có Giải nhất) Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng. Chị lấy những người, những việc diễn ra ở làng Trà Lũ quê hương mà chị từng quen, từng biết làm "chất liệu" cho tiểu thuyết của mình. Chị tâm sự: "Xuân Trung, Xuân Trường là vùng trù phú, trên bến dưới thuyền, nhà thờ, chùa chiền cổ kính. Thuở nhỏ vào dịp hè, tôi rất thích theo mẹ đi chợ phiên"... Có lẽ tình yêu quê hương đã giúp chị viết thành công tiểu thuyết "Những người đàn ông đã gặp". Tình yêu quê hương và lòng say mê nghiệp văn chương thôi thúc chị viết tiếp tập hai với tiêu đề "Cây trầu không", nhà xuất bản Hải Phòng in năm 2001. Vừa qua "Cây trầu không" của chị đã được nhận Giải C của Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho thể loại tiểu thuyết.

              Đã nghỉ hưu, nhưng sức viết của chị không suy giảm. Chị thổ lộ: "Cuộc sống riêng có niềm say mê làm báo, viết văn, thích đi, thích đọc, thích viết, điều gì cũng muốn biết. Khi làm báo, ưu thế là thể loại bút ký và phóng sự điều tra ở mảng kinh tế. Khi viết văn, biết rung động trước số phận không may mắn và cả... câu nói, cái nhìn của người khác" (Nhà văn Hải Phòng chân dung và tác phẩm). Dường như niềm đam mê nghiệp văn chương không cho chị nghỉ. Chị đang tập trung viết tiểu thuyết "Sóng nhiễu" với lời tựa: "Đây là câu chuyện có thật ở một đài truyền hình địa phương - Thật đến từng chi tiết. Nhưng vì những lý do tế nhị tôi không đề tên thật mong bạn đọc thông cảm". Vốn đã thành công khi lấy bản thân và những người xung quanh làm nguyên mẫu, coi trọng tính chân thực lịch sử cụ thể, chắc chắn chị sẽ thành công trong "Sóng nhiễu".

              Vừa đi trại sáng tác ở Tam Đảo về, chị hồ hởi báo tin cho tôi biết: "Hằng đang chuyển thể hai tiểu thuyết "Những người đàn ông đã gặp" và "Cây trầu không" sang kịch bản phim. Hy vọng cái làng quê nhỏ bé Xuân Trung, Xuân Trường của chúng ta sẽ lên phim đấy. Đó còn là nỗi khát khao về những gì muốn làm cho quê hương của Hằng".

              Với tài năng, niềm say mê nghệ thuật và tình yêu quê hương tha thiết của mình, nhà văn Trần Thị Hằng sẽ còn thành công hơn nữa trong những tác phẩm sắp ra đời của chị.

………………….

 

Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 2003. – Số 4. – Tr. 39 – 40.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

         HỌA SĨ ĐẶNG SƠN NAM

 

Bút danh: Đặng Sơn Nam, Nam Sơn, Đặng Nam.

Sinh năm 1949. Quê xã Mỹ Hưng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Trình độ văn hóa 10/10. Trình độ chuyên môn: Cử nhân Văn hóa. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1983. Nguyên Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao thành phố Nam Định.

       Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định từ năm 1984.

THÀNH TÍCH:

- Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

- Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa.

- Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

- ...

       GIẢI THƯỞNG:

- Huy chương Vàng thiết kế Mỹ thuật sân khấu Sở Văn hóa Thông tin năm 1995.

- Giải Xuất sắc về Thiết kế Mỹ thuật cho đoàn Bưu điện tỉnh tham gia Hội diễn ngành Bưu điện toàn quốc năm 1995.

       TÁC PHẨM CHÍNH:

- Máy tuốt lúa. - Đi vào vũ trụ. - Tháp Phổ minh. - Bình minh. - Bác Hồ với thiếu nhi. - Trường tồn. - Tháng tám hội Cha. - Tháng ba hội Mẹ.

 

          “...Tôi với Đặng Sơn Nam cùng được đào tạo từ Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nhưng ở hai chuyên ngành khác nhau: Tôi theo chuyên ngành Thư viện học, Đặng Sơn Nam theo chuyên ngành Văn hóa quần chúng.  Loanh quanh thế nào tôi và anh lại cùng công tác ở thành phố Nam Định. Tôi ở Thư viện tỉnh Nam Định, cách cơ quan Trung tâm văn hóa, thông tin và thể thao thành phố Nam Định mà anh làm Giám đốc chưa đầy 500 mét. Do yêu cầu công tác, thỉnh thoảng tôi lại sang bên anh, khi cộng tác tổ chức hội thi giới thiệu sách, khi cùng tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ bưu điện xã và cơ sở... Nhớ lại thời ấy, trong tôi vẫn sáng lung linh hình ảnh những cán bộ văn hóa cùng thời, những người sống thật thiếu thốn vật chất, nhưng lại hết mình vì công việc. Trong số ấy, hình ảnh anh Đặng Sơn Nam, với cương vị Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể thao thành phố thật giản dị mà oai phong lắm. Bởi anh trực tiếp quản lý và điều hành phần lớn số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện mọi nghiệp vụ văn hóa thông tin thể thao của thành phố...

            Nghiệp vụ được đào tạo của Đặng Sơn Nam là quản lý văn hóa quần chúng. Tôi hay đùa: “Các bố Văn hóa quần chúng thì cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết sâu về cái gì cả”. Nhưng Đặng Sơn Nam thì khác, anh làm rất tốt nhiệm vụ thuộc chuyên ngành đào tạo của mình là quản lý nhà văn hóa, bằng chứng là về văn hóa thông tin thể thao, thành phố Nam Định thường xuyên là đơn vị xuất sắc trong tỉnh. Đặng Sơn Nam làm tôi ngạc nhiên và kính nể, không phải vì anh làm tốt chuyên môn thuộc chuyên ngành được đào tạo, điều đó tất nhiên và bình thường, mà ở chỗ anh kiêm thêm nghề tay trái là hội họa và gặt hái được thành công đáng khích lệ. Khen thì anh khiêm tốn bảo: “Cũng do yêu cầu công tác văn hóa đòi hỏi nên liều mà làm. Cũng chỉ là mấy tác phẩm nghiệp dư thôi mà...” Nói rồi anh cười khơ khớ rất thoải mái, vô tư, chân thành. Khi anh cười, lộ ra khoảng trống nơi hai cái răng cửa bị khuyết, nhìn một lần khó mà quên được. Ở tuổi ngoài lục tuần, anh bị huyết áp cao rất nặng, không giám đi xe máy, đi đâu phải nhờ người chở đi. Vậy mà anh chẳng chịu ngồi yên ở nhà. Anh mong ngóng bạn văn đến chơi, rồi bám càng bạn đi thăm bè bạn. Ở đâu có mặt anh, ở đó ăm ắp tràn trề tiếng cười vô tư của anh...

          Anh có nhiều bài nghiên cứu về mỹ thuật, văn hóa, lịch sử đăng trên báo và tạp chí như Văn Nhân, Văn hóa Thông tin Nam Định... Mảng hội họa, anh có nhiều tranh minh họa, tranh châm biếm, tranh mỹ thuật, tranh cổ động in trên báo trung ương và địa phương. Một số tranh sơn dầu, lụa, bột màu và tranh cổ động của anh đã được tham gia triển lãm mỹ thuật ở tỉnh, khu vực và toàn quốc. Nghỉ hưu rồi, anh vẫn cặm cụi vẽ bìa sách cho bạn văn, mà bìa anh vẽ lại đẹp và ý nghĩa chứ. Dường như năm nào anh cũng vẽ một tranh về hoa và con vật biểu tượng của năm đó. Anh bảo: “Vẽ để kỷ niệm ghi dấu năm và để vui”...

          Và quả thật, mỗi khi có anh, chúng tôi quên đi những đắc thất ở đời, hòa chung không khí vui vẻ mà anh đem đến cùng tiếng cười vô tư, chân thành và thoải mái...

          Tôi trân trọng gọi anh là Họa sĩ Đặng Sơn Nam”...

                  THƯƠNG NHỚ ANH TỐNG HIỂN

 

 

          8h ngày 15 – 4 – 2015 tôi đến thăm nhà văn Trần Quốc Tiến theo hẹn từ trước, chưa kịp nhắp môi chén rượu vang nhà văn mời thì tiếng chuông điện thoại di động vang lên trong túi áo ngực.

          - Hạnh à! Có việc gì thế cháu?

          - Bác ơi!... Bố... Bố cháu... mất... rồi!...

          Tiếng cháu Hạnh, con gái thứ ba của nhà nghiên cứu Tống Hiển, nghẹn ngào.

          Dù đã chuẩn bị tâm lý từ trước đón nhận tin này, mà sao tôi vẫn lặng người hụt hẫng. Xin phép nhà văn Trần Quốc Tiến, tôi phóng về ngay nhà Tống Hiển.

          Tống Hiển nằm trên giường, da tái nhợt, mắt nhắm hờ, miệng như đang mủm mỉm cười, cái cười thường trực trong cuộc sống hàng ngày của anh.      

          Tuần trước, tôi thăm Tống Hiển, thấy anh đã mệt lắm, không ăn được, tiếng nói khào khào không rõ, phải dùng tay ra hiệu. Tôi linh tính Hiển sắp đi rồi, nhưng không dám nói ra lời, chỉ nhắc các cháu Hạnh, Hồng:

          - Các cháu in nhanh tuyển thơ của bố cho bố nhìn thấy bố mừng.

          Trong đầu cứ luẩn quẩn ý nghĩ Hiển sắp đi rồi, tôi lên mạng comments tin cho Nhà thơ – Nhạc sĩ Lê Huy Tập ở thành phố Hồ Chí Minh.

          Tôi vẫn cứ hy vọng Hiển sẽ kịp nhìn tập thơ tuyển của mình do các con sưu tầm xuất bản. Vậy mà... Thôi rồi, Hiển ơi!...

                                            *

          Tôi và vợ chồng Hiển quan hệ gần gũi nhau từ lâu. Chanh, vợ Hiển, học đại học Thư viện khóa 7, vợ chồng tôi học khóa 6. Hơn hai chục năm vợ chồng tôi công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định, thì Chanh công tác ở Thư viện huyện Nghĩa Hưng, Tống Hiển công tác ở Phòng quản lý xuất bản Sở Văn hóa Thông tin tỉnh. Hoàn cảnh công tác tạo điều kiện cho chúng tôi càng gần gũi nhau hơn. Từ những năm 1985 – 1995 tôi thường đi công tác các huyện, nhiều lần tổ chức lại Thư viện huyện Nghĩa Hưng, thường mỗi đợt hàng tuần liền. Chanh nấu cơm ở nhà đón tôi về ăn cùng gia đình. Những ngày ấy đời sống còn rất khó khăn. Năm mẹ con Chanh sống trong gian tập thể cơ quan, phòng ở kiêm bếp nấu ăn. Bốn đứa trẻ lít nhít, đứa lớn bế đứa bé, trông như những hạt mít. Con Hạnh, thằng Hùng bé nhất, lưng trần, quần đùi. Bọn trẻ rất ngoan. Sau giờ làm việc, tôi thường chơi với bọn trẻ, dạy chúng bện gấp chim, tàu thủy. Cuộc sống vất vả in lên khuôn mặt và thân hình bé nhỏ của Chanh dáng khắc khổ, già trước tuổi.

          Hơn chục năm nay, Hiển chuyển nhà ra Ô 19 thuộc phường Hạ Long, thành phố Nam Định, ngay sau nhà tôi. Con cái Hiển Chanh cũng đã trưởng thành. Con gái lớn dạy học ở Nghĩa Hùng, con gái thứ hai làm phóng viên báo Nam Định, con thứ ba làm ở Thư viện tỉnh Nam Định, con trai út là kỹ sư.

          Ngỡ Chanh sẽ đến thời kỳ hưởng an nhàn. Ai ngờ... Mổ cắt một bên thận được 18 năm thì Chanh mất. Vợ qua đời, Tống Hiển suy sụp sức khỏe đến không gượng lại được. Nhớ hôm tiễn Chanh ra xe tang về quê, tôi dìu Hiển đi được độ hai trăm mét thì Hiển mệt không thể đi được nữa. Từ đận ấy, Hiển sống lắt lay, ngơ ngác đến khi qua đời, chỉ được 6 năm.

          Cùng tuổi, nhưng tôi hơn Hiển ba tháng nên Hiển thường gọi tôi là bác, xưng em. Cùng là lính chiến trường Quảng Trị năm 1971 – 1973, cùng yêu văn học nghệ thuật, cùng được kết nạp vào Bộ môn Nghiên cứu Phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh một đợt (năm 2000) nên tôi có nhiều đồng cảm với Hiển. Hiển tốt nghiệp đại học ngữ văn chính quy. Làm nghiên cứu nhưng tài thơ của Hiển lại khá trội.

          Những năm Hiển công tác ở Sở Văn hóa Thông tin, làm tạp chí Văn hóa và trực tiếp thẩm định tác phẩm để cơ quan cấp lệnh xuất bản, khách khứa (phần đông là các tác giả) ra vào thăm Hiển dập dìu. Tính Hiển thoải mái, chơi với tất cả các loại người, coi vị quan chức bình đẳng với anh xích lô, tất cả đều là bạn! Những năm vợ con ở Nghĩa Hưng, Hiển sống trong khu nhà làm việc của cơ quan. Hàng ngày Hiển ăn uống qua loa, thường khi một hai chén rượu hoặc vại bia với mấy củ lạc, gói mì tôm là xong bữa. Có người bảo Hiển sống lập dị.

          Bên trong cái vẻ ngoài lập dị của Hiển là một tâm hồn đa cảm, nhân ái và một tài năng văn học. Hàng trăm bài thơ, bài nghiên cứu về văn hóa, văn học nghệ thuật đăng báo chí và in trong các tuyển của Hiển ký những bút danh khác nhau đã chứng minh điều cảm nhận của tôi là chính xác. Nhưng Hiển không thích khoe khoang tác phẩm của mình. Ngoài những tuyển in chung, Hiển không in tác phẩm riêng. Mấy bận tôi đề nghị cho phép giới thiệu tác phẩm của Hiển trên blog, đều bị Hiển từ chối.

          Một lần, Hiển than phiền với tôi rằng vừa bị anh Đỗ Đình Thọ - đồng nghiệp nguyên lãnh đạo phòng xuất bản của mình mắng là “vừa là nhân viên đã gây khó cho thủ trưởng cũ”. Số là nhà nghiên cứu Đỗ Đình Thọ gửi một tập bản thảo nghiên cứu xin lệnh xuất bản, trong đó có hai bài viết về Nguyễn Khuyến và Vũ Hoàng Chương theo quan điểm trái ngược với quan điểm của những người nghiên cứu xưa nay. Hiển đọc nhận xét kiểm duyệt đã loại hai bài này vì nghĩ nếu để sẽ gây bất lợi lớn cho tác giả. Anh Đỗ Đình Thọ phản đối quyết liệt, buộc Hiển phải điều đình bỏ một bài, để một bài. Do vậy, Hiển cứ lăn tăn nghĩ ngợi, lo cuốn sách của anh Thọ có thể vì bài viết về Nguyễn Khuyến mà trượt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh. Sau này, khi sách ra đời đã bị dư luận bạn đọc phản đối, bị kiện lên Bộ Văn hóa về in bài bôi nhọ danh nhân Nguyễn Khuyến. Hậu quả là sách bị cấm phát hành. Chuyện này chứng minh Hiển có cái nhìn nhạy cảm chính trị.

          Từ khi Hiển chuyển về ở cạnh nhà tôi, chúng tôi có điều kiện gặp nhau hàng ngày. Tối tối, tôi và Hiển thường khoác vai nhau ra quán bia chợ Hạ Long. Hiển uống vại bia. Tôi uống cốc nước ngọt. Chúng tôi vừa nhâm nhi vừa bàn luận văn chương, kể chuyện tiếu lâm cả tiếng đồng hồ mới chịu dìu nhau về. Hai thằng liêu xiêu nghiêng ngả trên đường. Mấy người bán hàng quen mặt thường “Chào hai cụ nhà văn”. Thật là:

          Một cốc bia vàng với khách thơ 

          Cung trời phiêu lãng gót nhởn nhơ...

          Cũng lạ, thường Hiển chỉ cười mủm mỉm khi giao tiếp với mọi người, mà với tôi, mỗi khi nói chuyện vui khoái chí, Hiển cười thoải mái hết cỡ. Những lúc như thế, cả hai chúng tôi sống trong tâm trạng vui thánh thiện, quên hết mọi sự khổ ải, thua thiệt ở đời. Trong một lần như thế, khi Hiển vừa ngủ dậy, chưa kịp gấp màn, tôi đã mò sang tọa lên giường cùng Hiển bù khú. Con Hạnh có chớp được một tấm hình của hai ông bố đang cười thoải mái hết cỡ. Sau này tôi đưa tấm hình lên mạng, đặt tên là “Nụ cười tình bạn già”. Tấm ảnh giờ đây là kỷ vật quý của chúng tôi. Nghĩ về những phút giây cùng Hiển thăng hoa với men bia, men tình bạn, tôi bật ra mấy câu tặng Hiển:

          Được thua, đen bạc quên quên hết

          Thanh trọc, nhục vinh phớt phớt lờ

          Thơ đẹp, bia nồng, người tri kỷ

          Bồng lai tiên cảnh phải đâu mơ!

          Lại nhớ những lần họp bộ môn nghiên cứu phê bình, tôi thường ngồi cạnh Hiển. Thời ông Đỗ Đình Thọ làm trưởng bộ môn, cứ sau họp là ông lại gọi bún chả lên tận phòng họp bồi dưỡng mỗi người một bát. Hiển gắp hết thịt bỏ sang bát tôi. Hiển rụng hết răng hàm, không nhai được thịt nướng.

          Lại nhớ những lần hai thằng đến thăm nhà nghiên cứu Trần Quang Vinh, nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang... Chủ cứ ép uống rượu, mà tôi thì chịu, không uống được. Không uống được thì sợ... thất lễ với chủ nhà. Hiển thường phải uống đỡ cho tôi. Rồi sau đó, tôi lại thường phải xốc nách dìu Hiển, cùng nghiêng ngả, liêu xiêu trên đường về. Hiển vừa đi, vừa đọc một câu thơ chợt nghĩ ra bằng chất giọng nhòe men rượu.

          Không thể quên được lần bù khú cùng Tống Hiển và Huy Tập. Tôi chủ yếu lắng nghe và nhập tâm chuyện hai bạn. Tống Hiển và Huy Tập lần lượt kể giai thoại dân gian “Vô tư”, cười đến vỡ bụng. Sau này, khi Huy Tập đã chuyển đi thành phố Hồ Chí Minh, còn Tống Hiển thì ốm dài dài, trong tâm trạng nhớ Huy Tập, thương Tống Hiển, tôi chép lại chuyện đó đưa lên trang blog, được mấy trang khác cóp hết về, chỉ trừ tên người kể.

          Lại có lần... Lại có lần... Kỷ niệm về Tống Hiển với tôi kể mãi không hết.

          Vậy mà... Thôi rồi Hiển ơi!

          Tập thơ của anh – “Hát với tình yêu” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2015. Anh đã ra đi không kịp nhìn đứa con tinh thần của mình.

          Khẩu đại bác thời gian cứ lạnh lùng, tàn nhẫn nã đạn vào cánh văn nghệ sĩ chúng tôi. Chỉ hơn chục năm qua, những văn nghệ sĩ Nam Định (chủ yếu là giới Nghiên cứu Phê bình) mà tôi kính trọng, thân thiết lần lượt ra đi: Nguyễn Văn Huyền, Lê Xuân Quang, Trần Huy Thuận, Trương Xương, Đỗ Huy Vinh, Đoàn Ngọc Phan... và vừa đây là Tống Hiển.

          Anh Tống Hiển ơi, tôi nhớ mãi những kỷ niệm với anh và bè bạn. Xin phép vong linh anh, tôi sẽ giới thiệu các tác phẩm của anh trên mạng. Tôi nghĩ, điều đó rất nên.

 

Đêm 25 – 4 – 2015

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯ TƯỞNG TÌNH CẢM KHIẾU NĂNG TĨNH

QUA THƠ ÔNG

 

 

        Khiếu Năng Tĩnh (1835 - 1920) quê xã Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Khiếu Năng Tĩnh rất chăm chỉ học tập và sớm bộc lộ trí thông minh, học giỏi. Khoa Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử nhân. Khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 33(1880) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này ông đỗ Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội). Ông làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội, thăng Quốc tử giám Tế tửu.

          Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh là một học giả uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng, tác gia Hán - Nôm tiêu biểu thời cận đại. Sách địa phương chí của ông hiện còn đến nay là những tài liệu rất có giá trị đối với bạn đọc nói chung và các nhà dân tộc học, nhà địa phương học, nhà nghiên cứu lịch sử  nói riêng như Đại An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh chí, Quốc đô cổ kim chí, Thăng Long chư thần ký, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Tiên phả dịch lục...

        Là một nhà giáo nổi tiếng, chắc hẳn Khiếu Năng Tĩnh có viết sách giáo khoa. Trong bài Ngôn chí ông đã nói rõ việc ông mở trường dạy học trò con nhà nghèo, có viết sách giáo khoa:

或 将 設 帳 助 貧 家

無 學 安 能 正 邪

始 著 化 兒 初 集 韻

再 成 訓 長 一 詩 歌

Hoặc tương thiết trướng trợ bần gia

Vô học an năng biệt chính tà

Thuỷ trước “Hoá nhi sơ tập” vận

Tái thành “Huấn trưởng nhất thi” ca

(Nghĩ nên mở trường dạy học để giúp người nghèo

Nếu không học thì sao phân biệt được lẽ hay điều dở

Lúc đầu viết quyển Hoá nhi sơ tập

Rồi lại chế sách Huấn trưởng nhất thi)

        Nhưng rất tiếc là hiện chúng tôi chưa sưu tầm được tác phẩm nào của ông về lĩnh vực này.

        Riêng về thơ, ông có các tập Cố hương vịnh tập, Cổ thụ cách vịnh. Ngoài ra  ông còn Hoài lai thi tập tuyển thơ của nhiều tác giả khác...

          Hầu hết các tác phẩm của Khiếu Năng Tĩnh tản mát trong dân gian, được nhân dân lưu truyền khá phổ biến, được trích dẫn trong nhiều tác phẩm của các tác gia đương thời. Nhà nghiên cứu Hán - Nôm Dương Văn Vượng, nguyên chuyên viên Bảo tàng tỉnh Nam Định đã nhiều năm sưu tầm, dịch một số tác phẩm của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, góp phần lưu giữ và phục vụ bạn đọc di sản quý của quan Nghè. Tác giả Trịnh Thị Nga và Dương Văn Vượng đã thu thập trong các thư tịch, trong dân gian được hơn trăm bài thơ của Khiếu Năng Tĩnh, tuyển dịch, in 53  bài...

            Thơ Khiếu Năng Tĩnh thể hiện cốt cách nhà giáo, tâm hồn cao đẹp, tấm lòng vì nước vì dân, những tâm sự vui buồn và tài năng tinh tế của ông. Ba chủ đề tập trung trong thơ Khiếu Năng Tĩnh là vịnh cảnh thiên nhiên, di tích và nhân vật lịch sử, thế sự. Âm hưởng thơ ông là tình cảm yêu nước thương dân thiết tha, xót xa và bất bình trước thời cuộc đảo điên, buồn đau vì tự thấy mình không làm được nhiều cho dân cho nước.

        Sinh thời, ông rất thích tập Cổ thụ cách của Đông Sơn Lão Phố. Trong cuốn này có vẽ 36 thế cây cảnh, mỗi thế kèm hai câu thơ tổng vịnh. Khiếu Năng Tĩnh đã làm 36 bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán, mỗi thế một bài để thể hiện rõ tính chất của tranh vẽ trong Cổ thụ cách, gọi là Cổ thụ cách vịnh. Ông gửi gắm vào các bài tứ tuyệt những tình cảm, suy tư, tâm sự và thể hiện nhân sinh quan của mình.

        Cũng như nhiều nhà nho đương thời, Khiếu Năng Tĩnh mong muốn những người đứng đầu trong bộ máy nhà nước phải là những người có tài có đức, vua phải sáng, tôi phải hiền. Có như thế mới có thể giành lại và giữ được nền độc lập tự chủ. Ông khuyên các quân thần:

君 須 知 敬 在 心 中

臣 早 當 思 一 世 恭

Quân tu tri kính tại tâm trung

Thần tảo đương tư nhất thế cung

(Quân minh thần lương cách)

Vua nên giữ đạo kính tin

Tôi nên sớm nghĩ một niềm cúc cung.

           Trong việc dạy học trò, cũng như trong xử thế ở đời, ông quan niệm mọi việc muốn thành công thì phải dựa vào chính mình, không thể trông chờ vào người khác. Muốn giành lại non sông, xây dựng đất nước thì phải tự mình tiến hành, chứ không thể trông chờ vào nước ngoài. Trong bài Ký Nguyễn đại nhân, một người bạn là Tổng đốc, ông nói rõ: 

今 若 倚 人 尋 活 計

有 梯 他 日 首 安 翹

Kim nhược ỷ nhân tầm hoạt kế

Hữu thê tha nhật thủ an kiều

(Nếu cứ tựa người tìm kế sống

Nhờ thang, sao ngẩng nổi đầu lên)

        Bản thân Khiếu Năng Tĩnh từng cùng Phạm Thận Duật dự hội nghị các quan đầu tỉnh bàn việc xây dựng lực lượng chống quân xâm lược. Trong bài Phụng vãng chư xứ tuyên thiết các đội dân binh,  ông kêu gọi khích lệ mọi người nêu cao tinh thần chiến đấu chống quân xâm lược:

中 婦 女 抱 兒 睡

賊 至 安 是 素 懷

况 我 男 人 無 掘 起

守 家 報 國 望 誰 哉

Khuê trung phụ nữ bão nhi thuỵ

Tặc chí nan an thị tố hoài

Huống ngã nam nhân vô quật khởi

Thủ gia báo quốc vọng thuỳ tai

(Người đàn bà chốn khuê phòng bế con kia, khi thấy giặc xông tới cũng còn chẳng yên tâm. Huống chi ta là đấng nam nhi, còn chờ đợi ai lại không trỗi dậy giữ nghiệp nhà, đền nợ nước).

      Trong xã hội phong kiến đang suy tàn, quan lại không còn là phụ mẫu của dân, vua cũng không là vua sáng, đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Ông chán ngán trước cảnh tình đời đen bạc, có mới nới cũ, quan lại xu nịnh cầu vinh, vua bạc nhược trước bọn thực dân cướp nước:

求 親 陽 識 非 親 日

前 恥 長 江 洗 不 清

Cầu thân dương thức phi thân nhật,

Tiền sỉ Trường Giang tẩy bất thanh.

                                     (Khuất kỷ cầu thân cách)

Cầu thân khi chủ không thân nữa,

Nhục ấy Trường Giang rửa sạch đâu?

見 新 忘 舊 衰 陽 日

君 不 君 兮 臣 不 臣

Kiến tân vong cựu suy dương nhật,

Quân bất quân hề, thần bất thần.

                               (Kiến tân vọng cựu cách)

Ngày nay thấy mới quên xưa rõ,

Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi.

         Sống trong xã hội có nhiều điều nhiễu nhương, cuộc đời dâu bể, ông vẫn tâm niệm phải giữ vững khí tiết của kẻ trượng phu và tự hào rằng mình trong sạch:

冬 來 何 物 不 凋 零

田 舍 古 松 獨 秀 青

雨 打 風 撞 心 自 在

丈 夫 不 愧 世 間

Đông lai hà vật bất điêu linh?

Điền xá cổ tùng độc tú thanh

Vũ đả phong chàng tâm tự tại

Trượng phu bất quý thế gian bình.

      (Tự tại trượng phu tùng cách)

Mùa đông mọi vật đều xơ xác

Xóm ruộng, thông già cứ tốt xanh

Mưa dội, gió lay, lòng vẫn thế

Trượng phu không thẹn với câu bình.

      Quả thật, Khiếu Năng Tĩnh không những không phải hổ thẹn với đời vì ông đã giữ vững phẩm chất tốt đẹp của một nhà nho yêu nước, mà còn rất đáng tự hào trước con mắt khâm phục và sự đánh giá của nhân dân.

         Trong cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, nhân dân lầm than, quan lại chỉ lo thu vén cho mình, Khiếu Năng Tĩnh tự thấy mình bất lực nên ông không tha thiết gì với con đường làm quan:

江 山 萬 里 他 人 帝

風 化 千 秋 異 種 圖

不 料 來 生 死 刼

但 知 今 日 冨 豪 鋪

無 才 早 返 田 園 舊

牛 馬 尋 爲 百 姓 辜

Giang sơn vạn lý tha nhân đế

Phong hoá thiên thu dị chủng đồ

Bất liệu lai thi sinh tử kiếp

Đãn tri kim nhật phú hào phô

Vô tài tảo phản điền viên cựu

Ngưu mã tầm vi bách tính cô

                                 (Kiếm Hồ thế thuyết)

Giang sơn vạn dặm quân thù chiếm

Phong hoá ngàn thu giống khác lo

Chẳng liệu về sau điều sống chết

Chỉ hay trước mắt sự sang giàu

Vô tài sớm trở về quê cũ

Luống thấy dân mình kiếp ngựa trâu.

        Trong bài Ngôn chí, Khiếu Năng Tĩnh đã nói rõ chí nguyện của ông là muốn đem hết tài năng sức lực để dạy học. Theo ông, người ta không học thì không biết đúng sai (Vô học an năng biệt chính tà), muốn diệt trừ kẻ bạo tàn (quân xâm lược) thì phải có tài (Trừ bạo phàm tài khởi đắc da). Ông coi việc dạy học là hành động báo đáp tổ tiên, đền nợ nước. Với cương vị học quan đứng đầu tỉnh và Tế tửu Quốc Tử giám, ông đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước.

        Khi làm Chủ khảo Trường thi Nghệ An, ông đã phát hiện tài năng Phan Bội Châu, hết lòng giúp đỡ để Phan Bộ Châu đỗ thủ khoa. Điều đó đã chứng tỏ Khiếu Năng Tĩnh có con mắt tinh đời và tấm lòng ưu ái đối với những tài năng của đất nước. Với danh hiệu Giải nguyên, Phan Bội Châu có thêm uy tín, danh tiếng rất thuận lợi cho hoạt động cứu nước. Các sĩ tử khoa ấy ai nấy đều vui mừng thừa nhận Phan Bội Châu đỗ Thủ khoa là xứng đáng. Phan Bội Châu đã trở thành một yếu nhân của phong trào Đông Du, một chí sĩ yêu nước được nhân dân vô cùng cảm phục cũng một phần có công đóng góp của quan nghè Khiếu Năng Tĩnh.

            Cũng trong khoa thi Hương năm 1900 tại trường thi Nghệ An, có một thí sinh 82 tuổi là Đoàn Tử Quang, người Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đoàn Tử Quang là người rất hiếu học, từng hai lần đỗ Tú tài. Mặc dù tuổi cao, Đoàn Tử Quang vẫn không ngừng học tập, thi cử, mong có điều kiện cống hiến được nhiều cho dân cho nước. Cảm phục tấm gương kiên trì học tập và tài năng thực sự của Đoàn Tử Quang, Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh đã lấy Đoàn Tử Quang đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, Đoàn Tử Quang được bổ chức quan, làm  tới chức Huấn đạo. Với việc lấy Đoàn Tử Quang đỗ Cử nhân, Khiếu Năng Tĩnh đã tạo điều kiện cho Đoàn Tử Quang thoả nguyện cống hiến sức lực, tài năng cho nước. Khiếu Năng Tĩnh được các sĩ phu đương thời ca ngợi là người biết trọng nhân tài, không bỏ sót nhân tài và có tấm lòng bao dung nhân ái.

        Khi về quê, ông mở trường dạy học tiếp tục sự nghiệp giáo dục mà mình theo đuổi cả đời. Khác với nhiều nhà nho đương thời mở trường dạy học trò để thi tú tài, cử nhân, trường của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh lại nhận dạy con em nhân dân nghèo học chữ. Ông vui vẻ chấp nhận cảnh "sáng cơm tối cháo", bỏ tiền mua sách bút tặng học trò để thực hiện chí nguyện của mình. Quan tâm giáo dục cho đại đa số người nghèo là một tư tưởng tiến bộ của nhà giáo Khiếu Năng Tĩnh.

           Phê phán lối sống cầu vinh, bán nước của một số quan lại đương thời, mong muốn nước nhà có nhiều bậc tài đức, ông làm thơ ca ngợi những gương sáng tiền nhân của quê hương. Trong Cố hương vịnh tập, ông có nhiều bài ca ngợi công thần, những người có nhiều đóng góp cho quê hương, những người hết lòng vì nhân dân... Thọ Tung phúc thần là một bài trong loạt bài này của ông. Bài thơ ca ngợi Tướng quân Bùi Ngọc Oánh, người có nhiều công lao trong kháng chiến chống Minh và xây dựng quê hương:

亦 爲 開 國 一 功 臣

黎 帝 當 時 是 至 珍

初 爲 家 貧 不 重

後 成 良 將 敕 封 臣

開 荒 濟 急 猶 存 迹

族 廟 祠 上 沐 恩

屈 指 黃 花 四 百 讚

香 煙 詩 柷 繼 傳 聞

Diệc vi khai quốc nhất công thần,

Lê đế đương thời thị chí trân.

Sơ vị gia bần hương bất trọng,

Hậu thành lương tướng sắc phong thần.

Khai hoang tế cấp do tồn tích,

Tộc miếu hương từ thượng mộc ân

Khuất chỉ hoàng hoa tứ bách tán

Hương yên thi chúc kế truyền văn.

   Dịch thơ:

                     Cũng là khai quốc công thần,

Đương thời Lê đế nhiều lần ban khen.

                     Lúc đầu nghèo, có ai tôn,

Sau thành tướng giỏi ơn trên phong thần.

                     Khẩn hoang còn giúp khó bần,

Họ thờ, làng cúng đội ân tỏ lời.

                     Bốn trăm năm chục năm rồi

Khói nhang cầu vọng nối đời không quên.

                                      (Dương Văn Vượng dịch)

          Khiếu Năng Tĩnh luôn day dứt tự trách mình không đủ tài cứu nước, tâm trạng chán cảnh làm quan, muốn lui về quê, nhưng vẫn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của đất nước. Trong bài Xuân du ông chỉ rõ “Thăng Long linh khí” chưa phải đã mất, "Quốc giám thạch bi" còn đọc rõ, mảnh đất dấy vương nghiệp còn nhiều dấu vết trong lòng người. Ông tiên đoán:

       近 百 年 來 當 算 定

清 平 回 日 抵 駸 駸

Cận bách niên lai đương toán định

Thanh bình hồi nhật để xâm xâm.

(Có lẽ trăm năm chừng độ ấy

Thanh bình trở lại mới nghe tăm)

         Niềm tin của Khiếu Năng Tĩnh ngày nay đã thành sự thật. Sau gần trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nhân dân ta đã quét sạch lũ giặc ngoại xâm, giành lại non sông gấm vóc của mình.

         Thơ Khiếu Năng Tĩnh ít khi dùng điển cố nên dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Hầu hết các bài thơ của ông ở thể thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt. Chúng tôi mới chỉ thấy duy nhất bài Nho Lâm thôn dùng thể lục bát. Do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, việc dùng thể thơ Đường luật trong sáng tác của các nhà nho thời đại Khiếu Năng Tĩnh sống là tình trạng phổ biến. Với số câu, số chữ quy định và sự đòi hỏi chặt chẽ về niêm, luật của thể thơ Đường luật, đòi hỏi các tác giả phải có tài mới tránh được tình trạng gò bó, khuôn sáo. Thơ Khiếu Năng Tĩnh vừa đảm bảo những quy định nghiêm ngặt của thể loại, vừa diễn tả những suy tư, tình cảm của mình một cách tự nhiên, giàu hình ảnh, gây được cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc. Phải là người gần gũi, quan sát tinh tế, yêu thiết tha thiên nhiên đất nước mới có thể viết được những câu thơ giàu hình ảnh đẹp như:

竹 揚 百 手 雲 散

勁 節 留 室 外 藩

花 迎 先 後 接

來 年 欲 寄 似 前 年

Trúc dương bách thủ khu vân tán

Kính tiết hoàn lưu thất ngoại phiên

Điểu vấn hoa nghinh tiên hậu tiếp

Lai niên dục ký tự tiền niên

                                        (Hạ từ)

(Trăm tay trúc khua mây tan tác

Khí tiết còn vương dậu phên nhà

Chim hỏi, hoa chào sau trước đón

Chắc rằng năm tới tựa năm qua)

       Hoặc như cảnh thôn quê trong bài Mai vịnh:

未 春 白 色 滿 山 頭

布 入 風 中 擊 玉 楼

扇 起 紫 袍 殘 幻 梦

農 家 處 處 速

Vị xuân bạch sắc mãn sơn đầu

Bố nhập phong trung kích ngọc lâu

Phiến khởi tử bào tàn ảo mộng

Nông gia xứ xứ tốc khu ngưu

(Chưa xuân sắc trắng khắp đầu non

Theo gió hương vào tận gác son

Bào tía bỗng nhiên tàn mộng ảo

Lùa trâu vội vã cảnh nông thôn).

          Dường như Khiếu Năng Tĩnh làm thơ chỉ để ghi lại những suy nghĩ, những sự kiện như là nhật ký của mình. Vì vậy, đọc thơ Khiếu Năng Tĩnh, chúng ta hiểu thêm về cuộc đời, về tư tưởng tình cảm của ông, càng kính trọng ông với tư cách là một nhân cách cao đẹp, một người thầy lớn, một danh nhân văn hoá của đất nước.

……….

 

            * Trần Mỹ Giống, Trịnh Thị Nga cộng tác, tham luận trong Hội thảo khoa học “Tế tửu Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh” tại trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử giám, Hà Nội tháng 9 năm 2009.

 

 

 

 

 

 

 

       ĐỌC THƠ CHỮ HÁN BÙI THÚC TRINH

 

 

              1- Bùi Thúc Trinh (1811 – 1891) tự Anh Xuyên, tục gọi Nhất Trung, quê thôn Trung Cường, xã Quần Anh Hạ, huyện Chân Ninh (nay là xóm Đông Cường, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định).

         Sinh trưởng trong một gia đình trung hậu, ba đời làm nghề thuốc trị bệnh cứu người, Bùi Thúc Trinh sớm tiếp thu được kiến thức y học và tấm lòng yêu thương con người, tất cả vì người bệnh. Ông thông minh, chăm chỉ, học khá nhưng “nửa đời thi danh chửa đạt”, chỉ đỗ đến Nhất trường. Sau nhiều năm nghiên cứu không mệt mỏi và trực tiếp trị bệnh cứu người, ông trở thành vị danh y nổi tiếng, một tác giả y học có nhiều bộ sách quý để lại cho đời: Hội anh (28 quyển), Sơ thí tiện dụng (3 quyển), Vệ sinh mạch quyết, Vệ sinh yếu chỉ (8 quyển), Thuyết nghi, Điển trai y môn tạp chứng... Vừa làm nghề thuốc chữa bệnh, ông vừa mở trường dạy nghề y, đào tạo được nhiều thày thuốc giỏi trong vùng. Các tác phẩm y học của ông là sự tổng kết kinh nghiệm và kiến thức trong nhiều năm thực hành chữa bệnh. Các tác phẩm này đề cập những vấn đề y học rất cơ bản về lý thuyết và thực hành như cách phân biệt bệnh, phương pháp xem mạch, phương pháp chữa bệnh, các bài thuốc nam dễ kiếm mà công hiệu. Ngày nay các tác phẩm của Bùi Thúc Trinh được các lương y ở Nam Định vận dụng, coi như cẩm nang nghề y học dân tộc.

 

        2 - Bùi Thúc Trinh không chỉ là một tác giả Hán Nôm về lĩnh vực y học, mà ông còn là tác giả văn học với tác phẩm Di nhàn tập khá xuất sắc. Di nhàn tập là tập thơ của một lương y, thể hiện y đức và tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước, thiên nhiên, con người.

        Hàng ngày chứng kiến những cảnh sống nghèo khổ, cơ cực của người dân, Bùi Thúc Trinh mủi lòng, thương xót. Ông tố cáo hiện thực xã hội thực dân phong kiến đương thời là bệnh hoạn, rối ren và xấu xa. Trong xã hội “âm u”, “mưa gió sập xùi”, người dân lương thiện luôn phải sống trong cảnh “tê cóng co ro”... Trong xã hội quan lại nhiễu nhương, trình độ học vấn của dân thấp kém, lại sinh ra nhiều loại người làm khổ dân lành như “thày phù thuỷ”, “thày lang băm”... đời sống nhân dân càng thêm khổ cực.

        Năm Ất Sửu (1865), bão vỡ đê Đông, nhà cửa trôi dạt, nhiều người bị chết đuối, sau chết đói, chết bệnh. Hiện ở xã Hải Tây (Hải Hậu) còn đền Âm Hồn thờ các nạn nhân năm đó. Bùi Thúc Trinh đã ghi lại cảnh sống khổ cực của dân năm đó:

       Thu nguyệt vô như ất sửu thu

          Thê thê lãnh lãnh nhất hà vưu.

Yên không tây xá triêu do tịch,

Chử đảo đông lân dạ vị hưu.

Đối nguyệt hồng nhan tu phấn giảm,

Lâm phong kiềm thủ khiếp dung thu.

Khởi kỳ ngọc nhữ thiên tâm hậu,

Thu nguyệt vô như Ất Sửu thu?

                                (Thu thiên cảm tác, kỳ nhị)

 

Thu năm Ất Sửu có thu nào.

Tê cóng co ro cực xiết bao!

Bóng dãi, nhà bên tro vẫn lạnh,

Canh khuya, xóm cạnh cối còn kêu.

Ngắm trăng mặt ngọc hờn son nhạt,

Lướt gió, đầu đen sợ vóc hao.

Chuốt ngọc phải chăng trời tốt bụng,

Thu như Ất Sửu có thu nào?

              Những dòng thơ trên là lời than thể hiện tấm lòng thông cảm thương xót người nghèo trong cơn hoạn nạn, cũng là bản cáo trạng lên án vua quan, những kẻ thay trời chăm lo đời sống trăm họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

          Bùi Thúc Trinh là một thày thuốc giỏi, từng cứu sống nhiều người bệnh bằng các bài thuốc nổi tiếng công hiệu như thần, nhưng lại bất lực trước căn bệnh của xã hội. Ông quan niệm chữa bệnh cho con người và chữa bệnh thời cuộc đều có thuốc cả “Y bệnh y thời thục phỉ y” (Chữa bệnh và chữa thời cuộc đâu chẳng phải là chữa thuốc). Nhưng khi bất lực trước thời cuộc, ông tự an ủi mình rằng đó là số mệnh: “Ký ngôn “Tuỳ ngộ nhưng an mệnh” (Nhớ câu “Tuỳ mệnh” mà yên phận), “Tu tín nhân sinh đô phận mệnh” (Cuộc thế nên tin đều có số).

          Hạn chế về tư tưởng tin vào số mệnh ở Bùi Thúc Trinh cũng là hạn chế thời đại khó tránh khỏi. May thay, ông không buông trôi tất cả, mà ông chuyên tâm nghiên cứu y thuật và truyền lại cho đời: “Cố tương Kỳ, Biển pháp vi sư ” (Đem pháp thuật của Kỳ Bá, Biển Thước làm thày).

          Dù đã là bậc y sư nổi tiếng, Bùi Thúc Trinh vẫn luôn luôn khiêm tốn, tự thấy mình vẫn còn phải học tập thật nhiều:

Bất tài tự quý “Liên quân tử”

Độc thị ô nê nhược vị tri.

            (Hoạ Châu Hải Cử nhân Đinh Chính Phủ thi tặng, kỳ nhất)

Tài sơ thẹn với sen quân tử,

Có ố bùn không vẫn chửa hay.

          Ông tự thẹn vì chưa hiểu thấu đáo y thuật của các vị y sư nổi tiếng của Trung Quốc như Biển Thước: “Tự quý học phi Lư Biển ngộ” (Thẹn học Biển, Lư chưa thấu đáo). Ông một lòng nuôi dưỡng tâm nguyện không ngừng học hỏi y thuật. Một khi chưa làm được việc cứu giúp rộng rãi thì ông đâu giám tự nhận mình là có tài:

Đắc dưỡng “tam nguyên” tồn thuật nghiệp,

Vị năng “phổ tế” cảm vân hoài.

        (Hoạ Lạn Hải Đỗ Tú tài hạ nhật lai phưởng hữu thi tặng)

“Tâm nguyên” bồi dưỡng nền y học,

“Phổ tế ” chưa hay dám nói tài!

          Bùi Thúc Trinh là nhà y học có tài thơ văn. Nghệ thuật thơ của ông khá già dặn, nhất là thủ pháp tả cảnh tả tình. Phải là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương sâu đậm Bùi Thúc Trinh mới sáng tạo được những câu thơ tả cảnh thôn quê đẹp như đoạn thơ sau đây:

Giao duyên hồi chuyển mai đình bắc,

Yên vụ mê li trúc ổ đông.

Thanh phú miêu vân thiên tễ hậu,

Lục phù áp trướng vũ thu trung...

               (Thu thiên chu hành quá Trung xã giang phận, diểu vọng Nguyễn gia trang cảm tác ký chủ nhân)

Đồng ruộng loanh quanh mai ngõ bắc,

Sương mù mờ mịt trúc tường đông,

Mây xanh vừa tạnh lúa mơn mởn,

Nước biếc sau mưa vịt vẫy vùng...

          Trong “Di nhàn tập” của Bùi Thúc Trinh có nhiều câu thơ tả tình tả cảnh hay như thế, như câu sau:

Hoàng thư tùng cúc kim trang kính,

Bích trướng hoành đường thuỷ tẩm thiên.

Vạn khoảnh giao nguyên phù thuý lãng,

Thiên gia thôn lạc đậu tình yên.

               (Thu thiên tễ cảnh kỷ kiến, ký Nguyễn Trứ phủ)

Xoè vàng, tùng cúc: vàng in lối,

Dềnh biếc, ao ngang: nước nhuộm trời.

Muôn khoảnh, lờn vờn màu trả nổi,

Nghìn nhà, lơ lửng khói vàng phơi.

Hoặc câu:

Sơn tước tam phong nghi hổ phục,

Thuỷ trừng nhất giám ẩn du ngư.

Thanh hàm lương suý lan hương viễn,

Cao phất tà dương bách ảnh sơ.

                             (Đề Thành Chương phương viên)

Ba ngọn lô nhô hùm phục cảnh,

Một gương trong vắt cá len bờ.

Vi vu gió mát hương lan thoảng,

Vòi vọi trời hôm bóng bách thưa.

           Nghệ thuật chơi chữ trong thơ Bùi Thúc Trinh cũng thật tài tình, như khi tả cái giàu của người buôn bè, ông dùng chữ “phong lưu” nghĩa đen là gió thổi dòng trôi, thuận buồm xuôi nước để mừng người buôn bè gặp vận may, làm ăn phát đạt; Hoặc khi hoạ thơ một người bạn là lương y, đồng nghiệp với mình, ông khéo lồng vào những tên bài thuốc bổ, ngụ ý vừa trân trọng, vừa trìu mến một cách hóm hỉnh mà tuyệt diệu:

“Biệt ly” kỷ độ bội tương tư.

Hà hạnh “ôn trung” cộng luận y.

Hữu “ích âm” lương lưu viện vũ,

Giải “thanh thử” nhiệt mãn giao kỳ.

“Thập toàn” ý củ do huyền tưởng,

“Tam diệu” chân thuyên mạn tự kỳ.

Đắc dưỡng “tâm nguyên” tồn thuật nghiệp,

Vị năng “phổ tế” cảm vân kỳ.

                (Hoạ Lạn Hải Đỗ Tú tài hạ nhật lai phưởng hữu thi tặng)

       Tự buổi “biệt ly” tưởng nhớ hoài,

“Ôn trung” may được góp đôi lời.

“Ích âm” mát mẻ tràn trong viện,

“Thanh thử” thung dung khắp cõi ngoài.

Đúng cách “thập toàn” hằng tưởng muốn,

Thật liều “tam diệu” chẳng đơn sai.

“Tâm nguyên” bồi dưỡng nền y học,

“Phổ tế ” chưa hay dám nói tài!

           Với “Di nhàn tập”, Bùi Thúc Trinh đã để lại cho đời một bản trường ca về nhân thuật và tâm nguyện, thể hiện tấm lòng bác ái của vị lương y như từ mẫu. Đọc thơ chữ Hán Bùi Thúc Trinh, hiểu rõ tâm sự của một lương y nổi tiếng, càng yêu mến và kính trọng nghề y và lương y, vì thơ ông toát lên y đức trong sáng mà hơn cả y thuật là tình yêu thương con người sâu sắc, tinh thần hết lòng vì người bệnh.

 

……………….

 

        Nguồn: Tạp chí Đông y. - 2004. - Số 362 ra ngày 25 - 6. - Tr. 15 - 16.

 

 

 

 

 

 

 

         ĐỌC “CHÂN QUÊ” CỦA NGUYỄN BÍNH

 

 

 

          Trong phong trào thơ mới 1930 – 1945, Nguyễn Bính có một vị trí riêng. Thơ ông vừa hiện đại, vừa truyền thống, mà thơ hiện đại rất hay, nhưng thơ truyền thống vẫn là nổi trội. Cùng viết về đồng quê, nhưng Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ… thiên về mô tả các bức tranh quê chân thực, còn Nguyễn Bính lại đi sâu diễn tả cái tình quê thấm đẫm hồn quê.

           Chân quê là một bài thơ tiêu biểu về cái hồn quê của Nguyễn Bính. Có thể coi Chân quê là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn nghệ thuật của ông. Xuyên suốt quá trình sáng tác của mình, ông đã trung thành với tuyên ngôn đó.

Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân?

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thày u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Đọc bài thơ, hình ảnh chàng trai đứng trước bi kịch muốn níu giữ vẻ đẹp chân quê ở người yêu đi tỉnh về bị ảnh hưởng của lối sống phương Tây xa lạ mà không được, cứ ám ảnh người đọc khôn nguôi. Tình yêu của trai gái quê vốn dản dị, gắn bó với những truyền thống thôn quê, từ lời ăn tiếng nói đến cách ăn mặc, lối sống của người quê. Người yêu đi tỉnh chơi, chàng trai bồn chồn mong đợi, chàng ra tận con đê đầu làng đón người yêu. Con đê là vật bảo vệ xóm làng, cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt của dân quê, là hình ảnh quen thuộc của thôn quê. Tâm trạng mong đợi, bồn chồn của chàng trai trong khung cảnh làng quê được nhấn mạnh ở từ “Đợi” và “mãi”:

Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Nhưng chàng bất ngờ, ngỡ ngàng về sự thay đổi trong cách ăn mặc của cô gái. Trước mắt chàng, người yêu trở thành như người xa lạ:

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là những thứ xa lạ với thôn quê. Những sản phẩm của thành thị, đặc biệt cái khuy bấm bé nhỏ được sản xuất bằng máy móc tiêu biểu cho cách trang phục - lối sống thị thành, giữa khung cảnh làng quê bỗng trở nên xa lạ, kệch kỡm trước mắt chàng trai. Tuy vậy, đó cũng mới chỉ là sự thay đổi bên ngoài, cái đáng sợ hơn là sự thay đổi bên trong tâm hồn cô gái quê. Chỉ với từ rộn ràng, Nguyễn Bính đã thể hiện hết sức rõ ràng sự thay đổi không chỉ ở tiếng sột soạt của “khăn nhung, quần lĩnh” mà còn là sự thay đổi về mặt tinh thần của cô gái. Từ rộn ràng gợi cho người đọc hình ảnh cô gái đang sung sướng, hí hởn, thích thú với trang phục mới lạ của mình. Chính cái sự thay đổi bên trong của người yêu làm chàng trai đau khổ. Cố nén lòng mình, chàng vẫn không thể dấu được thái độ trách móc người yêu, dù là trách móc nhẹ nhàng. “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi” là lời than của chàng trai, cũng có thể hiểu là lời trách nhẹ nhàng đối với người yêu. Thường những người yêu nhau tự xưng với nhau là “em” và “anh”. Chàng trai dùng đại từ nhân xưng “tôi” với người yêu đã thể hiện rõ ý trách móc của mình. Chàng trai còn thể hiện sự trách móc, xót xa, đau khổ trước sự thay đổi của người yêu và sự nuối tiếc những nét đẹp thôn quê qua một “xeri” câu hỏi “Nào đâu”:

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân?

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Chàng trai đã dùng yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen là những sản phẩm quen thuộc đặc trưng cho thôn quê để đối trọng lại những khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là những trang phục biểu trưng của thành thị. Chàng trai cố níu giữ nét quê dù biết không thể được. Cái khuy bấm, cái khăn nhung, cái quần lĩnh nào có tội tình gì. Cái đáng trách là người dùng nó không phù hợp với hoàn cảnh. Một cô “tân thời” giữa những người dân quê dản dị không những không hoà đồng mà còn trở nên xa lạ, khó chấp nhận trước mắt dân quê, nhất là khi cô “tân thời” đó vốn là cô gái chân quê. Nhận thức rõ được điều đó, chàng bèn thay đổi thái độ, ứng xử phù hợp với thực tế. Từ xưng “tôi”, chàng trở lại xưng “anh” với người yêu. Điều đó đã thể hiện rõ quá trình “xuống thang” của chàng trai:

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Câu “Như hôm em đi lễ chùa” dùng nhiều thanh bằng, đặc biệt từ “đi” - từ thứ tư câu lục thường là thanh trắc thì tác giả lại dùng thanh bằng, làm sắc thái tình cảm thay đổi rõ rệt, từ trách móc xuống van xin. Theo luật thơ lục bát, từ thứ tư câu lục và từ thứ tư câu bát luôn phải là thanh trắc và phải niêm với nhau. Ở câu thơ này Nguyễn Bính lại dùng thanh bằng (chính xác là “thanh ngang”), nhưng khi đọc ta thấy nó rất tự nhiên và thú vị. Bằng bốn “thanh ngang”, một thanh bằng và một thanh trắc, Nguyễn Bính đã giữ cho câu thơ đảm bảo luật cân bằng thanh một cách tài tình, đem đến cho bạn đọc cảm xúc thẩm mỹ rõ rệt. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa thể thơ truyền thống và thơ mới, một sự phá cách – biến thể có hiệu quả cao.

Cách nói của chàng trai qua đoạn thơ này thật nhẹ nhàng, dè dặt, ý tứ, tế nhị, bộc lộ tình yêu tha thiết đến tội nghiệp, chân thành mộc mạc mà thấm thía của mình đối với người yêu. Cách nói ấy rất gần gũi với cách nói của ca dao.

Không dừng lại ở van xin người yêu hãy chiều mình, chàng trai còn nhắc nhở, khuyên nhủ người yêu hãy giữ lấy những truyền thống tốt đẹp, giữ lấy cái gốc nhân bản của quê hương mà cha ông đã tạo dựng lên:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thày u mình với chúng mình chân quê.

Truyền thống tốt đẹp lâu đời, đạo lý dân tộc mà chàng trai viện dẫn để khuyên nhủ người yêu thật có sức thuyết phục đối với người xứ quê. “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là cách nói ẩn dụ, nhưng cũng thể hiện một quy luật tự nhiên khẳng định “Thày u mình với chúng mình chân quê”. Lối nói ấy gửi gắm thông điệp hãy biết quý trọng và gìn giữ truyền thống của cha ông, đừng để bị cám dỗ bởi lối sống xa lạ với dân tộc.

Bài thơ khép lại bằng hai câu:

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

“Hôm qua” được láy lại nhấn mạnh chuyện đổi thay của cô gái đã là chuyện quá khứ, nhưng quá khứ ấy chưa xa, sự đổi thay đó diễn ra chỉ một lần đi tỉnh về càng làm chàng trai chua xót, đau khổ. “Hôm qua” ở đầu bài thơ là tâm trạng phấn khởi, háo hức, phấp phỏng mong đợi người yêu với tình cảm thiết tha, êm ấm. “Hôm qua” ở cuối bài lại là sự chua xót, đau khổ, nuối tiếc “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” ở người yêu. Hình ảnh ẩn dụ “Hương đồng gió nội” thể hiện cái tình quê, hồn quê khá sắc nét, là một cảm xúc tiêu biểu trong hồn thơ Nguyễn Bính.

Bài thơ chất chứa niềm lo âu, băn khoăn, day dứt và dự cảm về những đổi thay nhanh chóng đến đáng sợ của những gì vốn mang đậm bản sắc quê hương, dân tộc. Cả bài thơ được cấu tạo theo nhịp đi 2/2 đều đều, nhịp nhàng, dàn trải thể hiện các cung bậc tình cảm khác nhau mà thuỷ chung, thì câu “Thày u mình với chúng mình chân quê” bỗng đổi nhịp 3/3/2 giống như một sự “đảo phách” đã tạo lên hiệu quả có sức nặng khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân quê. Hãy giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của cha ông, dân tộc là lời nhắn gửi của tác giả qua bài Chân quê, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

 

………………….

 

       Nguồn:  Thi sĩ Nguyễn Bính hồn thơ Việt. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, 2008.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ THƠ HẢI NHƯ

    

Nhân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hải Như (1923 – 2023)

 

       Nhà thơ Hải Như tên thật là Vũ Như Hải, sinh ngày 28/3/1923, quê ở làng Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, mất ngày 30 – 6 - 2017.  Ông tham gia cách mạng trước năm 1945 trong Hội truyền bá quốc ngữ ở Hà Nội. Năm 1946, ông vào quân đội, tham gia lớp đào tạo báo chí cách mạng đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng ở chiến khu Việt Bắc. Sau đó, ông lần lượt công tác ở các báo Sông Lô, Vệ quốc quân, Cứu quốc và báo Giác Ngộ rồi chuyển sang chuyên viết thơ. Ông là nhà thơ thuộc thế hệ đầu của cách mạng.

       Tác phẩm chính:

       - Trái đất mai này còn lại tình yêu (NXB Văn học, 1985)

- Bài thơ trên bến Nhà Rồng (tập thơ, 1990)

       - Nỗi buồn hoa bất tử (NXB Lao động, 1994)

       - Thơ viết về Người (NXB Nghệ An, 2004)

       - Trò chuyện với người xưa (dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, 1994)

       - Xin ai chớ phụ hoa ngâu (văn xuôi, 1996)

       - Vị thượng khách nhà tù Hương Cảng (kịch bản văn học, 1990)

       - Có hai dòng văn chương (tác phẩm tuyển chọn, 2009).

Nhà thơ Hải Như nổi tiếng về những bài thơ chủ đề Bác Hồ với cách thể hiện rất riêng, một lối đi riêng - rất Hải Như, không giống bất cứ nhà thơ nào. (Trên mạng xã hội và báo chí có rất nhiều bài viết phân tích sâu về thơ Hải Như viết về Bác Hồ, nên tôi xin phép không nhắc lại).

Nhà thơ Hải Như là một danh nhân văn hóa của Nam Định nói riêng và của cả nước nói chung thời kỳ hiện đại. Ông không chỉ đóng góp cho Nam Định mà còn cho nhiều tỉnh trên lĩnh vực văn học thông qua các bài thơ viết về từng địa phương, trong số đó có hơn trăm bài đã được phổ nhạc, nhiều bài trở thành nhạc hiệu, truyền thống địa phương. Xin nêu một số ví dụ:

         - Cả Hà Nội hành quân (Nhạc Lê Lôi) được chọn làm nhạc hiệu Đài phát thanh Hà Nội.

        - Hà Nội thành phố của niềm tin (nhạc Hồ Bắc).

         - Thành phố hoa phượng đỏ (nhạc Lương Vĩnh).

              - Thành phố tiếng thoi (nhạc Huy Thục) được lấy làm nhạc hiệu Đài phát thanh Nam Định.

              - Sài Gòn thế kỷ, Thành phố không có hoàng hôn (nhạc Hoàng Đạm).

       - Nụ cười Đà Lạt (nhạc Trương Quang Lục).

              - Hoa sữa (nhạc Phạm Đình Sáu).

              - Liên khúc Hoa trong vườn Bác và hợp xướng Chào bình minh thời đại (Lời thơ Hải Như; nhạc Cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Tấn, năm 1970 Nhà hát giao hưởng Việt Nam đã cho ra mắt tại Nhà hát lớn ở Hà Nội).

              - v.v...

              Mới đây trên tạp chí “Xây dựng Đảng” và nhiều báo tạp chí khác đã đăng bài ca ngợi nhà thơ Hải Như. Đặc biệt, kênh truyền hình HTV9 thành phố Hồ Chí Minh phát lại bộ phim 2 tập của Hãng phim TFS sản xuất năm 2006 nói về nhà thơ Hải Như đã thể hiện rõ nét chân dung một tài thơ đích thực được nhiều tổ chức, nhiều nhân vật quan trọng như nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên Tổng bí thư Trường Chinh, nguyên Phó thủ tướng Đoàn Duy Thành... đánh giá rất cao. Hoàng Tùng (nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân) xuất hiện trong bộ phim đã nhận định: “Tập thơ của Hải Như viết về Hồ Chí Minh đã đi vào di sản thơ ca cách mạng, đi vào thơ văn trữ tình của dân tộc ta...”. Nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành phát biểu: “Thơ của nhà thơ Hải Như có tính hiện đại, luôn luôn sát thực tế, chịu trách nhiệm nói lên thực tế bằng văn học để giúp những nhà lãnh đạo suy nghĩ về mình và đất nước...”. Còn đồng chí Trường Chinh thì khích lệ nhà thơ Hải Như “cùng nghĩ với Đảng”, nói như cách nói hiện nay là khích lệ phản biện để xây dựng Đảng...

        Nhiều tỉnh bạn rất coi trọng cống hiến của nhà thơ Hải Như đối với địa phương, đất nước, biểu hiện ở hàng trăm bài viết trên phương tiện thông tin, làm phim về ông, ca ngợi xứng đáng với ông...

 

       “POST – HỒ CHÍ MINH” VÀ THƯ GỬI TỔNG BÍ THƯ CỦA NHÀ THƠ HẢI NHƯ

 

          Tôi thầm nghĩ: Thời đại nào Nam Định cũng có những nhà thơ tài năng chân chính làm đẹp quê hương. Nhà thơ Hải Như là một trong số đó. Ông xứng đáng là niềm tự hào của nhân dân Nam Định.

          Dịp ông về thăm thành phố Nam Định quê hương tháng 4 năm 2012, tôi may mắn được gặp ông. Ông có người con trai hy sinh tại Quảng Trị, chưa tìm thấy mộ. Biết tôi cũng từng chiến đấu ở Quảng Trị, ông coi tôi như con. Ông khen qua blog của tôi thấy tôi là người có tâm với quê hương Nam Định. Ông tin tưởng gửi cho tôi nhiều sáng tác của ông để tôi đăng lên blog.

          Được ông cho phép, kỳ này chúng tôi công bố bài thơ POST – HỒ CHÍ MINH kèm thư gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bằng đường bưu điện từ năm 2007 (khi đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là Chủ tịch Quốc hội).  Tháng 2 năm 2012 ông gửi lại thư này mà đến nay vẫn không có hồi âm. Ông cho rằng có lẽ thư bị tắc ở khâu trung chuyển nên Tổng Bí thư chưa nhận được. Bởi nếu nhận được thì Tổng Bí thư đã phúc đáp... Nay chúng tôi đưa thư lên blog hy vọng may ra tới được Tổng Bí thư.

          POST – HỒ CHÍ MINH tiếng Pháp là Hậu thời đại Hồ Chí Minh. Đó là tên bài thơ của nhà thơ Hải Như sáng tác năm 2007 báo động về sự suy thoái, tha hóa đạo đức của một bộ phận không nhỏ đảng viên, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, làm suy yếu sức mạnh của Đảng. Cùng toàn bộ sáng tác của ông, bài POST – HỒ CHÍ MINH thể hiện ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính mọi thời đại, trước sự hưng vong của dân tộc đều lên tiếng xây dựng với các nhà cầm quyền. Raul Gamzatovich Gamzatov từng nói đại ý rằng: Những người thày thuốc viết bệnh sử con bệnh, còn các nhà văn nhà thơ viết bệnh sử của dân tộc, của nhân loại. Nhà thơ Hải Như là một người như thế. Ông thấy rõ sự thật. Ông nhìn thẳng vào sự thật, trung thực và thẳng thắn nói lên sự thật bằng tấm lòng trung thành với dân tộc và Đảng Cộng sản Việt Nam mà cả đời ông đi theo cống hiến.

          Bài thơ và thư gửi Tổng Bí thư của ông là hành động thiết thực hưởng ứng lời kêu gọi góp ý với Đảng trong đợt học tập Nghị quyết 4 của Trung ương.

       POST – HỒ CHÍ MINH

                     Hải Như

       “Sư tử trùng thực Sư tử nhục”

       Kinh Đại – Niết – Bàn Phật Giáo.

 

       Người cộng sản hôm qua được Dân tộc nhìn nhận là Lực đẩy

Nhưng rất có thể trở thành Lực cản

Khi đất nước không còn giặc nhân dân thừa nhận chấm công

Lúc ấy Đảng dễ biến thành chiếc “Phao cứu sinh”

Cho những kẻ hư hỏng tha hóa liên – minh – thành – một – khối

Bao che tội lỗi quần – chúng – biết – hết cho nhau

Không ai khác. Chính Hồ Chí Minh

Người đã nhìn xa cảnh báo chuyện này

Lịch sử đang lên tiếng hỏi:

Lớp lớp cháu con các má Miền Nam

Đội quân tóc dài rầm rập kéo đi biểu tình hôm qua

Khiến quân đội Mỹ hạ súng chào thua

Sau 30 năm thống nhất đất nước lại muốn... thay đời

Ồ ạt đi lấy chồng không – cần – biết – mặt Hàn Quốc, Đài Loan

Chúng ta chớ vội say sưa tự huyễn hoặc

Với những con số GDP nhảy múa hàng năm trên diễn đàn Quốc hội

Hãy nhìn thẳng vào mâm cơm đồng bào còn đứt bữa vùng sâu vùng xa

Khoảng cách giàu nghèo không rút ngắn mà ngày càng rộng ra...

Trong con mắt quần chúng hôm nay:

Người cộng sản đang tự - đánh – mất – mình nghiêm trọng

Không thích làm dân chỉ muốn – ngược lại Hồ Chí Minh

Làm quan Cách mạng

Nghe chăng lịch sử rung chuông:

Coi chừng... Lực cản!

              (Nhà vườn Thạch Lộc Q.12 Sài Gòn, 24 – 11 – 2007)

 

       THƯ GỬI TỔNG BÍ THƯ

 

       TP. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 02 năm 2012

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng

       Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam

              Kính thưa Anh,

          Trên tư cách nhà thơ chuyên khám phá đề tài Hồ Chí Minh với quan điểm sáng tác: Không xưng tụng công đức Lãnh Tụ mà thông qua nhân cách Hồ Chí Minh, nhà thơ viết về Chúng Ta. Trên 40 bài thơ về đề tài Bác của tôi đã được Đ/C Hoàng Tùng cho đăng trên báo Nhân Dân dịp kỷ niệm hàng năm sinh nhật Người.

          Tôi muốn gửi lại Đ/C Nguyễn Phú Trọng bức thư và bài thơ Post – Hồ Chí Minh mà cách đây 5 năm – ngày 12/12/2007 tôi gửi theo đường bưu điện lên Anh trên cương vị Chủ tịch Quốc Hội. Tôi cho rằng bức thư đó văn phòng Quốc Hội không chuyển tới Anh vì nhà thơ không được Chủ tịch Quốc Hội phúc đáp.

          Bài thơ Post – Hồ Chí Minh tôi viết theo chỉ thị tác giả “Nhật ký trong tù”: thơ cần có thép. Tôi coi bài thơ sẽ rất có ích cho việc xây dựng Đảng – quét sạch Chủ Nghĩa Cá Nhân hôm nay. Bài thơ đáp ứng tinh thần Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành T/Ư Đảng khóa 11 do Anh là tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật mang ý nghĩa sống còn của Đảng, tôi mạn phép gọi là báo động đỏ, phù hợp với câu thơ tôi viết sau ngày Hồ Chủ Tịch qua đời:

       Không đáng sợ kẻ thù trước mặt

       Sợ nhất kẻ thù ẩn náu trong ta.

          Tôi hy vọng bài thơ “Post – Hồ Chí Minh” sẽ được Tổng bí thư duyệt đăng trên báo Nhân Dân lúc này. Xin cảm ơn Anh nhiều. Tôi đón chờ thư hồi âm của Anh Nguyễn Phú Trọng mà tôi đặt niềm tin.

          Kính thư: Hải Như.

 

       KHÁT VỌNG HÒA BÌNH TRONG THƠ HẢI NHƯ

 

           Hơn ai hết, người lính mong muốn trên đời không còn cảnh những người vợ chờ chống như nàng Tô Thị. Họ hiểu, trân trọng tư tưởng và góc nhìn khác thường, chân thực về chiến tranh của nhà thơ Hải Như.

          "Nàng Tô Thị không còn cầu chúc hành tinh"

                                                        (Thơ Hải Như)

          Tượng nàng Tô Thị từ lâu đã trở thành biểu tượng người vợ lính chờ chồng mòn mỏi đến hóa đá. Ngày 27-7-1991, tượng nàng Tô Thị bị kẻ xấu phá đổ để lấy đá nung vôi. Dư luận quần chúng bất bình, xôn xao, báo chí thi nhau lên án Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Lạng Sơn đã thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ tượng nàng Tô Thị.

          Mùa xuân năm 1992, nhà thơ Hải Như cùng phu nhân từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội và lên thăm Lạng Sơn. Trước sự việc tượng nàng Tô Thị bị phá và dư luận bất bình, nhà thơ Hải Như đã sáng tác bài thơ "Tô Thị" thể hiện rõ cái nhìn và quan điểm của mình. Qua bài thơ, ông muốn lý giải rằng dân tộc Việt Nam vốn hiếu hòa chứ không hề hiếu chiến như lâu nay phương Tây vẫn hiểu không đúng...

          Khi về Hà Nội, nhà thơ Hải Như gửi bài thơ cho nhà viết kịch Tào Mạt. Nhà viết kịch Tào Mạt đọc xong, chép ngay lại bài thơ và cho rằng cần được công bố bài thơ này. Nhưng rất tiếc, bài thơ đã không được công bố trên báo chí. Sau này nhà thơ Hải Như đưa bài thơ vào tập "Nỗi buồn hoa bất tử" NXB Lao Động, 1994).

          Tạp chí Nhà văn số ra tháng 12-2011 và Báo Đà Nẵng tháng 8-2012 đăng bài "Lời liệt sĩ thành cổ Quảng Trị" của nhà thơ Hải Như. Nhà thơ đã thay lời các liệt sĩ trong 81 ngày đêm máu lửa bảo vệ thành cổ Quảng Trị (trong đó có con trai nhà thơ) nói rõ điều mà các liệt sĩ mong muốn là xây dựng một "xã hội nhân văn", chứ không phải chiến tranh, bởi chiến tranh: 

          Là nước mắt - chia ly, là máu đổ

          Là "Nhất tướng công thành vạn cốt khô".

          Phải chấp nhận cuộc chiến tranh không hề mong muốn kéo dài 1/3 thế kỷ là sự bất hạnh. Vì thế, không nên dùng những mỹ từ nói về nó như "Thời hoa lửa"... Viết đến đây tôi không thể không nhớ lại những ngày trên đường ra trận vào năm 1972 đầy gian khổ, bom đạn ác liệt, hy sinh mất mát lớn lao của đơn vị và đồng đội.

          Tôi may mắn được sống sót trở về, còn hàng vạn đồng đội đã nằm lại chiến trường. Hàng vạn bà mẹ trở thành bất hạnh. Biết bao người vợ mòn mỏi chờ chồng hóa đá như nàng Tô Thị. Hơn ai hết, người lính chúng tôi mong muốn trên đời không còn cảnh những người vợ chờ chồng như nàng Tô Thị. Và tôi hiểu, trân trọng tư tưởng và góc nhìn khác thường, chân thực về chiến tranh của nhà thơ.

          Từ quan điểm tư tưởng và cái nhìn đối với chiến tranh thể hiện ở hai bài thơ vừa nêu, nhà thơ Hải Như lên án:

          Nhưng con người với con người

          Đêm đêm trên màn ảnh nhỏ

          Vẫn chĩa súng vào nhau.

          Và... vẫn thản nhiên cười (?)

                             (Gấu trúc Ata).

          Ông coi sự kiện đôi tình nhân Bosko và Admira vượt qua mọi tị hiềm để giữ vững tình yêu và bị bắn chết vào năm 1993 là "Vết nhơ thế kỷ".

          Cái nhìn ấy, tư tưởng, quan điểm ấy của nhà thơ bắt nguồn từ tình yêu hòa bình, truyền thống hiếu hòa của dân tộc Việt Nam. Có yêu hòa bình mới căm ghét chiến tranh. Nhà thơ Hải Như đã thể hiện rõ tình yêu hòa bình và với hai bài thơ trên, tình yêu hòa bình ở nhà thơ đã vượt lên thành khát vọng hòa bình.

       Mời các bạn đọc hai bài thơ của Nhà thơ Hải Như sau đây:

                     TÔ THỊ

       "Nàng Tô Thị không còn cầu chúc hành tinh"

Ta không buồn khi mất nàng Tô Thị

Lòng sắt son hóa đá đứng chờ chồng

Bởi không muốn ngợi ca hoài chung thủy

Còn chiến tranh vợ mòn mỏi xa chồng...

Đào xứ Lạng - Cảm ơn bông nở muộn

Đón khách thơ. Ta đi với người tình

Từ nửa nước phía nam lên ải bắc

Nàng Tô Thị không còn - cầu chúc hành tinh!

Có phải hai dân tộc đã nhìn ra quá khứ

Đáng rủa nguyền - xương máu rải đầy non

Nàng Tô Thị cảm thấy cần vắng bóng

Cho vĩnh viễn hòn Vọng phu ta, bạn không còn...

Đừng thi vị đường đầy hoa ra mặt trận

Mẹ già ta cần ta cạnh bên người

Suốt đời mẹ đã làm nàng Tô Thị

Chiếc áo trấn thủ chồng, mẹ ấp ủ tàn hơi.

Biên giới là gì? Lòng người không biên giới

Cột mốc dựng chia chẳng ngăn nổi tìm nhau

Hội Lùng tùng mở Đồng Đăng trai Bằng Tường băng tới

Ta cảm thông hai mảnh đất địa đầu!

Ta không buồn khi mất nàng Tô Thị

Chiều Lạng Sơn soi bóng nước Kỳ Cùng

Ồ em nhỉ - ta theo dòng chảy ngược

Làm một cuộc du hành. Biên giới vốn cùng chung...

(Lạng Sơn - Bằng Tường mùa Xuân 1992)

Rút trong tập "Nỗi buồn hoa bất tử" của Hải Như, NXB Lao Động, 1994.

 

       LỜI LIỆT SĨ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

       "Nhĩ lai bất quý sát nhân công" (*)

                                  (Nguyễn Du)

Cảm ơn các bạn không quên chúng tôi

Đã ngã xuống trong 81 ngày đêm chấn giữ Thành cổ.

Hàng năm các bạn vẫn đến thả đèn hoa trên dòng Thạch Hãn.

Chiến tranh là gì?

Là nước mắt - chia ly, là máu đổ

Là "Nhất tướng công thành vạn cốt khô"

Thời của thế hệ chúng tôi không nên dùng mỹ từ "Thhời hoa lửa"

Bất hạnh cho dân tộc ta - một dân tộc hiếu hòa.

Phải chấp nhận trận chiến kéo dài không muốn- phần ba thế kỷ

Chúng tôi mong được các bạn mỗi lần đến cho biết:

Giấc mơ về một "xã hội nhân văn" chúng tôi mang theo vào trận đánh

Các bạn hôm nay phấn đấu thực hiện đến đâu rồi?

(TP. Hồ Chí Minh, tháng 8-2011)

       (*) Pháo đài, dịch nghĩa là: Từ nay việc giết người không còn coi là có công.

 

TẤM LÒNG NHÀ THƠ HẢI NHƯ VỚI QUÊ HƯƠNG NAM ĐỊNH

 

       Tôi được biết các nhà lãnh đạo địa phương Nam Định trước đây như Phan Điền, Nguyễn Văn An, Bùi Xuân Sơn, Trần Minh Ngọc, Trần Văn Tuấn... rất coi trọng nhà thơ Hải Như. Mỗi lần nhà thơ về thăm quê đều được lãnh đạo địa phương cho xe đón từ Hà Nội và tổ chức gặp gỡ thăm hỏi. Cố Bí thư tỉnh Phan Điền có lần về tận quê thăm hỏi thân sinh nhà thơ Hải Như. Gần đây, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh đã đến nhà thăm nhà thơ Hải Như…

          Tôi cũng từng biết: Nhà thơ Hải Như góp ý cho nguyên Bí thư tỉnh ủy Phan Điền để người bạn của ông là kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn Cao Luyện thiết kế xây dựng Bảo tàng cổ vật Nam Định trên hồ Thượng Lỗi. Bảo tàng lịch sử thì địa phương nào cũng có, nhưng bảo tàng cổ vật thì chỉ có ở Nam Định:

      Nhà truyền thống đuổi giặc ngoại xâm không quê nào vắng thiếu

      Riêng bảo tàng cổ vật trưng bày văn hiến chỉ thành Nam!

                               (Thơ Hải Như)

        “Hình thành từ thú chơi thu nhỏ vũ trụ riêng”, nhà Cổ vật được thể hiện dưới hình thức hòn non bộ rất độc đáo. Nơi đây từng là điểm du lịch thú vị của khách tham quan, là nơi “cho ta thả hồn bay bổng hôm nay”. Rất tiếc, giờ đây công trình Nhà bảo tàng cổ vật từng là chứng tích mang nét văn hóa đặc sắc của tình nhà, là niềm tự hào của người dân địa phương, đã bị phá bỏ.

         Ai là người yêu mến văn hiến Nam Định mà không thấy buồn trước tình trạng xuống cấp, mai một di tích nhà thơ Trần Tế Xương và chẳng đồng tình với ý kiến thẳng thắn, chân thành của nhà thơ Hải Như góp cho nhà cầm quyền địa phương cần tôn tạo nhà Tú Xương cho xứng với tầm danh nhân... Ở góc độ này, nhà thơ Hải Như đã hành động như một “Gián quan” trung thực và dũng cảm.

          Trong bài “Thơ ghi bên tượng đài Trần Hưng Đạo” sáng tác năm 2000, nhà thơ Hải Như thức tỉnh người dân, người lãnh đạo, người cầm quyền:

       Trong các trang sử biên niên rực rỡ triều Trần

       Có một trang khiến thế hệ sau chúng ta tự hào mãi mãi

       Các vua Trần vô cùng hiện đại: 40 tuổi nhường ngôi...

       Thơ Hải Như bộc lộ tình yêu tha thiết quê hương, yêu những người con quê hương ưu tú như nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhà thơ Tú Xương, thi sĩ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương..., yêu nhớ đến da diết những phố hàng Nâu, Hàng Thao, chợ Rồng..., nuối tiếc đặc sản kẹo Sìu Châu nay không còn như trước, nhớ nét bản sắc quê hương (Guốc làng Nam Dương), tự hào với làng rèn Vân Chàng... Càng tự hào và yêu nhớ quê hương bao nhiêu, ông càng trăn trở, buồn về những cái tốt đẹp bị mai một, về sự thờ ơ vô cảm của những người có trách nhiệm trước sự xuống cấp của di tích văn hóa, của “nếp sống thành văn” Nam Định.

       Về Nam Định đi với anh – em sẽ vui và cả buồn sung sướng gặp

       Vũ Hoàng Chương đang ngắm “Mây” tựa lan can căn gác phố Cửa Trường

       Và Nguyễn Bính vừa đọc thơ cho chị em chợ Rồng bài “Lỡ bước sang ngang” em thuộc đó

       Nam Định còn phải mang tính cách Thành phố Văn Chương...

       Đọc những bài thơ viết về Nam Định của nhà thơ Hải Như, ta thấy rõ tấm lòng nhà thơ đối với quê hương Nam Định. Chúng ta tự thấy cần phải điều chỉnh bản thân từ những thông điệp thơ ông.

 

          TÌNH BẠN GIỮA CHÍNH KHÁCH

TRẦN XUÂN BÁCH VÀ NHÀ THƠ HẢI NHƯ

 

            “Làm văn học với tôi là một lựa chọn “dấn thân”. Quan niệm của tôi: Nhà thơ không chỉ là pháp sư ngôn ngữ mà phải là nhà tư tưởng.

            Người làm thơ phải ý thức được quyền lực thơ ca và quyền uy thi sĩ... Ngồi trước trang giấy nhà thơ không được quên đối tượng cần được thức tỉnh của mình bao gồm cả nhà cầm quyền”.

            Với nhận thức vị trí nhà thơ trong nền văn học cách mạng, nhà thơ Hải Như ghi trong kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại như thế.

            Mùa thu 2012 nhà thơ Hải Như từ Sài Gòn ra thăm quê Nam Định. Chúng tôi đã đến thăm và đề nghị nhà thơ cung cấp tư liệu, xin phép được công bố về tình bạn của nhà thơ với ông Trần Xuân Bách cùng một số bài thơ chưa công bố. Được Nhà thơ cho phép, tôi xin gởi tới bạn đọc bài viết dưới đây.

          Lịch sử văn học Việt Nam sau này, tôi nghĩ, không thể không ghi nhận giai thoại về tình bạn cao đẹp của một nhà chính trị với một nhà thơ thời Cách mạng nước ta đang bước vào đổi mới những năm 90 của thế kỷ 20. Đó là tình bạn tâm giao của chính khách Trần Xuân Bách và nhà thơ Hải Như.

          Trong sáng tác văn học, nhà thơ Hải Như chủ trương “có bài sáng tác rồi nhưng chưa công bố rộng rãi vội”. Theo nhà thơ, “trong kho dự trữ người cầm bút luôn nhớ cần có sáng tác chưa công bố (inédit)”. Lần này, chúng tôi giới thiệu một số bài chưa công bố của nhà thơ Hải Như về chủ đề Bảo tàng Hồ Chí Minh và tình bạn với ông Trần Xuân Bách.

          Theo nhà thơ Hải Như thì sinh thời Hồ Chí Minh là người chống tệ sùng bái cá nhân. Người không muốn các địa phương dựng tượng Người tràn lan như hiện nay khiến thế hệ sau có thể hiểu không đúng về Người. Chúng ta không được quên trong di chúc Người căn dặn Đảng, nhân dân trước lúc đi xa:

       ...“Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân.

          Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn.

          Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

          Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ để nghỉ ngơi.

          Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão...” (Trích Di chúc của Hồ Chí Minh)

          Nhưng khi Người ra đi, theo nhà thơ Hải Như, chúng ta đã không làm theo Di chúc của Người. Chúng ta đã dựng Lăng Người, sau đó lại xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh nguy nga đồ sộ.

          Năm 1988 từ thành phố Hồ Chí Minh, nhà thơ Hải Như qua báo chí thấy công trường xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh trong khi đào móng, dàn búa máy đã làm nghiêng có nguy cơ đổ chùa Một Cột. Báo chí đã lên tiếng nhưng vô vọng. Nhà thơ đã viết một bản kiến nghị gửi Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quốc hội, đề nghị ngừng công trường xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh do “không hợp với tâm nguyện của Người”, dành số tiền xây dựng bảo tàng cho một công trình phúc lợi toàn dân như mạng máy nước thành phố Hà Nội năm đó đang bị hư hỏng nặng. Kiến nghị của Nhà thơ Hải Như kèm theo bài thơ có tựa đề “Bài thơ chưa in báo”.

          Bảo tàng Hồ Chí Minh từ ngày thành lập đến nay đã “lộ rõ” sự không cần thiết phải đồ sộ như vậy. Hiện vật chưng bày không nhiều và không hấp dẫn khách đến thăm. Hội trường chỉ dùng cho thuê các hội nghị và tổ chức lễ cưới. Sân rộng lớn thành bãi cho thuê đỗ xe. Không chỉ Bảo tàng Hồ Chí Minh mà các bảo tàng ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trên cả nước có kế hoạch xây dựng bằng công quỹ quốc gia cũng trong tình trạng tương tự. Nhà thơ Hải Như, ngay từ năm 1988 của thế kỷ trước đã “báo động” về sự lãng phí công quỹ nhà nước của các bảo tàng cả nước hôm nay.

          Nguyên văn bài thơ về Bảo tàng Hồ Chí Minh của Hải Như như sau:

          BÀI THƠ CHƯA IN BÁO

                             Hải Như

          “Chúng ta đã lỡ làm lăng Bác...”

                                                H. NH.

 

       Ra Hà Nội mùa xuân này anh không dám vào nhà sàn thăm Bác

       Nghe nói Người đang rất buồn – vầng trán trĩu ưu tư

       Có ai báo với Người: chùa Một Cột do ảnh hưởng địa chấn – bị hư!

***

       HỒ CHÍ MINH. Nhiều chúng ta tưởng hiểu hết Người hóa ra chưa hiểu

       Người từ chối mọi huân chương. Ta đi xây dựng bảo tàng

       Khi ra khỏi chiến tranh Bác Hồ dặn lại dân sẽ gặp nghìn cái thiếu

       Không gia đình nào Bắc cũng như Nam lại không gánh chịu một vành tang...

***

       Ý Bác tức lòng dân. Người vắng mặt đi xa. Lòng dân ta chưa hỏi

Xây dựng công trình ngoài ý Bác đồng nghĩa với xúc phạm lòng dân

Đừng vin cớ vì Bác Hồ, Người dân hiểu hơn hết Bác Hồ nhưng không nói

Dân tộc ta giờ này thiếu Bác Hồ dân thấm thía nghìn năm!

***

Nhà sàn Bác Hồ được tôn thêm nhờ đứng cạnh đóa sen hồng: chùa Một Cột

Hành trình Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác xuyên suốt 4000 năm

Chúng ta sẽ sai lầm nếu xếp Bác Hồ đứng trên và đứng trước.

Chẳng phải ngẫu nhiên trước ngày về giải phóng Thủ đô 54 – Người xin gặp các vua Hùng...

***

Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình mới đâu. Và thật ra không mới!

Lẽ làm người từ NGUYỄN TRÃI (luôn luôn Bác Hồ nhắc ta) đã có tự cha ông

“Chở thuyền là dân lật thuyền cũng là dân” nhân loại năm 2000 càng thấy mới

Chúng ta vui có HỒ CHÍ MINH góp với tinh hoa nhân loại giống Tiên Rồng.

***

Bảo tàng HỒ CHÍ MINH cần không! Chắc em muốn hỏi anh. Lịch sử ngày mai cần lắm chứ!

Nhưng bảo tàng HỒ CHÍ MINH quyết không giống mọi bảo tàng

Ngoài hiện vật duy nhất huyền thoại “đôi dép lốp hành quân” mỗi người dân sẽ trở thành hiện vật.

Bảo tàng nằm trong lòng dân – tết vòng nguyệt quế Nhân Quần...

                             (Sài Gòn, ngày 2 tháng 3 năm 1988).

          Bài thơ đã trở thành “gạch nối” của quan hệ tình bạn giữa tác giả và Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách – vị lãnh đạo thời đó đang nổi như cồn về thái độ trọng thị các sĩ phu hai miền qua các diễn đàn.

          Ba tháng sau, trong chuyến ra Hà Nội nhà thơ Hải Như đã được đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Trần Xuân Bách tìm gặp. Đồng chí Trần Xuân Bách nhận được bài thơ đã không trả lời nhà thơ qua Văn phòng Trung ương Đảng mà trực tiếp “vi hành” vào ngõ Hòa Bình 5 đường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội khi nhà thơ vừa từ Sài Gòn ra, bởi – ông nói vui khi gặp Hải Như ở nhà con trai nhà thơ – nhà báo Vũ Kỳ Anh: “Tôi muốn trực tiếp gặp một “cái đầu”của xã Bái Dương. Tôi muốn diện kiến người cùng huyện làm thơ”. (Nhà thơ Hải Như và chính khách Trần Xuân Bách đều quê ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, nhưng chưa gặp nhau bao giờ). Đồng chí Trần Xuân Bách thông báo với Hải Như là Bộ Chính trị hoan nghênh ý kiến đóng góp của nhà thơ Hải Như, nhưng không thể ngừng công trình vì đã vào kế hoạch được Nhà nước phê duyệt. Trong suốt một giờ đồng hồ gặp gỡ trao đổi cởi mở, ông Trần Xuân Bách tỏ ra rất vui và bảo là ông đã gặp được một nhà thơ có tính trung thực thẳng thắn đòi hỏi cần có ở người cầm bút chân chính mọi thời.

          Trong buổi gặp gỡ lần đầu giữa chính khách Trần Xuân Bách và nhà thơ Hải Như có một kỷ niệm khó quên. Nhà thơ Hải Như hôm nay nhớ lại:

          “Khi Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách tới, tôi mời lên gác nhà con mình ngồi chờ để mình pha nước đem lên mời khách. Sau khi nghe Trần Xuân Bách tự giới thiệu thân mật, tôi nghĩ thầm: Mình từng được tiếp xúc các vị lãnh tụ như đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng... nhưng do các đồng chí đó cho thư ký riêng đến nhà mời. Với Trần Xuân Bách, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ. Giới trí thức ngày ấy coi anh như một ngôi sao sáng trong bầu trời chính trị bắt đầu cởi mở qua thái độ trân trọng các trí thức của anh.

          Tỏ ra cởi mở ngay phút đầu gặp gỡ, tôi chủ động nói:

          - Tôi thật sự bất ngờ! Xin cảm ơn Ủy viên Bộ Chính trị đã “vi hành” vào ngõ hẻm khi được tin tôi ở thành phố Hồ Chí Minh mới ra. Vừa rồi cháu gái nội tôi năm nay lên 9 tuổi khi nghe tôi nói có ông khách Trung ương đến nhà, cháu hồn nhiên hỏi: “Ông ơi! Ông ấy ở Trung ương sao lại không béo ạ? Con thấy trên ti vi ông nào ở Trung ương cũng bệ vệ cũng béo mà!” Tôi xin phép được nói lại với anh ý nghĩ của trẻ thơ.

          Trần Xuân Bách rất vui đáp lại:

          - Mình không béo à?

          Tôi hỏi:

          - Anh có biết giai thoại về nhà điêu khắc Thorwaldsen người Đan Mạch và nhà thơ Lord Byron người Anh không?

          Trần Xuân Bách lắc đầu. Tôi xin phép được kể:

          - Nhà điêu khắc Thorwaldsen người Đan Mạch và nhà thơ Lord Byron người Anh là những danh nhân nổi tiếng thế kỷ 19. Khi nhà thơ Lord Byron đến thăm xưởng của nhà điêu khắc Thorwaldsen, nhà điêu khắc xin được tạc tượng nhà thơ danh tiếng nước Anh để thể hiện ý tưởng và tư duy của nhà thơ mà ông khâm phục. Sau một giờ say sưa tạc tượng bán thân của thi hào Lord Byron, Thorwaldsen dừng tay xin nhà thơ cho biết cảm nhận về tác phẩm của mình. Nhà thơ Lord Byron nói: “Bạn không tạc tôi mà tạc một anh chàng yên ổn. Tôi không hề giống bức tượng này!”. Thorwaldsen phản ứng: “Có gì xấu nếu người ta sung sướng!”. Thi hào Lord Byron tái mặt đi vì tức giận: “Hạnh phúc và sự yên ổn khác nhau như đá hoa và đất sét. Chỉ những kẻ ngu và những người tâm hồn thấp kém mới tìm sự yên ổn trong thế kỷ còn nhiều bất công xã hội mà chúng ta đang sống này! Chẳng lẽ trên khuôn mặt tôi lại không có nét nào nói lên sự đắng cay, lòng can đảm và đau khổ của suy nghĩ ư?”. Thorwaldsen cúi đầu trả lời: “Ngài nói rất đúng! Con dao khắc đã phản tôi. Được gặp thi hào tôi vui quá nên con mắt tôi đã sai lệch.”

          Nghe tôi kể xong câu chuyện, ông Trần Xuân Bách ôm lấy vai tôi:

          - Hải Như, anh đã “minh họa” lời nhận xét của cháu nội anh về tôi một cách khá thú vị!

          Trước khi ra về, ông Trần Xuân Bách ôm chặt tôi một lần nữa, xúc động nói:

          - Hải Như ơi! Chúng ta bắt đầu trở thành tri kỷ!”

 

          Sau buổi gặp gỡ này, không một lần nào vào Sài Gòn mà Trần Xuân Bách không cùng phu nhân đến thăm nhà thơ Hải Như tại nhà riêng ở đường Nguyễn Hữu Cảnh, Quận 1. Hai người đàm đạo tâm đầu ý hợp, cùng trăn trở về Di chúc của Bác Hồ không được thực hiện, cùng chia sẻ về nhận thức xã hội, về văn học Cách mạng hiện trong tình trạng như Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến nhận xét là “Văn học phải đạo”.

          Trước khi bị kỷ luật Đảng, vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch (sau Tết Nguyên Đán) 1990, đồng chí Trần Xuân Bách vào Sài Gòn họp Bộ Chính trị đã tới số nhà 27H đường Nguyễn Hữu Cảnh, Quận 1 thăm Nhà thơ Hải Như. Tại đây, nhà chính khách đã đọc cho nhà thơ nghe bài thơ của mình làm và nhờ góp ý. Bài thơ như sau:

          BÀI THƠ KHAI BÚT 1990

                                      Bách Xuân

Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương

Cố nhân chính trực đồng hương nghĩa tình.

Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân

Lấy dân làm gốc phải nghe dân

Trí khôn thiên hạ không hề thiếu

Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần!

          Ngay ngày hôm sau, nhà thơ Hải Như đã đến Nhà khách thành ủy T78 nơi nghỉ của đồng chí Trần Xuân Bách góp ý với tác giả nên thay từ “người” ở câu “Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần!” bằng từ “mình”. Nhà chính khách Trần Xuân Bách tiếp thu ngay nhưng lấy làm tiếc vì đã đọc cho nhiều trí thức ở Hà Nội và Sài Gòn chép cả rồi.

          Đồng chí Trần Xuân Bách nhận thức sâu sắc rằng cuộc sống vốn đa nguyên, cách mạng muốn thắng lợi phải đi con đường hợp quy luật. Ông từng nói: “Chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải thực hiện đa nguyên chinh trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị vấp váp”. (Trích Hồi ký Làm báo của Tống Văn Công). Chính tư tưởng đi trước thời đại này đã khiến ông “lâm nạn”. Ngày 27 – 3 - 1990 Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa 6 đã quyết định cách chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách. “Chỉ có hai ủy viên Bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt (thiểu số) cho rằng, từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, Trần Xuân Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi hai chân” thì đất nước mới phát triển...” (Trích Hồi ký Làm báo của Tống Văn Công).

          Nhiều người không dám tiếp xúc với đồng chí Trần Xuân Bách khi ông lâm nạn vì sợ liên quan. Nhưng với nhà thơ Hải Như, tình bạn giữa hai người – nhà làm chính trị và nhà làm văn học coi như không có chuyện “cắt đứt”. Bạn bè can ngăn đừng đến Trần Xuân Bách vội nhưng nhà thơ Hải Như vẫn cứ đến thăm bạn đang gặp hoạn nạn. Trong Hồi ký Làm báo của Tống Văn Công có đoạn viết: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên “quyền cao chức trọng”, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào dám đến thăm ông thày cũ của họ đâu! Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải sống “một thời vô luân” mà!”

          Nhà thơ Hải Như kể: “Ngày 20 tháng 5 năm 2002 tôi viết bài thơ ngắn biểu dương người bạn đời của ông Trần Xuân Bách những năm dài sóng gió đã làm điểm tựa cho chồng...”.  Nguyên văn bài thơ như sau:

          TRẦN XUÂN BÁCH

Chắc chắn lịch sử sau này sẽ giành một trang về anh - khách quan phán xử

Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:

Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi nhưng còn cái được tuyệt vời sao!

Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh

Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua giông bão

(Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên quan” đè lên cơm áo)

Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội ác. Đúng không nào?

Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô đơn

Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh

Từ Sài Gòn mỗi lần ra ghé thăm – tôi vui làm nhân chứng Một tình yêu...

          Hà Nội – Trung Tự, ngày 20 tháng 5 năm 2002

 

          Ông Trần Xuân Bách không viết hồi ký mà làm thơ. Xin giới thiệu một bài thơ của Bách Xuân Trần Xuân Bách do tác giả đọc cho nhà thơ Hải Như ghi:

 

TRONG MƠ GẶP CỤ NGUYỄN DU

 

Một cơn giông chiều

Một đêm mưa đá

Có lạnh những tình yêu?

Có chân nào trượt ngã?

Bạn hỏi tôi vì sao

Nguồn thơ vẫn dạt dào

Khi tiếng sóng ồn ào

Khi trời giông sấm động

Vì lòng tôi không trống một niềm tin!

Trong một giác mơ

Được tiếp chuyện nhà thơ

Cùng Nguyễn Du bất tử...!

Bên lành bên dữ

Phải chăng phân giới bởi quyền uy?

Biết nói năng chi

Sau câu hỏi bất ngờ

Của nhà thơ

Thay cho câu trả lời

Tôi xin phép nhà thơ

Được sửa đôi dòng bất hủ:

“Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ QUYỀN”

Cụ Nguyễn Du mỉm cười rơi nước mắt

Ngâm câu kiều “lẩy”:

“Nợ đời chưa trả cho ai

Khối tình giữ trọn cho đời chưa tan

Nỗi riêng không chút bàng hoàng

Tình dân nghĩa nước vẹn toàn trước sau

Thiện căn ràng buộc lấy nhau

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!”

Ôi giấc mơ thần kỳ

Một đêm mưa đá

Giữa bầu trời Thủ Đô...

(Hà Nội đêm 29 tháng 03 năm 1990)

 

          Ngày 01 tháng 01 năm 2006 chính khách Trần Xuân Bách qua đời. Trên báo Nhân Dân có bài đánh giá những cống hiến của Trần Xuân Bách trong hoạt động cách mạng. Cuối cùng thì Trần Xuân Bách đã được nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của chế độ. Chưa phải là tất cả, nhưng như vậy, người ta đã phải thừa nhận tư tưởng đổi mới đi trước của Trần Xuân Bách.

          Từ thành phố Sài Gòn, nhà thơ Hải Như đã viết bài thơ vĩnh biệt nhà chính trị lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, một nhân cách lớn được giới sĩ phu mến mộ tài năng. Bài thơ này ghi trong sổ tay của nhà thơ. Được nhà thơ nhân chuyến mùa thu (2012) về thăm quê Nam Định cho phép, nay tôi xin công bố rộng rãi:

 

          VĨNH BIỆT NGƯỜI BẠN CÙNG QUÊ

Hải Như

(Thay một nén nhang tưởng niệm Bách Xuân – Trần Xuân Bách)

 

Ngồi trên ghế quyền lực cao nhất Anh tìm đến ngõ Hòa Bình 5 đường Minh Khai gặp nhà thơ

Anh và tôi cùng huyện nhưng 2 vị trí khoảng cách xa nhau – chưa giáp mặt bao giờ

Tôi ngạc nhiên khi thấy Anh lẫn trong đám đông và... không có 2 cằm(?)

Nghe tôi từ Sài Gòn ra Anh tới thăm ngay để trả lời bài thơ gởi Trung Ương tôi kiến nghị

Ngừng xây dựng Bảo Tàng Hồ Chí Minh nhường cho công trình phúc lợi Người dân

Có cả một văn phòng – có thư ký riêng nhưng Anh đích thân “vi hành” vào ngõ hẻm

Tôi nhớ tới câu thơ hôm nào Anh ghi tặng tôi:

“Bác Hồ là chúng ta khi chúng ta thật sự là chúng ta...”

Ngày Anh đi xa trên báo Nhân Dân bạn đọc thấy Những – gì – thuộc – về - Anh đều được trả lại

Tôi bỗng liên hệ đến có kẻ nhất định đòi “treo cổ” Anh ngày ấy

Chẳng biết sẽ nghĩ gì khi cầm tờ báo sáng xuân nay

TRẦN XUÂN BÁCH. Tôi biết Anh “dám tin riêng mình đúng số đông sai” như câu thơ tôi viết về Kim Ngọc

Chúng ta từng nói với nhau: Chân lý nằm trên mặt phẳng

Nhưng nhiều khi đến được Chân lý con người bị “loạn thị” đã đi vòng...

                                                (Sài Gòn, ngày 6/1/2006)

                                                          H. NH

 

          Tình bạn tâm giao giữa chính khách Trần Xuân Bách với Nhà thơ Hải Như đã trở thành giai thoại của một thời Cách mạng gặp khúc quanh.

 

                                                    Thành Nam, 01 - 12 – 2012

 

       Nguồn tham khảo: Đà Nẵng. – 2017. – Ngày 1 – 7 và Vietnam.net. – 2013. – Ngày 11 – 1.

 

 

ĐỌC TẢN VĂN “NGANG QUA CUỘC CHƠI”

                CỦA TRẦN HUY THUẬN

 

           Trong lịch sử văn học Việt Nam hiếm có tác giả thành danh bằng thể loại tản văn, nên khi được tác giả Trần Huy Thuận tặng cuốn tản văn “Ngang qua cuộc chơi”, tôi tò mò đọc ngay. Sách dày 312 trang, khổ 21 cm, bìa màu xanh trang nhã, trình bày bắt mắt, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Sách gồm trên năm chục bài được viết trong nhiều năm. Nội dung sách đề cập phần lớn là những chuyện đời thường, nhiều khi ta cho là nhỏ nhặt như chuyện sinh hoạt của cá nhân (ăn mặc, tắm gội, đi đứng, nói, nghe, làm…), chuyện xã hội (bầu bán, quan chức, giáo dục, văn hoá…), mới lướt qua thì thấy chả có gì mới mẻ, toàn là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, nhưng nhẩn nha đọc kỹ lại “giật mình” vì sức lôi cuốn của tác phẩm.

            Trần Huy Thuận nguyên là hội viên, Trưởng Ban Kiểm tra Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh. Ông đã đoạt hai giải nhất về văn xuôi và thơ cuộc thi thơ văn trào phúng tỉnh Hà Nam Ninh năm 1984, giải khuyến kích cuộc thi về kỷ niệm sâu sắc hoạt động khoa học kỹ thuật của tạp chí Khoa học và đời sống năm 1994. Trần Huy Thuận mê viết văn từ nhỏ. Ông đã có nhiều bài in trên báo Nhân dân, Lao động, Nông nghiệp Việt Nam, Tuổi trẻ cười… Nhưng ông không có ý định làm một nhà văn. Ông chỉ viết khi có hứng, hoặc trăn trở về một điều gì đó, viết như rút ra từ gan ruột của mình.

            Những bài viết của ông dưới thể loại tạp văn đề cập đến một số vấn đề văn hoá, xã hội, chính trị nóng hổi, bức xúc thường ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng, nhanh nhạy, lý lẽ sắc sảo, giọng văn hóm hỉnh đầy tính suy tưởng, có tính phê phán mạnh mẽ các thói xấu, vạch rõ khuyết điểm, chính kiến rõ ràng và có tính giáo dục cao.

           Bàn về hiện tượng một số cán bộ có chức có quyền ngày nay nhũng nhiễu dân (Cán bộ thời nay: Đầy tớ dân hay cha mẹ dân?) tác giả phân tích nguyên nhân một cách sâu sắc và nêu yêu cầu về cán bộ thời nay: “Không cần làm đầy tớ, chỉ cần làm tròn lương tâm, trách nhiệm và đúng pháp luật. Đừng cho mình là tầng lớp cao hơn dân, hoặc nhầm tưởng mình giống như vua quan phong kiến, lúc nào cũng chỉ muốn làm cha, làm mẹ dân”. Quả thật, cán bộ chỉ cần làm được thế cũng tốt cho dân lắm lắm.

          Bài Lương, thưởng - Đôi điều muốn nói lại chỉ ra một cách thuyết phục về sự bất hợp lý giữa lương và thưởng, giữa lương và lương hưu, giữa lương và kết quả công việc. Việc xây dựng và thực hiện chế độ lương chưa đúng với quan điểm của Đảng (con người là vốn quý nhất cần phải ưu tiên đầu tư) nên còn nhiều bất hợp lý, làm nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội.

           Bài Giáo dục và tự giáo dục làm hiển hiện trước mắt bạn đọc hai sự thật trái ngược: Ngày giáp Tết quan chức, cán bộ (nhiều người từng đứng trên bục giảng, hoặc thường xuyên rao giảng đạo đức cho nhân viên) lũ lượt xe pháo đi tham quan, lễ hội, biếu xén cấp trên, phè phỡn mỗi suất ăn hàng mấy trăm nghìn đồng, có VIP lại còn đánh bạc một đêm thua mấy chục nghìn USD vẫn thản nhiên bay đi Thái Lan chơi gái “giải đen” bằng tiền công quỹ. Trong khi đó biết bao em bé không được cắp sách đến trường, hoặc phải bán lì xì mua… tết như “Nguyễn Văn Cư 12 tuổi đang học lớp 4 Trường tiểu học Mỹ Kim, cũng như anh em U, Nhàn, Cư phải len lỏi trong chợ suốt ngày dể bán bao lì xì mua… Tết”. Câu hỏi của tác giả “Biết thậm chí còn giỏi giáo dục quần chúng, sao không biết tự giáo dục chính bản thân mình, gia đình mình?” nghe nhẹ nhàng mà nghiêm khắc, mà đau. Phản ánh hiện tượng thầy thuốc, thầy giáo vì tiền mà quên đạo làm thày, đánh mất lương tâm, tác giả khẳng định: “Trong hoàn cảnh nào cũng cần chăm lo gìn giữ bằng được “Đạo làm thầy”! Điều này đương nhiên không chỉ phụ thuộc vào người thầy, mà còn là trách nhiệm của xã hội, trong đó có phần cơ chế, chính sách”.

           Những vấn đề Ngang qua cuộc chơi phản ánh thật phong phú: Chuyện cán bộ chỉ biết hành dân, bòn rút của dân (Vài suy nghĩ về tham nhũng và chống tham nhũng), sự xuống cấp của một số trí thức hiện nay (Bằng cấp chưa hoàn toàn tạo nên trí thức), chuyện một số người chạy chức, giữ chức bằng mọi giá (Chiếc ghế và văn hoá ngồi), chuyện dân chủ giả vờ trong Bầu bán, chuyện có quan chức lợi dụng quy hoạch chiếm đất của dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi (Chợ Bút Điền: Dân thành Nam mình tốt thật), chuyện các hủ tục ăn uống lãng phí trong ma chay cưới xin, chuyện về gia đình và văn hoá gia đình, chuyện làng xóm, chuyện đồng môn, bạn bè, chuyện giáo dục trong nhà trường, chuyện ứng xử nơi công cộng…

         Đọc Chuyện văn chuyện đời, tôi cứ bị ám ảnh mãi về những điều tác giả viết. Nhà văn quá cố nổi tiếng Chu Văn nguyên là Trưởng ty Văn hoá kiêm Chủ tịch hội Văn học Nghệ thuật tỉnh từng là nạn nhân của mưu đồ lật đổ tranh giành quyền lực. Mỉa mai thay, ngay sau lễ “Chào mừng Đại hội thành công tốt đẹp”, đại hội mà Chu Văn bị bôi nhọ, người ta tiến hành lễ trao tặng Huân chương Lao động cho Chu Văn. Sau khi nhà văn Chu Văn qua đời, một đường phố ở chính thành phố nơi ông bị hạ nhục được mang tên ông. Tuy có chậm, nhưng ông đã được lịch sử nhìn nhận đúng với công lao của mình. Sau “Đại hội hạ bệ” Chu Văn, những người “chiến thắng” ngày ấy lại trở thành nạn nhân của những mưu đồ xấu xa mới. Triết lý nhân quả trong văn Trần Huy Thuận là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những kẻ mang tâm địa xấu xa.

           Ngang qua cuộc chơi có nhiều chuyện ca ngợi gương người tốt, việc tốt, nhưng có lẽ sở trường của Trần Huy Thuận là phát hiện, phanh phui, phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Người biết ghét và giám phê phán cái xấu, cái tiêu cực thì mới biết yêu tha thiết và bảo vệ cái đẹp, cái tốt. Trần Huy Thuận phê phán tiêu cực cũng chính là làm theo lời Bác Hồ dạy (Người cán bộ cách mạng phải là công bộc của dân, phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư) và nghị quyết của Đảng về chống tham nhũng, chống tiêu cực.

          Những vấn đề viết trong sách toàn là những sự việc tác giả mắt thấy tai nghe, những số phận con người có quan hệ trực tiếp với tác giả. Từ những sự việc có thật tác giả khái quát về một vấn đề, thể hiện thái độ và lý tưởng thẩm mỹ của mình. Những trang viết về đồng môn của ông thật xúc động, thao thiết. Một “thằng Thuỷ” đã là đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, một nghệ sĩ nhân dân vẫn không quên bạn cũ từ thời để chỏm. Một “thằng Mốc làm quan” hãnh tiến chỉ vì một bài báo đụng chạm đến mình mà ra tay cho bạn nếm đòn quyền lực. Một người nhân hậu mà chuân chiên như nhà văn Phương Thuỷ… Nếu ở các bài phiếm luận về các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, giọng văn của ông khúc triết mà giàu chất thơ, nhẹ nhàng mà không khoan nhượng, thì khi viết về con người, ông như trút vào trang văn tình cảm nhân hậu, đề cao giá trị đạo đức Việt Nam, bằng tâm hồn đa cảm dạt dào cảm xúc, đồng cảm và sẻ chia với số phận con người. Viếng một đồng môn là “kẻ hát rong” bị người đời coi thường nhưng đầy tự trọng, ông khấn thầm những lời thống thiết, chân thành: “Ánh ơi! Đây hoàn toàn là những đồng tiền sạch. Chú của cháu, bạn đồng môn của Ánh chưa bao giờ biết cầm một đồng tiền bẩn. Ánh hãy yên tâm mà nhận cho lòng tôi được an ủi”.

           Những bài phiếm luận, nhàn đàm, tạp văn nghị luận của Trần Huy Thuận sử dụng nhiều ngạn ngữ, tục ngữ, ca dao khái quát vấn đề một cách khéo léo và chính xác, giàu chất văn. Chẳng hạn, bàn về chuyện cái tai như “Trung ngôn nghịch nhĩ”, “Đàn gảy tai trâu”, “Nghe hơi nồi chõ”, “Như vịt nghe sấm”… Hoặc về cái sự ăn: “Ăn trên ngồi trốc”, “Miệng ăn núi nở”, “Ăn xổi ở thì”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “Ăn thủng nồi trôi rế”, “Ăn to nói lớn”, “Ăn cháo đá bát”, “Ăn không nói có”, “Ăn cơm mắm cáy thì ngáy o o, ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy”…

            Một số bài viết dưới dạng hồi ký, truyện ngắn thường kết cấu đơn tuyến, sự kiện diễn biến chặt chẽ xoay quanh nhân vật nên đọc dễ nhớ. Chuyện thằng đổ vỏ kể về một đứa con phải lấy cô gái đã mang thai mà cha hắn dùng làm vật hy sinh “tế” thủ trưởng, làm cho hắn quyết chí phấn đấu làm “sếp” của tất cả các “sếp” của cha hắn, đọc mà buồn, mà xót, mà đau. Người có hàm răng chuột là một trong số truyện ngắn trào phúng, có ý nghĩa sâu xa và hay. Chuyện kể rằng có một bệnh nhân, từ ngày lên “sếp” thì hàm răng mòn đi rất nhanh, phải đến bệnh viện thay hàm răng mới. Nhưng răng mới lại mòn nhanh hơn cả răng cũ nên các nhà khoa học đã phải thay cho ông ta hàm răng… chuột. Quả nhiên, bệnh nhân không quay lại bệnh viện nữa. Người ta đã nghĩ phải cấp huân chương cho tác giả hàm răng chuột. Bất ngờ bệnh viện lại phải tiếp nhận một bệnh nhân bị bệnh suốt ngày gậm nhấm bất cứ thứ gì ông ta thấy vì răng cứ mọc dài ra rất nhanh. Thì ra ông ta chính là bệnh nhân trước đây được thay hàm răng chuột, từ ngày về hưu bỗng trở bệnh lạ này…

            Dù là tạp văn, phiếm luận, hồi ký hay truyện ngắn, Ngang qua cuộc chơi vẫn mang yếu tố tự truyện cao. Đằng sau những hình tượng văn học và ngôn từ giản dị, nhẹ nhàng là một thái độ đúng đắn rõ ràng, là tấm lòng nhân hậu, đồng cảm, sẻ chia với con người, thiết tha với cuộc sống của tác giả. Có người bảo, cái tên sách Ngang qua cuộc chơi là mượn từ câu nói của nhà viết kịch Tào Mạt: “Cuộc đời này chẳng qua cũng chỉ là một cuộc chơi”. Trần Huy Thuận có thời gian sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh. Vậy việc viết văn, và cả hội văn cũng chỉ là một cuộc chơi mà ông từng tạt ngang qua. Có thể là ông khiêm tốn mà nói thế. Tên sách cũng dễ làm ta hiểu lầm rằng chỉ là sách viết cho vui. Nhưng từng dòng từng trang văn của ông cứ cuốn hút, cứ ám ảnh bạn đọc, buộc bạn đọc phải suy nghĩ trăn trở về nhân tình thế thái, về lẽ sống ở đời. Cái làm nên điều đó phải chăng ngoài nội dung ngồn ngộn chất liệu cuộc sống còn là cách viết rất riêng của Trần Huy Thuận.

 

                                  Thành Nam, 3-2-2010

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỌC “LẠC NẺO ĐƯỜNG TRĂNG” CỦA CHU ĐÌNH AN

 

        Mới quen biết Chu Đình An gần đây, nhưng tôi đã được đọc và thích thơ ông từ khá lâu qua nhiều tuyển thơ: Vườn thơ tao ngộ, Chưa nhắm đã say (Nxb. Trẻ), Hà Nội trong tim (Nxb. Giao thông vận tải), Bút xưa 6, Thắp sáng đường thi (T.1 và 2 Nxb. Văn hóa dân tộc), Ngàn dặm tình thơ, Tác giả thơ Việt Nam đương đại (Nxb. Thanh niên), Những bài thơ Việt Nam hay lạ xưa nay (Nxb. Văn nghệ), 1000 năm thơ Thăng Long Hà Nội – Thiên Trường Nam Định (Hội VHNT Nam Định)...

        Chu Đình An, bút danh Nam Thắng, nguyên là anh bộ đội Cụ Hồ, Gần hai chục năm trong quân ngũ thì có tới 12 năm ông chiến đấu trên các chiến trường B, C, K trong kháng chiến chống Mỹ. Sau ông chuyển ngành công tác trong lĩnh vực thương nghiệp cho đến khi nghỉ hưu. Ông được “Trời phú cho ông có chữ tài, Văn chương cẩm tú bút hoa khai”, biết làm thơ từ khi mới lớn. Hơn nửa thế kỷ làm thơ, ông có tới cả ngàn bài, một số bài đăng báo hoặc in trong các tuyển thơ, còn phần lớn chưa in thành sách. Mãi năm 65 tuổi ông mới cho ra tập thơ riêng đầu tiên “Chặng đường hoa” (Sở Văn hóa Thông tin Nam Định, 2004). Hai năm sau ông in tập “Năm tháng xôn xao” (Nxb. Lao động, 2006).

        “Lạc nẻo đường trăng” (Nxb. Hội Nhà văn, 2011) là tập thơ thứ ba ông mới trình đời. Sách khổ 13 x 19 cm, 96 trang. Trang bìa xanh lơ, trăng vàng, núi xa mờ, thác trắng gợi cho ta liên tưởng tới cõi lung linh huyền ảo, trộn lẫn giữa thực và mơ - cõi thơ. “Thơ trình đời dẫu muộn / In nếp nghĩ thần tiên”. Tình cảm chủ đạo trong “Lạc nẻo đường trăng” vẫn tươi nguyên như “Chặng đường hoa” và “Năm tháng xôn xao”, là tình yêu quê hương đất nước sâu sắc, yêu người thiết tha. Nhưng có lẽ tình cảm thẩm mỹ nổi trội nhất của tác giả trong tập thơ là tình yêu... thơ. Đọc Lạc nẻo đường trăng, ta thường bắt gặp cảm xúc, tình cảm, tâm trạng, suy tư thể hiện tình yêu thơ của tác giả. Tôi lấy làm lạ là có tới gần bốn chục lần ông nhắc tới từ “thơ”. Thường trong một tập thơ nhỏ mà lặp lại một tứ, một từ dăm ba lần đã gây cho người đọc cảm giác nhàm. Nhưng với tần xuất từ “thơ” trong Lạc nẻo đường trăng lớn như vậy mà tôi không cảm thấy nhàm chán. Phải là người vững tay “nghề” tác giả mới làm được điều đó. Trong hoàn cảnh thời chiến hay thời bình, tâm trạng buồn hay vui, ông luôn có xu hướng liên hệ tới “thơ” – tình yêu thơ. Trước giờ xuất trận, ông nhớ quê thao thiết thì “Chao nghiêng một nhánh thơ gầy”. Trước cảnh trời mây, “gió dâng hương níu giữ trăng vàng” làm xao xuyến cõi lòng, ông bật ra “Câu thơ thức tỉnh đam mê”. Dù trải bao gian khó trong cuộc mưu sinh hay trong chiến đấu đối mặt với kẻ thù, dù trong bộn bề năm tháng thì ông vẫn “Dặm trường thơ đam mê”. Khi ông “Đan cài sương gió vào thơ”, lúc lại trút “Nỗi niềm day dứt trang thơ”. Ông coi thơ là cái nghiệp mà ông tự nguyện dấn thân “Thơ và đời mãi mãi đa mang”. Ông khát vọng “Cài vương miện lên thơ lên chữ” có ích để lại cho đời nên ông băn khoăn “Hồn thơ trang sách mai sau có còn”... Tôi liên tưởng tới thần đồng thơ Trần Đăng Khoa hiện đã làm tới chức Cục trưởng, nhưng bạn đọc thường chỉ nhớ “Từ góc sân nhà em”, còn từ khi anh trưởng thành có bài gì hay thì liệu mấy người biết đây. Chu Đình An không phải thần đồng, nhưng càng cao tuổi thì thơ ông càng hay. Chu Đình An duy trì được “phong độ” thơ của mình như vậy, phải chăng, ngoài chút năng khiếu trời phú, còn do ông đam mê, miệt mài làm thơ suốt hơn nửa thế kỷ:

Càn khôn đẽo gọt một thời

Ủ trong cát bụi nảy chồi đơm hoa

Đêm ngày thao thiết lòng ta

Dòng sông thơ vắt ngang qua đỉnh trời.

        Bao nhiêu thao thiết, đau khổ, nhọc nhằn với thơ - với đời để có được mùa thu hoạch nảy chồi đơm hoa, để dòng thơ vắt ngang qua đỉnh trời thì cũng đáng lắm, tự hào lắm. Hình ảnh, tứ thơ như vụt lóe, sự giao thoa giữa ý và tình, thể hiện rõ ý tưởng và cảm xúc mạnh mẽ, khát vọng lớn lao của tác giả.

        Quả là Chu Đình An yêu thơ đến đam mê, nhưng xét đến cùng thơ cũng chỉ là phương tiện để ông thể hiện tình yêu quê hương đất nước, yêu người, yêu đời của mình. Những địa danh đất nước như Thăng Long – Hà Nội, Đống Đa, Ba Đình, núi Phật Bà, Ninh Bình, Tản Viên, Vườn Vải, động Phong Nha, cổng trời Tam Đảo, bình minh Hà Nội, Hương Sơn... mà ông có dịp đến thăm đã đi vào thơ ông một cách tự nhiên, chân thực và hiển hiện thật đẹp:

Núi biếc bao phen say chiến trận

Ngàn xanh mấy độ tiến quân ca

Suối luồn cõng đá lưng không mỏi

Nước lượn xuyên đèo dốc vẫn qua

                                  (Động Phong Nha)

        Chu Đình An dành cho quê hương Đại An – Nam Thắng của mình tình yêu tha thiết nhất. Ông lấy tên xã Nam Thắng quê ông làm bút danh của mình. Bài “Quê hương xanh” ông viết năm 1961 có câu “Vươn tới năm hai ngàn”... “Đại An mình giàu sang”. Ngày nay thực tế đã chứng minh điều ông mơ ước, tiên đoán là đúng. Trong ông luôn thường trực niềm tự hào về quê có Trang nguyên Nguyễn Hiền trẻ nhất trong lịch sử nước ta, nơi có “Tiến sĩ, Trạng nguyên bia đá tạc”. Biền biệt những năm tháng xa quê, hình ảnh thân thuộc của quê luôn hiển hiện trong nỗi nhớ của ông. Con đê, đồng lúa xanh, bãi dâu xanh, sông Hồng đỏ phủ sa, cảnh chợ làng, người dân quê... đều trở thành nguồn cảm hứng trong thơ ông.

              Mẹ nghèo dãi nắng dầm mưa

Thương con tôm tép trách trưa hờn chiều

Hoàng hôn bóng chợ liêu xiêu

Hồn quê ôm ấp bao điều xa xôi.

                                                          (Chợ làng)

        Ông viết về những người con gái quê mình bằng những hình ảnh tuyệt mỹ với tấm lòng yêu mến biết bao: “Người con gái quê anh / Trên đầu em đội nắng / áo ướt đẫm mồ hôi / Cơm ăn chẳng được ngồi”, khi “Sáng sớm giọt sương rơi / Long lanh đầu lá cỏ” đã “Vin cành hái lá dâu”, chiều về trên đường làng “Đôi chân em thoăn thoắt / Nặng trĩu gánh tơ vàng”.

        Những bài viết về người thân, tác giả thường dùng thể thơ tự do để cho cảm xúc, tình cảm được tung hoành. Tuy những bài này chất thơ không nhiều, nhưng tình cảm chân thật đến hồn nhiên của ông đã làm cho bài thơ “đứng” được trong lòng người đọc.

Dẫu con đã vào trường đại học

Bố mẹ vẫn coi như bé dại trong đời

                              (Thơ gửi con trai)

Thao thức thâu canh buồn ứa lệ

Con ngoan có hiểu thấu tình cha

                                 (Mưa đêm)

        Tâm lý của những người làm cha mẹ coi con còn thơ dại dù con đã trưởng thành là rất phổ biến, “nước mắt chảy xuôi” mà. Tấm lòng cha mẹ đối với con cái sâu sắc và rộng lớn bao la. Cha mẹ luôn lo lắng cho con, nhưng con cái mấy ai hiểu thấu lòng cha mẹ. Mong sao con hiểu lòng cha yêu con vô hạn là trạng thái tâm lý chân thực và phổ biến. Tâm trạng đó cũng là tâm trạng chung của tất cả những người làm cha mẹ.

        Tôi tin một điều là hình ảnh đẹp của các cô gái, của các “Em”, của người tình trong thơ ông đều có phần lấy từ hình ảnh vợ ông. Tôi đã mấy lần được nói chuyện về thơ, về đời với bà, tôi càng tin điều tôi nghĩ là đúng. Bà tuy không biết làm thơ, nhưng vì yêu chồng nên bà cũng yêu thơ. Bà chăm chút, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất cho ông đeo đuổi nghiệp thơ. Bà cũng là độc giả đầu tiên đọc và góp ý thơ ông. Có lần bà sôi nổi tranh luận với tôi để bảo vệ thơ ông, mà ý kiến của bà lại rất giản dị và có lý. Thế nên ông yêu quý và biết ơn bà:

Em yêu thơ rất lạ

Không cùng anh đồng hành

Chỉ ra đề bật mí

Nảy mầm thơ vươn xanh

                             (Em)

              Khi “Xa em anh làm thơ / Cho đời khỏi bơ vơ”, “Những đêm ngày chiến đấu” ông giữ tấm hình vợ trong túi ngực coi như báu vật, và “Yêu em đến ngẩn ngơ”.

              Về nghệ thuật, Chu Đình An làm cả thơ cách luật và thơ tự do, nhưng chủ yếu là thơ cách luật. Ông trung thành với quan điểm thơ phải có ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, giàu hình ảnh, nhịp điệu, có vần, có tứ. Ngay cả những bài thơ theo thể tự do của ông cũng rất giàu tính nhịp điệu của ngôn từ và hài hòa âm thanh - vần điệu. Sở trường của ông là thơ cách luật. Lạc nẻo đường trăng gồm 63 bài thì chỉ có dăm bài theo thể thơ tự do, còn hầu hết là thơ cách luật (15 bài lục bát, 2 bài song thất lục bát, 17 bài thơ 5 chữ, 1 bài thơ 6 chữ, 3 bài tứ tuyệt, còn lại là thơ Đường luật...). Thơ lục bát của ông mượt mà, ngôn ngữ chắt lọc. Khi ông viết “Trời xôn xao, biển xôn xao / Buông câu thơ thả vượt rào vũ môn” thì sức tưởng tượng của ông đã như cá hóa rồng, vượt khỏi đời thường mà ra ngoài vũ trụ.

        Những bài thuộc dạng vịnh cảnh, ông thường dùng thể thơ Đường luật. Ông rất chú trọng yêu cầu về niêm, luật bằng trắc, vần, đối, nhịp điệu. Đây là hai câu thực tả cảnh Yên Tử trong bài “Lên Yên Tử”:

Gieo gió trên không kinh vang vọng

Rắc sương dưới dốc nắng vàng reo

              Còn đây là cảnh “Thung lũng vùng quanh”:

Uốn éo đèo cao đường khập khễnh

Vòng vèo dốc dựng lối chông chênh

Thung thăng bướm lượn râu tênh vểnh

Loáng thoáng ong bay cánh phập phềnh

          Quả là tác giả đã tiếp thu được tinh hoa thơ của các tiền nhân Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan, Trần Tế Xương... không chỉ ở niêm, luật, nhịp điệu mà còn trong việc sử dụng từ ngữ. Các động từ, tính từ trong thơ Chu Đình An thường rất gợi cảm, gây ấn tượng khó quên cho người đọc. Chẳng hạn các động từ được sử dụng rất gợi cảm, lạ và táo bạo trong câu:

Hoa móng rồng ngát lạ

Hoàng hôn về cuỗm đi

                (Trời xuân tươi)

Hoặc câu:

Sương đêm vắt vẻo cành đào

Bình minh em đã lẻn vào hồn tôi

                             (Bỗng dưng)

        Đọc Lạc nẻo đường trăng, ta luôn bắt gặp những câu, những từ rất gợi cảm, nâng bài thơ lên rất nhiều như “Nghẹn trời mây”, “Hờn đất đá”, “Thẹn núi đồi” (khi nói về cái oan của Nguyễn Trãi), “Moi tan núi”, “Ngoáy đổ ngàn” (nói về bọn tham nhũng), “Trăng sóng xoài vòm cây”, “Đồng lúa xôn xao ướp nắng vàng”, “Nêm câu chào hỏi”, “Lách hương gió nội”... Có thể coi đây là cái riêng của Chu Đình An.

        Phần cuối của Lạc nẻo đường trăng có 9 bài chân dung (chọn trong số 25 bài chân dung ông đã viết). Từng quen biết và đọc tác phẩm của Nhà nghiên cứu Đỗ Huy Vinh, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, tôi rất thú khi “Chân dung 6” đã vẽ ra rất rõ và đúng tính tình, phong cách ông:

Không đò thì xắn quần lên

Này thơ, này sách, này đèn, này đây...

Thơ ông vai sánh chốn này

Hàng Thao em bé tháng ngày xôn xao...

 

... Mắm tôm nhoe nhoét mời chào...

        Mảng thơ chân dung của Chu Đình An có nét riêng, không giống với thơ chân dung của tác giả khác, đọc và suy ngẫm cũng có nhiều thú vị.

        Tôi cứ gờn gợn tiếc một điều ở cái đề bài “Tiếng đàn”: Tác giả suy ngẫm quan hệ thiên, địa, nhân để nói về sự nhỏ nhoi, quá mỏng manh của một đời người như hạt sương bay mà lại đặt tên bài là “Tiếng đàn” thì... Sao không giữ nguyên cái đề trong bản thảo là “Hạt sương bay” nhỉ.

Dù vậy, với Lạc nẻo đường trăng, Chu Đình An góp thêm một dòng chảy lấp lánh phù sa bồi đắp cánh đồng thơ Nam Định, Việt Nam.

 

                                  Thành Nam, ngày 12 – 2 – 2011

 

………………..

 

       Nguồn: Nói chuyện giới thiệu sách. – Nam Định: Thư viện tỉnh Nam Định, 2012. – Tr. 160 – 169.

 

 

 

 

      ĐỌC TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA HOÀNG NGỌC TRÚC

 

          Thày giáo dạy văn Hoàng Ngọc Trúc (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định) đã có nhiều thơ, truyện, nghiên cứu phê bình đăng trên báo, tạp chí trung ương và địa phương từ mấy chục năm nay. Sau khi nghỉ hưu anh cho ra đời liên tiếp ba tác phẩm: Một khối tình (Tập thơ, Nhà xuất bản Thanh niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 1 (Nhà xuất bản Thanh niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 2 (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2006). Tháng 5 năm 2012 nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản Truyện cực ngắn chọn lọc của Hoàng Ngọc Trúc.

Những câu chuyện thường nhật trong đời sống được anh kể lại trong Truyện cực ngắn một cách ngắn gọn, súc tích, giản dị, có tính khái quát cao. Bằng vốn sống phong phú của một người đã nhiều năm hoạt động trong ngành giáo dục, từ giáo viên đứng lớp lên làm cán bộ quản lí, anh có nhiều cơ hội tìm hiểu cuộc sống đa dạng để phản ánh trong tác phẩm của mình. Truyện cực ngắn của anh đề cập nhiều vấn đề trong cuộc sống hôm nay, phê phán những mặt trái, cách sống, nếp nghĩ của con người trong thời kì cải cách mở cửa. Những con người xấu, lạc hậu cùng những việc làm tiêu cực, trì trệ, vụ lợi, giả dối được phơi bày qua những mẩu chuyện cực ngắn, có truyện chỉ có 100 từ, với vài nhân vật và nội dung giản đơn nhưng rõ ràng, làm người đọc suy tư về cái tốt, cái xấu của con người trong cuộc sống đương đại.

Anh phê phán nhẹ nhàng, cảnh báo những hiện tượng không hay trong đời sống mà đôi khi chúng ta cho là chuyện “thường nhật”: Tình trạng thanh niên chạy theo lối sống hiện đại mà xa rời đạo đức truyền thống dân tộc (Chửa con so); Phê phán cách sống thực dụng, vì tiền, dửng dưng, tàn nhẫn trước cái chết “không đúng lúc” của người thân (Không phải lúc nào cũng như lúc nào); Thói giả dối trong tình cảm vợ chồng (Những món quà tinh thần); Tệ nạn đòi ăn hối lộ của kẻ có chức có quyền (Miếu thiêng); Thói háo danh đến độ làm giả hồ sơ, bằng cấp để thăng tiến của một bộ phận cán bộ thoái hoá trong cơ quan nhà nước hiện nay (Sứ mạng một con người); Tệ quan liêu, chạy theo thành tích (Họp hội đồng thi, Thanh tra sắp về)…

Truyện “Hối lộ” là một phát hiện mới lạ đối với người đọc. Xưa nay thường người ta hối lộ quan chức, chứ ai hối lộ dân. Thế mà Hoàng Ngọc Trúc lại phát hiện ra chuyện quan chức hối lộ dân, mới nghe tưởng như bịa, đọc rồi lại thấy đó là chuyện có thật mà ít ai nghĩ tới. Số là những vị quan chức địa phương nọ từng làm sai chính sách nhà nước để đục khoét dân, đến trước kì bầu cử Hội đồng nhân dân, các vị bèn tổ chức “hối lộ” mỗi hộ dân vài ba trăm ngàn đồng để lấy lòng dân, mong được tiếp tục giữ ghế của mình. Vài trăm ngàn đồng đối với quan chức chẳng có gì to tát (tiền lại là của công chứ có vị nào phải bỏ tiền túi đâu), nhưng đối với người lao động ở nông thôn thì quả là không nhỏ. Khi có bác đại tá phản đối, ý đồ của các vị quan chức không thành. Nhiều người dân tiếc “cái lộc” đến tầm tay mà còn bị tuột mất nên trách móc bác đại tá. Truyện có tính bi hài, cảnh báo một hiện tượng tiêu cực ít ai quan tâm, chưa có bộ luật nào đề cập tới.

Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc không chỉ phê phán những con người và hiện tượng tiêu cực, mà còn ca ngợi những người tốt. “Lần gặp gỡ đầu tiên” của anh sĩ quan hải quân và chị bác sĩ quen nhau qua mục kết bạn trên báo dù chưa diễn ra do chị bác sĩ gặp “trục trặc” giao thông trên đường đến nơi hẹn, nhưng người đọc vẫn cảm nhận và tin tưởng chắc chắn cuộc hẹn sẽ diễn ra tốt đẹp. Một bé gái gặp tai nạn giao thông đã dũng cảm vạch mặt bọn người lợi dụng hoàn cảnh trắng trợn “trấn lột” người va quệt vào xe của cháu. Tình cảm của một người mẹ tìm con làm cho chính đứa con bỏ nhà đi lang thang cảm động mà quay về. Truyện “Tên tù trốn trại” ca ngợi người công an nhân dân giàu lòng vị tha, có tinh thần trách nhiệm cao, coi người tù như người thân, bằng hành động tốt của mình đã cảm hoá và giúp người lầm lỡ trở về với cuộc sống lương thiện.

Truyện cực ngắn là thể tài mới và khó. Hoàng Ngọc Trúc đã mạnh dạn và sáng tạo đi sâu thể hiện thể tài này. Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc kiệm lời, hàm súc, sử dụng chi tiết đắt, kịch tính, chủ đề tư tưởng và nội dung trong từng truyện rõ ràng, cụ thể. “Cảm hứng của hầu hết những câu chuyện là phê phán đủ thứ thói tật đời sống. Nhưng vốn là nhà sư phạm nên sự phê phán, chế nhạo của ông cũng mang màu sắc giáo dục, nhẹ nhàng và độ lượng, tin ở lương tri con người” (Hoàng Ngọc Trúc người thiết tha yêu đời – Tạ Duy Anh). Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc hẳn sẽ để lại ấn tượng khó quên cho những ai đọc nó. Vì thế, tôi tin Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc sẽ được nhiều người đọc, chia sẻ, đồng cảm với tấm lòng tác giả.

 

……………

 

       Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam ngày 6 – 12 – 2006.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỒNG NGỌC HOA VÀ TIỂU THUYẾT “LÃO HÓI”

 

 

           Mở tập bản thảo tiểu thuyết “Lão Hói” mà nhà nghiên cứu Đồng Ngọc Hoa gửi qua email nhờ đọc và cho ý kiến, tôi thầm nghĩ: Vốn là người chuyên nghiên cứu phê bình, bây giờ lại viết tiểu thuyết thì đa tài thật.

           Đồng Ngọc Hoa nguyên sĩ quan kỹ thuật, tốt nghiệp đại học kĩ thuật quân sự, nhưng lại có khiếu làm báo. Ông là cộng tác viên báo Quân đội nhân dân và một số báo khác nhiều năm liền. Vào tuổi sáu mươi, ông mới gia nhập Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định với vốn liếng là một tập phô tô hơn một trăm bài đăng báo và một giải thưởng báo chí trung ương. Vậy mà chỉ sau dăm năm, ông lần lượt cho ra đời mấy tác phẩm liền. Tác phẩm đầu của ông là cuốn Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Phật giáo cấp huyện ở nước ta, được bạn đọc đánh giá cao, được nhận giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh của tỉnh. Sau thành công này, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp cho ra đời các tác phẩm mới như Ngôi chùa bên dòng sông, Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Tuyển tập nghiên cứu phê bình Đồng Ngọc Hoa, Lâu đài của Phật và lịch sử đảng bộ và nhân dân một số xã trong tỉnh. Ông còn là đồng tác giả nhiều tuyển tập nghiên cứu phê bình khác. Cuốn Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định của ông dày gần tám trăm trang, trình bầy mạch lạc nguồn tư liệu phong phú về lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định. Những tác phẩm viết về chủ đề Phật giáo là điểm sáng trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Cảm phục sức làm việc và thành quả của Đồng Ngọc Hoa, tôi có viết mấy câu tặng ông:

                 Một thời mê mải việc quân

          Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo

                 Cửa Thiền không - sắc lần theo

           Hào quang Phật sử một chiều thăng hoa.

              Về tên tiểu thuyết Lão Hói, ban đầu ông đặt là Người viết sử. Sau nghĩ lại, ông lấy tên Lão Hói đặt cho tiểu thuyết của mình.

              Lão Hói kể về cuộc đời từ khi lọt lòng tới khi tuổi đã ngoài bảy mươi với nét đặc biệt về hình hài, tính cách và những biến cố thăng trầm của nhân vật Lâm Thanh (tức Lão Hói).

              Lão Hói khác người từ khi mới được sinh ra: “Lúc mẹ đẻ ra, đầu lão chẳng có tí tóc nào, người bé tí khoảng hai cân. Người ta cứ bảo hay mẹ lão đẻ non nhưng không, lão khóc to như xé vải, không trách sau này lão là gã lắm mồm. Rồi sáu bảy tháng sau tóc lão cũng mọc, nhưng thưa hơn những bé bình thường. Khi mới ngoài bốn mươi tuổi lão đã hói. Người ta thường hói từ trán trở lên, lão lại hói từ đỉnh đầu trở xuống”.

Tính cách, sở thích của Lão Hói cũng rất khác người. Lão nhớ ngày định kỳ cắt tóc như nhớ ngày lĩnh lương. Thợ cắt tóc phải cắt đúng theo bản vẽ tỉ mỉ chính xác như bản vẽ kỹ thuật mà lão thiết kế. Lão đòi chủ cửa hàng ăn phải phục vụ khách như phục vụ thượng đế. Thấy người giúp việc bê bát phở để hai ngón cái chấm vào nước bát phở, lão đòi đổi bát khác. Khi đã là sĩ quan quân đội, lão làm việc cần mẫn, thông minh, tính kỷ luật cao, thẳng thắn không khoan nhượng với những việc làm chạy theo thành tích, qua loa, vô trách nhiệm. Khi về hưu, lão trở thành người cầm cờ trong đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền ở địa phương, bất chấp bị trả thù. Những khiếm khuyết của lão trong tình cảm, hình thể được mô tả cụ thể, chi tiết nhưng không làm bạn đọc ghét lão. Lão cũng là người, có ưu có khuyết. Qua giọng kể của tác giả, tôi nhận ra hình tượng Lão Hói hiện lên rất chân thực.

              Qua tiểu thuyết Lão Hói, tác giả muốn cho người đọc biết về lớp thanh niên có học được đào tạo cơ bản phục vụ quân đội trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lâm Thanh - Lão Hói, một chiến sĩ quân giới năng nổ, hăng hái nhiệt tình có trình độ, trách nhiệm luôn luôn làm hết sức mình. Ở tiền phương anh luôn xông pha xoay tìm hỏng hóc, ở hậu phương anh luôn miệt mài gia công sản xuất để đảm bảo cho súng pháo nổ dòn sẵn sàng tiếp sức cho tiền duyên, xứng đáng kế tiếp lớp quân giới của Ba Tơ anh hùng, của núi sông Việt Bắc, của chiến thắng Điện Biên vẻ vang. Người đọc cũng thấy được cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng dân tộc của nhân dân ta với những hy sinh của tuổi trẻ trên khắp các chiến trường, khắp các nẻo đường chiến trận, kể cả của các chiến sĩ quân giới trên mặt trận thầm lặng mà ít người biết đến. Lão Hói là nhân vật trong số lớp trẻ đó. Cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tự hoàn thiện mình của Lâm Thanh - Lão Hói cũng không phải không gay go quyết liệt qua chuyện phản đối vụ hàng ngàn chiếc kim hỏa của súng B40 không đạt yêu cầu, việc báo cáo thành tích giả qua chuyện nhập kho khống và người sấy thuốc ngủ quên đến việc buộc phải túm cổ áo trung úy trưởng phòng kế hoạch, cấm đốc công Phiên lấy số liệu để phát thanh làm lộ bí mật, làm cho chính ủy nhà máy cũng phải khiếp lão báo cáo về cục.

         Lão Hói cũng có gia đình và tình yêu tuổi trẻ, tình yêu thuở học trò. Lão cũng được yêu như bao nhiêu thanh niên khác. Người ta yêu mình thì chẳng có tội gì miễn là nói thẳng được như lão: “Anh có vợ rồi” và giữ được tình bạn đẹp với cả những cô gái thích mình. Lão gần gũi với công nhân, hiểu tâm lý người thợ. Lão vốn là một học sinh giỏi văn, lại có duyên với công tác chính trị. Lão muốn làm nhà báo và đã chuyển về công tác ở báo Quân đội nhân dân. Nhưng thủ trưởng đơn vị đòi lão về, vì nhà nước đã mất công đào tạo lão để phục vụ ở ngạch kĩ thuật. Lão vẫn phải gắn bó với nghề cho đến lúc về hưu, chấp hành phân công của tổ chức.

           Là một người có ý thức tổ chức, người vì dân, thương dân nghèo khó bị hành hạ qua chi tiết người chồng bế con lên nhà kho hợp tác xã nơi vợ bị giam vì thiếu sản để mẹ vạch vú đút qua song sắt cửa sổ cho con bú. Thương dân chết đói năm 1945 qua thống kê khi lão viết lịch sử xã. Lão tự hào với những chiến công của những người giữ đất giữ làng như liệt sĩ Hà Sĩ Hùng thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, liệt sĩ Hà Tất Đạt bỏ tài liệu vào mồm nhai nuốt rồi đập cằm xuống bàn cho đứt lưỡi hi sinh trước mặt kẻ thù lúc chúng đang dụ dỗ anh khi bắt được. Lão ghét cay ghét đắng những kẻ gọi là đầy tớ của dân nhưng lại ăn bớt, ăn chặn, ăn bẩn, ăn vặt của dân, ăn cả lần trong lần ngoài, ăn cả cái đầu cúi tôn chổng của dân, ăn ráo cả phần của trẻ con qua lời thề của thằng bé đứng cửa buồng cắn móng tay nhìn cán bộ ăn xông ra nói: “Tôi thề với các ông là chỉ còn tý nước” nhưng rồi nước cũng chẳng còn.

         Lão rất yêu mảnh đất nơi sinh ra mình. Đó là xã Mỹ Khê, một xã anh hùng thời chống Pháp, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm do có thành tích chăn nuôi dẫn đầu toàn Miền Bắc. Lão yêu con người làng mình, xã mình nên yêu cả những nghề phụ góp phần nuôi sống dân mình như nghề dệt chiếu. Việc câu cáy lão cũng cho là một nghề vì làm ra những giọt nước chấm ngon hơn cả Chin-su khi nhấm nháp thấy mằn mặn, ngòn ngọt, thơm thơm, tê tê mùi cà cuống.

         Nhưng rồi cái yêu làng yêu người đã làm lão gặp phải không ít khó khăn, khi chống lại cái xấu, cái ác, cái đểu, cái mà làm lão suýt đến mất mạng trên mặt trận chống tham nhũng ngay tại chính quê hương mình. Nhờ có đồng chí đồng đội và nhân dân ủng hộ nên những kẻ xấu nơi một xã tưởng như bình yên đã được lôi ra ánh sáng, đã bị vạch mặt, kỉ luật để răn đe kẻ khác muốn nhấp nhổm làm cán bộ với mục đích lấy của dân làm giàu, lấy lại niềm tin của dân đối với đảng quang vinh.

        Tôi đọc từ đầu đến cuối tập bản thảo hơn trăm trang A4 luôn cảm thấy thú vị. Nghệ thuật kể chuyện theo thời gian một cách giản dị, giản dị tới mức tưởng ai cũng viết được. Nhưng không, sự giản dị ấy lại là nghệ thuật sử dụng ngôn từ giúp bạn đọc dễ theo dõi cốt truyện. Mặc dù ít khi thấy tác giả miêu tả hình ảnh khung cảnh thiên nhiên hỗ trợ cho tả tình, nhưng giọng kể tự trào bù lại làm cho người đọc bị cuốn hút.

        Đọc hết tập bản thảo, tôi củng cố thêm cảm nhận ban đầu: Đúng là nhà nghiên cứu viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết gồm 9 chương. Mỗi chương có thể đứng độc lập thành một tác phẩm với chuyên đề riêng. Mỗi chuyên đề đều có những kịch tính tuy chưa quyết liệt và được giải quyết ngay làm cho bạn đọc thở phào. Chín chương kết nối với nhau thành một nội dung liên hoàn lô gic: Tái hiện cuộc đời của nhân vật Lâm Thanh - Lão Hói. Có lẽ nghề nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng, tác giả có lúc đi sâu vào một chuyên đề như Lịch sử xã, hay lịch sử một di tích. Nhưng chính những kết quả của ảnh hưởng nghề nghiệp này lại tái hiện hoàn cảnh lịch sử, cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta… là môi trường để nhân vật chính - Lão Hói bộc lộ tính cách.

        Lão Hói - Lâm Thanh trong tiểu thuyết của Đồng Ngọc Hoa phần nào gợi lại cuộc sống, suy nghĩ, chiến đấu, lao động của một lớp người đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và những năm đầu đổi mới. Bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu về họ có thể được phần nào thỏa mãn qua tiểu thuyết Lão Hói.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“VIỆT NAM LỊCH SỬ DIỄN CA” CỦA VŨ TRUNG CHÍNH

 

 

        Tác giả Vũ Trung Chính quê làng Đại Đê, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông có nhiều năm công tác trong Đoàn chỉ đạo Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện, chuyên viên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định. Ông từng làm chuyên gia nông nghiệp ở châu Phi, nổi tiếng về cây lúa Senegan, được sách báo ca ngợi. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông là chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn 3 trung đoàn 101 sư đoàn 325, tham gia chiến dịch Quảng Trị 1972 và chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, được nhà nước tặng nhiều huân huy chương. Từ khi nghỉ hưu, ông dồn tâm sức nghiên cứu viết sách, mong góp phần vào việc truyền bá kiến thức lịch sử nước nhà.

Tháng 8 năm 2010 nhà xuất bản Thanh niên ấn hành cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung Chính. Sách có trang bìa gam màu trang trọng, dày 194 trang, khổ 13 x 19 cm và nhiều ảnh tư liệu minh hoạ.

Sách gồm 2.900 câu văn vần, chia làm 9 chương, tóm tắt những vấn đề cốt lõi, những sự kiện tiêu biểu trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam, từ thời Hồng Bàng đến sau năm 1975. Nội dung sách diễn ca lịch sử Việt Nam khá phong phú, từ những truyền thuyết Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, Thánh Gióng, An Dương Vương... đến các triều đại Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn... Tác giả đặc biệt dồn tâm huyết vào thể hiện cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, từ chương năm đến chương chín.

So với các cuốn diễn ca lịch sử như Thiên Nam ngữ lục (từ Hồng Bàng đến Lê Chiêu Thống), Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái (từ Kinh Dương Vương đến Lê Trung Hưng), Việt sử diễn âm (từ Hùng Vương đến Mạc)... thì Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung Chính có nội dung khá phong phú và đề cập tới thời gian lịch sử dài hơn.

Qua việc phản ánh quá khứ anh dũng, vẻ vang của dân tộc và đất nước với những tấm gương sáng chói, những ngọn cờ tiêu biểu trong từng giai đoạn lịch sử Việt Nam, tác giả đề cao tinh thần đoàn kết toàn dân, cố kết dân tộc, gắn bó các thế hệ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam độc lập, dân chủ, xã hội công bằng văn minh. Từ thực tế lịch sử nước nhà, rút ra bài học quý giá là chỉ khi nào đoàn kết được các lực lượng yêu nước dưới sự dẫn dắt của một vị tướng lĩnh tài ba, trung thành với dân tộc, yêu nước sâu sắc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên tất cả thì mới có thể đánh đuổi được giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước độc lập tự chủ. Ngược lại, một khi triều đại suy thoái, không thực hiện được đoàn kết dân tộc, thiếu vị thủ lĩnh tài ba đức độ thì tất yếu sẽ bị kẻ thù lợi dụng, chia rẽ và tiêu diệt.

        Mở đầu sách, tác giả nói rõ lý do ông viết cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca: “Tài liệu sách vở về lịch sử nước nhà không thiếu. Có những bộ sử hay, đồ sộ tới mấy nghìn trang, hàng chục vạn chữ nhưng đã có mấy ai đọc hết. Có chăng chỉ giúp các nhà nghiên cứu, còn với đa số nhân dân nhất là lớp trẻ hiện nay thì những chồng sách trên quả còn xa vời với họ quá.”... “Thiết nghĩ nếu tóm tắt gọn lại và diễn đạt dưới dạng văn vần có lẽ sẽ có nhiều người thích đọc và nhớ được nhiều”.

        Từ suy nghĩ trên, tác giả đã cố gắng thể hiện những vấn đề cốt lõi lịch sử Việt Nam dưới hình thức thơ song thất lục bát - một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Hình thức diễn ca thể hiện vấn đề lịch sử bằng hình thức thơ lục bát hoặc song thất lục bát thường dễ đi vào lòng người, dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn văn xuôi. Bà nội tôi không biết chữ, mẹ tôi mới biết đọc biết viết qua lớp bình dân học vụ, nhưng lại thuộc làu làu Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm... Đó là vì ngoài nội dung có giá trị, các tác phẩm này còn được thể hiện bằng hình thức thơ lục bát và song thất lục bát. Vì thế, tôi tin chắc rằng, với kết cấu theo thời gian, bố cục chương mục mạch lạc, sự chọn lọc và thể hiện những sự kiện tiêu biểu bằng hình thức diễn ca song thất lục bát của Việt Nam lịch sử diễn ca, bạn đọc sẽ dễ thuộc, dễ nhớ, dễ nắm được khái quát tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung, những sự kiện lịch sử và những anh hùng dân tộc tiêu biểu nói riêng.

Những nhân vật kiệt xuất, những anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ - Quang Trung, Hồ Chí Minh... được tác giả miêu tả thật hào hùng bằng đôi nét chấm phá, lời giản dị, dân dã mà gây ấn tượng khó quên cho bạn đọc. Đơn cử, trường hợp tác giả viết về Bà Triệu: “Dòng hào kiệt Trinh Nương tên gọi, Phất cờ đào tụ hội ba quân”, “Thề cưỡi sóng chém cá kình sợ chi”. Khi bà ra trận “Sỏ guốc ngà ăn vận oai phong, Khoá ngoài chiếc áo giáp đồng, Cài trâm giắt kiếm cờ hồng giương cao”. Hình ảnh Bà Triệu oai phong đến nỗi giặc Ngô nhìn thấy đã khiếp vía “Thua mấy phen liên tiếp rụng rời”. Còn đây là hình ảnh Quang Trung Nguyễn Huệ sau trận chiến: “Quang Trung khoác tấm áo bào, Sạm đen khói súng vẫy chào muôn dân”. Lối diễn ca bằng lời giản dị, dân dã, tự nhiên theo mạch tình cảm chân thực của tác giả cứ tuôn chảy từ đầu đến cuối tác phẩm, càng về cuối càng dồi dào.

Việt Nam lịch sử diễn ca là chuyện kể lịch sử bằng hình thức thơ ca. Ở phương diện là tác phẩm thơ ca, Việt Nam lịch sử diễn ca mang đậm âm hưởng anh hùng ca. Tình yêu đất nước quê hương, yêu truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc là tình cảm chủ đạo xuyên suốt tác phẩm.

Hiện nay chất lượng dạy và học môn lịch sử trong nhà trường có chiều suy giảm, thể hiện rõ qua kết quả thi cao đẳng và đại học môn lịch sử những năm gần đây tỷ lệ điểm kém cao tới mức đáng báo động. Nhiều nhà khoa học, nhiều nhà báo đã lên tiếng cảnh báo hiện tượng lớp trẻ ngày nay hiểu biết rất hạn chế về lịch sử, cần phải cải tiến hình thức và phương pháp giáo dục lịch sử nói chung và biên soạn sách sử nói riêng sao cho người đọc dễ hiểu, dễ nắm được kiến thức lịch sử. Trong tình hình đó, cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung Chính đã góp phần tích cực, thiết thực vào việc làm ý nghĩa này.

Tác giả Vũ Trung Chính viết cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca khi tuổi đã cao. Ông lại vốn là một nhà khoa học viết văn nên khó tránh khỏi những hạn chế như sách còn ít chất thơ, việc chọn vần, lựa chữ chưa được chú trọng thích đáng... Nhưng điều đáng quý, đáng trân trọng là tấm lòng của ông thiết tha muốn đóng góp một việc làm có ích cho sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

 

……………

 

       Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. – 2012. – Số 5(37) ra tháng 9. – Tr. 77 – 78.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẾN ĐỢI - KHẮC KHOẢI MỘT TÌNH YÊU

(Cảm nhận về tập thơ Bến đợi của Nguyễn Thị Kim Ngân, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2005)

 

 

Bến đợi  của Nguyễn Thị Kim Ngân là một tập thơ để lại cho tôi ấn tượng tốt. Thơ chị lấy cảm xúc từ tình yêu người thân (yêu mẹ, yêu con, yêu thày, yêu bạn...), yêu quê hương đất nước (yêu làng xóm, yêu cảnh vật quê hương), nhưng bao trùm và nhiều hơn cả là tình yêu lứa đôi.

Tình yêu trong thơ chị thường trực trong mọi lúc, mọi nơi. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở đâu, mọi cảnh vật mà chị bắt gặp cũng đều có thể tạo cảm xúc cho chị, cũng trở thành cái cớ để chị làm thơ thể hiện tình yêu của mình. Trong đêm Noen đi nhà thờ, khi đi tắm biển Sầm Sơn, đi nghỉ mát ở Thịnh Long, một gói quà sinh nhật, trên bờ đê, biển, một ngọn gió... cũng trở thành nguồn cảm hứng tình yêu trong thơ chị. Thơ tình yêu của chị thật buồn, thật khắc khoải, thật da diết, vừa táo bạo, mãnh liệt đến không kìm nén được, vừa vị tha, dịu dàng, đằm thắm đến nao lòng. Tôi nhận ra đằng sau nỗi buồn vì yêu, vì thương, vì nhớ chính là niềm hạnh phúc, sung sướng của nhà thơ - người đang yêu.

“Anh” là cái cớ, là nguồn cảm hứng để Kim Ngân làm thơ thể hiện tình yêu của mình. Tình yêu trong thơ chị được thể hiện dưới nhiều góc độ, trạng thái, cung bậc khác nhau. Tình yêu của chị đến độ chị ghen cả với gió và nắng, cái ghen vô lý mà thật có lý, thật đáng yêu :

Em không thích đâu làn gió

Mơn man trên mái tóc anh

Em ghen với ngàn sợi nắng

Hôn má môi anh ngọt lành.

              (Nói với anh)

Nỗi nhớ “anh” của chị da diết đến giằng xé, vừa nhớ mong vừa không dám chạm vào những kỷ niệm xưa vì sợ nỗi nhớ sẽ làm mình không chịu nổi:

Con đường ta đã cùng đi

Em không muốn đến... nhưng vì nhớ anh

... Bên hồ liễu cứ lả lơi

Mình em - chẳng dám đến ngồi... ghế xưa.

                                 (Một mình)   

          Điểm nhấn của câu thơ kết thật rõ ràng: “Mình em”, làm cho sức nặng của sự đơn lẻ tăng lên rất nhiều. Dấu ba chấm ở câu này tạo cảm giác về sự dùng dằng, rất muốn mà không dám, thể hiện tâm trạng của “em” khá rõ ràng.

         Trong khung cảnh ồn ào sóng nước Sầm Sơn và nhộn nhịp khách thập phương, chị vẫn nhớ đến người thương, cái nhớ mơ màng, nhè nhẹ mà sâu lắng:

Râm ran giọng nói, câu cười

Hình như có tiếng của người em thương.

                     (Ghi ở biển Sầm Sơn)

Khát khao “anh”, chị luôn trong tâm trạng đợi chờ mong mỏi, để rồi thất vọng và lại hy vọng trong sự đơn côi trống vắng của mình giữa đông vui cuộc đời:

Ngóng trông, hò hẹn, đợi chờ

Nghe đơn côi giữa bãi bờ đông vui.

                     (Tắm biển) 

        Có lúc tình yêu trong thơ chị mãnh liệt, táo bạo, thôi thúc như “Con ngựa bất kham trong lồng ngực, Ai đã lấy mất dây cương”. Không kìm nén được, chị thốt lên những lời chân thật từ gan ruột lòng mình:

Anh đừng là mưa bóng mây

Hãy là mưa giông ào ạt

Để bõ lòng em khao khát

Đôi mắt buồn... em uống thoả thuê anh !

                                (Khát)

            Tôi rất thích những bài thơ tình chị thể hiện trạng thái tình cảm của người “ván đã đóng thuyền” đối với người yêu cũ. Cái tình còn âm ỉ cháy, cái tình còn nồng nàn cháy nhưng lại phải kìm nén trong âm thầm, lặng lẽ:

Có nỗi đau không nói hết bằng lời

Giữa sa mạc mênh mông khi nào ta đỡ khát

Có niềm vui không được hát

Cứ âm thầm, lặng lẽ lặn vào tim.

                         (Anh có biết)

Em bừng bừng như đứng trước giàn thiêu

Lại phải nghĩ là tảng băng Bắc cực

Em tan chảy trong ngập tràn sông ký ức

Mơ thuyền tình về với bến bờ yêu.

                         (Bến bờ yêu)

Bao con sóng biển đời giằng xé

Yêu anh nhiều!

       Nhưng không thể... Anh ơi !

                                    (Trước biển)

Yêu “anh” biết bao nhiêu, nhưng khi anh đã có người khác rồi thì chị lại mừng cho anh và âm thầm nén chịu buồn riêng:

Mừng anh có thêm một nửa

Nửa tôi: nén tiếng thở dài

              (Lạc lối)

Theo tôi, “Anh” trong thơ chị mà chị lấy làm nguồn cảm hứng bất tận cũng chính là... THƠ:

Mãi là câu thơ bỏ ngỏ

Để anh - thi hứng theo về.

              (Nói với anh)

     Vì “Anh” - Thơ ấy mà chị trăn trở, khắc khoải, đau khổ, kiếm tìm, khao khát không yên. “Anh” - Thơ là bến đợi, là cái đích mà con thuyền tình - thuyền thơ của chị suốt đời hướng tới:

Tôi như con thuyền giữa biển đời giông bão

Khao khát suốt đời một bến bình yên.

                     (Thuyền giữa biển)

Tôi cứ băn khoăn, nếu con thuyền chị cặp bến bờ bình yên, không còn bão giông cuộc đời nữa, liệu chị có còn thi hứng và làm thơ hay được như Bến đợi không? Nghĩ vậy nên tôi không biết mình nên chúc chị mau tới bến bình yên hay chị cứ trăn trở, phong ba, chìm nổi giữa cuộc đời sóng gió...

Một số bài thơ của chị ở thể loại lục bát ngọt và quyến rũ, gần gũi với cách nói dân gian. Tôi rất khoái khi đọc những câu sau:

Ước mình là chiếc thuyền trôi

Cùng anh góc bể, chân trời lênh đênh.

                               (Ước)

Thế rồi ngày rộng, tháng dài

Người mua hoa cưới cho ai cài đầu?

Hoa ngày xưa ấy nay đâu?

Để tôi đứt gánh giữa câu... tròng trành.

                         (Một thời xa)

Gió non như gọi như mời

Xô nghiêng cái nhớ của người đang yêu.

                      (Một thoáng xuân)

Mênh mông gió thổi sân ga

Bao người sao cứ thừa ra một người

Tàu đi để lại mình tôi

Tóc bay dài mãi về nơi... một mình.

                     (Trên sân ga)

       Nói về sự cô đơn, trống vắng sau khi tiễn người thương đi xa như bài Trên sân ga của chị thật tài tình. Chị ý thức sâu sắc về sự “một mình”, giữa “Bao người sao cứ thừa ra một người”, một người đơn độc giữa đông người lại càng đơn côi trống vắng hơn.

Bài “Phải lòng” là một trong những bài thơ tình khá. Tác giả gửi tâm sự của mình trong hình ảnh nhân cách hoá của con đê và dòng sông. Hai câu kết bật ra thật bất ngờ, thú vị làm ý tình sáng bừng lên:

Cớ sao sông cứ lượn vòng

Để con đê - Kẻ phải lòng... lượn theo?

       Nếu không có câu kết trên, bài thơ cũng chỉ là một bài bình thường, không hơn vè là mấy:

Sớm nào thả bước trên đê

Bên anh bỗng thấy say mê tình đời

Dưới sông thuyền cứ êm trôi

Trên bờ hai đứa - hai người lang thang

Cánh cò chấp chới bay ngang

Mặt trời nghiêng nắng nhuộm vàng mặt sông.

       Những hình ảnh trong đoạn thơ trên không mới, lại được ngắt nhịp hai, tạo cảm giác đều đều, đơn điệu. Nếu cứ tiếp tục như thế sẽ thành nhàm chán. Thật may là câu kết đột nhiên chuyển nhịp 3 - 3 - 2 đã phá vỡ sự đơn điệu, đọc nghe mạnh hơn. Từ “Kẻ phải lòng” là cách nói dân gian nói về tình cảm của người đang yêu, nhưng mạnh mẽ, dứt khoát hơn hẳn “kẻ đang yêu”. Theo tôi, chính điều này làm bạn đọc thích thú và bài thơ “đứng” được cũng là nhờ thế. Nó nâng tầm bài thơ lên rất nhiều.

       Bên cạnh nhiều bài hay, tập thơ còn một vài bài, hoặc vài câu chưa hay. Chẳng hạn câu sau đây nó có vẻ ít chất thơ :

Nơi Thủ đô gác tía, lầu son

Con chớ a dua, cũng đừng lạc lõng

Vạn sự khởi đầu... Mẹ luôn hy vọng

Tin ở mình con bước tới tương lai.

                                    (Nói với con)

Hoặc ngay ở khổ đầu của bài Nói với con :

Mẹ vẫn chưa quen con đã đi học xa

Khi nấu cơm cứ thừa ra một suất

Lúc sắp mâm thấy thừa đũa bát

Mới biết rằng con đã đi học xa

Tứ thơ hay nhưng sao đọc lên, cái từ “mới biết ” nó cứ “mắc nghẹn” trong cổ. Cái sự con đi học xa là việc đã diễn ra đối với chị, tức là chị đã biết, nhưng vì yêu con và quen chăm sóc con, luôn nghĩ con ở bên mình mà quên rằng con đã đi học xa và rồi một lúc nào đó chợt nhớ ra... Cái từ “mới biết” trong khổ thơ nó cứ gượng ép thế nào ấy.

Xưa nay có nhiều người làm thơ, có người có trăm bài, có người tới cả nghìn bài, nhưng rất ít người còn lại một vài bài, thậm chí một vài câu lắng đọng qua nhiều thế hệ. Bến đợi của Kim Ngân có một số bài, một số câu thơ hay cũng đã là thành công đáng quý lắm, nhất lại là tập thơ đầu tay của chị - một giáo viên dạy toán.

Năm mươi sáu bài thơ trong Bến đợi đều là những bài ngắn, nhẹ nhàng, dễ đọc. Nhưng ngắn không có nghĩa là không nói được nhiều. Dường như Kim Ngân làm thơ chỉ để gửi gắm tâm sự của riêng mình, ghi lại những trạng thái tình cảm, những cảm xúc và sự việc trong đời mình. Chính vì thế mà thơ chị vừa tự nhiên, vừa chân thật và có sức thuyết phục, truyền cảm tới người đọc. Với Bến đợi, Kim Ngân góp thêm một giọng điệu (tuy chưa rõ nét), làm phong phú và đa dạng cho mảng thơ và thêm một cây bút có triển vọng trong đội ngũ tác giả thơ nữ Nam Định. 

                                  

………..

 

       Nguồn: Văn nhân. – 2006. – Số 52. – Tr. 53 – 54.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   KHÔNG LỘ, MINH KHÔNG LÀ HAI HAY MỘT NGƯỜI?

 

 

       Gần đây có một số tác giả viết bài trên tạp chí và in trong sách cho rằng Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không chỉ là một người. Từ quan điểm đó dẫn đến nhìn nhận những sự kiện, chi tiết phi lý, trái với thư tịch lịch sử. Chẳng hạn, trong bài “Đức Thánh Nguyễn Minh Không” của Đỗ Danh Gia (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 59 năm 2008) có đoạn: “...Minh Không làm nên tứ đại khí, là bốn báu vật của nước Nam ta...” và “Chí Thành (Nguyễn Minh Không) nuôi chí lớn, đi chu du thiên hạ, lúc thì đăng sơn kích thỏ, lúc thì phóng thuỷ cầu ngư, gặp ông Đạo Hạnh ở chùa Sài Sơn kính làm anh em”. Sách “Bái Đính – Ngàn năm tâm linh và huyền thoại” của Trương Đình Tưởng (Nxb. Thế giới, 2008) cũng viết về Nguyễn Minh Không: “Ông còn được mệnh danh là ông tổ đúc đồng, người tạo nên “Tứ đại khí” nổi tiếng ở nước ta thời nhà Lý là Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm và đỉnh Phổ Minh”. Tác giả Trương Đình Tưởng còn cho rằng hai bài thơ của Dương Không Lộ là “Ngôn hoài” và “Ngư nhàn” là của Nguyễn Minh Không trên cơ sở hiểu “Mảnh đất “long xà” mà tác giả đề cập đến trong bài thơ “Ngôn hoài” chính là nói đến vùng đất Sinh Dược, có núi Bái Đính, nơi ông tu hành trên đỉnh núi...” Tôi không hiểu vì sao Trương Đình Tưởng viết “ông tu hành trên đỉnh núi” Bái Đính mà lại phải “Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh”?!

Xin được trao đổi với hai tác giả thông qua bài trao đổi với Hồ Đức Thọ dưới đây.

Trong bài “Thiền sư Dương Không Lộ – Nguyễn Minh Không là hai hay là một” trên Tạp chí Văn nhân số 62 năm 2008, tác giả Hồ Đức Thọ đã thống kê một số tài liệu về hai thiền sư theo hai quan điểm: Hai ông là hai người và hai ông chỉ là một, từ đó kết luận: “Với những tư liệu sách vở và qua khảo sát điền dã hàng ba, bốn chục năm trong nghề, xin mạo muội nhận định hai vị Không Lộ Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ chỉ là một người” . Và tác giả Hồ Đức Thọ tự tin mời các trí giả, độc giả trao đổi trực tiếp, hoặc bằng văn bản, báo chí với ông.

Xin được trao đổi một số điều với tác giả Hồ Đức Thọ.

 

1– Về tài liệu tác giả Hồ Đức Thọ thống kê theo hai quan điểm:

Phần đầu bài viết của mình, tác giả Hồ Đức Thọ tóm tắt hai quan điểm khác nhau về Không Lộ và Minh Không. Về quan điểm hai nhân vật là khác nhau, tác giả nêu ba tài liệu là “Đại Nam nhất thống chí”, “Hoàng Việt thi văn tuyển”, “Hành Thiện xã chí”; Còn quan điểm hai nhân vật là một người thì căn cứ vào “Nam Định địa dư chí” của Khiếu Năng Tĩnh (Thực ra tên sách là “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược”), “Án cổ tích Đại Bi tự Thiền uyển thực lục” ở chùa Đại Bi xã Nam Giang, huyện Nam Trực (Nam Định), “Đại Việt sử ký toàn thư”, bài viết của Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang và một số sắc phong từ thời Lê về sau...

Các tài liệu mà tác giả Hồ Đức Thọ nêu trên ra đời rất muộn với thời kỳ nhân vật sống, mỗi tài liệu lại đặt ra từ chính nội dung của nó những vấn đề nghi vấn cần phải làm rõ. Riêng “Đại Việt sử ký toàn thư” lại chỉ nói về Nguyễn Chí Thành, chẳng nói gì về Không Lộ nên không thể lấy đó mà nhận định Không Lộ cũng chính là Minh Không. Tác giả Hồ Đức Thọ căn cứ vào “Đại Việt sử ký toàn thư” là đúng, nhưng ông lại không hiểu đúng (hoặc cố tình không hiểu) nên dẫn đến nhận thức sai lầm. Chẳng hạn, tác giả cho rằng sách chỉ nói về Minh Không, không hề nhắc đến Không Lộ thì tức là chỉ có nhân vật Minh Không, và Không Lộ cũng chỉ là Minh Không. Đó là cách hiểu chủ quan, cảm tính.

Một số tài liệu ra đời sớm hiện còn trong đó đáng chú ý nhất là bản trùng san (in lại) “Thiền uyển tập anh” thì không được tác giả khảo cứu. “Thiền uyển tập anh” đã được các nhà khảo cứu kết luận do Thông Biện (? – 1134) khởi thảo, đến Biện Tài, Thường Chiếu và cuối cùng là Ẩn Không (đầu thời Trần) hoàn chỉnh. Phần nói về Không Lộ tài liệu này viết rõ rằng ông họ Dương (? – 1119) quê ở Hải Thanh (nay thuộc tỉnh Nam Định). Đồng thời sách lại có riêng một truyện viết về Minh Không (1066 – 1141) họ Nguyễn, quê ở Đàm Xá (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Nếu Minh Không và Không Lộ chỉ là một người thì sách để riêng hai truyện làm gì.

“Trù Thủ tự Bảo Long am bi ký” - Bia chùa Trù Thủ để ở đình xã La Vân, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình) do Phạm Đăng Dự soạn, dựng năm 1633 cũng nói rõ tác giả theo đúng cựu bản “Phật tổ ngữ lục” và “Thiền uyển” mà khắc vào bia phần “Phù Vân quốc sư ngữ lục” cho biết: Sư người Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Tràng An, họ Nguyễn huý Chí Thành, học trò của Từ Đạo Hạnh, được thày ban thưởng đổi tên là Nguyễn Minh Không...

Một số sách về sau cũng viết rõ Minh Không và Không Lộ là hai người như “Lĩnh Nam chích quái” (TK15), “Quỳnh Côi dư địa chí” (1933), “Quốc sư Bảo lục” (1898)...

Thiết nghĩ các tài liệu càng gần sự kiện bao nhiêu thì càng đáng tin cậy bấy nhiêu (trừ khi các tài liệu ra đời sau có cứ liệu xác đáng bác bỏ quan điểm của tài liệu trước). Nhân vật Không Lộ và Minh Không đều là các thiền sư. Tìm hiểu về hai nhân vật này phải căn cứ chính vào tài liệu lịch sử và tài liệu của nhà Phật. Tác giả Hồ Đức Thọ căn cứ vào các tài liệu ra đời muộn hơn nhiều so với “Thiền uyển tập anh” (tài liệu hiện còn của các nhà sư sống gần nhất với Không Lộ và Minh Không) nên độ tin cậy không cao. Cơ sở quan điểm của tác giả Hồ Đức Thọ không vững chắc tất yếu dẫn đến những nhận định chủ quan, phiến diện.

 

2– Tác giả Hồ Đức Thọ viết: “...Thực ra hội Ông (tức thánh Nguyễn Chí Thành – chú thích của TMG) tổ chức từ ngày 12 đến ngày 15 tháng Chín. Đây là dịp kỷ niệm Thiền sư thời Lý, một nhà chân tu, một vị danh y, một tổ sư của nghề đúc đồng, có công đúc bốn bảo vật to lớn cho quốc gia Đại Việt như Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền (Hà Nội), tượng chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương) và vạc Phổ Minh (Nam Định)”... Tiếp theo tác giả dùng câu nghi vấn nhằm khẳng định Không Lộ, Minh Không chỉ là một người – Nguyễn Chí Thành: “Có phải Thiền sư họ Dương huý Minh Nghiêm quê Giao Thuỷ hiệu Không Lộ. Hay như chính sử và sách tham khảo, di ngôn khẳng định vị Thiền sư họ Nguyễn, huý Chí Thành, quê Đàm Xá hiệu Khổng Lồ, Không Lộ, Minh Không?”

Để kiểm chứng điều tác giả Hồ Đức Thọ nêu trên, chúng tôi tra cứu lại sách sử thì thấy không hoàn toàn đúng như nhận định của tác giả. Với quan điểm Dương Không Lộ chính là Nguyễn Minh Không (1066 - 1141), tác giả nói ông đúc cả bốn bảo vật (tứ đại khí) là sai lầm. Xin hãy đọc kỹ lại các sách sử sẽ thấy:

A - Tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm:

“Đại Nam nhất thống chí” (H.: KHXH, 1971. – T.3. - Tr. 413) chép: “Chùa Quỳnh Lâm, xã Hạ Lôi, huyện Đông Triều, do Thiền sư triều Lý là Nguyễn Minh Không lập, đúc tượng đồng trong chùa”.

B – Tháp Báo Thiên:

       “Đại Việt sử ký toàn thư” (H.: KHXH, 1998. – T.1. - Tr. 272) ghi: “Đinh Dậu (Long Thuỵ Thái Bình) năm thứ 4(1057). Mùa xuân, tháng Giêng, xây Bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên)”.

Tháp Báo Thiên được xây dựng vào năm 1057, mà Minh Không ra đời vào năm 1066, tức là Tháp Báo Thiên đã có trước khi Nguyễn Minh Không ra đời tới 9 năm thì sao có thể nói Minh Không xây tháp Báo Thiên được. Tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) cho xây dựng nên những tác giả của “Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - T.1. - Tr. 271) phê phán ông là “... nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm, đó là chỗ kém”. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (H.: KHXH, 1992. – T.1. – Tr.193 – 194) cũng viết như thế: “Chỉ có việc xây tháp Báo Thiên, làm cung Dâm Đàm, nhọc dân tốn của”.

C – Chuông Quy Điền:

- “Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - Tr. 281) chép: “Canh Thân (Anh Vũ Chiêu Thắng) năm thứ 5(1080). Mùa xuân, tháng hai, đúc chuông lớn cho chùa Diên Hựu. Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí không nên tiêu huỷ, bèn đem bỏ ở Quy Điền (ruộng rùa) của chùa. Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là chuông Quy Điền”.

Như vậy, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã ghi rõ chuông Quy Điền là do vua Lý Nhân Tông cho đúc, khi ấy Nguyễn Minh Không mới 14 tuổi không thể đúc chuông này được.

- Cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn (H.: Giáo dục, 1998. – T.1. – Tr. 365) chép: “Tân Tỵ, năm Long Phù thứ nhất (1101) (đời vua Lý Nhân Tông)”... “Sửa lại chùa Diên Hựu. Chùa này do Lý Thái Tông làm ra để cầu trường thọ; đến đây tu sửa lại. Lại đúc quả chuông lớn. Đúc xong, đánh thử, chuông không kêu, đem bỏ ở ngoài ruộng. Ruộng ấy sẵn nhiều rùa, nên người ta gọi là “Chuông Quy Điền”.

Cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” ra đời sau, tuy viết năm đúc chuông khác với “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhưng cũng viết năm đúc chuông ở đời Lý Nhân Tông và cũng không hề nói chuông do Nguyễn Minh Không đúc.

D – Vạc (đỉnh) Phổ Minh:

- “Đại Nam nhất thống chí” (Nxb. Thuận Hóa, 1992. – T.3. – Tr. 343) chép: “Đỉnh cũ Phổ Minh: Nặng ngàn quân, ở chùa Phổ Minh huyện Mỹ Lộc. Tương truyền, đời Lý, thiền sư Dương Không Lộ học được pháp thần thông, sang triều đình Bắc Quốc khuyến giáo đồng đỏ, vào kho đồng lấy được đầy túi mang về đúc thành đỉnh, nay đặt ở trước cửa chùa, tức là một trong “An Nam tứ khí”.

Như vậy, vạc Phổ Minh do Dương Không Lộ đúc. Việc chưa thể khẳng định được Dương Không Lộ cũng chính là Nguyễn Minh Không, nên cũng không thể nói vạc (đỉnh) Phổ Minh là do Nguyễn Minh Không đúc.

- Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” (Sđd. – T.1. – Tr.196) lại chép: “Sau khi nhường ngôi, vua (Trần Nhân Tông) lưu tâm kinh điển nhà Phật, xây am Thiên Kiện, đúc đỉnh (vạc) Phổ Minh thờ Phật rất chăm”.

- Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (Sđd. – Tr. 490) chép: “Nhâm tuất (1262) (đời vua Trần Thánh Tông (1258 – 1278)”... “nhân đấy đổi làng Tức Mặc làm phủ Thiên Trường; dựng cung gọi là Trùng Quang để cho các vua đã nhường ngôi rồi về ở; phía tây cung dựng chùa Phổ Minh”. Như thế thì có chùa Phổ Minh rồi mới có đỉnh Phổ Minh.

Hai cuốn dẫn sau tuy nói khác nhau về thời gian ra đời của vạc Phổ Minh, nhưng đều thống nhất ở thời Trần. Nếu hai cuốn này viết đúng thì vạc Phổ Minh không thể do Minh Không thời Lý đúc được.

Rõ ràng việc tác giả Hồ Đức Thọ nói rằng căn vứ vào các sách sử thì Nguyễn Minh Không đúc cả tứ đại khí là một nhận định sai. Nguyễn Minh Không chỉ đúc tượng Phật chùa Quýnh Lâm, còn ba đại khí khác không phải do Nguyễn Minh Không làm.

 

3– Tác giả căn cứ vào tập án cổ tích Đại Bi tự Thiền uyển thực lục đã viết: “Đoạn sau có ghi việc kết bạn của Minh Không, Giác Hải và Đạo Hạnh vào năm Canh Tý (1120) “Chí Canh Tý niên, Minh Không, Giác Hải dữ Đạo Hạnh kết vi huynh đệ ước vãng Tây Thiên Phật cầu ấn Độ pháp...” rồi kết luận “Sách không hề nói đến Dương Không Lộ, vậy Không Lộ huý Minh Nghiêm mất năm 1094 kết nghĩa với ai? Làm gì có chuyện đồng hành đi học đạo Tây Thiên với Giác Hải, Đạo Hạnh” để phản bác quan điểm Không Lộ và Minh Không là hai người khác nhau.

Về Giác Hải ta chưa rõ cụ thể năm sinh và năm mất, nhưng Đạo Hạnh (tức Từ Lộ) thì thư tịch cổ đã ghi rõ ông mất năm 1117. Vậy năm Canh Tý (1120) Minh Không kết bạn với Đạo Hạnh nào để đi Tây Thiên?

“Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - Tr. 308-309) chép vào tháng 3 năm 1136: “Vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi. Nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha thuế dịch cho vài trăm hộ. (Tục truyền khi nhà sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao cho học trò là Nguyễn Chí Thành tức Nguyễn Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thấy quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này.)”

“Đại Nam nhất thống chí” (Sđd. - Tr. 259) cũng chép: “Từ Đạo Hạnh sắp mất, dặn lại Nguyễn Minh Không rằng: “Sau này thày ở ngôi vua, khó trốn được nợ trần, cần được đệ tử cứu chữa”.

Như vậy, theo chính sử thì Minh Không là đệ tử của Đạo Hạnh, là thế hệ sau chứ không phải là bạn bè để “kết vi huynh đệ” với Đạo Hạnh. Những điều này chứng tỏ tài liệu tác giả Hồ Đức Thọ lấy làm căn cứ để bác bỏ quan điểm Minh Không và Không Lộ là hai người, từ đó nhận định quan điểm Minh Không và Không Lộ chỉ là một người là không đáng tin cậy, là sai lầm.

 

4 – Cách hiểu bài “Ngôn hoài” (của Dương Không Lộ) của tác giả Hồ Đức Thọ là khiên cưỡng khi nhận xét: “Cô phong Đính, địa phương cho là núi Bái Đính (có người dịch là đỉnh núi). Nhưng Giao Thuỷ làm gì có núi cao chót vót, kể cả núi hình rồng, hình rắn như thơ tả cảnh Đàm Xá, Gia Viễn. Vậy mà bàn cãi mãi.” Cách hiểu về bài “Ngôn hoài” của tác giả Hồ Đức Thọ cũng tương tự như cách hiểu của tác giả Trương Đình Tưởng. Từ cách hiểu như vậy Hồ Đức Thọ nhận định tác giả bài “Ngôn hoài” là của Nguyễn Minh Không, và Không Lộ cũng chính là Minh Không.

Tra cứu nguyên bản bài thơ “Ngôn hoài” trong “Thơ văn Lý Trần” thì ba chữ mà tác giả phiên âm là “Cô phong Đính” đúng theo từ điển phải phiên âm là “Cô phong đỉnh” (“cô” là một mình, đơn độc; “phong” là đỉnh núi; “đỉnh” là chỗ cao nhất của đầu). (Từ lâm Hán Việt từ điển. - Nxb. Thuận Hoá, 2001 và Từ điển Hán Việt hiện đại. - Nxb. Thế giới, 1995). Một dị bản của bài Ngôn hoài chép chữ “lĩnh” (cổ, chỉ bộ phận quan trọng của sự vật) thay cho chữ “đỉnh”. Ba chữ này (“cô phong đỉnh” hoặc “cô phong lĩnh”) mà lại gán cho nó “là núi Bái Đính” có khiên cưỡng quá không? Có đúng không?

“Ngôn hoài” là một tác phẩm văn học dưới thể loại thơ tứ tuyệt, phải tìm hiểu cảm thụ nó trên cơ sở đặc trưng nghệ thuật của thơ, cụ thể là tác giả đã dùng hình ảnh, hình tượng, ngôn ngữ đặc trưng thể hiện cảm xúc, tình cảm của mình như thế nào, ta mới có thể hiểu đúng bài thơ và tư tưởng tác giả. Về việc cảm thụ bài thơ này đã có nhiều bài viết hay trong sách và trên báo, tạp chí nên thiết nghĩ không cần phân tích sâu, mà chỉ nêu đôi chỗ liên quan đến chủ đề bàn cãi. Theo chúng tôi, “cô phong đỉnh” đơn giản chỉ là một hình tượng cô độc mà đẹp đẽ, hùng vĩ, độc lập, là hình ảnh của Thiền, là đỉnh cao của trí tuệ giác ngộ, không gì so sánh được. Có lẽ hình tượng “long xà địa” trong bài thơ làm tác giả Hồ Đức Thọ và Trương Đình Tưởng hiểu là những rặng núi hình rồng, hình rắn uốn quanh ngôi nhà rồi suy ra đó là “vùng đất Sinh Dược, có núi Bái Đính, nơi ông tu hành trên đỉnh núi...” Thực ra trong 92 thuật ngữ phong thuỷ không thấy có thuật ngữ “Long xà địa”. “Kinh dịch” có câu “Long xà chi chập, dĩ tồn thân dã” (Rồng rắn mà ẩn nấp cốt để giữ mình vậy). “Hán thư” cũng chép “Quân tử đắc thời tắc đại hành, bất đắc thời tắc long xà” (Người quân tử gặp thời thì làm việc lớn, không gặp thời thì ở ẩn). Hình ảnh “long xà địa” trong “Ngôn hoài” thể hiện người quân tử – tác giả mang chí lớn, nhưng chưa gặp thời mà “rồng hoá rắn”, ẩn mình chờ thời, một khi gặp đúng thời thì hành động kiên quyết, mạnh mẽ, táo bạo “trực thượng cô phong đỉnh”. Đằng sau sự thanh nhàn nơi thôn dã là hoài bão lớn lao của tác giả.

Như vậy, có nhiều cách cảm thụ bài thơ tuỳ theo trình độ, kiến văn và vốn sống của mỗi người. Tuy nhiên, vì “Ngôn hoài” là một tác phẩm văn học nên chúng ta cũng cần phải hiểu nó ở “tầm cấp tinh thần” gắn với đặc trưng của hình tượng văn học, không nên hiểu theo cách “vật chất hóa” hoặc “tầm thường hóa” và suy diễn dẫn đến hiểu sai lệch bài thơ.

 

5 – Đề xuất một hướng nghiên cứu về Không Lộ và Minh Không:

Hiện nay ở Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình... có gần ba chục nơi thờ chính, thờ vọng, phối thờ thánh Không Lộ. Truyền thuyết về Không Lộ ở những nơi này khá giống nhau. Phải chăng việc kết hợp những huyền thoại với tiểu sử của hai nhân vật có thật là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đã “sáng tạo” ra Thánh Không Lộ (hoặc/và Thánh Minh Không)?

Đặc điểm địa lý tự nhiên của các vùng thờ Thánh Không Lộ là đất trũng, sát biển, hệ thống sông ngòi dày đặc, vùng đất “giao thuỷ” mênh mông làm con người thấy mình nhỏ bé, cần sự che chở của một vị thần linh, từ đó xuất hiện Thánh Không Lộ. Về sau cư dân chuyển từ đánh cá sang trồng lúa thì Thánh Không Lộ lại được sáng tạo trở thành vị thần linh nông nghiệp, giúp dân khai hoang trồng lúa với các chi tiết thường nhật của nông dân như đơm đó, bắt lươn... Đồng thời các nghề thủ công phát triển, Thánh Không Lộ trở thành Tổ nghề đúc đồng. ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của nhân dân nước Việt góp phần sáng tạo Thánh Không Lộ là một nhà tu hành có nhiều phép linh dị. Rõ ràng hình tượng Thánh Dương Không Lộ (hoặc / và Thánh Nguyễn Minh Không) là kết quả quá trình chồng xếp lên nhau của nhiều lớp văn hoá, tín ngưỡng trong đó văn hoá biển là lớp văn hóa sớm nhất.

Tổng hợp, phân tích những tài liệu về Minh Không và Không Lộ, loại bỏ những huyền thoại (khá giống nhau ở hai nhân vật này), chúng ta còn lại hai nhân vật lịch sử có thật là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không, với những điểm riêng biệt của mỗi người. Đó là danh tính khác nhau, năm sinh và năm mất khác nhau, quê quán khác nhau. Dương Không Lộ – nhà thơ. Nguyễn Minh Không – thày thuốc. Dương Không Lộ là sư tổ chùa Thần Quang, Nguyễn Minh Không là sư Tổ chùa Quỳnh Lâm. Cả hai đều được phong Quốc sư thời Lý và đều chữa bệnh cho vua Lý, nhưng ở hai đời vua khác nhau.

 

Tóm lại:

Bằng những chứng cứ thiếu độ chính xác và không đủ sức thuyết phục với cách hiểu cảm tính, khiên cưỡng và phiến diện, Hồ Đức Thọ kết luận Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không chỉ là một người là không thuyết phục, là sai lầm.

 

2005

 

…………………

 

       Nguồn: Văn nghệ Ninh Bình. – 2009. – Số 67. – Tr. 50 – 54.

 

 

 

              VỀ LỆ KHAI ẤN ĐỀN TRẦN

 

 

           Lễ khai ấn đền Trần (Nam Định) diễn ra có quy mô tổ chức cấp nhà nước từ vài chục năm gần đây vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm đã thu hút hàng vạn người về dự. Những người về dự lễ khai ấn không chỉ là dân thường mà còn có rất đông quan chức các ngành các cấp từ trung ương xuống địa phương. Ảnh hưởng của khai ấn đền Trần Nam Định như một phản xạ dây truyền kéo theo nhiều nơi khác cũng tiến hành khai ấn và bán ấn như đền Trần ở Hưng Hà (Thái Bình), đền Trần Thương (Hà Nam)...

 

          1- Các nhà nghiên cứu nói gì về lệ khai ấn đền Trần?

 

          Nhiều nhà chức trách, nhà nghiên cứu trả lời cho câu hỏi này còn chưa rõ ràng, thiếu thuyết phục.

          Một số tác giả viết bài nhận định lệ khai ấn đền Trần Nam Định diễn ra từ thời Trần, bắt nguồn từ việc sau khi đánh thắng quân Nguyên - Mông, vua Trần thiết triều ở Tức Mặc - Thiên Trường để thưởng công, ban tước. Nếu đúng như vậy thì không có gì phải bàn cãi, lệ khai ấn là có thật ở thời Trần. Nhưng rất tiếc những tác giả này lại không đưa ra một chứng cứ nào chứng minh điều nhận định của mình là xác đáng để bạn đọc tin tưởng. Điều đáng ngờ nhận định này là ở chỗ: thường thì việc xét công ban thưởng phải diễn ra ở kinh thành, cụ thể thời Trần là kinh thành Thăng Long, sao lại có chuyện xét công ban thưởng ở Thiên Trường? Chúng tôi cũng không tìm thấy cuốn sử nào viết nhà Trần, sau khi chiến thắng Nguyên Mông đã xét công ban thưởng ở Thiên Trường. Như thế, nhận định nêu trên là không đủ cơ sở thuyết phục.

          Tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên (Viện Khảo cổ học Việt Nam) trong bài “Có hay không tục “Khai ấn đền Trần” đăng trên Internet tại địa chỉ http://hn.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/co-hay-khong-tuc-khai-an-den-tran-c46a358596.html  và nhiều báo điện tử khác, khẳng định: “Không hề có chuyện nguồn gốc của lễ khai ấn bắt nguồn từ việc sau khi đánh thắng quân Nguyên - Mông, vua Trần thiết triều ở Tức Mặc - Thiên Trường để thưởng công, ban tước như nhiều ý kiến. Việc đó sử chép là diễn ra ở Thăng Long”. Tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên còn viết một loạt bài “Lễ khai ấn đền Trần - một xuyên tạc lịch sử” nói rõ trong thư tịch cổ không hề chép gì về cái gọi là “Lễ khai ấn đền Trần”.

          Như vậy tác giả này đã phủ nhận hoàn toàn lệ khai ấn đền Trần.

          Trong cuốn sách “Ấn chương Việt Nam”, các ấn bằng gỗ ở nhiều đền thờ đức Thánh Trần được phân loại là ấn tín trong lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng. Cuối đời lui về Kiếp Bạc, Hưng Đạo vương có tu theo Đạo giáo và sau khi mất đã hiển thánh cho nên các đền và điện thờ đức Thánh Trần và việc hành nghề đạo sĩ phải có con dấu của đức Thánh Trần để đóng trên bùa chú, các bùa - sớ cho tăng tính linh thiêng. Như vậy, ấn đức Thánh Trần dùng trong sinh hoạt tôn giáo chứ không có chuyện khai ấn thưởng công ban tước trong chính quyền.

          Trong bản thảo bài viết “Tìm hiểu lệ khai ấn...” của Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang lúc sinh thời nói rõ có hai loại lễ khai ấn:

          - Một là khai ấn “Sắc mệnh chi bảo” của nhà vua dùng cho các quan trước và sau kỳ nghỉ tết hàng năm từ 26 tháng Chạp đến 6 tháng Giêng. - Hai là khai ấn “Trần miếu tự điển” nghĩa là ấn điển thờ ở miếu nhà Trần vào Rằm tháng Giêng hàng năm dành cho nhân dân đi lễ đầu năm, xin tờ điệp có dấu “Trần miếu tự điển” đem về treo ở nhà trừ tà ma, cầu bình an khỏe mạnh, mọi việc như ý. Một thời gian dài Nam Định đã dùng ấn “Trần miếu tự điển” trong lễ khai ấn đền Trần.

          Tuy nhiên nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang cũng không đưa ra được cơ sở nào cho bài viết của mình.

          Còn các nhà nghiên cứu chuyên ngành ở địa phương nói gì về lệ khai ấn đền Trần? Tháng 7 năm 2009 diễn ra cuộc hội thảo khoa học “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần Nam Định - giá trị và giải pháp bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc” do Viện Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định tổ chức. Trong số các bài tham luận của hội thảo, chúng tôi chú ý tới một vài tham luận đề cập đến tục lệ khai ấn đền Trần của các nhà nghiên cứu địa phương:

          Nhà nghiên cứu Phạm Văn Huyên (trưởng phòng nghiệp vụ ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định, hiện là Phó Giám đốc) với bài tham luận “Khu di tích lịch sử - văn hóa đền Trần với lễ tục khai ấn đầu xuân” cho biết ý nghĩa ban đầu của lễ tục khai ấn là mở đầu cho ngày làm việc của một năm mới, song không đưa ra được bằng chứng văn bản tin cậy nào để thuyết phục rằng thời Trần có lễ tục khai ấn.

          Nhà nghiên cứu Trần Đăng Ngọc (phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Nam Định, nguyên giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định) trong tham luận “Lễ khai ấn ở đền Trần Nam Định” viết: “Theo các cố lão ở địa phương cũng như truyền thuyết dân gian thì trước đây vào thời Trần, hằng năm cứ vào ngày 15 tháng Chạp cơ quan hành chính các cấp nghỉ ăn Tết, mãi đến Rằm tháng Giêng năm sau mới trở lại làm việc bình thường. Ngày làm việc đầu tiên trong năm hết sức quan trọng nên được triều đình tổ chức rất trọng thể. Các dấu ấn đã niêm phong cất đi nghỉ ăn Tết, nay được lấy ra lau chùi sạch sẽ. Triều đình tổ chức lễ cáo trời đất, sau đó nhà vua sẽ đóng con dấu đầu tiên để mở đầu cho một năm làm việc và mong cho mọi sự tốt lành...” Nhà nghiên cứu Trần Đăng Ngọc còn miêu tả quá trình hành lễ khai ấn đền Trần khá chi tiết. Tuy nhiên, ông cũng không đưa ra được những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy mà chỉ dựa theo lời kể của các cụ cố lão, cao niên hiện nay (như nêu trên).

          Theo ông Nguyễn Văn Thư (Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định) và ông Nguyễn Xuân Cao (Chuyên viên Hán Nôm Bảo tàng Nam Định) thì: Lịch sử, nguồn gốc lễ khai ấn chưa rõ bắt đầu từ thời gian nào, không có sử sách nào ghi chép mà chỉ tương truyền trong dân gian là có từ thời Trần Thái Tông khi về yết lễ tại tiên miếu và ban thưởng cho nhân dân.

          Như vậy, ý kiến của các nhà nghiên cứu địa phương đều không đưa ra được tài liệu nào ghi chép về lễ hội này, mà chỉ căn cứ vào ý kiến của các cụ cao niên hoặc tương truyền trong dân gian. Còn các nhà nghiên cứu cấp trung ương thì không có mấy ai đề cập trực tiếp đến lệ khai ấn đền Trần, nếu có thì cũng chung chung và cũng phải thừa nhận là không có cơ sở chắc chắn.

                                               

         2 - Có hay không lệ khai ấn đền Trần? Nếu có thì quy mô mục đích của nó ra sao?

 

        Trong khi sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường - Nam Định: Thơ” do Hội Nhà văn xuất bản năm 2010, chúng tôi có phát hiện bài thơ của Đỗ Hựu có nội dung nói về lễ khai ấn đền Trần. Theo các tài liệu địa chí và đăng khoa lục thì Đỗ Hựu sinh năm 1441, không rõ năm mất, quê xã Đại Nhiễm (thời Trần là xã Văn Tập), huyện Ý Yên nay thuộc xã Yên Bình, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Lại bộ Tả Thị lang, từng đi sứ nhà Minh và có công chiêu dân khai hoang vùng đất ven sông Hát. Ông có tác phẩm “Sơn thủy hành ca”. Bài thơ của ông nói về lệ khai ấn đền Trần mà chúng tôi tìm thấy trong “Nam châu vịnh tập” như sau:

 

十 四 夜 觀 開 印 會

 

曾 聞 昔 日 有 陳 王

即 墨 猶 留 族 祖 堂

萬 頃 栘 來 田 地 廣

康 村 定 宅 孝 和 彰

展 誠 以 祭 前 魚 廟

開 印 惟 祈 後 克 昌

天 下 如 今 誰 對 此

斯 民 斯 邑 望 恩 長

 

         Phiên âm :

THẬP TỨ DẠ QUAN KHAI ẤN HỘI

Tằng văn tích nhật hữu Trần vương

Tức Mặc do lưu tộc tổ đường

Vạn Khoảnh di lai điền địa quảng

Khang thôn định trạch hiếu hoà chương

Triển thành dĩ tế tiền ngự miếu

Khai ấn duy kỳ hậu khắc xương

Thiên hạ như kim thùy đối thử

Tư dân tư ấp vọng ân trường.

 

          Dịch nghĩa :

TỐI MƯỜI BỐN ĐI THĂM HỘI KHAI ẤN

Từng nghe rằng ngày trước vua Trần

Ở đất Tức Mặc có đền thờ tổ

Ban đầu dời tới Vạn Khoảnh(1) đất đai rộng rãi,

Sang Khang thôn, lấy sự hiếu với mẹ cha, hoà cùng anh em cư trú.

Từ ấy tỏ lòng thành kính hằng năm tế tại Ngư miếu;

Và khai ấn để cầu sự tốt lành cho lớp tương lai(2)

Nay trong thiên hạ, nơi nào sánh được

Thế là dân làng sở tại mãi mãi nhờ ơn to lớn.

 

          Dịch thơ:

              Từng nghe ngày trước Trần vương

Tức Mặc còn có tổ đường nơi đây

              Dời về Vạn Khoảnh đất này

Khang thôn định trạch thảo ngay hoà hài

                     Lòng thành tế cá hôm mai

Khai ấn cầu vọng lâu dài yên vui

              Đến nay đâu sánh ở đời

Dân thôn mãi mãi bày lời tạ ơn.

.................

Nguyên chú:

            (1) Vạn Khoảnh: Nhà Trần vốn gốc ở Chương Châu mang họ Dương, dời đến Yên Tử vẫn thế, về Vạn Khoảnh vẫn chưa đổi, sau sang Khang Kiện, vì bất hoà nên mới chia ra. Chi họ Dương dời sang lập làng Dương Xá (nay là xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình – Người dịch) chi ở lại lấy họ Trần, (nay là Tức Mặc - Mỹ Lộc- Nam Định – Người dịch).

          (2) Lệ này tương truyền là lệ vốn có của tộc đảng chốn quê của họ Trần. Thiên hạ không thấy có lệ ấy.

 

          Theo bài thơ trên của Tiến sĩ Đỗ Hựu ở thế kỷ 15 thì lệ khai ấn đền Trần là lệ vốn có của tộc Trần. Vào thời kỳ tác giả sống, lễ khai ấn tại tộc miếu của nhà Trần vẫn còn diễn ra. Lệ này tuyệt nhiên không phải là lệ của nhà nước.

        Nhưng tại sao mấy chục năm gần đây lệ khai ấn đền Trần lại biến thành lệ quốc gia và được tổ chức quy mô toàn quốc? Câu hỏi này đã được ông Tiến sĩ Nguyên Xuân Năm, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Nam Định trả lời rõ ràng trong bài tham luận tại hội thảo Đề án lễ hội Trần 2012 do UBND tỉnh Nam Định và Bộ VHTTDL tổ chức tại thành phố Nam Định ngày 18 – 7 – 2012, rằng ông là người có công nâng cấp lệ khai ấn đền Trần Nam Định từ quy mô địa phương lên quy mô toàn quốc.

        Trong “Hội thảo Đề án lễ hội Trần 2012” (1)  từ ông Tiến sĩ trung ương Nguyễn Chí Bền (Bộ VHTTDL) đến ông Tiến sĩ địa phương Nguyễn Xuân Năm (Nguyên Giám đốc Sở VHTTDL Nam Định) đã lấy bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu nêu trên làm cơ sở chính bảo vệ đề án lệ khai ấn đền Trần, chứng minh lệ khai ấn đền Trần là có thật, nhưng lại lờ tịt đi quy mô, mục đích thực sự của lễ khai ấn mà tác giả Đỗ Hựu nói trong bài thơ và chú thích...

          Bài thơ nêu trên của Tiến sĩ Đỗ Hựu tuy là sáng tác văn học nhưng những điều phản ánh trong tác phẩm lại là điều tai nghe mắt thấy nên rất đáng tin. Như vậy, lệ khai ấn thời Trần không phải thời Nguyễn (Minh Mệnh) hay về sau này mới nghe, mà đã được tương truyền từ thế kỷ 15 mà bài thơ của Đỗ Hựu là một minh chứng rõ ràng. Theo chúng tôi được biết thì hiện tới thời điểm này, chưa có một tác giả nào đưa ra được chứng cứ xác thực về lệ khai ấn đền Trần sớm và thuyết phục hơn bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu.

        

        Kết luận:

-   Qua bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu (TK15) có thể nhận định Lệ khái ấn đền Trần là có thật.

-  Quy mô của Lệ khai ấn đền Trần chỉ trong tộc Trần, thực hành ở đền Trần. Tuyệt nhiên không phải là lệ quốc gia.

          Bộ VHTTDL đã có quyết định “trả lệ khai ấn đền Trần về cho nhà đền”... chứng tỏ bài thơ chúng tôi sưu tầm của Tiến sĩ Đỗ Hựu là một cơ sở đáng tin cậy. (Mặc dù các quan chức địa phương vẫn giành quyền khai ấn hàng năm).

………………

 

Chú thích:

       Tác giả Trần Mỹ Giống và Dương Văn Vượng cộng tác tham luận trong Hội thảo khoa học “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định” do Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thực hiện 2013.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    ĐỆ NHẤT, ĐỆ NHỊ, ĐỆ TAM, ĐỆ TỨ

CÓ THỰC LÀ HÀNH CUNG NHÀ TRẦN?

 

       Từ mấy chục năm nay, theo ngành bảo tàng di tích Nam Định thì khu chùa Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là bốn cung của nhà Trần nằm trong quần thể hành cung Tức Mạc thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, được xây dựng vào giữa thế kỷ 13.

         Trong “Lý lịch di tích lịch sử – khảo cổ học chùa Đệ Tứ xã Lộc Hạ ngoại thành Nam Định” của Sở Văn hoá và Thông tin Hà Nam Ninh năm 1989 có viết: “Sách Đại Nam nhất thống chí, phần nói về tỉnh Nam Định có ghi: “... Chùa quán Đại thánh ở xã Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc, là hành cung thứ tư (Đệ tứ hành cung) do nhà Trần xây dựng. Sau dân sở tại dùng chữ Đệ Tứ làm tên xã, lại dựng chùa ở đây”.

           Lâu nay chúng tôi cứ băn khoăn rằng đã là hành cung thì phải còn phế tích. Vậy tại sao hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam lại không tìm thấy phế tích. Riêng có Đệ Tứ thì còn phế tích, nhưng liệu phế tích đó có thực là hành cung hay chỉ là nơi ở của một vị quan nào đó thời Trần?

         Vừa qua, nhân tìm thấy và dịch một số di cảo thơ của người xưa để tuyển vào cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường – Nam Định” (Hội Nhà văn xuất bản năm 2010) của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, trong đó ba bài thơ có nội dung liên quan đến Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ buộc chúng tôi không thể không đặt ra vấn đề xem lại có đúng đây là bốn hành cung của nhà Trần không?

        Bài thơ thứ nhất của Vũ Duy Thiện chép trong “Lịch Đại An dân ký” như sau:

 

       到 第 四 闍

 

相 傳 自 古 有 軍 營

天 屬 爲 名 半 萬 兵

四 隊 時 常 留 不 改

平 分 水 陸 幾

生 防 莫 敢 離 屯 住

死 戰 誰 收 置 石 銘

瓦 礫 人 言 陳 代 事

孤 魂 並 立 望 無 更

Phiên âm:

ĐÁO ĐỆ TỨ ĐÔ (1)

Tương truyền tự cổ hữu quân doanh

Thiên Thuộc vi danh bán vạn binh (2)

Tứ đội thời thường lưu bất cải

Bình phân thuỷ lục kỷ phiên linh

Sinh phòng mạc cảm ly đồn trú

Tử chiến thuỳ thu trí thạch minh

Ngoã lịch nhân ngôn Trần đại sự

Cô hồn tịnh lập vọng vô canh.

      

Dịch nghĩa:

       ĐẾN ĐỆ TỨ ĐÔ

Tương truyền nơi đây thuở trước có quân doanh, với tên Thiên Thuộc ước nửa vạn người.

Đội 4 thời thường trú ngụ không biến cải, chia làm thuỷ lục từng bao lần lập công hiển hách.

Khi sống dám nói rằng dời bỏ nơi đồn trú, qua cuộc chiến tranh chết đi ai vì thu nhặt xác tàn.

Phế tích gạch ngói đây phương dân nói là việc cũ thời Trần, các nơi đền miếu dựng thờ cô hồn mong rằng chớ hề thay đổi.

 

Dịch thơ:

Tương truyền thuở trước có quân doanh

Thiên Thuộc là tên nửa vạn binh

Đội bốn thời thường luôn trấn giữ

Chia đôi thuỷ lục cậy yên lành

Người còn nào dám quên phòng thủ

Xương vãi ai thu việc chiến tranh

Phế tích thời Trần dân vẫn nói

Cô hồn các miếu nhớ đinh ninh.

(Dương Văn Vượng dịch)

 

Chú thích:

(1) Đệ Tứ đô: Cửa Đệ Tứ – tên cũ chùa Đệ Tứ hiện nay. Chữ “đô” còn nghĩa là cái lầu canh xây ở trên thành.

(2) Nguyên chú của tác giả (Vũ DuyThiện): “Bốn đạo quân Thiên Thuộc có ước 5.000, Đệ Tứ thường có 2.000 thì 1.000 là thuỷ chiến. Vào thời chống Nguyên, rồi đến chống Minh vẫn còn được biên chế đầy đủ, nhưng thường lúc đã tận diệt. Nay là bốn ngôi chùa ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ”

 

Bài thứ hai của Vũ Triệt Vũ:

 

過 孤 魂 寺

 

萬 里 風 塵 不 顧 身

孤 魂 四 邑 感 君 恩

佋 來 未 必 真 名 字

付 在 方 官 两 分

 

Phiên âm:

QUÁ CÔ HỒN TỰ

Vạn lý phong trần bất cố thân

Cô Hồn tứ ấp cảm quân ân

Chiêu lai vị tất chân danh tự

Phó tại phương quan tuế lưỡng phân.

 

Dịch nghĩa:

TỚI CHÙA CÔ HỒN

Muôn dặm xông pha gió bụi, đâu dám coi mình là trọng.

Dựng bốn ngôi chùa ở bốn ấp đều gọi là Cô Hồn.

Thuở ấy chiêu về biết có đúng được họ tên,

Giao cho quan sở tại thường năm hai lần lễ bái vào tiết xuân phân, thu phân.

Dịch thơ:

Liều mình muôn dặm phong trần

Ơn vua chùa cúng cô hồn tứ lân

Chiêu về có thực họ tên

Phó cho bản hạt nhị phân tế cầu.

(Dương Văn Vượng dịch)

 

Bài thứ ba của Trần Kỳ chép trong “Quốc sử tất đọc” và “Kiến văn vựng tuyển” như sau: 

 

       大 聖 觀 寺

 

譜 存 光 祀 三 清

立 觀 閒 時 見 有

天 屬 幾 臨 難 死

地 餘 長 壘 聚 民 生

當 間 輝 來 修 處

又 得 棃 公 次 室 情

老 少 飽 温 傳 故 事

春 秋 思 德 拜 遺 形

 

          Phiên âm:

ĐẠI THÁNH QUÁN TỰ

Phả tồn Quang Khải tự Tam Thanh

Lập quán nhàn thời kiến hữu ninh

Thiên Thuộc kỷ phiên lâm nạn tử

Địa dư trường luỹ tụ dân sinh

Đương gian Huy Tịnh lai tu xứ

Hựu đắc Lê công thứ thất tình

Lão thiếu bão ôn truyền cố sự

Xuân thu tư đức bái di hình.

 

          Dịch nghĩa:

CHÙA ĐẠI THÁNH QUÁN(1)

Tự phả ghi rằng ông Quang Khải sùng thượng Tam thanh, nên dựng quán để khi nhàn cầu đảo thấy được sự yên lành.

Tại đây quân Thiên Thuộc từng nhiều phen tử nạn. Luỹ đất hằn lên kéo dài kia là chỗ nhà dân cư trú.

Thời ấy có cung phi Huy Tịnh tới tu tỉnh nghỉ ngơi. Rồi lại được Lê Tần vì tình của thứ thất mà góp công.

              Già trẻ ngày nay đội ơn được sự ấm no, mỗi khi tới tiết xuân thu đều tụ lại lễ lạy tại trước tượng thờ.

 

Chú thích:

      (1) Chùa thuộc thôn Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định hiện nay, thờ Trần Quang Khải và thờ Phật.

       Nguyên chú của tác giả (Trần Kỳ): Ông Chiêu Minh Đại vương này rất thông về đạo thần tiên, con cháu ông kế chí có nhiều tác phẩm như: Bất tín vu thuyết, Nam nhân Nam thần, Cần công khổ học... Ban đầu ông Quang Khải ở đặt là Tĩnh Tâm quán, đời Lê đổi là Đại Thánh quán, sau Lê Trịnh mới thờ Phật mà thêm chữ tự (chùa) vào sau chữ quán.

 

      Dịch thơ:

Phả rằng Quang Khải phụng Tam Thanh

Dựng quán khi nhàn tỏ tấm thành

Thiên Thuộc bao phen vì nước chết

Luỹ dài còn đó xóm dân sinh

Đương thời Huy Tịnh về tu tỉnh

Vợ thứ Lê công góp chút tình

Già trẻ ấm no ôn chuyện cũ

Xuân thu nhớ đức vọng thần linh.

                     (Dương Văn Vượng dịch)

 

              Theo như nội dung ba bài thơ trên thì Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ trước đây vốn là nơi đóng quân của bốn đội trong đội quân của nhà nước có tên là Thiên Thuộc. Đội quân này tồn tại từ thời Trần, lập công hiển hách trong chống Nguyên, qua chống Minh. Về sau nhân dân lập miếu Cô Hồn thờ những cô hồn tử sĩ ở cả bốn ấp. Hiện ở Đệ Nhị vẫn còn tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc được dựng từ thời Mạc. “Lý lịch di tích lịch sử – khảo cổ học chùa Đệ Tứ xã Lộc Hạ ngoại thành Nam Định” cũng nhắc đến một tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc, nhưng không cho biết nội dung cụ thể tấm bia đó. Đặc biệt bài “Đại Thánh quán tự” của Trần Kỳ có nguyên chú rất rõ ràng rằng chùa Đệ Tứ thờ Trần Quang Khải, chùa vốn do Trần Quang Khải lập ra gọi là Tĩnh Tâm quán, đến thời Lê mới đổi là Đại Thánh quán, thời sau Lê Trịnh mới thờ Phật nên thêm chữ “tự” sau chữ “quán” thành “Đại Thánh quán tự”.

              Các tác giả của ba bài thơ trên đều sống ở thời Lê:

              - Tác giả Vũ Duy Thiện là người xã An Cự, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hiến sát sứ, Nhập thị kinh diên. Ông có tác phẩm Cố kinh lược khảoHùng Vương ký sự.

               - Tác giả Vũ Triệt Vũ (1460 - ?) quê xã Đào Lạng, huyện Đại An (nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan Hình bộ Tả thị lang.

              - Tác giả Trần Kỳ là người xã An Thái, huyện Thiên bản (nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hàn lâm viện, Đông Các hiệu thư. Ông có tác phẩm Từ hiếu gia thư.

         Các bộ chính sử chỉ nói hành cung nhà Trần ở Tức Mặc mà không hề nói Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là hành cung nhà Trần. “Đại Nam nhất thống chí” chỉ nói Đệ Tứ là hành cung nhà Trần. Đây là bộ sách địa chí – địa lý được biên soạn dưới thời Nguyễn, tức là ra đời muộn hơn nhiều so với ba bài thơ nêu trên. Tài liệu gần sự kiện đáng tin cậy hơn tài liệu ra đời xa sự kiện. Vì thế ba bài thơ của ba vị Tiến sĩ quan chức nhà nước nêu trên là tài liệu rất đáng coi trọng. Từ ba bài thơ trên đặt ra một nghi vấn lịch sử là Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ có đúng là bốn hành cung của nhà Trần không, hay chỉ là bốn đồn trú quân doanh của đội quân Thiên Thuộc như nội dung ba bài thơ nêu trên?

              Tóm lại:

              - Nói di tích Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là bốn hành cung ngoại của nhà Trần là chưa đủ chứng cứ thuyết phục.

              - Rất có thể phế tích mà ngành văn hóa thông tin địa phương thám sát phát hiện ở Đệ Tứ chính là phế tích Tĩnh Tâm quán của Trần Quang Khải chứ không phải hành cung nhà Trần.

……………….

 

Ghi chú:

Tác giả Trần Mỹ Giống và Dương Văn Vượng cộng tác tham luận trong Hội thảo khoa học “Dấu ấn Văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định” do Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thực hiện năm 2013 (Công trình nghiên cứu cấp tỉnh đã nghiệm thu).

Đăng trong Tạp chí Xưa và Nay số 2 - 2018 của Hội Khoa học Lịch sử Nam Định.

Cũng in trong Tạp chí Khuông Việt số 12 – 13 tháng 1 - 2011

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI “SUY NGHĨ NHỎ VỀ VIỆC ĐÁNH GIÁ MỘT NHÀ THƠ LỚN” TRONG CUỐN “TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU BÀN VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT” CỦA TÁC GIẢ ĐỖ ĐÌNH THỌ (Hội VHNT Nam Định xuất bản 2005) – VÌ SAO BỊ BẠN ĐỌC PHẢN ĐỐI?

 

 Bài “Suy nghĩ nhỏ về việc đánh giá một nhà thơ lớn” của Đỗ Đình Thọ đã gây nên một làn sóng phản đối  gay gắt trong bạn đọc. Dư luận bạn đọc bất bình vì cho rằng tác giả đã bôi đen phỉ báng xuyên tạc danh nhân Nguyễn Khuyến. Bộ môn Nghiên cứu Phê bình của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định đã tổ chức hội thảo về cuốn sách, thu hút hơn ba chục bài tham luận. Trừ một bài khen ngất trời “Quá xứng đáng giải nhất Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh”, một bài khen chung chung hữu hảo mà không nói gì tới nội dung và nghệ thuật tác phẩm, một bài khen là chính (mà sau này tác giả thanh minh rằng bài viết đã bị ông Đỗ Đình Thọ chỉnh sửa theo ý làm sai lệch tinh thần bài viết), còn hầu hết đều phê phán bài viết về nội dung và phương pháp nghiên cứu sai lầm. Cục xuất bản ra quyết định cấm lưu hành cuốn sách có bài viết này. Cho đến nay lệnh cấm đó vẫn chưa được gỡ bỏ.

        Sau đây là trích bài tham luận của Trần Mỹ Giống đọc trong hội thảo:

        - Tác phẩm khi ra công chúng, nó không còn là của riêng tác giả nữa, mà nó sống hay chết, được khen hay bị chê, giá trị của nó trong đời sống xã hội và văn học nghệ thuật ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào người đọc, người phê bình. Mỗi người đọc lại có cách tiếp cận, nhận thức riêng về tác phẩm, tuỳ thuộc vào vốn sống, kiến thức, khả năng thẩm định văn học nghệ thuật và nhân sinh quan của họ. Vì thế, việc nhìn nhận lại giá trị của tác giả và tác phẩm là vấn đề diễn ra thường xuyên, không ngưng nghỉ. Nếu không có điều đó thì còn gì hoạt động phê bình? Trong lịch sử văn học, Nguyễn Bính mới được đánh giá cao từ vài chục năm gần đây; Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du đến cuối thế kỷ 19 vẫn còn có những nhà nghiên cứu lớn xếp vào hàng dâm thư; Hơn hai trăm năm người ta vẫn nhầm Phóng cuồng ca và cả tập Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục của Trần Tung là của Trần Quốc Tảng, còn in trong sách giáo khoa dạy đại học. Nếu không có ai giám “tấn công” vào những thần tượng vốn được tôn vinh thì liệu những nhầm lẫn như trên có sửa chữa được không? Lật lại vấn đề, nhất là vấn đề đã được người ta tôn vinh thành thần tượng với thái độ hoài nghi khoa học là điều đáng khuyến khích. Bởi chính nhờ những người phản biện dũng cảm mà ta tiếp cận được chân lí. Với lòng nhiệt tình, say mê nghiên cứu, mong muốn đóng góp cho nền nghiên cứu phê bình mà Đỗ Đình Thọ xem xét lại một thần tượng văn học lừng lững như Nguyễn Khuyến thì thật đáng trân trọng.

        - Song vấn đề đặt ra là bài viết như thế nào để thuyết phục được người đọc. Một số bài phản biện và ý kiến về bài của Đỗ Đình Thọ gần đây có phần qui chụp nặng nề, hẳn tác giả không tâm phục. Theo tôi, trong thời buổi dân chủ được đề cao ngày nay cần phải dân chủ trong phê bình văn học. Người phê bình và tác giả phải bình đẳng với nhau. Người phê bình đứng trên tác giả, tự cho mình cái quyền phán xét theo cảm tính cá nhân thì không tránh khỏi qui chụp và sai lầm.

        Trong việc phản biện về Nguyễn Khuyến, chính tác giả Đỗ Đình Thọ, có lẽ quá say mê với vấn đề mình tâm đắc mà cũng sa vào suy diễn, qui chụp. Mục đích bài viết của tác giả đi đến kết luận cuối cùng là không thừa nhận Nguyễn Khuyến là tác giả văn học yêu nước.

        Tác giả nêu khá nhiều lí do trong tiểu sử, hành trạng của Nguyễn Khuyến để chứng minh cho nhận định trên. Chẳng hạn nói ông trong thời gian làm quan đã chẳng có công lao gì nên sử sách không có ghi chép. Hoặc cho rằng việc ông cáo quan là trốn tránh trách nhiệm… Tác giả dẫn câu “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” và nhận xét “đến loại “thất phu” (đàn bà góa, người dân thường) cũng còn có trách nhiệm, huống hồ Nguyễn Khuyến lại là một bậc đại phu”. (Trần Mỹ Giống tôi xin thưa, “thất phu” ở đây là nam giới bình thường chứ không phải đàn bà góa bác Thọ ạ).

       Song những lí do lấy từ hành trạng Nguyễn Khuyến mà tác giả nêu ra để nhận định ông thiếu trách nhiệm, bất tài trên đây là chưa thuyết phục, nặng về suy diễn chủ quan.

Từ việc Nguyễn Khuyến làm gia sư cho nhà Hoàng Cao Khải, làm giám khảo cuộc thi vịnh Kiều cho Lê Hoan, kết thông gia với Vũ Văn Báo (ba nhân vật tay sai cho giặc), để con trai ra làm quan, phê phán cái chết của tiến sĩ Vũ Hữu Lợi… tác giả kết tội Nguyễn Khuyến lập trường bấp bênh, bị giới nho sĩ Nam Định xỉ vả. Đỗ Đình Thọ bộc lộ nhận thức phiến diện, nhận định ác ý, một chiều mà thiếu cái nhìn nhân văn, bản chất sự việc. Làm quan lớn đến Bố chính mà Nguyễn Khuyến còn từ quan về ẩn dật thì cái chức quan huyện nhỏ nhoi có thể nói ông phải lo lót chạy chọt không? Bài “Xuân dạ liên nga” của Nguyễn Khuyến mà ông Đỗ Đình Thọ lấy làm dẫn chứng để chứng minh Nguyễn Khuyến coi cái chết của Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi như con thiêu thân tỏ ra áp đặt chủ quan, không có cơ sở chắc chắn, thiếu độ tin cậy.

Nếu Nguyễn Khuyến coi thường Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi thì thử hỏi ông có làm câu đối hộ học trò Vũ Hữu Lợi như câu đối này không:

“Vi tiệp thân tiên, trường sử anh hùng lệ mãn;

Tịnh du nhan hậu, khẳng giao phụ tử sinh hoàn”.

Nghĩa là:

Chưa thắng đã mất, mãi khiến anh hùng tuôn đẫm lệ;

Bạn bè dầy mặt, ví bằng phu tử sống quay về.

Vũ Hữu Lợi bị bạn học là Vũ Văn Báo chỉ điểm cho giặc bắt tử hình. Câu đối của Nguyễn Khuyến tỏ rõ sự thương cảm kính trọng Vũ Hữu Lợi và chửi xéo Vũ Văn Báo là quân mặt dày phản bạn.

Tác giả nói Nguyễn Khuyến nhìn trăng thành trăng loe vì ông đau mắt nhìn không rõ là suy diễn sai lầm. Câu thơ của ông là Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Nhìn trăng lóng lánh dưới nước, mà nước lại đang ở trạng thái động thì bóng trăng đâu có tròn được. Hoặc bảo ông sợ sau này người ta lục vấn những sai lầm của mình nên dặn con cháu ghi vào mộ chí Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu cũng là khiên cưỡng. Thực ra ông khinh ghét bọn quan lại tay sai cho thực dân cướp nước:

              Vua chèo còn chẳng ra gì,

Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.

Ông không muốn người đời sau hiểu lầm, xếp ông chung vào “cái rọ” quan lại xấu xa kia mà:

          Đề vào mấy chữ trong bia,

Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.

       Ngoài tiểu sử hành trạng của Nguyễn Khuyến lấy làm căn cứ chủ yếu cho quan điểm của mình, Đỗ Đình Thọ còn căn cứ vào những truyền miệng dân gian hoặc “người ta” mập mờ để kết luận ông không phải là tác giả yêu nước. Dân gian không bao giờ là cơ sở cho việc nhận định tác phẩm của tác giả nên tôi không đi vào chi tiết. Chỉ kết luận:  căn cứ vào dân gian đánh giá tác phẩm, tác giả yêu nước hay không là sai lầm.

       Về mặt tác phẩm, tác giả nêu một số trường hợp cụ thể rồi kết luận Nguyễn Khuyến xử thiếu nhân hậu với dân. Những tác phẩm của Nguyễn Khuyến mà tác giả Đỗ Đình Thọ lấy làm cơ sở chứng minh cho nhận định của mình chủ yếu là một số câu đối (cho câu đối người thợ nhuộm, người làm nghề mổ lợn, anh lính kèn, vị cử nhân đỗ giáp cuối bảng…).

       Những câu đối của Nguyễn Khuyến mà Đỗ Đình Thọ nêu ra để hạ bệ Nguyễn Khuyến chính Đỗ Đình Thọ cũng cảm nhận chưa tới tầm. Câu đối của Nguyễn Khuyến cho những người dân nghèo rất hóm hỉnh, thể hiện rõ đặc điểm hoàn cảnh, nghề nghiệp của đối tượng, ẩn trong cái hài hước là sự cảm thông sâu sắc với người dân nghèo. Lẽ nào một nhà nghiên cứu lâu năm như Đỗ Đình Thọ lại không thấy được điều đó? Cách cảm cách nghĩ của Đỗ Đình Thọ mang dấu ấn của định kiến quy chụp. Câu đối chỉ là một phần rất nhỏ trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến. Đỗ Đình Thọ lấy một vài câu đối để nhận định Nguyễn Khuyến không phải tác giả yêu nước là phiến diện. Mảng thơ mới là sáng tác chủ yếu của Nguyễn Khuyến. Nhưng ông Đỗ Đình Thọ, ngoài bài “Xuân dạ liên nga”, đã không đưa ra được bài thơ nào khác chứng minh cho nhận định của mình. Trái lại, ông đã phải thừa nhận tài năng thơ của Nguyễn Khuyến.

 - Trong toàn bài viết của Đỗ Đình Thọ không thấy nêu rõ ràng về tiêu chí tác gia văn học yêu nước. Theo tôi, một tác gia văn học yêu nước được xem xét chủ yếu ở nội dung tư tưởng tác phẩm. Trần Nguyên Đán, dù thỏa hiệp với phản thần, kết thông gia với Hồ Quí Li, lui về ẩn dật vẫn được người đời thừa nhận là tác gia yêu nước thương dân đó thôi. Nguyễn Khuyến từng được cử làm phó sứ đi Trung Quốc với Lã Xuân Oai (dù việc đó sau hoãn lại), từng lớn tiếng chửi xỏ tổng đốc Lê Hoan khi bất đắc dĩ phải ra làm giám khảo cuộc thi vịnh Kiều, từng kiên quyết không cộng tác với giặc. Ông làm quan 13 năm rồi ẩn dật để giữ mình trong sạch, bất cộng tác với quân thù. Nhưng đánh giá lại tài năng của Nguyễn Khuyến như mục đích bài viết đặt ra, Đỗ Đình Thọ lại chủ yếu căn cứ vào hành trạng Nguyễn Khuyến như thế mà bảo ông không phải là nhà thơ yêu nước thì làm sao thuyết phục được bạn đọc.

              - Thơ Nguyễn Khuyến phê phán những mặt tiêu cực của xã hội, lên án bọn quan lại tay sai thối nát, chế diễu bọn người chạy theo đồng tiền, làm những việc bỉ ổi mất nhân cách… Mảng thơ trào phúng, đả kích của ông có chiều sâu, hóm hỉnh, đi vào nội dung bản chất vấn đề.

          Bên cạnh mảng thơ trào phúng, ông còn bộ phận thơ viết về nông thôn, thể hiện sinh động cuộc sống và bộ mặt nông thôn nước ta, từ thiên nhiên, con người đến phong tục tập quán. Những bài thơ của ông viết về cảnh nước lụt, mất mùa, cảnh quê ngày giáp Tết, đặc biệt là chùm thơ Nôm ba bài về mùa thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) là những kiệt tác. Thơ Nguyễn Khuyến còn thể hiện rõ nét tình cảm của nhân dân, những lo toan thường nhật, niềm vui và nỗi buồn của những người nghèo khổ ở nông thôn với tư cách người trong cuộc, bằng tình cảm chan hoà, gần gũi, cảm thông, chia xẻ với nhân dân.

 Thơ Nguyễn Khuyến chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, đứng hẳn về phía nhân dân như thế mà lại bảo ông không phải là tác giả yêu nước thì thuyết phục sao được?  Nếu Đỗ Đình Thọ đi sâu vào phân tích các tác phẩm của Nguyễn Khuyến để chứng minh cho quan điểm của mình thì bạn đọc dễ tiếp nhận hơn. Thật tiếc là trong bài viết của mình, Đỗ Đình Thọ đã không coi trọng và không làm được điều đó.

 - Về phương pháp nghiên cứu phê bình, Đỗ Đình Thọ không làm theo cách phổ biến là nêu ra một số tiêu chí rồi đối chiếu soi rọi vào tác phẩm mà kết luận cái được, cái chưa được của tác phẩm, tác giả. Cách này làm bài viết dễ khuôn cứng, gò ép nhưng “an toàn”. Đỗ Đình Thọ đã chọn cách làm ngược lại, từ tác phẩm và cuộc đời tác giả rút ra kết luận chung. Cách làm này đòi hỏi người viết phải có trình độ vững vàng mọi mặt, vốn kiến thức lí luận phê bình đủ tầm, non tay một chút là thất bại.

Khi xem xét một nhân vật có phải là nhà nho yêu nước, chí sĩ yêu nước hay không, người ta căn cứ chủ yếu vào tiểu sử, hành trạng của người đó. Bài viết của Đỗ Đình Thọ xem xét Nguyễn Khuyến ở góc độ ông có xứng đáng là tác giả yêu nước hay không thì lại phải căn cứ chủ yếu vào tác phẩm của Nguyễn Khuyến. Bài viết của Đỗ Đình Thọ coi trọng chứng minh quan điểm của mình bằng khá nhiều tư liệu tiểu sử nhân vật và dựa vào dân gian với phong cách viết… “tài tử”, nhưng lại rất ít tư liệu về tác phẩm. Vì thế bài viết thiếu tính thuyết phục.

 Tóm lại:

 - Dùng tiểu sử để đánh giá tài năng văn học của tác giả là không đầy đủ. Tiểu sử chỉ để giúp ta hiểu sâu hơn về tác phẩm mà thôi.

            - Lấy số ít tác phẩm để rút ra kết luận cho toàn bộ sáng tác của tác giả là việc làm phiến diện, chưa khoa học.

            - Tác phẩm dân gian, truyền khẩu mà tác giả sử dụng trong bài viết chỉ là những tài liệu tham khảo. Xem xét Nguyễn Khuyến có phải là nhà thơ yêu nước hay không phải căn cứ vào chính tác phẩm của ông. Cũng cần chỉ rõ tỉ lệ, liều lượng, nội dung, tư tưởng yêu nước trong tác phẩm của tác giả đến mức nào thì tác giả mới được liệt vào hàng tác gia yêu nước?

           Bài viết của tác giả Đỗ Đình Thọ dù tràn đầy nhiệt huyết và cảm hứng nhưng thiếu tính thuyết phục nên tất yếu sẽ vấp phải những ý kiến phản biện gay gắt như thực tế đã diễn ra.

           Tác giả nói đây chỉ là suy nghĩ nhỏ về nhà thơ lớn, nhưng vấn đề đặt ra lại không nhỏ, mà các nhà nghiên cứu đã và sẽ còn tốn nhiều giấy mực. Hiện có hai quan điểm: Một là không gọi Nguyễn Khuyến là nhà thơ yêu nước (như nhà thơ Xuân Diệu); Hai là xếp Nguyễn Khuyến vào hàng tác gia yêu nước và cách mạng (như quan điểm chính thống của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh thể hiện trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh. – Nxb. Khoa học xã hội, 1981).

Người viết bài này đồng tình với quan điểm thứ hai.

   …………………………….  

 

       Trích tham luận của Trần Mỹ Giống đọc trong Hội thảo khoa học về cuốn Tản mạn đôi điều bàn về Văn học Nghệ thuật của tác giả Đỗ Đình Thọ tại Nam Định, do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định tổ chức ngày 23 tháng 6 năm 2006.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                      CÓ ĐÚNG NGUYỄN HỮU TIẾN

           LÀ TÁC GIẢ CỜ ĐỎ SAO VÀNG (QUỐC KỲ)?

 

(Phản biện bài “Người để lại dấu son trong lịch sử” của Đỗ Phú Nhuận trên Văn Nhân số 117 năm 2018)

 

         Chín năm trước, bài “Ai là tác giả của lá Quốc kỳ?” của Đỗ Phú Nhuận được đăng trên Hồn Việt (số 29 tháng 11 năm 2009) khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ. Ngay sau đó, Hồn Việt (số 30 tháng 12 năm 2009) có bài phản biện “Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc Kỳ” của Lê Ánh Đào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc kỳ.

         Nay Văn Nhân đăng bài của Đỗ Phú Nhuận cũng với nội dung tương tự như bài đăng trên Hồn Việt chín năm trước, khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả cờ đỏ sao vàng (Quốc kỳ) mà không có chứng cứ nào mới thuyết phục. Chúng tôi xin nêu một số ý khiến để bạn đọc rộng đường dư luận.

       1- Căn cứ chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ của Đỗ Phú Nhuận không đủ sức thuyết phục:

       Hai cuốn sách để tác giả căn cứ vào đó chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ:

- Nguyễn Hữu Tiến: Truyện / Sơn Tùng. - H.: Thanh Niên, 1981.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Duy Tiên thời kỳ 1930 – 1945 do Huyện ủy Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xuất bản tháng 8/1996.

1.1- Về cuốn truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng:

          Đây là tác phẩm văn học, tác giả có quyền hư cấu (bịa). Sơn Tùng cũng từng thừa nhận mình không có chứng cứ, mà chỉ là hư cấu trong khi xây dựng nhân vật Nguyễn Hữu Tiến. Tác giả không chỉ sáng tạo nhân vật vẽ cờ Tổ quốc mà còn sáng tác cả thơ thay cho nhân vật…

          Trong phóng sự tư liệu nhiều kỳ “Nền cộng hòa 49 ngày” do báo Tuổi Trẻ thực hiện tháng 11/2006, tác giả Bùi Thanh đã phỏng vấn trực tiếp nhà văn Sơn Tùng căn cứ vào đâu mà ông “sáng tác” việc Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ. Tác giả Sơn Tùng đã không nêu được bất kỳ cứ liệu xác đáng nào. Sơn Tùng nói: “Tôi yêu con người này và viết về con người này. Còn sự thật lịch sử như thế nào, tôi nghĩ các nhà khoa học cứ tiếp tục làm rõ”!(1)

       Rõ ràng, Sơn Tùng đã thừa nhận chi tiết Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc trong truyện của mình không có căn cứ mà chỉ là hư cấu.

       1.2- Về cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Duy Tiên thời kỳ 1930 – 1945.

Cuốn sách của huyện ủy Duy Tiên nêu ra vấn đề đồng chí Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc, cũng không đưa ra được căn cứ xác đáng nào chứng mình cho điều đó.

          Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam đã đề nghị Bộ Văn hóa - Thông tin cung cấp tư liệu về người vẽ cờ Tổ quốc.(2)

           Công văn Bộ Văn hóa - Thông tin trả lời Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã khẳng định: “Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người đã vẽ lá cờ Tổ quốc”.(3)

       Tác giả Đỗ Phú Nhuận căn cứ vào hai cuốn sách trên để khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ là không thuyết phục và không đảm bảo cơ sở khoa học.

 

       2- Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả quốc kỳ.

          Bài phản biện của Lê Ánh Đào trên Hồn Việt số 30 năm 2009 có đủ nhân chứng, vật chứng và cơ sở lý luận vững chắc. Chúng tôi xin được trích nêu tóm tắt một số cơ sở trong bài viết này chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc kỳ:

2.1- Công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ do Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Trung ương thực hiện cùng với cuộc hội thảo do Hội đồng tổ chức tại T.78 (TP. Hồ Chí Minh) vào tháng 12/2000.

         Hội thảo khoa học Mỹ Tho - Từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940 đến cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Tỉnh ủy Tiền Giang và Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương tổ chức tại Mỹ Tho tháng 11/2005.

       Cả 2 công trình trên đều phủ định quan điểm Nguyễn Hữu Tiến là tác giả cờ đỏ sao vàng.

       Cuốn Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ (LSKNNK). - H.: Chính trị quốc gia, 2001  (Tái bản năm 2005) của Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Trung ương về lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ và Kỷ yếu Hội thảo khoa học Mỹ Tho - Từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940 đến cách mạng Tháng Tám năm 1945 (KYHTKHMT) do Tỉnh ủy Tiền Giang và Viện Lịch sử Đảng TW xuất bản tháng 11/2005 là những nguồn tư liệu mang tính khoa học, có độ tin cậy cao. Đặc biệt cuốn LSKNNK là công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đã được Hội đồng nghiệm thu nhà nước đánh giá xuất sắc.

2.2- Cờ đỏ sao vàng do Tỉnh ủy Mỹ Tho khởi xướng:

       Hội nghị Xứ ủy mở rộng tại Tân Hương (Mỹ Tho) diễn ra từ ngày 21 đến ngày 27/7/1940 chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam kỳ đã thông qua vấn đề sử dụng cờ đỏ sao vàng trong cuộc khởi nghĩa: “Đồng chí Trần Văn Thời - Bí thư tỉnh ủy Bạc Liêu đi họp hội nghị tháng 7/1940 của Xứ ở Tân Hương (Mỹ Tho), trở về phổ biến tại hội nghị cán bộ của tỉnh là trong cuộc nổi dậy sắp tới ta dùng cờ đỏ sao vàng... Đồng chí Trần Văn Sớm, lúc đó là Bí thư Quận ủy Giá Rai có được nghe phổ biến như vậy trong cuộc họp này. Đồng chí Trần Văn Sớm hiện là Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo Biên soạn công trình Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ.”(4)

              “Hội nghị Xứ ủy mở rộng tháng 7 năm 1940 ở Tân Hương (huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho), đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, trong đó có nghị quyết về hình thức của chính quyền, Quốc kỳ, khẩu hiệu, chính sách đối với các tầng lớp nhân dân. Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng 5 cánh.”(5)

       Cờ đỏ sao vàng do Đảng bộ Mỹ Tho đề xuất tại Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương đã được khẳng định: “Hội nghị Xứ ủy tháng 7 ở Tân Hương đã chấp nhận phác thảo lá cờ Mặt trận do Tỉnh ủy Mỹ Tho đề nghị.”(6)

       “Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ Tho là sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ, nhân dân Mỹ Tho trong thực tiễn phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam… Xuất hiện trước tiên ở Mỹ Tho, cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hòa bình, hữu nghị, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế của nhân dân Việt Nam. Sức sáng tạo cách mạng đó thuộc về Đảng bộ, nhân dân Mỹ Tho - Gò Công.”(7)

        2.3 - Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không liên quan việc đề xuất cờ đỏ sao vàng.

       2.3.1- Tại Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (Mỹ Tho), đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai – Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn kiêm Xứ ủy viên và đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (Phụ trách cơ quan in ấn của Xứ ủy tại Chợ Lớn) không đến dự. 3 ngày sau Hội nghị Tân Hương (30/7/1940) hai đồng chí này bị bắt tại cùng một địa điểm ở  Chợ Lớn.(8)   

        2.3.2- Danh mục tài liệu, tang vật do địch liệt kê trong vụ bắt Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến ngày 30/7/1940 hiện lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2 Thành phố Hồ Chí Minh có 74 loại gồm sách, truyền đơn, tài liệu in, tài liệu viết tay, dụng cụ in ấn – không có loại tài liệu, vật dụng, dụng cụ nào liên quan đến việc vẽ, in hay viết về cờ đỏ sao vàng mặc dù có nhiều tài liệu có nội dung liên quan đến khởi nghĩa.(9)

       2.3.3- “Nhân chứng sống” là đồng chí Nguyễn Văn Cung – tham gia trong Hội đồng biên soạn Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ đã cung cấp việc đồng chí cùng bị giam chung một cabanon với đồng chí Nguyễn Hữu Tiến trước khi địch đưa đồng chí Nguyễn Hữu Tiến ra xử tử. “Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến đoán biết địch sẽ xử tử đồng chí. Đồng chí dạy tôi lý luận, kể cho tôi biết nhiều chuyện. Tôi chưa hề nghe đồng chí nói về việc đồng chí là người vẽ sáng tạo lá cờ đỏ sao vàng.”(10) 

       Đồng chí Nguyễn Văn Cung kể lại sau cuộc khởi nghĩa nổ ra, có đồng chí bị bắt lên phòng tra tấn đã nhìn thấy cờ đỏ sao vàng bị địch bắt được về kể lại nhưng cũng không thấy đồng chí Nguyễn Hữu Tiến nói gì. “Đồng chí Nguyễn Văn Cung coi đồng chí Nguyễn Hữu Tiến như bậc thầy cách mạng của mình… Đồng chí Nguyễn Văn Cung cho rằng nếu đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người sáng tác đầu tiên về lá cờ chắc chắn đồng chí sẽ kể cho nghe về suy nghĩ trong khi vẽ ra lá cờ đó như thế nào.”(11)

  

Kết luận:

- Chi tiết đồng chí Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc trong truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng là hư cấu dùng trong tác phẩm văn học. Một số bài báo, sách sau này viết Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc đã lấy nguồn từ cuốn truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng mà không đưa ra được căn cứ xác đáng nào.

- Cờ đỏ sao vàng do Tỉnh ủy Mỹ Tho khởi xướng và phác thảo, đã được Xứ ủy Nam Kỳ chấp nhận trong Hội nghị tháng 7 - 1940 ở Tân Hương. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc kỳ.(12)

- Bài “Người để lại dấu son trong lịch sử” của Đỗ Phú Nhuận khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ không có cơ sở khoa học.

 

TMG (sưu tầm tổng hợp)

….…………….

Chú thích:

       (1) Báo Tuổi Trẻ ngày 22/11/2006 – Bài 4.

       (2) Tờ trình số 207/TT – UB ngày 21/2/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam gửi Bộ Văn hóa - Thông tin.

(3) Công văn số 1393/VHTT- BTCM ngày 18/4/2001 của Bộ Văn hóa – Thông tin do Thứ trưởng Lưu Trần Tiêu ký phúc đáp Tờ trình số 207/TT – UB ngày 21/2/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam.

       (4) LSKNNK. - Sđd. - Tr. 104.

       (5) KYHTKHMT. - Sđd. - Tổng luận Hội thảo. - Tr. 230.

       (6) KYHTKHMT. - Sđd. - Sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 23-11-1940 ở Mỹ Tho / Lê Minh Đức (Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Tiền Giang). -  Tr. 97.

(7) KYHTKHMT. - Sđd. -  Những đóng góp quan trọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phong trào giải phóng dân tộc (1939 – 1945) /  Ts. Nguyễn Thanh Tâm (Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng). - Tr. 127 - 128.

       (8) LSKNNK. - Sđd.- Tr. 95.

KYHTKHMT. - Sđd. - Tổng luận hội thảo. –  Tr. 53.

       (9) LSKNNK. -  Sđd. -  Tr. 95. - và Phụ lục Bản kiểm kê tài liệu. - Tr. 709 – 712.

(10) Công văn số 1393/VHTT- BTCM ngày 18/4/2001 của Bộ Văn hóa – thông tin.

       (11) KYHTKHMT. - Sđd. -  Những đóng góp to lớn của nhân dân và Đảng bộ Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ / Trần Giang (Đồng chí Trần Giang chính là Chủ nhiệm công trình LSKNNK). -  Tr. 54.

       (12) Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải tác giả Quốc kỳ đã được xác định. Nhưng ai là người trực tiếp thiết kế cờ đỏ sao vàng của tỉnh ủy Mỹ Tho thì chưa được xác định. Đồng chí Phan Văn Khỏe – Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho đã đưa ra nhiều chứng cứ xác nhận ông Lê Quang Sô là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Có đúng ông Lê Quang Sô là tác giả Quốc kỳ hay không còn chờ các cơ quan có trách nhiệm làm rõ.

 

       Nguồn: Văn Nhân. – 2018. - Số 121 tháng 9 & 10. – Tr. 49 – 57.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bìa 4

 

           

 

       TRẦN MỸ GIỐNG

       Tuổi Kỷ Sửu

       Hội viên Hội VHNT Nam Định và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – Nam Định. Tác phẩm đã xuất bản:

       - Tác giả Hán – Nôm Nam Định TK X – TK XX. – Nam Định: Hội VHNT Nam Định, 2008.

       - Các nhà khoa bảng Nam Định. – Nam Định: Hội VHNT Nam Định, 2009. (Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh 2006 – 2010).

       - Các nhà khoa bảng Nam Định. – H.: Quân đội nhân dân, 2017.

       - Thư mục nhân vật Nam Định. – Nam Định: Thư viện tỉnh Nam Định, 2010.

       - Thời áo lính : Hồi ký. – H.: Quân đội nhân dân, 2018. (Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh 2026 – 2020).

       - Thời áo lính : Hồi ký. – H.: Quân đội nhân dân, 2019. – Xuất bản lần thứ 2.

       - Truyện nhặt. – H.: Nxb. Hội Nhà văn, 2021.

       - Và đồng tác giả hơn hai chục đấu sách khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét