TRẦN MỸ GIỐNG
THOÁNG BÓNG VĂN NHÂN
(Tuyển bút ký, nghiên cứu,
phê bình)
NHÀ XUẤT BẢN ...
LỜI THƯA
Thưa các bạn đọc kính mến!
Tôi là Trần Mỹ Giống, tuổi Kỷ Sửu, quê xã
Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1971, đang theo học năm thứ
tư đại học thư viện, tôi nhập ngũ. Năm 1972 – 1973 tôi là chiến sĩ Trung đội vệ
binh Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 chiến đấu bảo vệ Quảng Trị. Năm 1974 tôi học
khóa 35 Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Ra trường, tôi được điều về làm Trợ
lý Ban tuyên huấn Sư đoàn 338, bảo vệ biên giới phía Bắc tại Đình Lập, Lạng
Sơn. Năm 1981 tôi chuyển ngành học tiếp rồi về công tác đến khi nghỉ hưu tại
Thư viện tỉnh Nam Định.
Yêu cầu công tác phụ trách mảng địa chí
thư mục, phải sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, tuyên truyền về địa phương, trong
đó có mảng nhân vật chí. Tôi đã viết một số bài giới thiệu tác giả, tác phẩm
địa phương đăng báo và tạp chí. Nay tôi tuyển chọn một số bài đó in thành tập
sách đặt tên là “Thoáng bóng văn nhân”. Tự biết bản thân kiến văn nhỏ hẹp, năng
lực có hạn, tôi chỉ dám viết về những nhân vật của quê hương Nam Định theo nhận
thức của cá nhân, chú trọng nhân vật ít người nói đến. Tên sách là “Thoáng bóng
văn nhân” mang hàm ý soạn giả chỉ cung cấp cho bạn đọc về nhân vật, tác phẩm
một cách sơ lược. Tất nhiên, số lượng nhân vật được đề cập trong sách chỉ là
một phần nhỏ, còn nhiều nhân vật của Nam Định khác mà tôi bỏ qua (vì kiến văn
hẹp, hiểu biết quá ít, hoặc nhân vật đã có quá nhiều người viết mà tôi lại
không có phát hiện riêng)…
Nội dung sách được bố cục:
- Các nhân vật Nam Định xếp theo thời gian sống.
- Giới thiệu tác phẩm của một số tác giả Nam Định.
- Một số bài có tính chất phản biện được xếp cuối
sách.
Nhiều bài viết đã đăng báo, tạp chí ký
tên tác giả: Trần Mỹ Giống, Trần Thanh Minh, Trần Thị Thanh, Trần Tuấn Phương,
Trần Hoàng, Trung Thực, Đinh Thị Khế… Đó đều là những bút danh của Trần Mỹ
Giống. Có một số bài ký tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống nay
cũng được tuyển vào sách này dưới tên một tác giả là Trần Mỹ Giống. Nguyên do
là: Tôi và anh Hoàng Dương Chương cùng là cán bộ Thư viện tỉnh Nam Định, hiện
nay cùng sinh hoạt ở Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định và Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam – Nam Định. Một thời chúng tôi ghi tên hai tác giả trong các bài viết
của mình… cho vui. Năm 2008, anh Hoàng Dương Chương thống nhất với tôi: Bài của
ai trả về cho người đó để thuận lợi khi làm tuyển tập cá nhân. Vì thế, có một
số bài trước đây ghi tên hai tác giả Hoàng Dương Chương, Trần Mỹ Giống (như các
bài viết về Trần Tung, Xuân Trình, Văn Cao… vốn do tôi viết) nay được trả về
cho tác giả đích thực.
Riêng một số bài phản biện, tôi có sử
dụng tư liệu dịch của nhà nghiên cứu Hán - Nôm Dương Văn Vượng, hoặc sử dụng tư
liệu, góp ý thiết thực của nhà nghiên cứu Trịnh Thị Nga nên tôi ghi rõ tên các
tác giả cộng tác dưới bài viết.
Chắc chắn tập sách còn nhiều khiếm
khuyết, tôi vẫn hy vọng, “Thoáng bóng văn nhân” sẽ đem đến cho bạn đọc hiểu
khái quát về một số nhân vật, tác giả, tác phẩm của đất Nam Định quê tôi.
Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Thành Nam, tháng 12 - 2021
Trần Mỹ Giống
THIỀN
SƯ DƯƠNG KHÔNG LỘ
I - Sơ lược tiểu sử Dương Không Lộ
Thiền sư Dương Không Lộ hiệu Khổng Lồ
đọc tránh là Không Lộ, biệt hiệu Thông Huyền, quê làng Giao Thuỷ (sau đổi là
làng Hộ Xá), phủ Hải Thanh (đời Trần đổi là Thiên Thanh, sau lại đổi là Thiên
Trường). Ông sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ
7(1016) đời Lý Thái Tổ, tại quê mẹ là làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải
Dương.
Gia đình Dương Không Lộ sống ở làng
Giao Thuỷ, chuyên nghề chài lưới ven sông. Khi lớn lên, ông lấy việc câu cá,
quăng chài làm vui và thường du ngoạn nhiều nơi danh lam thắng cảnh, tuỳ hứng
ngâm vịnh và sáng tác thơ ca.
Năm Giáp Thân (1044) triều Lý Thái
Tông, ông 29 tuổi, bỏ nghề đánh cá để theo học đạo thiền. Ban đầu ông theo học
Noãn cư sĩ làng Bảo Tài (chưa rõ nay ở đâu). Sau ông đắc đạo, trở thành Tổ thứ
10 của thiền phái Vô Ngôn Thông, một thiền phái được thành lập ở nước ta vào
đầu thế kỷ thứ IX.
Năm Đinh Dậu (1057) ông chuyển sang
theo học thiền phái Thảo Đường. Thảo Đường thiền sư từng nhận xét về học trò
Không Lộ của mình: “Chú này cốt cách phi phàm, sau này tất làm pháp tự.” Quả
nhiên về sau, Không Lộ trở thành Tổ đời thứ 3 của thiền phái Thảo Đường.
Năm Kỷ Hợi (1059), Không Lộ tu tại
chùa Hà Trạch, rồi chuyển về tu ở chùa Duyên Phúc (tức chùa làng Hộ Xá) sau đổi
là chùa Viên Quang.
Năm
Nhâm Dần (1062) Không Lộ cùng Giác Hải và Đạo Hạnh đi Tây Trúc cầu kiến Phật
Tổ, được Phật Tổ giác ngộ và truyền cho phép lạ.
Năm Quý Mão (1063) Không Lộ dựng chùa
Nghiêm Quang (sau đổi là Thần Quang) tại làng Dũng Nhuệ. Sau do đất lở xuống
sông Hồng, chùa được chuyển sang làng Dũng Nghĩa (Vũ Thư, Thái Bình).
Năm Nhâm Tý (1072), Không Lộ cùng
Giác Hải chữa khỏi bệnh sợ tắc kè kêu cho vua Lý Nhân Tông. Ông được phong làm
Quốc sư. Vua Lý Nhân Tông có bài thơ ca ngợi hai ông như sau:
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo cánh huyền
Thần thông năng biến hoá
Nhất Phật nhất thần tiên.
(Giác Hải lòng tựa biển
Thông Huyền đạo lại huyền
Thần thông hay biến hoá
Một Phật, một thần tiên).
Có tác giả cho rằng Thông Huyền là
đạo sĩ nên vua Lý mới phân biệt “Bên Phật” (chỉ Giác Hải) và “Bên thần tiên”
(chỉ Thông Huyền). Nếu đúng Thông Huyền là đạo sĩ thì không thể là Không Lộ.
Nhưng về tiểu sử cuả Thông Huyền đạo sĩ thì chưa thấy tác giả nào nêu được, mà
Thông Huyền là biệt hiệu của Không Lộ thì một số thư tịch đã nói rõ. Trong bài
thơ, có thể tác giả chỉ đơn thuần sử dụng hình tượng Phật và Tiên là những đấng
bất tử và có phép nhiệm màu để ca ngợi Giác Hải và Không Lộ mà thôi.
Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất (1094),
Không Lộ thiền sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Ngày 10 tháng 8 năm Ất Hợi (1095)
Giác Hải thu thập xá lị của Không Lộ, xây tháp để chôn cất, tạc tượng để thờ
tại chùa Nghiêm Quang. Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa, cắt 3.000 hộ
hương khói phụng thờ ông.
Do thời gian đã quá xa, thư tịch lịch
sử không còn nhiều, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Không Lộ phần lớn dựa
vào truyền thuyết và huyền thoại nên còn một số điều chưa rõ ràng, không thống
nhất. Một số tác giả cho rằng Không Lộ chính là Minh Không. Chẳng hạn, trong
cuốn Không Lộ - Minh Không (Văn hoá dân tộc, 2000) tác giả Lê Xuân Quang chứng
minh hai ông là một người. Tác giả Nguyễn Lang cho rằng Không Lộ mất cùng năm
mất với Minh Không, nghĩa là Không Lộ cũng là Minh Không. Những cứ liệu mà các
tác giả chứng minh rằng Không Lộ là Minh Không đều chưa đủ sức thuyết phục. Một
số tác giả khác lại cho rằng Không Lộ và Minh Không là hai người khác nhau.
Trong “Bài bạt về việc khảo cứu sự tích đức Thánh tổ”, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng
đã đưa ra những chứng cứ khá thuyết phục chứng minh Không Lộ không phải là Minh
Không. So sánh Chích quái của Nguyễn Quỳnh với chính sử, ông đã chỉ ra những
điểm khác nhau rõ ràng giữa Không Lộ và Minh Không:
- Thứ nhất, họ và tên hai người khác
nhau: Không Lộ họ Dương huý Minh Nghiêm, Minh Không họ Nguyễn huý Chí Thành.
- Thứ hai, quán chỉ hai ông khác
nhau: Không Lộ quê Giao Thuỷ phủ Hải Thanh, Minh Không ở Đàm Xá.
- Thứ ba, năm sinh và năm mất hai ông
khác nhau: Không Lộ sinh năm Bính Thìn (1016), Minh Không sinh năm Bính Ngọ
(1066), Không Lộ hoá năm Giáp Tuất (1094), Minh Không hoá năm Tân Dậu (1141).
Như vậy, Không Lộ và Minh Không không
thể là một người. Có lẽ Không Lộ và Minh Không, người trước người sau đều từng
tu ở một chùa, đều có pháp thuật linh hiển, đều được vua Lý phong làm Quốc sư,
đều chữa bệnh cho vua Lý (Không Lộ chữa bệnh sợ tiếng tắc kè kêu của Lý Nhân
Tông, Minh Không chữa bệnh hoá hổ cho Lý Thần Tông) nên người đời sau nhầm hai
ông là một. Tài liệu liên quan đến Không Lộ phần lớn là truyền thuyết, huyền
thoại nên cũng khó xác định đâu là thực, đâu là hư. Tuy vậy, với cãi lõi là
lịch sử, các huyền thoại đã thể hiện rõ Không Lộ là một thiền sư nổi tiếng thời
Lý, kỳ tài, tâm hồn phóng khoáng và tài thơ văn. Sáng tác của ông hiện không
còn nhiều, nhưng đều là những tuyệt tác.
2 - Nhà thơ Dương Không Lộ
Trong các sách giáo khoa văn, các
tổng tập và tuyển tập văn học Việt Nam và một số sách khác xuất bản gần đây cho
biết Không Lộ chỉ còn hai bài thơ là “Ngôn hoài” và “Ngư nhàn”.
Khi chọn được đất làm chùa Nghiêm
Quang, ông có bài kệ nổi tiếng mà người đời sau gọi là bài “Ngôn hoài” (Nói nỗi
cảm hoài):
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
(Chọn đất long xà tới nghỉ ngơi
Lòng quê vui thích thú thảnh thơi
Núi cao có lúc trèo lên đỉnh
Thét một tiếng vang lạnh cả trời.)
Bài thơ thể hiện nỗi vui mừng khi
chọn được đất tốt để xây chùa làm nơi trụ trì, bộc lộ tình cảm bất tận của tác
giả đối với đồng quê, thiên nhiên, tạo vật, đất nước. Có khi tác giả trèo lên
một đỉnh núi, nhìn ngắm thiên nhiên hùng vĩ, với tâm hồn phóng khoáng, cảm
khoái và cao hứng thét lên một hơi dài làm lạnh cả bầu trời. Bài thơ cũng thể
hiện tinh thần “Vô chấp giới” nhằm đạt tới sự tự do hoàn toàn, giải phóng bản
thể mà hoà nhập với vũ trụ theo quan điểm nhà Phật “Vạn vật nhất thể”. Câu kết
của bài thơ, “Trường khiếu nhất thanh hàn thái dư” - Thét một tiếng dài làm lay
động cả bầu trời là hình ảnh hào hùng, sảng khoái hiếm thấy trong lịch sử thơ
thiền Việt Nam.
“Ngư nhàn” cũng là một bài thơ đặc
sắc của Không Lộ. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh sơn thuỷ sinh động và
tuyệt đẹp: Dòng sông xanh liền với trời bát ngát, bãi dâu chen mọc, làn khói
toả thanh bình trong thôn xóm, bác chài ngủ ngon lành trong thuyền khi tỉnh
giấc thấy thuyền đầy hoa tuyết... Bài thơ mang cảm xúc thiền học tinh tế, trong
trẻo, thể hiện trạng thái tâm hồn lâng lâng trong cõi không hư, mông lung và
huyền ảo:
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên,
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.
(Bát ngát sông xanh, bát ngát trời,
Một thôn mây khói, một dâu gai.
Ông chài ngủ tít không người gọi,
Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi).
(Ngọc Liên dịch)
Có tác giả cho rằng bài “Ngư nhàn”
không phải của Dương Không Lộ, mà là của Hàn Ô (Trung Quốc). Việc hai nhà thơ
lớn cách xa nhau ngàn dặm có tứ thơ trùng nhau cũng là lẽ thường. Khẳng định
“Ngư nhàn” không phải là của Dương Không Lộ cũng cần phải được khảo cứu kỹ
lưỡng. Hơn nữa, cảm xúc và những hình ảnh được sử dụng trong bài thơ rất phù
hợp với tâm hồn phóng khoáng và cuộc sống thực tế của ông chài sông nước - nhà
thơ thiền sư Dương Không Lộ.
Trong dân gian và một số tài liệu chữ
Hán như Hoàng triều thông chí thần phật môn Thiên tiên Phật thánh lục (không rõ
tác giả), Sự tích đức Thánh tổ (Đặng Xuân Bảng biên soạn)... cho biết ngoài hai
bài trên, Không Lộ còn một số bài khác (không có tiêu đề) sáng tác mỗi khi cao
hứng. Việc xác định các bài thơ này có đúng là của Không Lộ không, còn cần phải
nghiên cứu kỹ lưỡng. Chúng tôi không đi sâu phân tích cái hay của thơ ông, mà
chỉ nêu ra một số bài để bạn đọc tham khảo.
Năm 62 tuổi, một hôm Không Lộ đang
tĩnh toạ thì chú tiểu hỏi: “Từ khi tôi đến đây chưa được thầy dạy cho tâm yếu”.
Không Lộ trả lời: “Chú đem kinh cho ta thì ta tiếp, đem nước cho ta thì ta
nhận, lúc nào ta cũng dạy tâm yếu chú” rồi cười và đọc bài kệ sau:
Đoàn luyện tâm thâm thuỷ đắc tinh
Sâm sâm trực thượng đối hư đình
Hữu nhân lai vấn không không pháp
Thân toạ bình biên ảnh tập hình.
(Tu luyện bao phen phép đã tinh
Muốn lên đối phó chốn hư đình
Không không nhẽ đó nào ai biết
Ngồi tựa bình phong, bóng ẩn hình.)
Trong cuốn Thiên tiên Phật Thánh lục
có chép bài thơ sau đây của Không Lộ, khi ông gặp Giác Hải. Bài thơ rất lạ, đặc
biệt là nghệ thuật sử dụng từ ngữ:
Thiên liên bích thụ, thụ liên thiên,
Yên toả thanh sơn, sơn toả yên,
Thụ nhiễu tùng la, la nhiễu thụ,
Xuyên thông vu giáp, giáp thông
xuyên,
Tửu mê tuý khách, khách mê tửu,
Thuyền tống hành nhân, nhân tống
thuyền,
Hội đắc tri âm, âm đắc hội,
Truyền kim đáo cổ, cổ kim truyền.
(Da trời giòng biếc nhuộm màu cây
Một giải non xanh toả khói mây
Cây quấn cây tùng, cây rậm rạp
Nước quanh đỉnh giáp, nước vơi đầy
Rượu mê người, người mê rượu đấy
Khách giục thuyền, thuyền giục khách
đây
Liệu được tri âm, nào được mấy
Xưa nay vẫn nhớ mãi xưa nay.)
(Tiến sĩ
Đặng Xuân Bảng dịch)
Hoặc khi gặp Từ Đạo Hạnh, ông cũng
làm bài kệ trả lời Đạo Hạnh như sau:
Ngọc nang bí quyết nghĩ chân kim
Cá chung mãn nguyệt lộ thần tâm
Hà sa cách thị Bồ đề đạo
Nghĩ hướng Bồ đề mãn liễu cầm.
(Túi ngọc bí truyền rõ thực vàng
Tháng qua mưa móc dạ xốn xang
Hà sa thu gót Bồ đề đạo
Tìm gặp được nhau mấy đoạn trường.)
Một buổi chiều thu, trời trong mây
đẹp, ngồi trên thuyền câu, ông cảm hứng đọc thơ:
Ngọc phái chi trường, không sơn hà
vạn lại
Dung toạ ngư, ngư khiếp điểu
Dương cung tiễu hạc, hạc nghi cung
Quang phóng vân tiêu ngoại
Phong quang đô hảo đạo khoái lạc.
(Ngọc Phái dẫu dài, không bằng núi
sông muôn trùng ngọn gió
Thung dung ngồi câu cá, nhưng cá lại
sợ chim
Dương cung bắn hạc, hạc ngờ cung
Vút bay rẽ mây lên tít trời cao
Thời tiết đẹp trên đường đi vui vẻ)
Bài thơ tác giả tự sự về bản thân
mình cũng là một bài rất xuất sắc:
Lão hỷ yên hà tẩu
Na tri lợi lộc mến
Thuỳ điểu đương liễu ngạn
Tán võng địch hoá thôn
Bả trạo ngân phong tuyết
Đặc ngư thí tửu tôn
Sơn tiều thời ngộ ngã
Kim cổ mạn tương luân.
(Yên hà mùi vẫn thích
Danh lợi tính không ưa
Bến liễu buông câu sớm
Làn lau vãi lưới trưa
Gác mái ca phong nguyệt
Được cá chén say sưa
Kiếm củi người đi lại
Vui cùng dở chuyện xưa.)
(Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng dịch)
Các sáng tác của Dương Không Lộ thể
hiện tình yêu cuộc sống, yêu đất nước, gắn bó với thiên nhiên, tạo vật và con
người, bằng bút pháp tài hoa, phóng khoáng hiếm thấy ở một thiền sư. Vì thế,
thơ ông trải qua hàng nghìn năm vẫn được lưu truyền, vẫn gây được xúc cảm và
tình cảm thẩm mỹ cho người đọc.
…………….
Nguồn:
Văn nhân. -
2003. - Số 43. - Tr. 43 - 44.
TRẦN TUNG: VỊ TƯỚNG, NHÀ
THIỀN HỌC, NHÀ THƠ
Trần Tung (còn gọi là Trần Quốc Tung)
hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ, sinh năm Canh dần 1230, mất ngày 1 tháng 4 năm Tân
Mão 1291, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc
Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Ông là một vị tướng, nhà ngoại giao,
cư sĩ Thiền sư, nhà thơ Thiền thời Trần, nổi tiếng với bài “Phóng cuồng ngâm”
và các sáng tác khác của ông trong bộ “Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục”. Nhiều tài
liệu văn học và sách nhà Phật viết về ông, nhưng các tài liệu lịch sử lại hầu
như không nhắc gì đến ông. Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” chỉ có một lần nhắc đến
Trần Tung trong lời bình về Trần Minh Tông cuả Ngô Sĩ Liên như sau:
"Vua vốn nhân hậu với họ hàng,
nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính. Kẻ thần hạ hễ ai
cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì
cùng tên với Thượng phụ (Trần Thủ Độ), Tung đổi thành Thúc Cao vì cùng tên với
Hưng Ninh Vương (con trưởng của An Ninh Vương)".(1)
Qua lời bình trên (ngoại trừ tước
hiệu An Ninh Vương không đúng với tước hiệu An Sinh Vương của Trần Liễu) đã
chứng tỏ Trần Tung là một nhân vật được vua Trần Minh Tông hết sức tôn kính.
Chắc chắn Trần Tung phải là người có tài đức, công lao to lớn mới được vua kính
trọng như vậy.
Do không tìm thấy một tài liệu Việt
sử nào viết về Trần Tung nên nhiều tài liệu viết về ông gần đây thường nhầm lẫn
ông với Trần Quốc Tảng. Trong cuốn “Hoàng Việt văn tuyển”, không rõ vì lý do gì
hay căn cứ vào tài liệu nào mà Bùi Huy Bích lại cho rằng Tuệ Trung Thượng Sĩ là
Trần Quốc Tảng, tác giả của “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” cũng là Trần Quốc
Tảng(2).
Chúng ta dễ dàng nhận ra kết luận
trên của Bùi Huy Bích là sai lầm, vì Tuệ Trung Thượng Sĩ mất năm 1291, còn Trần
Quốc Tảng mãi năm 1313 mới qua đời. Từ sai lầm của một học giả nổi tiếng cách
đây trên 200 năm đã làm nhiều người sau này tin theo mà lặp lại sai lầm đó.
Chẳng hạn, cuốn “Lược truyện tác gia Việt Nam” (nhà xuất bản Khoa học xã hội,
1972, tập 1), cuốn “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” (nhà xuất bản Văn học, 1976,
tập 2)... đều cho rằng bài “Phóng cuồng ngâm” và toàn bộ sáng tác của Tuệ Trung
Thượng Sĩ trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” là của Trần Quốc Tảng(3).
Gần đây, cuốn “Tuệ Trung nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ” của Nguyễn Duy Hinh (nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 1998) cho rằng Tuệ Trung và Trần Tung có thể là hai
nhân vật khác nhau(4). Trong cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử
Việt Nam” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992), tác giả Nguyễn Q. Thắng và
Nguyễn Bá Thế khẳng định Tuệ Trung Thượng Sĩ chính là Trần Tung chứ không phải
là Trần Quốc Tảng, nhưng các tác giả này lại thừa nhận bài “Phóng cuồng ca”
(tức “Phóng cuồng ngâm”) là của Trần Quốc Tảng(5). Đa số các tài liệu
và công trình nghiên cứu khác về Trần Tung đều kết luận Tuệ Trung Thượng Sĩ là
Trần Tung, bài “Phóng cuồng ngâm” và các sáng tác khác của ông trong “Tuệ Trung
Thượng Sĩ ngữ lục” cũng là của Trần Tung, như: “Thơ văn Lý Trần” (nhà xuất bản
Khoa học xã hội, 1988, tập 2, quyển thượng), “Từ điển văn học” (nhà xuất bản
Khoa học xã hội, 1984, tập 2), “Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền
Lý - Trần” (của Nguyễn Huệ Chi, Tạp chí Văn học số 4 năm 1977)...(6)
Theo “Thượng Sĩ hành trạng”(7)
của Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung) là con An Sinh Vương Trần
Liễu, anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng
Thái hậu, bác ruột Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, anh rể vua Trần Thánh
Tông. Ông là người có phẩm chất cao sáng, thuần hậu, từ nhỏ đã tỏ ra yêu mến
đạo Phật. Vốn dòng tôn thất nên ngay từ khi còn trẻ ông đã được cử coi giữ đất
Hồng Lộ (thuộc Hải Dương ngày nay). Năm 1251 cha ông là Trần Liễu mất, Thượng
Hoàng Trần Thái Tông cảm nghĩa đã ban cho ông tước Hưng Ninh Vương.
Hưng Ninh Vương Trần Tung là người có
nhiều công lao trong kháng chiến chống Nguyên Mông, lần hồi được phong đến chức
Tiết độ sứ. Theo “Nguyên sử”, trong cuộc xâm lăng nước ta lần thứ hai của quân
Mông Cổ (1285), vào ngày 10 tháng 6, khi Thoát Hoan thất thế bắt đầu rút chạy
khỏi bờ bắc sông Hồng, Hưng Ninh Vương Trần Tung đã cùng Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn đem hai vạn quân đón đánh địch, kịch chiến với tướng giặc Lưu Thế Anh
và truy kích Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần
thứ ba (1287 - 1288), Trần Tung từng nhiều lần làm nhiệm vụ sứ giả, thay mặt
vua Trần, tới lui nơi trại giặc, thương thuyết với chúng, hoặc giả cách cầu
hoà, làm tinh thần chúng mỏi mệt, tạo điều kiện cho quân ta tập kích giành
thắng lợi. Lê Trắc đã phải thừa nhận trong “An Nam chí lược”(8)
như sau:
"Tháng hai năm Mậu tý (1288) thế
tử (Đại Việt) phái người anh con bác ruột là Hưng Ninh Vương Trần Tung nhiều
lần tới ước hẹn việc đầu hàng, cốt làm cho quân ta mỏi mệt, rồi ban đêm cho
quân cảm tử tới cướp doanh trại "...
Rõ ràng các tài liệu trên đã khẳng
định Trần Tung là một tướng lĩnh có tài, một nhà ngoại giao đắc lực của nhà
Trần, có nhiều đóng góp vào chiến thắng Nguyên Mông lần thứ hai và lần thứ ba.
Sau đại thắng Nguyên Mông, Trần Tung được phong làm Tiết độ sứ vùng biển trại
Thái Bình (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay). Không lâu sau, ông bỏ chức tước để
trở về ấp Tịnh Bang (thuộc làng Yên Quảng, huyện Vĩnh Lại) lập ra Dưỡng Chân
trang làm nơi toạ Thiền, tu Phật. Có lẽ việc ông bỏ chức tước đi theo đạo Phật
là nguyên cớ để các sử gia không nhắc tới công lao của ông trong “Đại Việt sử
ký toàn thư”. Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” được hoàn thành chủ yếu vào thế kỷ
15 là thế kỷ độc tôn của Nho giáo. Với thái độ "Bài Phật", các sử gia
đã thể hiện sự chê trách của mình đối với Trần Tung cùng tư tưởng vượt ra ngoài
quỹ đạo nhà Nho của ông, bằng cách không nhắc đến ông trong khi viết sử. Điều
này dễ hiểu, vì ngay cả đối với vua Trần Nhân Tông vào những năm cuối đời bỏ
ngôi báu ra đi cũng bị các sử gia lên án, huống hồ là Trần Tung.
Nho gia ghét bỏ Trần Tung, nhưng Phật
gia lại hết lời ca ngợi ông. Từ vị Tiết độ sứ, Hưng Ninh Vương Trần Tung sớm
trở thành Tuệ Trung Thượng Sĩ, một ngôi sao sáng trên bầu trời thiền Việt Nam.
Tuệ Trung Thượng Sĩ là học trò xuất sắc của Thiền sư Tiêu Diêu. Tiêu Diêu thiền
sư còn gọi là Phúc Đường đại sư, cư trú ở Phúc Đường tinh xá (chưa rõ ở đâu) là
một thiền sư nổi tiếng thời Lý. Ông là đệ tử của Ứng Thuận phái Vô Ngôn Thông,
đồng thời là người thừa kế thiền sư Đại Đăng, tổ thứ ba chùa Hoa Yên núi Yên Tử
(xem “Thuyền Uyển tập anh”)(9). Trần Tung rất mực cung kính, khâm phục
thiền sư Tiêu Diêu:
Tu tri thế hữu nhân trung Phật
Hưu quái lô khai hoả lý liên
(Bài “Trình thiền sư Tiêu Diêu ở
Phúc Đường”)
Nên biết trong đời sinh đức Phật
Lạ chi giữa lửa nở sen vàng
(Đỗ Văn Hỷ
dịch).
Tuệ Trung Thượng Sĩ đã tiếp thu được
mọi nguyên lý sâu xa, vi diệu nhất của Thiền học từ sư phụ Tiêu Diêu, rồi
truyền dạy lại cho Trần Nhân Tông, đệ nhất tổ phái Thiền học Trúc Lâm Yên Tử.
Chính vì thế Tuệ Trung Thượng Sĩ được coi là người tiên phong của phái Thiền
học Trúc Lâm Yên Tử.
Tuệ Trung Thượng Sĩ là một nhà thiền
học có bản lĩnh, có lý trí, không giáo điều sách vở. Ông tu Phật nhưng không
xuất gia, không toạ thiền, không trì giới, không ăn chay, không cầu thành Phật,
không thuyết pháp... mà "hoà quang đồng trần" (cùng thế tục hoà
sáng), sống "hoà lẫn với thói thường chứ không làm ra cách trái hẳn với
người đời", "cứ tuỳ cái tính tự nhiên của mình mà làm chứ không câu
chấp ở cái danh" (Thượng Sĩ hành trạng). Không ăn chay, không trì giới đối
với người tu Phật là thái độ trái với truyền thống giáo điều mà các tín đồ
không thể hiểu nổi. Khi thấy trong khi dự tiệc, Tuệ Trung Thượng Sĩ gặp thịt cứ
ăn, Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu lấy làm lạ, hỏi rằng: "Anh tu
Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?" Câu trả lời của Tuệ Trung
Thượng Sĩ sau đây đã thể hiện rõ tinh thần tự do, độc lập trong nhận thức sự
vật ở chính sự vật chứ không lệ thuộc vào bất cứ tín điều nào:
"Phật tự Phật, huynh tự huynh.
Huynh dã bất yếu tố Phật, Phật dã bất yếu tố huynh. Bất kiến cổ đức đạo:
"Văn Thù tự Văn Thù, giải thoát tự giải thoát?"
(Phật là Phật, anh là anh. Anh không
cầu làm Phật, Phật không cầu làm anh. Chẳng thấy các bậc đại đức xưa nói:
"Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát" đó sao?)(10)
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tuệ
Trung Thượng Sĩ là người đầu tiên đưa ra khái niệm “bản thể”, một khái niệm mà
ngày nay triết học Đông Tây thường nói tới. Bản thể luận (bàn về nguồn gốc sự
vật) là vấn đề ông thường thể hiện trong sáng tác của mình. Theo ông, bản thể
là KHÔNG. Mọi hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội đều là những khái
niệm không phản ánh được thực chất của vạn pháp, chỉ là ước định của người đời
mà thôi. Từ bản thể KHÔNG sẽ xuất hiện ảo hoá, vô minh mà phân thành nhị kiến.
Bởi nhị kiến mà xuất hiện mọi thứ: sinh tử, mê ngộ, phàm thánh, chân vọng, sắc
không, phải trái... Do nhị kiến mà kiến giải cũng thiên lệch. Nếu lấy kiến giải
để trình kiến giải thì lại càng sai lệch hơn:
Kiến giải trình kiến giải
Tự niết mục tác quái.
(Kiến giải)
Kiến giải bày kiến giải
Như dụi mắt làm quái.
Con người muốn nhận thức đúng sự vật
phải xoá bỏ vô minh, mà thủ tiêu nhị kiến thì vô minh tự diệt. Cho nên Tuệ
Trung Thượng Sĩ chủ trương "vong nhị kiến". Để diệt nhị kiến, ông đưa
ra phương pháp phá chấp. Muốn giác ngộ tới chân lý tối hậu phải tự tìm hiểu,
phải có tâm hồn trẻ thơ không thiên không lệch. Khi đã giác ngộ, lại trở về với
tồn nhiên như nhiên, trở về với không (vô). Có người chấp vào kinh sách mà hỏi
ông: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" (Sắc là không, không là
sắc) là thế nào?" Ông trả lời: "Sắc bản vô không, không bản vô
sắc" (Sắc vốn chẳng phải không, không vốn không phải sắc). Theo ông, kinh
điển chỉ là phương tiện mà thôi và ông khuyên mọi người:
Đừng gánh nặng hai vai
Mới qua cầu khỉ được.
Tư tưởng Thiền tông của Tuệ Trung
Thượng Sĩ cũng thể hiện ở mệnh đề "Tức tâm, tức Phật". Tâm, không thể
nói được; Phật, không thể thấy được. Tâm và Phật quan hệ mật thiết với nhau, hễ
có cái này thì cũng có cái kia, hễ cái này mất thì cái kia cũng mất. Bản thể
của Tâm không tướng, không hình, không nhìn thấy được. Nếu muốn biết bộ mặt
thật của Tâm thì thật là chuyện nực cười. Ông khuyên mọi người không nên tìm
Tâm ở ngoài ta, bởi vì Phật trong ta. Đó chính là Tâm ta vậy:
Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm
Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp.
(Phật tâm ca)
Tâm của muôn loài tức Phật tâm
Tâm Phật cũng phù hợp với tâm ta.
Một khi tâm con người bao dung, mở
rộng, chứa được tâm của vạn pháp, đạt được tâm Phật là giác ngộ, là giải thoát.
Sinh tử là vấn đề quan trọng nhất
trong nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông cho rằng sinh tử đều là vọng
(không chân thực), chỉ là nhận thức sai lầm mà thôi. Sinh tử phụ thuộc vào Tâm:
Tâm sinh thì sinh tử sinh, Tâm diệt thì sinh tử diệt. Sinh tử vốn không có tự
tính. Sinh tử cũng tuân theo quy luật tự nhiên như mặt trời mọc đằng đông, mặt
trăng lặn đằng tây vậy. Con người chẳng nên lo lắng trước sống chết, hãy coi
sống chết là việc nhẹ nhàng không quan trọng, vì sống chết là lẽ thường mà
thôi.
Tâm chi sinh hề sinh tử sinh
Tâm chi diệt hề sinh tử diệt
.........
Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.
(Sinh tử nhàn nhi
dĩ)
Tâm sinh thì sống chết sinh
Tâm diệt thì sống chết diệt
.........
Bậc trí có cái nhìn thông đạt xem
sống chết là lẽ thường mà thôi.
Thiền học của Tuệ Trung Thượng Sĩ là
tín ngưỡng nội tâm, luôn luôn tự khai phóng, tự hoàn thiện, hướng con người tới
cuộc sống tốt đẹp ở ngay trần thế. Mặc dù quan điểm Thiền học của ông cũng như
của Thiền tông Việt Nam nói chung là quan điểm duy tâm, nhà Trần vẫn lấy hệ tư
tưởng của Thiền tông làm hệ tư tưỏng chủ đạo của đất nước và đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong lĩnh vực văn hoá và chống ngoại xâm. Vào thời Lý, Phật
giáo Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với ba trường phái Thiền tông cùng tồn
tại. Trong thời kỳ đầu, vừa tiếp nhận chính quyền từ tay nhà Lý, nhà Trần vẫn
phải đề cao Phật giáo để thu phục nhân tâm và tiếp tục phát triển nền văn hoá
mà nhà Lý đã đạt được, đồng thời tiến tới xây dựng một hệ tư tưởng độc lập của
mình. Cùng với Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng rất lớn vào
việc hoà nhập ba phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, dẫn tới sự
phát triển của Thiền phái duy nhất thời Trần là Trúc Lâm Yên Tử vào thế kỷ
XIII. Phật giáo thời Trần được coi là Phật giáo nhất tông.
Quan niệm Thiền và tư tuởng tuỳ nghi
"Vào xứ mình trần cởi áo đi, phải đâu quên lễ, chỉ tuỳ nghi" (bài
“Vật bất năng dung”) và "Hợp thời đúng lúc cốt tinh anh" (bài “Ngẫu
tác”) của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có tinh
thần nhập thế tích cực, nhập thế vì quê hương đất nước, vì đồng loại chứ không
phải vì cá nhân. Theo ông, mọi hoạt động trong cuộc sống hàng ngày đều là thiền
(Hành diệc thiền, toạ diệc thiền). Khi đất nước bị xâm lăng thì đánh giặc cứu
nước là biết tuỳ nghi, là hợp thời đúng lúc, là thiền. Hệ tư tưởng Thiền tông
với vị trí là hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước thời Trần đã góp phần quyết định
làm nên ba lần đại thắng Nguyên Mông của dân tộc ta. Nhờ ảnh hưởng tư tưởng
thiền mà quân dân nhà Trần đã từng chích lên cánh tay hai chữ "Sát
Thát", coi cái chết vì nước vì dân nhẹ như lông hồng, tạo nên sức mạnh
tinh thần Đại Việt, quét sạch giặc xâm lăng ra khỏi bờ cõi.
Là một quý tộc trí thức uyên bác, nhà
thiền học lớn, Tuệ Trung Thượng Sĩ được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi là
sư huynh và ban cho tên hiệu Thượng Sĩ (danh hiệu tương đương như bồ tát;
Thượng Sĩ là người mà mọi hành động đều lợi mình và lợi cả người). Trần Nhân
Tông - Nhà văn hoá lớn, nhà thơ xuất sắc thế kỷ XIII, người sáng lập dòng Thiền
Trúc Lâm Yên Tử đã thừa nhận Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy và đánh giá ông là một
bậc đại trí tuệ, một quả núi lớn trong rừng Thiền:
Pháp hải độc nhãn
Thiền lâm tam giác
(Biển pháp một ngươi
Rừng Thiền ba phía)(11)
Trần Tung - Tuệ Trung Thượng Sĩ còn
là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt sáng giá trong làng thơ thiền Việt Nam
thế kỷ XIII. Những sáng tác chủ yếu của ông được tập hợp trong bộ “Thượng Sĩ
ngữ lục”.
Tính chất phóng khoáng, không quá lệ
thuộc vào bất kỳ một tín điều nào (kể cả tín điều nhà Phật) là đặc điểm chủ yếu
tạo nên bản sắc tư tưởng và chi phối phong cách nghệ thuật thơ của ông. Xuất
phát từ việc đập vỡ thái độ bám víu vào khái niệm, đả phá những vấn đề giả tạo
trong đời sống đạo để ca lên khúc nhạc huyền diệu của muôn đời (Diệu khúc bản
lai tu cử xướng - Bài “Thị chúng” ), Trần Tung đã tạo cho thơ Thiền của mình
một phong cách riêng, phong cách mà các nhà nghiên cứu gọi là “phong cách phóng
cuồng”.
Là một nhà Thiền học nhưng thơ Trần
Tung lại có khí cốt cao ngạo, tung hoành như Trang Tử. Trước cảnh đẹp hùng
tráng của núi sông, vũ trụ, ông chống gậy đi du ngoạn, không quan tâm đến ăn
uống, hoàn toàn tự tại, tiêu dao, thoát tục đến hoá cuồng. Cái cuồng siêu thoát
vì nhận thức bản thể KHÔNG của Thiền tông. Siêu thoát đến cùng cực, siêu thoát
từ trần gian đi vào cõi Thiền (Bài “Phóng cuồng ngâm”). Có lúc thơ ông lại mang
tâm sự ẩn nhẫn của một xử sĩ. Ban đầu ông chưa nghĩ tới thú giang hồ, vì còn
bận với đường công danh. Nhưng rồi thời gian thoi đưa, công danh lận đận, tuổi
đã cao, ông mới nghĩ đến thú giang hồ. Ông theo con thuyền tiêu dao của Tạ Tam,
vượt thác ghềnh, đắm mình với non xanh nước biếc, tiếng sáo chiều hôm, gió mát
trăng thanh, tiếng nhạn báo thu về... Tiêu dao là cuộc sống ẩn sĩ của ông (Bài
“Giang hồ tự thích”). Đôi khi ông lại day dứt khôn nguôi về những chuyện
"thanh trọc", "đắc thất" ở đời. Ông từng cố sức chen chân
trên đường công danh nhưng không đạt sở nguyện. Ông tự đánh giá mình cao hơn
những gì triều đình ban cho ông nên ông bất mãn thế thái nhân tình.
Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào,
Ngũ thất niên gian thị xưởng tào.
Túng dã siêu quần kiêm bạt tuỵ,
Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao.
(Bài “Chiếu
thân”)
Sém đầu dập trán bởi đua chen,
Năm bảy năm nay kiếp ngựa hèn.
Ví phỏng tài năng siêu việt hết,
Mỗi lần rớt xuống, một lần lên.
Trong thế giới huyền bí nhà Phật mà
Trần Tung dấn thân vào, ông vẫn cố gắng suy nghĩ độc lập, kiểm nghiệm mọi tín
điều, mọi hành động, mọi thói quen. Ngay cả việc ngồi thiền ông cũng coi chẳng
qua chỉ là quá trình tập trung tư tưởng, chẳng liên quan đến niệm Phật:
Đường trung đoan toạ tịch vô nghiên
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên
Tự thị quyện thời tâm tự tức
Bất quan nhiếp niệm, bất quan Thiền.
(Bài
“Ngẫu tác”)
Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên
Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên
Lúc mệt mỏi rồi tâm tự tắt
Cần chi niệm Phật với cầu Thiền.
Ông phê phán sự mù quáng tin theo
những giáo lý có sẵn, vì như thế là mình chỉ làm theo người khác chứ đâu còn là
mình nữa. Ông khuyên mọi người hãy độc lập xét đoán sự vật, không nên dựa dẫm
vào người khác. Chỉ khi nào vứt bỏ được thái độ dựa vào người khác và tự mình
tư duy hành động thì ánh sáng trí tuệ mới bừng dậy trong ta.
Báo quân hưu ỷ tha môn hộ
Nhất điểm xuân quang, xứ xứ hoa
(Bài
“Thị học”)
Thôi chớ cửa người nương dựa nữa,
Một tia xuân đến nở hoa đầy.
Là một người cuồng ngông trong vườn
Thiền thời Trần, Trần Tung đã để lại những vần thơ phóng túng đầu tiên trong
lịch sử văn học Việt Nam. Hơn thế nữa, không dừng lại ở những vần thơ phóng
túng, ông còn thể hiện tâm trạng phóng cuồng của mình bằng những bài ca phóng
cuồng như: “Phật tâm ca”, “Phóng cuồng ngâm”, “Trừu thần ngâm”, “Sinh tử nhàn
nhi dĩ”, “Phàm thánh bất dị”... Những bài ca phóng cuồng của ông về đời sống tu
hành thường mang triết lý sâu sắc, cảm xúc tinh tế, hình tượng phong phú và
sinh động, câu thơ giàu âm điệu:
Trời đất liếc trông chừ, sao mênh
mông,
Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài
phương.
Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi,
Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.
Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý,
Mệt thì ngủ chừ, làng không làng.
Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,
Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương.
(Bài “Phóng cuồng ngâm”. Huệ Chi và Đỗ Văn
Hỷ dịch)
Trần Tung là nhà thơ thiền có phong
cách phóng cuồng sôi nổi và dữ dội, độc đáo và hấp dẫn. Thơ thiền của ông chứa
đầy Phật lý và thế tục, mỗi hình tượng thế tục đều gắn với Phật lý và Phật lý
nằm trong hình tượng thế tục. Con người đời thường và con người Phật giáo ở ông
hoà quyện vào nhau. Bằng cách lập luận sắc sảo, sử dụng linh hoạt nhiều hình
tượng độc đáo thể hiện sâu sắc quan điểm Thiền và đậm chất Lão Trang, Trần Tung
đã sáng tạo được những vần thơ đầy hào khí, bay bổng, sinh sắc, lạ thường,
phóng cuồng mà vẫn tỉnh táo, huyền diệu và thoát tục mà không xuất thế.
Là nhân sĩ yêu nước, mỗi khi Tổ quốc
bị giặc xâm lăng, Trần Tung đã đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm
nhất, khi làm sứ giả vào tận sào huyệt của địch đấu trí trên mặt trận ngoại
giao, lúc làm tướng trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Ở cương vị nào ông cũng hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ, lập nhiều công trạng.
Là một nhà thơ thiền, ông để lại số
lượng thơ thiền nhiều nhất đương thời (49 bài thơ, 4 bài kệ, 13 bài tụng),
những bài thơ có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật, thể hiện một phong cách
mà không một nhà thơ nào bắt chước được: Phong cách phóng cuồng.
Là một nhà Thiền học, nhà tư tưởng,
ông có công đóng góp vào việc hình thành hệ tư tưởng thời đại nhà Trần, góp
phần không nhỏ vào chiến thắng Nguyên Mông, viết lên trang sử vẻ vang, hào hùng
và oanh liệt của dân tộc ta.
Nhà quân sự, nhà thơ, nhà Thiền học
Trần Tung - Tuệ Trung Thượng Sĩ cùng những di sản quý giá ông để lại là niềm tự
hào của nhân dân Nam Định và của cả đất nước.
-----------------
Chú
thích:
* Tất cả các đoạn trích thơ của Tuệ
Trung Thượng Sĩ trong bài viết này được lấy trong cuốn Thơ văn Lý Trần / Nguyễn
Huệ Chi chủ biên. - H.: Khoa học xã hội, 1988. - T.2. - Q. thượng. - Tr. 223 -
351, có đối chiếu tham khảo một số sách khác như Thượng Sĩ ngữ lục, sách lưu
tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A1932...
(1) Đại Việt sử ký toàn thư. - H.:
Khoa học xã hội, 1988. - T.2. - Tr.100.
(2) Hoàng Việt văn tuyển / Tồn Am Bùi Huy
Bích. - Sách lưu Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A203, mục tiểu dẫn
về Trần Quốc Tảng viết rằng:
"Trần Ninh vương Quốc Tảng, là
con cả của Hưng Đạo..." ..." Tự đặt hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Thường cưỡi thuyền rong chơi ở khúc Cửu Giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng
ca".
Bùi Huy Bích (1744 - 1802) tự Hy
Chương, hiệu Tồn Am, người xã Định Công, huyện Thanh Trì, trú ở xã Thịnh Liệt
cùng huyện (nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội). Ông đỗ Hoàng giáp
khoa Kỷ sửu 1769 đời Lê Hiển Tông, làm quan đến Hành Tham tụng, tước Kế Liệt
hầu, sau lui về ở ẩn. Ông là một nhà sử học, văn học nổi tiếng, có nhiều tác
phẩm như: Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển, Nghệ An thi tập, Tồn Am
thi văn tập, Châu Phong tạp ký...
(3) - Lược truyện các tác gia Việt
Nam. - H.: Khoa học xã hội, 1972. - T.1. - Mục 40 : Trần Quốc Tảng.
- Hợp tuyển thơ văn Việt Nam: Văn học thế kỷ
X - Thế kỷ XVII. - In lại lần 2 có sửa chữa, bổ sung. - H.: Văn học, 1976. -
T.2. - Tr. 137 - 145.
(4) Tuệ Trung nhân sĩ, thượng sĩ,
thi sĩ / Nguyễn Duy Hinh. - H.: Khoa học xã hội, 1998. - Tr. 38, viết:
"Hoàn toàn có thể có một Yên
Ninh vương khác Yên Sinh vương Trần Liễu, cũng như thực tế có hai ông Liễu, hai
ông Tung, hai bà Thuận Từ..."
(5) Từ điển nhân vật lịch sử Việt
Nam / Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế. - H.: Khoa học xã hội, 1992. - Tr. 884 và
897.
Thuyết nói Phóng cuồng ngâm là của
Trần Quốc Tảng nói chung và ở sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam nói riêng
đã bị nhiều tác giả phê phán, bác bỏ một cách xác đáng và đầy đủ. Căn cứ vào
văn phong của Phóng cuồng ngâm hoàn toàn thống nhất với những bài thơ khác của
Tuệ Trung Thượng Sĩ có thể kết luận: Phóng cuồng ngâm không phải là của Trần
Quốc Tảng, mà là của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.
(6) Ngoài ra còn một số sách khác
cũng có quan điểm Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung, như cuốn Từ điển văn hoá
Việt Nam: Phần nhân vật chí. - H.: Văn hoá - Thông tin, 1993. - Tr. 539, viết:
"Trần Tung (1230 - 1291) có
hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ, con trai của Trần Liễu và là anh ruột của Trần
Hưng Đạo..."
(7) Thơ văn Lý Trần. - H.: Khoa học
xã hội, 1984. - T.2. - Q. thượng. - Tr. 538 - 548.
(8) An Nam chí lược / Lê Trắc.-
Q.4. - Sách lưu Thư viện Viện Hán Nôm.
Lê Trắc (Tắc) tự Cảnh Cao, người ái
Châu (Thanh Hoá) làm quan đến Tịnh hải tả tướng quân và làm Tham mưu cho Chương
Hiến hầu Trần Kiện thời Trần. Khi quân Nguyên xâm lược nước ta, Lê Trắc cùng
Trần Kiện đã phản bội Tổ quốc, ra hàng giặc và theo về Trung Quốc làm quan cho
nhà Nguyên.
Xem thêm:
- Lại một lần nữa buộc tôi nhắc đến
cái tên Lê Tắc và bản sách An Nam chí lược / Huỳnh Thúc Kháng // Tao Đàn. -
1939.- Số 7. - Tr. 670.
- Lại nói về quyển An Nam chí lược
của Lê Tắc / Huỳnh Thúc Kháng // Tao Đàn. - 1939. - Số 6. - Tr. 495.
- Một nhà viết sử hai nước, một
quyển sử nhục nhã: Lê Tắc và quyển An Nam chí lược của y / Trần Thanh Mại //
Tao Đàn. - 1939. - Số 3. - Tr. 203.
- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm / Trần
Văn Giáp. - H.: Văn hoá, 1984. - T.1. - Tr. 340 - 344.
(9) Thuyền uyển tập anh. - Sách lưu
Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv1267 và A3144...
(10) Thơ văn Lý Trần. - Sách đã
dẫn. - Tr. 542.
(11) Thơ văn Lý Trần. - Sách đã
dẫn. - Tr. 544.
- Danh nhân văn hoá Nam Định: Công
trình nghiên cứu cấp tỉnh do Sở Văn hoá - Thông tin thực hiện. - Nam Định: Sở
Văn hoá Thông tin Nam Định, 2000. - T.1. - Tr. 83 - 96
- Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam
Định thế kỷ XX: Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình. - H.: Văn hoá Thông tin, 2005.
Nguồn: Tuyển tập văn học nghệ thuật Nam Định thế
kỷ XX: Nghiên cứu lý luận phê bình. - H.: Văn hóa thông tin, 2004. - Tr, 154 -
165.
HƯNG
ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
I- ĐÔI NÉT
TIỂU SỬ HÀNH TRẠNG TRẦN QUỐC TUẤN
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn quê
tại xã Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định).
Năm
sinh của ông có sách chép là 1228, 1230, 1231…
Ông là con trai thứ ba của Khâm Minh
đại vương Trần Liễu – anh cả của Trần Thái Tông Trần Cảnh, do vậy Trần Quốc
Tuấn gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột. Cho đến nay vẫn không rõ mẹ ông là ai,
có một số giả thiết đó là Thiện Đạo quốc mẫu, huý là Nguyệt, một người trong
tôn thất họ Trần.(1) Sau khi Trần Liễu mất (1251), theo
"Trần triều thế phả hành trạng" thì bà Trần Thị Nguyệt đã xuất gia
làm ni sư, hiệu là Diệu Hương. Ông có người mẹ nuôi đồng thời là cô ruột, Thụy
Bà công chúa.(2)
Năm1257, ông được vua Trần Thái Tông
phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm
lược lần thứ nhất (1258).
Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, ông được
phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước.
Năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn
đứng đội quân xâm lược của Trấn Nam vương Thoát Hoan xâm lược nước ta lần thứ
hai.
Năm 1288, ông chỉ huy quân Trần đánh
bại cuộc xâm lăng nước ta lần thứ ba của quân Nguyên.
Tháng 4 âm lịch năm 1289, ông được gia
phong "Đại vương". Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp, mất năm 1300.
Ông để lại các tác phẩm kinh điển như
Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng
cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến tận ngày nay.
Các đền thờ ông tiêu biểu:
Đền
Kiếp Bạc, Tp.Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đệ Nhất Linh từ.
Đền
Sơn Hải, Bạch Đằng, Quận Hoàn Kiếm,Thành Phố Hà Nội. Sơn Hải Linh Từ.
Đền
Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đền
Trần, xã Khánh Lợi, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Đền
A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đệ Nhị Linh từ.
Đền Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Đền Cao An Phụ, xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương
Đền
Trần Hưng Đạo, xã Khánh Cư, Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Đền
Trần, làng Thổ Khối, xã Hà Dương, huyện Hà Trung, Thanh Hóa.
Đền
Trần Hưng Đạo, làng Thành An, xãNghĩa Phong, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Đình
An Quý, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Đền
Tân Phẩm, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Đền Linh Quang, phường Phú Hiệp, thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên – Huế.
Đền
Trần Thương, tỉnh Hà Nam.
Đền
Thái Vi, hành cung Vũ Lâm, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Đền
thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, ở 36 đường Võ Thị Sáu, quận 1, thành phố Hồ Chí
Minh.
Đền
thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, số 92 Dương Khuê, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú,
thành phố Hồ Chí Minh.
Đình
Tân Phong, thôn Sào Thượng, xã Lạng Phong, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Điện
thờ Đức Thánh Trần, thôn Quang Trung, xã Diên Hông, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương.
Đền
thờ Đức Thánh Trần, thôn Hoàng Sơn, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh
Bình.
Đền
thờ Đức Thánh Trần, ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Đền
thờ Đức Thánh Trần, đường Nguyễn Ái Quốc, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đền
thờ Hồi Nguyên Đường, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đền
thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, thôn Cao Trung, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội.
Di
tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Đền
thờ Trần Hưng Đạo, số 124 đường Nguyễn Trãi, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa.
Đền
thờ Đức Thánh Trần, số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
II- MỘT NHÂN
CÁCH LỚN
Người anh hùng dân tộc, nhà quân sự
thiên tài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trở thành vị Thánh trong tâm thức người
Việt Nam. Nhân dân suy tôn Trần Quốc Tuấn là Thánh vì sự hoàn thiện cả về tài
năng và nhân cách của ông.
1-
Trần Quốc Tuấn luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân và gia đình.
Ý thức trách nhiệm đó đã chi phối mọi hành động và mọi mối quan hệ xã hội trong
cả cuộc đời và sự nghiệp của ông, làm cho nhân cách ông trở nên lớn lao và cao
đẹp.
Cuộc đời của Trần Quốc Tuấn là một tấm
gương sáng về lòng trung quân ái quốc. Chính lòng trung thành đó đã giúp ông xử
sự các mối quan hệ xã hội một cách đúng đắn, luôn vì lợi cho quốc gia, dân tộc.
Trong xã hội phong kiến, chữ “trung” và chữ “hiếu” rất được coi trọng. Trần
Quốc Tuấn đã nêu một tấm gương trong việc giải quyết mối quan hệ giữa trung và
hiếu một cách trọn vẹn, biểu hiện rõ nhân cách lớn của ông – một bài học về đạo
làm con khi quốc gia có đại sự.
Cha Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu bị
Trần Thủ Độ ép nhường vợ đang có mang cho em trai là vua Trần Thái Tông. Trần
Liễu nổi dậy chống lại nhưng bị thất bại. Từ đấy, Trần Liễu mang lòng hậm hực,
tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh
(Trần Liễu) cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng: “Con mà không vì cha lấy
được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Quốc Tuấn
ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.(3)
Sau này Trần Quốc Tuấn đem chuyện đó
hỏi con trai mình là Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng có ý muốn ông cướp ngôi nhà
Trần. Ông nổi giận rút gươm toan xử tội và dặn người nhà rằng: “Sau khi ta chết,
đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.(4)
Lúc vua Trần lâm nguy, khi quân quyền
đất nước nằm trong tay, Trần Quốc Tuấn vẫn một lòng trung thành với vua Trần,
không hề có ý định thực hiện nguyện vọng của cha. Điều đó càng khẳng định nhân
cách cao đẹp dũng cảm hiến dâng quyền lợi cá nhân và gia đình cho dân tộc của
Trần Quốc Tuấn.
Vào thời thịnh trị, các vua Trần có
tài cao đức lớn đã thực sự là những ông vua sáng xứng đáng với niềm tin cậy của
nhân dân. Vì vậy trung với vua cũng là trung với nước. Nhận thức sâu sắc điều
đó, Trần Quốc Tuấn một lòng phò vua cứu nước.
Trong lúc xa giá nhà vua xiêu dạt, Trần
Quốc Tuấn thường dùng cây gậy đầu bịt sắt nhọn để chống khi đi theo vua. Vua và
quần thần thấy Trần Quốc Tuấn là bậc kỳ tài, lại có mối hiềm cũ của Yên Sinh
Vương nên rất lo ngại. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi, chỉ chống
gậy không. Những việc làm như thế đã xua tan mối ngờ vực của mọi người. Ông
được vua Trần tin cậy ban cho đặc quyền nhưng ông không bao giờ lạm dụng những
đặc quyền đó.
Ngô Sĩ Liên có lời bình về việc này
như sau:
“Ban tước cho người là quyền của
Thiên tử, không phải là quyền của kẻ làm tôi”... “Bề tôi nhà Trần mà biết đạo
ấy, phải chăng chỉ có Quốc công Hưng Đạo Đại Vương”.(5)
Điều đó cho thấy Hưng Đạo Vương rất
nghiêm trong giữ gìn kỷ cương phép nước.
2- Trong hoàng tộc,
Trần Quốc Tuấn luôn cẩn trọng xử sự sao cho triều đình đoàn kết một lòng chống
giặc ngoại xâm. Ông chủ động dẹp mối bất hòa với Trần Quang Khải. Mối bất hòa
giữa Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu) và Trần Quang Khải (con vua Trần Thái Tông)
bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa hai chi của họ Trần. Sự hòa hợp giữa Trần Quốc Tuấn
và Trần Quang Khải chính là biểu hiện thống nhất ý chí của vương triều Trần,
góp phần đánh thắng giặc Nguyên hung hãn.
Trần Quốc Tuấn hiểu rằng ông có được
quân dân tin yêu hay không, sự thành bại của cuộc kháng chiến chống Nguyên –
Mông mà ông làm Quốc công tiết chế phụ thuộc rất nhiều vào sự đoàn kết trong
hoàng tộc mà mối quan hệ giữa ông và Trần Quang Khải là tiêu biểu. Đoàn kết
hoàng tộc vì lợi ích quốc gia là yếu tố quan trọng để chiến thắng quân xâm
lược. Vì vậy Trần Quốc Tuấn sẵn sàng từ bỏ cái lợi ích riêng của mình, khi cần
ông dám từ chối ân huệ của vua.
Khi Trần Quang Khải theo Trần Thánh
Tông đi đánh giặc, ghế Tể tướng bỏ không, vừa lúc sứ phương Bắc đến. Thái Tông
phong Trần Quốc Tuấn là Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn chỉ nhận
nhiệm vụ tiếp sứ, còn chức Tư đồ thì ông từ chối vì sợ “tình nghĩa trên dưới e
có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng quan gia và Quang Khải”.(6)
3- Trần Quốc Tuấn
rất quý trọng nhân tài. Ông cưu mang, bồi dưỡng, trọng dụng và tiến cử nhiều
người tài đức cho triều đình nhà Trần như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão,
Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế
Trực... Ông biết nhận xét đánh giá và sử dụng các tướng lĩnh bằng cả tài thao
lược và nhân tâm. Những người này đều vốn là gia thần hoặc môn khách của Trần
Quốc Tuấn. Họ thực sự là những người nổi tiếng về văn chương, quân sự và chính
trị thời bấy giờ.
Quả là Trần Quốc Tuấn chọn tướng thật
tinh tường, thương quân hết mực. Tướng ấy, quân ấy sẽ là đội quân không thể
chiến bại.
4- Trần Quốc Tuấn là
người có ý thức trách nhiệm rõ nét về cuộc đời mình. Chúng ta chưa có đủ tài
liệu để dựng lại toàn bộ cuộc đời riêng, những quan hệ và sinh hoạt cá nhân đời
thường của Trần Quốc Tuấn, nhưng ta vẫn có thể tìm thấy trong chính sử những
dấu ấn về cuộc đời ông trong lĩnh vực này.
Năm 1251, vua Trần Thái Tông “Gả
trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai Yên
Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn”.
“...Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên
Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công
chúa...”
“...Vua bất đắc dĩ phải gả công chúa
Thiên Thành cho Quốc Tuấn”.(7)
Chúng ta biết rằng Đại Việt sử ký
toàn thư được hoàn thành chủ yếu vào thế kỷ XV, thế kỷ mà tư tưởng Nho giáo là
tư tưởng thống trị. Các nhà viết sử với quan điểm Nho giáo đã tỏ thái độ rất
khắt khe đối với các hành động vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo của nhà Nho. Họ
nghiêm khắc phê phán hành động “cướp lấy công chúa” của Trần Quốc Tuấn. Còn ở
thế kỷ XIII, tư tưởng Phật giáo được coi là tư tưởng chính thống, các mối quan
hệ con người với con người chưa bị ràng buộc chặt chẽ, nghiệt ngã của tư tưởng
Nho giáo. Những biểu hiện nhân cách kiểu như Trần Quốc Tuấn chưa bị xóa bỏ hoàn
toàn. Ở thế kỷ này, chúng ta bắt gặp một Trần Ích Tắc sắc sảo nhưng đố kị và
ích kỷ, một Trần Khánh Dư tài giỏi nhưng cũng mang đầu óc vụ lợi cá nhân, một
Trần Tung thiền sư nổi tiếng với phong cách phóng cuồng... Những nhân cách rất
riêng ấy là biểu hiện của yếu tố làm nên bản sắc riêng của từng người, tạo ra
bản sắc thời Trần tỏa sáng hào khí Đông A.
Hành động táo bạo cướp công chúa, bất
chấp lệnh vua, không sợ nguy hiểm, làm một việc đã rồi buộc vua Trần phải chấp
nhận của Trần Quốc Tuấn là biểu hiện sự “nổi loạn” của mối tình không chịu ép
buộc và xếp đặt của người khác, đòi được tự do yêu đương và lựa chọn xây dựng
hạnh phúc lứa đôi, cho thấy thời trai trẻ Trần Quốc Tuấn có tình yêu mãnh liệt
và bột phát.
Nhân cách của Trần Quốc Tuấn luôn được
đề cao trong các tài liệu lịch sử, cũng như trong các tác phẩm văn học. Vào thế
kỷ XV, khi chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh, một học giả uyên thâm là Tiến
sĩ Đặng Minh Khiêm (1456-1522) đã làm thơ ca ngợi như sau:
Sinh phùng gia hấn thệ thấu trung
Mậu kiến Trung hưng đệ nhất công
Một hậu uy do tôi bắc lỗ
Ỷ thiên trường kiếm dạ minh phong.
Dịch:
Quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung
Trung Hưng nghiệp lớn lập nhiều công
Uy còn phá giặc thân tuy thác
Tiếng gió gầm đêm kiếm múa vung(8)
Đến thế kỷ XVII, trong Thiên Nam ngữ
lục (chữ Nôm) cũng hết lời ca ngợi công đức, nhân cách của Trần Quốc Tuấn:
Đền công huyết thực muôn xuân
Sắc Thượng đẳng thần, muôn kiếp khói
hương(9)
Nhiều tác phẩm như Việt điện u linh
của Lý Tế Xuyên, hay Nam hải dị nhân của Phan Kế Bính cũng luôn đề cao nhân
cách của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Tính cách mạnh mẽ đấu tranh cho quyền
tự do, ý thức sâu sắc và hành động đúng đắn về trách nhiệm của bản thân đối với
quốc gia dân tộc thể hiện nhân cách lớn của Trần Quốc Tuấn. Có lẽ ông trở thành
Đức Thánh Trần trong tâm thức dân gian không chỉ vì ông là một tài năng, mà còn
là vì nhân cách cao đẹp của ông.
III- TƯ TƯỞNG “DĨ ĐOẢN, CHẾ TRƯỜNG" –
ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
Vào thế kỷ XIII, trong 30 năm (1258 –
1288) quân dân nhà Trần đã ba lần đại thắng Nguyên Mông, viết lên trang sử vàng
chói lọi của dân tộc. Vì sao và bằng cách nào mà nước Đại Việt nhỏ bé, quân ít,
dân không đông, tiềm lực có hạn lại đánh thắng một đội quân xâm lược khổng lồ,
hùng mạnh và tàn bạo nhất trong lịch sử, có trang bị mạnh, từng chinh phục đại
bộ phận lục địa từ Á sang Âu? Để lý giải triệt để điều này, các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước vẫn tiếp tục phân tích ngày càng rõ ràng hơn. Một trong
những lý giải cho điều đó là Đại Việt đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự “Dĩ
đoản (binh), chế trường (trận)” mà Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần
Quốc Tuấn đã tổng kết.
Năm 1300 Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua
Trần tới thăm và hỏi ông về kế sách giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã đúc kết kinh
nghiệm trong suốt cuộc đời đánh giặc giữ nước của mình một cách súc tích:
- “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua
Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã(10), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu
đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời
Đinh, Lê dùng được người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì
mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá
được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới,
dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.
Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao
vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị
bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản
binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo
đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn,
không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như
đánh cờ vậy, tuỳ thời tạo thế, có được một đội quân một lòng như cha con thì
mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng
sách giữ nước vậy”.(11)
Trần Quốc Tuấn cũng từng dạy: “Phàm
đánh trận thì đánh chỗ tĩnh yếu, lánh chỗ tĩnh mạnh; Đánh chỗ nhọc mệt, lánh
chỗ nhàn rỗi; Đánh chỗ sợ lớn, lánh chỗ sợ nhỏ; Đó là đạo lý từ xưa nay vậy”...
“Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế
mới gọi là thiện chiến”.(12)
Theo tinh thần câu nói trên của Trần
Quốc Tuấn, ta có thể hiểu:
- Đại quân là quân lớn, quân đông,
tức trường trận dùng để đánh những trận lớn.
- Đoản binh là quân nhỏ, quân ít dùng
để đánh tập kích và phục kích.
Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống
Nguyên Mông của quân dân nhà Trần hồi thế kỷ XIII, ta có thể hiểu dĩ đoản chế
trường là dùng lực lượng bộ binh nhỏ bé của Đại Việt để chế ngự kỵ binh hùng
mạnh của quân Nguyên, bằng cách tránh cái mạnh của địch là tác chiến kỵ binh,
công phá thành, đánh trên bộ... đồng thời lợi dụng và khoét sâu cái yếu của
địch như thuỷ chiến, cướp lương, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng trên địa bàn
nhiều sông ngòi lầy thụt mà không phát huy được thế mạnh để tiêu diệt chúng.
Tóm
lại, thực chất của tư tưởng quân sự dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn là
dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng trang bị kém đánh
đối phương có trang bị mạnh, phát huy mặt mạnh của ta, hạn chế mặt mạnh của
địch để đánh thắng chúng.
Tư tưởng chỉ đạo tác chiến dĩ đoản
chế trường được thực hiện trong suốt lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và
là một biểu hiện độc đáo của trường phái quân sự Việt Nam.
Nước ta đất không rộng, người không
đông, tiềm lực dựng nước và giữ nước hạn chế, lại luôn luôn phải đối phó với sự
xâm lăng của quốc gia phong kiến phương Bắc lớn mạnh hơn hẳn. Muốn đứng vững, tồn tại và phát triển với tư
cách là một nước độc lập tự chủ, không bị đồng hoá, không bị thôn tính và biến
thành nước chư hầu của phong kiến phương Bắc, cộng đồng người Đại Việt phải
đoàn kết chặt chẽ, lựa chọn kế sách, tìm ra nghệ thuật giành thắng lợi trước kẻ
thù mạnh hơn gấp nhiều lần. Dĩ đoản chế trường là một sáng tạo trong nghệ thuật
quân sự Việt Nam được hình thành từ thời Đinh, Lý đến thời Trần, được Trần Quốc
Tuấn tổng kết, khái quát, vận dụng và phát triển với chất lượng mới. Thực tiễn
ba lần đại thắng Nguyên Mông là một điển hình cho sự vận dụng sáng tạo, hiệu
quả tư tưởng dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn.
Trần Quốc Tuấn đã chỉ rõ, muốn đánh
thắng giặc Nguyên, phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, phải đề cao
tinh thần cố kết dân tộc, quân với dân một ý chí, tướng sĩ như cha con, toàn
dân đánh giặc. Để thực hiện được tư tưởng dĩ đoản chế trường, lấy ít đánh
nhiều, đòi hỏi quân đội phải tinh nhuệ, thiện chiến. Trong việc xây dựng quân
đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng chất lượng hơn số lượng. Ông từng nói: “Quân sĩ
quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên
thì cũng làm được gì?”(13)
Chính Trần Quốc Tuấn đã rèn luyện
tướng sĩ theo nguyên tắc “quân quý tinh bất quý đa”, nhờ vậy mà quân Trần đánh
thắng quân Nguyên dù chúng đông hơn gấp nhiều lần. Trần Quốc Tuấn từng soạn
Binh thư yếu lược và sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ,
đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư để truyền dạy binh pháp và luyện tập
tướng sĩ.(14)
Trước số lượng đông của đội quân xâm
lược, Trần Quốc Tuấn không hề dao động. Ông chỉ rõ vai trò của người làm tướng
và binh lính tinh nhuệ trong chiến đấu: “Kể ra, tướng là chí, ba quân là khí.
Khí dễ động mà khó chế. Do tướng chế mà trấn tĩnh thì sợ hãi có thể định, phản
trắc có thể yên, trăm vạn quân có thể tiêu diệt được. Chí ngay thẳng mà mưu có
một, khí phấn khởi mà dũng gấp đôi thì thắng”.(15)
Rõ ràng, trong việc xây dựng quân
đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng yếu tố tinh thần, quân tinh nhuệ phải là đội quân
có lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc sâu sắc, phải biết biến lòng yêu
nước thành hành động thiết thực. Ông đọc Hịch tướng sĩ kêu gọi mọi người “huấn
luyện binh sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người như Bàng Mông, nhà nhà
đều là Hậu Nghệ; Có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam
Vương ở Cảo Nhai”. Ông chỉ rõ lợi ích thiết thực của việc đánh giặc giữ nước,
lên án những kẻ “lo làm giàu mà quên việc nước”. Ông đòi hỏi quân sĩ phải đặt
lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Ông nêu một tấm gương sáng về lòng
trung thành với dân với nước, dẹp hiềm khích gia đình để chiến thắng quân xâm
lược. Quân sĩ nhà Trần đã thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” thể hiện quyết
tâm không đội trời chung với giặc Nguyên.
Trong nghệ thuật dĩ đoản chế trường
của Trần Quốc Tuấn, vấn đề nổi bật là tránh cái mạnh của địch, lấy cái mạnh của
ta để đánh cái yếu của địch.
Quân Nguyên Mông vốn quen với yên
ngựa, cung tên từ khi năm, sáu tuổi, rất giỏi chiến đấu bằng kỵ binh, cơ động
nhanh, mạnh về tiến công phá thành luỹ. Đội quân kỵ binh Nguyên Mông đã từng
làm mưa làm gió từ Á sang Âu mà không hề thất bại. Ba lần xâm lược Đại Việt,
nhất là lần thứ hai và ba, chúng dùng đội quân viễn chinh thiện chiến đông gấp
nhiều lần quân Trần. Đó là cái mạnh cơ bản của địch. Nhưng vào đất Việt, chúng
gặp phải những khó khăn không dễ gì khắc phục được như đường xa mỏi mệt, vận
chuyển lương khó khăn, thuỷ binh yếu kém, gặp địa hình núi sông ngang dọc nên
kỵ binh không thể phát huy ưu thế như tác chiến trên thảo nguyên đồng cỏ. Đó là
chỗ yếu cơ bản của địch.
Quân
ta có đội tượng binh nhưng cơ động chậm, khó thắng được kỵ binh địch, ta phải
dùng bộ binh đánh kỵ binh. Quân ta thông thạo địa hình, quen tác chiến trên
sông và vùng ven biển, thuỷ quân của ta mạnh hơn thuỷ quân địch, huy động toàn
dân đánh giặc với tinh thần cố kết dân tộc cao độ.
Tháng 12 – 1257 quân Trần đánh chặn
quân Nguyên ở Bình Lệ. Mặc dù có đội tượng binh chiến đấu ngoan cường và đích
thân vua Trần chỉ huy, nhưng không thắng nổi kỵ binh thiện chiến của giặc, quân
Trần phải làm vườn không nhà trống, bỏ kinh thành Thăng Long, rút về vùng Thiên
Mạc. Khi quân Nguyên lâm vào cảnh thiếu lương ăn, mất đi cái nhuệ khí ban đầu
thì quân Trần phản công, thắng lớn trận Đông Bộ Đầu, đánh tan cuộc xâm lược Đại
Việt lần thứ nhất của quân Nguyên.
Tư tưởng lấy nhàn chờ nhọc, dĩ đoản
chế trường của Trần Quốc Tuấn hẳn đã manh nha và hình thành từ cuộc kháng chiến
chống Nguyên lần thứ nhất, để rồi được bổ sung và hoàn chỉnh trong lần kháng
chiến sau, khi Trần Quốc Tuấn đã toàn quyền chỉ huy quân đội.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên
Mông lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn tổ chức phòng ngự có chiều sâu nhằm tiêu hao
sinh lực địch và không để chúng đánh vu hồi, nếu có thể thì chặn đứng giặc tại
biên giới. Đích thân Trần Quốc Tuấn chỉ huy đánh thắng trận đầu ở ải Nội Bàng,
nhưng thế giặc hung hãn buộc quân ta phải lui về phòng tuyến Vạn Kiếp, Bình
Than, Phả Lại. Tháng 2 – 1285 quân Nguyên tăng cường đội chiến thuyền lớn, tấn
công quyết liệt. Quân ta chặn đánh gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng kéo dài
tình trạng này sẽ không có lợi cho ta. Trần Quốc Tuấn quyết định thực hiện kế
“thanh dã” rút khỏi Thăng Long, lui quân về vùng Thiên Trường để bảo toàn lực
lượng, chờ thời cơ phản công. Giặc chiếm được kinh thành rỗng không. Trần Quốc
Tuấn đem 1000 chiến thuyền trở lại Vạn Kiếp đánh vào sau lưng địch, làm cho
Thoát Hoan phải kinh hoàng vì “bị treo lơ lửng ở giữa”.(16)
Như vậy, từ phòng ngự chiến lược
không thực hiện được, mau lẹ chuyển sang rút lui chiến lược một cách tài tình,
Trần Quốc Tuấn đã thực hiện được điều ông suy nghĩ: “Vì là biết khó mà lui,
lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến mà mất
vậy”.(17)
Tư tưởng này được thể hiện rõ rệt
trong cuộc thoát hiểm tài tình vào tháng 3 – 1285, khi Trần Kiệm đầu hàng giặc
ở Thanh Hoá, bỏ ngỏ phía Nam, làm cho quân Trần lâm vào tình thế hết sức nguy
cấp là nằm giữa hai gọng kìm của địch. Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống Thiên
Trường, Toa Đô từ phía nam tiến công Trường Yên. Quân ta bí mật rút lui qua cửa
bể Giao Hải ra biển, làm cho giặc chưng hửng vì mất mục tiêu, không thi thố
được sở trường và nhanh chóng rơi vào tình trạng quẫn bách vì thiếu lương ăn,
vì ốm đau do không quen khí hậu.
Chỉ trong một tháng (từ cuối tháng 5 đến cuối
tháng 6 - 1285) quân ta phản công thắng lớn trong các trận A Lỗ, Giáng Khẩu,
Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng Thăng Long, truy kích địch ra khỏi
biển giới.
Tránh cái mạnh của địch, dùng cái mạnh
của ta để đánh cái yếu của địch, buộc địch phải bị động theo ý định tác chiến
của ta, nắm thời cơ khi địch quẫn bách để phản công giành toàn thắng. Đó là
biểu hiện sáng tạo tư tưởng dĩ đoản, chế trường mà Trần Quốc Tuấn đã vận dụng
trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai. Tư tưởng này đã được Trần
Quốc Tuấn đưa tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự đương thời.
Năm 1288 quân Nguyên xâm lược Đại
Việt lần thứ ba với 50 vạn quân, ngoài bộ binh và kỵ binh còn có 500 chiến
thuyền và một đoàn thuyền chở 70 vạn thạch lương. Trần Quốc Tuấn tự tin nhận
định: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Lần kháng chiến này Trần Quốc Tuấn tổ chức trận
địa phòng ngự tiêu hao địch nhưng đều để chúng đi qua, chủ động dụ chúng vào
vòng vây thế trận của ta. Tháng 1 – 1288 Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền
lương của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, thọc một mũi dao vào tử huyệt của giặc, làm
chúng không thể kéo dài cuộc chiến. Giặc vào Thăng Long nôn nóng tiêu diệt đối
phương nhưng không tìm thấy dấu vết quân Trần, chúng buộc phải lui về Vạn Kiếp
và tính kế rút quân. Từ thế chủ động tiến công, giặc lâm vào thế bị động lui
quân và rơi vào trận địa quân Trần chờ sẵn. Quân thuỷ của giặc bị ta phá tan
trong trận Bạch Đằng. Quân bộ của Thoát Hoan bị quân Trần cùng dân binh truy
kích đánh cho tơi tả trên đường rút lui ra biên giới.
Với cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Trần
Quốc Tuấn đã chứng tỏ là một vị tướng lĩnh tài ba. Tư tưởng dĩ đoản chế trường
mà ông có công tổng kết không chỉ là những tri thức quân sự thuần tuý, mà nó
được bảo đảm chắc thắng dựa trên lĩnh vực chính trị “dân là gốc”, “toàn quốc
đánh giặc”, “anh em hoà mục”, “tướng sĩ như cha con”.
Tránh cái thế “hăng hái lúc ban mai”
của địch, làm cho đội kỵ binh địch bị dàn mỏng trên địa hình sông ngòi chật
hẹp, lầy thụt mà không phát huy được tác dụng; Dùng kế “thanh dã”, triệt lương
của giặc, đẩy chúng vào cái thế “tàn lụi lúc buổi chiều”; Lợi dụng sở đoản,
kiềm chế sở trường của địch; Phát huy sở trường của ta là quen đánh giặc ở vùng
sông nước và ven biển, buộc địch phải bị động tác chiến theo ý đồ của ta. Đó là
nguyên tắc nghệ thuật quân sự, phép dùng binh của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo
Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Cả hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông mà Trần Quốc
Tuấn nắm toàn quyền chỉ huy quân đội, ông đều lợi dụng được địa hình, khí hậu,
thuỷ văn có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Hai cuộc rút lui chiến lược của quân
Trần đều theo đường thuỷ làm cho kỵ binh địch trở nên bất lực. Các trận thắng
quyết định của quân Trần thường là thuỷ chiến, ở vùng sông nước mà đỉnh cao là
trận Bạch Đằng lịch sử.
Tư tưởng “dĩ đoản (binh), chế trường
(trận)” được Nguyễn Trãi phát triển trong kháng chiến chống Minh thắng lợi.
Nhân dân ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự dĩ đoản, chế trường, phát
triển chiến tranh du kích kết hợp với quân chủ lực, tiến hành cuộc kháng chiến
toàn dân, toàn diện, nâng tư tưởng quân sự này tới đỉnh cao mới trong kháng
chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Nghệ thuật dĩ đoản, chế trường là một
sáng tạo sâu sắc của dân tộc ta dùng chống lại kẻ thù đông và trang bị mạnh hơn
hẳn mà Trần Quốc Tuấn có công khái quát, tổng kết với chất lượng mới trong ba
lần kháng chiến chống Nguyên Mông toàn thắng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
….………….
Chú
thích:
(1) "Trần triều thế phả hành trạng", tr.542,
543.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2) tr. 21 và 77.
(3), (4) Đại Việt sử ký toàn thư. - H.: Khoa học xã
hội, 1998. – T.2. – Tr. 79-80.
(5), (6), (7) Sđd. – Tr. 10.
(8) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. – H.: Văn hóa, 1958. –
Tr. 81.
(9) Tổng tập văn học Việt Nam. – Khoa học xã hội,
1997. – T.7. – Tr. 904.
(10) Thanh dã: Làm vườn không nhà trống, khiến quân
xâm lược tới không có một nguồn hậu cần tại chỗ nào.
(11) Đại Việt sử ký toàn thư. – BK5. – T9a
(12) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970.
(13) Đại Việt sử ký toàn thư. BK 5. T51b
(13) Đại Việt sử ký toàn thư. BK5. T14a
(15) Binh thư yếu lược. H.: Khoa học xã hội, 1970.
Tr.56
(16) Nguyên sử. – Q.13. – T.8b
(17) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970. –
Tr. 385
* Phần II bài viết đã in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa
học Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định. -
H.: Quân đội nhân dân, 2000. - Tr. 209 - 214.
* Phần III bài viết đăng tạp chí Văn hoá Nam Định. –
2004. – Số 3. – Tr. 45 – 48 và trong Khoa học công nghệ Nam Định. – 2005. – Số
1. – Tr. 16.
TRẦN NGUYÊN ĐÁN
1 - Trần
Nguyên Đán sinh năm 1325, mất năm 1390, hiệu Băng Hồ tử (chàng trai có tấm lòng
trắng trong như tuyết), quê hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc,
phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Thân phụ ông là Uy Túc
công Trần Văn Bích giữ chức Nhập nội Thái bảo, từng giúp Văn miếu gây nên
nghiệp thái bình. Tổ là Văn Túc vương Trần Đạo Tái, 14 tuổi đã đỗ Bảng nhãn. Tổ
bốn đời là Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, con thứ
vua Trần Thái Tông.
Vốn
dòng tôn thất, lại thông minh đức độ nên Trần Nguyên Đán được bổ làm quan từ
khi còn trẻ tuổi. Ông hăng hái mong được đem hết sức mình phục vụ đất nước, đáp
đền ơn vua, sẵn sàng xông vào nơi nguy hiểm. Trong bài “Canh Tân Bình an phủ
Phạm công Sư Mạnh “Tân Bình thư sự” vận” (Họa vần bài thơ “Tân Bình thư sự” của
quan An phủ sứ trấn Tân Bình Phạm Sư Mạnh) của ông có đoạn:
Chí sĩ ninh từ đạo hải nguy
Cao ca tràng khiếu nhậm thiên nghê
Sương soa, thử lạp thù minh chúa
Hổ lạc xà khu uý viễn lê.
(Người chí sĩ đâu chịu chối từ cái nguy vượt biển
Cất cao tiếng hát với tất cả lòng mình
Mang tơi sương, đội nón nắng đền đáp minh chúa
Vào hang hùm, tới ổ rắn an ủi dân xa)
Dưới
triều Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Trần Nguyên Đán làm quan Ngự sử Đại phu,
chuyên lo việc khuyến cáo, can gián những lỗi lầm của vua và đàn hặc các quan
phạm tội. Bấy giờ vua không chăm lo việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không coi
trọng phép nước, Trần Nguyên Đán nhiều lần can gián nhưng vua không nghe. Sau
khi Trần Dụ Tông mất, Hiến từ Hoàng Thái hậu cho Dương Nhật Lễ lên làm vua.
Dương Nhật Lễ là kẻ hoang dâm vô độ, tính tình tàn ác nên việc nước càng trở
nên tồi tệ. Trần Nguyên Đán lại dâng thư trình bày chính sự nhưng vẫn không
được vua đếm xỉa đến. Sau này, Hồ Nguyên Trừng đã viết trong Nam Ông mộng lục
về Trần Nguyên Đán như sau:
“Vào
năm Chí Chính nhà Nguyên (1341 - 1367) ở Giao Chỉ (tức Việt Nam) có Trần Nguyên
Đán đứng đầu hàng tông thất nhà Trần, giúp vua Dụ Tông ở chức Đại phu Ngự sử.
Vua không chăm việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không tôn trọng phép tắc,
Nguyên Đán nhiều phen can gián nhà vua không nghe, đến khi vua Dụ Tông mất,
cháu kế ngôi là người mê nuội. Bấy giờ việc nước càng tệ, Nguyên Đán dâng thư
trình bày không được vua hỏi đến, ông bèn xin cáo lỗi mà đi...”
Năm
1370 Trần Nguyên Đán từ chức, bỏ đi giúp Cung Định Đại vương Trần Phủ (tức vua
Trần Nghệ Tông) tập hợp lực lượng, dẹp được loạn Dương Nhật Lễ. Do có nhiều
công lao với nhà Trần, nhất là đã giúp Trần Nghệ Tông lên ngôi Hoàng đế, khôi
phục nhà Trần, ổn định chính sự, nên năm 1371 Trần Nguyên Đán được phong chức
Tư đồ phụ chính. Ông ở ngôi Tể tướng lâu năm. Đến thời Trần Duệ Tông (1374 -
1377) ông được ban tước Chương Túc Quốc Thượng hầu, lại được giao thêm trọng
trách trông coi việc quân ở trấn Quảng Oai.
Trần
Nguyên Đán là viên quan trụ cột của vương triều Trần hồi cuối thế kỷ 14. Khi
xuất thế, Trần Nguyên Đán đem hết sức lực và tài năng phò vua, giúp nước.
Nguyễn Trãi đã viết về ông trong Ức Trai di tập như sau:
“Vững
tay lái trong cơn sóng gió, chống nhà siêu giữa lúc phong ba. Chỉ trong ít năm
mà trong nước bình trị. Người trong nước đều khen là hiền tướng, từ đứa trẻ thơ
đến người lính tốt cũng đều biết tiếng”.
Không
chỉ là vị quan tài năng, hết lòng với dân với nước, mà Trần Nguyên Đán còn nổi
tiếng là người có tấm lòng bao dung nhân hậu hiếm có. Trong dân gian còn lưu
truyền, sử sách còn ghi câu chuyện về thái độ của Trần Nguyên Đán đối với hiền
sĩ.
Chuyện
kể rằng, Nguyễn Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh) là một thanh niên nổi tiếng hay
chữ, giỏi văn thơ nên dù xuất thân từ tầng lớp nhà nghèo vẫn được Trần Nguyên
Đán mời về dạy con gái mình là Trần Thị Thái. Chẳng bao lâu đôi trai tài gái
sắc cảm mến nhau, tình duyên nảy nở, kết quả là bà Trần Thị Thái mang thai. Đến
ngày bà Trần Thị Thái sinh nở, Nguyễn Ứng Long sợ bị trọng tội liền bỏ trốn.
Biết chuyện, Trần Nguyên Đán liền sai người đi tìm Nguyễn Ứng Long trở về.
Nguyễn Ứng Long sợ hãi vào gặp quan Tư đồ, trong lòng cầm chắc cái chết. Không
ngờ Trần Nguyên Đán không hề bắt tội mà lại ôn tồn bảo:
“Người
xưa có việc như thế, chẳng thấy Văn Quân và Tương Như(1) đấy ư? Hay được
như Tương Như, danh truyền đời sau, đấy là sở nguyện của ta”.
Cảm
động trước đức độ của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Ứng Long chăm chỉ học tập, đến
năm 1374 đời Trần Duệ Tông thì thi đỗ Thái học sinh. Sau này Nguyễn Ứng Long ra
làm quan cho nhà Hồ tới chức Đại lý Tự khanh. Vợ chồng Nguyễn Ứng Long và Trần
Thị Thái đã sinh ra Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi cũng đỗ Thái học sinh, trở thành
một vĩ nhân, một anh hùng dân tộc mà tên tuổi ông gắn liền với Lê Lợi trong
mười năm kháng chiến chống giặc Minh.
Nếu
không có tấm lòng bao dung nhân hậu của Trần Nguyên Đán, có lẽ dân tộc Việt Nam
sẽ không có nhà văn hoá lớn, thi sĩ thiên tài, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi,
tác giả Bình Ngô đại cáo nổi tiếng.
Trần
Nguyên Đán làm quan vào thời kỳ nhà Trần suy yếu. Hồ Quý Ly ngày càng thâu tóm
quyền bính và lũng đoạn triều đình. Tiên đoán trước nguy cơ nhà Trần sẽ mất về
tay Hồ Quý Ly, ông luôn ý thức nhắc nhở bạn bè về nghĩa vụ làm tôi. Bản thân
bất lực trước thời thế, cuối cùng ông kết thông gia với Hồ Quý Ly mong đảm bảo
sự yên ổn cho con cháu về sau.
2 - Trần Nguyên Đán lui về ẩn dật,
song thâm tâm ông vẫn không nguôi nỗi lo cho nước cho dân. Bài thơ gửi bạn đồng
liêu trong đài quan của ông khi đã về hưu thể hiện rõ nỗi lo ấy:
Đài quan nhất khứ tiện thiên nhi
Hồi thủ thương tâm sự sự vi
Cửu mạch trần ai nhân dị lão
Ngũ hồ phong vũ khách tư quy
Nho phong bất chấn hồi vô lực
Quốc thế như huyền khứ diệc phi
Kim cổ hưng vong chân khả giám
Chư công là nhẫn gián thư hy.
(Đứng đầu hàng quan gián nghị một khi đi liền ra tận
chân trời
Ngoảnh lại lòng đau vì mọi việc đều sai lầm cả
Người ta trong bụi trần trăm năm dễ già cỗi
Cho nên bạn nghĩ về cảnh mưa gió năm hồ theo gót Phạm
Lãi
Tinh
thần Nho học không chấn hưng quay lại đã hết sức
Thế nước treo sợi tóc, bỏ đi thực không phải
Xưa nay suy thịnh thật có thể soi xem
Các ông sao nhẫn tâm ít lời can gián.)
Ngụ
ý chê việc Trần Nghệ Tông “không biết chọn mặt gửi vàng”, đem con là Trần Thuận
Tông giao phó cho Hồ Quý Ly, chẳng khác nào đem trứng cho ác, Trần Nguyên Đán
viết bài Thập cầm (Mười giống chim) khuyên vua hãy cảnh giác với “con quạ già
hiểm độc” (chỉ Hồ Quý Ly). Trong bài thơ có câu:
Nhân ngôn ký gửi dữ lão nha
Bất thức lão nha liên ái phầu
(Gửi con cho lão quạ già
Biết là lão quạ thương là mấy thương)
Tiếc
là lời cảnh tỉnh của Trần Nguyên Đán đã không được vua Trần đếm xỉa đến, để rồi
kết cục nhà Trần mất về tay Hồ Quý Ly, đúng như tiên đoán của Trần Nguyên Đán.
Trước
sự suy vong của triều Trần, khi làm quan cũng như khi về ẩn dật, Trần Nguyên
Đán luôn day dứt về nỗi bất lực của mình:
Tam phần đầu bạch thốn tâm đan
Thế thượng phân phân vạn sự nan
(Ba phần tóc trên đầu đã bạc, vẫn tấc lòng son
Sự đời bối rối, muôn việc khó khăn).
Bài
“Mậu thân chính nguyệt tác” (Thơ làm tháng Giêng năm Mậu Thân).
Có
lúc ông lại nghĩ rằng khoẻ mạnh mà không giúp được việc nước thì thà cứ bệnh
còn đỡ day dứt hơn:
Mục tiền tận thị quân tâm sự
Bệnh dũ bất như do bệnh thì
(Trước mắt đều là những việc phải lo lắng
Khỏi bệnh không bằng đang bị bệnh.)
Năm
1385, thấy rõ “vận nước sắp hết”, Trần Nguyên Đán xin về trí sĩ ở Côn Sơn. Ông
vẫn không nguôi băn khoăn về việc xuất xử của mình, vẫn canh cánh bên lòng nỗi
ưu thời mẫn thế, vẫn đau đáu tâm sự ưu tư vì nước vì dân. Nhiều khi ông hy vọng
vào một kỳ thi chọn được những người trẻ tuổi tài năng... Ông nhắn gửi các quan
trường về việc thi chọn nhân tài:
Ngọc thạch tối nghi khu biện biệt
Loan kê nhẫn sử tính phi tường
Đắc hiền Đổng Tử lưng viêm Hán
Truất thực Lưu Phần nhược vãn Đường
Thiên chiếu đinh ninh dung bác thủ
Yếu tiên trung đảng, hậu từ chương.
(Ngọc hay đá phải phân biệt cho rõ
Đừng để phượng với gà phải bay chung với nhau
Được người hiền tài như Đổng Tử làm hưng thịnh nhà Hán
Truất
người trung thực như Lưu Phần làm suy yếu nhà Đường
Chiếu vua cặn kẽ cho phép lấy rộng
Trước phải xem phần trung chính sau hãy xét đến văn
chương)
Với
quan điểm chọn nhân tài như vậy, Trần Nguyên Đán đã hết sức vui mừng khi Chu
Văn An, một nhà giáo nổi tiếng tài đức, người từng dâng “Thất trảm sớ” lên vua
Trần, được giao chức Quốc Tử Giám tư nghiệp. Trong bài “Hạ Tiều ẩn Chu tiên
sinh bái Quốc tử Tư nghiệp” (Mừng ông Chu Tiều Ẩn được bổ chức Tư nghiệp ở Quốc
Tử giám) của ông có câu:
Học hải hồi lan tục tái thuần
Thượng tường Sơn, Đẩu đắc tư nhân
Cùng kinh bác sử công phu đại
Kính Lão, sùng Nho chính hoá tân.
(Xoay
làn sóng biển học làm cho phong tục lại được thuần hậu
Nhà
trường đã được bậc đạo đức như Thái Sơn, Bắc Đẩu đến dạy
Đọc hết kinh, xem rộng sử, công phu rất lớn
Kính đạo Lão, sùng Nho học, chính sự và giáo hoá được
đổi mới)
Rõ
ràng cái học của Trần Nguyên Đán là cái học thực tiễn, luôn vì nước mà lo cho
vận nước, vừa sùng mộ Nho giáo, vừa coi trọng cái học của Đạo gia. Nho phong mà
Trần Nguyên Đán muốn chấn hưng là thứ Nho học tâm linh khai phóng, chứ không
phải thứ Nho học của bọn “Bạch diện thư sinh” lệ Tống nho, hình thức, giáo
điều.
Thơ
Trần Nguyên Đán là tiếng lòng của một người yêu nước thương dân. Ông thông cảm
với nỗi khổ của dân, đau cùng cái đau mất mùa của dân. Trước cái đau của dân,
ông cảm thấy mình có lỗi:
Niên lai hạ hạn hựu thu lâm
Hoà cảo miêu thương hại chuyển thâm
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ
Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
Bài “Nhâm dần niên lục nguyệt tác”
(Năm nay hạ hạn lại thu mưa
Đau nỗi mùa màng những thiệt thua
Ba vạn sách dày đành xếp xó
Yêu dân còn nợ, mái đầu phơ)
Trần
Nguyên Đán dùng thơ chủ yếu để dãi bày tâm sự, thể hiện lòng yêu nước thương
dân, tâm trạng lo đời, thương mình trước hiện thực vận nước sắp hết. Những bài
thơ về chủ đề này như “Đề Huyền Thiên quán”, “Sơn trung túc sự”, “Dạ quy chu
trung tác”, “Bất mị”... là những bài hay nhất của ông.
Về
nghệ thuật, thơ Trần Nguyên Đán tha thiết, gợi cảm, đằm thắm, phong cách tự
trào, hình tượng gợi tả, hình ảnh đối lập mạnh mẽ đã làm nên sự thành công của
thơ ông. Chẳng hạn bài “Phụng canh Thái Thượng hoàng ngự chế đề Thiên Trường
phủ Trùng Quang cung” (Họa bài thơ của Thái Thượng hoàng đề ở cung Trùng Quang,
phủ Thiên Trường) là một ví dụ:
Trường không thu hạo Hoàng giang nguyệt
Phương thảo xuân hồi Lục Phố phong
Thanh hạ mỗi tồn tông xã niệm
Liệu tri mộng mị đáo Thăng Long.
(Mênh mông trời thu bóng trăng Hoàng giang
Hương cỏ xuân về thoảng gió Lục phố
Trong
nhàn nhã Thượng hoàng vẫn nghĩ đến việc nước
Chắc
trong giấc ngủ vẫn mộng thấy mình đến Thăng Long).
Bài
Đề Huyền Thiên quán cũng là một bài hay:
Bạch
nhật thăng thiên dị
Trí quân Nghiêu Thuấn nan
Trần ai lục thập tải
Hồi thủ quí hoàng quan.
(Ban ngày bay lên trời còn dễ
Giúp vua để vua được như Nghiêu, Thuấn mới khó
Sáu mươi năm sống trong cõi trần
Ngoảnh lại luống thẹn với người đội mũ vàng).
Trần Nguyên Đán còn là một nhà khoa học. Sinh
thời ông rất chú trọng việc nghiên cứu khoa học phục vụ thực tiễn. Ông đi sâu
nghiên cứu thiên văn học, khí tượng học Việt Nam. Tác phẩm Bách thế thông kỷ
(còn gọi là Bách thế thông khảo hoặc Bách thế thông kỷ thư) của ông là một bộ
lịch pháp rất giá trị, khảo cứu về năm tháng, nhật thực, nguyệt thực, thời
tiết, vị trí các ngôi sao... từ trước công nguyên tới thế kỷ 15. Với tác phẩm
này, ông được coi là một nhà khoa học Việt Nam cuối thời Trần. Hồ Nguyên Trừng
trong Nam Ông mộng lục có đoạn đánh giá về ông như sau:
“Ông
thông hiểu lịch pháp, thường xem sách thông kỷ trăm đời, ngược lên khảo đến
Giáp Thìn vua Nghiêu, vua Thuấn xuống đến nhà Tống, nhà Nguyên, vạch ra vận
hành tiền độ của mặt trăng, mặt trời giao dung (che lấp lẫn nhau) so với thời
xưa rất phù hợp...”
Sáng
tác chủ yếu của Trần Nguyên Đán là hai tác phẩm “Bách thế thông kỷ” và “Băng Hồ
ngọc hác tập”. Rất tiếc cả hai tác phẩm này đã thất lạc đến nay chưa tìm thấy.
Hiện chỉ tìm thấy 51 bài thơ của ông chép trong các sách Việt âm thi tập, Toàn
Việt thi lục, Trích Diễm thi tập, Tinh tuyển gia luật thi... Dù vậy, với công
lao to lớn đóng góp cho lịch sử dân tộc và tư tưởng yêu nước thương dân tiến bộ
thể hiện trong những sáng tác văn thơ của mình, Trần Nguyên Đán xứng đáng là
một danh nhân văn hoá, một tác gia Hán - Nôm tiêu biểu cuối thời Trần.
……………..
Chú
thích :
(*) Tương Như: Tư Mã Tương Như (179 – 118
trước Công nguyên) tự Trường Khanh, người Thành Đô nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên
(Trung Quốc) là nhà viết phú tiêu biểu đời Hán. Ông nổi tiếng là người tài hoa.
Tiếng đàn của ông đã lôi cuốn được người đàn bà goá còn trẻ và đẹp là Trác Văn
Quân.
Nguồn:
Nam Định
cuối tuần. – 1998. – Ngày 9 – 10.
NHỮNG
ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN DỤ TÔNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT*
Trong 175 năm tồn tại (1225 - 1400),
nhà Trần đã để lại một di sản to lớn, độc đáo trên các mặt quân sự, kinh tế,
chính trị xã hội, văn hoá giáo dục... đưa nước Đại Việt lên một tầm cao mới.
Gần 7 thế kỷ đã trôi qua, hào quang của vương triều Trần vẫn toả sáng lịch sử
Việt Nam. Trong việc đưa đất nước đến thịnh trị, các vua Trần có vai trò đặc
biệt quan trọng. Trần Dụ Tông là một trong số 14 vị hoàng đế nhà Trần đã có
công đóng góp đáng kể vào văn hóa Trần.
1 - VÀI NÉT TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG TRẦN DỤ TÔNG:
Trần Dụ Tông tên thật là Trần Hạo,
sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý 1336, mất ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369,
thọ 34 tuổi, làm vua 28 năm (1341 - 1369), lấy niên hiệu là Thiệu Phong (1341 -
1357) và Đại Trị (1358 - 1369)(1).
Trần Dụ Tông là con thứ 10 của vua
Trần Minh Tông, do Hiến Từ hoàng hậu sinh ra. Năm Tân Tị 1341 vua Trần Hiến
Tông mất khi mới 23 tuổi. Do Hiến Tông không có con nên Thượng hoàng Trần Minh
Tông lập Hoàng tử Hạo lên làm vua.
Ngày 21 tháng 8 năm Tân Tị 1341, Trần
Hạo lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Dụ Hoàng, đổi niên hiệu là Thiệu Phong năm
thứ nhất. Các quan trong triều đình dâng tôn hiệu là Thống Thiên Thế Đạo Nhân
Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Lúc này Trần Dụ Tông mới lên 6 tuổi.
Là một Hoàng tử, Trần Dụ Tông được
nuôi dạy chu đáo, có điều kiện phát triển trí tuệ. Từ nhỏ ông đã có tư chất
thông minh hơn người, lớn lên càng thông tuệ, học vấn cao minh, giỏi cả văn và
võ.
Năm 13 tuổi Trần Dụ Tông lấy công
chúa Ý Từ là con gái thứ tư của Bình Chương Huệ Túc vương sách phong làm Nghi
Thánh Hoàng hậu.
Những
năm đầu làm vua, có Thượng hoàng Trần Minh Tông và các đại thần giúp đỡ nên dù
đất nước gặp nhiều khó khăn, mất mùa đói kém, Trần Dụ Tông vẫn duy trì được
việc chính trị có nề nếp. Bản thân Trần Dụ Tông có nhiều đóng góp vào công cuộc
bảo vệ, xây dựng và phát triển quốc gia.
Về việc võ, Trần Dụ Tông ý thức
thường xuyên cảnh giác kẻ thù xảo quyệt và tàn bạo phương Bắc, chăm lo việc
phòng thủ biên giới Tây Nam, tăng cường củng cố quốc phòng như tổ chức đóng
chiến thuyền, chế tạo vũ khí, luyện tập binh sĩ, bố trí các quan có năng lực
đảm đương nhiệm vụ ở những nơi xung yếu, cử binh chinh phạt Chiêm Thành...
Về ngoại giao, Trần Dụ Tông duy trì
mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng, vì mục đích hoà bình cho đất nước.
Tháng 8 năm Ất Dậu 1345, nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang hỏi về việc cột
đồng. Mặc dù lúc này chính sự nhà Nguyên đã suy đồi, Trần Dụ Tông vẫn dùng
chính sách ngoại giao mềm dẻo, sai Phạm Sư Mạnh đi biện bạch nhằm gìn giữ hoà
bình. Năm Mậu Thân 1368, Minh Thái Tổ lên ngôi ở Kim Lăng, sai Dịch Tế Dân sang
thăm ta. Trần Dụ Tông sai Lễ bộ thị lang Đào Văn Đích sang nhà Minh đáp lễ,
thiết lập mối quan hệ bang giao giữa hai nước.
Về đối nội, Trần Dụ Tông quan tâm cải
tổ chính quyền, quân đội, chăm lo đời sống nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự xã
hội.
Theo quy chế cũ, cấm quân thuộc về
Thượng thư sảnh. Đến năm Nhâm Ngọ 1342, Trần Dụ Tông đặt Khu mật viện để quản
lãnh cấm quân. Năm Giáp Thân 1344, Trần Dụ Tông tiến hành một loạt đổi mới nhằm
tăng cường quyền lực của nhà nước (Đổi Hành khiển ty ở cung Thánh Từ làm Thượng
thư sảnh; Đặt đại sứ và phó sứ của viện Tuyên Huy; Đổi Kiểm pháp quan của viện
Đăng Văn thành Đình uý, Tự khanh và Thiếu khanh; Đặt Đồn điền sứ và phó sứ ở Ty
khuyến nông; Lộ lớn thì đặt An phủ sứ và phó sứ, thuộc châu thì đặt Thông
phán...). Các biện pháp cải cách trên đây của Trần Dụ Tông đã có tác dụng tăng
cường sức mạnh quốc phòng và bộ máy quản lý nhà nước, giữ gìn an ninh trật tự
xã hội, mở mang kinh tế nông nghiệp...
Trong việc giữ gìn an ninh chính trị,
ổn định trật tự xã hội, vấn đề kỷ cương luật pháp có vị trí hết sức quan trọng.
Năm Tân Tỵ 1341, khi vừa mới lên ngôi, mặc dù mới lên sáu tuổi, nhưng có các
đại thần học rộng tài cao tham mưu cho, Trần Dụ Tông đã bắt tay ngay vào việc
chấn chỉnh kỷ cương. Ông trực tiếp chủ trì và sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung
Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển (Thể lệ lớn của triều Trần) gồm 10 tập
và khảo soạn cuốn Hình thư gồm 1 quyển. Bộ Hoàng triều đại điển (có sách chép
là Trần triều đại điển) là một bộ luật lớn thời Trần Dụ Tông. Cuốn Hình thư (có
sách chép là Hình luật thư) có lẽ đã được biên soạn từ các đời trước nhưng chưa
có điều kiện khắc in. Đến nay Trần Dụ Tông cho khảo soạn lại, khắc in và phát
hành rộng rãi để thực thi. Cả hai bộ sách này ngày nay đều đã thất lạc chưa tìm
thấy.
Không chỉ quan tâm tới việc hoàn
chỉnh luật pháp để điều chỉnh xã hội, Trần Dụ Tông còn quan tâm tới đời sống
dân nghèo. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, mất mùa, đói kém... vua đều có những
chính sách kịp thời cứu trợ nhân dân như giảm tô thuế các năm: 1343, 1354,
1362... Tháng 4 năm Đinh Dậu 1357, xuống chiếu cho các lộ Thanh Hoá, Nghệ An
khơi các kênh ngòi cũ. Năm Mậu Tuất 1358, hạn hán, sâu cắn lúa, cá chết nhiều.
Tháng 8 năm đó xuống chiếu khuyến khích các nhà giàu bỏ thóc ra chẩn cấp dân
nghèo, các quan địa phương tính giá trị ra tiền để hoàn trả lại. Tháng 9 năm
1362 vua về Thiên Trường, ban thuốc công và tiền gạo cho người đau ốm. Dân
nghèo ai đến cũng đều được ban cho 2 tiền, 2 thăng gạo và 2 viên thuốc Hồng
Ngọc Sương chữa bách bệnh.
Dưới thời Trần Dụ Tông, nhiều nhân
tài đã được trọng dụng như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê
Quát... Trong thời kỳ đầu làm vua, Trần Dụ Tông do đã biết trọng dụng nhân tài
nên mặc dù đất nước gặp rất nhiều khó khăn vẫn duy trì được nề nếp chính sự.
Để
nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước, Trần Dụ Tông quan tâm đến việc
tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài, tuyển quan lại qua thi cử đã giúp cho triều
đình chọn được người có thực tài để giao cho họ những chức vụ quan trọng, hạn
chế tình trạng người không có tài đức lọt vào cơ quan nhà nước. Dùng thi cử để
tuyển chọn quan lại là biện pháp tích cực được Trần Dụ Tông quan tâm, đã góp
phần làm tăng cường năng lực quản lý của bộ máy nhà nước.
Từ năm Đại Trị 1358 về sau, Trần Dụ
Tông sa vào con đường ham chơi bời, cờ bạc, bỏ bê chính sự, dẫn đến sự kiện
Dương Nhật Lễ lên ngôi gây ra rối ren sóng gió cho đất nước. Thời gian này
Thượng hoàng Trần Minh Tông và các cựu thần như Trương Hán Siêu là trụ cột của
triều đình đều đã qua đời. Ngoài thì mất mùa đói kém, giặc giã nổi lên như ong,
làm cho dân tình vô cùng khổ sở. Trong thì bọn gian thần kéo bè kết cánh lũng
đoạn triều đình. Năm Nhâm Dần 1362 Chu Văn An dâng sớ xin chém đầu 7 tên gian
thần để ổn định chính sự, gọi là Thất trảm sớ, nhưng Trần Dụ Tông không nghe.
Đã thế Trần Dụ Tông lại ham chơi bời, xây cung điện để đánh bạc, mở tiệc bắt
các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng thì thưởng cho hai trật... Năm
Quý Mão 1363 Trần Dụ Tông cho dựng điện Song Quế, xếp đá làm núi, đào hồ Lạc
Thanh trong vườn ngự uyển ở hậu cung, sai người chở nước mặn đổ vào hồ, nuôi cá
sấu... để làm nơi chơi bời hưởng lạc. Năm Bính Ngọ 1366 vua đi chơi nhà Trần
Ngô Lang về khuya bị cướp cả ấn báu và gươm báu.
Trong cuộc đời Trần Dụ Tông có một sự
kiện ảnh hưởng đến tâm lý của vua sau này. Năm vua 3 tuổi đi chơi Hồ Tây bị
chết đuối, được Trâu Canh châm cứu sống lại nhưng lại bị bệnh liệt dương. Năm
Tân Mão 1351 Trâu Canh lại chữa cho vua khỏi bệnh. Sự ức chế sinh lý kéo dài,
khi được đột ngột giải toả ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tâm lý và tác động vào
sự sa đoạ của Trần Dụ Tông sau này.
Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369 Trần
Dụ Tông băng ở chính tẩm trong tâm trạng u uất không có con nối dõi tông đường,
thọ 34 tuổi. Trần Dụ Tông được táng ở Dụ Lăng (nay thuộc xã Yên Sinh, huyện
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
Các sử gia đã đánh giá Trần Dụ Tông
trong Đại Việt sử ký toàn thư là:
- "Vua tính rất thông tuệ, học
vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di đều thần phục. Đời
Thiệu Phong chính sự tốt đẹp; Từ năm Đại Trị về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp
nhà Trần suy yếu từ đó."(2)
2 – NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN DỤ TÔNG TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
Về văn hoá, Trần Dụ Tông được coi là
người đặt nền móng cho một số môn nghệ thuật dân tộc như tuồng cổ, một số trò
chơi dân gian như leo dây, múa rối...
“Trước đây, khi đánh Toa Đô, bắt được
người phường hát là Lý Nguyên Cát rất giỏi hát, những con ở trẻ của các nhà thế
gia theo y tập hát điệu phương Bắc. Nguyên Cát sáng tác các vở tuồng truyện cổ,
có các tích như Tây Vương Mẫu hiến bàn đào. Trong tuồng có các vai quan nhân,
chu tử, đán nương, câu nô gồm 12 người, mặc áo gấm, áo thêu, đánh trống, thổi
sáo, gảy đàn, vỗ tay, gõ ồn phím đàn (Chú: Chu Hậu chết, Hậu Chủ ghi vào mặt
sau đàn tỳ bà: Hương trời còn đuôi phượng, hơi ấm tỏa phím đàn), thay đổi nhau
ra vào làm trò, khiến người xem xúc động, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui
được vui. Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đấy”.(3)
Dần dần những hoạt động biểu diễn
tuồng cổ như vở Tây Vương Mẫu hiến bàn đào, hát các điệu hát phương Bắc trở
thành phong trào văn nghệ quần chúng rộng rãi. Dấu ấn ca nhạc thời Trần hiện
còn đến nay như điệu Sa Mạc do Lý Nguyên Cát sáng tác rất giống với nhạc phương
Bắc thể hiện nỗi nhớ quê hương nơi sa mạc xa xăm.
Năm 1310 vua Trần Nhân Tông băng, dân
chúng thương mến bậc minh quân đã đánh tan giặc Nguyên nên đi đưa tang rất
đông, đến nỗi không thể đưa quan tài ra khỏi thành Thăng Long. Theo lệnh vua
Trần Anh Tông, Trịnh Trọng Tử bèn đặt ra bài ca Long Ngâm, dạy cho quân lính
hát ở sân Thiên Trì. Dân chúng đua nhau đến nghe hát, lúc đó mới có thể đưa
được quan tài vua cha ra khỏi thành và đem về mai táng ở Long Hưng (thuộc Nam
Định hiện nay). Bản nhạc Long Ngâm cũng được dùng để nhịp đường đi nước bước
của những người lính khiêng quan tài vua Trần Nhân Tông từ Thăng Long tới Long
Hưng.
Đời Trần Dụ Tông, năm thứ 10 (1350)
có người Nguyên tên là Đinh Bàng Đức, nhân nước loạn, đưa vợ con xuống thuyền
vượt biển sang nước ta. Bàng Đức cầm gậy hát những lời rất khéo, người nước ta
đua nhau theo học.
“Nhâm Dần, [Đại Trị] năm thứ 5(1362)
(Nguyên Chí Chính năm thứ 22): Mùa xuân, tháng giêng, lệnh cho các nhà vương
hầu, công chúa dâng các trò tạp hý vua xét duyệt trò nào hay thì thưởng cho”.(4)
Như vậy, Trần Dụ Tông đã cho phép và
khuyến khích các vương hầu diễn các vở hát, chính vua duyệt lại, người nào hát
hay, pha trò khéo đều được hậu thưởng. Các hoạt động này coi như hội diễn tổng
kết phong trào văn nghệ do vương triều đứng ra tổ chức để phát triển văn hoá.
Đây cũng là lần đầu tiên có tổ chức hội diễn văn nghệ cung đình quy mô toàn
quốc.
Trần Dụ Tông là một tác gia văn học thời Trần. Hiện
nay các tác phẩm của Trần Dụ Tông như Hoàng triều đại điển, Hình thư và các
sáng tác văn thơ khác của ông đều đã thất lạc. Trong Toàn Việt thi lục chỉ còn
ghi được một bài thơ của Trần Dụ Tông là bài Đường Thái Tông dữ bản triều Thái
Tông (có sách chép là Thư hoài):
Đường, Việt khai cơ lưỡng Thái Tông
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã: Nguyên Phong
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
Dịch
thơ:
Đường, Việt hai vua hiệu Thái Tông
Đường xưng Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong
Kiến Thành bị giết, An Sinh sống
Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng.
(Đào Phương
Bình dịch).
Bài thơ tỏ rõ chí khí, lòng kiêu hãnh
tự hào của Trần Dụ Tông về các vương triều của nhà Trần. Tác giả so sánh nhà
Trần với nhà Đường bên Trung Quốc, vua mở nghiệp nhà Trần và vua mở nghiệp nhà
Đường đều có thuỵ là Thái Tông nhưng đức độ hai vua lại không giống nhau, vua
Thái Tông nhà Trần đức độ hơn hẳn Thái Tông nhà Đường.
Hiện nay, việc đánh giá Trần Dụ Tông
chưa đồng thuận, thậm chí trái ngược nhau. Có người tôn vinh ông vào hàng danh
nhân. Chính quyền tỉnh Nam Định còn đúc tượng thờ ông tại Đền Trần, tuyên
truyền rộng rãi trên báo chí để nhân dân tri ân ông. Một số người khác lại phủ
định ông, coi ông là vị vua tha hóa, có tội trong việc đẩy nhanh nhà Trần đến
diệt vong. Năm 2000, tôi có viết bài về Trần Dụ Tông theo yêu cầu của thạc sĩ
Hoàng Dương Chương, khi ấy là thủ trưởng cơ quan tôi và là thư ký đề tài khoa
học cấp tỉnh “Danh nhân văn hóa Nam Định” do Sở Văn hóa Thông tin Nam Định thực
hiện. Sau đó Hội đồng nghiệm thu đề tài gồm toàn là các giáo sư tiến sĩ đã loại
bỏ bài viết của tôi với lý do “Trần Dụ Tông không thể là danh nhân”. Sở dĩ có
hai quan điểm trái ngược nhau đó là do mỗi người căn cứ vào một tiêu chí danh
nhân riêng không giống nhau. Dù vậy, hẳn ai cũng phải thừa nhận Trần Dụ Tông là
một nhân vật lịch sử lớn của nước ta. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực văn
hóa, văn học nghệ thuật thời Trần như chúng tôi đã trình bày ở trên là không
thể phủ nhận.
………………
Chú
thích :
* Bài phát biểu trong Hội thảo “Dấu
ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định”, chuyền đề “Thiên Trường – Nam
Định mảnh đất đậm đà dấu ấn văn hóa Trần” ngày 6 – 12 – 2011 do Hội VHNT Nam
Định và Sở Khoa học Công nghệ Nam Định tổ chức tại thành phố Nam Định.
(1) - Theo Đại Việt sử lược (Nguyễn
Gia Tường dịch. - Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1993. - Tr. 301) thì
đời Trần Dụ Tông có 3 lần đổi niên hiệu là Thiệu Hưng (1341 - 1357), Đại Trị
(1358 - 1368), Thiên Định (1369). Ở đây chúng tôi theo Đại Việt sử ký toàn thư.
(2) - Đại Việt sử ký toàn thư. –
H.: Khoa học xã hội, 1998. - T.2. – Tr. 127.
(3), (4) - Đại Việt sử ký toàn thư.
– H.: Khoa học xã hội, 1998. - T.2. – Tr. 141.
TRẠNG
NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH
CUỘC
ĐỜI VÀ GIAI THOẠI
Đào Sư Tích sinh năm Canh dần (1350),
mất năm Bính Tý (1396), quê làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ
Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định). Ông là người thứ hai đỗ Trạng nguyên trong
số 5 Trạng nguyên của đất Nam Định văn hiến. Do thời gian đã lâu, các tài liệu
lịch sử viết về ông hiện còn rất ít, lại sơ lược, nhưng công danh sự nghiệp của
ông được dân gian truyền tụng khá nhiều.
Đào Sư Tích xuất thân trong một dòng
họ có truyền thống khoa bảng lâu đời. Ngay từ thời Trần Nhân Tông, họ Đào đã có
Đào Dương Bật đỗ Thái học sinh, là bậc Khai quốc công thần nhà Trần, từng giữ
chức Thượng thư bộ binh kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 1285 ông vâng lệnh triều
đình về vùng đất Đông Trang thuộc lộ Trường Yên (nay là thôn Đông Trang, xã
Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) để chiêu dân lập ấp làm nơi cảnh giới
cho căn cứ địa Trường Yên trong kháng chiến chống quân Nguyên. Cha Đào Sư Tích
là Đào Toàn Bân (có sách chép là Đào Toàn Mân, Đào Tuyền Phú, Đào Kim Bản, Lê
Toàn Môn...) vốn người ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, hồi nhỏ đi học ở Cổ Lễ
rồi lấy vợ và sinh sống ở đó. Ông đỗ Hương cống khoa Giáp Tý thời Trần, đỗ
Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1362) đời Trần Dụ Tông, làm quan tới Lễ bộ Thượng
thư, Tri thẩm hình viện sự. Ông là một nhà giáo nổi tiếng về phương pháp dạy
học, học trò có nhiều người thành đạt. Quốc tử giám Tư nghiệp Chu Văn An đã
phải khen ông là "Đại sư vô nhị".
Đào Sư Tích là con thứ của Đào Toàn
Bân. Vốn có tư chất thông minh, ham học, được người cha nổi tiếng dạy dỗ, Đào
Sư Tích sớm bộc lộ tài thơ phú, lực học hơn hẳn các bạn cùng lứa tuổi, năm 7
tuổi đã nổi tiếng là Thần đồng. Hồi còn đi học, một lần Đào Sư Tích phải qua
sông Hồng (sang đất Thái Bình hiện nay) cắt thuốc chữa bệnh cho cha. Vì đò đông
khách, Đào Sư Tích phải đợi chuyến sau. Trong lúc ngồi chờ đò, cảm xúc trước
cảnh trời nước mênh mang, Đào Sư Tích có làm mấy câu thơ:
Trời mênh mông
Nước mênh mông
Tôi phải chờ
Bởi đò đông.
Bài thơ tuy đơn giản chỉ có mấy câu
nhưng đã thể hiện rõ khung cảnh bến đò, phù hợp với tâm lý người chờ đò nên
được nhiều người thuộc và lan truyền rất nhanh. Tình cờ, cô lái đò lại tên là
Đông. Cô Đông là người có học, cũng võ vẽ biết làm thơ. Khi biết tên tác giả
bài thơ "Chờ đò" là Tích, cô Đông liền gửi cho anh một bài thơ theo
kiểu bài thơ của anh:
Đêm tĩnh mịch
Nhà tĩnh mịch
Tôi ngồi đọc
Truyện cổ tích.
Bài thơ của cô Đông thật đơn giản mà rất
lạ, có hàm ý, chữ cuối cùng của bài thơ cũng trùng với tên của tác giả bài thơ
"Chờ đò". Từ đó hai người trở nên thân thiết với nhau. Nhưng chẳng
được bao lâu thì cô Đông bị gia đình ép gả cho một người dân chài ở bên kia
sông (nay là đất Thái Bình), còn Đào Sư Tích thì đỗ Trạng nguyên và đi làm quan
ở triều đình nên hai người không có dịp gặp lại nhau nữa. Mối tình từ bài thơ
trên bến đò năm ấy còn vương vấn mãi hai người nhiều năm sau này.(1)
Một hôm quan Nhập nội hành khiển Đào
Sư Tích nhận được một bức thư không đề tên người gửi, vẻn vẹn chỉ có hai câu:
Chức trọng quyền cao ngày nay đã thoả
Còn nhớ năm xưa ngồi đợi con đò?
Sau nhiều năm làm quan, chịu bó tay
trước những hiện tượng tiêu cực trong triều đình, Đào Sư Tích cảm thấy ngao
ngán. Bức thư đã làm ông nhớ lại những kỷ niệm đẹp của mối tình tuổi học trò.
Vào một đêm trằn trọc không ngủ được, ông ngồi dậy cầm bút viết hai câu thơ:
Mười mấy năm trời quyền cao chức
trọng
Không bằng một khắc trên chuyến đò
xưa.
Có lẽ sự kiện này không chỉ bộc lộ
tài năng văn học của Đào Sư Tích mà còn là một tác động vào quyết định cáo quan
của ông sau này.
Truyền thống khoa bảng nổi tiếng của
dòng họ Đào và của vùng đất Nam Chân hiếu học đã ảnh hưởng sâu sắc tới Đào Sư
Tích. Ông đi thi với niềm tin tưởng và quyết tâm đỗ đạt danh vị cao. Tương
truyền, khi ông đi thi Đình, vừa ra đầu ngõ thì gặp ngay một thiếu nữ. Ông tỏ
vẻ không vui, xẵng giọng:
- Ta đi thi mà gặp gái!
Người thiếu nữ kia vốn thông minh,
liền bảo:
- Ông đi thi thì ông đỗ Tiến sĩ, việc
gì đến chị em?
Ông mắng luôn:
- Tiến sĩ thì thấm tháp gì?
Thiếu nữ tươi cười:
- Không đỗ Tiến sĩ thì đỗ Trạng
nguyên vậy, được chưa?
- Thế thì được!
Khoa ấy ông đậu Trạng nguyên thật.
Dù câu chuyện trên chỉ là tương
truyền song cũng phần nào phản ánh được cái chí khí quyết đạt danh vị cao của
Đào Sư Tích. Trong Nam thiên trân dị tập có lời bình về sự kiện này như sau:
- "Gặp gái" là tiếng đùa.
"Tiến sĩ thấm tháp gì?" lại là lời thật. Ông Cổ Lễ (chỉ Đào Sư Tích)
đã cầm chắc hai chữ "Khôi nguyên" trong tay rồi, đâu phải đợi người
khác nói ra mới nghiệm!”
Vốn có tư chất thông minh, ham học,
có quyết tâm cao, lại được người thày nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích đỗ cao là
điều tất yếu.
Khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long
Khánh 2(1374) đời Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên. Đào Sư Tích và
Bảng nhãn Lê Hiến Giản, Thám hoa Trần Đình Thâm là ba vị Tam khôi được vua ban
yến và áo xếp, được dẫn đi chơi phố ba ngày, được phong quan chức theo thứ bậc
khác nhau. Các tài liệu đăng khoa lục đều nói Đào Sư Tích đỗ đầu từ thi Hương
đến thi Hội, thi Đình vì thế nhiều người nghiên cứu sau này cho là ông đạt danh
hiệu Tam nguyên. Thời Lý - Trần, thi Đình là giai đoạn cuối của thi Hội. Chỉ từ
năm 1442 thi Đình mới thực sự được tách ra thành một kỳ thi độc lập. Do vậy,
cũng chỉ từ năm này mới có danh hiệu Song nguyên (đỗ đầu hai kỳ thi Hội và thi
Đình) và Tam nguyên. Cả nước chỉ có 7 người đạt danh hiệu Tam nguyên. Đào Sư
Tích dù không phải là Tam nguyên nhưng vì từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ
đầu nên dân gian vẫn thừa nhận ông là Tam nguyên. Điều đó chứng tỏ Đào Sư Tích
là người có kiến thức uyên bác, đạo đức trong sáng, được nhân dân cảm phục và
yêu mến.
Một hiện tượng kỳ lạ hiếm có trong
lịch sử khoa cử nước ta là trong khoa thi Giáp dần (1374), cả ba người học trò
của cụ Đào Toàn Bân đều đỗ cao: Con trai cụ là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, hai
học trò của cụ là Lê Hiến Giản (tức Lê Hiến Phủ) đỗ Bảng nhãn, Lê Hiến Tứ đỗ
Tiến sĩ (Thái học sinh). Cả bốn thày trò sau này đều làm quan đồng triều. Trong
buổi lễ đăng khoa, biết Đào Toàn Bân đã dạy con và hai học trò đều đỗ đại khoa,
vua Trần khen ông là "Phụ giáo tử đăng khoa" (Cha dạy con đỗ đạt) và
tặng ông bốn chữ "Phụ tử đồng khoa" (Cha con cùng đỗ) kèm theo vế
đối:
Phụ đăng khoa, tử đăng khoa, phụ tử
kế đăng khoa chi nghiệp;
(Cha đỗ, con đỗ, cha con nối nhau làm nên sự nghiệp học vấn đỗ đạt)
Tân Trạng nguyên Đào Sư Tích liền xin
phép vua và cha cho đối như sau:
Tổ tích đức, tôn tích đức, tổ tôn bồi
tích đức chi cơ.
(Ông tích đức, cháu tích đức, ông
cháu cùng vun trồng cơ nghiệp đức)
Câu đối của Đào Sư Tích ca ngợi dòng
họ nhà vua đức nghiệp cao, văn học lớn, các bậc vua ông, cha, con, cháu đều như
thế. Câu đối cũng đồng thời ngầm tự hào về dòng họ Đào của tác giả có truyền
thống khoa giáp vẻ vang. Tài ứng đối của Đào Sư Tích đã làm đẹp lòng vua Trần.
Sau
khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được bổ chức Lễ bộ thượng thư trông coi việc
văn hoá, giáo dục của triều đình. Đến tháng 5 năm Tân Dậu (1381) ông lại được
thăng làm Nhập nội hành khiển kiêm Hữu ty lang trung. Nhập nội hành khiển là
chức quan cao cấp trong triều đình thời Trần, chỉ đứng sau Tể tướng, nắm giữ
các việc cơ mật của đất nước. Cùng năm này cha ông là Đào Toàn Bân cũng được
thăng làm Tri thẩm hình viện sự, nắm giữ các việc thực thi pháp luật, "cầm
cân nảy mực" xã hội.
Nhiều năm liền Đào Sư Tích làm nhiệm
vụ đi kinh lý các lộ miền biên giới phía bắc, lập được nhiều công trạng, được
vua hết lòng khen ngợi. Năm Quý hợi (1383), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông làm
sách Bảo Hoà điện dư bút để dạy bảo quan gia, sai Đào Sư Tích làm bài đề tựa.
Sự kiện này chứng tỏ Trần Nghệ Tông rất tin ở tài văn học và đức độ của Đào Sư
Tích. Tiếc rằng bộ sách này ngày nay đã thất lạc.
Đào Sư Tích làm quan trong thời kỳ
nhà Trần suy thoái. Ba vị vua mà ông từng phụng sự là Trần Duệ Tông (1372 -
1377), Trần Phế Đế (1378 - 1388), Trần Thuận Tông (1388 - 1398) đều chỉ làm vì,
thực quyền vẫn trong tay Thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Nhưng Trần Nghệ Tông bản
tính nhu nhược, chẳng giám tự quyết đoán việc gì, lại hết lòng tin dùng Hồ Quý
Ly, giải quyết mọi việc thường nghe theo lời Hồ Quý Ly nên Hồ Quý Ly mới thực
sự là người có vai trò quyết định mọi việc chính sự của triều đình. Từ năm 1371
triều đình nhà Trần nổi lên mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là các tôn thất quý
tộc nhà Trần muốn duy trì vương triều của mình, với một bên là phái muốn cải
cách đứng đầu là Hồ Quý Ly. Để củng cố địa vị và tạo vây cánh, Hồ Quý Ly tìm
mọi cách đưa người tâm phúc và họ hàng của mình vào nắm giữ các cương vị chủ
chốt trong triều đình, đồng thời tiêu diệt các phe đối lập. Tháng 2 năm Kỷ mùi
(1379) Hồ Quý Ly lại được giao chức Tiểu tư không kiêm Hành khu mật đại sứ,
được phép chọn cử quan viên không nhất thiết phải là tôn thất nhà Trần. Hồ Quý
Ly đã lợi dụng dịp này đưa người của mình vào giữ các cương vị trọng trách như:
lấy Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm quyền Đô sự... Đối với
các phe đối lập, Hồ Quý Ly ra tay triệt hạ: diệt Thái uý Trang Định Vương Ngạc
(1391), Trần Nhật Chương (1392), Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận (1395)...
Trong khi đó vua Trần Duệ Tông là người có tài cầm quân, bản tính cứng cỏi
nhưng quá tự kiêu, dẫn đến cái chết về tay Chế Bồng Nga khi đi đánh Chiêm
Thành. Vua Trần Phế Đế là ông "Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì,
uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Hồ Quý Ly), xã tắc lung lay, đến thân
mình cũng không giữ được"(2). Năm 1388 mưu giết Hồ Quý Ly không
thành, Trần Phế Đế bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nghe theo lời Hồ Quý Ly đem
thắt cổ cho chết. Vua Trần Thuận Tông lên ngôi lúc mới 11 tuổi, Hồ Quý Ly liền
gả con gái lớn của mình là Thánh Ngâu cho vua làm Hoàng hậu. Hồ Quý Ly làm Phụ
chính Thái sư nắm mọi quyền hành trong triều đình.
Giai đoạn Trần mạt, bọn quyền thần
lợi dụng sự tối tăm của vua, tha hồ làm mưa làm gió trong triều, thẳng tay bóc
lột ức hiếp dân chúng, gây ra một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách. Trước hoàn
cảnh bi đát này, những người có tâm huyết đều bất lực. Tư nghiệp Quốc tử giám
Chu Văn An dâng Thất trảm sớ để chấn chỉnh chính sự nhưng không được vua Trần
chấp nhận đã phải từ quan về ở ẩn. Tháng 4 năm Nhâm thân (1392) Bùi Mộng Hoa
dâng thư lên Thượng hoàng cảnh báo nguy cơ Hồ Quý Ly dòm ngó ngôi báu, Trần
Nghệ Tông lại đưa thư cho Hồ Quý Ly xem, sau Bùi Mộng Hoa phải lẩn tránh. Đào
Sư Tích là vị quan ngay thẳng, cương trực, luôn giữ chính nghĩa, không vào hùa
với kẻ phản thần. Trong triều có một số người không ưa ông. Tháng 12 năm Nhâm
thân (1392), Hồ Quý Ly viết sách Minh đạo (làm sáng tỏ đạo Nho) hạ thấp vai trò
của Khổng Tử, đề cao Chu Công... Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói Hồ
Quý Ly bàn như vậy là không phải, liền bị đày đi châu gần. Đoàn Xuân Lôi nói
Đào Sư Tích có xem thư của mình phê phán Hồ Quý Ly nên Đào Sư Tích cũng bị
giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự. Sau sự kiện đối đầu
với Hồ Quý Ly này, có câu đối ca ngợi cha con Đào Sư Tích như sau:
Kim âu xã tắc quân thần nghĩa
Thạch mã sơn hà phụ tử danh.
(Nghĩa vua tôi bình vàng xã tắc
Tiếng cha con ngựa đá non sông)
Chán ngán trước cảnh trong triều vua
quan mưu hại lẫn nhau, bất mãn vì Hồ Quý Ly chuyên quyền, tiên đoán được nhà
Trần sẽ mất về tay họ Hồ mà mình bất lực, Đào Sư Tích đã cáo quan về quê làm
thuốc chữa bệnh và dạy học. Là một vị quan trông coi pháp luật, Đào Sư Tích
luôn giữ mình trong sạch, khi về chỉ để lại cho con cháu một cái ao, vài sào
ruộng và một mảnh đất làm nhà.(3) Đào Sư Tích từng là một đại quan
hàng Á tướng của triều đình mà liêm khiết như vậy, ngày nay vẫn còn là một tấm
gương sáng.
Về năm cáo quan của Đào Sư Tích, các
tài liệu viết về ông đều không nói tới, hoặc có nói thì cũng chỉ viết chung
chung là "Khoảng năm Quang Thái đời vua Trần Thuận Tông (1388- 1398) ông
cáo quan về trí sĩ". Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Đào Sư Tích bị giáng
làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự vào tháng 12 năm Nhâm thân
(1392). Gia phả họ Đào - Phạm - Dương ở Cổ Lễ chép Đào Sư Tích mất ngày 4 tháng
9 năm Bính Tý (1396) thọ 47 tuổi. Trong thời gian từ 1393 đến 1396 ông còn phải
đi sứ Trung Quốc (sau khi đã cáo quan). Vậy thời điểm cáo quan của ông rất có
thể là vào năm 1393, tức là ngay sau khi bị giáng chức, lúc mà tâm trạng bất
mãn của ông đã bị đẩy tới đỉnh cao.
Đào Sư Tích cáo quan về quê nhưng ông
không an phận làm một xử sĩ. Ông bí mật lên vùng Lý Hải, huyện Tam Đảo (nay
thuộc xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo) với mục đích quy tụ nhân tài, nuôi chí lớn
chấn hưng đất nước. Tại đây ông đã viết bộ Sách lược phục hưng Đại Việt cuối
thời Trần. Bộ sách này ngày nay đã mất nên không rõ tư tưởng phục hưng canh tân
đất nước của ông cụ thể thế nào. Con cháu họ Đào chỉ còn lưu truyền được câu
cuối cùng trong bộ sách này là: "Việc lớn mà thành, ta sẽ tâu với trăm họ
dời đô về Tam Đảo". Nhưng ông chưa đủ thời gian để thực hiện chủ trương
phục hưng đất nước thì đã phải phụng mệnh triều đình đi sứ Trung Quốc.
Thời gian này, nhà Minh tăng cường
sức ép với vua Trần nhằm tạo cớ thực hiện âm mưu xâm chiếm Đại Việt. Chúng liên
tiếp đưa các yêu sách ngày càng nặng nề đối với nước ta:
- Tháng 9 năm Giáp Tý (1384) chúng
đòi ta phải nộp lương thực cung cấp cho quân Minh đóng ở Lâm An (Vân Nam, Trung
Quốc).
- Tháng 3 năm ất sửu (1385) chúng đòi
ta nộp 20 tăng nhân (nhà sư).
- Tháng 2 năm Bính dần (1386) chúng
đòi ta nộp những loài cây ăn quả quý, lại đòi cấp cho chúng 50 con voi và cho
chúng mượn đường đi đánh Chiêm Thành.
- Tháng 6 năm Ất Hợi (1395) quân Minh
đánh các man làm phản ở Long Châu và Phụng Nghĩa (Quảng Tây, Trung Quốc), đòi
ta phải cấp cho chúng 5 vạn quân, 50 thớt voi, 50 vạn thạch lương... Ta chỉ nộp
một ít gạo, chúng lại đòi ta phải nộp tăng nhân, thanh niên bị thiến, phụ nữ
xoa bóp...
Trước
tình thế đó, vua Trần rất cần người tài giỏi, có đủ khả năng xoay chuyển tình
thế đi sứ để thực hiện chủ trương hoà hoãn. Trong triều có người nói chỉ có Đào
Sư Tích mới có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ này. Mặc dù không ưa gì Đào Sư
Tích, Hồ Quý Ly vẫn phải xin vua Trần giao cho ông nhiệm vụ đi sứ. Khi Hồ Quý
Ly về Cổ Lễ để triệu Đào Sư Tích vào triều thì ông đã ở Tam Đảo. Tưởng ông bỏ
trốn, Hồ Quý Ly ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ thì sẽ bị chu di
tam tộc. Đề phòng họ Đào sau này bị Hồ Quý Ly tàn sát, Đào Sư Tích đã cho con
cháu đổi ra họ Phạm và hồi triều nhận trách nhiệm đi sứ nhà Minh. Sau này con
cháu ông lại có người đổi thành họ Dương, do đó từ đường họ Đào ở Cổ Lễ hiện
nay có bức đại tự ghi là Đào - Phạm - Dương.
Đào Sư Tích đã đi sứ nhà Minh vì
quyền lợi của trăm họ, vì yêu cầu của đất nước. Bằng tài năng hơn người, ông đã
thuyết phục được vua Minh giảm nhẹ yêu sách, đặc biệt đã bãi bỏ việc đòi cống
nạp tăng nhân, kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt. Tương truyền, thời đó
nhà Minh cho người vơ vét sách thuốc bằng chữ Nôm của nước ta, đem về nước xếp
cao đến nóc nhà, nhưng không có ai đọc thạo. Nhân có Đào Sư Tích sang sứ, vua
Minh nhờ ông đọc và tóm tắt giúp để Lý Sỹ Tài ghi lại bằng chữ Hán thành bộ Y
tông tất đọc, ông chỉ đọc trong ít ngày là hết kho sách. Vua Minh vô cùng kinh
ngạc và khâm phục, đã tặng ông bốn chữ Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên
hai nước). Hiện bốn chữ này còn được khắc trong lăng Trạng nguyên Đào Sư Tích ở
Cổ Lễ.
Việc đi sứ của Đào Sư Tích không thấy
ghi trong lịch sử. Do thời gian đã quá lâu, việc biên soạn lịch sử có nhiều sự
kiện bị bỏ sót là điều dễ hiểu. Nhiều tài liệu của những tác gia nghiên cứu về
Đào Sư Tích hiện nay đều thừa nhận việc đi sứ cuả ông nhưng không nói rõ là ông
đi sứ vào thời gian nào. Lý lịch di tích lịch sử văn hoá nhà thờ Trạng nguyên
Đào Sư Tích của Bảo tàng Nam Hà chép rằng:
- "Theo truyền thuyết và tư liệu
lịch sử thì khi ông mất tại đất Trung Quốc có 23 người, ngựa của nhà Minh đã hộ
tống thi hài Trạng nguyên Đào Sư Tích về an táng tại quê hương xứ Hạ Đồng (Cổ
Lễ) theo lời di chúc của ông..."
Nếu đúng như vậy thì Đào Sư Tích đi
sứ nhà Minh vào năm 1395 - 1396 và mất trong khi đi sứ ở Trung Quốc chăng? Có
một ý kiến khác cho biết Đào Sư Tích mất tại quê.(4) Tuy nhiên, về cái
chết của Đào Sư Tích, trong dân gian còn lưu truyền một giai thoại như sau:
Thời hạn đi sứ của Đào Sư Tích sắp
hết, vua Minh hỏi rằng:
- Nếu Bắc (chỉ Trung Quốc) đánh Nam
(chỉ Đại Việt) thì ai thắng?
Đào Sư Tích trả lời bằng hai câu thơ:
- Bắc thắng, Nam thua, thua thua
thắng
Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng
thua.
Nghe câu trả lời của sứ thần Đại
Việt, các quan võ nhà Minh cười vang khoái trá. Nhưng vua Minh lại không thể
cười được vì hiểu ý câu trả lời của Đào Sư Tích. Trong câu trả lời có 5 chữ
thắng, 5 chữ thua, nghĩa là đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng
hoà là hơn. Câu trả lời của Đào Sư Tích không làm phật lòng vua Minh mà lại duy
trì được mục đích kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt.
Vua Minh lại hỏi:
- Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên
quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?
Đào Sư Tích trả lời cũng bằng hai câu
thơ:
- Trần thực, Hồ hư, hư hư thực
Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư
(Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư
là hư thực
Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư)
Vua Minh biết Đào Sư Tích là người
tài giỏi, không thể khuất phục được bèn nghĩ cách giết đi. Vua Minh sai một
quan đại thần tiễn Đào Sư Tích về nơi nghỉ và đưa cho vị này 4 phong thư, dặn
mở theo thứ tự như thế như thế... Khi mở phong thư thứ nhất thấy có dòng chữ:
Thượng văn vấn, hạ tri vương.
Vị đại thần nhà Minh không hiểu ra
làm sao. Đào Sư Tích liền bảo:
- Vua Minh quá khen, cho ta là bậc
thánh hiền. Ta đâu giám nhận lời khen đó.
Và ông giải thích cho vị đại thần nhà
Minh rõ:
- Văn là nghe, nghe là tri, tri là
nhĩ. Vấn là hỏi, hỏi là mồm, mồm là khẩu. Bên dưới có chữ vương. Hợp ba chữ:
nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh. Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà.
Trong phong thư thứ hai có câu trả
lời cho phong thư thứ nhất. Câu trả lời của Đào Sư Tích hoàn toàn đúng với đáp
án trong phong thư thứ hai.
Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư
Tích làm Lưỡng quốc Trạng nguyên.
Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:
Hậu hoạ
Nhất dược nhị đao
Vị đại thần hiểu rằng vua Minh lệnh
cho ông phải giết Đào Sư Tích nên ông rất hoang mang, buồn bã. Đào Sư Tích bình
thản đón nhận cái chết, vì ông đã đoán biết trước việc này. Ông an ủi vị đại
thần nọ:
- Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên
quá buồn rầu. Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi
phải trực tiếp giết ta.
Trước
khi uống thuốc độc, ông dặn dò người nhà đi theo rằng:
- Sau khi ta chết hãy đưa thi hài về
chôn ở xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ quê ông). Ở chỗ giáp ranh ba thôn Đông (Đông Trung nay
thuộc Trung Lao, Đông Thượng nay thuộc Đông Thượng, Đông Hạ nay thuộc Trực
Đông) có một ngôi mộ, hãy trồng một cây đa ở ngôi mộ đó cho ta.
Ngôi mộ đó chính là mộ bà Lê Thị
Đông, người bạn thân thiết thời thơ ấu của Đào quan trạng.
Sau khi Đào Sư Tích mất, Vua Minh đã
cho đưa thi hài ông về quê theo lời di chúc của ông. Dân gian còn lưu truyền
câu: "Nhị thập tam kỵ mã Ngô Minh quân hồi hương linh cữu Lưỡng quốc Trạng
nguyên".
Trong di cảo của Trạng nguyên Đào Sư
Tích cũng nói rõ việc đi sứ nhà Minh và nhiều khả năng ông mất trên đường về.
Bài Bắc khứ (Đi lên phương Bắc) và bài Dữ tiểu thiếp Giang thị (Nói với tiểu
thiếp là Giang thị) ghi lại việc ông đi sứ, dọc đường lấy cô gái miền núi làm
thiếp, phần chú thích của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị nói rõ Đào Sư Tích đi sứ là
do bị Hồ Quý Ly bắt buộc. Hồ Quý Ly còn làm thơ tiễn Đào trạng nguyên. Rồi bài
Hồi thời bệnh ngộ đại vũ (Lúc trở về, đang bị bệnh gặp mưa lớn) gợi cho chúng
tôi nhận định: Trạng vốn sức khoẻ kém, bệnh nặng, trên đường đi đầy gian khổ,
có thể Trạng đã mất trên đường đi sứ về chăng.
***
Trạng nguyên Đào Sư Tích là người
tiêu biểu nhất trong truyền thống khoa bảng của họ Đào ở Cổ Lễ (Nam Định), Song
Khê (Bắc Giang) và Đông Trang (Ninh Bình). Truyền thống đó được hậu duệ của ông
nối tiếp không ngừng. Đào Thục Viên đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1502) đời Lê
Hiến Tông, làm quan đến Hàn lâm. Dương Bật Trạc đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715)
đời Lê Dụ Tông, làm quan đến Hiến sát sứ. Bật Trạc nguyên trước họ Đào, đến đời
ông mới đổi ra họ Dương. Điều đáng chú ý là từ Đào Toàn Bân, Đào Sư Tích đến
Dương Bật Trạc đều từng là các vị quan trông coi pháp luật. Chắc chắn họ phải
là những người ngoài tài năng còn phải có đạo đức trong sáng mới được giao
những nhiệm vụ "cầm cân nảy mực" giữ gìn phép nước này.
Sinh
thời Đào Sư Tích nổi tiếng về văn học. Cha con ông được coi là những người khơi
dòng văn học của họ Đào. Câu đối ở nhà thờ họ Đào - Phạm - Dương Cổ Lễ còn ghi
rõ:
Đào tộc Song Khê khai học hải
Dương danh Cổ Lễ khởi văn giai.
(Họ Đào ở Song Khê mở ra biển học
Tiếng Dương ở Cổ Lễ xây dựng nền
văn).
Những sáng tác của ông hầu hết đã bị
thất lạc. Thời kỳ giặc Minh đô hộ nước ta, chúng đã thực hiện chính sách đốt
sách vở của Đại Việt. Số phận những sáng tác của Đào Sư Tích không nằm ngoài sự
huỷ diệt này. Một số tác phẩm của ông mà ngày nay chúng ta được biết là: Sách
lược phục hưng Đại Việt cuối thời Trần (đã mất), Bài tựa sách Bảo Hoà điện dư
bút (đã mất), Văn sách thi Đình (chép trong Lịch triều đình đối sách văn), Mộng
ký (chép trong Công dư tiệp ký), Cảnh tinh phú (chép trong Quần hiền phú tập),
nhiều thơ chép trong một số sách của các tác giả đời sau...
Hiện tôi cùng dịch giả Dương Văn
Vượng và nhà nghiên cứu văn học Đồng Ngọc Hoa đã sưu tầm và dịch năm chục bài
thơ của Trạng nguyên Đào Sư Tích chép rải rác trong nhiều thư tịch cổ, biên
soạn thành cuốn Trạng nguyên Đào Sư Tích đời và thơ văn xuất bản năm 2010. Qua
thơ văn của Đào Sư Tích, bạn đọc hiểu thêm về tâm tư tình cảm, những suy nghĩ
và hoàn cảnh sống của ông.
Mặc dù những sáng tác của Đào Sư Tích
hiện còn không nhiều, nhưng chỉ một bài Cảnh tinh phú nổi tiếng đã đủ đưa ông
vào hàng những tác gia văn học Việt Nam tiêu biểu thế kỷ 14. Tô Thế Huy khi bàn
về thể phú thời Trần về sau đã đánh giá Đào Sư Tích rất cao: "Đào Sư Tích
khơi dòng, Lý Chuyết Am, Nguyễn Cúc Pha, Nguyễn Ức Trai giúp cho lớp sóng thêm
mạnh. Hùng văn trong thiên hạ không gì lớn hơn được."(5)
Cảnh tinh phú là một trong số hiếm
hoi những bài phú thời Trần còn lại, là tư liệu quý cho công tác nghiên cứu
lịch sử văn học nước nhà.
Sự nghiệp văn chương và cuộc đời vì
nước vì dân của nhân cách lớn Đào Sư Tích còn sống mãi trong lòng nhân dân. Sau
khi mất, ông được phong làm phúc thần và được nhiều nơi lập đền thờ như ở Cổ Lễ
(Nam Định), Đông Trang (Ninh Bình), Song Khê (Bắc Giang), Lý Hải (Tam Đảo)...
Sự nghiệp khoa giáp của ông được lưu danh muôn thuở như câu đối ở Lăng quan
Trạng:
Cổ Lễ miếu đường lưu vạn đại
Trần triều khoa giáp đệ nhất môn.
(Miếu thờ Cổ Lễ còn muôn thở
Khoa giáp triều Trần mấy kẻ hơn).
Đúng như vậy, cuộc đời và sự nghiệp
của Trạng nguyên Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, trong các câu ca dao
và hát ru của nhân dân. Vùng Trực Ninh (Nam Định) còn lưu truyền bài Lời ru của
mẹ ca ngợi ông như sau:
Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.
Kim ngôn có tự bao giờ
Trạng nguyên Sư Tích bấy giờ Duệ Tông
Bảy tuổi đắc phong thần
đồng,
Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành.
Thi Hương, thi Hội, thi
Đình,
Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng
ngời.
Bảo Hoà dư bút vua tôi,
Viết lên sử sách như lời núi sông.
Nhập nội Hành khiển Tướng công
Thượng thư Lễ bộ một lòng sắt son.
Nhà Minh bỏ lệ tăng nhân,
Y tông tất đọc muôn năm tôn thờ.
Lý Hải chí lớn bấy giờ
Viết lên kế sách cơ đồ nước non.
Một đời trung hiếu sắt son
Làm lành để phúc cháu con cậy nhờ.
Ơn người viết mấy vần thơ
Muôn đời con cháu phụng thờ Trạng
nguyên.
Cầu mong đất tổ Nam Chân
Cháu con lớp lớp muôn phần nở hoa...
Những nơi Trạng nguyên Đào Sư Tích đi
qua còn lưu truyền câu ca dao:
Cha con lập ấp mở mang
Quán ở Nam Định, quê làng Song Khê.
Vùng Tam Đảo cũng có bài thơ dân gian
truyền tụng về họ Đào:
Hai Đào mở đất khơi nguồn
Văn chương pháp luật tuôn tràn mấy
nơi.
Bảo Hoà lời tựu truyền đời
Phú cảnh tinh cũng sáng ngời hùng văn
Và lời Mộng ký băn khoăn
Song Khê, Cổ Lễ muôn năm nhớ người.
Lý Hải mến đức đời đời
Hoa Đào muôn cánh đỏ trời mùa xuân...
Như trên đã nói, các tài liệu lịch sử
hiện còn viết về Trạng nguyên Đào Sư Tích rất ít và sơ lược, nên nghiên cứu về
ông phần nhiều phải căn cứ vào dân gian. Những giai thoại về Đào Sư Tích do dân
gian sáng tạo ra trên cơ sở sự thật lịch sử, có cái đúng sự thật, có cái do
nhân dân hư cấu nên. Nhưng dù là do dân gian hư cấu thì những giai thoại vẫn
mang trong mình nó cái lõi lịch sử. Những giai thoại về Đào Sư Tích là hình
thức thể hiện, gửi gắm tình cảm, ước vọng của nhân dân đối với ông. Qua các
giai thoại ta hiểu về nhân cách Trạng nguyên Đào Sư Tích thêm sáng tỏ.
---------------------------------------
Chú thích:
(1) Về sự kiện mối tình từ bài thơ "Chờ đò"
của Đào Sư Tích, dân gian còn lưu truyền một thuyết khác. Theo thuyết này thì
cô Đông không phải là người mà tình cờ Đào Sư Tích quen sau khi làm bài thơ
"Chờ đò", mà chính là em của hai người bạn học thân thiết của Đào Sư
Tích là Lê Hiến Giản và Lê Hiến Tứ. Đông và Tích yêu nhau từ nhỏ nhưng không
được hai bên cha mẹ đồng tình mà trái lại còn kiên quyết ngăn cấm. Cha mẹ cô
Đông là ông Tô Hiến Chương và bà Lê Thị Nga. Ông bà lấy nhau mãi vẫn không có
con. Bà Lê Thị Nga liền bí mật đi lại với người bạn thân của chồng mình là Đào
Toàn Bân (cha của Đào Sư Tích ) và sinh ra Giản, Tứ và Đông. Đông và Tích không
biết rằng họ là hai anh em cùng cha khác mẹ nên đã vô tình yêu nhau. Bị cha mẹ
ngăn cấm không lấy được Đào Sư Tích, cô Đông quẫn trí nhảy xuống sông tự vẫn.
Nơi cô tự vẫn ngày nay còn cây cầu dân gian gọi là cầu Vô Tình.
(2)
Đại Việt sử ký toàn thư, BK8, 1a.
(3) Thần tích tổng Thần Lộ.
(4) Thời Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trên
quê hương Nam Hà, Sở Văn hoá và Thông tin Nam Hà xuất bản 1996, trang 119.
(5) Tựa Quần hiền phú tập.
Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 1998. - Số 2.
- Tr. 34 - 35.
BÙI
NGỌC OÁNH
VỊ
TƯỚNG TÌNH BÁO CỦA NGHĨA QUÂN LÊ LỢI
Năm 1427 cuộc kháng chiến 10 năm chống
quân xâm lược Minh của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo đã giành thắng lợi. Trong
chiến thắng đó có công lao đóng góp của vị tướng quân tình báo Bùi Ngọc Oánh.
Bùi Ngọc Oánh cũng có nhiều đóng góp xây dựng quê hương Thọ Tung như mở trường
thuê thày dạy học cho con em trong xã, chiêu dân khai hoang phục hóa vùng đất
phía đông làng tạo thành vùng đất trù phú. Hiện ở làng Thọ Tung (xã Nam Hùng, huyện Nam Trực,
tỉnh Nam Định) còn ngôi đền thờ Bùi Ngọc Oánh và Trần Hưng Đạo được xây dựng từ
thời Lê và chùa Thọ Tung thờ thiền sư Bùi Huệ Tộ. Cụm di tích đền chùa Thọ Tung
đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp
quốc gia theo Quyết định số 52/2001/QĐ-BVHTT ngày 28 tháng 12 năm 2001.
Bùi Ngọc Oánh là người võ giỏi văn
hay. Tại đền thờ anh em Bảng nhãn Lê Hiến Giản và Thái học sinh Lê Hiến Tứ ở xã
Nam Thanh (huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) còn có câu đối của Bùi Ngọc Oánh:
Huynh đệ nhất môn giai hiển tích
Võ văn lưỡng vị tịnh phong thần
(Anh em từ một cửa nhà, tiếng hay đều
nổi;
Văn võ dù chia đôi ngả, đều được
phong thần).
Tiến sĩ triều Mạc Trần Đình Huyên,
người xã Cổ Chử (nay thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) có bài
“Thọ Tung thành hoàng” (chép trong cuốn “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí
lược” của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh) ca ngợi Bùi Ngọc Oánh như sau:
Trất phong mộc vũ đáo tha phương
Kỷ độ lâm nguy bất cải thường
Vị quốc vong gia thùy đắc thử
Thiên thu hương hỏa sắc tư chương.
(Tắm mưa gội gió chốn quê người
Bao độ gian nguy chẳng đổi dời
Vì nước quên nhà ai sánh được
Ngàn thu hương khói sắc phong rồi).
Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh người xã Chân
Mỹ huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) là Tế tửu
Quốc Tử giám triều Nguyễn cũng có bài “Thọ Tung phúc thần” nói về Bùi Ngọc Oánh
chép trong “Cố hương vịnh tập” như sau:
Diệc vi khai quốc nhất công thần
Lê đế đương thời dị chí trân
Sơ vị gia bần hương bất trọng
Hậu thành lương tướng sắc phong thần
Khai hoang tế cấp do tồn tích
Tộc miếu hương từ thượng mộc ân
Khuất chỉ hoang hoa tứ bách tán
Hương yên thi chúc kế truyền vân.
(Cũng là khai quốc công thần
Đương thời Lê đế nhiều lần ban khen
Lúc đầu nghèo, có ai tôn
Sau thành tướng giỏi ơn trên phong
thần
Khẩn hoang còn giúp khó bần
Họ thờ, làng cúng đội ân tỏ lời
Bốn trăm năm chục năm rồi
Khói nhang cầu vọng nối đời không
quên).
Chúng tôi cung cấp tài liệu “Lê triều
đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Bùi công sắc phong nhân đức phúc thần sự
tích” của Nguyễn Bính soạn năm 1572 qua bản dịch của Dương Văn Vượng để bạn đọc
rõ thêm về thân thế, công lao của Bùi Ngọc Oánh:
SỰ TÍCH ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN
BÙI CÔNG SẮC PHONG NHÂN ĐỨC PHÚC THẦN TRIỀU LÊ SƠ
Ở nước ta vào thời cuối Trần, tại xã
Bùi Xá, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa nội, có Bùi bá công tên là
Ngọc Khuê, ban đầu đã dự vào giám sinh Quốc Tử giám, sau vì chán cảnh đời loạn
lạc nên lùi bước về quê lấy vợ tên là Nguyễn Thị Khương người thôn Trạng Sơn
cùng xã, lấy nghiệp gia truyền chữa bệnh làm kế sống. Vợ chồng hòa thuận ở ăn,
một chút hại người không để dạ, thoáng điều ích kỷ chẳng sinh lòng, hàng ngày
chế tác thuốc lá, ra bán tại chợ thôn Hoa cùng xã cũng đủ ấm no sớm tối. Vào
năm Kỷ Tỵ (1389) em ruột Bùi bá công là thúc công Ngọc Huy đang làm trấn quan ở
huyện Nông Cống bị thất thủ(1) bèn cùng vợ con nhân đêm trốn đi.
Một ngày kia lưu lạc đến xã Thọ Tung, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, trấn
Sơn Nam Hạ, thấy dân cư nơi này khá giả, phong tục thực thà, bèn gửi lời với
phụ lão sở tại xin ngụ lại, vẫn lấy nghề y làm kế sống, mai danh ẩn tích, cùng
vợ con 6 người, rồi định cư và trở nên một nhà giàu có.
Ở nơi quê cũ còn Bùi bá công, đến giờ
Dần ngày 14 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1394), khi Nguyễn thị vừa mới ở chợ thôn
Hoa trở về nhà thì sinh được một trai. Lúc này Bùi bá công còn đi hái thuốc
chưa về, vì buồn ngủ nằm ở trong rừng mơ thấy có con hổ xám từ trong hốc đa đến
nằm ở bên dưới chân mình, khi tỉnh dậy về nhà thấy vợ đã sinh, bèn đặt tên cho
con là Ngọc Oánh. Ông vui mừng sắp lễ ra
tạ ở miếu Thành hoàng làng. Năm con lên 7 tuổi, ông mời thầy Lâm ở làng
bên về nhà dạy học cho con. Qua mấy năm luyện tập, phàm các sách thao lược của
Tôn Ngô, kinh nghĩa của Khổng Mạnh, Ngọc Oánh đều thông thạo cả. Đến năm Giáp
Ngọ (1414) Ngọc Oánh nghe tin ông Nguyễn Chích đang tụ nghĩa ở núi Hoàng Nghiêu
là người có lượng bao dung, có tài ngang dọc, bèn đem 20 người khỏe mạnh cùng
quê đi theo. Năm Canh Tý (1420) ông theo Nguyễn Chích đến dưới cờ ông Lê Lợi
xin đi dẹp giặc. Lê Lợi thấy Ngọc Oánh là người có học vấn sâu rộng, khỏe mạnh
khác thường, bèn cất nhắc làm chức Chủ bạ trong quân. Phàm các việc xảy ra hàng
ngày dưới ngọn bút ông đều tuân theo mệnh trên ghi chép cả.
Năm Ất Hợi (1419) ông làm chức Tiên
phong, trong việc đánh đồn Nga Lạc, bắt sống được tướng giặc Minh tên là Nguyễn
Sao. Cùng năm này, ông lấy người con gái ở Chí Linh tên là Nguyễn Thị Khung làm
vợ. Bố vợ ông là Nguyễn Thiệp đang làm chức Điều hộ ở trong quân. Nguyễn thị là
người có nhan sắc, lại có sức khỏe. Bà nhận chức vệ sỹ chấp kích dưới trướng
chồng mình, tạo được nhiều tiếng tốt.
Tháng 10 năm Tân Sửu (1421) ông được
Lê Lợi chọn làm Chinh Tây phó tướng chống quân Ai Lao, đêm ngày tiến gấp đánh
úp. Mặc dù quân giặc đông tới ba vạn song vẫn bị bại trận nặng nề, bởi thế
chúng không giám giúp quân Minh đánh cướp nước ta nữa.
Năm Giáp Thìn (1424) Ngọc Oánh thấy
vợ con bốn người, lúng túng không thể theo ra trận được, bèn xin trên đưa về
đất Thọ Tung nhờ cậy ông thúc công Ngọc Huy che chở. Lê Lợi cử Nguyễn Công Bạch
người Cổ Nhuế đem năm người giỏi khỏe đi theo bảo vệ trên đường.
Tháng 9 năm ấy Ngọc Oánh cùng Nguyễn
Chích vây bức thành Trà Long. Trong trận này ông cũng làm tướng tiên phong một
đạo quân, được trên biết rõ, ban thưởng cho 50 lạng vàng để giúp đỡ gia đình.
Năm Ất Tị (1425) theo lệnh trên, ông
đem theo 20 người thân tín đi sâu vào đất phương Bắc thăm dò tin tức giặc.
Tháng 5, ông giả làm nhà buôn trên bốn chiếc thuyền khởi hành từ Diễn Châu ra
biển, lợi dụng gió nồm đi gấp. Tháng 6 thì vào vùng biển Quỳnh Châu bán các thứ
thuốc nam. Ông cử phó đội trưởng Hoàng Duy Thành dựng một quán rượu tại ngã ba
đường để làm nơi thường xuyên ăn ở rồi cắt cử 5 người ở đó, 5 người đi lấy tin,
8 người đi về trên đường chuyển tin. Tám người này lại chia ra 4 nhóm, đặt ra 4
trạm trên đường kế tiếp nhau không lúc nào đình hoãn.
Một
lần Ngọc Oánh đi tới đất Quế Lâm thì bị giặc phát hiện truy đuổi. Ông được một
người con gái ở Lưu gia trang tên là Lâm Lâm Oanh khuyên giả làm người làm
ruộng để tránh. Sau ông lấy Lâm Lâm Oanh làm vợ lẽ và sinh được hai con trai là
Bùi Ngọc Trinh và Bùi Ngọc Cát. Ông còn được bố vợ là Lâm Tuyền Thủy, em vợ là
Lâm Sơn Khê và Lâm Hoa Thảo giúp thu thập tin tức giặc.
Tháng Giêng năm Mậu Thân (1428) ông
được Lê Lợi triệu về bản quốc. Ông trình bày sự tình với gia đình vợ, xin đem
vợ con cùng về. Nhưng ông Tuyền Thủy không ưng, chỉ cho em vợ ông là Sơn Khê
cùng gia đình 5 người về ở tại quê ông thuộc xã Bùi Xá cùng với chi thứ ba là
Bùi Ngọc Xuân tạo thành một xóm. Sau được vua ban bốn chữ “Hiệu trung trợ
thuận” (Hết lòng trung, thuận theo việc làm lành), biển vàng và vàng tốt 100
lạng để khuyến khích lòng dân trong nước.
Tháng 11 năm Mậu Thân (1428) Ngọc
Oánh về xã Thọ Tung, nhưng gặp ý nghĩ không tốt của dân sở tại nên ông chán
ngán đem vợ con trở về quê cũ. Ông được vua ban cho danh hiệu đặc tiến Phụ quốc
thượng tướng quân. Độ gần mười năm ở cựu quán, ông nghe con ông chú là Ngọc Dụ
mang theo thư của thúc công khuyên dời về đất Thọ Tung, nói rằng đất ấy có khí
thiêng có thể cư trú lâu dài được, ông bèn nghe theo trở lại Thọ Tung rồi định
cư ở đó.
Lại nói từ khi trong nước bình yên,
ông được vua cử làm quan cai trị đất Kinh Bắc. Thấy vùng đất thuộc huyện Quế
Sơn thuộc phủ Từ Sơn sau loạn lạc nhân dân phiêu tán đói rét, ông bèn đem tiền
của mình khuyên mọi người trở về quê giúp nhau dựng nhà tranh ở tạm, khai khẩn
lại đất cũ. Nay 5 xã Mai Ổ, Trúc Ổ, Lãm Sơn, Phù Lưu, Bồng Lai trong huyện đều
có đền thờ ông là để ghi nhớ công đức của ông đối với dân địa phương sâu sắc
vậy!
Ngày 20 tháng 10 năm Ất Mùi niên hiệu
Hồng Đức năm thứ 6(1475) ông về thần tại lị sở. Bà chính thất cùng 10 con trai,
42 cháu nội và 200 quân rước linh cữu ông về quê an táng tại cồn Kim Kê. Việc
đến tai vua, ông được sắc phong làm bản cảnh thành hoàng nhân đức phúc thần xã
Thọ Tung, được ban 500 quan tiền, tế điền 3 mẫu, cho phép trong xã được miễn
các lệ đóng góp, bốn mùa lo việc thờ tự. Từ đấy về sau, mỗi khi sở tại có việc
lo nghĩ nghi ngờ không quyết thì tới cầu đảo đều có linh ứng rõ rệt không sao
kể xiết. Tới nay làng thôn đông đúc, nhân dân no đủ đều là nhờ ơn nhờ phúc của
thần để lại cho cả. Thế thì sao lại không nói ra, không ghi lại lưu truyền mà
răn dạy đời sau?
Mỗi khi đến ngày sinh ngày hóa của
thần, dân xã trước một ngày làm lễ cáo ở từ đường và đền, đều dùng lễ xôi gà,
chính lệ thì dùng lễ tam sinh bánh dày... Ngày thứ ba làm lễ tạ thì cũng như lễ
cáo.
Các tên húy thánh phụ thánh mẫu và
thành hoàng, lúc lễ đều nhất thiết kiêng đọc.
Ngày 9 tháng 10 niên hiệu Hồng Phúc
năm đầu (1572) Hàn lâm viện Đông các Đại học sỹ, bề tôi là Nguyễn Bính vâng
mệnh soạn thảo.
Ngày 5 tháng chạp niên hiệu Vĩnh Hựu
thứ 4(1738) Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh bề tôi là Nguyễn
Hiền theo bản cũ của tiền triều chép lại.
Ngày 18 tháng 11 niên hiệu Thành Thái
năm đầu (1889) Thư lại của bộ Lễ là Nguyễn Đình Hoàn lại theo bản cũ chép lại.
......................................
Chú
thích:
(1)Tháng
8 năm Kỷ Tị có Nguyễn Thanh tự xưng là Linh Đức vương, Nguyễn Kị tự xưng là Lỗ
vương, hai người tụ tập quân mã cướp chính quyền ở Nông Cống. Quân nhà Trần
chống cự không nổi, ban đầu phải thua trận rút chạy, trong đó có Bùi Ngọc Huy.
Nguồn: Văn
hoá Nam Định. – 2003. – Số 3. – Tr. 31 – 32.
TIẾN SĨ PHẠM ĐẠO PHÚ
MỘT NGÔI SAO TRONG TAO ĐÀN NHỊ THẬP BÁT TÚ
1-
Phạm Đạo Phú (có sách chép nhầm là Nguyễn Phú Đạo, Nguyễn Đạo Phú) sinh năm
Quang Thuận 4(1463), mất năm Nguyên Hoà 7(1539), quê ở làng Hoàng Xá, huyện Đại
An (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).
Phạm Đạo Phú là một nhà khoa bảng Nam
Định nổi tiếng về văn học. Ông là một ngôi sao trong Tao Đàn nhị thập bát tú
thời Lê Thánh Tông. Trong tiềm thức dân gian, tên tuổi ông thường gắn liền với
tên tuổi người em họ của ông là Hoàng giáp Đại tướng đổng quân Phạm Bảo. Hai
anh em ông liên tiếp cùng đỗ đại khoa, cùng làm quan một triều, cùng được tôn
làm phúc thần và được thờ chung trong một ngôi đền.
Phạm Bảo (có sách chép là Phạm Nguyễn
Báu) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng
Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đại khoa, ông được bổ làm Phó đô ngự
sử ở Ngự sử đài, giúp cho Đô ngự sử chuyên lo việc can gián nhà vua và thanh
tra các quan lại trong cả nước. Do ông rất giỏi võ nghệ nên vua Lê Thánh Tông
chuyển ông sang ngạch vũ giai. Lúc đầu ông giữ chức Chưởng quản Nội thị, sau
được thăng đến Đại tướng Đổng quân. Ông từng được cử cầm quân đi chiêu dụ Ai
Lao, đánh dẹp giặc Ngọc Lâu nổi loạn ở miền Hưng Hoá. Năm Hồng Đức 23(1492)
trại của Đa La Lý họp người Man Cam Cát nổi loạn, triều đình cử ông cùng Đại
tướng Trần Tường mang quân đi đánh dẹp. Ông có công bắt sống Đa La Lý, chiêu an
được các Man động nên vua Lê phong cho ông là Võ huân tướng quân Tả hiệu điểm,
giữ chức Trấn thủ Nghệ An. Năm Cảnh Thống 4(1501) đời Lê Hiến Tông, ông hộ giá
vua thân chinh đi đánh đồn Bổn Man, giữa đường thì mất. Vua thương xót ông là
người văn võ song toàn, có nhiều công lao hiển hách nên truy phong cho ông hàm
Thiếu uý và ban tên thuỵ là Vũ Thành. Linh cữu của ông được đưa về an táng tại
làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Lăng mộ ông hiện nay vẫn còn ở xứ Mả Người,
đường Đồng Tân, thôn Hưng Thịnh (thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Năm
Quang Hưng 18(1595) đời Lê Thế Tông, ông được phong làm phúc thần và được lập
đền thờ tại làng Hưng Thịnh.
Người anh họ của Phạm Bảo là Phạm Đạo
Phú cũng nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ
xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21(1490) đời Lê Thánh Tông. Năm
Hồng Đức 26(1495) ông được giao chức Hàn lâm viện Hiệu kiểm (tức Hàn lâm viện
Kiểm thảo sau này), chuyên lo việc kiểm thảo các văn thư ở Viện Hàn lâm. Sau ông
lại được thăng đến chức Hình bộ Tả thị lang, một chức quan cao cấp ở bộ Hình,
chỉ đứng sau Thượng thư và Tham tri, mang hàm Chánh tam phẩm, giúp Thượng thư
trông coi việc pháp luật, duyệt lại những tội nặng án ngờ, tra xét kỹ những tù
giam ngục cấm. Ông làm quan cần mẫn trải bảy đời vua: Thánh Tông, Hiến Tông,
Túc Tông, Uy Mục Đế, Tương Dực Đế, Chiêu Tông, Cung Hoàng. Cùng với Phạm Bảo,
ông được người đời đánh giá là "Anh em cùng nhau nối tiếp trước sau, trọn
vẹn tiếng tốt ở đương thời" (Văn bia ở miếu thờ hai ông đỗ đại khoa ở làng
Hưng Thịnh do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị soạn).
Năm Đinh Hợi niên hiệu Thống Nguyên
6(1527) Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Phạm Đạo Phú một lòng trung thành với
nhà Lê đã treo ấn từ quan về quê dạy học. Nhà Mạc nhiều lần triệu ra làm quan
nhưng ông kiên quyết từ chối. Thực chất những năm về ở ẩn, Phạm Đạo Phú ngầm
chiêu tập nghĩa binh dưới hình thức mở trường dạy học để mưu nổi dậy chống nhà
Mạc. Việc không thành, ông cho con cháu đổi họ Phạm thành họ Ngô để đề phòng nhà
Mạc trả thù. Con cháu ông mang họ Ngô nhưng vẫn trông coi từ đường họ Phạm. Gần
đây con cháu ông đã được chính quyền sở tại cho phép đổi họ Ngô trở lại họ
Phạm.
Ngày 2 tháng 8 năm Nguyên Hoà 7(1539)
Phạm Đạo Phú mất. Lăng mộ ông hiện nay ở gò Con Ngựa, xứ đồng Mả Cả, đường
Trung Đồng, thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sau
khi ông mất, vua Lê Thế Tông xếp ông vào hàng các trung thần của triều Lê, truy
tặng ông hàm Tham tri và ban tên thuỵ là Trung ý Trung đẳng thần, sức cho dân
bản xã lập đền thờ làm phúc thần. Năm Tự Đức 7(1854) dân làng Hưng Thịnh lấy số
hoa lợi "Cấp tứ" (20 mẫu ruộng do triều Lê Trung Hưng cấp cho dân
làng làm hương hoả thờ cúng Phạm Đạo Phú gọi là ruộng "Cấp tứ") và
tiền khao vọng hơn 3000 quan xây dồn đền thờ ông với đền thờ Phạm Bảo. Bài vị
thờ ông ghi là: "An dân trấn quốc hiển sĩ binh thần tuấn lương đại
vương".
Hiện nay đền thờ hai anh em Phạm Đạo
Phú ở thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng được thờ chung với Thuỷ
thần. Trải các triều đại phong kiến, các vua chúa đời sau đều có sắc phong để
nhân dân hai làng Hưng Thịnh và Phạm Xá thờ cúng hai anh em ông.
2 - Về quê quán của hai anh em Phạm Đạo Phú, các tài liệu viết không thống nhất. Một số tài liệu
chép quê các ông ở làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Một số tài liệu lại viết quê
các ông là làng Hoàng Xá, huyện Đại An. Theo "Hương chỉ" của làng
Hưng Thịnh, anh em Phạm Đạo Phú là những người có công sáng lập làng Hưng
Thịnh. Người đầu tiên khai phá vùng đất Hưng Thịnh là ông Nguyễn Đại Lang, thứ
hai là anh em Phạm Đạo Phú và Phạm Bảo. Hai anh em ông đã cùng bà con khai khẩn
đất hoang, tạo lập thành làng. Lúc đầu đặt tên là làng Hưng Phú. Dần dần làng
Hưng Phú ngày thêm trù phú và đông đúc mới đổi lại là làng Hưng Thịnh. Phạm Đạo
Phú sau khi từ quan về dạy học đã sống đến hết đời ở làng Hưng Thịnh. Có lẽ vì
thế mà có tài liệu chép quê ông là làng Hưng Thịnh chăng. Sau khi anh em ông
mất, thi hài hai ông đều được an táng ở làng, đều được làng Hưng Thịnh thờ làm
Phúc thần. Trong đền thờ hai ông có câu đối:
Sơn nhạc giáng thần cố lý tân từ linh
tích tại
Văn chương minh thế thạch bi kim bảng
thịnh danh truyền.
(Núi lớn giáng thần, dấu thiêng thiêng
ở làng xưa đền mới
Văn chương sáng sủa, tiếng tốt đẹp
truyền bia đá bảng vàng).
Gần ngôi đền thờ Phạm Đạo Phú có tấm
bia đá do Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị soạn nói về hành trạng của hai anh
em ông, có câu:
"Sinh
vi danh thần, tử vi phúc thần, nhi miếu ủ ấp cổ lai hãn hỹ" (Sống là danh
thần, khi mất làm phúc thần mà đền miếu ở quê nhà, từ xưa đến nay quả là hiếm
vậy).
Như vậy, làng Hưng Thịnh là nơi hai anh
em Phạm Đạo Phú có công tạo lập, còn quê quán của các ông chính là làng Phạm
Xá. Theo gia phả họ Phạm ở làng Phạm Xá (nay thuộc xã Yên Nhân, huyện Ý Yên,
tỉnh Nam Định) thì ông bà, cha mẹ Phạm Đạo Phú là những người đầu tiên đến khai
phá vùng ven biển Đại An. Lúc đầu dân cư còn thưa thớt, làng còn nghèo nàn,
những người khai phá vùng đất này thành lập trại cô bần. Sau làng đông đúc và
trù phú mới đặt tên làng là Hoàng Xá. Tương truyền, sau khi anh em Phạm Đạo Phú
đỗ đại khoa, làng Hoàng Xá được đổi thành làng Phạm Xá để ghi nhớ sự vinh hiển
của con cháu họ Phạm. Từ đường họ Phạm có bức hoành phi đề là "Văn minh
tổ" (Tổ khai sáng văn minh). Cũng ở làng Phạm Xá hiện còn có ngôi đình thờ
anh em Phạm Đạo Phú, gọi là đình ông Nghè. Trong đình có một số bia ghi công
đức của những người đóng góp tu sửa đình và hơn vài chục câu đối bằng chữ Hán
khắc vào cột đá của các bậc đại khoa đời sau đề tặng. Câu đối của Tiến sĩ Khiếu
Năng Tĩnh, người làng Chân Mỹ, huyện Đại An (nay thuộc làng Trực Mỹ, xã Yên
Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) viết là:
Tích Lê triều Hồng Đức thái bình thiên,
Đinh Mùi, Canh Tuất lưỡng khoa phật kinh liên kế;
Kim Nam quận Đại An văn vật địa, Phạm Xá,
Hưng Thịnh nhị xã thần miếu tương vương.
(Xưa Hồng Đức triều Lê, trời thanh
bình, Đinh Mùi, Canh Tuất hai khoa liền nhau đỗ đạt.
Nay quận Đại An nước Nam, đất văn vật,
Phạm Xá, Hưng Thịnh hai xã cùng thờ miếu thần).
Trước hiên đình có câu đối của Hoàng
giáp La Ngạn Đỗ Huy Liêu (người làng La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn,
xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Đinh) như sau:
Hồng Đức đương thiên huynh đệ bảng
Nha thành thử địa cổ kim danh.
(Anh em đề bảng thời Hồng Đức ấy,
Muôn thuở lừng danh đất Nha Thành này).
Nha Thành còn có tên là cửa Nha Ác.
Vùng đất Hưng Thịnh, Phạm Xá xưa kia liên tiếp nhau chính là cửa biển Đại Ác
(sau đối là Đại An). Ngày nay hai làng này ngăn cách nhau bởi cửa sông Độc Bộ
và thuộc hai huyện khác nhau: Hưng Thịnh thuộc xã Hoàng Nam của huyện Nghĩa
Hưng, Phạm Xá thuộc xã Yên Nhân của huyện Ý Yên.
3 - Hai anh em họ Phạm đều xuất thân là những vị đại khoa nhưng Phạm Bảo nổi tiếng về võ công hiển hách, Phạm
Đạo Phú lại nổi tiếng có tài văn học. Ngay từ nhỏ Phạm Đạo Phú đã thông minh,
học giỏi, có tiếng là làm từ phú hay. Năm Hồng Đức 21(1490) đỗ Tiến sĩ thì ngay
năm sau (1491) ông được vua Lê Thánh Tông cho cùng về thăm Lam Kinh với một số
quần thần khác. Trong chuyến đi này vua tôi cùng xướng hoạ thi ca, chép lại
thành tập gọi là "Văn minh cổ xuý" . Phạm Đạo Phú có 6 bài thơ phụng
hoạ trong tập này. Năm Hồng Đức 26(1495) vua Lê Thánh Tông thành lập Tao Đàn
hội. Phạm Đạo Phú được chọn làm Hội viên chính thức. Nhân hai năm Quý Sửu
(1493) và Giáp Dần (1494) được mùa liền, vua Lê Thánh Tông làm 9 bài thơ gọi là
Quỳnh Uyển cửu ca, chọn 28 văn thần ứng với 28 ngôi sao trên trời phong làm Tao
Đàn nhị thập bát tú, có nhiệm vụ phụng bình, phụng canh, phụng hoạ các bài thơ
của vua. Hai mươi tám ngôi sao đó là: Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu,
Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm, Tỉnh, Quỷ,
Liễu, Tinh, Chương, Dực, Chẩn. Phạm Đạo Phú được xếp ở vị trí thứ 27 (tức là
sao Dực) trong số 28 ngôi sao trên đàn văn chương này.
Mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian
ngắn (từ năm 1495 đến năm 1497) Tao Đàn hội vẫn được coi là một thi xã cung
đình đầu tiên, có quy mô khá lớn ở nước ta. Tao Đàn hội do vua Lê Thánh Tông
làm Nguyên suý. Các hội viên được chọn lọc trong hàng ngũ quan lại cao cấp, có
học vị từ Đồng Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Tôn chỉ mục đích của hội được nhà vua
nói rõ trong bài Tựa và trong chùm thơ Quỳnh Uyển cửu ca. Tôn chỉ mang ý nghĩa
chính trị và giáo dục sâu sắc, góp phần bảo vệ hoà bình và xây dựng đất nước
ngày càng phồn thịnh. Hai vị Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận
được phong là Phó nguyên suý. Ngoài 28 hội viên chính thức của hội, vua Lê
Thánh Tông còn phong cho Trạng nguyên Lương Thế Vinh và Tiến sĩ Sái Thuận chức
Tao Đàn sái phu, có nhiệm vụ "quét dọn" (biên tập) các sáng tác của
hội. Cơ cấu của hội mang tính chất khoa học nhiều mặt: sáng tác, bình văn, thẩm
văn, nhuận sắc văn. Tác phẩm chủ yếu của hội là Quỳnh Uyển cửu ca (Chín khúc ca
trong vườn Quỳnh) gồm hơn hai trăm bài thơ xướng hoạ. Chín bài thơ xướng của Lê
Thánh Tông có đầu đề là:
- Sửu, Dần nhị tuế, bách cốc phong đăng
hiệp vu ca vịnh ký kỳ thuỵ (Hai năm Sửu, Dần mùa màng tươi tốt, làm thơ phổ vào
lời ca để ghi lại điềm lành ấy). Viết tắt là: Bách cốc phong đăng.
- Quân đạo (Đạo làm vua).
-
Thần tiết (Tiết tháo bề tôi).
-
Dư tĩnh toạ thâm cung hà tư cổ tích, quân minh thần lương, dữ đương kim cơ
nghiệp chi thịnh, ngẫu thành nhất luật (Ta ngồi trong chính điện, nghĩ tới các
bậc vua sáng tôi hiền ngày xưa và cơ nghiệp thịnh trị ngày nay, ngẫu nhiên làm
một bài thơ). Viết tắt là : Quân minh thần lương.
- Dư độc thư chi bạ, dao tưởng anh
hiền, tự dư thi hoài triển chuyển, ngẫu thành nhất luật (Ta trong lúc đọc sách
rỗi, nghĩ tới các bậc tài giỏi, ý thơ trăn trở, bỗng thành một bài thơ). Viết
tắt là Dao tưởng anh hiền.
- Kỳ khí (Khí tiết kỳ diệu).
- Thư thảo hý thành (Đùa thành bài thơ về viết thảo).
- Văn nhân (Văn nhân).
- Mai hoa (Hoa mai).
Tiến
sĩ Phạm Đạo Phú làm đủ cả 9 bài thơ phụng hoạ các bài thơ xướng của vua Lê
Thánh Tông. Phạm Đạo Phú là người duy nhất ở vùng đất Nam Định được mời làm hội
viên chính thức của hội thơ nổi tiếng này. Nam Định còn có Trạng nguyên Lương Thế
Vinh được phong làm Tao Đàn sái phu, nhưng không phải là hội viên chính thức
của hội. Việc được Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng tài đức chọn làm hội viên
chính thức của Tao Đàn hội đã chứng tỏ Phạm Đạo Phú là người có tài có đức, đặc
biệt về văn thơ.
Năm Cảnh Thống 1(1498) dựng bia Quang Thục thái hoàng thái hậu ở Lam
Kinh, khắc bài thơ khóc bà của vua Lê Hiến Tông và thơ của 36 vị quần thần
khác. Phạm Đạo Phú có một bài thơ được chọn khắc trong bia này. Bài thơ của ông
tình cảm rất thống thiết, có câu:
Xuất thổ quần sinh mộng ủ hú
Bất thăng cảm đức lộ triêm cân.
(Cõi đất muôn loài ơn ấp ủ
Xót thương mến đức lệ trào khăn).
Sự nghiệp thơ văn của Phạm Đạo Phú còn
lại không nhiều. Con cháu họ Phạm ở Phạm Xá còn lưu giữ được một tập thơ chiêu
hồn bằng chữ Nôm chép lại vào năm 1913, đề là: "Do tướng công Phạm Đạo Phú
soạn, Khiếu Năng Tĩnh viết lời bạt". Phần thơ xướng hoạ của ông còn 15 bài
chép trong các sách Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xuý, Lê triều thi tập, Cúc
Đường thi tập, Quỳnh Uyển cửu ca, Toàn Việt thi lục.
Thơ Phạm Đạo Phú lời lẽ giản dị, khiêm
nhường, rất ít dùng điển cố. Hai vị Phó nguyên suý của Tao Đàn hội là Thân Nhân
Trung và Đỗ Nhuận đã từng bình thơ ông là: "Phá, kết ý hảo. Dư diệc bình
thường" (Câu mở đầu và câu kết có ý hay, ngoài ra bình thường).
Trong khuôn khổ của các bài thơ hoạ
nguyên vận, các sáng tác của Phạm Đạo Phú cũng như của những Tao Đàn hội viên
khác đều có hạn chế là khuôn sáo, cầu kỳ, tư tưởng tình cảm bị gò bó. Dẫu sao
thơ ông vẫn mang những yếu tố tích cực nhất định. Đó là sự thể hiện tấm lòng
yêu nước thiết tha, tự hào về truyền thống vinh quang của ông cha, và nhất là
sự quan tâm đến nhân dân, mong muốn cho dân giàu nước mạnh. Trong bài
"Phụng hoạ ngự chế: Bách cốc phong đăng" ông đưa ra tiền đề:
Tuế lũ kim nhương thượng thuỵ đẳng
(Đã bao năm được mùa lúa vàng).
Ở câu kết của bài này ông viết :
Tứ dã nghiêu dân tư hạo hạo
(Khắp chốn thôn dã dân lành vui vẻ hớn
hở).
Bài thơ đã diễn đạt rất đúng tâm trạng vui vẻ của người nông dân khi
được mùa, thể hiện sự cảm thông của tác giả đối với nhân dân lao động. Không
chỉ cảm thông với người nông dân mà ông còn ước mong cho dân có được đời sống
yên ổn, thanh bình:
Cửu tự cửu ca quân thánh hoá
Khang cù kích nhưỡng lạc Nghiêu niên.
(Bài Phụng hoạ ngự chế: Quân đạo )
(Chín khúc ca vui là sự giáo hoá của
bậc thánh nhân,
Dân lành vui vẻ trong cảnh thái bình
của vua Nghiêu).
Triều đại vua Lê Thánh Tông là thời đại
thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời kỳ này mọi mặt kinh tế,
văn hoá, giáo dục... đều phát triển và có nhiều thành tựu đáng kể. Phạm Đạo Phú
đã ca lên:
Xuân hồi thảo mộc tân tiên nghiên,
...
Đa hạnh tư thần phùng thánh đại,
Nguy nguy hiếu trị nhật trung thiên.
(Bài
"Phụng hoạ ngự chế: Bái yết Sơn lăng cảm thành")
(Xuân về cây cỏ thảy đều tươi,
...
Vua sáng tôi hiền may mắn gặp,
Xây nền hiếu trị vững muôn đời).
Vua sáng, tôi hiền và nền hiếu trị là
ước mơ mong muốn về một xã hội tốt đẹp của ông cũng như của nhân dân ta thời
đó. Cho nên ông lấy làm sung sướng được là tôi hiền của vị vua sáng Lê Thánh
Tông.
Giữa những bài thơ xướng hoạ thù tạc,
ca ngợi vua, ca tụng chế độ phong kiến, mang tính chất khuôn sáo, gò bó, cầu
kỳ... lại có được những ý thơ, những câu thơ, những bài thơ quan tâm đến đời
sống nhân dân, thể hiện lòng yêu đất nước, yêu dân như của Phạm Đạo Phú là điều
rất đáng quý.
Mặc dù thơ Phạm Đạo Phú chỉ còn rất ít,
nhưng chỉ với những tác phẩm còn lại đó cũng đủ để ông xứng đáng được ghi nhận
là một tác gia của dòng văn học bác học Việt Nam cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16
mà lịch sử văn học nước ta không thể không nhắc đến ông.
………………..
Nguồn:
Khoa học
công nghệ và môi trường Nam Định. - 2003. - Số 1. - Tr. 18 - 20.
GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỀ
TRẠNG NGUYÊN TRẦN VĂN BẢO
Trần Văn Bảo là một trong 5 vị Trạng
nguyên của tỉnh Nam Định. Ông từng làm quan triều Mạc đến Thượng thư. Học vị
Trạng nguyên đã khẳng định Trần Văn Bảo là người học rộng, tài cao, giỏi văn
thơ. Nhưng tiếc rằng tài liệu cổ viết về ông hiện còn rất ít, lại quá sơ sài,
nhiều chi tiết không thống nhất. Điều này dễ hiểu: vì Trạng nguyên Trần Văn Bảo
làm quan triều Mạc, mà triều Mạc lại bị các nhà viết sử thời phong kiến coi là
nguỵ triều nên không ghi chép đầy đủ, kỹ càng. Trải hơn 400 năm, các di tích đền
thờ, sắc phong về ông bị mai một, thất lạc hầu như không còn gì đáng kể.
Sinh thời Trạng nguyên Trần Văn Bảo
có tiếng về sự nghiệp làm quan và tài văn học vang lừng sang cả Bắc quốc như
người đời ca ngợi "Sự nghiệp, văn chương đằng Bắc quốc". Nhưng đáng
tiếc là chúng tôi chưa tìm thấy tác phẩm nào của ông còn lại đến ngày nay.
Bước đầu nghiên cứu về Trạng nguyên
Trần Văn Bảo, chúng tôi chỉ giám hy vọng tập hợp và phân tích tư liệu viết về
ông, góp phần tái hiện chân dung xác thực về một danh nhân văn hoá tiêu biểu
của tỉnh nhà.
I - Sơ lược tiểu sử, sự nghiệp của Trạng nguyên Trần Văn Bảo
Trần Văn Bảo (sau đổi tên là Trần Văn
Nghi, có tài liệu chép là Trần Văn Tuyên) sinh năm Giáp Thân 1524, mất năm Canh
Tuất 1610, quê làng Cổ Chử, huyện Giao Thuỷ, trấn Sơn Nam (nay là thôn Dứa, xã
Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
Theo gia phả họ Trần làng Cổ Chử, cha
Trần Văn Bảo là Trần Công, người ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn
Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Vào thời Lê, Trần
Công di cư xuống làng Cổ Lãm (sau đổi là Cổ Chử), huyện Giao Thuỷ. Trần Công
lấy vợ người làng Cổ Chử, sinh được hai người con là Trần Văn Bảo và Trần Văn
Hoà. Mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, anh em Trần Văn Bảo sống rất khổ cực nhưng
vẫn ham học. Thân mẫu hai ông phải tần tảo buôn bán hoa quả ở chợ Lạc Đạo (nay
thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) để lấy tiền nuôi hai con ăn
học. Khi hai con vừa đến tuổi trưởng thành thì bà qua đời. Sau khi mẹ mất, gia
cảnh Trần Văn Bảo lại càng khốn khó nhưng ông vẫn quyết chí học tập.
Năm 27 tuổi, Trần Văn Bảo đỗ Đệ nhất
giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh
Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên.
Sau khi đỗ Trạng nguyên, Trần Văn Bảo được bổ
làm quan trong triều đình nhà Mạc. Sau này ông đổi tên là Trần Văn Nghi rồi đi
sứ nhà Minh (Trung Quốc). Khoảng đầu niên hiệu Diên Thành (1578) triều Mạc Mậu
Hợp, Trần Văn Bảo được thăng chức Thượng thư, tước Nghĩa Sơn bá. Đến tháng 7
năm Tân Tị 1581 ông lại được Mạc Mậu Hợp giao chức Lại bộ Thượng thư, cho vào
hầu giảng ở toà Kinh Diên.
Thời kỳ này nhà Mạc suy tàn, kỷ cương
lỏng lẻo, xã hội rối ren, quan quân đánh dẹp liên miên, dân tình vô cùng khổ
cực. Mạc Mậu Hợp lên ngôi từ khi mới hai tuổi, lớn lên chỉ ham chơi bời rượu
chè, gái đẹp, chẳng quan tâm đến chính sự. Các quan đại thần trong triều như:
Hộ bộ Thượng thư Giáp Trưng, Thiêm đô Ngự sử Lại Mẫn, Đông các học sĩ Nguyễn
Năng Nhuận, các Đô cấp sự trung ở sáu khoa (Nguyễn Phong, Nguyễn Tự Cường, Phạm
Như Giao, Nguyễn Ích Trạch, Lê Viết Thảng, Nguyễn Quang Lượng)... liên tiếp
dâng sớ lên Mạc Mậu Hợp, chỉ rõ chính sự suy đồi, khuyên răn Mạc Mậu Hợp hãy
chăm lo chính sự, nhưng Mạc Mậu Hợp vẫn không thay đổi.
Trước
tình hình suy sụp của triều đình và Mạc Mậu Hợp càng ngày càng lao vào ăn chơi
sa đoạ, Trần Văn Bảo đã tiên đoán sự diệt vong tất yếu của vương triều Mạc. Ông
cảm thấy buồn nản và bất lực, muốn lui về ẩn dật. Trong tờ sớ của các Đô cấp sự
trung sáu khoa dâng lên Mạc Mậu Hợp hồi tháng 6 năm Tân Tị 1581 có đoạn viết về
Trần Văn Bảo như sau:
"... Văn thần trọng trách như
Nghĩa Sơn bá Trần Văn Nghi, Vịnh Kiều bá Hoàng Sĩ Khải, An Khê bá Mai Công, Đam
Xuyên bá Nguyễn Triệt, thì đều giữ vẻ khoan hậu, không cần nghĩ tới việc sâu
xa. Bởi thế các liêu thuộc nhân đó mà trễ nải..."(1)
Lời nhận xét trên chứng tỏ Trần Văn
Bảo đã mang tâm trạng chán nản, không còn ham chức tước, muốn lui về quê làm
một xử sĩ.
Ngày
mồng 7 tháng 8 năm Tân Tị 1581, Trần Văn Bảo vào triều yết cáo xin về cố hương
và dâng sớ từ chức Lại bộ Thượng thư. Đại lược nội dung tờ sớ của ông như sau:
"Trong khoảng trời với người
giao cảm, đều ứng vào cùng loại với nhau, như nhân sự hay thì trời ứng điềm lành,
nhân sự dở thì trời ứng điềm dữ.
Chính sự thời nay, rất nhiều việc hại
đạo trái lẽ, không thể kể xiết.
Những
tờ sớ của các vị đình thần trước sau đã tâu bày, đều nói thẳng những sự sai
lầm, có thể như những liều thuốc hay, rất đáng cứu xét để tu tỉnh. Bệ hạ tuy đã
ban chỉ dụ khen ngợi, mà vẫn chưa thấy mở rộng lượng theo lời can gián, như bệ
hạ dạy rằng: lời này có thể làm theo, mà sao vẫn chưa thấy thi hành thực sự;
như việc nọ đã qua bàn luận rất nên châm chước thi hành, mà sao vẫn không thi
hành; như văn bản kia lưu ở trong cung, rất nên truyền ra, mà sao vẫn chưa phát
ra... Không biết đó có phải là do ý định của bệ hạ mà tạo ra tình trạng đó hay
là hoặc có kẻ làm mờ ám thông minh, lừa dối bệ hạ chăng?
Những việc như thế, rất trái với
đường lối trị nước. Cho nên thể thống triều đình, ngày càng rối loạn, những lời
công luận, ngày càng bế tắc. Trong nước không có chính trị hay, cho nên trời ra
điềm dữ để cảnh tỉnh, như là sao chổi xuất hiện; núi tự nhiên lở, cùng là nhật
thực nguyệt thực. Nay lại phạt bằng trận mưa bão dữ dội ngay tại kinh sư, đó là
tai dị rất lớn.
Thời
xưa vua Cảnh Công chỉ nói một lời thiện, mà sao chổi phải lui; nước Trịnh vì có
chính trị hay, mà khỏi tai hoạ về sau. Đó đều là điểm đã nghiệm về người thắng
trời, đức giải hạn, mà cũng đủ làm tấm gương soi tỏ cho ngày nay.
Kính mong bệ hạ, sợ oai trời, sửa đức
mình, ban sắc lệnh cho phụ chính ứng vương phải hết sức tu tỉnh, giúp việc
triều đình, để tâm vào việc giữ yên hoàng gia, nằm gai nếm mật, lấy việc diệt
quốc thù làm trách nhiệm của mình. Lại cần đòi hỏi các vị đại thần, tin dùng
những lời can gián trung thực; cải cách các điều lỗi, sắp đặt hết mọi việc. Như
vậy là nhân sự đã hoàn thiện, thì thiên ý tự khắc vãn hồi, và thiên hạ quốc gia
sẽ ngày một thịnh vượng thái bình. Nếu không thì thời kỳ bại vong khó tránh
được.
Hạ
thần không xứng chức, tự hạch xin miễn chức, và tới trước cửa khuyết để đợi
tội, hoặc biếm hoặc truất, kính theo mệnh của bệ hạ".(2) (Hết trích)
Sau khi xem xong tờ sớ của Trần Văn
Bảo, Mạc Mậu Hợp liền ban sắc uý dụ và buộc ông phải nhận chức.
Ngày 29 tháng giêng năm Nhâm Ngọ
1582, Mạc Mậu Hợp cho dựng ngôi điện giảng học, nhưng kỳ thực là để làm nơi yến
tiệc chơi bời. Điện vừa làm xong thì bị hoả hoạn cháy trụi. Nhân sự kiện này,
Trần Văn Bảo lại dâng sớ khuyên răn Mạc Mậu Hợp. Sớ rằng:
"Kinh thư có câu: "Duy cát
hung bất tiếm tại nhân, duy thiên giáng tai tường tại đức" (Sự lành dữ xảy
ra không lộn, tại người, trời giáng tai ương hay điềm lành, đều bởi đức).
Nay bệ hạ mới ngự ngôi điện mới dựng,
đáng lẽ là lúc bắt đầu ban bố chính sự và giáo hoá, thế mà lại tới đấy để thoả
vui yến tiệc, không có đề phòng, đến nỗi ngôi điện bị cháy, việc này không thể
đổ cả cho trời được, đó chính là bởi nhân sự xui lên vậy. Nếu người không có sơ
hở, thì tai biến đâu có xảy ra. Ý trời răn bảo đã rõ ràng như vậy, chính là lúc
bệ hạ nên lo sợ chăm chỉ.
Kính mong bệ hạ, kính sợ lời răn của
trời, nghĩ tới vương đạo, đừng cho lời nói của hạ thần là viển vông.
Đến như sự sửa sang lại kinh thành,
trù hoạch quy củ, dự định dựng ngôi điện, để bệ hạ tới ngự, cũng là một cơ hội
trung hưng thứ nhất. Vậy nên mong bệ hạ quyết đoán: giữa mong ứng vương tán
trợ; dưới mong tất cả văn võ bá quan hoà mục, để cùng bàn tính kinh doanh, dựng
lên một ngôi điện nguy nga giữa trời".(3) (Hết trích)
Mạc Mậu Hợp xem sớ rồi khen là thiết
đáng, nhưng chỉ phán: "Trẫm đang suy nghĩ" và chứng nào vẫn tật ấy.
Nội dung các tờ sớ của Trần Văn Bảo
thật thẳng thắn, chí lý, phân tích rõ nguyên nhân suy tàn của triều Mạc, đồng
thời đề ra biện pháp cứu vãn tình thế, khuyên răn Mạc Mậu Hợp phải kịp thời sửa
mình và chăm lo chính sự... Hơn 30 năm làm quan dưới triều Mạc, Trần Văn Bảo đã
đem hết sức lực, tài năng, trí tuệ giúp cho việc củng cố vương triều Mạc. Thật
đáng tiếc là Mạc Mậu Hợp đã không nghe theo những đề xuất của Trần Văn Bảo, để
đến nỗi bị nhà Lê tiêu diệt vào năm 1592.
Tháng 3 năm Nhâm Ngọ 1582, Trần Văn
Bảo lại xin từ chức Lại bộ Thượng thư để nhường cho các vị sứ thần vừa đi Trung
Quốc về nhưng Mạc Mậu Hợp vẫn không chấp nhận.(4)
Tháng 11 năm Bính Tuất 1586, Lại bộ
Thượng thư Nghĩa Sơn hầu Trần Văn Nghi (tức Trần Văn Bảo, thời gian này ông đã
được thăng tước hầu) xin tu sửa Trường quốc học, hai giải vũ ở điện Đại Thành
và nghi môn tiền, nghi môn hậu, giảng đường, định lễ nhạc để tỏ rõ sự tôn sư
trọng đạo và mở rộng nền văn hoá giáo dục. Mạc Mậu Hợp không theo.(5)
Sau nhiều lần đề xuất những biện pháp
cải thiện nền chính trị không được Mạc Mậu Hợp chấp nhận, khuyên răn vua Mạc
sửa mình và chăm lo chính sự mà Mạc Mậu Hợp vẫn để ngoài tai, liên tiếp xin từ
chức để về cố hương cũng không được Mạc Mậu Hợp đồng ý, Trần Văn Bảo cảm thấy
mình bất lực. Tâm trạng buồn chán của ông ngày càng nặng nề, dần dần mất lòng
tin đối với Mạc Mậu Hợp, dẫn đến hành động tất yếu là từ quan đi ẩn dật. Trần
Văn Bảo bỏ nhà Mạc nhưng không làm quan cho nhà Lê. Đó là nỗi day dứt với quan
điểm "Tôi trung không thờ hai chúa" và cũng chứng tỏ Trần Văn Bảo vẫn
mong muốn nhà Mạc làm được những điều tốt đẹp cho dân cho nước.
Khoảng cuối năm Bính Tuất 1586, Trần
Văn Bảo bỏ quan về quê rồi đi ẩn dật ở làng Phù Tải, huyện Bình Lục (nay thuộc
xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Tại đây ông mở trường dạy học
kiếm sống và đào tạo nhân tài cho đất nước. Học trò theo học rất đông. Thương
thày một thân vất vả, sớm khuya không người giúp đỡ, học trò bàn nhau mối manh
và xin ông kết duyên cùng bà Đào Thị Phượng, người làng Tiêu Động gần bên. Trần Văn Bảo có một người con với bà Đào Thị
Phượng là Trần Ngọc Lâm.
Năm
Canh Tuất 1610 Trạng nguyên Trần Văn Bảo qua đời, thọ 87 tuổi. Học trò lập đền
thờ ông ở Đông Lân điếm. Dân làng Phù Tải tôn ông làm Đương cảnh phúc thần. Mộ
ông hiện còn tại khu Mả Cả (Phượng Hoàng), làng Phù Tải, xã Trung Lương, huyện
Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông làm quan trải thăng đến tước hầu, sau khi mất được
tặng tước Nghĩa Quận công.
Trần Văn Bảo có ba người con (hai con
với bà vợ cả ở Cổ Chử, một con với bà vợ hai ở Phù Tải):
- Con cả là Trần Đình Huyên, sinh năm
Tân Dậu 1561, không rõ năm mất. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa
Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái 1(1586) đời Mạc Mậu Hợp. Sau ông theo về nhà Lê,
làm quan đến Công khoa Đô cấp sự trung.
- Con thứ là Trần Văn Thịnh thi đỗ tứ trường
(Hương cống) khoa Mậu Tý 1588, thi hội đỗ tam trường khoa Kỷ Sửu 1589 đời Mạc
Mậu Hợp. Ông được Mạc Mậu Hợp gả em gái là Quyền Lộc công chúa cho làm vợ. Theo
gia phả họ Trần ở Cổ Chử thì Phò mã Đô uý Trần Văn Thịnh làm quan nhà Mạc đến
Thượng thư. Năm Nhâm thìn 1592 nhà Mạc mất, Phò mã Trần Văn Thịnh quyên sinh.
Quyền Lộc công chúa cũng tự vẫn theo chồng.
- Con út là Trần Ngọc Lâm, sau làm
quan đến Tri huyện, được phong tới tước hầu, là thuỷ tổ họ Trần làng Phù Tải.
Hậu duệ của Trạng nguyên Trần Văn Bảo ở Phù Tải, tính đến năm 1789, có 25 người
ra làm quan thì 14 người trúng ngạch võ cử, trong đó có 4 người đỗ Tạo sĩ.
Trong số con cháu Trạng nguyên Trần Văn Bảo ra làm quan có 1 người được phong
tước bá, 1 người tước tử, 2 người tước nam.
II - Một số vấn đề về Trạng nguyên Trần Văn Bảo cần làm rõ:
Như trên đã trình bày, do Trạng nguyên Trần Văn Bảo
làm quan với triều Mạc, mà triều Mạc đối với các sử gia thời trước bị coi là
nguỵ triều, nên không được ghi chép đầy đủ. Do đó tài liệu viết về Trần Văn Bảo
hiện còn rất ít, lại sơ lược và nhiều điều không thống nhất, cần phải làm rõ.
1- Về người em của Trần Văn Bảo là Trần Văn Hoà có phải đỗ tới Tiến sĩ
không?
Cuốn “Thờ thần ở Việt Nam” (Nxb Hải
Phòng, 1996.- T.2) chép anh em Trần Văn Hoà và Trần Văn Bảo cùng đỗ Hương cống
khoa Kỷ mùi 1548, lại cùng đỗ đại khoa khoa Canh Tuất 1550 triều Mạc Phúc
Nguyên (Trần Văn Bảo đỗ Trạng nguyên, Trần Văn Hoà đỗ Tiến sĩ).
Khoa Canh Tuất triều Mạc lấy đỗ 26
Tiến sĩ. Các sách đăng khoa lục và lịch sử đều chép đủ cả tên tuổi, quê quán
các vị đỗ khoa này. Một người là Trần Vi Nhân (người huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh) vì gặp đại tang nên không dự thi Đình, do vậy “Đại Việt sử ký toàn thư”
chỉ ghi khoa này lấy đỗ 25 người. Trong số 26 người đỗ khoa này không có Trần
Văn Hoà. Tra cứu rộng ra các khoa thi triều Mạc và triều Lê cũng không thấy tên
ai là Trần Văn Hoà người Cổ Chử đỗ Tiến sĩ.
Có thể kết luận Trần Văn Hoà không
phải là đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc
Nguyên. Nói Trần Văn Hoà đỗ Tiến sĩ cũng không có cơ sở. Như vậy Trần Văn Hoà
có thể chỉ đỗ tới Hương cống thôi. Tuy nhiên nói Trần Văn Hoà đỗ Hương cống
khoa Kỷ Mùi 1548 cũng không phải. Năm 1548 là năm Mậu Thân chứ không phải Kỷ
Mùi.
2 - Về dòng dõi Trạng nguyên Trần Văn Bảo
Hiện có hai thuyết về dòng dõi Trạng
nguyên Trần Văn Bảo:
a- Thuyết thứ nhất nói rằng Trần Văn Bảo là con Trần
Công, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, di cư xuống vùng Cổ Chử, lấy vợ
người làng, sinh ra anh em Trần Văn Bảo và Trần Văn Hoà... như đã trình bày ở
phần trên, theo Gia phả họ Trần làng Cổ Chử, thần tích thần phả địa phương và
một số tác giả thời nay.
b-
Thuyết thứ hai nói Trần Văn Bảo vốn họ Lê, con Lê Minh Triết ở làng Đại Bối,
huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Lê Minh Triết là một trong 5 vị hổ tướng triều
Lê, được phong tước tới Hán Quận công. Năm 1527 Lê Minh Triết mất, Lê Minh Bảo
theo mẹ về quê ngoại ở Cổ Chử sinh sống và đổi tên theo họ mẹ là Trần Văn
Bảo... Thuyết này theo Gia phả họ Trần ở Phù Tải và các bài nghiên cứu về Trần
Văn Bảo của một số tác giả gần đây.
Tra
cứu nhiều tài liệu lịch sử, chúng tôi không tìm thấy sách nào nói về 5 vị hổ
tướng triều Lê cả. Chẳng lẽ một vị hổ tướng được phong tước tới Quận công mà
không một tài liệu nào nhắc đến?
Tuy nhiên, “Đại Việt sử ký toàn thư”,
“Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt thông sử” đều nói tới một Lê Minh
Triết (Triệt) nổi dậy khởi nghĩa ở vùng Nghệ An, bị Trịnh Duy Sản đánh dẹp,
chém đầu vào năm 1512. Rõ ràng Lê Minh Triết này không thể là cha Trần Văn Bảo,
người ra đời năm 1524.
Tìm hiểu cuốn “Gia phả họ Trần ở Phù
Tải” thấy có nhiều điều mâu thuẫn, phi lý. Trần Văn Bảo bỏ quan về quê rồi đi
ẩn dật với mục đích "mai danh ẩn tích". Có lẽ vì thế các tác giả viết
gia phả họ Trần ở Phù Tải sau này đã không biết được gốc tích của Trần Văn Bảo.
Họ đã dùng hình thức "phụ đồng giáng bút" để hư cấu những điều họ
không biết rõ về Trần Văn Bảo. Một số tác giả nghiên cứu gần đây đã căn cứ vào
cuốn gia phả này dựng lại chân dung Trạng nguyên Trần Văn Bảo mà không chọn
lọc, phân tích, đối chiếu với tài liệu lịch sử, đã đưa ra thuyết về nguồn gốc
Trần Văn Bảo không đúng sự thật này.
3 - Trần Văn Bảo có phải là Tam nguyên không?
Một số tác giả viết rằng Trần Văn Bảo
đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình (tức Tam nguyên). Thực ra đỗ Hội nguyên
khoa Canh Tuất 1550 triều Mạc là Tiến sĩ Ngô Bật Lượng, người làng Bái Dương,
huyện Tây Chân (nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam
Định). Các đăng khoa lục còn chép rõ điều này.
Như vậy, Trần Văn Bảo không phải là
Tam nguyên. Ông chỉ là người đỗ Đình nguyên thôi. Trạng nguyên là bậc đỗ Tiến
sĩ cao nhất thời phong kiến, cho nên danh hiệu này đã bao hàm danh hiệu Đình
nguyên rồi. Khi nói Trạng nguyên thì không cần nói Đình nguyên nữa.
4 - Trạng nguyên Trần Văn Bảo đi sứ thời gian nào?
Về việc đi sứ của Trần Văn Bảo, các
thư tịch cổ chỉ chép chung chung là: "Sau ông đổi tên là Trần Văn Nghi đi
sứ Trung Quốc" hoặc chỉ nói "Ông có đi sứ Trung Quốc".
Cuốn “Thần tích Việt Nam” (Nxb. Văn
hoá thông tin, 1995, sau Nxb. Hải Phòng in lại đổi tên là “Thờ thần ở Việt
Nam”), cuốn “Thành hoàng Việt Nam” (Nxb. Văn hoá, 1997) và một số bài viết đăng
tạp chí gần đây đều viết Trần Văn Bảo cầm đầu 4 bộ sứ thần nhà Mạc đi sứ Trung
Quốc vào năm Canh Thìn 1580 (Lê năm Quang Hưng thứ 3, Mạc năm Diên Thành thứ
3). Sau khi đi sứ về ông lại giữ chức Thượng thư sáu bộ.
Tra cứu các thư tịch cổ thấy rằng,
cuối năm Canh Thìn 1580 nhà Mạc có cử 4 bộ sứ thần đi Trung Quốc. Đoàn đi sứ
này mãi đầu năm Nhâm Ngọ 1582 mới về nước. “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt
thông sử” đều chép đầy đủ danh sách 12 vị sứ thần là: Lương Phùng Thì (Thìn,
Thời), Nguyễn Nhân An, Nguyễn Uyên, Nguyễn Khắc Tuy, Trần Đạo Vịnh, Nguyễn
Kính, Đỗ Uông, Vũ Cẩn, Nhữ Tống, Lê Đình Tú, Vũ Tính, Vũ Cận (Vũ Hoàng). Rõ
ràng không có Trần Văn Bảo (Nghi, Tuyên) trong danh sách sứ thần. Hơn nữa, “Đại
Việt thông sử” chép năm Tân Tị 1581 Trần Văn Nghi (tức Trần Văn Bảo) được Mạc
Mậu Hợp giao chức Lại bộ Thượng thư nhưng ông đã xin từ chức mà không được Mạc
Mậu Hợp đồng ý. Tháng 3 năm Nhâm Ngọ 1582 ông lại xin từ chức Lại bộ Thượng thư
để nhường cho các vị sứ thần vừa đi Trung Quốc về. Như vậy Trần Văn Bảo không
đi sứ vào thời gian từ năm 1580 đến năm 1582.
Tháng 10 năm Giáp Thân 1584 nhà Mạc
cử Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Vĩnh Thác (có sách chép là Nguyễn Vĩnh Kỳ), Nguyễn
Năng Nhuận, Đặng Hiển, Vũ Sư Thước và Nguyễn Phong (có sách chép là Nguyễn Lễ
hoặc Nguyễn Nồng) đi sứ nhà Minh để cống nạp theo thường lệ. Trần Văn Bảo không
có tên trong danh sách đi sứ lần này.
Năm Mậu Thân 1548 có Lê Quang Bí đi
sứ Trung Quốc mãi đến năm Bính Dần 1566 mới trở về nước. Nhà Mạc sai Lại bộ
Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy
Quyết lên Lạng Sơn đón ông. “Đại Việt thông sử” chép về việc này như sau:
"Quang Bí đi sứ sang nhà Minh lo
việc cống hiến thường niên, từ năm Mậu Thân, niên hiệu Gia Tĩnh thứ 27 (1548),
ông đến Nam Ninh, bị nhà Minh ngờ là quan giả mạo, bắt phải chờ để tra xét minh
bạch đã, rồi mới cho dâng lễ phẩm. Thế rồi họ gửi văn thư đi tra xét, nhưng
chẳng có hồi âm, Quang Bí cứ phải lưu tại sứ quán chờ mệnh lệnh, Phúc Nguyên
thì vì lúc ấy trong nước nhiều nạn, bỏ khiếm khuyết việc cống hiến đã mấy năm
liền, nên cũng không giám tâu xin. Đến năm Quý Hợi, niên hiệu Gia Tĩnh thứ
42(1563), quan quân Lưỡng Quảng nhà Minh mới sai người đưa Quang Bí tới Bắc
Kinh. Nhân dịp đó Phúc Nguyên cũng sai quan hầu mệnh gửi cho Quang Bí 25 lạng
bạc để thưởng lạo..." (Hết trích)
Theo “Đại Việt thông sử” viết trên
đây thì từ năm 1550 đến năm 1566 rất ít khả năng nhà Mạc đi sứ Trung Quốc.
Như vậy có nhiều khả năng Trần Văn
Bảo đi sứ Trung Quốc vào khoảng thời gian từ 1567 đến 1578. Nhưng không có tài
liệu nào chép về việc đi sứ Trung Quốc của nhà Mạc trong khoảng thời gian này
nên chưa xác định được Trần Văn Bảo đi sứ vào năm nào.
5 - Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn vào năm nào?
Về năm bỏ quan đi ở ẩn của Trần Văn
Bảo, các tài liệu viết về ông không thống nhất, có nhiều điểm mâu thuẫn với
lịch sử. Đa số các thư tịch cổ chép Trần Văn Bảo thọ 63 tuổi, hoặc chết năm 63
tuổi. Có sách lại chép ông đi sứ rồi không về. Có lẽ các tác giả không biết
rằng năm 63 tuổi Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn nên đã cho là ông chết chăng? Năm
1586 cũng là năm Trần Văn Bảo 63 tuổi, do vậy việc bỏ quan về quê của ông có
nhiều khả năng là vào năm này.
Sách “Thành hoàng Việt Nam” chép Trần
Văn Bảo về trí sĩ năm 1592, nhưng lại viết "lúc đó Trạng nguyên đã ngoại
tứ tuần" thì thật là vô lý (vì Trần Văn Bảo sinh năm 1524).
Sách “Thờ thần ở Việt Nam” viết Trần
Văn Bảo từ quan năm 1591 và cho biết "năm đó Trạng nguyên 63 tuổi"
cũng là không đúng. Nếu Trần Văn Bảo từ quan năm ông 63 tuổi thì năm ông từ
quan phải là năm 1586 mới đúng.
Sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý
Đôn lần cuối cùng nhắc đến Trạng nguyên Trần Văn Bảo vào tháng 11 năm Bính Tuất
1586, sau đó không thấy nói gì về ông nữa. Trong số các quan chức của nhà Mạc
ra hàng nhà Lê vào năm 1592 có Lại bộ Thượng thư nhưng không phải là Trần Văn
Bảo, mà là Đỗ Uông. Trong số quan chức nhà Mạc ra hàng nhà Lê còn có một người
mang tước là Nghĩa Quận công nhưng không rõ tên là gì. Vậy Nghĩa Quận công này
có phải là Trần Văn Bảo hay không?
Sách “Lịch triều hiến chương loại
chí” của Phan Huy Chú có chép về Trần Văn Bảo, cho biết ông làm quan "trải
thăng đến tước hầu, năm 63 tuổi chết". Sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý
Đôn cũng chép vào thời điểm năm 1581 cho biết tước của Trần Văn Bảo là
"Nghĩa Sơn bá", đến năm 1586 lại chép là "Nghĩa Sơn hầu".
Điều này cũng khẳng định sinh thời Trần Văn Bảo làm quan trải thăng tới tước
hầu. Còn tước Nghĩa Quận công là ông được tặng sau khi mất. Do đó Nghĩa Quận
công ra hàng nhà Lê năm 1592 không phải là Trần Văn Bảo.
Từ những nhận xét trên chúng tôi nghĩ
rằng có nhiều khả năng Trạng nguyên Trần Văn Bảo bỏ quan đi ở ẩn vào cuối năm
1586, sau khi ông xin tu sửa trường quốc học và định lễ nhạc để tỏ rõ sự tôn
thày trọng đạo mà không được Mạc Mậu Hợp đồng ý. Lúc đó tâm trạng chán nản vì
bất lực của ông đã tới đỉnh cao, tất yếu dẫn đến hành động bỏ quan đi ở ẩn.
Bước đầu tìm hiểu về Trạng nguyên
Trần Văn Bảo với tham vọng góp phần dựng lại chân dung ông một cách xác thực,
nhưng lực bất tòng tâm, chắc chắn còn nhiều điều phải tìm hiểu kỹ. Mong được
bạn đọc chỉ giáo…
…………………..
Chú
thích:
(1)
- Lê Quý Đôn toàn
tập. - H.: Khoa học xã hội, 1978. - T.3. - Tr. 328 - 329).
(2)
- Lê Quý Đôn toàn
tâp. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr.335 - 336
(3)
- Lê Quý Đôn toàn
tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 339 - 340
(4)
- Lê Quý Đôn toàn
tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 340.
(5)
- Lê Quý Đôn toàn
tập. - T.3. - Sách đã dẫn. - Tr. 347
Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 1998. – Số 2. – Tr. 36 – 37.
TIẾN SĨ VŨ HUY TRÁC
VÀ “GIANG NAM LÃO PHỐ THI TẬP”
I – Tiểu sử Vũ Huy Trác:
Tiến sĩ Vũ Huy Trác (gia phả họ Vũ chép
là Vũ Duy Trác) hiệu Giác Trai, thuỵ Trung Thận, sinh ngày 7 tháng 5 năm 1730
tại ấp Lộng Điền, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (nay là thôn Lộng
Điền, xã Nghĩa Đồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Ông mất ngày 3 tháng 10
năm 1793. Thân phụ ông là Huấn đạo phủ Trường Khánh Vũ Hưng Nhai, thân mẫu là
bà Vũ Thị Ngọ. Theo tộc phả họ Vũ, ông thuộc đời thứ tám tính từ khi cụ thuỷ tổ
họ Vũ về lập nghiệp ở Lộng Điền.
Vũ
Huy Trác là một học trò thông minh, hiếu học. Năm lên tám tuổi, ông theo học
thầy Kim Lan họ Trịnh là Tri phủ Cẩm Giàng. Năm Đinh Mão (1747) ông dự kỳ thi
sát hạch ở huyện Đại An được xếp thứ ba khi mới 18 tuổi. Năm Canh Ngọ (1750)
ông theo học Thám hoa Phan Kính(1). Năm Tân Mùi (1751) Vũ Huy Trác thọ
nghiệp quan Quốc tử giám trực giảng Trần Văn Trứ(2).
Năm Quý Dậu (1753) Vũ Huy Trác đỗ Tỉnh nguyên Hương
cống. Lúc này cha ông đã mất được ba năm. Theo yêu cầu của mẹ, sau khi hết tang
cha, ông lập gia đình với con gái cụ sinh đồ Phạm Khắc Du.
Sau khi lấy vợ, Vũ Huy Trác vẫn quyết chí học hành để
đỗ đạt cao hơn. Ông đã tìm đến nhiều thày giỏi để học tập. Năm Ất Hợi (1755)
ông theo học thầy Hà Tông Huân(3). Sau đó ông lại tìm đến tận nhà Hoàng
giáp Đoàn Nguyễn Thục xin theo học(4). Sau khi đã ra làm quan, ông còn tìm đến
theo học Hoàng giáp Nguyễn Tông Quai ở Phúc Khê(5).
Vũ Huy Trác là người học giỏi, có chí và đức độ nên
được tiến cử làm Thị nội thư tả công phiên tùng giảng ứng vụ vào năm Tân Tỵ
(1761). Năm Nhâm Ngọ (1762) ông được thăng Binh bộ Tư vụ. Năm Giáp Thân (1764)
ông được bổ làm Huấn đạo phủ Tiên Hưng. Năm Mậu Tý (1768) ông làm Tri huyện Nam
Chân. Tương truyền, thời gian làm quan Tri huyện Nam Chân ông đã hết lòng giúp
đỡ nhân dân nên được dân sở tại rất yêu mến. Thấy ông hiếu học, ham đọc sách,
nhân dân trong huyện đã góp tiền mua một mảnh đất làm ngôi nhà ba gian khang
trang ở khu đất Long Đàm để ông làm nơi đọc sách. Nhưng ông chưa được ở ngôi
nhà đó ngày nào thì phải chuyển đi làm quan ở nơi khác.
Năm Cảnh Hưng 33 đời Lê Hiển Tông khoa Nhâm Thìn
(1772) Vũ Huy Trác đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Năm Quý Tỵ (1773) ông
được thăng Hàn lâm viện hiệu thảo. Năm Giáp Ngọ (1774) ông làm Giám sát ngự sử
đạo Thanh Hoá. Cuối năm này ông lại được đổi làm Hiến sát sứ Kinh Bắc. Năm 1776
ông làm Công khoa đô cấp sự trung. Năm Đinh Dậu (1777) ông được đổi làm Tham chính
Thanh Hoá. Năm 1779 ông làm Hiến sát sứ Nghệ An. Ông tỏ ra là viên quan mẫu
mực, có tài thu phục nhân tâm, được triều đình tín nhiệm. Nhiều nơi ông đến
nhậm chức được dân sở tại xin vẽ hình để thờ phụng. Năm Quý Mão (1783) triều
đình cử ông làm Tham chính Kinh Bắc. Năm 1784 ông được thăng Hàn lâm viện thị
thư và làm Đốc trấn Lạng Sơn. Ông đã giải quyết nhiều vụ tai ương thấu tình đạt
lý, được nhân dân mến phục. Bằng tài đức và tấm lòng chân thực yêu thương con
người, ông còn cảm hoá quy tụ được dân phiên mục. Năm Ất Tỵ (1785) ông lại được
Triều đình triệu về kinh giao cho chức Hàn lâm viện thị giảng (hàm tòng ngũ
phẩm).
Ngày 2 tháng 12 năm Ất Tỵ (1785) thân mẫu ông qua đời.
Ông được về quê chịu tang. Tháng 6 năm 1786 Bắc Bình vương Tây Sơn Nguyễn Huệ ra
Bắc diệt Trịnh. Vũ Huy Trác đang cư tang mẹ ở quê thì được chiếu của vua Lê
liền đến Nhĩ Độ theo việc binh và được cử làm Giám quân đạo Sơn Nam. Ông có
công giữ vững thành Vị Hoàng (nay thuộc thành phố Nam Định), được vua Lê ban
chức Hàn lâm viện Thị độc, tước Côi Lĩnh bá. Năm 1788 ông về kinh nhận chức Lễ
bộ Tả thị lang (hàng tam phẩm) kiêm Quốc Tử giám Tư nghiệp.
Năm Kỷ dậu (1789) kinh thành thất thủ, Quang Trung đại
phá Quân Thanh, vua Lê chạy đi Trung Quốc. Vũ Huy Trác theo vua Lê đến biên
giới nhưng vua Lê dụ ông về quê vì ông đã già yếu.
Sau khi về trí sĩ ở quê, Vũ Huy Trác dạy học, làm
vườn, làm thuốc chữa bệnh, làm thơ, sống thanh đạm. Ông là một nhà giáo có
nhiều học trò giỏi như Tri huyện Chân Ninh Đặng Xưởng người làng Ninh Cường,
Tri phủ Nghĩa Hưng Nguyễn Văn Tường…
Vũ Huy Trác chẳng những hiếu thảo với cha mẹ mà còn có
tình nghĩa với làng xóm. Ông đã dành dụm tiền lương mua gỗ lim làm lại ngôi
chùa làng Lộng Điền.
Ngày 3 tháng 10 năm 1793 Vũ Huy Trác tạ thế, để lại
niềm tiếc thương vô hạn cho dân làng. Ông được táng ở sứ Hậu Đồng làng Vân Cù
(nay thuộc huyện Nam Trực). Sau khi mất ông được thờ phối tự với thành hoàng
làng Lộng Điền.
Quan Đông các hiệu thư Ngô Tiêm (1749 – 1818) người
Cát Đằng (nay thuộc xã Yên Tiến, huyện Ý Yên), đỗ Tiến sĩ năm 1779 đã làm câu
đối viếng Vũ Huy Trác như sau:
Vị giang nhất phiến cô trung, Gia Cát vị vong do thị
Hán
Lão bạ lục niên nhiêu hạng, Bá Di trung tử bất thần
Chu.
Câu đối lấy sự tích ở Trung Quốc ca ngợi Tiến sĩ Vũ
Huy Trác tài đức như Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, trung quân như Bá Di thời
Chiến Quốc vậy.
II – Một số
giai thoại về Tiến sĩ Vũ Huy Trác:
Đối đáp với sứ giả Tây Sơn:
Sau khi bình định Bắc Hà, vua Quang
Trung có chủ trương sử dụng những quan lại có năng lực của nhà Lê. Xét thấy Vũ Huy
Trác là vị quan nhà Lê có tư cách đạo đức trong sáng và có tài thu phục nhân
tâm, vua Quang Trung sai sứ giả về tận quê mời ông ra làm quan với triều Tây
Sơn. Nhưng ông mang nặng tư tưởng “Tôi trung không thờ hai chúa”, cho rằng mình
hưởng lộc nhà Lê mà lại ra giúp Tây Sơn thì sẽ bị người đời chê cười nên ông đã
từ chối, không ra làm quan nữa.
Khi sứ giả Tây Sơn về quê mời Vũ Huy Trác ra làm quan
với nhà Tây Sơn, ông viện cớ mắt thong manh để từ chối. Sứ giả không tin, liền
lấy cây kim nhọn bất ngờ dứ dứ vào mắt ông. Thấy ông mắt không chớp, nét mặt
vẫn bình thản, sứ giả liền đọc một vế đối:
Con ngươi lồng lộng trong như ngọc.
Ông ứng khẩu đáp lại ngay:
Thằng bé ngăm ngăm cứng tựa đanh.
Vế đối của sứ giả thanh mà tục, tỏ ý xấc xược lại nhắc
đến tên làng Lộng Điền của Vũ Huy Trác. Vế đối của Vũ Huy Trác dùng chữ “nghiêm
trang” nói đến tên làng Ngăm của sứ giả (Vị sứ giả này là người làng Nghiêm
Trang), cũng rất thanh mà rất tục, tỏ rõ ý coi khinh sứ giả (coi vị sứ giả này
cũng như… cái chim thằng bé mà thôi). Vế đối của Vũ Huy Trác rất chuẩn, chữ đối
chữ, ý đối ý làm sứ giả tím mặt mà không chê vào đâu được. Sau sự kiện này, vua
Quang Trung biết không thể thuyết phục được Vũ Huy Trác nên đành cho biên tên
ông vào sổ nhiêu lão và để yên cho ông sống ở quê.
Dân gian lưu truyền và nhiều sách ghi lại chuyện Vũ
Huy Trác đối đáp với sứ giả Tây Sơn như là một giai thoại xác nhận tài năng văn
học của ông.
Làm quan không sợ uy quyền:
Trong cả cuộc đời làm quan, Vũ Huy Trác
luôn giữ mình trong sạch, thanh liêm và cương trực. Thời gian làm Hiến sát sứ
Kinh Bắc, ông đã xử nhiều vụ án rất nghiêm minh, bênh vực người dân vô tội,
trấn áp bọn quan lại và kẻ giàu có cậy quyền thế hà hiếp nhân dân, được nhân
dân hết lời ca ngợi. Vụ phạt Đặng Mộng Lân là một trong những vụ án Vũ Huy Trác
đã xử được nhân dân ca ngợi. Chuyện kể rằng:
Đặng Thị Huệ người làng Phù Đổng, huyện Tiên Sơn, sứ
Kinh Bắc là người có nhan sắc nhưng vô cùng xảo quyệt và đầy tham vọng. Sau khi
được tuyển làm cung nữ, thị Huệ tìm mọi cách quyến rũ Thái tử Lê Duy Vĩ. Nhưng
khi biết vua Lê không có thực quyền, thị Huệ lại tìm cách chạy sang phủ chúa để
quyến rũ Trịnh Sâm. Từ một cung nữ, Đặng Thị Huệ trở thành Tuyên phi đầy quyền
lực, được chúa Trịnh vô cùng yêu chiều. Đặng Mộng Lân (thường gọi là Ba Trà) là
em trai Đặng Thị Huệ, đã ỷ thế của chị tha hồ tác oai tác quái, làm nhiều điều
ngang ngược côn đồ mà không ai giám trị tội. Khi Vũ Huy Trác về làm Hiến sát sứ
Kinh Bắc, có người đánh bạo kêu lên ông là Ba Trà tự do giết người cướp của,
hãm hiếp phụ nữ giữa ban ngày, ai chống cự thì bị cắt vú sẻo tai… Nhân dân vô
cùng căm phẫn nhưng các quan sở tại đều phải làm ngơ vì sợ uy quyền nhà chúa.
Vũ Huy Trác cho gọi Đặng Mộng Lân đến công đường xét xử nhưng y không đến. Ông
liền sai lính đến bắt giải y tới công đường, kể tội và ra lệnh phạt 30 trượng
rồi tống giam y vào ngục. Việc đến tai nhà chúa, Tuyên phi vô cùng tức giận,
nhưng chúa Trịnh đành phải làm thinh vì biết Vũ Huy Trác là người cương trực.
Vua Lê thì hết lời khen ngợi và thưởng cho ông 500 quan tiền.
Làm quan nghiêm minh, không sợ uy quyền,
quyết giữ nghiêm phép nước như Vũ Huy Trác là tấm gương sáng muôn đời.
III – Giang nam lão phố thi tập(6):
Sinh thời Vũ Huy Trác làm nhiều thơ phú,
nhất là giai đoạn từ sau khi ông về sống ở quê nhưng không ghi lại thành tập
nên ngày nay phần lớn đã bị thất lạc. Người học trò của ông là Nguyễn Văn Tường
đã sưu tầm được 50 bài, chép lại đặt tên là Giang nam lão phố thi tập.
Thơ Vũ Huy Trác bộc lộ tâm trạng yêu
nước, thương dân, biết ơn công đức tiền nhân. Ông khẳng định quan điểm sống của
mình thật chí lý:
Vinh vi ngưu mã thân tâm sỉ
Nhục tác thần tiên miếu tự truyền.
(Thế nhân)
(Vinh làm trâu ngựa thân thêm nhục
Nhục được dân thờ lại hoá vinh).
Cuộc đời ông đã hành động theo quan niệm
sống ấy, tất cả vì dân. Bởi vậy, khi làm quan cũng như khi về hưu, ông tự thấy
mình “mái cỏ suy tư không vướng vít”, “hành tàng đều không thẹn”.
Ông viết một loạt bài về chủ đề danh
nhân, di tích lịch sử của đất nước với thái độ trân trọng, tự hào: Xuân nhật
bái mộ tổ, Nhân quy ngoại tổ gia yết phúc thần miếu, Hoà Lạc miếu, Hiến Nam Cần
thôn Dương Hậu miếu, Nguyễn gia tam tướng, Hải Khẩu tiên từ, Độc Cước từ sơn,
Nham Sơn động, Tang lâm Thánh Mẫu từ, Dữ Từ Quán Hoàng Tiến sĩ, Tạo sĩ công,
Quá Phùng Vương từ, Triệu Vương miếu, Quá Phạm tổ từ, Phạm công miếu, Đức Nhuệ
công…
Trên đường công cán, qua bến Kim Tông
thuộc huyện Ý Yên, ông nhớ người họ Đặng thời Trần từng có công bảo vệ và xây
dựng vùng đất nơi đây qua bài Kim Tông cổ độ (Kim Tông nơi bến sông xưa):
Trần mạt Đặng công vi sự quốc
Thiên sơn vạn thuỷ cảm ngôn nan
Phúc Thành ngự tặc tiêu Nam sử
Già cảng trừ Minh khứ vãn lan
Cổ độ trúc đê tồn tự miếu
Thuỷ thần thác tích ký từ nhan
Toán lai chí kim tứ bách tải
Tư đức hương yên bất cải quan.
(Trần mạt Đặng công lo việc nước
Muôn sông ngàn núi chẳng từ nan.
Phúc Thành gặp giặc ghi Nam sử,
Cảng Thái trừ Minh lớp sóng buông.
Ngăn lũ đắp đê dân kể lại,
Thuỷ thần mượn bóng đặt tên đền.
Bốn trăm năm trải không thay đổi,
Nhang khói ơn sâu mãi mãi bền).
Trước cảnh một số di tích ghi công các tiền nhân bị bỏ
hoang phế, ông lấy làm đau lòng, như bài Lê sơn Lý Đại Thành từ (Đền thờ Lý Đại
Thành ở núi Lê):
Mạc thời đại tướng trấn biên cương
Hải
tặc văn thanh bất cảm đương
Cộng đạo Nam nhân sùng tiết nghĩa
Như hà hương hoả thái thê lương?
(Mạc tướng biên cương từng trấn giữ
Nghe danh giặc biển đã kinh hoàng
Người Nam vốn trọng điều ân nghĩa
Sao để nơi này lạnh khói hương?)
Ông tỏ ra hài lòng trước việc nhân dân chăm sóc nơi
tưởng niệm danh nhân, hoặc nhắc nhở người sau phải nhớ công ơn của tiền nhân.
Trong bài Hoà Lạc miếu ông ca ngợi công tích đánh đuổi giặc phương Bắc dưới
thời Trần của hai anh em được thờ làm thành hoàng làng và nhắc nhở:
Ký
ngữ Nguyễn, Lê thị
Phụng
sự yếu tình thành.
(Nhắn
lời cho Lê, Nguyễn
Thờ
cúng phải chân thành).
Do
điều kiện lịch sử hạn chế, ông luôn tâm niệm quan điểm “Tôi trung không thờ hai
chúa”, cuối đời còn luyến tiếc nhà Lê:
Thân cư giang chi nam
Tâm tại giang chi bắc
(Giang nam lão phố.)
(Thân ở bên bờ nam
Tâm lại bên bờ bắc).
Ông thừa hiểu thời thế không thể đảo
ngược bánh xe lịch sử, nhưng ông vẫn canh cánh bên lòng nỗi luyến tiếc nhà Lê :
Lợi độn binh gia nan dĩ vọng
Quân thần nghĩa tụ huấn lương lân
(Tạc nhật)
(Trông thắng việc binh không thể
được,
Dựng
cờ dấy nghĩa lại khó khăn).
Phong tiền trà cúc phô xuân sắc
Thế ngoại hương dân yếm cựu liêu
Thí bốc hồi kinh chân bất vọng
Ỷ lan song lý ức đan biều.
(Nhàn ngâm)
(Trước gió cúc trà khoe sắc mới
Ngoài đời dân chúng chán vua quan
Về kinh ngày ấy dường không thể
Tựa cửa người xưa vẫn nhớ mong).
Vũ Huy Trác là một y sư có tiếng ở vùng đất Sơn Nam.
Trong Giang nam lão phố thi tập của ông có tới 18 bài thơ về các bài thuốc Nam.
Ông rất trọng nghề y, coi người làm cha làm mẹ biết nghề y là nhân từ, con cái
biết nghề y là có hiếu:
Phụ mẫu tri y khả dĩ từ
Nữ nhi học dược hiếu tiên kỳ.
(Cha mẹ biết y đáng gọi là từ
Con gái học y là điều đầu tiên của
hiếu).
Ông tuyển chọn những bài thuốc Nam
gia truyền đơn giản mà công hiệu, viết thành thơ (Tác dược phương thi) để dạy
học trò và cho nhân dân dễ nhớ:
Gia truyền kinh nghiệm vi thi tụng
Gia
giảm tuỳ thời bất tận quy.
(Đem các phương gia truyền viết thành thơ cho
dễ nhớ,
Gia giảm phải tuỳ thời mà vận dụng
cũng không hết phép tắc).
Một số bài “thơ thuốc” của ông như
Nông nhân tứ thời cảm mạo phương, Giải thử phương, Ẩm thực phúc thống phương,
Ngược tật phương, Phong thấp tửu, Sang độc gia truyền phương, Trần bì phương…
thường ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ thực hành mà hiệu nghiệm, rất
thuận lợi cho dân nghèo. Chẳng hạn bài Trị xà giảo phương (Phương thuốc chữa
rắn cắn) là một trong số đó:
Xà giảo tầm thường chúng bất tri
Mã đề lộ thượng chính kham y
Địa dương khương thảo phù đao diệp
Khởi tử hồi sinh lập khả kỳ.
(Rắn cắn tầm thường mấy kẻ hay
Mã đề trên lối đắp ăn ngay
Cỏ gừng, cỏ may, bồ cu vẽ
Khởi tử hồi sinh mới có ngày).
Hầu hết các bài trong Giang nam lão phố là thơ Đường
luật, chủ yếu là thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt, còn ngũ ngôn bát cú
chỉ có ba bài. Nói chung các bài thơ Đường luật của “Thần phú Giác Trai” niêm
luật chặt chẽ, đối chỉnh. Một vài bài phá cách khá đẹp hoặc ở thể cổ phong
phóng túng. Thơ Vũ Huy Trác ít dùng điển cố, từ ngữ dễ hiểu, hình ảnh giản dị
gần gũi với nhân dân, gây được cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc, đồng thời mang
tính tư tưởng của tác giả rõ nét, như bài Giai tiền thảo vịnh (Bản dịch):
Trước thềm dải cỏ sinh
Mây tóc bốn mùa xanh
Củ rễ dưỡng da, phế
Xinh tươi đã rõ rành
Người nằm trên chiếu nghỉ
Thịt rượu dùng thường xuyên
Ngày một thêm già yếu
Vô tình việc nước non.
Đọc Giang nam lão phố, phần nào ta hiểu được những suy
tư tình cảm và tài năng văn học của Tiến sĩ Vũ Huy Trác, một danh nhân của Nam
Định địa linh nhân kiệt, tác gia Hán Nôm tiêu biểu cho tầng lớp sĩ phu Bắc Hà
thời Hậu Lê, ta thêm tự hào về truyền thống cha ông. Đặc biệt, đối với bạn đọc
yêu mến thơ Đường luật, Giang nam lão phố thi tập là tài liệu tham khảo bổ ích.
Mùa
Đông năm 2008
………………..
Chú
Thích:
(1) Phan Kính (1715 – 1761) người
xã Lai Thạch, huyện La Sơn nay thuộc xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông đỗ Thám hoa năm 1743, làm quan đến Đốc đồng Tuyên Quang, có tập Dĩ Trực thi
tập để lại ở đời.
(2) Trần Văn Trứ (1716 – ?) người
xã Từ Ô, huyện Thanh Miện nay thuộc xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1743, làm quan đến Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Thiêm
đô ngự sử kiêm Quốc tử giám Trực giảng.
(3) Hà Tông Huân (1697 – 1766)
người xã Kim Vực, huyện Yên Định nay thuộc huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá. Ông
đỗ Bảng nhãn năm 1724, làm quan đến Tham tụng, Binh bộ Thượng thư. Ông nổi
tiếng là bậc tôn sư, đào tạo được nhiều học trò đỗ đạt cao.
(4) Đoàn Nguyễn Thục trước tên là Đoàn Duy Tĩnh (1728
– 1783) người xã Hải An, huyện Quỳnh Côi nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh
Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1752, làm quan đến Phó đô ngự sử.
(5) Nguyễn Tông Quai (1693 – 1767) người
xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái
Bình. Ông đỗ Hội nguyên Hoàng giáp khoa Tân Sửu (1721), làm quan đến Hộ bộ Tả
thị lang, tước Ngọ Đình hầu.
(6) Các trích dẫn thơ trong bài
theo bản dịch của nhóm Dương Văn Vượng, Trần Mỹ Giống, Hoàng Dương Chương.
Nguồn: Văn nhân. – 2008. – Số 59. – Tr. 32 – 34.
TIẾN SĨ NGÔ THẾ VINH
Tự là Trọng Phu, Trọng Nhượng, Trọng
Dực, hiệu là Dương Đình, Khúc Giang, Trúc Đường. Quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân nay là thôn
Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Ông là em Cử nhân Ngô Đình Thái, ông
nội Cử nhân Ngô Huy Trình.
Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý 1828, đỗ Đệ
tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh 10(1829), được
bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, lĩnh Tri phủ Định Viễn. Sau ông chuyển làm Viên
ngoại lang bộ Lại, rồi được thăng Lễ bộ Lang trung. Do phạm lỗi trong khi chấm
thi, ông bị cách chức và bị tước cả học vị Tiến sĩ. Ông về quê mở trường dạy
học, học trò theo học đông tới hàng nghìn, có nhiều người thành đạt như Bảng
nhãn Phạm Thanh, Thám hoa Nguỵ Khắc Đản...
Khi còn làm quan, ông nhiều lần đề nghị
triều đình sửa đổi cách học cách thi nhưng không được chấp nhận. Ông biên soạn
tới 72 bộ sách, phần nhiều là sách giáo khoa dùng trong các trường dạy chữ Hán.
Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: thơ, phú, trướng, đối, liên, tấu, biểu,
sớ, tụng, tự, bạt, bi, minh...
Biết ông là người có tài văn thơ, là
nhà giáo nổi tiếng đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, vua Tự Đức đã
khôi phục danh hiệu Tiến sĩ cho ông.
Tác phẩm:
- Bài tựa và phê bình sách Ức Trai di
tập.
- Bái Dương Ngô Thế Vinh kinh hồi tiễn
hành thi tập.
- Bái Dương Ngô tiên sinh trường thi
tập.
- Bái Dương phú lược.
- Bái Dương thi tập.
- Bái Dương thư tập.
- Bái Dương Tiến sĩ Ngô tiên sinh thi
tập.
- Dương Đình phú tuyển.
- Dương Đình thi phú văn tập.
- Hoàng các di văn.
- Khái đồng thuyết ước nhuận sắc.
- Khảo xích đạc bộ pháp.
- Khúc Giang Ngô Dương Đình văn tập.
- Luận thức đại lược.
- Nam Chân vịnh.
- Ngô Dương Đình văn tập.
- Nguyễn triều tấu biểu.
- Nhị Đào công từ bi.
- Nữ huấn tân thư.
- Tống sử lược.
- Trúc Đường chu dịch tuỳ bút.
- Trúc Đường khoá sách.
- Trúc Đường phú tập.
- Trúc Đường phú tuyển.
- Trúc Đường thi văn tập.
- Trúc Đường thi văn tập tuỳ bút.
- Trúc Đường thi văn thảo.
- Trúc Đường tuỳ bút.
+ Tham gia biên soạn các sách :
- Chuẩn định Hương Hội thí pháp.
- Thượng dụ huấn điều.
+ Bình sách :
- Tốn Phủ thi tập.
+ Duyệt các sách :
- Hoàng Việt sách tuyển.
- Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký
lục.
-
Long kiều linh ứng thánh chiêu Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký lục.
+ Có thơ, văn trong các sách :
- Bách quan tạ biểu.
- Bái Dương Ngô tiên sinh thi tập.
- Bùi gia Bắc sứ hạ văn thi tập.
- Ca trù thể cách.
- Cao Bằng ký lược.
- Chu tiên sinh hành trạng thảo.
- Chư đề mặc.
-
Danh biên tập lục.
- Dương Đình phú lược.
- Dương Đình phú phả.
- Dương Đình tang sự thi trướng đối
liên tập.
- Dương Đình thi trướng tập.
- Dương mộng tập.
- Đại Nam bi ký thi trướng bảo tập.
- Đối liên sao tập.
- Giai văn tập ký / In chung với Phan
Đình Phùng...
- Hoàng triều văn tập.
- Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí.
- Nam hành tập.
- Sơn đường khánh thị tập.
- Tập mỹ thi văn.
- Thần dân biểu lục phụ Bùi gia bắc sứ
hạ văn thi tập.
- Thi phú tạp sao.
- Thuý Sơn thi tập.
- Tiên đan tuỳ bút chư gia thi tập hợp
đính.
- Trúc Đường tiên sinh thi tập phụ tạp
liên trướng..
- Trúc Đường trường văn sách.
-
Trướng đối cập ứng chế văn.
- Trướng đối tạp lục.
- Tùng trúc liên mai tứ hữu.
- Ức Trai di tập.
- Yên hành khúc.
…………………
Nguồn:
Tác giả Hán Nôm Nam Định / Trần Mỹ Giống. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật,
2008.
HOÀNG GIÁP PHẠM VĂN NGHỊ
Phạm Văn Nghị tự là Nghĩa Trai (1805
- 1880), quê làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh
Nam Định (nay thuộc thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).
Xuất thân trong một gia đình thanh
bạch nghèo, trọng chữ nghĩa, cha đỗ nhị trường và làm thày đồ làng, mẹ làm
ruộng tần tảo nuôi cả gia đình, Phạm Văn Nghị được đi học từ khi lên 8 tuổi, đỗ
Tú tài khoa Ất Dậu (1825), đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1837), đỗ Đệ nhị giáp Tiến
sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19(1838). Sau khi
đỗ Hoàng giáp, ông được bổ chức Hàn lâm viện Tu soạn, rồi lần lượt giữ các
chức: quyền Tri phủ Lý Nhân, thăng Hàn lâm viện Thị độc sung Sử quán Biên tu,
Đốc học Nam Định, Thương biện tỉnh vụ, thăng Hàn lâm Học sĩ, phụ trách Dinh
điền sứ. Năm 70 tuổi, ông về nghỉ tại động Liên Hoa (Ninh Bình) cho đến khi
mất.
Năm 1858 quân Pháp nổ súng đánh chiếm
Đà Nẵng mở đầu giai đoạn xâm lược nước ta. Trước sức tấn công uy hiếp của quân
Pháp, triều đình Nguyễn ngày càng ngả theo phái chủ hoà, nhượng bộ, tiến tới
chịu khuất phục. Trong bối cảnh đó, Phạm Văn Nghị đã đi đầu trong giới sĩ phu
Bắc Hà, giương cao ngọn cờ quyết chiến. Trà Sơn kháng sớ vang lừng muôn thuở
của ông đã làm nức lòng mọi người, tăng quyết tâm cho phái chủ chiến. Trong bài
sớ bất hủ này, ông đề xuất "phải làm cho trên dưới một lòng, ba quân chung
sức", phải "dời căn cứ phòng thủ vào sâu trong nội địa, lấy ngắn đánh
dài, đánh đêm, đánh phục kích, dùng vũ khí thô sơ tiếp cận giặc". Đó chính
là phương châm chiến tranh du kích, phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân,
chọn cách đánh phù hợp trước kẻ địch mạnh để giành thắng lợi. Tiếc rằng triều
đình Nguyễn đã không chấp nhận đề nghị của ông.
Không chỉ bằng lời nói, Phạm Văn Nghị
còn thể hiện quyết tâm chủ chiến bằng hành động. Chính ông đã chiêu mộ và chỉ
huy đoàn nghĩa dũng, ngày 29 - 2 - 1860 lên đường vào Đà Nẵng để đánh chiếm lại
Sơn Trà. Sự kiện này được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam như một mốc son tươi
thắm, chứng tỏ lòng nhiệt thành yêu nước và quyết tâm chủ chiến của Phạm Văn
Nghị.
Từ năm 1861 Phạm Văn Nghị chuyển sang
công việc phòng thủ địa phương. Với chức Hiệp lí quân vụ đồn Bình Hải, rồi
Thương biện Hải phòng sứ, ông đã rong ruổi khắp miền duyên hải Nam Định (lúc đó
gồm cả Thái Bình), có lần sang cả Hải Dương, Quảng Yên tiễu phỉ do Tạ Văn Phụng
- một tên tay sai của Pháp - cầm đầu quấy rối hậu phương ta. Ông lại hiến
kế tổ chức các đội dân dũng để điều động phòng thủ tỉnh nhà, góp phần giữ yên
trị an ở địa phương. Khi đắp đồn Tròn gần cửa Ba Lạt, ông đã lấy 100 mẫu ruộng
công chưa sử dụng đến của xã Hà Cát (thuộc huyện Giao Thuỷ) để binh lính cày
cấy tự túc lương thực.
Cuối năm 1873 quân Pháp bất ngờ đánh
úp Nam Định. Ngày 10 - 12 - 1873 tàu giặc đến ngã ba Độc Bộ, quan quân chính
quy của triều đình hốt hoảng bỏ chạy, chỉ có đội dân binh của Phạm Văn Nghị là
kiên cường chống trả, cầm cự được 3 giờ, diệt 3 tên Pháp, bắn cháy tàu chiến
giặc. Chính người Pháp cũng phải thừa nhận trong cuốn Cuộc viễn chinh của Pháp
ở Bắc Kỳ (Le Haucourt, Pari, 1888) về sự kiện này như sau:
"Lối vào con ngòi (chỉ sông Đào)
dẫn đến sông Hồng có ba khẩu pháo trấn giữ, ngăn chặn tàu Scorpion và đã xảy ra
cuộc chiến đấu kéo dài 2 giờ. Hạm đội Pháp cũng thiệt hại tương đối nặng".
Thành Nam thất thủ, Phạm Văn Nghị đưa
quân về xây dựng căn cứ ở vùng núi Yên Hoà (Ý Yên), chỉ trong ba ngày đã có
7.000 người kéo về ứng mộ. Ông tổ chức lực lượng, đập tan cuộc tập kích của Đề
đốc Định - một tên tay sai do Pháp dựng
lên - khi chúng phối hợp với quân Pháp đánh căn cứ Yên Hoà. Ông phái quân thủ
hạ đi trấn áp bọn phản động, hào mục theo giặc, giữ yên ba huyện Phong Doanh, Ý
Yên, Thanh Liêm.
Tháng 3 năm 1874, theo điều ước
Philastre, quân Pháp rút khỏi Bắc Kỳ, Phạm Văn Nghị nhận lệnh đi hiểu dụ, ổn
định tình hình trong tỉnh.
Trong cuộc kháng chiến bảo vệ Nam
Định, Phạm Văn Nghị có vai trò quan trọng. Nếu như lệnh của triều đình cử Phạm
Văn Nghị làm quyền Tuần phủ Nam Định không vì giao thông ách tắc mà đến được tay
ông, chắc chắn công cuộc phòng thủ tỉnh nhà sẽ thu được nhiều thắng lợi vẻ vang
hơn.
Khi làm quan, Phạm Văn Nghị thường tự
nhủ: "Trị dân quý ở chỗ chớ nhiễu dân". Ông cấm các nha lại thuộc
quyền hạch sách đòi dân đút lót. Mỗi khi dân đến phủ kiện cáo điều gì, ông đều
tự mình xem xét, giải quyết thấu tình đạt lý. Những người thuộc quyền ông phàn
nàn rằng: "Cứ thế này thì đại nhân lấy gì chi dùng trong gia đình còn
thiếu thốn, mà kẻ nha lại thì uống nước mà làm việc ư?" Ông chỉ cười và an ủi họ: "Ta lạm giữ
chức vụ là cha mẹ dân. Đã là cha mẹ, có khi nào còn tìm cách cướp đoạt gia sản
của con!" Ông thanh liêm như thế
nên dân rất quý phục.
Năm 1840 đê Thanh Liêm trong hạt ông
bị vỡ. Vua Thiệu Trị vừa lên ngôi đã thừa nhận: "Nước lụt là thiên tai,
sức người không thể lại". Tuy vậy ông vẫn day dứt tự trách mình chưa làm
tròn nghĩa vụ chăm lo cho dân. Với nỗi niềm thương dân vô hạn đó, mỗi khi có
điều kiện là ông lại tìm cách hết sức giúp dân. Năm 1855 ông đang nghỉ dưỡng
bệnh, thấy vùng ven biển Đại An có nhiều bãi sa bồi chưa khai khẩn, ông đã xin
tỉnh cho lập trại Sỹ Lâm (sau phát triển thành tổng Sỹ Lâm), tạo cho nhiều gia
đình an cư lạc nghiệp. Nhớ công ơn người mở đất, dân làng Sỹ Lâm đến nay vẫn
còn thờ ông.
Trong thời gian giữ chức Hải phòng sứ
Nam Định, ông thường qua lại vùng Giao Thuỷ, Xuân Trường, thấy mùa màng thất
bát, dân tình đói khổ, ly tán, ông đã vận động những hào phú trong vùng và học
trò đóng góp tiền, thóc lập kho nghĩa thương ở từng vùng để cho dân nghèo vay
lãi nhẹ vượt qua cơn túng quẫn. Bản thân ông cũng bỏ ra 1000 quan tiền mua
ruộng giao cho dân địa phương cày cấy, gọi là nghĩa điền.
Khi con cả ông là Phạm Đăng Giảng đỗ
Phó bảng và được bổ làm Tri huyện Mê Linh (nay là Vĩnh Linh), người trong nhà
ngại đó là huyện nghèo và xa quê hương, riêng ông lại lấy làm mừng vì cho rằng
dân nghèo quan mới dễ liêm. Ông khuyên răn con ba điều mà cả cuộc đời ông đã
thực hiện triệt để, coi như là những điều cốt yếu trong đạo làm quan, mà gốc
giữ được là "tâm": Thanh liêm, chăm chỉ, thận trọng.
Bắt đầu dạy học từ năm 16 tuổi khi
còn đi học, Phạm Văn Nghị gắn bó với nghề dạy học trong suốt cuộc đời. Khi ông
vào kinh thi Hội vẫn có nhiều học trò theo học. Thời gian làm quan ở Quốc sử
quán trong kinh thành Huế (1840 - 1846), ông vẫn dành thời gian dạy học. Khi
ông cáo bệnh về quê mở trường Tam Đăng, trong 12 năm, từ Thanh Nghệ trở ra,
"người bốn phương cắp sách tới học hàng ngàn"(1). Từ năm 1857 đến năm
1862 Phạm Văn Nghị làm Đốc học Nam Định, chuyên trách lo việc học chính trong
tỉnh. Ngay cả khi đã ngoài 60 tuổi, lại rất bận với việc võ bị phòng giữ duyên
hải, ông vẫn tranh thủ kết hợp mở trường dạy học ở Hoành Nha (nay thuộc xã Giao
Tiến, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định). Trường Hoành Nha là một loại trường khá
đặc biệt trong lịch sử giáo dục nước ta, vừa dạy văn, vừa luyện võ.
Là một nhà giáo tâm huyết với nghề,
Phạm Văn Nghị chăm lo cải tiến phương pháp giảng dạy. Ông sáng tác những bài
thơ giáo dục để học trò dễ thuộc, dễ nhớ. Ông chú trọng việc dạy làm người cho
học trò. Tự biết mình không có sở trường làm quan cai trị và cũng không tha
thiết với danh vọng, lợi lộc, Phạm Văn Nghị tự nhủ mình: "Báo ơn nước, chỉ
còn có việc dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước". Trong số học trò của
ông có nhiều người đỗ đạt cao, trở thành những nhân sĩ yêu nước, làm nên sự
nghiệp nổi tiếng như: Tam nguyên Trần Bích San, Tam nguyên Nguyễn Khuyến, Hoàng
giáp Đỗ Huy Liêu, Phó bảng Đặng Ngọc Cầu, Phó bảng Lã Xuân Oai, Tiến sĩ Tống
Duy Tân, Thủ khoa Nguyễn Cao, Đại thần Cơ mật viện Phạm Thận Duật... Nhiều học
trò của ông trở thành những lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp mà chí khí và sự
nghiệp của họ còn lẫy lừng trong lịch sử như Phạm Nhân Lý, Đinh Công Tráng...
Thế kỉ 19 nước ta có ba người đạt
danh hiệu Tam nguyên thì trường Tam Đăng của Phạm Văn Nghị đã chiếm hai người.
Có thể coi trường Tam Đăng là một trung tâm giáo dục tốt nhất Bắc Kỳ thời đó.
Phạm Văn Nghị đã dồn hết tâm trí và
tài năng vào việc dạy học. Không được thày Phạm Văn Nghị nuôi dạy trong nhà như
con đẻ thì chưa chắc đã có ông Cử nhân Phạm Thật Duật, một danh nhân nổi tiếng
từng cáng đáng hầu hết các công việc mũi nhọn của đất nước thời Tự Đức, một
trong những người khởi động phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ 19.
Không có thày Phạm Văn Nghị có lẽ cũng không thể có Tiến sĩ Tống Duy Tân, một
thủ lĩnh phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hoá.
Câu đối của trò Tống Duy Tân viếng
thày phần nào đã thể hiện được cái chí nguyện của Phạm Văn Nghị và tình nghĩa
của trò đối với ông:
Tiên sinh lo việc trước người đời,
thân thế nổi chìm ôi mấy độ;
Đệ tử coi thày như thân phụ, mất còn
chung thuỷ mãi trăm năm.
Khối lượng tác phẩm của Phạm Văn Nghị
hiện còn đến nay khá nhiều: gần 600 bài gồm nhiều thể loại, riêng thơ khoảng
250 bài, được tập hợp trong Tùng Viên văn tập(2). Thơ văn yêu nước của
ông chỉ chiếm một phần nhỏ trong số này, nhưng đã thể hiện rõ chí khí quyết
không dung tha lũ giặc ngoại xâm và bọn tay sai bán nước. Trà Sơn kháng sớ của
ông được coi như là một lá phiếu biểu quyết cho quan điểm chủ chiến. Còn câu
thơ hào hùng sau đây chính là tuyên ngôn quyết chiến của ông:
Giặc
Tây sao giám phạm bờ cõi,
Chẳng mấy gươm trời quét sạch bay.
(Bài
Ngẫu tác khi đi thuyền qua Hưng Yên, thấy ruộng đồng rộng rãi, làng mạc liên
tiếp, đêm xuân yên ổn, dân chúng yên vui làm ăn / Nguyễn Văn Huyền dịch).
Trước cảnh quê hương bị quân thù dày
xéo, ông uất ức:
Mắt căm quân giặc phạm Trà Sơn
(Bài
Phụng chỉ cho về giữ chức cũ, thuật hoài /
Nguyễn Văn Huyền dịch).
Lòng căm thù giặc ở ông đến mức
"Giận sôi, tóc dựng mũ" và nhà thơ đã tự nhận lấy trách nhiệm
"Bút gác, há thua ai"(3) như nhiều trí thức có lương tri thuở ấy.
Ông đi vào cuộc chiến chống ngoại xâm với niềm lạc quan tin tưởng vào thắng lợi
của chính nghĩa, của dân mình, nước mình:
Sĩ dân đó, núi sông đây
Muôn năm bền vững nước non này.
(Bài
Ngẫu tác khi đi thuyền qua Hưng Yên, thấy ruộng đồng rộng rãi, làng mạc liên
tiếp, đêm xuân yên ổn, dân chúng yên vui làm ăn / Nguyễn Văn Huyền dịch).
Ông tin vào sức mạnh tinh thần của
mình, tin vào đạo lí mà ông suốt đời thờ phụng sẽ được đáp ứng:
Suốt đời trung hiếu một lòng
Tự nhiên sẽ được non sông phù trì.
(Bài Trên đường hành quân tự thuật / Đỗ Văn
Toại dịch).
Niềm tin ấy đã tiếp cho ông sức mạnh
vượt qua bao thử thách gian lao, kiên trì sự nghiệp chống giặc cứu nước.
Bên cạnh những bài thơ đầy chí khí
căm thù giặc, quyết không dung tha lũ xâm lược thì ông lại có những bài thơ
thắm đượm tình cảm nồng hậu đối với gia đình, người thân, học trò, bạn hữu,
nhân dân. Tình yêu nước ở ông là yêu mảnh đất quê hương, yêu những người thân
của mình. Mấy năm làm quan ở trong kinh, ông có tới ba bài thơ tưởng nhớ vợ,
tha thiết ước mong những giây phút hạnh phúc hiếm hoi:
Ước gì họp mặt đêm nay
Thoả lòng ao ước một ngày ba thu.
(Bài
Mùa xuân trạnh nhớ ai /Đỗ Ngọc Toại dịch).
Lòng nhớ thương người em đã mất của
ông thật cảm động:
Từ khi khuất nẻo chim hồng
Khăn
đầm lệ thấm, cõi lòng nát tan.
(Bài Nhân ngày giỗ nhớ đến
người em đã mất / Nguyễn Văn Huyền dịch).
Ông hết lời ca ngợi, biểu dương và
thương tiếc những con người nghĩa khí. Nhân ngày giỗ Đặng Ngọc Cầu, ông thương
tiếc người học trò yêu quí của mình:
Ví
còn anh ở dương gian
Thanh gươm yên ngựa dọc ngang chiến
trường.
(Bài Cảm tác nhân ngày giỗ
đoạn tang Phó bảng Đặng Xá họ Đặng / Vũ
Minh Am dịch).
Khi người học trò của ông là Tam nguyên
Trần Bích San mất, ông khóc thổn thức:
"Cha con một nhà: Thanh tiết
lừng vang, tài chính trị trác việt. Đất nước được mấy người làm quan như thế
thì còn lo gì, sợ gì nữa. Sao trời nỡ cướp đi vội bấy? Thế là xong! Thế là xong!"
(Bài
Viếng Trần Bích San / Nguyễn Văn Huyền dịch).
Trước cảnh quê hương gặp thiên tai,
mất mùa đói kém, dân tình khổ sở, ông xót xa:
Chiêm thất bát rồi, chua xót dạ
Mùa tiêu khô nữa, đớn đau lòng.
(Bài Gặp hạn cầu mưa, cảm tác / Nguyến
Văn Huyền dịch).
Nói chung thơ văn yêu nước của ông
thể hiện sâu sắc tấm lòng trung hiếu sắt son và tình yêu thiết tha với nước,
với dân, lòng căm thù giặc, quyết không dung tha quân xâm lược. Ông được coi là
một nhà thơ yêu nước tiêu biểu cuối thế kỉ 19 và là một tác gia có vị trí xứng
đáng trong nền văn học Việt Nam.
*
Phạm Văn Nghị là một trí thức Việt
Nam đã sống và chiến đấu hết mình cho dân tộc. Từ một vị đại khoa, một quan
văn, ông tự nguyện trở thành một lão tướng, mộ quân ứng nghĩa, xông pha trận
mạc, đem hết tài năng và sức lực phục vụ sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Danh
vọng, uy tín, những hành động thiết thực của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc không
chỉ ở Bắc Hà, mà còn có tác dụng khích lệ động viên quân dân cả nước tích cực
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Phạm Văn Nghị là một vị quan hết lòng
thương yêu và chăm lo cho dân, được dân yêu mến và kính phục. Là một nhà giáo,
ông đã suốt đời tâm huyết với nghề, đào tạo được nhiều người tài đức cho đất
nước.
Là một tác gia văn học, một nhà thơ
yêu nước tiêu biểu cuối thế kỉ 19, ông để lại một di sản văn học có giá trị
(Tùng Viên thi tập, Nghĩa Trai trường văn sách, Bài phú Nôm Pháp đánh Bắc
Kỳ...). Thơ văn của ông với cuộc đời ông là một, ở ông lời nói và hành động
luôn luôn nhất quán. Sự nghiệp vì dân vì nước và thơ văn của ông đều vẻ vang
hiển hách.
Ngày 12 - 12 năm 1880 ông qua đời, để
lại niềm thương tiếc vô hạn cho học trò, sĩ phu, bà con làng xóm và nhân dân
trong nước. Phạm Thận Duật, một học trò của ông đã viết về ông:
"Tiên sinh mất rồi, song cái
điều không bao giờ mất là cái chính khí "hạo nhiên" vẫn cùng với non
Côi, bể Nhạ, động Liên Hoa mãi mãi bất hủ. Người đời nay, người mai sau, nghe
thấy phong độ của tiên sinh ai mà chẳng kính mộ, ai mà chẳng noi theo, như thế
thì tiên sinh chưa phải là mất".
.........................................
Chú
thích:
(1)
Văn viếng Phạm Văn Nghị của Phạm Thận Duật.
(2) Sách lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí
hiệu A1337, dày 672 trang.
(3) Dâng sớ xin đi quân thứ Quảng Nam, được chỉ, cùng
các quan tỉnh dự tiệc tiễn / Nguyễn Văn Huyền dịch.
Nguồn: Văn nghệ trẻ. – 2006. - Số 45 ngày 6 – 12.
THỦ KHOA HOÀNG VĂN TUẤN
I – Tấm gương kiên cường chống Pháp
Hoàng Văn Tuấn còn gọi là Hoàng Văn
Liêm, sinh năm 1823 tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên (nay là thôn Phú Khê, xã Yên
Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định), trong một gia đình nổi tiếng về học vấn:
Anh trai ông là Hoàng Kim Chung (sau
đổi là Hoàng Trọng) đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thân niên hiệu Tự Đức 1(1848), làm
quan đến Đốc học Hải Dương. Sau ông cáo quan về quê dạy học, đào tạo được nhiều
nhân tài cho đất nước. Tam nguyên Hoàng giáp Tổng đốc Nguyễn Khuyến, một nhà
thơ lớn của dân tộc và Tam nguyên Hoàng giáp Tuần phủ Trần Bích San đều từng là
học trò của ông.
Cháu gọi Hoàng Văn Tuấn bằng chú ruột
là Hoàng Văn Cẩn cũng đỗ Cử nhân khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức 29(1876), làm
quan Huấn đạo, rồi Tri huyện Yên Phong. Ông là một tác gia Hán Nôm, có tác phẩm
Vân Sơn ký viết về Thiền phái Trúc Lâm hiện còn đến ngày nay...
Cháu ruột và cháu họ Hoàng Văn Tuấn
là Chu Thiên (tức Hoàng Minh Giám) và Nhượng Tống (tức Hoàng Phạm Trân) đều là
những nhà văn nổi tiếng.
Hoàng Văn Tuấn nổi tiếng thông minh,
học giỏi từ nhỏ. Do ông đỗ Tú tài liền ba khoa nên dân gian gọi ông là Mền
Liêm.
Khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức
29(1876), Hoàng Văn Tuấn đỗ Giải nguyên Cử nhân tại trường thi Thanh Hoá. Cháu
ruột gọi ông bằng chú là Hoàng Văn Cẩn cũng đỗ Á nguyên Cử nhân cùng khoa với
ông. Nhân sự kiện này, Tam nguyên Hoàng giáp Nguyễn Khuyến nguyên là học trò
của thày Hoàng Kim Chung có làm đôi câu đối mừng như sau:
Thí vấn thế huynh, Thanh Hoá sĩ hà
như Nam Định sĩ;
Đắc ư gia học, điệt Á nguyên duy
nhượng thúc Khôi nguyên.
(Thử hỏi thế huynh học trò Thanh Hoá
so với học trò Nam Định thế nào?
Học giỏi sở đắc ở nhà dạy, cháu đỗ Á
nguyên chỉ nhường có chú đỗ Thủ khoa).
Sau khi đỗ Cử nhân, Hoàng Văn Tuấn
được bổ làm Tri huyện Nam Xang (nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Về nhận
chức được ít ngày, ông bắt tay ngay vào việc trấn áp bọn cường hào, lý dịch để
nhân dân yên ổn làm ăn. Bọn này rất căm thù ông. Nhân dịp tết Nguyên Đán, chúng
cho tay chân đến tết ông một con cò trắng nhốt trong chiếc lồng sơn son, ngầm ý
chửi ông là quân cò trắng không thức thời theo Pháp để được vinh thân phì gia.
Ông nổi giận sai lính đánh cho tên đem lễ vật 100 roi cảnh cáo. Để trả thù ông,
bọn phản động tập hợp lực lượng bao vây uy hiếp huyện đường. Trong tình thế
nguy cấp, ông phải cho người tin cẩn giả bộ đi chợ để về báo tin cho gia đình
ứng cứu. Chiều 30 tết, có quan án sát đem một đội quân gươm giáo tuốt trần,
tiền hô hậu ủng, vào thẳng huyện đường, đọc lệnh bắt quan huyện Tuấn giải về
tỉnh trị tội. Đội quân đưa ông về thẳng làng Phú Khê, kịp lúc giao thừa. Biết
tin quan huyện Tuấn đã về, dân làng kéo đến chúc tụng rất đông. Thì ra quan án
sát và quân lính đều do người nhà ông đóng giả.
Sau sự kiện này, Hoàng Văn Tuấn liền
bỏ quan về nhà dạy học và dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp. Nhiều lần triều đình
Nguyễn triệu ông ra làm quan, ông đều kiên quyết từ chối vì thấy triều đình và
các quan tỉnh cứ nhượng bộ giặc Pháp, để cho bọn phản động đội lốt tôn giáo
hoành hành, gây cho nhân dân nhiều khổ cực.
Cảm phục ông là người nghĩa khí, có
chí lớn, không bị bả vinh hoa phú quý cám dỗ, lại nổi tiếng học giỏi nên học
trò theo học ông rất đông. Ngoài việc dạy chữ nghĩa, văn chương, Hoàng Văn Tuấn
còn thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện về thời thế, bồi dưỡng cho học trò
lòng yêu nước, căm thù giặc xâm lược, khích lệ học trò nuôi chí lớn cứu nước.
Rất nhiều học trò đã cùng ông tham gia phong trào Văn thân Cần vương chống
Pháp.
Năm 1858, quân Pháp tấn công Đà Nẵng.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, ông đã tổ chức một đội quân
gồm những học trò ở các huyện Ý Yên, Thanh Liêm, Bình Lục đi theo đoàn nghĩa
dũng vào nam chiến đấu để "lấy lại nước".
Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần
đầu. Ông tích cực cùng các văn thân tập hợp lực lượng thân hào, đinh tráng
trong huyện, cùng Phạm Văn Nghị giữ vững hai huyện Phong Doanh và Ý Yên, đánh
đuổi bọn Việt gian ra khỏi Thanh Liêm và Phủ Lý.
Sau Hoà ước 1874, quân Pháp trao trả
thành Nam Định cho triều đình Nguyễn. Vua Tự Đức đã tự tay viết tặng huyện Ý
Yên 8 chữ "Ý Yên tứ tú: Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương" biểu dương bốn người
tài giỏi, bốn ông Tú tài đã đứng ra tổ chức nhân dân huyện Ý Yên chống Pháp là
Phạm Lý ở xã An Hoà, Trần Văn Nghĩa ở xã Văn Xá, Hoàng Văn Tuấn và Lê Văn
Phương ở xã Phú Khê.
Năm 1883, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần
thứ hai. Không đợi có Chiếu Cần Vương, Hoàng Văn Tuấn đã chủ động mộ quân khởi
nghĩa, vận động nhân dân tích trữ lương thực, góp tiền mua vũ khí tham gia
chống Pháp. Ông tự nhận trách nhiệm làm Bang biện chỉ huy chiến đấu. Ông tổ
chức nghĩa quân thành các cơ, các ngũ, cắt cử người làm cai đội, suất đội, cai
quản và huấn luyện nghĩa quân rất có kỷ luật. Ông đã chỉ huy nghĩa quân đánh úp
đoàn thuyền Pháp trên sông Đáy (nơi gần bến đò Khuốt), chặn đánh quân bộ của
giặc ở Bình Lương (thuộc huyện Ý Yên), đem quân đánh tiếp ứng cho Bang biện
Phạm Lý ở An Hoà... Năm 1885 nghĩa quân của ông đã đánh lấy lại được thành Phủ
Lý. Ông còn liên hệ mật thiết với nghĩa quân của Thiên Hộ Giảng ở Nho Quan
(Ninh Bình) cùng hiệp đồng đánh Pháp. Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã thu
được nhiều thắng lợi, gây cho quân Pháp thiệt hại lớn.
Năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt, phong
trào Cần Vương lắng xuống rồi tan rã dần. Giặc Pháp đưa quân về đóng lô cốt ở
Cổ Đam (thuộc huyện Ý Yên) và đóng giữ đình Quán Chàm ở làng Phú Khê - quê Hoàng
Văn Tuấn. Chúng bao vây, truy nã ông ráo riết. Cuối cùng chúng lừa bắt được ông
đem giam giữ ở nhà lao Ninh Bình, kết án ông 10 năm phát vãng, rồi chuyển ông
lên Hà Nội đợi ngày đưa đi Côn Đảo. Học trò cũ của ông là Cả Tương, người làng
Nham Kênh, có lần đã cứu được vợ chồng tên quan năm Pháp có thế lực ở Sở Kiện
gọi là thằng Tây Sứt khỏi chết đuối, đã yêu cầu tên này vận động xin tha cho
ông. Khi thả ông, bọn Pháp dặn:
- Về sống yên ổn, không được làm giặc
nữa nhé!
Ông trỏ tay vào bụng, khảng khái trả
lời:
- Cái đó còn tuỳ ở bụng tôi. Tôi
không làm giặc, tôi chỉ đánh lại những kẻ lấn cướp nước tôi. Tôi hứa với các
ông, rồi về tôi lại cứ đánh Tây, chả hoá ra người nói dối à?
Bọn Pháp biết không thể khuất phục
được, đành để ông về quê, giao cho tỉnh quản thúc. Bọn phản động tay sai Pháp ở
Kẻ Non, Sở Kiện thường cho người đến thăm hỏi, biếu quà cáp để lấy lòng ông,
đồng thời để dò xét ông. Một lần có tên hào mục ở Sở Kiện đến chơi, khoe các cố
Tây như cố Phước (Puginier), cố Đông (Gendrau) tài giỏi và cứng cổ lắm. Ông
liền ngắt lời hỏi hắn:
- Cổ các anh cứng có bằng gươm không?
Tên hào mục chột dạ, chuồn mất.
Năm 1892, Hoàng Văn Tuấn mất, thọ 70
tuổi. Ông đã giữ vững khí tiết cho đến hơi thở cuối cùng.
II – Tác gia văn học yêu nước và cách mạng:
Hoàng Văn Tuấn không chỉ nổi tiếng là
một nhà giáo yêu nước, một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương kháng Pháp vùng
sông Đáy, mà còn là một tác gia văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ 19. Ông có tác
phẩm “Nam Xương nhàn ký” và nhiều thơ văn nói lên chí nguyện của mình, nhưng
tập thơ của ông ngày nay đã thất lạc. Hiện nay thơ văn của ông chỉ còn một số
bài in trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh và lưu truyền trong
dân gian.
Thơ văn Hoàng Văn Tuấn là tiếng lòng
của ông yêu thương, quý trọng bạn văn thân, căm thù quân xâm lược, thể hiện
tình yêu đất nước, yêu nhân dân, tinh thần tự tin, vui đời và ý chí quật cường
kháng Pháp.
Ông
tố cáo tội ác của quân Pháp xâm lược, đau đớn trước cảnh khổ cực của nhân dân
ta do bọn cướp nước gây ra:
Xã tắc luân vong, dân thống khổ,
Ngư, hà, điểu, thú diệc tai ương.
(Vô đề)
Đất nước đắm chìm, dân đau thương,
Chim, muông, tôm, cá cũng tai ương.
(Phan Cổn dịch )
Ông nhận thức rõ rằng muốn thoát khỏi
tai ương đó thì chỉ có một con đường là đứng lên chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược,
giành lại đất nước:
Hà thời tái đốc quân vương thổ,
Ngâm khải hoàn ca, xứ xứ xương.
(Vô đề)
Bao giờ đất nước thu về được,
Ngâm khúc khải hoàn, yên bốn phương.
(Phan Cổn dịch)
Ông dứt khoát chọn con đường chống
Pháp xâm lược để lấy lại non sông. Ông sẵn sàng chấp nhận tù đầy, tự nguyện từ
bỏ vinh hoa phú quý, quyết không cộng tác với quân thù, một lòng vững bước trên
con đường đã chọn. Tâm sự của ông, ý chí của ông thể hiện trong bài thơ
"Không ra làm quan", ông làm nhân thấy việc bọn "bợm" Pháp
xâm lược ngày càng lấn tới đè nén dân ta, còn triều đình Nguyễn lại ngày càng
thoả hiệp với giặc:
Chẳng thiêng cũng thể bụt chùa nhà,
Sao phải ra đường lạy Thích Ca.
Làm tốt cho người, người chẳng biết,
Kể ơn với bợm, bợm không tha.
Tìm đường khôn khéo càng thêm bận,
Mượn bước công danh ngại chóng già.
Sự nghiệp chẳng qua ăn với ngủ,
Học thêm mấy chữ để ngâm nga.
Ông kêu gọi mọi người hãy theo nếp cũ
của người Nam, không nên theo thói tục Tây để tỏ rõ thái độ quyết không đội
trời chung cùng quân xâm lược:
Tổ, lạp* biết rằng theo lối cũ,
Văn minh sao phải học thời nay.
Chữ Nam thôi để người Nam biết,
Ai kể rằng hay với chẳng hay.
(Thơ Tết năm
bảy mươi tuổi)
Khi ông bị giặc bắt giam ở đền Quan
Thánh (Hà Nội) chờ đưa đi Côn Đảo, có một số bạn nhà nho của ông nay đã làm tay
sai cho giặc, gửi sách và rượu cho ông, khuyên ông thôi đừng mơ mộng nữa, nên
quay lại thoả hiệp với Pháp để được yên thân. Ông làm bài thơ "Ngục trung
bất thuỵ" (Trong nhà giam không ngủ) để ngụ ý trả lời họ và thể hiện niềm
tin vào thắng lợi ngày mai của dân tộc. Ông khẳng định tuy thân ông còn ở trong
tù, nhưng ông vẫn tin vào thắng lợi của sự nghiệp mà bạn bè ông cùng nhân dân ở
bên ngoài đang thực hiện. Nguyên văn bài thơ như sau:
Thê thê phong vũ, dạ trì trì,
Tức tức trùng thanh nhiễu tứ vi.
Dục bổ di biên lai thuỵ pháp,
Nan tương trọc tửu áp hàn uy.
Mê đồ vi tất tri kim thị,
Mộng kính hà tu lãm cố phi.
Hồi thủ bách niên đô thị mộng,
Lân tường kê hưởng nhật tranh huy.
Nhà văn Chu Thiên là cháu nhà thơ yêu
nước Hoàng Văn Tuấn đã dịch bài này như sau:
Gió mưa buồn thảm kéo đêm dài,
Tiếng dế quanh nhà váng cả tai.
Sách nát khôn nhờ đưa tới ngủ,
Rượu nồng khó át rét ra oai.
Đường mê vị tất là nay đúng,
Lối mộng sao đành bảo trước sai.
Nghĩ lại trăm năm đều mộng cả,
Tiếng gà dục sáng rộn bên ngoài.
Đối với bọn cướp nước và bán nước,
ông căm thù thề quyết không đội trời chung, nhưng đối với nhân dân và bạn văn
thân cùng chí hướng, ông lại hết lòng yêu thương, kính trọng. Hoàng giáp Tam
Đăng Phạm Văn Nghị là một lãnh tụ nổi tiếng trong phong trào Cần Vương kháng
Pháp. Khi Phạm Văn Nghị mất, ông có câu đối viếng như sau:
Văn vị táng thiên, sinh Phạm lão;
Vũ vô dụng địa, tử Nhan khanh.
(Trời chửa chôn văn, sinh cụ Phạm;
Đất không dùng võ, chết chàng Nhan).
Phạm là Phạm Trọng Yêm, một danh nho
đời Tống. Nhan là Nhan Chấn Khanh đời Đường, từng đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hữu
Thừa tướng, sau bị giết khi đi thuyết khách với một đảng làm phản. Câu đối của
Hoàng Văn Tuấn đã ca ngợi Phạm Văn Nghị như hai nhân vật nổi tiếng của Trung
Quốc vậy.
Thiên Hộ Giảng là một lãnh tụ nghĩa
quân kháng Pháp, nổi dậy mưu chiếm lại thành Ninh Bình, chẳng may bị giặc bắt
đem xử tử vào một ngày mưa gió. Hoàng Văn Tuấn vô cùng thương tiếc. Ông viếng
người bạn chiến đấu của mình câu đối thật cảm động:
Thuý sơn đồng ngã chẩm, nhật thuyết
sự, dạ đàm tâm, tâm sự bách niên do ký ức;
Vân thuỷ tống quân quy, địa minh lôi,
thiên thuỳ vũ, vũ lôi nhất trận bộ thê lương.
(Núi Thuý cùng ta chung gối, ngày bàn
việc, tối ngỏ lòng, lòng việc trăm năm ghi nhớ mãi;
Sông Vân đưa bác trở về, trời đổ mưa,
đất dậy sấm, sấm mưa một trận xót thương thêm).
Thơ văn và cuộc đời Hoàng Văn Tuấn
nhất quán với nhau. Ông dùng thơ văn để nói tâm sự và ý chí chống Pháp của
mình. Cả đời ông cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, giải phóng dân
tộc của nhân dân ta. Mọi hành động, việc làm của ông, khi trực tiếp tổ chức
chiến đấu đối mặt với quân thù, cũng như khi dạy học trò đều hướng vào phục vụ
cho sự nghiệp đó. Ông giữ vững khí tiết, quyết không phản bội lại con đường đã
chọn. Ông trở thành một lãnh tụ tiêu biểu trong phong trào Cần Vương kháng Pháp
miền sông Đáy, cùng nhân dân Nam Định tô thắm thêm trang sử oanh liệt của tỉnh
nhà. Chính sự nhất quán giữa thơ văn và cuộc đời của vị Thủ khoa nổi tiếng đã
làm cho thơ văn yêu nước của ông giá trị, đưa ông vào hàng tác gia văn học yêu
nước và cách mạng Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.
Thủ
khoa Hoàng Văn Tuấn, nhà giáo yêu nước, lãnh tụ nổi tiếng trong phong trào Cần
Vương chống Pháp, tác gia văn học yêu nước và cách mạng là một tấm gương sáng
cho thế hệ trẻ học tập, là niềm tự hào của nhân dân tỉnh ta.
-----------
Chú
thích :
• Tổ, lạp: "Tổ" là lễ
xuất hành đầu năm, "lạp" là lễ cuối năm. Sách Hán thư chép: Cha con
Trần Hàm chống Vương Mãng - khi tên này cướp ngôi nhà Hán - bỏ về làng, đóng
cửa không chơi với ai, ngày tết vẫn dùng nghi lễ "tổ, lạp" của nhà
Hán. Ở đây ý nói vẫn theo nếp cũ để tỏ rõ thái độ chống Tây.
Nguồn: Văn
hoá Nam Định. - 1998. - Số 1. - Tr. 24 - 25.
TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC LIÊN
Nguyễn Ngọc Liên hiệu là Châu Phong,
sinh năm Nhâm Tý 1852(1) tại làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ
nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong
một gia đình nhà Nho nghèo. Ông nội của Nguyễn Ngọc Liên là cụ Cử nhân Nguyễn
Bá Nghi làm Tri huyện Ninh Giang (Hải Dương). Cha ông là cụ đồ Nguyễn Duy Hiệu
làm nghề dạy học ở làng. Anh trai ông là Nguyễn Đức Ban, đỗ Cử nhân khoa Bính
Tuất 1886, làm Huấn đạo Văn Giang được ít lâu thì cáo quan về nhà làm nghề
thuốc và dạy học, sau nổi tiếng là bậc y sư.
Nguyễn Ngọc Liên được cha dạy dỗ, từ
nhỏ đã thông minh ham học. Ông đã đỗ Tú tài ba khoa. Sau khi đỗ Tú tài, ông
theo học Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích là người nổi tiếng văn thơ và tinh thần
chống Pháp. Nguyễn Quang Bích (1830 - 1890) tự là Hàm Huy, hiệu là Ngư Phong,
quê xã Trình Phố, huyện Chân Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình). Ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp Ân khoa Kỷ Tỵ niên hiệu Tự Đức 22
(1869), làm quan trải các chức Giáo thụ, Tri huyện, Án sát... Năm 1875 ông làm
Sơn phòng sứ kiêm Tuần phủ Hưng Hoá. Năm 1884 quân Pháp đánh Hưng Hoá, ông liều
chết giữ thành nhưng vì lực lượng mỏng nên thất thủ. Triều đình lệnh cho ông
phải ngừng chiến và trở về triều. Ông không chấp hành lệnh của Tự Đức, vẫn tiếp
tục chiêu mộ nghĩa quân lập căn cứ ở Nghĩa Lộ (Lai Châu), Phù Yên (Sơn La), rồi
Yên Lập, Sơn Dương (Vĩnh Phú) kiên trì chống Pháp. Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần
Vương, phong ông làm Hiệp thống Bắc Kỳ, hàm Lễ bộ Thượng thư. Ông lãnh đạo
nghĩa quân vùng tây bắc Bắc Kỳ cầm cự chống Pháp cho đến khi bị bệnh và qua
đời. Cuộc đời và tư tưởng của thày Nguyễn Quang Bích đã có ảnh hưởng nhiều đến
trò Nguyễn Ngọc Liên về lòng yêu nước và tinh thần chống Pháp.
Nguyễn Ngọc Liên đỗ Cử nhân khoa Bính
Tuất 1886, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành
Thái 1(1889). Khoa này làng Hành Thiện còn có Đặng Hữu Dương cũng đỗ Đệ tam
giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Nhân sự kiện này, Cử nhân Nguyễn Bạt Tuỵ (1865 - ?)
người làng Hạ Miêu (nay thuộc xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định)
có câu đối mừng như sau:
Kỷ Sửu vi ngô huyện thịnh khoa Hạ ấp
tằng chiêm vân ngũ sắc;
Hành Thiện nãi Nam bang văn hiến hoa
cù khoáng kiến mã đề song.
(Khoa Kỷ Sửu huyện ta thịnh đạt, ấp
Hạ từng xem mây ngũ sắc;
Đất Hành Thiện nước Nam văn hiến,
đường hoa rộng rãi hai ngựa song song)
Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông vào làm việc trong
dinh Kinh lược Bắc Kỳ của Hoàng Cao Khải 5 tháng, rồi được bổ chức Tri phủ Nam
Sách (Hải Dương). Ông làm việc siêng năng, mẫn cán, công bằng, liêm khiết, được
nhân dân và thân hào trong địa hạt rất yêu mến. Nhưng ông phải sớm từ bỏ con
đường làm quan sau khi xảy ra hai sự kiện làm ông bị kỷ luật...
Năm 1892 Toàn quyền Đông Dương De
Lanessan đi kinh lý Hải Dương. Tổng đốc Hải Dương đã thông báo cho các Tri phủ,
Tri huyện trong tỉnh phải có mặt tại Nha công sứ Hải Dương đúng ngày giờ đã
định để đón chào viên Toàn quyền. Phủ lỵ Nam Sách chỉ cách thành Hải Dương 6
cây số và qua 1 con đò mà Tri phủ Nguyễn Ngọc Liên lại đến địa điểm tập trung
rất muộn. Khi ông đến nơi thì các quan trong tỉnh đã có mặt đầy đủ, viên toàn
quyền đang đọc lời hiểu dụ. Ông lẳng lặng đứng vào hàng với các bạn đồng liêu.
Thấy Tri phủ Nam Sách đến muộn đã không xin lỗi, lại không thèm lạy chào mình,
viên Toàn quyền rất tức giận. Hắn cho là Nguyễn Ngọc Liên có tinh thần chống
Pháp nên đã đề nghị Nha Kinh lược Bắc Kỳ phải kỷ luật ông thật nặng.
Trong thời gian này lại xảy ra vụ
nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo đã tấn công đồn lính Pháp
trong huyện, giết chết 4 tên lính Pháp trong đó có tên Thiếu uý đồn trưởng, thu
17 khẩu súng và rút lui an toàn. Đồn lính này chỉ cách phủ lỵ của Tri phủ Nam
Sách Nguyễn Ngọc Liên chưa đầy nửa cây số nhưng ông đã "án binh bất động",
để cho nghĩa quân tự do hành động. Việc này làm cho bọn Pháp nghi ngờ ông có
liên hệ với nghĩa quân Bãi Sậy. Nha Kinh lược Bắc Kỳ đã ra nghị định phạt ông
nghỉ không lương một năm. Ông về nhà dạy học được gần một năm thì cha và bác
ông mất. Sau thời hạn bị kỷ luật, nha Kinh lược bảo ông làm đơn xin tái bổ chức
Tri phủ. Ông lấy cớ đang cư tang cha và bác xin Nha Kinh lược hoãn lại một thời
gian hãy bổ chức. Khi ông hết thời gian cư tang, Nha Kinh lược lại bảo ông có
đồng ý nhận chức Đốc học Nam Định đang khuyết thì sẽ ra quyết định. Nhiều học
trò đã van lạy, khóc lóc, tha thiết xin ông ở lại dạy học. Ông đã chán cảnh làm
quan và cảm động trước tình cảm của học trò nên quyết không ra làm quan nữa. Từ
đó ông ở nhà làm nghề thuốc và dạy học.
Nguyễn Ngọc Liên trở thành nhà giáo
nổi tiếng ở vùng Sơn Nam. Ông mở trường ở làng Hành Thiện, thu nhận những học
trò có phẩm hạnh, đạo đức tốt. Học trò muốn được vào học trong trường của ông
phải có đạo đức tốt và trình độ nhất định vì ông chỉ dạy cho học trò đi thi
Hương để lấy học vị Cử nhân, Tú tài. Ông có sang dạy học ở Tiền Hải và Kiến
Xương (Thái Bình) một vài năm theo đề nghị khẩn thiết của các thân hào mấy xã
trong phủ. Cảm phục khí tiết và kiến thức Nho học của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên,
học trò ở khắp nơi dồn về theo học ông rất đông. Ông là người thông kim bác cổ,
dạy học rất có phương pháp nên trong số trên 700 học trò của ông có 30 người đỗ
Cử nhân, 70 người đỗ Tú tài và rất nhiều người đỗ Nhất trường, Nhị trường. Ông
thành lập thư viện gia đình tạo điều kiện cho học trò học tập. Thư viện của ông
là một trong những thư viện tư nhân có tiếng ở Hành Thiện cuối thế kỷ 19. Khi
ông mất, hơn 200 học trò cũ của ông về chịu tang thày, góp tiền mua 4 mẫu ruộng
gọi là "ruộng môn sinh" để lấy hoa lợi dùng vào việc cúng giỗ hàng
năm, tu sửa từ đường và phần mộ thày. Sự kiện này chứng tỏ Tiến sĩ Nguyễn Ngọc
Liên là một nhà giáo được học trò kính trọng, yêu mến và nhớ ơn sâu sắc. Thày
trò trường Nguyễn Ngọc Liên đã góp phần tô đẹp thêm truyền thống tôn sư trọng
đạo của nhân dân ta. Ông Mai Đình Đặng Tư Kiêm là người Hành Thiện, có bài vịnh
về việc cụ Nghè Liên có tài dạy học và coi thường công danh như sau:
Cụ Nghè Hành Thiện hiệu Châu Phong
Cạm bẫy vinh hoa chẳng lọt vòng...
... Cáo quan dạy học mấy mươi năm
Nội ngoại học trò quá bảy trăm
Ba chục Cử nhân, bảy chục Tú
Tiếng tăm lừng lẫy khắp thành Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên là một người
yêu nước đến cực đoan. Ông căm ghét bọn Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước.
Ông ghét luôn cả chữ Pháp và chữ Quốc ngữ do người Pháp truyền bá ở nước ta.
Ông có 6 con gái và 4 con trai. Bốn con trai ông là Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Ngọc
Khuê, Nguyễn Thành Phát, Nguyễn Như Lệ đều theo Nho học và có tinh thần yêu
nước sâu sắc. Chỉ có Nguyễn Như Lệ là con út của ông mới được học chút ít tiếng
Pháp rồi theo nghề đông y, sau nổi tiếng là y sư giỏi. Ông Nguyễn Thế Rục trốn
ra nước ngoài rồi sang Liên Xô học trường Đại học Phương Đông, sau về nước hoạt
động trong phong trào yêu nước và mất năm 1938.
Sau khi nghỉ làm quan, có lần Nguyễn
Ngọc Liên cải trang cùng người cháu đồng thời là học trò của mình tên là Nguyễn
Tư Thuyết, lên Yên Thế (Bắc Giang) để tìm cách liên hệ với nghĩa quân Yên Thế.
Nhờ sự môi giới của Tri huyện Hiệp Hoà Đặng Hữu Nữu (em Tiến sĩ Đặng Hữu Dương)
là người cùng quê, ông đã được một số thủ lĩnh của nghĩa quân như Đề Thám, Cả
Trọng, Cả Huỳnh đón tiếp và cùng luận đàm chính sự.
Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868 -
1925) quê ở xã Liên Bạt, huyện Sơn Lãng (nay thuộc huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây)
là anh em đồng hao với Nguyễn Ngọc Liên, từng làm Đốc học Nam Định, đã bỏ quan
để xuất dương tìm đường cứu nước. Trước khi sang Nhật, Hoàng giáp Nguyễn Thượng
Hiền đã về Hành Thiện thăm Nguyễn Ngọc Liên và vận động cho phong trào Đông Du.
Nguyễn Ngọc Liên rất tâm đắc với chủ trương đưa thanh niên sang du học tại Nhật
của hội Duy Tân. Ông đặt niềm tin vào thế hệ trẻ đi du học về sẽ làm cách mạng
giành lại non sông đất nước. Ông đã giới thiệu một số học trò ưu tú của mình
tham gia phong trào Đông Du. Bốn học trò của ông là Đặng Hữu Bằng, Đặng Tử Mẫn,
Đặng Quốc Kiều, Nguyễn Xuân Thức(2) là những thanh niên đầu tiên của
làng Hành Thiện xuất dương sang Nhật vào năm 1906 trong phong trào Đông Du.
Ngoài việc giới thiệu những thanh
niên ưu tú đi sang Nhật học tập, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên còn nhiều lần tổ chức
quyên tiền ủng hộ phong trào Đông Du.
Là người ghét Pháp xâm lược, ủng hộ
cách mạng, nhưng Nguyễn Ngọc Liên rất thận trọng. Ông không bao giờ tuyên
truyền cho phong trào cách mạng trong khi dạy học để phòng bọn mật thám bắt và
không làm liên luỵ đến học trò.
Ông giữ chức Tiên chỉ làng Hành Thiện
từ 1836 đến 1937 , làm Tiên chỉ Tư văn làng kiêm Tiên chỉ Tư văn phủ Xuân
Trường từ 1910 đến 1937. Ông làm việc rất có trách nhiệm và chu đáo. Hàng năm
ông tổ chức tế lễ tưởng nhớ đức Khổng Tử và các vị tiên hiền, khoa bảng, khoa
mục đã tạ thế, thỉnh thoảng lại tổ chức bình thơ văn. Hoạt động của hội Tư văn
do ông phụ trách đã góp phần tích cực vào việc giáo dục đạo đức truyền thống và
nâng cao trình độ cho học trò.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên có nhiều
sáng tác nhưng không được ghi lại thành tập. Theo Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh viết
trong “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” thì Nguyễn Ngọc Liên "có
khá nhiều thơ từ tản mát khắp nơi ở trấn Sơn Nam". Trong sách này chỉ chép
lại bài Tạo sĩ cố hương từ của Nguyễn Ngọc Liên ca ngợi người có công với nước
như sau:
Phiên âm:
Tạo sĩ Nam phương đắc kỷ nhân
Vi thần vi tướng thế giai khâm
Cung trương ác điểu vô phương tị
Lực phụ vương gia phản ngộ truân
Bốc ngụ Đông Ba thành đại sách
Trùng tu từ tự lệ dân tuân
Quy thì Thịnh Đức gia phong sắc
Diệc thị hoàn danh hưởng quốc ân.
Dịch
thơ:
ĐỀN THỜ ÔNG TẠO SĨ Ở CỐ HƯƠNG
Cõi Nam Tạo sĩ mấy người
Là thần là tướng ở đời kính tôn
Giương cung chim ác chết
liền
Phò vua mà mắc oan khiên mới kỳ
Đông Ba chọn đất dời về
Sửa sang chùa miếu dễ bề khuyên ai
Vẹn tròn danh tiết chầu trời
Được vua Thịnh Đức ban lời khen công.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên là một nhà
giáo mẫu mực, đã đào tạo cho đất nước nhiều thanh niên ưu tú. Ông là một người
yêu nước nhiệt thành, nổi tiếng về hành động "Bất bái Toàn quyền",
nêu tấm gương sáng về khí tiết nhà Nho, khích lệ tinh thần bất khuất và tự hào
dân tộc. Cho đến trước khi mất ông vẫn mong đợi những người du học trở về nước
và phong trào khởi nghĩa trong nước nổi dậy quét sạch bọn xâm lăng. Ngày 15
tháng 9 âm lịch 1937 Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên qua đời trong nỗi khắc khoải hy
vọng tương lai tốt đẹp của đất nước và giấc mơ đền nợ nước của ông chưa thực
hiện được.
Cháu ngoại của ông là thi sĩ Nam
Đường Đặng Thiệu Bạt có bài "Ông ngoại tôi" nói lên tâm trạng của cụ
Nghè Liên như sau:
Nguyễn Thượng Hiền ông đốc tỉnh Nam
Cùng đồng chí hướng với ông làm
Phong trào lớn mạnh trong toàn quốc
Rồi trốn ra ngoài lãnh đạo đoàn
Ở nhà ông ngong ngóng trông chờ
Đồng chí lai hương để phất cờ
Khởi nghĩa diệt thù đền nợ nước
Nhưng lời ước hẹn cứ phai mờ
Ngày buồn lặng lẽ lững lờ trôi
Thế cuộc làm ông lệ lén rơi
Mắc chứng ung thư bên má trái
Ông tôi tạ thế! Ối giời ơi!
...........................................
Chú
thích:
(1) Về năm sinh của Nguyễn Ngọc Liên các tài liệu viết
không thống nhất: 1848, 1852, 1856 hoặc viết ông thọ 82, 84, 86 tuổi.
(2) Bốn học trò của Nguyễn Ngọc
Liên đều là người Hành Thiện, cùng xuất dương sang Nhật năm 1906 :
- Đặng Tử Mẫn (1885 - 1926) vào học
trường Võ bị Tôkiô, năm 1908 gia nhập Đông Á đồng minh hội, năm 1912 làm Uỷ
viên kinh tế của Việt Nam Quang phục hội, năm 1926 tổ chức Việt Nam Quang phục
hội tấn công các đồn biên phòng Pháp dọc biên giới Việt Hoa, bị bọn quân phiệt
Vân Nam bắn chết.
- Đặng Đoàn Bằng (1887 - 1938) học
trường Võ bị Tôkiô, đỗ thủ khoa. Năm 1909 bị trục xuất sang Trung Quốc, rồi
Xiêm La. Năm 1912 gia nhập Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Châu (Trung Quốc), làm
Uỷ viên vận động của hội ở Bắc Kỳ. Bị Pháp kết án đày biệt xứ, ông sang Trung
Quốc tham gia quân đội Trung Hoa dân quốc ở Quảng Tây, làm tới Đại tá tham mưu
trưởng. Năm 1922 ông làm giáo sư trường quân sự Hoàng Phố. Năm 1938 Nhật ném
bom, ông bị sức ép loạn thần kinh, một lần nhảy xuống sông chết đuối.
- Đặng Quốc Kiều (1892 - 1976) học
tiếng Nhật và tiếng Anh, thường gặp gỡ cụ Phan ở Hoành Tân. Năm 1909 ông sang
Trung Quốc, rồi Thái Lan, mãi năm 1928 mới về nước và bị Pháp quản thúc tại
làng. Năm 1946 ông làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Hà Nam.
- Nguyễn Xuân Thức (1888 - 1945)
cùng học tiếng Nhật với Đặng Quốc Kiều ở Hoành Tân, năm 1910 về nước bị Pháp
bắt quản thúc ở Thanh Hoá.
Nguồn: Nam Định. - 2001. - Số ra ngày 21 - 9.
NGUYỄN
XUÂN PHIÊU – MỘT NGƯỜI THỰC HỌC
Việc
học ở trường lớp mà có bằng cấp để được thăng quan tiến chức là chuyện bình
thường. Người không có bằng cấp gì mà được giao trọng trách nhà nước, cống hiến
được nhiều cho dân cho nước mới là chuyện hiếm có. Nguyễn Xuân Phiêu là một
trường hợp như thế.
Nguyễn
Xuân Phiêu (1859 – 1936), người làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ (nay thuộc xã
Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Sinh trưởng trong một gia đình có
truyền thống Nho học, cha là Cử nhân Công bộ Thị lang Nguyễn Xuân Huyền, anh là
Cử nhân Tri huyện Nguyễn Xuân Thống, nhưng Nguyễn Xuân Phiêu không có một bằng
cấp, học vị gì. Từ nhỏ ông đã ham tìm hiểu những kỹ thuật ứng dụng trong đời
sống của phương Tây, tỏ ra có năng khiếu về kỹ thuật thực hành. Ông rất khéo
tay nên được các chùa và nhà thờ trong huyện nhờ làm các vật gia dụng.
Năm 1881, ông được cha tiến cử với vua. Vua nể quan
Thị lang bộ Công mà nhận cho ông vào làm việc trong cơ quan của cha mình với
chức Thừa biện Công bộ, một chức quan nhỏ được giao việc một thời gian và chỉ
có quyền thừa hành các việc được giao mà không được phép bàn bạc. Ông làm việc
rất mẫn cán và thông minh nên được Tự Đức cử đi học các khoa kỹ nghệ của Tây Âu
ở nước ngoài. Trước khi ông đi học, Tự Đức khuyến khích: “Hễ học tập được kỹ
nghệ một nước thì lấy lệ Cử nhân bổ dụng, kỹ nghệ hai nước thì lấy lệ Tiến sĩ
bổ dụng, kỹ nghệ ba nước thì lấy lệ Hoàng giáp bổ dụng”. Điều này chứng tỏ Tự
Đức rất coi trọng kỹ nghệ Tây Âu. Đối với người Việt Nam thời đó, các môn kỹ
thuật chính xác của phương Tây là môn kỹ thuật cao và mới lạ.
Sau 6 tháng nghiên cứu thực tế tại Hồng Công và
Xinhgapo, bằng trí thông minh hiếm có và sự chăm chỉ chịu khó học tập, Nguyễn
Xuân Phiêu đã nắm được nhiều kỹ thuật mới của phương Tây. Về nước, ông chế ra 2
khẩu súng (một khẩu kiểu của Anh, một khẩu kiểu của Pháp), mô hình một chiếc
tàu Xàlup, một cái đồng hồ kiểu Anh dâng lên vua để báo cáo kết quả học tập của
mình. Một người không có bằng cấp khoa học, chỉ bằng con đường tự học mà chế
tạo được những vật tinh xảo không kém gì kỹ thuật châu Âu thì thật là một nhân
tài.
Nguyễn Xuân Phiêu xin vua cho thành lập các xưởng Bách
công kỹ nghệ ở Hải Phòng, Đà Nẵng, Biện Sơn để chế tạo vũ khí, đóng tàu thuỷ,
nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc bờ cõi, nhưng không được
triều đình chấp nhận. Vua chỉ phong cho ông chức Chủ sự Công bộ.
Đến năm 1886, Nguyễn Xuân Phiêu được giao nhiệm vụ mở
xưởng đúc tiền niên hiệu Đồng Khánh. Năm 1887 ông được phong làm Bang biện Nha
đúc tiền Quốc gia. Năm 1894 ông được cử ra Thanh Hoá mở Nha Thông Bảo (tức Nha
đúc tiền) ở Cẩm Thuỷ và làm Bang tá nha này. Năm 1901 triều đình triệu ông về
Huế, giao trông coi việc đóng tàu và sửa chữa tàu. Ông phát huy sở trường, hoàn
thành tốt nhiệm vụ, được vua ban cho áo gấm có thêu hình 9 con rồng, lại sai
ông chế tạo xe hơi và các đồ ngự dụng.
Năm 1906 ông làm Hộ lý Cục Nông Công kỹ nghệ. Năm 1911
ông chuyển làm Hộ lý Trường Bách công. Có thể coi ông là Hiệu trưởng đầu tiên
của trường kỹ nghệ nước ta. Ông còn được triều đình tín nhiệm giao cho phụ
trách sửa chữa các công trình trong Nội điện. Công việc hoàn thành mỹ mãn, vua
thưởng cho ông 500 lạng bạc nhưng ông chỉ nhận 200 lạng đủ thanh toán tiền công
cho thợ. Năm 1915 ông phụ trách tu sửa điện Thái Hoà. Việc hoàn thành, ông được
ban Nhị hạng kim khánh và được thăng Tham tri bộ Công. Năm 1916 ông lại được
thăng Thượng thư bộ Công.
Năm 1918 ông nghỉ hưu, mở trường dạy học ở quê. Nghỉ
hưu rồi ông vẫn được vua ưu ái. Năm 72 tuổi ông còn được vua mời về triều dự
Chưởng yến.
Là người không có học vị, bằng cấp gì mà Nguyễn Xuân
Phiêu phấn đấu trở thành quan Thượng thư bộ Công, có nhiều đóng góp thiết thực
về kỹ nghệ phục vụ đất nước. Sự học của ông không câu nệ hình thức mà chủ yếu
là con đường tự học, quan trọng nhất là thực học. Ông là tấm gương sáng cho các
thế hệ con cháu noi theo…
TIẾN SĨ ĐẶNG HỮU DƯƠNG
1 - Một vị quan công minh
Đặng Hữu Dương sinh năm Canh Thân 1860(1)
tại làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng,
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình có truyền thống nho học.
Ông là con trưởng ông Đặng Hữu Thới và là cháu đích tôn Cử nhân Giáo thụ phủ
Kinh Môn (Hải Dương) Đặng Văn Bính. Em ruột ông là Đặng Hữu Nữu (tức Do) cũng
đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang).
Hồi nhỏ, Đặng Hữu Dương học cụ đồ
Đặng Vũ Diễn ở làng. Ông tỏ ra rất thông minh, học giỏi. Ông mặt mũi sáng sủa,
trán cao, mắt sáng, khôi ngô. Sau này khi thấy ông đỗ Tiến sĩ vinh quy, cưỡi
trên lưng ngựa bạch, thong thả đi trong đám rước, một nhà nho đã thốt lên:
"Một vùng như thể cây quỳnh cành giao"(2).
Khoa thi Hương năm Kỷ Mão niên hiệu Tự
Đức 32(1879), Đặng Hữu Dương đỗ Cử nhân.
Theo lời khuyên của vợ, ông vào Huế theo học ở Quốc Tử giám là trường lớn nhất
nước thời đó, có nhiều sách vở rất thuận lợi cho học tập.
Khoa Ất Dậu 1885 Đặng Hữu Dương thi
Hội trúng cách, đã truyền lô. Đến khi thi Đình, ông đã được chấm đỗ Đệ tam giáp
đồng Tiến sĩ xuất thân, nhưng vì kinh thành có biến nên chưa kịp truyền lô(3).
Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường rước vua rời kinh thành để tổ chức việc
kháng Pháp. Đến khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889) ông chỉ phải vào thi
Đình và đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này làng Hành Thiện còn có
Nguyễn Ngọc Liên cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Đám rước của hai
ông nghè Hành Thiện được tổ chức rất long trọng và là sự kiện hiếm có đáng tự
hào của nhân dân Giao Thuỷ. Nhiều nhà khoa mục đã tặng câu đối mừng hai tân
Tiến sĩ. Câu đối mừng của Cử nhân Nguyễn Bạt Tuỵ người làng Hạ Miêu cùng huyện
như sau:
Kỷ
sửu, vi ngô huyện thịnh khoa, Hạ ấp tằng chiêm vân ngũ sắc;
Hành
Thiện, nãi Nam bang văn hiến, hoa cù khoáng kiến mã đề song.
(Khoa
Kỷ Sửu huyện ta thịnh đạt, ấp Hạ từng được xem mây ngũ sắc;
Đất
Hành Thiện nước Nam văn hiến, đường hoa rộng rãi hai ngựa song song).
Sau khi đỗ Tiến sĩ, Đặng Hữu Dương
vinh quy một tháng thì được bổ thực thụ Tri phủ Nam Sách (Hải Dương). Nguyên
ông đã giữ chức quyền Tri phủ Nam Sách từ cuối năm 1888 theo Nghị định ngày 24
tháng 12 năm 1888 của quan Kinh lược Bắc Kỳ được Thống sứ Bắc Kỳ phê chuẩn.
Trước đó ông đã làm Giáo thụ phủ Kiến Thuỵ.
Nhận chức Tri phủ Nam Sách, ông giải
quyết công việc hành chính, tư pháp rất mau lẹ, công bằng và có tiếng là liêm
khiết. Tháng 4 năm 1890 ông được thăng Án sát Hà Nội. Tỉnh Hà Nội thời kỳ này
bao gồm thành Hà Nội (theo chỉ dụ ngày 3 tháng 10 năm 1888 vua Đồng Khánh ký
nhượng cho quân Pháp) và các phủ, huyện của Hà Đông, Hà Nam. Các vụ án liên
quan đến dân thành Hà Nội do Toà án Pháp xử. Các vụ án liên quan đến dân các
phủ, huyện còn lại do quan án sát Đặng Hữu Dương chịu trách nhiệm.
Đặng Hữu Dương luôn tỏ ra là người
có trách nhiệm và cần mẫn với công việc được triều đình giao phó. Trước khi xử
kiện, ông thường ăn chay, tắm gội bằng nước ngũ vị, đốt hương trầm cầu nguyện
trời phật phù hộ cho ông đủ sáng suốt để không lầm lẫn. Ông không bao giờ tắc
trách để người ngay bị oan. Ông khoan hồng, phạt nhẹ và khuyên nhủ cải tà quy
chính đối với những bị can vì lầm lẫn mà phạm tội. Ông kiên quyết trừng phạt
bọn côn đồ, bọn nhà giàu, bọn cậy quyền thế hà hiếp người khác. Trước khi tuyên
án, bao giờ ông cũng nghiên cứu kỹ hồ sơ, đến tận nơi xảy ra vụ án mà quan sát,
tìm hiểu kỹ lưỡng những uẩn khúc của sự việc và nguyện vọng của nhân dân, nhờ
vậy mà những kết luận của ông thật công minh. Thường sau mỗi vụ án ông xử, cả
bên bị và bên nguyên, bên thua kiện cũng như bên thắng kiện, đều thoả mãn, khâm
phục và ca ngợi quan án sát thật công minh, liêm khiết.
Có lần, Tổng lý một xã ở huyện Từ
Liêm được ông xử cho thắng kiện một xã lân cận trong vụ tranh chấp ruộng đất,
đã đem vàng bạc tạ ơn. Ông dứt khoát từ chối và nói rõ ông chỉ làm theo bổn
phận. Nhân dân xã này khẩn khoản xin ông nhận một cậu bé người làng đi theo hầu
hạ ông. Cậu bé đó chính là ông Đặng Nguyên Roanh (tức Đồ Sơn), con nuôi của
Tiến sĩ Đặng Hữu Dương, sau này được ông nuôi dạy nên người.
Ông
nổi tiếng là vị quan công minh, thanh liêm, được nhân dân trong tỉnh sở tại vô
cùng kính nể, yêu mến, tin tưởng. Con đường làm quan có điều kiện giúp dân,
giúp nước được nhiều đang rộng mở thì bất hạnh xảy đến với ông. Giữ chức Án sát
Hà Nội được ba năm, ông bị bệnh đau mắt. Ông xin về quê chữa trị. Được hai
tháng thì mắt ông mù hẳn. Từ năm 1893 đến khi mất, ông sống trong cảnh mù loà,
kết thúc con đường khoa hoạn.
2 - Một tấm lòng nhân ái, yêu nước, thương
dân
Trong cuộc đời và trong thơ văn của
mình, Tiến sĩ Đặng Hữu Dương đã thể hiện rõ tấm lòng yêu nước, thương dân. Đối
với ông, yêu nước là yêu dân và những người ruột thịt của mình. Ông luôn mong
muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người dân, và thực tế ông đã làm được điều đó
qua các vụ xử án công minh khi còn làm quan.
Lòng nhân ái của Tiến sĩ Đặng Hữu
Dương thể hiện sâu đậm, cảm động nhất trong tình yêu của ông đối với người vợ
quá cố. Vợ ông là người cùng làng, đẹp người, đẹp nết, lại giỏi thơ văn. Bà
chia sẻ với ông mọi nỗi buồn đau, hoà điệu tâm hồn với ông trong sinh hoạt thơ
văn. Khi ông bị mù, bà nâng giấc, chăm sóc, động viên ông, không nề hà khổ cực.
Được hy sinh cho chồng con là niềm hạnh phúc của bà. Sau hai năm chăm sóc chồng
mù loà, năm 1895 bà ốm rồi mất, để lại cho Đặng Hữu Dương suốt những ngày tháng
còn lại thương nhớ khôn nguôi. Từ khi vợ mất cho đến khi ông qua đời, suốt hai
mươi tám năm ròng, ông vẫn giữ lòng chung thuỷ với bà. Nhiều người khuyên ông
nên lấy vợ khác vì khi vợ mất, ông mới 36 tuổi, nhưng ông không chịu. Hằng đêm,
ông ôm bọc quần áo của vợ và chìm vào nỗi đau thương nhớ. Những bài thơ khóc vợ
của ông thật thống thiết, lâm ly, chung thuỷ:
Tang em nay đã đoạn rồi
Nhưng
lòng ta vẫn suốt đời tang em.
Sống thiếu bà, người bạn tri âm, ông
cảm thấy cuộc đời thật giá lạnh :
Dưới đèn ẩn hiện mặt hoa
Dịu dàng giọng nói đậm đà thu ba
Lứa đôi hạnh phúc chan hoà
Cùng nhau sống giấc mơ hoa tuyệt vời
Thế mà nay âm dương cách trở đôi nơi
Tri âm vắng bóng cuộc đời giá băng.
(Bài Khóc vợ)
Thơ văn Đặng Hữu Dương, nhất là thơ
viết về người vợ của ông đã trở nên nổi tiếng. Nhiều nhà khoa mục ở Bắc Kỳ và
Trung Kỳ đã tìm về Hành Thiện để được thưởng thức những áng thơ văn của nhà
khoa bảng nổi tiếng.
Những người con của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương
được cha giáo dục chu đáo và khuyến khích tham gia các hoạt động yêu nước. Con
cả ông là Đặng Hữu Bằng tham gia phong trào Đông Du, đã đỗ thủ khoa trường Đại
học quân sự Chấn Vũ (Nhật) được Minh Trị Thiên hoàng tặng một đồng hồ bỏ túi có
chữ ký của Thiên hoàng. Sau ông tham gia quân đội Trung Quốc và mất vì bom
Nhật. Tiến sĩ Đặng Hữu Dương có lần đã sai con rể là ông Khải mang tiền tiếp tế
cho Đặng Hữu Bằng hoạt động cách mạng. Con thứ Đặng Hữu Dương là Đặng Hữu Đài
làm Trợ tá phủ Ninh Giang, có tiếng liêm khiết, cũng bị Pháp bắt tù vì nghi ông
tham gia phong trào Đông Du. Con nuôi Đặng Hữu Dương là Đặng Nguyên Roanh được
cha hết lòng thương yêu, giáo dục đã trở thành ông Đồ Sơn làm nghề dạy học và
rất giỏi nghề thuốc. Đặng Nguyên Roanh cũng tham gia phong trào Đông Du và từng
bị Pháp bắt giam.
Không chỉ khuyến khích, giúp đỡ con
cái tham gia hoạt động yêu nước, Đặng Hữu Dương còn liên hệ với Nguyễn Thượng
Hiền trong việc thực hiện đưa thanh niên Việt Nam ra nước ngoài và quyên góp
tiền ủng hộ phong trào Đông Du.
Đối với bà con trong làng, ông không
bao giờ có lời nói, hành động làm mất lòng ai. Hàng xóm rất kính trọng và quý
mến ông. Mỗi lần đi chợ sớm qua ngõ nhà cụ Nghè Dương, ai nấy nhắc nhau giữ im
lặng để không làm mất giấc ngủ của cụ Nghè.
Có lần ông đồ Sơn kể chuyện cụ Tam
nguyên Nguyễn Khuyến cho chữ "Đại hạ" ("Đại hạ" là "hè
to", đọc lái là "tò he") chế diễu anh đội khố đỏ xuất thân là
lính thổi kèn suốt ngày tò he, tò hét mà cũng lên mặt làm sang khi anh đến xin
chữ cụ Tam nguyên nhân dịp khánh thành nhà mới, làm anh xấu hổ phải bỏ làng ra
đi. Đặng Hữu Dương cho rằng cụ Tam nguyên vô cớ gây khổ não cho người biết tằn
tiện tiết kiệm và biết tôn trọng các vị đại khoa là không nên.
Bùi Hướng Thành (người Hà Nam) đỗ Cử
nhân thứ 78 cũng được Nguyễn Khuyến mừng câu đối chế diễu như sau:
Thánh
thượng diệc lân tài, cống viện trì lai tam ngũ nhật;
Khuê
trung ưng phá liễu, lang quân áp đắc kỷ hà nhân.
(Nhà
vua có ý thương tài, nên cho hoãn kỳ thi hương lại năm ba bữa;
Cô
cử cười vỡ bụng, chồng mình đè được bao nhiêu người.)
Nghe chuyện này, Đặng Hữu Dương bảo
rằng Bùi Hướng Thành không làm điều gì lố lăng đáng bị chế diễu, hơn nữa đã đỗ
Cử nhân dù là thứ 78 cũng là giỏi rồi, vì cứ 150 người thi mới có một người đỗ
Cử nhân. Cụ Tam nguyên vì khoe tài chơi chữ mà chế diễu cử Bùi học dốt đỗ gần
cuối bảng, làm đau lòng cử Bùi thì thật không phải.
Cách nhìn nhận đánh giá sự việc của
Tiến sĩ Đặng Hữu Dương chứng tỏ ông có tấm lòng nhân ái biết bao.
Trước cảnh quan lại Nam triều không
có ý chí chống Pháp, lại chỉ lo cho cá nhân mình mà quên nỗi nhục mất nước, ông
phê phán, cảnh tỉnh :
Chống
giặc chưa đi toan lo rút,
Mặt
vênh mà đến luỵ ông Tây.
Tổ
tiên đã bỏ không thờ nữa,
Cơ
nghiệp ngàn xưa cũng dễ bay.
(Bài Thành
phủ Xuân Trường)
Đặng Hữu Dương là một tác giả Hán
Nôm nổi tiếng có tài làm thơ văn hết sức mau lẹ mà vẫn đặc sắc. Khi làm Tri huyện
Nam Sách, có lần ông đến thăm một vị quan cấp trên, gặp lúc vị này đang làm câu
đối mừng bạn đồng liêu mà nghĩ mãi chưa ra. Vị này nhờ ông làm giúp. Ông hỏi về
thân thế người bạn đồng liêu của quan trên và quan mừng nhân dịp gì, rồi phóng
tay múa bút viết câu đối vào tấm vóc. Vị quan cấp trên thấy câu đối thật chỉnh,
diễn tả tình bạn đậm đà, chữ viết lại đẹp như hoa thì vô cùng khâm phục ông.
Những sáng tác thơ văn của ông thường
không ghi lại thành tập nên ngày nay chỉ còn một số bài do con cháu ghi lại và
lưu truyền trong dân gian. Về y học, ông có tập Nông gia tự liệu gồm trên sáu
nghìn câu thơ lục bát ghi lại các vị thuốc và bài thuốc nam dân gian rất có giá
trị.
Tháng 5 năm 1923 Tiến sĩ Đặng Hữu Dương
qua đời, thọ 64 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông vẫn còn áy náy vì mình chưa giúp
được nhiều cho dân, cho nước như mong muốn. Trong bài biểu tạ ơn vua của ông
sau khi đỗ Tiến sĩ có đoạn viết:
..."Hạ thần chỉ biết lấy đạo thờ
cha mẹ ra thờ vua, đem tấm lòng yêu thương con cái mà yêu thương dân chúng
trong quản hạt cai trị của hạ thần để không hổ với các điều thánh hiền đã dạy,
không hổ với bảng vàng bia đá"(4).
Cả cuộc đời ông luôn luôn hành động
theo tâm nguyện vì dân vì nước. Tên tuổi và sự nghiệp của ông được ghi lại
không chỉ ở bảng vàng bia đá, mà còn sống mãi trong lòng nhân dân Nam Định.
………………………..
Chú
thích :
(1)
Khi đi thi ông khai tăng ba tuổi nên có tài liệu chép ông sinh năm 1857.
(2)
Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện / Đặng Hữu Thu. - Paris : 1992. - Tr.
141.
(3)
Sau khi Kiến Phúc chết, năm 1884 Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu là Hàm Nghi. Lễ
đăng quang của Hàm Nghi không được Nam triều thông báo cho Khâm sứ Pháp ở Trung
Kỳ biết nên Rê-na không thừa nhận vua mới. Tướng Đờ Cuốc - xy doạ sẽ đem quân
bắt vua. Trước tình thế căng thẳng không thể trì hoãn được, Tôn Thất Thuyết tổ
chức lực lượng tấn công đồn Mang Cá và đồn quân Pháp đóng ở gần toà Khâm sứ.
Cuộc tấn công bị thất bại, Tôn Thất Thuyết phải hộ giá vua chạy ra Quảng Trị
phát hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp.
(4)
Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện. - Sđd. - Tr. 161 – 162.
Nguồn: Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr.
34 - 36.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LÊ TRỌNG HÀM
TRONG LĨNH VỰC THƯ MỤC HỌC
Lê Trọng
Hàm tự Quốc Ninh, hiệu Đông Giang, Nam Á Dư Phu, Nam Sử Thị, tục gọi Nhì Hàm,
sinh năm Nhâm Thân (1872) (có tài liệu viết ông sinh ngày 12 - 6 năm Quý Dậu
1873), mất ngày 2 tháng 9 năm Tân Mùi (1931), quê làng Hội Khê Ngoại, huyện
Giao Thuỷ nay thuộc xã Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ông là
một nhà nho yêu nước, cần cù sưu tầm tài liệu, biên soạn sách và sáng tác thơ
ca tuyên truyền lòng yêu nước trong nhân dân. Tính ông rất hào hiệp, thường chu
cấp tiền gạo cho học sinh nghèo ăn học và nuôi các nhà nho trong nhà viết sách.
Khoảng
năm Nhâm Tuất Khải Định (1922), ông thành lập và đứng ra làm Hội chủ Nam Việt Đồng
Thiên hội. Hội thu hút được nhiều nhà nho địa phương tham gia. Hoạt động chủ yếu
của hội là biên soạn bộ Minh Đô sử. Sau 10 năm làm việc chuyên cần, hội đã hoàn
thành bộ Minh Đô sử.
Thư viện
gia đình của Lê Trọng Hàm có trên 2.000 sách xếp trong 20 tủ gỗ có cánh. Sách
được đóng dấu “Xuân Hội - Lê Thị Gia Tàng”. Thư viện này hai lần bị tịch thu
trong thời gian Kháng chiến chống Pháp và trong Cải cách ruộng đất. Con cháu Lê
Trọng Hàm cất dấu được một số cuốn sách quý, sau giao lại cho Viện sử học, đích
thân ông Nguyễn Đổng Chi nhận, trong đó có bộ Minh Đô sử và bộ Đại Việt sử ký
toàn thư (bản khắc đời Cảnh Thịnh).
Theo
thống kê chưa đầy đủ của Thư viện tỉnh Nam Định, Lê Trọng Hàm có trên ba mươi
tác phẩm viết về sử học, địa chí, ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, sách giáo khoa,
văn học nghệ thuật... như: Á châu tôn giáo (3 quyển), Bách niên nhân vật kỷ, Bảo
Hán châu liên (10 quyển), Bùi gia huấn hài chú thích (giáo khoa), Cường dư (20
quyển, tóm tắt tri thức khoa học tự nhiên và xã hội), Di quyết văn (2 quyển,
giáo khoa, những bài văn hay), Đại số học đại biên, Đàm Hoa pháp tự, Đăng khoa
bị khảo, Đông cầu văn hoá sơ giải, Hải Nam văn chiến (20 quyển), Hán tự phong
giao (Sưu tầm Ca dao sáng tác bằng chữ Hán), Hoàn hải kính đài (3 quyển, địa lý
các nước), Hội Khê địa bạ, Kinh học chính tôn, Lê gia tộc phổ (2 quyển), Nam học
tinh hoa (10 quyển), Ngũ truyện văn thông (15 quyển, tìm hiểu 5 nhà bác học
Trung Quốc), Phạm Chỉ Trai văn tập (3 quyển, sưu tầm các tác phẩm của Phạm Thế
Lịch), Phần hương chính yếu (Phong tục, lễ hội của làng Hội Khê Ngoại), Quảng
tiếu lâm thư (sưu tầm truyện cười dân gian Việt Nam), Quế Hải văn kỳ (10 quyển,
Các tác phẩm cổ văn chữ Hán của vùng đất Nam Định), Quốc sử quy tôn (50 quyển bản
thảo), Quốc văn (7 quyển, tập hợp văn thơ Nôm hay), Thi gia tương độ (10 quyển),
Thổ âm chính biên, Ty vô cao sử (3 quyển ), Vạn tự liên châu (2 quyển, giáo
khoa)... Ngoài ra, ông còn nhiều thơ, ca dao có giá trị nuôi dưỡng và khích lệ
lòng yêu nước được lưu truyền trong dân gian.
Trong
việc biên soạn bộ Minh Đô sử, Lê Trọng Hàm đóng góp nhiều công sức và trí tuệ.
Ông vừa là người chủ trì, lo kinh phí cho hội hoạt động, vừa làm công việc trực
tiếp biên soạn của một soạn giả. Một số tác phẩm của ông đã được đưa vào trong
Minh Đô sử như: Hán văn Nam kỵ khảo (Sách 1), Mạc Kính thao truyện dịch thuật
(Sách 46), Thuỷ tử ca (Sách 20)...
Minh
Đô sử gồm 93 quyển chính và 7 quyển phụ được chia làm 48 sách. Sách chép tay
trên giấy bản thường, khổ 28 cm x 16 cm. Bản Minh Đô sử hiện còn lưu tại Thư viện
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu HV285 thiếu 4 sách (số 32, 43, 44, 47). Tổng cộng
44 sách hiện còn gồm 3856 tờ, tờ 2 trang, trang 8 dòng, dòng 26 chữ. Chữ viết
đá thảo, không đẹp nhưng dễ coi.
Tên
sách đầy đủ là Tân đính Nam Á Đại Minh đô đế quốc, quốc sử vựng toản xuân thu đại
toàn. Như vậy, Minh Đô sử chỉ là tên gọi tắt của bộ sách. Theo cụ Đoàn Ngọc
Phan viết trong cuốn Tác giả thơ văn Hán Nôm Hải Hậu (Hội Văn học Nghệ thuật
Nam Định xuất bản năm 2001), Minh Đô là tên gọi cũ của quận Giao Chỉ, tức nước
ta thời Bắc thuộc. Nhưng trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học
sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hoá, 1984, tập 1), cụ Trần Văn Giáp - Nhà Thư mục
học Việt Nam giải thích rằng Minh Đô là một danh từ cổ, nghĩa là vùng đất ở
phía Nam. Tác giả Lê Trọng Hàm đã theo nghĩa đó đặt tên cho sách của mình, ý muốn
nói Minh Đô là sử nước Nam.
Nội
dung sách chép đủ 4 mục: Quốc sử, Liệt truyện, Địa chí, Văn tuyển. Phần Quốc sử
được coi là phần chính, các phần còn lại (liệt truyện, địa chí, văn tuyển) chỉ
là phụ thêm vào.
Giá trị
cơ bản của Minh Đô sử :
1-
Liên hệ đối chiếu lịch sử Việt Nam với lịch sử Đông Tây trong tiểu mục Trung
Tây liệt sử. Điều này góp phần làm rõ bối cảnh lịch sử Việt Nam trong lịch sử
thế giới nói chung, giúp bạn đọc sáng tỏ thêm các vấn đề lịch sử nêu trong
sách.
2- Nhiều tài liệu được rút ra trong dã
sử, gia phả, thi văn tập, truyền thuyết, văn Nôm về nhiều môn loại... không có
trong chính sử và ít người còn nhớ, làm cho tư liệu phong phú và minh hoạ cho lịch
sử sáng tỏ hơn.
3- Lịch
sử Tây Sơn được chép thành một kỷ riêng gọi là Tây Sơn kỷ (Quyển 46 - 47, Sách
21 - 27), chứng tỏ tác giả đã nhận thức đúng và coi trọng vai trò của Tây Sơn
trong lịch sử Việt Nam.
Các
tác giả Minh đô sử đã biến tính chất sử sách của mình thành một bộ bách khoa
không đầy đủ, lưu tàng được nhiều tài liệu văn sử quý báu, góp phần gìn giữ cho
đời sau các giá trị văn hoá của dân tộc.
Đặc biệt,
trong Minh Đô sử có hai bản thư mục của Lê Trọng Hàm rất có giá trị trong bối cảnh
lịch sử thư mục học Việt Nam đương thời phát triển khá chậm so với thế giới và
chịu ảnh hưởng sâu sắc kiểu phân loại “Tứ bộ” (Kinh - Sử - Tử - Tập ) của Trung
Quốc. Mãi đến thế kỷ 18, Việt Nam mới xuất hiện công trình thư mục Nghệ văn chí
của Lê Quý Đôn và Văn tịch chí của Phan Huy Chú. Hai công trình thư mục tiêu biểu
của nước ta thời kỳ đầu hình thành và phát triển thư mục học Việt Nam có hình
thức theo kiểu Tứ bộ của Trung Quốc, nhưng đã thể hiện được ý thức bảo tồn di sản
văn hoá và tinh thần tự hào dân tộc; Nội dung và phương pháp phân loại sách,
miêu tả các yếu tố thư mục hoàn toàn khác với Tứ bộ của Trung Quốc. Lê Trọng
Hàm đã tiếp thu được tinh hoa của hai bản thư mục này, phát triển theo quan điểm
riêng qua việc biên soạn hai bản thư mục Hoàng Lê tứ khố thư mục và Hoàng Nguyễn
tứ khố thư mục.
Hoàng
Lê tứ khố thư mục là bản danh mục các sách Việt Nam có từ trước thời Nguyễn,
thu thập được 84 bộ sách, chia ra:
1- Hiến
chương loại (8 bộ)
2-
Kinh sử loại (13 bộ)
3- Thi
văn loại (29 bộ)
4- Truyện ký loại (28 bộ)
5- Tạp
loại (6 bộ)
Cách
phân chia như trên cơ bản như cách chia trong Văn tịch chí của Phan Huy Chú, lấy
căn cứ chủ yếu là nội dung sách, nhưng đưa Tạp loại thành một đề mục chính thức.
Trong Văn tịch chí, mục Tạp loại (toán, đạo Phật, địa lý...) chỉ là môn loại phụ,
gọi là Phương kỹ loại. Đến Hoàng Lê thứ khố thư mục, nhóm tác giả Lê Trọng Hàm
đã nhận thức rõ giá trị trong đời sống xã hội của các loại sách trong Tạp loại,
đưa Tạp loại thành môn loại chính thức ngang với các môn loại khác. Đó là một
nét mới, tiến bộ trong nhận thức của các nhà thư mục học Việt Nam, góp phần đưa
công tác thư mục nước ta phát triển thêm một bước.
Hoàng
Nguyễn tứ khố thư mục thu thập các sách từ đầu triều Nguyễn đến đầu thế kỷ 20.
Bản thư mục chia làm 5 đề mục:
1- Thần
kinh (Huế ) 20 bộ
2- Bắc
kỳ 70 bộ
3-
Trung kỳ 42 bộ
4- Nam
kỳ 21 bộ
5- Các
nữ sĩ 6 bộ
Cách
chia như trên thiếu thống nhất, trong khi lấy cơ sở chủ yếu là yếu tố địa lý lại
có mục chia theo giới tính. Theo cách chia này, nội dung sách không được tính đến.
Tuy vậy, bản thư mục cũng có những giá trị nhất định:
- Góp
phần lưu giữ tài liệu, ấn phẩm Việt Nam lâu dài.
- Thể
hiện sự phát triển văn hoá, khoa học, nghệ thuật và tình hình các tác giả của từng
vùng địa lý riêng.
- Việc
đưa các tác giả nữ thành đề mục riêng thể hiện sự coi trọng vai trò của phụ nữ,
là đòn đánh vào tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ tồn tại từ lâu trong xã
hội phong kiến Việt Nam.
Trên
phương diện thư mục học, Hoàng Lê tứ khố thư mục và Hoàng Nguyễn tứ khố thư mục
đã thể hiện được các yếu tố thư mục rất cơ bản như tên tác giả, tên sách, các
chi tiết bổ sung cho tên sách, thời gian xuất bản, tình trạng sách còn hay mất,
hình thức in ấn hay chép tay, tóm tắt nội dung, bình luận về sách... Hai bản
thư mục của Lê Trọng Hàm đã kế thừa tinh hoa từ các công trình thư mục của Lê
Quý Đôn và Phan Huy Chú, đồng thời có chỉnh lý, phát triển, sáng tạo, mang sắc
thái riêng, góp phần làm phong phú và là cơ sở cho công tác lý luận phân loại
sách và thư mục học Việt Nam sau này.
……………
Nguồn: Văn
nhân. – 2005. – Số 48. – Tr. 33 – 35.
NGUYỄN KHẮC DOANH
Nguyễn Khắc Doanh còn gọi là Nguyễn
Khách Doanh, hiệu Hải Đàm, thường gọi Tú Khắc, Tú Khách, Tú Doanh. Không rõ năm
sinh. Chỉ biết ông mất năm 1930.
Ông quê thôn Đầm, làng Tang Trữ,
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam
Định).
Ông đỗ Tú tài năm 1906. Khoa này ông
được vào phúc hạch nhưng vì bài làm có mấy câu văn “láo xược” nên bị đánh rớt
xuống Tú tài. Sau ông có đi thi một lần nữa nhưng vẫn không đỗ Cử nhân.
Ông là người giàu lòng yêu nước,
chán ghét thời thế, quyết không ra cộng tác với giặc Pháp. Sau khi đỗ Tú tài
ông về sống bình thường ở quê, thường giao du với các bạn nhà nho bất đắc chí,
làm thơ đả kích chế độ thực dân.
Năm 1925 bọn thực dân Pháp bắt cóc
cụ Phan ở Thượng Hải đem về nước xử án. Trước đó, năm 1912 thực dân Pháp đã kết
án vắng mặt cụ Phan. Nguyễn Khắc Doanh đã cưỡi bò đi xem xử án. Giữa công
đường, ông tha thiết xin chết thay cho cụ Phan Bội Châu. Ông bị giặc Pháp bắt
giam. Sau khi được thả về, ông lại đón xe Toàn quyền Varenne, một lần nữa đòi
được tù thay cho cụ Phan. Cùng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân
đòi thực dân Pháp phải thả cụ Phan, hành động khảng khái của Nguyễn Khắc Doanh
góp phần gây sức ép buộc tòa án Pháp kết án cụ Phan tù chung thân, không dám xử
tử cụ. Toàn quyền Varenne phải can thiệp để cụ Phan được về an trí tại Bến Ngự
- Huế…
Nguyễn Khắc Doanh là một nhà thơ
trào phúng nổi tiếng của Nam Định chuyển sang sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Thơ
ông đả kích sâu cay bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, được nhân
dân hào hứng đón nhận. Ông có tập thơ trào phúng “Chim oanh học nói” đả kích
chế độ của thực dân cướp nước. Bọn thực dân Pháp phải ra lệnh tịch thu và cấm
lưu hành những sáng tác của ông.
Hầu hết các sáng tác của ông đã bị
chính quyền đô hộ Pháp tịch thu tiêu hủy. Chỉ còn một bài lưu truyền đến ngày
nay. Đó là bài phú nổi tiếng “Thi trường thảm trạng” được in trong một số sách
tuyển tập văn học (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. – Nxb. Văn hóa, 1963. – Tập 4 ;
Tổng tập văn học Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, 1996. – Tập 21. – Tr. 823 –
825).
Chỉ một bài “Thi trường thảm trạng”
cũng đủ đưa ông vào hàng các tác giả yêu nước chống Pháp của đất Nam Định văn
hiến và của cả nước hồi đầu thế kỷ hai mươi…
……………
Nguồn: Văn Nhân. – Số 139 ra
tháng 9 & 10 năm 2021. – Tr. 33 – 34.
KIẾN TRÚC SƯ NGUYỄN CAO LUYỆN
Kiến
trúc sư Nguyễn Cao Luyện (1907 - 1987) sinh trưởng trong một gia đình nhà nho
nghèo có nề nếp ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ ông may mắn được
người cha thường cho đi theo trong những lần thăm thú, vãng cảnh chùa chiền,
đình miếu, di tích, danh lam trong nước. Được tiếp cận nhiều với nghệ thuật dân
tộc ngay từ tuổi ấu thơ, trong ông sớm nảy sinh những cảm thụ sâu sắc với vẻ
đẹp kiến trúc truyền thống. Những cảm thụ sâu sắc với kiến trúc dân tộc ấy đã
giúp ông định hướng chọn nghề kiến trúc và trở thành một kiến trúc sư nổi tiếng
sau này.
Được
thừa hưởng những nét tinh hoa tốt đẹp trong môi trường giáo dục của một gia
đình nhà nho thanh bạch, Nguyễn Cao Luyện chăm chỉ học tập, sớm thể hiện rõ
năng khiếu của mình. Ông là một trong những học trò giỏi và có năng khiếu vào
bậc nhất của trường Thành Chung Nam Định.
Năm 21 tuổi Nguyễn Cao Luyện thi đỗ vào Trường Cao
đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau một năm học khoa mỹ thuật, ông chuyển sang học
khoa kiến trúc khoá 3(1928 - 1933). Năm 1933 ông đỗ thủ khoa, được gửi sang
Pháp tu nghiệp một năm tại xưởng thiết kế của Le Corbusier và A. Péret. Kiến
trúc sư A. Péret nổi tiếng là bậc thầy trong sử dụng bê tông. Những kinh nghiệm
học được từ người thầy tài ba A. Péret đã có ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm
sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Cao Luyện và thể hiện rõ trong các công trình
kiến trúc do ông thiết kế sau này.
Khi về nước, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện mở phòng
kiến trúc tư ở Hà Nội. Ông góp phần sáng lập và tham gia giảng dạy ở trường tư
thục Thăng Long. Ông còn tham gia giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương, góp phần đào tạo đội ngũ trí thức trẻ cho đất nước. Nhiều kiến trúc sư
thế hệ trước Cách mạng tháng Tám 1945 là học trò của ông, trong đó có kiến trúc
sư nổi tiếng Huỳnh Tấn Phát.
Năm 1935 người bạn học của kiến trúc sư Nguyễn Cao
Luyện là kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp từ Huế ra Hà Nội. Hai kiến trúc sư tài
năng và đầy nhiệt huyết đã kết hợp chặt chẽ với nhau trong công trình thiết kế
khu "Nhà ánh sáng" ở bãi Phúc Xá (Hà Nội). Kiểu "nhà ánh
sáng" do hai ông thiết kế thật giản dị, lại bằng vật liệu rẻ tiền, nhưng
đã tạo được nơi ăn chốn ở văn minh, hợp vệ sinh dành cho xóm thợ và dân nghèo
thành thị. Công trình "Nhà ánh sáng" là một biểu hiện thiết thực của
tấm lòng kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện yêu thương, quan tâm đến những người
nghèo. Công trình khu "Nhà ánh sáng" không những đã gây được tiếng
vang lớn trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó mà còn vọng sang một số nước thuộc
địa của Pháp ở châu Phi.
Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, kiến trúc sư
Nguyễn Cao Luyện đã thể nghiệm thành công nhiều công trình nhà ở, nhà hàng,
biệt thự, trường học, bệnh viện ở Hà Nội, Nam Định, Lạng Sơn... với giải pháp
tổ chức không gian đưa con người tiếp xúc với thiên nhiên và khai thác vật liệu
truyền thống. Cùng những đồng nghiệp giỏi như kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức trong
phòng kiến trúc tư của mình, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã khởi xướng những
ý tưởng về không gian và hình dáng của kiến trúc Việt Nam. Ông trân trọng tìm
hiểu, giữ gìn và khai thác triệt để vốn truyền thống, đồng thời đón nhận những
thành tựu mới của nền văn minh nhân loại. Những ý tưởng ấy được thể hiện trong
các công trình kiến trúc của ông, đã để lại cho nền kiến trúc Việt Nam trước
Cách mạng tháng Tám 1945 dấu ấn đặc sắc, gắn bó với lịch sử phát triển kiến
trúc nước nhà. Một số công trình ở Hà Nội do ông thiết kế, hoặc tham gia thiết
kế đã trở nên nổi tiếng như Bệnh viện 167 Phùng Hưng, Trường tư thục Thăng Long
ở Ngõ Trạm, biệt thự số 77 Nguyễn Thái Học, biệt thự số 65 Lý Thường Kiệt (nay
là Đại sứ quán Cu ba)...
Cách mạng tháng Tám 1945 bùng lên, kiến trúc sư Nguyễn
Cao Luyện nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội. Một thời kỳ lịch sử mới mở
ra đối với ông. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, ông đã lên Việt Bắc để góp
phần xây dựng và bảo vệ chế độ mới với tất cả nhiệt tình của một trí thức yêu
nước, yêu nghệ thuật dân tộc. Ông là thành viên trong Ban lãnh đạo Vụ Kiến trúc
thuộc Bộ Giao thông công chính (tiền thân của Bộ Kiến trúc - Thuỷ lợi, sau đổi
là Bộ Kiến trúc và nay là Bộ Xây dựng). Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã có
nhiều đóng góp về mặt tổ chức của ngành kiến trúc non trẻ nước nhà và tìm hướng
đi cho nghệ thuật kiến trúc vừa phục vụ kháng chiến, vừa chuẩn bị cho công cuộc
kiến quốc sau ngày thắng lợi.
Năm 1948, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện là một trong
những người có công sáng lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam (tức là Hội Kiến trúc
sư Việt Nam ngày nay).
Trong thời gian tham gia kháng chiến ở Việt Bắc, kiến
trúc sư Nguyễn Cao Luyện đi sâu nghiên cứu nhà ở dân gian của đồng bào Dao,
Tày, Nùng ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng. Ông tìm tòi, nghiên
cứu, sáng tạo các kiểu nhà có nội dung và hình thức mới mẻ để phục vụ thiết
thực cho cách mạng và nhân dân như các kiểu nhà triển lãm, chòi thông tin, trụ
sở Uỷ ban kháng chiến hành chính, trạm y tế, trường học, nhà ở nông thôn...
Nhiều kiểu nhà do ông thiết kế hồi đó đã được vẽ, in trên giấy học sinh một
cách đơn sơ để phổ biến rộng rãi trong nhân dân ở chiến khu Việt Bắc.
Năm 1954, kháng chiến thắng lợi, kiến trúc sư Nguyễn
Cao Luyện trở về Hà Nội. Ông tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ nhà nước và công
tác đoàn thể. Ông là Đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, Uỷ viên thường vụ
Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiến trúc (thuộc Bộ Kiến trúc -
Thuỷ lợi), Thứ trưởng Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng). Khi giữ những trọng
trách nhà nước giao phó, ông đã cùng đồng nghiệp xây dựng và hình thành nên
ngành kiến trúc - xây dựng của Việt Nam. Ông còn là hiệu trưởng đầu tiên của
trường Đại học Kiến trúc. Ông dành nhiều công sức xây dựng cho trường Đại học
Kiến trúc ngày thêm vững vàng. Ông dồn tâm huyết vào việc đào tạo lớp trẻ kế
cận sự nghiệp kiến trúc Việt Nam. Ở cương vị phụ trách ngành, ông vẫn suy tư,
tìm tòi, sáng tạo và thể hiện những hiểu biết tinh tế về nghề kiến trúc trong
các sáng tác mở rộng toà biệt thự làm trụ sở Quốc hội ở 35 Ngô Quyền, Hội
trường Ba Đình ở Hà Nội (đồng tác giả với kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm). Trụ sở
Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghĩa Lộ cũng là một trong những công trình đẹp do ông
thiết kế. Ở công trình này, ông để tâm khai thác những đặc điểm đặc sắc của
kiến trúc dân gian dân tộc Thái, kết hợp hài hoà với các yếu tố kiến trúc hiện
đại để đạt tới chất lượng và hiệu quả nghệ thuật cao.
Năm 65 tuổi, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện nghỉ hưu.
Ông từng thổ lộ:
- "Tôi đã nghỉ hưu trên danh nghĩa một cán bộ nhà
nước. Nhưng với tư cách là một người hoạt động kiến trúc thì tôi không chấp
nhận nghỉ hưu."
Đúng như lời tâm sự của mình, sau khi đã nghỉ hưu,
kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện vẫn tích cực hoạt động kiến trúc. Ông tham gia
viết bài đăng báo, tạp chí và viết sách để truyền kinh nghiệm cho lớp kiến trúc
sư trẻ, tuyên truyền cho nền kiến trúc vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc dân tộc
Việt Nam.
Công trình nhà Bảo tàng Cổ vật trên hồ Thượng Lỗi ở
thành phố Nam Định do kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện sáng tác là một công trình
kiến trúc mang đậm dấu ấn về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi dành
cho thành phố quê hương ông.
Ngay sau ngày giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, Hiệp
định Pari về Việt Nam được ký, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã cùng đồng chí
Phan Điền - Bí thư tỉnh uỷ Nam Hà, nhiều lần đến khảo sát thực địa tại khu hồ
thuộc làng Thượng Lỗi ngoại thành Nam Định, nơi chiếc máy bay thứ 100 của không
lực Hoa Kỳ bị quân ta bắn rơi tại chỗ. Từ trên cao nhìn xuống, mảnh đất ấy hình
con đại bàng giống như phù hiệu con chim trên máy bay Mỹ bị quân dân Nam Định bắn
rơi. Và chính trên mảnh đất ấy đã xây nhà Truyền thống, tường phía ngoài nhà
được đắp bê tông để tạo dáng một quả núi hình con sư tử nằm đè lên con đại bàng
tượng trưng cho sức mạnh của quân dân ta đã đè bẹp được không lực Hoa Kỳ. Toàn
bộ công trình nằm trên mặt hồ nước, giống như hòn non bộ thường thấy ở trước
sân một ngôi nhà cổ thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Chỉ có điều bể nước ở đây là
cả một quần thể nhiều hồ được khai thông liên hoàn thành một hệ thống rộng tới
mấy chục mẫu, còn hòn non bộ là toà nhà cao ngót ba tầng trên gò đất nổi rộng
tới 16.150 m2. Khi trát những mảng tường xi măng phía ngoài của nhà
Truyền thống, giả làm vách núi, những người thợ xây dựng đã quét lên đó một lớp
cháo loãng cho rêu phong chóng mọc lên. Rồi những cây lớn được ô tô vận chuyển
đến và cần cẩu dựng lên thành rừng cây rợp bóng. Từ đó khu hồ có tên là hồ
Truyền thống, nay chính thức được gọi là Công viên văn hoá Tức Mặc. Từ cổng
công viên vào qua sân rộng trước trụ sở Ban quản lý di tích, du khách bước lên
một cây cầu cuốn vòm, rồi theo con đường lát gạch uốn khúc quanh co giữa hai
hàng cây bóng mát. Theo con đường này, ta còn bước lên những cây cầu đá vắt qua
những ao sen, hồ súng. Ở phía tây giải đất trung tâm có dựng một ngôi đình cổ
mái cong, có cây đa, giếng nước. Trong khuôn viên còn có nhiều tượng đá cổ như
ngựa đá, voi đá, tượng người, bia đá được đặt bên những khóm tre đằng ngà với
những cây xi, cây xanh rủ những chùm rễ phụ đu đưa như níu kéo chào mời, bên
những hàng cau toả hương thơm ngát mỗi đêm hè.
Với tất cả tình yêu mảnh đất quê hương, nơi chôn nhau
cắt rốn của mình, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã dành cả tâm hồn, sức lực vào
thiết kế và chỉ đạo thi công với lòng mong muốn thể hiện công trình gần gũi với
tình cảm dân tộc, đồng thời giới thiệu tinh hoa của kiến trúc cổ truyền qua
giải pháp quy hoạch kiến trúc, tạo cho công trình trở thành một điểm sáng, một
danh lam thắng cảnh của tỉnh Nam Định.
Nguyễn Cao Luyện không chỉ là một kiến trúc sư có tay
nghề lão luyện mà còn là một nhà văn hoá thiết tha với cội nguồn dân tộc. Ông
là một trong số những kiến trúc sư tiên phong hướng về kiến trúc cổ truyền,
khai thác, tìm tòi những giá trị nghệ thuật dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn với
các yếu tố hiện đại để tạo ra một phong cách riêng trong kiến trúc. Các công
trình ở Hà Nội do ông thiết kế như toà nhà số 7 Thuyền Quang, số 215 Đội Cấn,
số 104 Yết Kiêu, số 1 Phan Đình Phùng, số 23 Hàng Than, số 36 Bà Triệu... đã
thể hiện sâu sắc, đậm đà nét truyền thống ở cả nội dung và hình thức, với những
lớp lang có không gian ấm cúng, thoải mái, giản dị, trữ tình, chân thực, trong
sáng, gắn bó và hài hoà với thiên nhiên. Ông kiên nhẫn duy trì cuộc "đối
thoại với đồng bào mình". Theo ông, "các sáng tạo kỹ thuật đều nảy
sinh từ điều kiện tự nhiên, tâm tính con người". Ông hiểu rõ "trong vòm trời nhiệt đới
không thể xê dịch được, tổ tiên ta đã nhận ra những gì là bầu bạn và kẻ
thù". Do vậy, ông chủ trương "từ không gian xưa của nếp nhà cổ
truyền, chúng ta kế thừa những gì làm giường mối"(1) cho kiến trúc
hiện đại hôm nay. Từ những khảo sát thiên nhiên, xã hội, ông chỉ rõ nhà ở là
một không gian văn hoá chứ không phải "cỗ máy ở". Ông cảnh báo sự suy
thoái của nền kiến trúc chỉ biết du nhập, tự nó huỷ hoại môi trường sống, và
người kiến trúc sư vô tình đã trở thành kẻ tàn phá những giá trị khoa học nhân
văn của dân tộc.
Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện là tác giả của bộ sách
đầy chất thơ, tuyên truyền và khẳng định cho vẻ đẹp và giá trị kiến trúc dân
tộc - dân gian. Hai tập đầu của bộ sách đã hoàn thành là "Từ những mái nhà
tranh cổ truyền" (Nhà xuất bản Văn hoá, 1977) và "Chùa Tây Phương -
Một công trình kiến trúc cổ độc đáo" (1978). Tập ba của bộ sách chưa hoàn
thành thì ông qua đời.
Nguyễn Cao Luyện là một kiến trúc sư đầu ngành có
nhiều công lao trong xây dựng và phát triển ngành kiến trúc Việt Nam nói riêng
và hoạt động xã hội nói chung. Những ý tưởng về nghệ thuật của ông theo thời
gian vẫn còn đọng lại trong tâm khảm của nhiều thế hệ kiến trúc sư, thôi thúc
lớp trẻ luôn nhớ về cội nguồn để xây dựng một nền kiến trúc dân tộc và hiện
đại. Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện thật xứng đáng với sự tôn vinh của nhân dân
quê hương, xứng đáng với những phần thưởng cao quý mà nhà nước dành cho ông:
Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến hạng hai, Huân chương
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.
….……..
Chú
thích:
(1)
Từ những mái nhà
tranh cổ truyền / Nguyễn Cao Luyện. - H.: Văn hoá, 1977.
Nguồn:
Khoa học
công nghệ và môi trường Nam Định. - 2001. - Số 3. - Tr. 7 -10.
NHẠC SĨ ĐINH NGỌC LIÊN TỪ NGƯỜI
LÍNH KÈN
TRỞ THÀNH NGHỆ SĨ
NHÂN DÂN
Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên, thường gọi là Quản
Liên sinh năm 1911 tại xã Xuân Phương,
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cũng như nhiều thanh niên khác trong thời kỳ
trước Cách mạng, Đinh Ngọc Liên bị bắt đi lính khố xanh. Do có năng khiếu về âm
nhạc nên ông được cho làm lính kèn, rồi dần dà thành người chỉ huy của đội lính
kèn của quân đội tay sai cho thực dân Pháp. Sau này, khi đã nghỉ hưu, nhạc sĩ
Đinh Ngọc Liên thường tâm sự với bà con làng xóm: "Cuộc đời tôi nếu không
có Đảng, không có Cách mạng thì đâu được như ngày nay..."
Ngày 20 tháng 8 năm 1945 được xem như là ngày
thành lập Đoàn quân nhạc Việt Nam, cũng là ngày mà nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên không
thể nào quên được. Sáng hôm đó, chính tướng Vương Thừa Vũ (lúc đó là chỉ huy của
quân giải phóng) đã vào trại Bảo an binh, nơi có Đội lính kèn do Quản Liên phụ
trách, nói rõ về đường lối, chủ trương, mục tiêu của cách mạng, về sự quan tâm
của cách mạng đối với âm nhạc. Tướng Vương Thừa Vũ cũng nói rằng cách mạng sẵn
sàng đón nhận những ai tình nguyện tham gia Đoàn quân nhạc của quân đội cách mạng,
còn ai muốn trở về nhà thì cách mạng tạo điều kiện cho về. Quản Liên thay mặt
cho hơn 70 người lính kèn xúc động phát biểu:
- "Chúng tôi hoan nghênh cách mạng giải
phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng đứng trong Đoàn quân nhạc cách mạng. Những ai tán
thành ý kiến của tôi, xin đứng dậy!"
Cả 70 người lính kèn đồng loạt đứng dậy hưởng
ứng, hoan hô vang dội. Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên được chỉ định làm nhạc trưởng,
toàn quyền chỉ huy Đoàn quân nhạc. Từ ngày 20 - 8 - 1945 đáng ghi nhớ ấy, nhạc
sĩ Đinh Ngọc Liên vĩnh viễn trút bỏ bộ sắc phục của lính khố xanh một thời nô lệ,
để mặc bộ quân phục của quân đội cách mạng. Cuộc đời ông bắt đầu sang trang mới.
Ông lao vào công tác cách mạng, hào hứng say sưa, quên ăn quên ngủ, dồn hết sức
lực và tài năng vào việc hoà âm, phối khí những ca khúc cách mạng và hướng dẫn
Đoàn quân nhạc luyện tập, chuẩn bị phục vụ ngày Tuyên ngôn độc lập. Bài Tiến
quân ca, lúc đó chưa có Quốc hội để xác định là Quốc ca, nhưng đã được xem như
là Quốc thiều của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Do vậy, nhạc sĩ Đinh Ngọc
Liên hết sức chú trọng việc hoà âm, phối khí sao cho thật chính xác, thật hoàn
chỉnh. Ông phát hiện ra vài chỗ nhịp điệu
bài hát chưa thật hoàn chỉnh và đã tìm gặp Văn Cao, tác giả của Tiến quân ca,
xin được phép sửa chữa đôi chút để bài hát thật hoàn hảo... Cụ thể là rút ngắn
trường độ của nốt "Rê" đầu tiên (tương ứng với từ "Đoàn")
và nốt "Mi" ở đoạn giữa (tương ứng với từ "xác" trong câu
"Xây xác quân thù") để làm cho giai điệu ca khúc thêm hùng tráng. Văn
Cao vui vẻ đồng ý, vì chính ông cũng đang băn khoăn về vài chỗ nhịp điệu của
bài hát còn chưa được hoàn chỉnh mà chưa biết sửa như thế nào.
Trong
buổi lễ ra mắt của Chính phủ tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi lá
cờ Tổ quốc được từ từ kéo lên, cùng lúc giai điệu bài Tiến quân ca của Văn Cao
do nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên chỉ huy dàn quân nhạc trình tấu cũng vang lên hùng
tráng, làm xúc động đến nghẹn ngào hàng vạn người.
Đoàn quân nhạc, thời kì 1945 - 1954 gọi là
Ban âm nhạc Giải phóng quân, Ban âm nhạc Vệ quốc quân, rồi Đoàn nhạc binh Trung
ương. Từ năm 1955 mới đổi gọi là Đoàn quân nhạc trực thuộc Tổng cục quân huấn
(sau thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô).
Từ 1945, gần bốn mươi năm liên tục, nhạc
sĩ Đinh Ngọc Liên là nhạc trưởng, trưởng đoàn Đoàn quân nhạc Việt Nam. Ông vinh
dự được chỉ huy dàn quân nhạc trong những ngày lễ trọng đại của dân tộc
như ngày Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 -
1945, ngày Giải phóng Thủ đô 10 - 10, đón Bác Hồ và Chính phủ ta về lại Hà Nội,
ngày Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh 1969... Ông đã hoà âm, phối khí hàng trăm
ca khúc cách mạng phục vụ nghi lễ của Đảng, Chính phủ, Quân đội ta và đáp ứng
nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của chiến sĩ và nhân dân. Những ca khúc do ông
hoà âm, phối khí như Tiến quân ca, Chiến sĩ ca, Diệt phát xít, Du kích ca, Cùng
nhau đi hùng binh... đã trở thành những tiết mục nổi tiếng của Đoàn quân nhạc.
Ngoài hoà âm, phối khí các ca khúc cách mạng, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên còn biên
soạn, sáng tác nhiều nhạc phẩm, ca khúc phục vụ nhiệm vụ cách mạng từng thời
kì, nổi tiếng là Xuân chiến thắng, Hành khúc chiến thắng, Chiến thắng Phủ Thông
(ca khúc, nhạc Đinh Ngọc Liên, lời Ngô Gia Khánh ), Hành khúc tang lễ (bản nhạc
trống vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh 1969)... Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên cũng có
công lớn trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhạc công cho Đoàn quân nhạc, giỏi
về kĩ thuật và nghệ thuật biểu diễn, vững về phẩm chất chính trị. Đoàn quân nhạc
ngày nay gọi là Đoàn nghi lễ 781 còn không ít người đã từng được nhạc trưởng
Đinh Ngọc Liên bồi dưỡng, dìu dắt.
Nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên là một trong những
hội viên đầu tiên của Hội Âm nhạc Việt Nam. Bằng chính cuộc đời lao động nghệ
thuật sáng tạo không mệt mỏi của mình, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã góp phần cống
hiến cho nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, đặt những viên gạch đầu tiên cho Hội
Âm nhạc Việt Nam ra đời và phát triển, và chính ông là một viên gạch đẹp trong
nền móng đó.
Năm 1960 nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã vinh dự
trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1963 ông được phong quân hàm
Thiếu tá, rồi Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã được nhà nước ta tặng
thưởng Huân chương lao động hạng nhất, Huân chương quân công hạng nhì. Năm 1989
ông được công nhận là Nghệ sĩ nhân dân, người Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên của
quân đội nhân dân Việt Nam. Những phần thưởng cao quí mà Đảng, quân đội và nhà
nước ta trao tặng cho ông thật xứng đáng với công lao của ông đóng góp cho cách
mạng, minh chứng sự phấn đấu đầy nghị lực, vượt qua mọi gian khổ của Nhạc sĩ
Đinh Ngọc Liên, để từ một người lính khố xanh trở thành người cán bộ quân đội
cách mạng, người Đảng viên cộng sản, người Nghệ sĩ nhân dân.
Năm 1991, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên đã đi về
cõi vĩnh hằng, nhưng những nhạc phẩm quí báu của ông để lại cho chúng ta sẽ mãi
mãi còn âm vang trong lòng nhiều thế hệ. Những bản thánh ca trong nhà thờ Thiên
chúa giáo ở quê hương Xuân Phương đã tạo nguồn cảm hứng và tình yêu âm nhạc cho
ông từ nhỏ. Quê hương văn hiến giàu truyền thống yêu nước và cách mạng đã sinh
ra và nuôi dưỡng tình yêu đất nước và tài năng
Đinh Ngọc Liên, và chính ông là niềm tự hào của quê hương Nam Định.
…………………………
Nguồn: Văn nhân. - 1999. - Số
27. - Tr. 12 - 13.
NGHỆ
SĨ VŨ NĂNG AN
Tác phẩm
tiêu biểu :
Ảnh
:
-
Bác Hồ ở Yxưccun (Kadắcxtan 1959)
-
Bác Hồ tại mặt trận Đông Khê 1950
-
Chân dung Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945)
-
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra mắt quốc dân
-
Đánh chiếm phủ Khâm Sai - Mít tinh Tổng khởi nghĩa tại quảng trường Nhà hát lớn
19 - 8 – 1945 - Quốc hội họp lần đầu.
Bài
viết :
-
Chụp ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Báo Người Hà Nội)
-
Giơ-ne-vơ 1954 những khoảnh khắc... (Báo Văn hoá 27 - 8 - 1995)
-
Mãi mãi thiêng liêng
-
Những bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh
-
Nguồn sáng thiêng liêng ảnh Người (Báo Văn hoá 3 - 9 - 1995)
-
Tre già măng mọc (Tạp chí Điện ảnh ngày nay IV - 1992)
-
Từ thu Mi-xtơ-ran đến thu heo may (Báo Nhân dân 6 - 8 - 1992).
Nhiều
người Việt Nam rất quen thuộc với những tấm ảnh tư liệu lịch sử nổi tiếng về Tổng
khởi nghĩa Tháng Tám 1945, kháng chiến chống Pháp, về Bác Hồ... như Mít tinh Tổng
khởi nghĩa ở Hà Nội 19 - 8 - 1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 - 1945,
Quốc hội họp lần đầu, Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở hẻm núi Lam Sơn
1950... được in phổ biến trên sách báo, nhưng ít người biết tác giả của những bức
ảnh đó là nghệ sĩ Vũ Năng An.
Vũ
Năng An sinh năm 1916 tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Hiện nay ông trú tại
khu tập thể Điện ảnh số 72 phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội.
Năm
lên 10 tuổi, Vũ Năng An mồ côi mẹ. Cha ông là Côi Sơn Vũ Năng Tĩnh, một người
viết báo phê phán những chuyện bất bình xảy ra hàng ngày trong tỉnh. Vũ Năng
Tĩnh từng giao du với Nguyễn Thế Truyền, một trí thức Tây học có tư tưởng mới.
Vũ Năng Tĩnh là bạn thân thiết của thi sĩ Lê Đại Thanh và một sỗ văn sĩ khác.
Cuộc đời của cụ Vũ Năng Tĩnh có ảnh hưởng nhiều đến Vũ Năng An.
Tuổi
thơ của Vũ Năng An gặp nhiều khó khăn vì cha ông nghèo túng và luôn không ổn định
về nơi ăn chốn ở. Hoàn cảnh đó đã thúc đẩy Vũ Năng An ý nghĩ phải tìm một nghề
tạo dựng cuộc sống độc lập và đầy đủ. Năm 16 tuổi, ông trốn nhà ra Hải Phòng,
xin thi vào Trường Kỹ nghệ nhưng không đỗ. Ông đành phải trở về Nam Định, song
ý chí phải thay đổi cuộc sống càng mạnh mẽ trong tâm hồn sôi nổi và khát vọng của
ông.
Năm
1936 ông lên chuyến tàu xuyên Đông Dương chạy qua Nam Định để vào Tuy Hoà, rồi
đi xe đò vào Sài Gòn với hy vọng tìm được một nghề kiếm sống. Ông được chủ hiệu
Studio Géo Thơm là Đỗ Hữu Thơm nhận cho học việc. Ông đã nhanh chóng bộc lộ những
dấu hiệu của một tài năng nhiếp ảnh lớn, được các bậc đàn anh trong nghề nể trọng.
Một lần ông chụp ảnh cho vợ chồng viên Phó Giám đốc tàu Aramis được khen là ảnh
đẹp và nhận xét với tay nghề của mình, Vũ Năng An có thể sang hành nghề tại
Pháp.
Tại
Sài Gòn, ông đã được chứng kiến vụ Toà Đại hình xử án những nhà cách mạng. Những
lời lẽ đanh thép tranh cãi chống lại lời buộc tội kết án của Toà án thực dân
Pháp của ông Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu và lời biện hộ của luật sư Trịnh Đình
Thảo đã gây xúc động và làm bừng sáng lên trong đầu óc non trẻ của Vũ Năng An
những điều mới mẻ. Ông tham gia trong nhóm 7 người vận động thành lập Hội Điện
ảnh An Nam, thu hút được nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thời đó như Năm Phỉ, Phùng
Há, Ái Liên, Năm Châu... Việc vận động thành lập Hội Điện ảnh An Nam
không thành, ông bỏ đi làm thợ chụp ảnh trên tàu Aramis (từ Mácxây đi Côbê).
Sau hai tháng lênh đênh trên biển, ông tới Mácxây. Ở Pháp, ông lăn lộn kiếm sống
và được chứng kiến cảnh sống khổ cực của người nghèo. Cùng với tay nghề chụp ảnh
được nâng cao, ông nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống, cảm thông với những người
cùng khổ, bừng cháy lên tình yêu và nỗi nhớ quê hương đất nước. Một số người bạn
rủ ông đi Thuỵ Sĩ, Canađa kiếm sống, nhưng ông từ chối. Năm 1939 ông trở về Tổ
quốc với ý nghĩ luôn trăn trở là phải làm được cái gì đó có ích cho đất nước.
Năm
1940 Vũ Năng An làm việc ở Central photo của ông Phúc Lai phố Tràng Thi, Hà Nội.
Ở đó, Vũ Năng An đã cùng Hồng Tranh chụp và tổ chức trưng bày 40 tấm ảnh chân
dung văn nghệ sĩ. Đầu năm 1942 ông lại sang làm cho cửa hiệu Photo Atelier mới
khai trương của ông Trần Văn Lưu trên đường Cột Cờ, Hà Nội. Trong cửa hiệu có
trưng bày một số ảnh chân dung do Vũ Năng An và Hồng Tranh chụp. Một số bức ảnh
chân dung này đã được hoạ sĩ Tô Ngọc Vân giới thiệu trên tạp chí Thanh Nghị và nhà văn Henri Bouchon giới thiệu trên
báo La Voilonté Indochinoise số ra ngày 16 -
5 - 1942. Bài báo có đoạn viết: "Ảnh chân dung và các bức
études, ở đây Hồng Tranh và Vũ Năng An đã đạt được những tác phẩm thật sự nghệ
thuật. Tôi đã nhận ra những gương mặt quen thuộc mà tính cách với một kỹ năng
chuyển hoá làm cho những nét nổi nhất được tức thời tiếp cận..."
Từ thuở nhỏ, Vũ Năng An có hai người
bạn học thân thiết là Vũ Đức Toa và Vũ Đức Oong (con cụ Đồ Đôi người làng Đại
Đê, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) từng hoạt động cho Đảng Cộng sản. Có lần họ rủ
ông tham gia hội viết báo trong lớp. Vũ Đức Toa từng bị địch bắt giam vì treo cờ
búa liềm trên cây ngái xế cửa trường Maurice Graffeuil phố Bến Củi thành phố
Nam Định trong ngày 1 - 5. Sau hai người bạn này đã lên Hà Nội tham gia hoạt động
Việt Minh... Từ hoạt động của hai người bạn nói riêng và phong trào cách mạng ở
quê hương nói chung, ý thức cách mạng thấm dần vào tư tưởng Vũ Năng An.
Sau
này, khi đã nghỉ hưu, Vũ Năng An tâm sự: "Tôi không phải là người hoạt
động chính trị, tôi không có năng khiếu đó, tôi đến với Cách mạng rất tự nhiên,
hoàn toàn xuất phát từ lòng mong mỏi được làm một công việc gì đó hữu trách cho
đất nước..."
Từ
lòng mong muốn giản dị và thiết thực đó, Vũ Năng An đã hoà mình vào không khí
sôi sục của nhân dân Hà Nội trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Những ngày sôi sục
khí thế Cách mạng Tháng Tám 1945 còn khắc sâu trong tâm khảm Vũ Năng An mà ông
không bao giờ quên được. Ông sung sướng khi được Việt Minh chính thức mời chụp ảnh
phục vụ cách mạng. Sáng ngày 17 - 8 - 1945, Vũ Đức Toa đến tìm Vũ Năng An, yêu
cầu ông cùng đến trước Nhà hát lớn chụp ảnh. Ông bồi hồi đi theo bạn và hiểu rằng
đây là khoảnh khắc lịch sử quan trọng của dân tộc, nếu bỏ lỡ không ghi lại sẽ
phải ân hận suốt đời. Đến trước Nhà hát, ông trèo vội lên cột đèn và kịp bấm
máy ghi lại cảnh lá cờ của chính phủ bù nhìn tơi tả rơi xuống, lá cờ đỏ sao
vàng được kéo lên phấp phới tung bay. Ngày 19 - 8 - 1945, nhân dân Hà Nội vùng
lên giành chính quyền với khí thế sôi sục đấu tranh của cuộc Tổng khởi nghiã.
Ông theo nhà văn Nguyên Hồng, với vũ khí là máy ảnh trong tay, hoà mình vào
dòng thác cách mạng. Ông say mê thu vào ống kính toàn cảnh cuộc mít tinh khởi
nghĩa của nhân dân Hà Nội với một rừng cờ đỏ sao vàng... Cũng trong ngày 19 - 8
- 1945, ông đã ghi lại được cảnh tượng lực lượng khởi nghĩa buộc các lính Bảo
an tay sai cho Pháp phải hạ vũ khí đầu hàng, quân ta vượt rào sắt chiếm lĩnh
hành dinh bù nhìn. Bức ảnh Đánh chiếm phủ Khâm sai là tư liệu quý giá
ghi lại thời khắc thiêng liêng của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta đập
tan ách thống trị trên 80 năm của thực dân Pháp để xây dựng chế độ cộng hoà dân
chủ nhân dân. Ngày 27 - 8 - 1945, ông chụp ảnh Cuộc duyệt binh ở Quảng trường
Nhà hát lớn. Ngày 2 - 9 - 1945, ông được giao nhiệm vụ chụp ảnh Bác Hồ đọc
Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra mắt
quốc dân... Những tấm ảnh về Hà Nội kháng chiến của ông đã được chủ hiệu ảnh Trần
Đăng Lưu phóng lớn trưng bày tại phòng Thông tin phố Tràng Tiền (Hà Nội) và được
đồng chí Vũ Đức Toa phóng thêm hai bộ đem đi trưng bày ở thị xã Phủ Lý và thành
phố Nam Định, kịp thời tuyên truyền cho cách mạng.
Sau
ngày Tuyên ngôn độc lập 2 - 9 - 1945, trước yêu cầu của nhân dân cần có ảnh
lãnh tụ, Nha tuyên truyền Chính phủ lâm thời đã triệu tập hội nghị gồm 32 đại
diện các hiệu ảnh ở Hà Nội để chọn người tài đức làm nhiệm vụ chụp chân dung Hồ
Chủ tịch. Vũ Năng An là một trong sáu người được chọn vào Phủ Chủ tịch để chụp ảnh
Bác Hồ. Thời gian để chụp ảnh Bác Hồ cho mỗi người chỉ có 5 phút, Vũ Năng An lại
là người được bố trí chụp sau cùng, nhưng với tấm lòng kính yêu lãnh tụ vô hạn
và bằng tài năng nghề nghiệp, ông đã chụp được hai tấm chân dung Bác Hồ mang
tính nghệ thuật cao. Tấm ảnh chân dung Bác Hồ có hai chấm sáng ở mỗi mắt đã được
chọn cho công bố trên báo chí, treo ở các công sở và tuyên truyền rộng rãi
trong nhân dân. Chính Bác Hồ đã ký tên vào bức ảnh này để gửi tặng bạn bè quốc
tế. Hồi đó ai cũng bảo mỗi mắt Cụ Hồ có hai con ngươi, sự đồn đại về một lãnh tụ
anh minh càng trở nên huyền thoại. Vũ Năng An được ghi nhận là tác giả bức chân
dung đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Năm
1947, Vũ Năng An nhập ngũ. Ông được cử phụ trách Ban nhiếp ảnh tại Văn phòng Bộ
Tổng tư lệnh và Cục Tuyên huấn Tổng cục chính trị. Năm 1950 bộ đội ta mở chiến
dịch Biên giới. Đây là chiến dịch có quy mô lớn đầu tiên của bộ đội ta nhằm củng
cố và mở rộng khu căn cứ Việt Bắc. Vũ Năng An được theo Bác Hồ đi chiến dịch.
Sáng 16 - 9 - 1950 Bác Hồ lên đài quan sát trên đỉnh núi Phia Lăng Đồn, theo
dõi pháo binh ta nổ súng bắn vào cứ điểm quân Pháp ở Đông Khê. Vũ Năng An đã chớp
được cái khoảnh khắc Bác Hồ đang tập trung quan sát trận đánh, gương mặt sống động,
cương nghị, đầy suy nghĩ và tự tin, chiếc mũ vải đã sờn, quân phục nhàu, ống quần
xắn cao, toát lên vẻ bình dị lạ thường... Ông chọn góc độ chụp hất từ dưới lên
làm cho hình ảnh Bác Hồ cao vời vợi in trên nền trời, sừng sững như một pho tượng
trên đỉnh Phia Lăng Đồn, thể hiện rõ nét hình tượng đẹp của vị lãnh tụ - vị tướng
lĩnh tài ba của dân tộc. Bức ảnh Bác Hồ trên Mặt trận Đông Khê 1950 là một
tác phẩm có giá trị nghệ thuật và là tư liệu lịch sử quý báu, làm xúc động biết
bao người Việt Nam qua nhiều thế hệ.
Sau
chiến dịch Biên giới, Vũ Năng An còn hai lần được đi theo Bác Hồ làm nhiệm vụ
nhiếp ảnh. Đó là những lần Bác Hồ đi thăm Liên Xô vào năm 1955 và năm 1959. Nhiều
bức ảnh nghệ thuật của ông chụp trong dịp này được dư luận đánh giá là xuất sắc
như bức ảnh chụp Bác Hồ đi thăm Bảo tàng Lê - nin trong điện Cremli, Bác Hồ
thăm hồ Y- xức - kun trên dãy A - la - tao... Bức ảnh Bác Hồ thăm cảnh ở hồ
Y - xức - kun và núi A - la - tao (Kadắctan năm 1959) được tác giả chụp vào
khoảnh khắc ca nô vừa quay mũi, ánh sáng chếch ngược tạo thành những nét đẹp
giàu chất tạo hình, được giới nhiếp ảnh ghi nhận như một sáng tạo về chụp ảnh
lãnh tụ.
Năm
1954, Vũ Năng An còn được tham gia đoàn cán bộ ngoại giao của Chính phủ Việt
Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng lãnh đạo đến bàn đàm phán ở Hội nghị Giơ - ne -
vơ với nhiệm vụ nhiếp ảnh. Những bức ảnh của ông về đoàn đại biểu nước ta trong
hội nghị này là những tư liệu quý về một giai đoạn lịch sử quan trọng.
Gần
hai mươi năm Vũ Năng An làm nhiệm vụ nhiếp ảnh cách mạng, ông trở thành một
trong những nhà nhiếp ảnh cách mạng xuất sắc. Ông có nhiều dịp được chụp ảnh
Bác Hồ, nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, các tướng lĩnh quân đội, các văn
nghệ sĩ và các nguyên thủ nước ngoài đến thăm Việt Nam... Nhiều tác phẩm ảnh
nghệ thuật của ông về Cách mạng Tháng Tám 1945, về cuộc kháng chiến chống Pháp,
về lãnh tụ Hồ Chí Minh... được coi là tài sản quốc gia, được lưu giữ trong các
Viện Bảo tàng.
Từ
năm 1960, Vũ Năng An được giao nhiệm vụ quản lý trong ngành Điện ảnh. Ông từng
được mời tham gia làm phim Việt Nam trên đường thắng lợi của đạo diễn Rô
- manh Các - men, phim Cây tre Việt Nam của nữ đạo diễn Ba Lan Hê - lê -
na Lê - man - xca. Ông được cử đi thực tập
về công tác quản lý ở hãng Mốt - phim Liên Xô. Năm 1960 ông làm Chủ nhiệm phim Lửa
trung tuyến ở xưởng phim tổng hợp. Năm 1964 - 1969 ông làm Phó Giám đốc xưởng
phim truyện Việt Nam. Năm 1969 - 1972 ông làm Giám đốc xưởng kỹ thuật sản xuất
phim. Năm 1972 - 1979 ông được đề bạt làm Giám đốc xưởng phim truyện Việt Nam.
Năm 1977 ông là thành viên Ban Giám khảo phim ngắn của Liên hoan Điện ảnh quốc
tế Matxcơva. Xưởng phim truyện Việt Nam do ông lãnh đạo đã sử dụng hàng vạn mét
phim tài liệu dựng thành 5 bộ phim có giá trị về lịch sử dân tộc: Sài Gòn
tháng 5 - 1975, Tháng 5 những gương mặt, Qua cầu Công Lý, Gặp đảo tự do
và Thành phố lúc rạng đông. Bộ
phim Thành phố lúc rạng đông đã được Giải thưởng cao nhất tại Hội thi
phim quốc tế ở Lai - xich (CHDC Đức) 11 - 1975.
Trong
15 năm giữ các cương vị quản lý chủ chốt ở xưởng phim truyện Việt Nam, ông đã hết
lòng với "nghệ thuật thứ bảy" và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp điện
ảnh Việt Nam. Ông là điển hình của người lãnh đạo có quan điểm thực tiễn và
tinh thần trách nhiệm cao. Ông thường tâm niệm rằng mỗi bộ phim ra đời là kết
quả của trí tuệ sáng tạo và thái độ trách nhiệm của người nghệ sĩ. Ông là tấm
gương về đạo đức trong sáng, nhiệt tình công tác, thấu hiểu và tin tưởng đồng
nghiệp, luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho những hoạt động sáng tạo.
Từ
tuổi thơ bế tắc và nghèo khổ, Vũ Năng An không ngừng phấn đấu vươn lên, trở
thành một nghệ sĩ có nhiều đóng góp cho cách mạng và có uy tín. Cuộc đời ông là
tấm gương sáng về thái độ sống có trách nhiệm với đời, phấn đấu học tập không mệt
mỏi để hoàn thiện bản thân.
Với
85 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, hơn 60 năm sự nghiệp nhiếp ảnh và điện ảnh, nghệ
sĩ Vũ Năng An là nhân chứng lịch sử những ngày đầu Cách mạng. Nhiều khoảnh khắc
lịch sử vĩ đại và quý giá của dân tộc được ông ghi lại bằng máy ảnh. Những bức ảnh
của ông đã tạc vào trang sử vàng chói lọi của cách mạng và dân tộc sẽ còn sống
mãi với non sông đất nước. Vì sự đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực nhiếp ảnh,
nghệ sĩ Vũ Năng An đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996
về bức ảnh Bác Hồ trên mặt trận Đông Khê năm 1950.
………………………
Nguồn:
Danh nhân
Nam Định thế kỷ XX được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. – Nam Định : Sở Văn hoá
thông tin, 2001. – Tr. 25 – 36.
VĂN CAO BẬC TÀI DANH THẾ KỶ
Nhạc sĩ Văn Cao hăng say hoạt động cho
cách mạng từ trước mùa thu 1945. Ông sáng tác bài "Tiến quân ca" cho
Trường Quân chính kháng Nhật, theo yêu cầu của tổ chức. Tự tay ông viết bài ca
này lên đá in ở trang văn nghệ của tờ Độc lập. Ông kể:
- "Một tháng sau khi báo phát
hành, tôi từ cơ quan ấn loát về Hà Nội. Qua một đường phố nhỏ (Bây giờ là đường
Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe tiếng đàn măng-đô-lin từ một căn gác vọng xuống. Có
người đang tập Tiến quân ca. Tôi đứng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc
động đến với tôi hơn cả những tác phẩm, tôi đã ra mắt ở các rạp hát trước
đây... Có thể những người cùng khổ, mà tôi đã gặp trên bước đường cùng khổ của
tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát".(1)
Ngày 17 / 8 / 1945 lá cờ đỏ sao vàng
được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom,
hàng ngàn người cất tiếng hát vang: "Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu
quốc... " Chính Hồ Chủ tịch đã chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca cho nước
Việt Nam mới. Quốc hội khoá I chính thức phê chuẩn Quốc ca. Năm 1993 Quốc hội
một lần nữa khẳng định vị trí bất di bất dịch bài Quốc ca Việt Nam của nhạc sĩ
Văn Cao.
Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, quê nội ở làng An
Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Vì sinh kế ông Nguyễn Văn Tề
(1885 - 1941), thân phụ Văn Cao đã đưa gia đình ra Hải Phòng lập nghiệp. Khi
Văn Cao cất tiếng khóc chào đời thì người cha làm cai máy nước. Nhưng không lâu
sau vì tị hiềm mà ông Tề bị mất chức. Văn Cao sớm chịu cuộc sống vất vả từ thuở
thiếu niên. Cậu học trò Văn Cao thường cùng hai bạn Trần Liễn và Đoàn Tòng, đầu
trọc lốc, cởi trần, quần đùi, học trường Bon-nan rong ruổi khắp các phố, từ
Thượng Lý qua Cầu Đất, xuống Lạch Tray. Khi vào trường Xanh Giô-Dép Văn Cao đã
sớm phải bỏ học vì cảnh nhà ngày càng sa sút. Rồi theo anh Tú tập võ, ném dao,
phi đinh thuyền như một hiệp sĩ. Người cha đã xin cho con làm điện thoại viên ở
Sở dây thép Hải Phòng gần nhà. Nhưng không bao lâu chàng tuổi trẻ đã bỏ việc,
ôm đàn Vi-ô-lông theo nhập nhóm Du ca Hải Phòng. Sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao
bắt đầu từ bài “Buồn tàn thu” (1939). Khi nhóm Du ca lên Hà Nội, Văn Cao lại
viết truyện ngắn, kịch ngắn và làm thơ. Dù được in trên Tiểu thuyết thứ bảy
nhưng văn thơ của Văn Cao rất ít người nhắc tới. Ông lại về Hải Phòng. Năm 1941
cụ Nguyễn Văn Tề qua đời, gia đình về quê An Lễ sinh sống, Văn Cao thì nay đây
mai đó, liên tiếp sáng tác ca khúc: “Thiên Thai”, “Bến xuân”, “Cung đàn xưa”,
“Suối mơ”, đã làm lay chuyển, say đắm bao người.
Được
bạn bè giúp đỡ, Văn Cao lao vào hội hoạ và đã theo lớp dự thính ở Mỹ thuật Đông
Dương được hai năm. Trong triển lãm "Duy nhất", Văn Cao có ba bức
tranh treo ở nhà Khai trí Tiến Đức. Trong đó bức "Cuộc khiêu vũ của những
người tự tử" được báo chí rất ca ngợi, nhưng tranh lại không bán được,
nghèo vẫn hoàn nghèo, tủi cực vẫn hoàn tủi cực. Ông lại được mời viết ca khúc
cho nhóm Đồng vọng của Hoàng Quý như bài "Gò Đống Đa", “Thăng Long
hành khúc ca"...
Năm 1944, năm biến chuyển trong cuộc
đời Văn Cao. Sau khi được đồng chí Vũ Quý (quyền Bí thư tỉnh uỷ Hà Nội lúc ấy)(2)
giác ngộ, Văn Cao tham gia hoạt động cách mạng bí mật. Với lòng hồ hởi nhiệt
thành, ông viết bài in sách báo và truyền đơn của Đảng. Văn Cao còn được giao
nhiệm vụ viết “Tiến quân ca” đồng thời phụ trách đội danh dự trừ gian. Việc làm
của đội danh dự trừ gian này đã gây ảnh hưởng lớn cho cách mạng ở Hải Phòng và
Hà Nội. Về nạn đói 1945, ông có thi phẩm “Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc”.
Sau cách mạng Tháng Tám vì không ai mời
nên Văn Cao không có trong "Văn hoá cứu quốc". Đồng chí Vũ Quý đã đưa
ông đến với báo Lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Sau đó đồng chí
Hà Đăng Ấn đã bố trí Văn Cao đi áp tải chuyến tàu hoả chở vũ khí và tiền Việt
Nam vào cho chiến trường Nam bộ. Tàu đến Quảng Trị được chuyển giao. Bà Nguyễn
Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam) đã tổ
chức đưa tiếp vào Nam bộ. Về đến Hà Nội, cái nghiệp lại kéo Văn Cao về với âm
nhạc. Thông qua Tố Hữu, Văn Cao được gặp Bác Hồ. Khí thế cách mạng đã giúp ông
vượt qua được những khó khăn nhất thời. Ông lại có bộ tứ bình viết về lực lượng
vũ trang non trẻ của cách mạng, đó là: “Chiến sĩ Việt Nam”, “Hải quân Việt
Nam”, “Không quân Việt Nam” và “Bắc Sơn” - Bài ca của dân quân du kích. Kháng
chiến toàn quốc bùng nổ, ông đưa gia đình đi tản cư, nhưng những bản hành khúc
cách mạng thì nhanh chóng loang xa, loang sâu vào từng đơn vị bộ đội, từng người
lính. Nó như hồi kèn thúc giục họ lên đường chiến đấu.
Văn
Cao lại có dịp về quê hương thăm mẹ già. Tại đình làng An Lễ, ông đã diễn
thuyết: "Trường kỳ kháng chiến chia làm ba giai đoạn"(3).
Ông đã dạy cho thanh niên trong làng học chữ, học võ, học bắn súng và hát những
bài ca cách mạng. Ông còn kể cho họ nghe về hoạt động du kích và những cuộc
tiễu trừ Việt gian phản động...
Đầu năm 1947 Văn Cao đưa gia đình về
Ba Thá (Chương Mỹ, Hà Đông). Sau ngày cưới vợ, theo yêu cầu của đồng chí Lê
Giản, Văn Cao đã móc nối với đồng chí Minh già - Công an khu X để lên Lào Cai
tổ chức phòng mật, lập ra một màng lưới để ngăn chặn gián điệp Tàu Tưởng xâm
nhập vào nước ta. Theo yêu cầu của tổ chức, Văn Cao đã làm lễ kết nghĩa anh em
với vua Mèo Voòng A Tưởng ở Bắc Hà. Đồng chí Trần Huy Liệu nhân danh Trung ương
có mặt để chứng kiến.(4)
Sau chiến thắng Sông Lô thu đông 1947,
Văn Cao đã đến bên bờ sông lau sậy còn chưa tan khói súng sáng tác "Trường
ca Sông Lô" hoành tráng, bất hủ ở chiến khu Việt Bắc.
Sau
khi được kết nạp vào Đảng (tháng 3 - 1948) Văn Cao trở về khu III công tác
phong trào văn nghệ, làm báo Thủ đô của Uỷ ban hành chính Hà Nội. Cũng trong
thời gian này ông viết "Làng tôi", "Ngày mùa" và đặc biệt
là hành khúc trữ tình "Tiến về Hà Nội" - một dự báo trong âm nhạc về
ngày giải phóng Thủ đô. Cuối năm 1949 Văn Cao thôi làm báo Văn nghệ, chuyển
sang phụ trách đoàn Nhạc sĩ Việt Nam - Trưởng ban âm nhạc Vụ Văn học nghệ thuật
thuộc bộ Giáo dục. Năm 1951 ông trở về Hội Văn nghệ công tác trong Ban Chấp
hành hội. Ông vẫn tiếp tục sáng tác: "Tiểu đoàn Lũng Vài", "Ca
ngợi Hồ Chủ tịch" và "Toàn quốc thi đua". Ông vinh dự được nhận
phần thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất vì có công soạn “Tiến quân ca”.
Hoà bình lập lại (1955 - 1958) ông là cán
bộ thuộc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật, hội viên các hội: Nhạc sĩ, Mỹ thuật
và Nhà văn - Tổng thơ ký Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Văn Cao còn
trở lại với thơ, ông đã cho ra đời trường ca nổi tiếng "Những người trên
cửa biển".
Năm 1959 ông chuyển về hội Nhạc sĩ làm
công tác nghiên cứu âm nhạc. Văn Cao âm thầm lặng lẽ làm thơ, lặng lẽ tự học để
viết các tác phẩm khí nhạc cho Pianô như: “Sông tuyến”, “Biển đêm”, “Hàng dừa
xa” và soạn nhiều nhạc phim như: nhạc phim Lửa rừng, Đi bước nữa... Với mùa
xuân thống nhất đất nước, Văn Cao có "Mùa xuân đầu tiên", bài này đã
được dịch ra tiếng Nga và ấn hành tại Mátxcơva. Ông lại tiếp tục làm thơ, vẽ
minh họa và làm bìa sách.
Năm 1968 thân mẫu ông, cụ Phạm Thị
Nhìn (1891 - 1968) qua đời, gia đình Văn Cao đã đưa về quê an táng bên cạnh mộ
người cha. Từ đó vào các ngày giỗ, tết, thanh minh ông thường cùng gia đình con
cháu về thăm quê hương đều đặn hơn trước để thắp nén hương cho tổ tiên, cha mẹ
và người em xấu số. Ông cũng có mặt trong buổi lễ long trọng khi xã nhà (xã
Liên Minh) được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.
Năm 1983, sau khi tái cử trở lại là uỷ
viên chấp hành hội Nhạc sĩ khoá III, Văn Cao tròn 60 tuổi, và năm đó 60 đêm
nhạc Văn Cao được mở ra từ mùa xuân đến mùa thu. Ông vinh dự được nhà nước tặng
thưởng Huân chương Độc lập hạng III. Cũng từ đó vị trí của Văn Cao được xác lập
như chính những cống hiến của ông cho tổ quốc và dân tộc. Ông được mời sang Đức
với danh nghĩa là tác giả Quốc ca Việt Nam. Nhạc sĩ đã đến Kentô tỉnh Pốxđam
nghỉ tại nhà riêng của nhạc sĩ Henâyxlơ, tác giả Quốc ca Đức. Năm 1993 Văn Cao
được vinh dự nhận Huân chương Độc lập hạng nhất - phần thưởng cao quí ở tuổi
70, phần thưởng của một đảng viên 45 tuổi đảng. Năm 1996 Văn Cao đã được Nhà
nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về cụm ca khúc: "Tiến quân
ca", "Chiến sĩ Việt Nam", "Làng tôi", "Sông
Lô", "Tiến về Hà Nội", "Ca ngợi Hồ Chủ tịch". Văn Cao
đã về cõi vĩnh hằng, nhưng nhạc Văn Cao vẫn âm vang cùng núi sông đất nước. Văn
Cao ra đi, nhưng tên tuổi và sự nghiệp, những giai điệu, những vần thơ, những
bức tranh của ông sẽ mãi mãi thấm vào tâm can của người Việt Nam.
Văn Cao thật xứng đáng là bậc tài
danh thế kỷ.
------------------------------
Chú
thích:
(1)
Văn Cao – Tại sao tôi viết Tiến quân ca.
(2)
Phí Văn Bài: Văn Cao với những nốt nhạc đầu.
(3)
Trần Hồng – Tình quê hương của người viết Quốc
ca // Văn hóa Nam Định. – Số 1. – Tr. 55.
(4)
Nguyễn Thụ Ca – Văn Cao cuối cùng và còn lại.
– Tp HCM. : Nxb. Trẻ, 1998. – Tr. 271.
Nguồn trích: “VĂN CAO BẬC TÀI DANH THẾ KỶ”: Thư mục
nhân vật / Trần Mỹ Giống biên soạn. -
Nam Định: Thư viện tỉnh, 1998.
NHỚ KỲ NHÂN LÊ XUÂN QUANG
Một số bài viết trên báo và tạp chí
của tác giả Lê Xuân Quang để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi hình dung tác
giả là một người đạo mạo, kiểu như một giáo sư tiến sĩ với kính trắng trên mắt,
ca-táp da trong tay, giày “I lích” dưới chân và đóng bộ “com-lê ca-ra-vát”...
Nhưng khi được gặp tác giả trong một lần đi công tác ở xã Khánh Phú (Tam Điệp -
Ninh Bình) hồi năm 1984, tôi ngẩn ra vì Lê Xuân Quang không hề giống với những
gì tôi vẫn mường tượng về ông. Trước mặt tôi là ông già sáu chục tuổi, thân thể
gầy gò trong bộ đồ xuềnh xoàng, cưỡi trên cái xe đạp cà tàng, trông như một lão
nông nghèo khó. Tôi băn khoăn tự hỏi: “Tác giả của Bảy làng Cà, ba làng Hóp và
Làng rèn Vân Chàng trên ba miền đất nước là lão nông này ư?” Duy có đôi mắt của
ông cứ sáng lạ làm tôi phải chú ý. Sau mấy buổi cùng ở nhà khách xã và trò
chuyện với ông, tôi bị ông cuốn hút vào thế giới lịch sử, văn hoá dân gian Việt
Nam bằng vốn hiểu biết Hán - Nôm và niềm say mê nghiên cứu của ông. Từ ngày ấy,
tôi trở thành người bạn nhỏ của ông. Quan hệ của ông với tôi càng gắn bó hơn từ
khi tôi được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định, cùng Bộ môn
Nghiên cứu – Phê bình với ông.
Kể từ ngày tôi gặp ông lần đầu,
tháng một hai lần, ông đến Thư viện tỉnh Nam Định, nơi tôi công tác, khi thì
trao đổi về một vấn đề mới phát hiện, khi tra cứu tài liệu, khi nộp cho Thư
viện công trình nghiên cứu mà ông vừa hoàn thành hoặc tặng sách vừa được xuất
bản. Lần nào đến thư viện, ông cũng đề nghị tôi đóng cho ông cái dấu cơ quan
vào cuốn sổ nhật trình công tác của mình, chỉ để ghi lại những nơi ông đã đến
như là một thú chơi, chứ chẳng có ai trả công tác phí cho ông.
Quen biết ông đã hai mươi năm, nhưng mãi năm
2004 tôi mới có dịp về thăm ông tại nhà ở làng Đồng Côi, xã Nam Giang, huyện
Nam Trực, tỉnh Nam Định. Nơi ông ở là cái gác xép 5 mét vuông, chật như nêm bởi
sách báo, tài liệu, bản thảo, trên tường la liệt những giấy chứng nhận giải
thưởng và giấy khen. Một lần nữa tôi lại băn khoăn tự hỏi: “Những công trình
nghiên cứu có giá trị của nhà nghiên cứu mà tôi ngưỡng mộ được ra đời tại cái
nơi ở khốn khổ thế này ư?”
Có một vị tiến sĩ khi nói về Lê Xuân
Quang đã khinh thường: “Chuông khánh còn chả ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài
bờ ao”. Thế nhưng cái “mảnh chĩnh” ấy đã được nhận cả chục giải thưởng của Hội
Văn nghệ Dân gian Việt Nam và nhiều giải thưởng của một số hội, tổ chức xã hội
khác.
Lê
Xuân Quang sinh năm 1924 trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cụ thân
sinh là thày đồ làng, cụ tổ bốn đời là Cử nhân Tri phủ Lê Xuân Thành, một trong
“Nam Chân tứ hổ” nổi tiếng hay chữ ở huyện Nam Chân. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Lê
Xuân Quang chỉ được học chữ Hán hết Luận ngữ, chữ quốc ngữ tới sơ học, rồi phải
vào đời mưu sinh. Để kiếm sống, ông làm mọi việc, từ làm giáo viên bổ túc văn
hoá, làm ruộng, đến bán lẻ sản phẩm cơ khí. Năm 1947, ông tản cư vào Kim Sơn
(Ninh Bình), tham gia Công đoàn rèn, sản xuất vũ khí cho bộ đội và du kích địa
phương. Nhưng ông say mê nhất “nghề” sưu tầm, nghiên cứu lịch sử - văn hoá dân
gian, cái nghề không đủ sống, càng không thể làm giàu. Ông cần mẫn lặn lội khắp
nơi, lúc đầu ở trong huyện, trong tỉnh, sau đi các tỉnh bạn trên toàn quốc để
tìm... hồn dân tộc. Không được học trong nhà trường đến nơi đến chốn như nhiều
người khác, ông học trong trường đời. Dần dà, hiểu biết của ông cứ nhiều thêm
theo năm tháng. Thời gian chuyển cư vào Hà Trung (Thanh Hoá) ông hoàn thành
công trình “Từ căn cứ Nham Tràng đến chiến khu Ba Đình lịch sử”. Nhờ công việc
giao dịch, mua bán ông đã đặt chân đến nhiều địa phương và miền biên giới phía
Tây. Khi qua Lào ông không bỏ lỡ việc khảo sát di tích Cánh đồng chum. Năm 1954
ông hồi cư, tham gia cộng tác viên Ty Văn hoá Nam Định rồi Sở Văn hoá Hà Nam
Ninh, Nam Hà, được điều động tổng kiểm kê văn hoá nhiều huyện. Ông là cộng tác
viên của Viện Khảo cổ, Trung tâm hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu Quốc Tử
Giám, Trung tâm UNIMA Việt Nam, Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Lịch sử Văn
hoá Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam.
Năm 1966, Lê Xuân Quang được kết nạp vào Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam, rồi hội viên các hội: Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Văn
học Nghệ thuật Hà Nam Ninh (nay là Nam Định). Bằng con mắt tinh đời, sớm nhận
ra năng lực và lòng nhiệt tình của Lê Xuân Quang, năm 1981 quyền Chủ tịch Ban
chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Giáo sư Phạm Huy Thông đã cấp giấy
giới thiệu cho ông hoạt động nghiên cứu lịch sử trong cả nước, như là một phái
viên đặc biệt của hội. Từ đó, Lê Xuân Quang như được tiếp thêm sức mạnh để đi
điền dã nghiên cứu và cống hiến cho đời nhiều công trình có giá trị, với bút
danh Sơn Hà Khách, Bá Ngọc, Hà Tuyết, Minh Chính... Một số công trình của ông
đã xuất bản, được nhận giải thưởng như: Thần tích Việt Nam đoạt Giải C Uỷ ban
toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1996, Giải C giải
thưởng Nguyễn Khuyến của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Hà lần thứ 3 (1991 - 1995),
Vũ Thư văn hoá và sự tích đoạt Giải C Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn
học Nghệ thuật Việt Nam năm 2001, Truyện đức Dương Không Lộ - Minh Không đoạt
Giải C Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh của UBND tỉnh Nam Định (1996 - 2000),
Tuyển câu đối thờ Nam Định (đồng tác giả với Dương Văn Vượng) đoạt Giải C Uỷ
ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1998...
Ngoài các công trình đã được xuất
bản, nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang còn hàng chục tác phẩm với gần 4.000 trang
chưa xuất bản nhưng đã được nhận giải khuyến khích hoặc khen thưởng của Hội Văn
nghệ Dân gian Việt Nam và một số tổ chức xã hội khác như: Làng nghề truyền
thống Nam Hà (1994), Sao sáng trời Nam (1995), Truyện cổ Nam Hà (1996), Hội
làng và tục cổ Nam Định (1997), Văn hoá hai bên sông Đào (1998), Trò Ổi Lỗi
(1999), Ninh Bình văn hoá và sự tích (1999), Hương ước Nam Định (2000), Ca khúc
- Trù văn và Mục lục trong hội làng Việt Nam (2001), Tướng lĩnh và di văn, di
vật đời Tây Sơn trên đất Nam Chân xưa, Danh nhân họ Vũ ở Nam Định (tập 1), Câu
đối thờ Việt Nam, Phát hiện nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử qua gia phả,
Dọn vườn văn sử địa…
Từ năm 1992 đến 2005, năm nào ông Lê Xuân Quang cũng
có công trình nghiên cứu công bố rộng rãi hoặc nộp cho các cơ quan Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam, Hội Sử học Việt Nam, Thư viện và Bảo tàng tỉnh Nam Định. Báo
Nam Hà số ra ngày 19 tháng 6 năm 1992 thống kê trong 6 tháng đầu năm 1992 ông
Lê Xuân Quang đã nộp cho Hội Sử học 20 tài liệu (154 trang), Hội Văn nghệ Dân
gian 60 tài liệu (364 trang), Viện Sử học 36 tài liệu (191 trang), Viện nghiên
cứu Hán - Nôm 8 tài liệu (50 trang), Trung tâm nghiên cứu lịch sử 23 tài liệu
(169 trang).
Theo số liệu chưa đầy đủ mà Thư viện tỉnh Nam Định sưu
tầm được, tác giả Lê Xuân Quang có trên 200 bài nghiên cứu được đăng trong các
báo và tạp chí trung ương và địa phương.
Một số bài viết của ông mà có người gọi là “những quả
bom Lê Xuân Quang” đã gây được ấn tượng mạnh trong bạn đọc. Chính ông đã phát
hiện, làm sáng tỏ nửa cuối cuộc đời Trạng nguyên Trần Văn Bảo mà lâu nay lịch
sử còn bỏ trống. Ông đưa ra quan điểm mới lạ trong nhận thức về “Tứ bất tử” một
cách rất thuyết phục, làm chao đảo nhận thức từ trước tới nay của nhiều người
về vấn đề này. Theo ông, tứ bất tử là bốn loại người: Thần, Tiên, Phật, Thánh
chứ không phải là bốn người cụ thể. Ông kịch liệt phê phán một số sách viết về
Bà chúa Kho trái với lịch sử của những người viết vì mục đích kinh tế. Khi
tranh luận với một vị giáo sư tiến sĩ xung quanh vụ án Lệ Chi Viên, ông dùng lý
luận kết hợp với thực tế lịch sử để bẻ gẫy quan điểm của đối phương. Ông lấy
chân lý làm mục đích trong tranh luận, không nể nang ai. Có lúc quá lời, ông
gọi người này là kẻ phá hoại, người kia là tên xuyên tạc lịch sử. Cái tính
thẳng thắn, lòng say mê nghiên cứu và vốn kiến thức của ông được nhiều người
yêu quý và cảm phục. Ông được lãnh đạo nhiều cơ quan, địa phương nhiệt tình đón
tiếp. Chủ tịch huyện Vũ Thư (Thái Bình) Đinh Văn Thứ có lần chỉ thị cho bộ phận
hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện: “Đối với bác Lê Xuân Quang, bất kỳ bác
đến lúc nào cũng phải đón tiếp như thượng khách”.
Nhưng một số người có bài viết bị ông phản bác lại
không ưa ông. Ông là cộng tác viên tích cực của một tạp chí ngành, nhưng mấy
năm liền không thấy bài viết nào của ông trên tạp chí đó. Tôi hỏi thì ông bảo
ông vẫn gửi bài nhưng không biết vì lí do gì mà tạp chí không đăng. Tình cờ,
trong bữa liên hoan ở cơ sở, khi đã ngà ngà hơi men, tôi hỏi vị biên tập viên
của tạp chí nọ thì anh này thật thà trả lời: “Bài của Lê Xuân Quang thường dính
đến chữ Hán, em không biết chữ Hán nên không thẩm định được, tốt nhất là không
đăng. Với lại Tổng biên tập của em không mặn mà với bác Quang...”! Tôi biết rõ
ông Tổng biên tập này có một số bài viết bị Lê Xuân Quang phản biện gay gắt mà
không “cãi” lại được. Thật may là những bài của Lê Xuân Quang bị loại bỏ ở tạp
chí nọ lại được đăng báo và tạp chí trung ương.
Cách đây 5 năm, chúng tôi có đắp đôi câu đối chữ Hán ở
hai cột cổng cơ quan:
Sơn Nam địa thiên niên văn hiến
Thư viện tự vạn đại lưu truyền.
Tôi khoe với ông Lê Xuân Quang. Xem câu đối xong, ông
liền “dội” cho tôi “một gáo nước lạnh”:
- Hỏng! Hỏng! Đục đi ngay, không thì xấu hổ quá!
Tôi cụt hứng, hỏi vì sao thì ông giảng giải say sưa về
những yêu cầu của câu đối và chỉ ra những cái dở trong câu đối của chúng tôi:
- Không thể chấp nhận việc đối chữ không chỉnh và hình
thức viết câu đối ngược thế này. Phải viết vế đầu bên phải thì các ông lại viết
ở bên trái. Phải viết chữ “hiến” bằng chữ nguyên thể với ý nghĩa dâng đồ cúng,
nghĩa rộng là cống hiến, chứ không nên dùng chữ “hiến” giản thể là chữ ghép chữ
“nam” với chữ “cẩu” do phong kiến Trung Quốc dùng miệt thị dân phương Nam ta.
Chữ “lưu” với ý nghĩa kiến thức, sách vở còn lại mãi lâu đời như trong chữ “lưu
tồn” hay “truyền lưu”, các ông lại dùng chữ “lưu” trong “lưu thuỷ” thì kiến
thức nó chảy đi mất hết cả còn lưu được đâu. Lại còn chữ “đại” là không chuẩn,
nên dùng chữ “thế” (30 năm một thế, hoặc đời cha sang đời con là một thế) để
làm rõ sự truyền lưu sách vở từ đời này qua đời khác.
Nghe ông phê phán như thế, tôi nóng cả mặt. Sau bình
tĩnh lại, tra cứu từ điển Hán - Việt và tham khảo một số sách tiếng Hán thì
thấy phần nhiều ông “nói có sách” cả. Tôi vốn rất ham học nên không những không
giận, mà còn yêu quý ông hơn. Không chỉ tôi yêu quý ông, mà đông đảo bạn đọc và
đồng nghiệp cũng yêu quý và cảm phục ông, bằng chứng là có khá nhiều bài ca
ngợi ông trên báo và tạp chí như: Xưa và Nay số 12 - 1995, Đại đoàn kết 13 - 3
– 1999, Lao động số 28 – 2005, An ninh thế giới, ngày 4 – 5 – 2005, Hà Nam số
Xuân 2005, Bưu điện Việt Nam số 12 – 2005, Khoa học và đời sống số 14 – 2006,
Nông nghiệp Việt Nam số 20 – 2005, Lao động xã hội số 45 - 2005, Công an nhân
dân số 201 – 2005, Nông thôn ngày nay 2005, Bảo hiểm xã hội số 37 – 2005 ...
Năm 1999, Đài VTV3 Truyền hình Việt Nam dành cả một chương trình “Cây cao bóng
cả” nói về ông với tiêu đề “Người khơi nguồn văn học dân gian”.
Khi ngoài 80 tuổi, sức khoẻ giảm sút, nhưng ông vẫn
không thể bỏ thói quen đạp xe đi sưu tầm nghiên cứu. Bình quân 4 năm (2001 –
2004), mỗi ngày ông đi tới 30 km. Báo Nhân dân số ra ngày 1 – 10 - 1960 có in
bài thơ của Bác Hồ (ký tên là T.L.):
Càng già, càng dẻo lại càng dai
Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai
Đôn
đốc con em làm nhiệm vụ
Vuốt râu mừng xã hội tương lai.
Ông Lê Xuân Quang có bài hoạ được đăng trong Tạp chí
Đông Nam Á, Văn hoá Hà Nam, Khoa học Công nghệ và Môi trường Nam Định như sau:
Càng già gân sức lại càng dai
Xông xáo việc đời có kém ai
Ra sức phát huy tuỳ nghiệp vụ
Góp phần xây xã hội tương lai.
Thường người ta về già thì “Lão giả an chi” (Người già
nhàn hạ nghỉ ngơi), nhưng nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang đúng là “Lão đương ích
tráng” (Càng già càng dẻo càng dai).
Thầm trong lòng, tôi cầu nguyện cho ông sống trăm
tuổi, để ông cống hiến nhiều hơn cho xã hội, để ông cùng cái xe đạp tàng tiếp
tục cuộc hành trình đi và viết, để ông ghi tiếp vào nhật trình công tác của
mình những kilômét mới mà hiện tổng cộng số kilômet ông đi đã bằng quãng đường
hai vòng trái đất...
***
Đầu thu 2006 đang khi tôi đi công tác dài ngày, bốn
năm lần ông thuê xe ôm lên tìm tôi. Hẳn ông có chuyện quan trọng đây. Nghĩ thế,
tôi vội xuống thăm ông, nhưng ông lại vừa được nhà thơ Phạm Trọng Thanh đưa ra
Nam Định cắt thuốc nam chữa bệnh. Hôm sau ông lại thuê xe ôm ra Nam Định, đề
nghị tôi thu xếp cho ông được giao toàn bộ bản thảo các tác phẩm của ông cho
Thư viện tỉnh lưu giữ.
Khi ông bệnh trọng, tôi vào thăm. Ông chỉ còn da bọc
xương, cổ chân phù lớn, mắt vàng như nghệ, nói không rõ tiếng. Con dâu ông chỉ
vào tôi hỏi ông: “Ông có biết ai đây không?” Ông gật gật đầu, phát âm phều
phào: “Gi…ống, Gi…ống” (Giống, Giống). Ông chỉ lên giá sách nói đi nói lại điều
gì đó mà tôi không sao hiểu được. Cô con dâu “phiên dịch”: “Ông cháu bảo ông
Giống lấy hết sách vở đi, hoặc thiếu cái gì, cần cái gì thì lấy đi”. Tôi không
nhắc gì đến việc ông muốn giao toàn bộ bản thảo và tác phẩm của mình cho thư
viện lưu giữ, vì được biết anh con cả của ông có nguyện vọng gìn giữ tài sản
của cha.
Nhờ con dâu đỡ dậy, ông gắng sức kí vào cuốn Thần tích
Việt Nam tập 3 vừa in xong để tặng tôi. Tôi giơ hai tay trân trọng đỡ cuốn sách
có chữ kí kỉ niệm cuối cùng của ông. Hai tuần sau, ngày 23 – 11 – 2006, ông qua
đời trong niềm tiếc thương sâu sắc của nhiều đồng nghiệp và bạn đọc. Tôi hụt
hẫng vì mất một người bạn lớn, một đồng nghiệp yêu kính.
Mới đấy mà đã 5 năm nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang về
cõi vĩnh hằng. Đọc lại các tác phẩm của ông, tôi bồi hồi thương nhớ người bạn
văn có cốt cách tùng bách mà nhiều nhà báo gọi là “Vị giáo sư nông dân”, “Người
kỳ lạ”. Sau khi ông qua đời hơn một năm mà tờ Kinh tế & đô thị số ra ngày
21 tháng 12 năm 2007 vẫn còn đăng bài “Trò chuyện với đại giáo sư Lê Xuân
Quang” dạng phỏng vấn. Thế mới biết cốt cách của ông có ảnh hưởng đến bạn viết
sâu sắc biết nhường nào. Lại nhớ lần tôi có bài thơ in trên tạp chí viết về ông
có câu “Đi vạn dặm, viết nghìn trang”, ông “phê bình” tôi là viết chưa chính
xác, ông đã viết trên một vạn trang chứ không phải chỉ nghìn trang và đề nghị
tôi sửa lại. Tôi nghĩ là ông tư duy khoa học, còn đây là... thơ nên lần khân
không chỉnh sửa. Khi ông quy tiên rồi, tôi cứ tự trách mình cố chấp. Giá như
tôi sửa ngay câu thơ để ông vui. Nhưng đã lỡ rồi. Tôi thầm gọi: Bác Quang ơi,
bây giờ em sửa lại câu thơ ấy đây, coi như đó là một nén tâm nhang thành kính
tưởng nhớ bác:
Đất
trời linh khí giao hoà
Trăm năm sinh một ông là kỳ nhân
Đi
muôn dặm, viết vạn trang
Một đời gạn đục khơi trong cho đời.
Thành Nam, 11 - 2011
Nguồn:
Văn nghệ trẻ. – 2005. - Số 35+36 ngày 28 – 8.
KỶ NIỆM NHỎ VỀ
NHÀ
NGHIÊN CỨU NGUYỄN VĂN HUYỀN
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền
(6/1/1930 – 2003) bút danh Võ Hoàng, Mai Thanh, Lê Vũ Hoàng. Quê xã Yên Tân,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông là Đảng
viên Đảng CSVN, nhiều năm dạy học, thành viên Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, nguyên
Ủy viên thường vụ (khóa 1), Ủy viên thư ký (khóa 2), Trưởng Bộ môn Nghiên cứu
Phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh, tỉnh Nam Hà.
KHEN THƯỞNG:
- Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp
VHNT Việt Nam1995. - Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến lần I (1985), lần II
(1990), lần III (1995).
TÁC PHẨM CHÍNH
- Phạm Thận Duật cuộc đời và tác phẩm (H. :
Khoa học xã hội, 1991). - Thơ văn Bùi Kỷ
(H. : Khoa học xã hội, 1994). - Nguyễn
Khuyến tác phẩm (1984). - Thơ văn Phạm
Văn Nghị (H.: Khoa học xã hội, 1979). -
Tú Xương tác phẩm và giai thoại (Chủ biên). (Hà Nam Ninh: Hội Văn học Nghệ
thuật, 1986). - Văn học yêu nước và cách
mạng (Hà Nam Ninh: Hội Văn học Nghệ thuật, 1986). - Thơ văn yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh
(Chủ biên) (1982). - Truyện Trạng Lợn
(1987). - Liêu trai chí dị (Dịch, in
chung 1989)…
Vẫn biết rằng một ngày không xa, nhà
nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền sẽ qua đời vì tuổi cao, bệnh trọng đã lâu, nhưng
tôi không khỏi bàng hoàng khi nghe tin bác mất. Vài kỷ niệm về bác sống dậy
trong tôi.
Khi thấy báo Nam Hà số Xuân Ất Hợi 1995
được trưng bầy trong Nhà triển lãm tỉnh có đăng bài “Những vị đại khoa của đất
Nam Hà” (không đề tên thật tác giả mà chỉ ghi là PV), tôi háo hức đọc vì nội
dung bài báo trùng hợp với đề tài nghiên cứu “Các nhà khoa bảng Nam Hà” mà tôi
đang thực hiện. Nhưng đọc hết bài báo, tôi cảm thấy rất thất vọng vì những nhầm
lẫn không thể chấp nhận trong bài báo về tên tuổi, quê quán, học vị của các vị
khoa bảng Nam Hà. Gọi điện sang tòa báo Nam Hà, tôi được anh Khang (Phó tổng
biên tập) cho biết tác giả của bài báo là nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền. Tôi
lấy làm ngạc nhiên và không tin là một nhà nghiên cứu nổi tiếng như bác Nguyễn
Văn Huyền lại “lẩm cẩm” đến nỗi đưa ra công bố trên báo chí một bài viết thiếu
chính xác đến vậy.
Chuyện bài báo tưởng cũng qua đi như
nhiều trường hợp khác. Nhưng thật bất ngờ, chính bác Huyền chủ động tìm gặp tôi
thanh minh rằng bài viết của bác bị biên tập viên báo sửa chữa làm sai lệch
nhiều so với bản thảo. Nhân tiện bác tặng tôi hai bản sao bản thảo bài viết của
bác để làm tài liệu tham khảo và cũng để chứng tỏ là bác nói đúng sự thật.
Tôi cứ băn khoăn tự hỏi: tại sao một
nhà nghiên cứu có tên tuổi như bác lại phải cẩn thận thanh minh với một người
bình thường như tôi về một việc nhỏ như vậy. Được tiếp xúc với bác, sau này tôi
mới hiểu: Việc làm của bác chỉ có thể có ở một người rất khiêm tốn, có trách
nhiệm cao với bạn đọc. Trong thực tiễn có không ít những bài viết sai sót nhưng
không mấy ai lo chuyện đính chính. Tôi càng quý phục bác Nguyễn Văn Huyền vì
bác là người cầm bút có trách nhiệm.
Cả Thư viện tỉnh, ai cũng biết bác là
một độc giả trung thành, tích cực. Khi khỏe bác đi xe đạp, lúc yếu bác nhờ con
cháu đưa đi hoặc đi xích lô tới phòng đọc. Nhiều lần trèo lên bậc tam cấp, bác
run rẩy như sắp ngã, phải nhờ người đỡ lên xuống. Thấy bác ham đọc như thế,
chúng tôi rất cảm động.
Từ sau sự kiện được bác Huyền gặp gỡ
trao đổi về bài báo của bác, tôi có nhiều dịp được nghe bác chuyện trò. Thấy
tôi ham nghiên cứu về danh nhân quê hương, bác khuyến khích động viên và cung
cấp cho tôi những tư liệu bác đã nghiên cứu trước, giúp tôi tiết kiệm nhiều
thời gian và công sức. Có lần bác bảo tôi:
- Ông làm công tác địa chí nên cần phải
học Hán – Nôm.
Bác thường gọi tôi bằng đại từ “ông”
như thế. Tôi thật tình thưa với bác:
- Cháu tuổi đã ngoài bốn mươi, học
không vào nữa, mà có học thì biết tìm thầy ở đâu…
Bác Huyền bảo:
- Tự học thôi ông ạ. Trước tôi có biết
Hán – Nôm đâu. Có việc là phải nhờ ông Dương Văn Vượng, chuyên gia Hán – Nôm
của Bảo tàng tỉnh dịch hộ. Tôi cứ kiên trì tự học. Thế rồi “kiến tha lâu cũng
đầy tổ” thôi. Bây giờ tôi cũng tự dịch được rồi.
Có lần bác khuyên chúng tôi:
- Các ông có trong tay kho tư liệu lớn
thế này mà không khai thác thì tiếc quá. Nếu chưa có điều kiện nghiên cứu sâu
thì các ông làm công trình về diện vậy, chẳng hạn như nghiên cứu về đội ngũ tác
giả Hán – Nôm của tỉnh ta…
Theo gợi ý của bác Huyền, tôi quyết tâm
chọn nghiên cứu một số đề tài trong đó có đề tài “Tác giả Hán - Nôm Nam Định
thế kỷ XI – thế kỷ XX”, tập hợp được trên hai trăm tác giả. Năm 2000 đề tài này
được anh Hoàng Dương Chương, giám đốc Thư viện tỉnh Nam Định lấy làm cốt cho đề
tài cấp tỉnh “Nghiên cứu hệ thống đặc điểm đội ngũ tác giả Hán – Nôm Nam Định
từ thế kỷ X đến thế kỷ XX”. Năm 2002 đề tài được Hội đồng nghiệm thu của tỉnh
đánh giá đạt loại xuất sắc.
Bẵng đi một thời gian không thấy bác
Huyền đến thư viện. Nghe tin hồi này bác hay ốm đau. Rồi một hôm bỗng thấy bác
đi xích lô chở theo 20 cặp tài liệu bản thảo đến thư viện. Lúc này bác đi lại
đã rất khó khăn. Chúng tôi dìu bác lên tầng hai phải mấy lần dừng để bác nghỉ.
Bác vừa thở hổn hển vừa trình bầy nguyện vọng:
-
Tâm nguyện của tôi là cống hiến cho đời những thành quả lao động của mình. Tôi
tuổi đã cao, sức yếu rồi, chẳng biết sống chết ngày nào. Tôi xin nhờ Thư viện
tỉnh bảo quản và phục vụ những ai cần tham khảo những bản thảo viết tay của
tôi, trong này có cả những công trình chưa có điều kiện in ấn hoặc còn chưa
hoàn thiện…
Chúng tôi xúc động đến lặng người khi
tiếp nhận những bản thảo mà bác đã cả đời lao tâm khổ tứ nghiên cứu.
Không lâu sau, nghe tin bác ốm liệt
giường, chúng tôi đến thăm thì bác không còn nhận ra ai nữa.
Bác Nguyễn Văn Huyền đã ra đi, nhưng
hình ảnh một bạn đọc tiêu biểu của thư viện, một nhân cách tốt đẹp của người
cầm bút vẫn còn sống trong tâm khảm chúng tôi. Chúng tôi tự đặt cho mình một
trách nhiệm: Phải sưu tầm tập hợp các tác phẩm, hệ thống lại các bản thảo chép
tay của bác, nhằm lưu giữ lâu dài di sản văn hóa quý của một nhà nghiên cứu tâm
huyết của tỉnh ta. Các tác phẩm, các bản thảo thể hiện đầy đủ, chính xác quá
trình tư duy của bác còn lại mãi mãi với bạn đọc. Và như thế, nhà nghiên cứ
Nguyễn Văn Huyền vẫn còn mãi bên chúng ta.
………………..
*
Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nam Định. - 2003. - Số 4. - Tr. 37 - 38.
HỌA SĨ HỒ
Y
(1932 – 2017)
Họa sĩ Hồ Y tên thật là Vũ Như Hồ Y,
sinh năm 1932, mất 3-5-2017. Họa sĩ quê ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh
Nam Định; Trú tại 29 Nguyễn Trãi, thành phố Nam Định. Ông là Hội viên Hội VHNT
tỉnh Nam Định từ 1977. Ông đã được tặng: Huy chương Chiến thắng chống Pháp hạng
Nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt
Nam, Giải thưởng VHNT Nguyễn Khuyến (khuyến khích) 1981 – 1985.
- Tác phẩm chính:
+ Artist Hồ Y. – H.: Văn hóa – Thông
tin, 2006. - 55 tờ; 21cm.
+ Hồ Y vẽ và viết (2016)
Họa sĩ Hồ Y xuất thân trong một gia
đình có nhiều người tài, ở xã Bái Dương nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân
kiệt. Ông là hậu duệ của cụ Cử nhân Vũ Trọng Uy văn võ song toàn. Hai người anh
em ruột của ông là nhà báo lão thành cách mạng Như Đàm, nhà thơ nổi tiếng Hải
Như. Hồ Y tham gia cách mạng, nhiều năm làm công tác báo chí tuyên truyền của
Nhà máy Dệt Nam Định.
Là một họa sĩ không được qua trường
lớp chính quy nào, chỉ bằng con đường tự học mà thành tài, Hồ Y phải phấn đấu,
rèn luyện gian khổ hơn nhiều các họa sĩ khác. Vì vậy, ông không bị lệ thuộc vào
trường phái nào, không mấy quan tâm đến kỹ xảo, mà chủ yếu bằng năng khiếu,
lòng say mê hội họa, hồn nhiên vẽ tranh theo cảm xúc thăng hoa của chính mình.
Xem tranh của ông, ta nhận ra một phong cách riêng rất gần gũi với dân gian mà
không mấy họa sĩ có được.
Ông vẽ nhiều nhất về các phố cổ thành
phố Nam Định nơi ông sinh sống và những nhân tài của quê hương Nam Định. Chiêm
ngưỡng các bức vẽ về phố cổ thành Nam, tôi cảm nhận rõ tình yêu con người và
mảnh đất quê hương của ông tha thiết biết nhường nào. Cảm ơn họa sĩ Hồ Y đã cho
chúng ta những hình ảnh xa xưa của lịch sử, những tranh vẽ phố cổ lưu giữ hồn
thành Nam. Nếu như Hà Nội có “phố Phái” thì chúng ta có quyền tự hào Nam Định
có “phố Hồ Y”.
Thường vẽ chân dung, họa sĩ cố gắng
vẽ sao cho giống người thực, càng giống càng tốt. Nhưng họa sĩ Hồ Y không đi
theo con đường mòn ấy. Ông tìm cho mình con đường riêng. Đó là thể hiện chân
dung qua hình tượng, biểu tượng. Người xem tác phẩm chân dung của Hồ Y phải có
hiểu biết nhất định về nhân vật mới cảm thụ hết cái hay, cái sâu xa, cái đẹp
của tranh.
Nam Định một thời nổi tiếng về đóng
thuyền xi măng lưới thép, đáp ứng kịp thời công việc vận tải phục vụ sự nghiệp
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họa sĩ Hồ Y là người duy nhất ghi lại
được sự kiện lịch sử đặc biệt của Nam Định bằng bức tranh “Đóng thuyền xi măng
lưới thép”. Tranh đã được nhà nước mua về lưu trữ ở Viện bảo tàng mỹ thuật Việt
Nam.
Sau khi tôi giới thiệu chân dung Hồ Y
lên trang blog cá nhân, như một phản ứng dây truyền, gần hai chục trang điện
tử, báo và tạp chí giấy, đài truyền hình trung ương và đài địa phương lần lượt
đưa tin về Hồ Y. Nội dung các bài viết về Hồ Y đều đồng thuận công nhận đóng
góp của ông cho nền mỹ thuật nói chung và cho thành Nam nói riêng. Đặc biệt,
báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam và báo Đảng của Nam Định cũng có bài
cùng quan điểm như vậy.
Với những đóng góp cho cách mạng và cho
nghệ thuật hội họa của mình, ông xứng đáng được nhận những giải thưởng cao quý.
Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi biết ông chưa được nhận một giải thưởng chính thức
nào của tỉnh (không kể một giải khuyến khích). Tôi có lần tỏ ý băn khoăn về
việc đó, thì ông ôn tồn bảo: “Đối với tôi, được bạn đọc, người xem tranh yêu
quý và nhớ mãi tác phẩm của mình đã là phần thưởng cao quý hơn mọi giải thưởng
rồi.”
Những năm cuối đời, tuy tuổi cao sức
yếu, họa sĩ Hồ Y vẫn miệt mài sáng tác tranh và viết bài cho blog Trần Mỹ
Giống. Chiều chiều họa sĩ vẫn dắt chiếc xe đạp (chứ không cưỡi) đi thăm thú bạn
bè, cũng là tập thể dục cho khỏe. Như vừa mới hôm qua, ông dắt xe đạp đến nhà
tôi, đàm đạo văn chương hội họa một lúc, rồi lại dắt xe về. Vậy mà, chỉ ốm nằm
viện mấy ngày, bạn bè cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật chưa ai biết, ông đã vội
ra đi.
Thương tiếc tiễn biệt họa sĩ Hồ Y về
cõi vĩnh hằng, chúng tôi tin rằng những sáng tác của họa sĩ, đặc biệt là những
bức tranh phố cổ thành Nam sẽ còn sống mãi trong lòng người Nam Định yêu quê
hương xứ sở. Chợt nhớ tới hai câu thơ đề từ của tôi dưới bức chân dung tự họa
của họa sĩ Hồ Y, ngẫm ra thật đúng với cuộc đời và sự nghiệp của ông:
Tự học thành tài danh lặng lẽ
Thành Nam còn mãi “phố Hồ Y”.
NHÀ
THƠ TRẦN HÙNG THẮNG
Nhà thơ Trần Hùng Thắng, bút danh Hoài
Ngọc Anh, sinh năm 1942, quê xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Ông là hậu duệ của Tả Hãn Tướng Quân. Tả Hãn tướng
quân là cụ Trần Bá Khoản (tức Nghiễm) quê làng Trà Lũ. Cụ có sức khỏe hơn
người, lại tinh thông võ nghệ. Cụ thường sử dụng thanh đao to bằng tàu lá chuối
có cán bằng sắt luyện, hai người mới khênh nổi. Năm 1740 Trịnh Doanh thân chinh
mộ quân đánh dẹp khởi nghĩa Ngân Già. Cụ ứng mộ lập công lớn được phong Đô chỉ
huy đồng tri cai hãn tả hùng hữu đẳng trung tiệp, kiêm chỉ huy đội thuyền tráng
tiết tướng quân Nghiễm trung hầu, quan võ tứ phẩm triều Lê, giữ chức thủy quân
tứ cơ. Khi cụ giải giáp về quê, gia tư có hàng chục vạn. Dân gian có câu “Đệ nhất
Thiêm Kì, Đệ nhì Hãn Tả” nói về sự giàu sang của cụ. Cuối thời Lê, kho nhà nước
trống rỗng, triều đình quyên góp các xã, Trà Lũ phải nộp 80 vạn quan tiền. Cụ
bỏ của nhà ra nộp thay dân làng. Hiện nay còn đền thờ quan Tả Hãn ở xã Xuân
Trung (Xuân Trường – Nam Định). Con cháu cụ đều theo ngạch võ như: con trai cụ
là Trần Đình Thạc làm Tham đốc vũ huân tướng quân, tước Trọng Nghĩa hầu; Cháu
cụ là Trần Đình Lãm làm Đô chỉ huy sứ; Chắt, chút cụ có nhiều người đỗ Tú
tài...
Năm 1949 đến 1955 Trần Hùng Thắng theo
gia đình tản cư vào Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Bạn học tuổi thơ của ông nhiều người
thành đạt như PGS TS Nguyễn Lương Tiểu Bạch, Đại tá họa sĩ Đinh Quang Tỉnh, Đại
tá nhà phê bình Hồng Diệu…
Ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội
khóa 9. Bạn cùng lớp với ông ngày ấy nhiều người thành đạt như PGS TS Nguyễn
Trọng San, TS Chí Hùng, Nhà nghiên cứu lịch sử Phan Duy Kha, nguyên Thứ trưởng
GS TS Đặng Hùng Võ, Nhà văn Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu,...
Thời trẻ ông đã bộc lộ năng khiếu hội
họa, thể thao. Các môn điền kinh, bóng chuyền, bơi lội ông tham gia nghiệp dư
đều đạt thành tích đáng khen. Năm 1960 ông tham gia cuộc thi bơi vượt sông Đào
đoạn dài 5000 mét về đích tốp đầu. Ông từng nhảy cao qua xà 1,8 mét và được
tặng huy chương cá nhân.
Ra
trường, năm 1967 ông về công tác tại Tổng cục Vật tư (sau là Bộ Vật tư, nay là
Bộ Công thương). Năm 1969 ông tham gia thi công công trình B12 (Đường ống dẫn
dầu từ Quảng Ninh về Hà Nội) cùng chuyên gia Liên Xô. Sau đó ông từng tham gia
xây dựng các công trình kho dầu sân bay Nội Bài, Kho vật tư Thanh Hóa, Sơn La,
Lạng Sơn, Tổng kho H101, H102, H204, A315, A318, A320…
Ông từng tham gia thiết kế trưng bày tại
các khu triển lãm sáng kiến của các cơ quan trung ương (1972), Khu triển lãm
quốc gia Vân Hồ (1980), Triển lãm tại Văn phòng Bộ Vật tư, Khu triển lãm thành
phố Nam Định, Triển lãm trưng bày Phòng truyền thống Cấp 3 Xuân Trường kỷ niệm
40 năm ngày thành lập (2001)…
Năm 1977 ông xây dựng gia đình. Vợ ông là
một y tá Bệnh viện tỉnh Nam Định. Ông có hai con, một trai, một gái đều tốt
nghiệp đại học, công việc ổn định. Thập niên 80 thế kỷ trước, tình hình kinh tế
khó khăn, vợ chồng ông ở đôi nơi càng thêm khó khăn. Sau vụ ông viết văn theo
phương pháp hiện thực phê phán bị người ta gây khó dễ, ông đã bỏ về sống với
gia đình, theo đuổi nghiệp thơ văn.
Trong những năm sống ở Hà Nội, ông quan
hệ bạn bè khá rộng rãi. Ông thường lui tới nhà hát kịch giao lưu với các văn
nghệ sĩ như Mạnh Linh, Trọng Khôi, Đoàn Dũng, Thanh Tân, Nguyệt Ánh… Một lần
ông cùng bạn bè tụ tập ở phòng ông Song Thương (Biên tập viên Đài truyền hình
Việt Nam gồm các nghệ sĩ Trọng Khôi, Nguyệt Ánh NSND, NS Thanh Tân, đạo diễn
Doãn Hoàng Giang, nhà biên kịch Ngọc Chanh, Song Thương, Văn Ngạn Phó ban biên
tập Đài TNVN), mọi người thống nhất mỗi người phải thể hiện năng lực của mình.
Thanh Tân thể hiện vai ông gác rừng say, Nguyệt Ánh nhảy “thoát y” trong vai Ni
na vở Cậu bé đánh trống trận, Trọng Khôi
– kẻ điên đốt đền, Ngọc Chanh – tên tướng cướp (sau đổi thành Tình yêu và tội
phạm)… Đến lượt mình, Trần Hùng Thắng ứng khẩu đọc bài thơ vui nhắc tên những
người có mặt trong cuộc hội ngộ.
HẠNH NGỘ VĂN
NGHỆ SĨ
Ni Na Nguyệt Ánh thoát y
Doãn Hoàng Giang có chạy đi đằng trời
Trọng Khôi đền đốt tả tơi
Song Thương, Văn Ngạn nổi trôi màn hình
Ngọc Chanh tướng cướp đa tình
Thắng thua ai tỏ chuyện mình với ta…
Thời gian này ông thường hay buổi tối
ngồi lều của nhà văn Phùng Quán (trong nhóm Nhân văn giai phẩm) bên Hồ Tây.
Phùng Quán nổi tiếng “Văn chui, rượu lủi, cá trộm”. Sau khi đi cải tạo về, gặp
nhiều khó khăn, để thêm thu nhập, Phùng Quán phải nhờ nhà thơ Tế Hanh đứng tên
sáng tác của mình mới được ra mắt bạn đọc. Một đôi lần ông đến thăm nhạc sĩ Văn
Cao. Đến nay ông vẫn còn tiếc là ngày ấy không chú ý ghi chép nhiều tình tiết
về nhạc sĩ. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng bảo: Văn Cao là nhạc sĩ sáng tác quốc ca trên
thế giới duy nhất còn sống. Sau này những chuyện về ông sẽ đắt như tôm tươi.
Từ ngày ông về sống ở thành phố Nam Định,
chẳng ai biết ông là Kỹ sư, mà quen gọi ông là Họa sĩ, Nhà thơ. Ông chơi thân
với nhạc sĩ nhà giáo Nguyễn Hữu Thắng cùng phố Hoàng Văn Thụ. Sau khi báo Nam
Định đăng bài “Giáo viên nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng” của ông, bà chị ông Nguyễn
Hữu Thắng là Việt Kiều sống ở Pháp về, mới biết hoàn cảnh cơ cực của em mình mà
mua cho Nguyễn Hữu Thắng ngôi nhà ở Hà Nội. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng nổi tiếng
với ca khúc Không ai ngăn nổi lời ca. Qua nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thắng, ông quen
biết và giao lưu với giới văn nghệ sĩ Nam Định như Chu Văn, Kim Ngọc Diệu, Vũ
Quốc Ái, Phạm Như Hà, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Kỳ, Đức Miên, Minh Đoan,
Thanh Hòa, Nhật Tân…
Sau lần gặp nạn do viết truyện ngắn theo
phương pháp hiện thực phê phán, ông không viết truyện nữa, chỉ sáng tác thơ.
Tuy nhiên, ông vẫn ẩn danh chấp bút hồi ký cho bạn bè. Nhiều sáng tác thơ văn
của ông đã đăng các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Người Hà Nội, Đại đoàn
kết, Người cao tuổi, Cựu chiến binh, và nhiều tạp chí…
Một lần bù khú với bạn bè về chủ đề “Đầu
đường thiếu tá bơm xe / Cuối đường đại tá bán chè đỗ đen” ông đã ứng khẩu:
Nhạc công lạc vật phỏng tay
Úy
tá rời trận ra ngay vỉa hè
Bà giáo ngồi ôm nồi chè
Công
nhân máy Dệt đêm về thêm ca
Một lần sáu ông bạn “buôn dưa” tại dinh
Nhà giáo Trần Đình Thi ở cạnh ga tàu Nam Định, theo yêu cầu của bạn, ông đã đọc
sáu câu thơ ghép tên của mỗi người theo vòng tròn mà ông là người sau cùng:
Sáu thầy xơi cô Thi ca
Minh
Đoan nhấp nhổm vào ra mấy lần
Thắng điếc ham “Dệt mùa xuân”
Khiến
ông Xuân Huấn dương cần nhảy ngay
Đức Miên nửa tỉnh nửa say
Thắng
thua chưa tỏ, việc này chửa xong.
Hiện ông sống cùng bà kế ở quê. Ông lấy
việc thăm thú bạn bè, xướng họa thơ ca... làm vui.
Trước đây, có lần Chu Văn - Chủ tịch hội
Văn nghệ tỉnh, mời ông tham gia hội nhưng ông từ chối vì muốn được tự do sáng
tác chứ không chịu phụ thuộc vào tổ chức nào. Tác phẩm chính của ông là tập thơ
“Trầu một lá”, ngoài ra còn hàng trăm bài đăng tạp chí và in trong nhiều tuyển
thơ như “Hành Thiện tự ngàn xưa”, “Giáo sư Vũ Khiêu trong vòng tay bạn bè”, “Vũ
Khiêu và bè bạn”, “Tuổi cao nêu gương sáng”, “Một thoáng Xuân Hương”, “Thi đàn
truyền thống Việt Nam”, “Tuyển thập Đường thi”...
Mảng thơ nổi nhất của ông là thơ
tình. Thơ ông khi buồn não nuột, lúc say đắm dâng trào, có lúc như biển cả bão
tố, có khi êm đềm dịu ngọt, sâu lắng như nước hồ lặng gió...
Nhân đây chép ra mấy bài thơ của ông đã
đăng tạp chí:
TRĂNG NON THÔN NỮ
Ngọc
ngà trăng dãi cầu cao
Hàng cây nghiêng ngả, lao xao
ngỡ ngàng
Dậu
thưa thấp thoáng mơ màng
Trời xanh hé mở khuôn vàng
nghiêng soi
Dại
ngây chết đứng giữa trời
Trăng non thôn nữ, bóng người
cầu ao.
THĂM VƯỜN
Vườn em lâu vắng người chăm
bón
Đâu ngỡ thu này anh ghé thăm
Cỏ lác um tùm không xén tỉa
Thiếu mưa đất xốp cũng khô
cằn.
Tay mới lướt qua đám cỏ gà
Gặp màn sương phủ phía bờ xa
Cung đàn năm ngón: Mây vờn
núi
Nước bỗng tràn khe đẫm suối
hoa.
Hoa trái đung đưa khéo đón
mời
Mới vừa chạm lưỡi đã mê ngay
Thỏa thê tận hưởng xua cơn
khát
Uống mãi ngàn đời chẳng hết
say.
VŨ KHÚC TÌNH YÊU
Chiếc lá chắn cuối cùng buông
rơi
Vòm trời chao đảo
Nhật, nguyệt nhận trao
Sóng cồn vũ bão
Sừng sững tượng đài
Sương dầm đảo xa
Những âm thanh đứt quãng,
nguyên sơ
Nhành liễu rủ
Trời xanh lửng lơ
Không gian chìm
Bão qua, biển thở
Gió lặng rừng già
Hoa khép sườn non
Khúc giao hoan đời đời thao
thức
Trái đất trường tồn
Vũ khúc tình yêu.
MÁI
TRƯỜNG KHÔNG TIẾNG TRỐNG
Mái trướng ấy không hề vang
tiếng trống
Máy bay thù quần đảo suốt
ngày đêm
Không ghế không bàn, trơ trọi
tấm bảng đen
Lũ học trò nghèo dong đèn,
đeo sách, bàn đến lớp.
Đứa ngoài khu Ba, đứa trong
khu Bốn
Dưới mái đình thiêng* ươm con
chữ chuyên cần
Tan học về buồn ngủ díu bước
chân
Bụng sôi cồn cào, mắt hoa đom
đóm
Cơn mưa đầu mùa ào ào ập
xuống
Mấy mái đầu che tạm manh áo
tơi
Cô bạn tôi trượt ngã, sách,
bàn rơi
Mặt dính đầy bùn, ngượng
ngùng chữa thẹn
Mắt bồ câu ngày thường lúng
liếng
Sấm giật lưng trời sợ hãi nép
vào tôi.
Tiếng súng ngừng, mỗi đứa mỗi
nơi
Người trở lại quê hương,
người ngược ra Hà Nội
Cuộc sống bộn bề chẳng mấy ai
nghĩ tới
Về ngôi trường không trống
giục, ánh đèn dong.
Đã xa rồi những năm tháng
chiến tranh
Lớp học trò xưa nay đã lên
ông, lên cụ.
Ông kỹ sư già bàng hoàng gặp
lại người bạn cũ
Trước mắt mình, nữ nhà giáo
tóc bạc phơ
Sâu thẳm đáy lòng đánh thức
hồn thơ
Họ bên nhau nhớ về cơn mưa
đầu mùa
Và ngôi trường không tiếng
trống.
Thu 2018
…………….
*
Hồi kháng chiến chống Pháp, để tránh máy bay địch bắn phá, các lớp học ở vùng
tự do được tổ chức vào ban đêm. Học nhờ trong các đình, đền cổ. Học sinh đến
trường phải mang theo sách, đèn và bàn học. Bàn cá nhân đóng theo kiểu ghế cắt
tóc. Hộp ghế đựng sách kẹp bởi chân vào mặt bàn.
LỜI THỀ
CON SÁO
Sóng xé nát trăng thề thành
mảnh vụn
Gió thét gào dồn nén mây trôi
Tình lang thang
Sóng nước đầy vơi
Ta lạc giữa đường đời ôm mộng
ảo
*
Vẫn còn đây!
Lời thề con sáo
Hoa phượng bay nhuộm đỏ sân
trường
Nụ hôn đầu đời
Tình bước sang trang
Bàn tay dại ngây thấu mùi da
thịt
Ánh mắt nụ cười nồng say ngây
ngất
Trời đất sững sờ thời khắc
cũng ngừng trôi
Ánh trăng thề ngọt lịm làn
môi
Nguyện bên nhau:
Tới cùng trời cuối đất.
*
Không gian nhạt nhòa
Bình minh vụt tắt
Ánh trăng thề vỡ nát giữa
trời xuân
Ta về đây!
Nhẹ bước chân trần
Biết bao cánh chim bay
Sau mỗi mùa phượng nở
Lớp lớp học trò
Sớm chiều hớn hở
Lại thêm những chuyến đò “Lỡ
bước sang ngang”
Những dở hay phía trước con
đường
Thất bại, thành công nào ai
biết trước
Hãy chấp nhận những gì ta có
được
Quy luật cuộc đời:
Gió cuốn phượng bay.
Mùa phượng 2018
GIÁ
MÀ
Giá
mà mình chẳng gặp nhau
Thì sao có được thương đau tháng ngày
Giá
mà rượu uống chẳng say
Đời còn đâu nữa những ngày nhớ thương
Giá
mà buổi ấy tới trường
Guốc em đừng đứt giữa đường gặp anh
Giá
mà biển chẳng còn xanh
Đất lành đâu dễ hoá thành sông sâu
Giá
mà cau chẳng cần trầu
Tình yêu trai gái còn đâu đến giờ
Giá
mà tình đẹp như mơ
Thì anh đâu có câu thơ - Giá mà...
ĐỢI
Hôm
qua em đến phòng anh
Giường đơn thay ghế chân thành mời em
Ngoài
trời thấp thoáng trăng lên
Trong phòng anh có trăng em dọi vào
Mới
nghe tiếng nói ngọt ngào
Tim anh run rẩy trăng nào có hay
Xin
đừng như cánh chim bay
Như làn gió thoảng chiều nay qua thềm
Ước
gì đời mãi bên em
Chăn đơn đỡ lạnh những đêm gió lùa
Em
về trời lại đổ mưa
Sương nhoà lối vắng canh khuya mơ màng
Em
về mai em có sang
Bên này, bên ấy cách hàng dậu thưa
Ngày
ngày hai buổi sớm trưa
Ngóng em qua ngõ kẻng vừa tan ca
Bên
này, bên ấy bao xa
Thế mà em chẳng ghé qua những chiều
Giật
mình đâu biết mình yêu
Phòng đơn anh vẫn bấy nhiêu đợi chờ.
Một
số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như “Tiếng chuông”, “Vũ khúc tình yêu”
(Nhạc: Trần Công Thủy), “Thành phố sinh thái năm sao” (Nhạc: Trọng Đài. Ca sĩ
Mai Hoa thể hiện), “Người chiến sĩ Ra đa” (Nhạc: Nguyễn Hữu Thắng), “Khúc ca
mùa xuân” (Nhạc: Lý Dũng)…
Ở
tuổi bát tuần, ông vẫn say mê nghiệp thơ văn. Tài ứng khẩu thành thơ của ông
vẫn rất nhanh nhạy. Họa sĩ Ba Tỉnh – bạn ông, có ý định vẽ chân dung ông, nhưng
chưa biết vẽ thế nào thể hiện rõ tính cách và tài năng của ông. Tình cờ đọc
được bài thơ của tôi viết về nhà thơ Trần Hùng Thắng, họa sĩ Ba Tỉnh chợt bùng
cảm xúc và phóng tay liền ba bức chân dung Trần Hùng Thắng, bức nào cũng rất có
thần. Bài thơ còn được nhạc sĩ Trần Công Thủy phổ thành ca khúc “Chúc mừng sinh
nhật Trần Hùng Thắng” do ca sĩ Mạnh Hùng thể hiện. Bài thơ tôi viết về nhà thơ
Trần Hùng Thắng như sau:
CHÂN DUNG
NHÀ THƠ TRẦN HÙNG THẮNG
Vốn
dòng Tả Hãn Tướng Quân
Hồn
thêu nét bút, thơ văn dạt dào
Kỹ
sư lớp trước, tự hào
Màng
chi quan chức, thiết nào hư danh
Cho
đi muôn vạn nhánh cành
Nhận
về một lá trầu xanh cay nồng
Ngỡ
ngàng đứt gánh tơ hồng
Còn
hai trái ngọt trời không phụ người
Lên
xe, xuống ngựa một thời
Khi
thăm địa phủ, lúc chơi cung Hằng
Tao
nhân mặc khách đãi đằng
Túi
thơ bầu rượu kém chăng Đào Tiềm*?
………….
Chú thích:
*Đào Tiềm tự Uyên Minh, người đời Tấn, nổi
tiếng cao thượng, ham đọc sách, giỏi thơ văn, không màng danh lợi, an bần lạc
đạo, lấy tiếng đàn, câu thơ, chén rượu làm vui...
Đầu năm 2022 Hội người cao tuổi địa
phương mừng thọ tuổi 80 của nhà thơ Trần Hùng Thắng, tôi lại nghĩ về cuộc đời
chìm nổi của ông. Đó là yếu tố gợi cảm xúc để tôi viết bài thơ chân dung ông…
Tôi viết lan man về tiểu sử ông để bạn đọc thêm hiểu, thêm cảm bài thơ tôi viết
chân dung ông.
TMG
SAO VỘI BẤY, BÁC THUẬN ƠI!
Sáng ngày 8 – 9 – 2013, tôi đang dự
cuộc họp của Cựu chiến binh bảo vệ thành cổ Quang Trị thì nhà văn Hoàng Ngọc
Trúc điện thoại: “Hình như bác Thuận mất rồi hay sao ấy. Tôi nghe có tiếng kèn
trống từ khu ở của bác Thuận. Mắt tôi sưng húp không đi được.” Tôi không tin,
nói: “Không đâu! Vừa mới tuần trước bác Thuận gọi điện nói chuyện với em hơn
chục phút cơ mà! Bác hỏi lại cho rõ, có gì điện cho em”. Cuộc họp của chúng tôi
phải lui lại đến gần trưa mới tiến hành được vì trời mưa như trút nước, không
nghe được tiếng người nói. Trưa, tôi nhận hai cú điện, một của bác Trúc, một
của bác Vũ Đình Phàm – bạn đồng môn của bác Thuận và cũng là cộng tác viên tích
cực của blog Trần Mỹ Giống, báo tin chính thức bác Thuận mất. Tôi bàng hoàng,
gọi điện báo cho họa sĩ Đặng Văn Nam, nghệ sĩ Trần Chính Nghĩa, nhà thơ Chu
Đình An là những văn nghệ sĩ thân thiết với bác Thuận, tập trung ở nhà bác
Hoàng Ngọc Trúc, cùng sang viếng bác Thuận.
Nhìn di ảnh bác Thuận, tôi bồi hồi nhớ
những kỷ niệm về bác, những hình ảnh cứ hiện lên trong đầu, không thứ tự…
*
Trong số những văn nghệ sĩ quê Nam
Định, tôi quý trọng, kính phục và hân hạnh được quan hệ thân thiết với ba người
có tài năng và nhân cách cao đẹp. Đó là nhà thơ Hải Như, nhà nghiên cứu Lê Xuân
Quang, nhà văn Trần Huy Thuận. Tôi kính trọng gọi nhà thơ Hải Như là Cụ. Nhà
thơ Hải Như quý tôi như với con cháu trong nhà. Còn đối với nhà nghiên cứu Lê
Xuân Quang và nhà văn Trần Huy Thuận, tôi là bạn vong niên thân thiết của hai
ông. Nói về cố nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang, tôi có bài “Nhớ kỳ nhân Lê Xuân
Quang” thể hiện mối quan hệ của tôi với ông, đăng báo Văn nghệ trẻ năm 2005 và
một số trang mạng.
Với nhà văn Trần Huy Thuận, tôi quen
ông mới năm năm nay, nhưng tình cảm của chúng tôi như bạn tri kỷ từ kiếp trước.
Lần đầu tôi được tiếp xúc với ông vào năm 2009, trong đám cưới con nhà báo Trần
Mạnh Sỹ ở khu 5 tầng (thành phố Nam Định). Trần Mạnh Sỹ dắt tôi tới bàn của một
nhóm già và giới thiệu:
- Đây là bác Trần Huy Thuận, nguyên
Giám đốc Công ty xây lắp Hà Nam Ninh… Còn đây là nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống…
Bác Thuận giơ tay bắt tay tôi, bàn tay
bác nóng truyền sang tôi cảm giác ấm cúng. Nhìn khuôn mặt “Quan Vân Trường” và
đặc biệt đôi tai Phật của bác, tôi nghĩ thầm: Bác Thuận hẳn là người thẳng
thắn, trung trực, chân thành, có thể tin tưởng tuyệt đối ở bác. Bác Thuận nhìn
tôi nói:
- Hay quá! Ông là nhà nghiên cứu văn
học, tôi xin địa chỉ để có dịp đến thăm…
Tôi ghi địa chỉ cho bác nhưng trong
bụng nghĩ: Chắc bác chỉ xã giao thôi, chứ em ít tuổi hơn bác nhiều, em phải đến
thăm bác mới phải chứ!
Thế rồi ba hôm sau, bác cùng một người
bạn tìm đến nhà tôi từ 7 giờ sáng. Cũng lạ, vừa quen nhau, tôi và bác đã dốc
hết bầu tâm sự về gia cảnh, về bản thân, về những trắc trở trong đời làm văn
học nghệ thuật, về những tiêu cực trong xã hội… rất tự nhiên và thân thiết. Hóa
ra bác nguyên là Trưởng ban kiểm tra Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, nay là
Nam Định mà tôi hiện là hội viên. Do bất đồng chính kiến với lãnh đạo hội, bác
thôi sinh hoạt. Gần ba chục năm bác không quay lại Hội, nhưng vẫn âm thầm sáng
tác. Nhìn đồng hồ gần 11 giờ, bác lấy từ trong túi xách ra tặng tôi cuốn tản
văn “Ngang qua cuộc chơi” do Nhà xuất bản Văn học xuất bản lần thứ 2 năm 2009
và bảo:
- Tôi tặng ông tập sách. Cũng nói để
ông biết: Tôi có nhờ một ông lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh viết cho một
bài giới thiệu, ông ta nhận lời nhưng gần năm nay vẫn chưa viết.
- Cảm ơn bác tặng sách. Em sẽ nhờ một
nhà văn viết bài giới thiệu cuốn sách. Được không bác?
- Thế thì hay quá.
Sau đó tôi điện nhờ nhà văn Lê Hoài
Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định viết bài giới thiệu
cuốn “Ngang qua cuộc chơi”. Lê Hoài Nam nhận lời nhưng yêu cầu:
- Thứ bảy này tôi về Nam Định làm việc
với nhà thơ Phạm Trọng Thanh. Tôi tranh thủ dành ít phút gặp các ông từ 4 giờ
đến 4 giờ rưỡi chiều rồi đi Hà Nội luôn. Anh mang sách và dẫn ông Thuận đến nhà
anh Thanh gặp tôi. Tôi đã biết mặt tác giả vuông tròn ra sao đâu…
Tôi nói lại cho bác Thuận biết. Bác tỏ ra
không vui, nói:
- Lê Hoài Nam thời cùng ở Văn phòng Hội
với tôi còn lạ gì nhau. Thôi ông ạ…
Tôi gọi điện ngay cho Lê Hoài Nam báo
tin chúng tôi bận không đến được, việc tôi nhờ Nam viết bài coi như bỏ. Thế mà
chiều thứ bảy, lúc 4 giờ rưỡi, tôi đang ở Thái Bình, anh Phạm Trọng Thanh gọi
điện, giọng bực dọc:
- Chúng tôi đợi hai ông suốt chiều nay,
Lê Hoài Nam từ mãi Hà Nội về, sao các ông hẹn rồi không đến? - và cúp máy ngay.
Tôi rất áy náy, cảm thấy có lỗi với bác
Thuận. Chuyện chẳng ra làm sao thế này, nếu biết, chắc bác Thuận không vui. Tôi
tập trung tinh thần đọc cuốn sách bác tặng. Cuốn sách hút hồn tôi. Đọc xong,
tôi viết ngay trong một đêm bài giới thiệu. Ít lâu sau, bài viết được đăng trên
trang Việt Văn Mới.
Bác Thuận tỏ ra hài lòng với bài giới
thiệu cuốn “Ngang qua cuộc chơi” do tôi viết. Tôi tập trung khai thác mặt phiếm
luận là thế mạnh của bác Thuận, làm rõ giá trị phản biện, phê phán xã hội mà
nhiều người khác tránh né, điều đó hợp với tạng – sở trường của bác và tôi.
Tình bạn giữa hai chúng tôi càng gắn bó hơn. Mỗi khi có bài viết mới, hoặc
chỉnh sửa bài viết cũ, bác đều tham khảo ý kiến tôi và dành cho blog của tôi
trước.
Một buổi sáng, bác Thuận điện mời tôi
đến nhà “có tí việc muốn bàn với ông”, khi đó bác Thuận đang ốm. Tôi kéo nhà
thơ Chu Đình An cùng đi. Bác Thuận kể cho chúng tôi nghe chuyện gần ba mươi năm
trước, Trần Nhật Quang - con trai bác đoạt giải thưởng “Thí sinh giỏi nhất từ
các nước ở rất xa” tại cuộc thi Olympic Vật lý Quốc tế lần thứ 15 (năm 1984),
bị người ta ăn chặn giải thưởng, dấu nhẹm đi. Nay tình cờ bác biết được. Bác
muốn tham khảo ý kiến bạn bè có nên làm rõ vụ việc hay không. Tôi góp ý: Quyết
đưa vụ việc ra ánh sáng, đòi lại công bằng cho cháu Trần Nhật Quang. Thế là tôi
phối hợp với bác đăng tin vụ việc trên blog của mình.
Cuối cùng thì Bộ trưởng Bộ giáo dục và
đào tạo đã phải thừa nhận sự thật, xác nhận giải thưởng của cháu Trần Nhật
Quang.
Sau này, trong bài “Chân dung văn học
Trần Mỹ Giống” trên blog “Ngang qua cuộc chơi” của mình, bác Trần Huy Thuận
viết về tôi như sau:
“…Khi tập “Ngang qua cuộc chơi” vừa được Nhà
xuất bản Văn học xuất bản, Đặng Văn Sinh bạn tôi đưa tôi đến nhà Trần Mỹ Giống
để gửi tặng sách cho Thư viện tỉnh. Mục đích ban đầu chỉ có thế, nhưng không
ngờ sau đó, chúng tôi trở thành bạn tâm giao.
Trước khi cầm bút, ông đã từng cầm súng
trực tiếp chiến đấu. Năm 1972 tham gia chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch Cửa
Việt, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, Huân chương chiến công. Đến năm 1979 lại lên
Lạng Sơn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Là cán bộ quản lý thư viện, nhưng Trần
Mỹ Giống còn là tác giả nghiên cứu phê bình, dịch và sáng tác văn học. Đọc
những đầu sách đã xuất bản của ông, tôi thực sự kính nể. Tôi còn kính nể ông
hơn khi được biết ông là người trực tính, hết lòng với công việc, có tinh thần
tự học cao và đặc biệt là thực sự không màng danh vọng, đã từng từ chối khi cấp
trên định đề bạt chức tước cho ông…”.
Trích “Tác giả thành Nam: Trần Mỹ
Giống”
Posted 15.04.2011 by tranhuythuan in Chân
dung văn học.
Nhóm văn nghệ sĩ thành Nam chúng tôi tự
phát gắn bó nhau có Nhà văn Hoàng Ngọc Trúc ở bộ môn thơ (Hội Văn học Nghệ
thuật Nam Định), nhà thơ Chu Đình An cũng ở bộ môn thơ, họa sĩ Đặng Văn Nam bộ
môn mỹ thuật, nghệ sĩ Trần Chính Nghĩa bộ môn nhiếp ảnh và tôi ở bộ môn nghiên
cứu phê bình. Chúng tôi, mỗi người một tính. Bác Trúc tính cẩn thận, chu đáo,
sống nội tâm, có trước có sau, là nhà thơ nhưng lại sở trường về truyện cực
ngắn. Bác Nghĩa trung thực, thẳng thắn, chuyên chú vào học thuật, gặp bạn là
nói hàng giờ về nghệ thuật không chán. Là nghệ sĩ nhiếp ảnh, bác lại viết
truyện ngắn, thơ, kịch rất có phong cách, đều hay. Bác An là nhà thơ có nhân
cách, tính Thiên Lôi, từng dùng ngòi bút “chiến đấu” chống một vị lãnh đạo khai
man lý lịch, một vị Tiến sĩ ăn gian giải thưởng… Họa sĩ Đặng Văn Nam, học cùng
trường thời đại học với tôi, tính vô tư, ruột để ngoài da, sống giản đơn, lạc
quan, miệng thường trực nụ cười ha ha, dễ mến và tin tưởng. Tôi thường tụ họp
với bác Trúc, Nam, Nghĩa đàm đạo văn chương nghệ thuật rất tâm đầu ý hợp, khi ở
quán bún chả số 67 Bắc Ninh, lúc ngồi hàng giờ trong quán cà phê Alto trên
đường Lê Hồng Phong đầu bờ hồ La Két, rồi dắt díu nhau thăm các bạn văn. Chúng
tôi thường đến thăm bác Thuận, mỗi lần đến ngồi cả buổi không hết chuyện. Từ
khi bác Thuận bệnh trọng, phải đi Bệnh viện ở Hà Nội định kỳ, chúng tôi cứ mong
ngóng bác về là điện báo nhau đến thăm. Lần bác bị hạch cổ, bác sĩ nghi là lao,
phải vào viện Lao (Nam Định). Được tin, chúng tôi đến viện ngay. Tìm các phòng
không thấy bác. Gọi điện mới biết bác vừa về nhà chuẩn bị đi viện ở Hà Nội.
Chúng tôi đến nhà thăm bác. Bác nắm tay từng người chặt và lâu hơn bình thường.
Tay bác nóng hổi. Bác sốt mệt nhưng cố gượng ngồi với chúng tôi. Bác bảo: “Tôi
đang lo in thêm hai chục cuốn “Ngang qua cuộc chơi” có bổ sung chỉnh lý, khi
lấy được sách sẽ tặng các ông”. Nhưng chưa in xong, bác đã phải đi Hà Nội nhập
viện. Từ Hà Nội bác điện về: “Tôi rất cảm động và trân trọng tình cảm của các ông.
Khi biết tôi nghi lao, có mấy ông bạn vội tránh xa. Vậy mà các ông tìm vào tận
viện thăm tôi… Ba lần hẹn các ông đi quán mừng tôi nhận “Giải thưởng làm báo
cùng Tuổi trẻ” không thành, vì tôi ốm, tôi hy vọng kỳ này khỏe về sẽ thực hiện
được…”.
Vậy mà… bác đột ngột ra đi… Sao vội
bấy, bác Thuận ơi!
*
Bác Thuận và tôi đều thú chơi blog.
Blog “Ngang qua cuộc chơi” của bác bài vở phong phú, đa dạng, được bạn đọc truy
cập rất đông. Nhiều bạn đọc gửi thư, comments tỏ thái độ rất thích blog của
bác, nhất là những bài chính luận, phiếm luận của chủ blog. Những bài tản văn,
phiếm luận của bác mạch lạc, khúc triết, dễ hiểu, tính chiến đấu cao, có sức
hấp dẫn kỳ lạ. Đông đảo bạn đọc yêu mến blog “Ngang qua cuộc chơi”, nhưng một
số người “tai to mặt lớn” lại sợ hãi, khó chịu với bác. Có người trực tiếp yêu
cầu bác dừng ngay blog lại, nhưng bác bảo: “Đó là thú chơi, là nơi thể hiện
trách nhiệm xây dựng xã hội của cá nhân tôi. Không ai có quyền ngăn cấm”. Không
dọa được bác, người ta quay ra đe nẹt con cháu bác để gây sức ép với bác. Từ
thành phố Hồ Chí Minh, thăm con trai, bác Thuận điện về, giọng buồn rầu:
- Ông Giống ơi! Có lẽ vì con cháu mà
tôi đành phải làm thằng hèn… ông ạ! Ông bảo tôi sao đây? - Rồi bác kể cho tôi
nghe người ta o ép buộc bác dẹp blog như thế nào…
Tôi rất hiểu tình cảm người cha đối với
con nên nói với bác:
- Thì bác và em chả sống vì con cháu đó
thôi!
Bác thở dài:
- Cảm ơn ông, ông hiểu cho thế là tôi
nhẹ nhõm phần nào rồi!
Sau đó bác xin lỗi bạn đọc và tuyên bố
đóng lại blog của mình. Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, con cháu bác vẫn
bị liên lụy. Bác tâm sự với tôi và quyết mở lại blog “Ngang qua cuộc chơi”. Tôi
hòa điệu cùng niềm vui được làm điều mình thích với bác. Chơi blog trở thành
niềm hạnh phúc, cái cần thiết như cơm ăn nước uống của bác và tôi.
Còn nhớ blog làm trên Yahoo của tôi
đang được bạn đọc chú ý, trung bình ngày hơn nghìn lượt đọc thì nhà mạng đóng
cửa. Tôi dốt vi tính, chỉ còn biết buồn rũ ra. Thật may có hàng chục bạn đọc
tình nguyện làm blog mới cho tôi. Tôi cảm động chảy nước mắt khi nhà thơ Trần
Hồng Giang, nhà văn Trần Huy Thuận cũng làm blog tặng tôi. Giang làm blog tiếng
Việt, bác Thuận làm trên wordpress. Bác Thuận khi ấy bệnh đã trọng, đi bệnh
viện thường xuyên. Tôi quyết định dùng cả hai blog, nhưng bác Thuận bảo: “Ông
đừng ngại, tôi thấy blog của Giang đẹp hơn blog tôi làm cho ông nhiều. Ông dùng
hai blog song song nó kỳ lắm, phân tán người đọc, không cần thiết. Ông nên dùng
blog Giang làm”.
Tôi nghe bác, dùng blog tiếng Việt do
Trần Hồng Giang tặng.
*
Khi tôi soạn bài “Post Hồ Chí Minh và
thư gửi Tổng Bí thư của nhà thơ Hải Như”, nội dung thuộc loại nhạy cảm, rất dễ bị
quy chụp, tôi hỏi ý kiến bác Thuận. Bác bàn: “Để khỏi bị rầy rà, ta nhờ một số
blog của người nổi tiếng đăng trước, mình đăng sau…” Bác Thuận gửi bài cho
Nguyễn Trọng Tạo. Tôi và bác túc trực thường xuyên trên máy tính, hồi hộp chờ
đợi mạng Nguyễn Trọng Tạo đăng bài. Nhưng chủ blog nguyentrongtao không dùng.
Bác Thuận lại gửi cho Trần Nhương. Chờ cả tuần không thấy Trần Nhương động tĩnh
gì, tôi thất vọng và đoán chắc là bác Trần Nhương không đăng, thì bất ngờ bài
được lên trang. Thật tiếc, chỉ mấy ngày sau trang web của bác Trần Nhương bị
tin tặc phá tan tành, bài viết của tôi không hồi phục được. Nhưng tôi đã vững
tâm lên bài trong blog của mình rồi.
Bác Thuận rất tâm đắc với một số bài
tôi viết về cụ Hải Như. Bác bảo tôi: “Khi nào cụ Hải Như ra Nam Định, ông đưa
tôi đến thăm làm quen với cụ”. Khi ấy bác Thuận ốm đã không còn tự đi xe máy
được nữa. Mấy tháng sau, cụ Hải Như dự định ra Nam Định, điện báo cho tôi
trước. Tôi và bác Thuận mong cụ hàng ngày. Cuối cùng thì cụ cũng ra Nam Định,
nghỉ tại nhà em trai là họa sĩ Hồ Y. Tôi cùng Hoàng Ngọc Trúc lai bác Thuận đến
nhà họa sĩ Hồ Y thăm cụ Hải Như. Cuộc giao tiếp với cụ Hải Như thật thú vị.
Phong thái toát ra từ nhà thơ Hải Như đã chinh phục bác Thuận. Còn nhà thơ Hải
Như thì rất quý bác Thuận bởi tính trung thực, thẳng thắn, thông minh hiếm có
của bác. Sau lần gặp ấy, bác Thuận công bố bài “Nhà thơ Hải Như như tôi biết”
đăng trên mấy báo mạng “lề phải”.
Cách đây không lâu, bác Thuận điện cho
tôi: “Ông Giống ơi, tôi phải viết một bài tổng hợp về cụ Hải Như mới được. Có
thể là bài cuối cùng của tôi. Ông gửi cho tôi tất cả tư liệu chưa công bố của
ông và ảnh về cụ Hải Như chụp chung với vợ chồng Trần Xuân Bách nhé!”
Ít ngày sau, cụ Hải Như đang nằm viện
từ thành phố Hồ Chí Minh điện bảo tôi: “Giống ơi! Giống nói với Trần Huy Thuận
là giữ sức khỏe đã, bài viết về Hải Như để sau. Sức khỏe là quan trọng nhất.
Thương Trần Huy Thuận quá Giống ơi!”
Tôi chưa kịp thực hiện yêu cầu của cụ
Hải Như thì bác Thuận đã ra đi. Bác đã kịp hoàn thành bài viết tổng hợp về cụ
Hải Như. Sau khi viếng bác Thuận về, tôi đọc bài viết dài 28 trang của bác do
Kỳ Hạnh (con út cụ Hải Như) gửi tới, vô cùng xúc động, nước mắt tràn mi. Theo
di nguyện của bác Thuận, tôi chờ vietnamnet đăng rồi mới tải lại, hoặc nếu họ
không đăng thì tôi đăng trên blog của mình. (Vì nếu tôi đăng trước, họ sẽ không
đăng).
Tác phẩm còn đây, tác giả đã thành
người thiên cổ. Sao vội bấy, bác Thuận ơi!
*
Ông trời thật trớ trêu: Những đứa bạc
ác vô nhân thường sống dai như cỏ, người tốt lại hay gặp nạn. Nhưng kẻ bạc ác
dù chúng đang sống đấy, người đời cũng coi như chúng đã chết. Người tốt dù mất
rồi vẫn còn sống mãi trong lòng bạn bè, người thân…
Sao vội bấy, bác Thuận ơi!
Sao vội bấy, bác Thuận ơi!
Thành Nam, 9 – 2013
TRƯƠNG XƯƠNG HỒN THƠ VẪN NGÁT HƯƠNG RỪNG
(Hương
rừng: Thơ / Trương Xương. – H.: Hội Nhà văn, 2005)
Trương Xương là một trong số không
nhiều các tác giả thơ ở Nam Định được bạn đọc, nhất là bạn đọc nhỏ tuổi yêu
thích. Thơ Trương Xương không cầu kỳ, không ồn ào mà cứ lặng lẽ toả hương từ
chính tấm lòng, cốt cách của một nhà giáo lâu năm và tâm hồn nghệ sĩ thực thụ.
Thơ cho trẻ em với tấm lòng thương yêu chan chứa, thơ trữ tình cho người lớn
chân chất, mộc mạc, giản dị, đằm thắm là hai mảng chính trong sáng tác của ông.
Ông đã gặt hái được những thành công ở cả thơ cho trẻ em và thơ trữ tình.
Trương Xương sinh ngày 6 – 3 – 1937
tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, trú tại 28N Ô17 phường Hạ
Long, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông từng được chọn đi học ở Khu học xá
Trung Quốc, về công tác trong ngành giáo dục tỉnh Hà Nam. Sau đó ông lại được cử
đi học Khoa Tâm lý giáo dục và Khoa Hoá Trường đại học Sư phạm Hà Nội rồi về
công tác tại Khoa Đào tạo giáo viên cấp II của trường đặt ở Phủ Lý. Từ năm 1976
ông chuyển về công tác tại Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Nam
Định.
Ông có thơ in báo từ năm 1960, một
số tác phẩm được tuyển chọn in trong sách giáo khoa tiếng Việt, được kết nạp
vào Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định từ năm 1983, Hội Nhà văn Việt Nam từ năm
2000.
Tập thơ in sớm nhất của ông là Bầu
trời vắng tiếng chim (Nxb. Thanh niên, 1989) vừa ra đời đã được bạn đọc nhiệt
tình đón nhận và được Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật
Việt Nam trao Giải thưởng. Từ đó đến khi qua đời, ông không ngừng tích luỹ vốn
sống, miệt mài sáng tác, cống hiến cho đời nhiều tập thơ có giá trị như: Bắc
lên ngọn gió (Nxb. Kim Đồng, 1992), Quê núi (Nxb. Văn học, 1994), Hoa trái vườn
em (Nxb. Thanh niên, 1999), Nhành xuân (Nxb. Hội Nhà văn, 2006), Mắt bão (Hội
Nhà văn, 2010)…
Một số Giải thưởng thơ Trương Xương
được tặng đã phần nào khẳng định giá trị thơ ông: Giải thưởng thơ Báo Người
giáo viên nhân dân 1990, Giải thưởng thơ viết cho thiếu nhi của Trung ương Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam 1991, Giải thưởng thơ
viết cho thiếu nhi của Uỷ ban CSBVTE và Hội Nhà văn Việt Nam 1997, Giải thưởng
Văn học Nghệ thuật Nguyễn Khuyến 1990 của UBND tỉnh Hà Nam Ninh, Giải thưởng
Văn học Nghệ thuật Nguyễn Khuyến 1995 của UBND tỉnh Nam Hà, Giải thưởng thơ của
Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 1999…
Hương rừng (Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, 2005), tập thơ thứ năm của Trương Xương tràn trề cảm xúc, tình cảm yêu
nước, yêu cảnh vật quê hương, yêu người, thể hiện tấm lòng trung hiếu của một
nhà giáo, nhà thơ suốt một đời gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và
văn học nghệ thuật. Trong Hương rừng, địa danh của đất nước thường được nhắc
đến bằng tấm lòng trải rộng của nhà thơ, từ Đồng Văn, Cổng Trời, sông Vân, núi
Cốc, Kim Liên đến Mê Công, Trường Sa, Tháp Mười… Nhưng có lẽ nhiều hơn và sâu
nặng hơn là tấm lòng nhà thơ dành cho Nam Định, quê hương thứ hai của ông. Đề
tài về Nam Định, những tên đất, tên sông, tên người Nam Định thường xuyên xuất
hiện trong tập thơ, toát ra tình cảm thiết tha của tác giả.
Người từng lên ngọn sông Đào
Xuống mom sông Vị hay vào hàng Nâu
Bây giờ câu lục ở đâu
Để câu bát đợi bên cầu Đò Quan.
(Tìm người
mang dải lưng xanh)
Sông Đào, sông Vị, hàng Nâu, đò Quan
là những cái tên quen thuộc của Nam Định được nhắc đến trong bài thơ hết sức tự
nhiên, giản dị, chân thành, gieo vào lòng người đọc cảm giác lâng lâng, man
mác, ngọt ngào nghĩa tình với quê hương Nam Định. Chỉ đọc một lần tôi đã thuộc,
dường như những lời thơ của tác giả đã đi vào gan ruột của mình.
Nhớ lần nhà thơ Trường Xương điện
thoại cho tôi: “Tôi cứ băn khoăn chưa thật vừa ý với câu “Để câu bát đợi bên
cầu Đò Quan” nên tôi viết ra một vài câu khác thay thế câu này, ông nghe góp ý
cho tôi nên chọn câu nào nhé”. Rồi ông đọc liền hai ba câu thơ sửa lại… Tôi trả
lời ông: “Theo em, bác không nên sửa câu thơ đó nữa, vì câu đó đã đi vào lòng
bạn đọc rồi”… Ông bảo: “Ông nói vậy thì tôi yên tâm, không sửa nữa”.
Cả cuộc đời sống xa quê, trong ông
luôn canh cánh nỗi niềm nhớ về quê mẹ Ninh Bình:
Ngày đi thổn thức đầu đình
Mắt long lanh thế cho mình vấn vương
Ngọt bùi cay đắng chín phương
Vẫn canh cánh một nẻo đường sông Vân
(Trở lại sông Vân)
Trước việc chia tỉnh, Trương Xương
nặng một nỗi niềm với “nỗi lòng ngổn ngang” giằng níu tình cảm giữa người đi và
người ở:
Đi Hồng Phú, nhớ Đò Quan
Mấy mươi năm một giang san Nam Hà.
(Nỗi niềm chia tỉnh)
Tình yêu của Trương Xương trong
Hương rừng nhiều hơn cả là yêu người. Đọc Hương rừng, chúng ta bắt gặp một
Trương Xương không chỉ yêu thương con trẻ (thơ cho thiếu nhi được coi là sở
trường của ông) như trong một số tập thơ cho trẻ em trước đó, mà còn là tâm hồn
đa cảm, hồn hậu yêu thương con người, từ những người nổi tiếng như Lê – nin,
Trần Hưng Đạo, nhà thơ Đoàn Văn Cừ, bà Tú đến người thầy giáo cũ, ông Dần (một
người có công với cách mạng), người nuôi ong, bác sĩ… Bài thơ Mẹ của ông đã nói
hộ mỗi chúng ta tình yêu vô hạn đối với người mẹ đã khuất của mình:
Mệnh trời – mẹ đã đi xa
Cõi thăm thẳm với hồn cha vĩnh hằng
Mịt mùng chín ngọn suối băng
Đêm triền miên lạnh không trăng không đèn.
Qua thơ, Trương Xương không chỉ thể
hiện lòng thành kính, ngợi ca những danh nhân đất nước (Nguyễn Trãi, Trần Hưng
Đạo, Hồ Chí Minh…) mà còn phát hiện ra những vẻ đẹp thuần khiết ở những người
lao động. Ông hiểu người nuôi ong “mấy mươi năm đội nắng mưa, cùng ong đi suốt
những mùa hoa tươi” để “làm nên giọt mật sáng trong” cho đời, trong vị ngọt của
mật “còn có muôn giọt đắng trong đời con ong” – người nuôi ong.
Một lần Trường Xương bị bệnh thập tử
nhất sinh được các bác sĩ hết lòng cứu chữa, ông cảm kích gọi bác sĩ là “người
trồng cây hạnh phúc”. Ông phát hiện ra người bác sĩ không chỉ đẹp “tà áo trắng
– lương y như từ mẫu” cứu người bệnh mà còn đẹp về nhân cách, về những hành
động cao cả rộng lớn hơn là góp phần đấu tranh vun trồng hạnh phúc cho mọi
người:
Chẳng cầu mong bia đá tượng đồng
Chỉ thầm lặng vun trồng cây hạnh phúc
Giữa đời thường khơi trong gạn đục
Bình dị khiêm nhường – người thầy
thuốc của nhân dân!
Tình yêu thương con người của Trương
Xương còn dành cho cả “người dưng” tình cờ gặp trên một chuyến xe. “Nép nhường
nhau nửa chỗ thôi” mà rồi “bâng khuâng…”, mà để lại nhớ nhung đến ngẩn ngơ khi
“người về… đột ngột xe vơi”. Cái khoảnh khắc xao động – cảm xúc đẹp khi gặp một
người không quen ấy hẳn ai cũng gặp ít là một lần trong đời. Trương Xương đã
ghi lại cái cảm xúc đẹp ấy bằng những câu lục bát mượt mà, giản dị, tinh tế,
lay động tâm hồn người đọc.
Thơ Trương Xương không cách tân hình
thức cầu kỳ. Cái mới trong thơ Trương Xương ở chính cảm xúc trẻ trung, chân
thật và ở cách diễn đạt trong sáng, tứ thơ, hình ảnh sáng tạo (“Nỗi gian truân
đời mẹ / Như khắc vào hương quê”, “Chùm hoa thơm níu sao rơi / Mắt em với ánh
sao trời lung linh” ). Sở trường của Trương Xương trong Hương rừng là thể thơ
lục bát. Những câu lục bát nhuần nhị, mượt mà, giàu nhạc điệu, sử dụng tiểu đối
khá khéo léo có khá nhiều trong Hương rừng, đem lại cho người đọc cảm xúc thẩm
mỹ dạt dào:
- Ngỡ mình đứng trước đại dương
Mắt xao xuyến mắt, lòng vương vấn lòng.
- Thân quen đường xuống Vĩnh Yên
Nẻo sang Thác Bạc, lối lên Thạch Bàn.
- Thương ngọn đèn, xót mảnh trăng
Người quen mà lại chẳng bằng người dưng.
- Tài thao lược, sách nhu cương
Có đường tiêu diệt, sau đường răn đe.
Đầu năm 2009 Trương Xương hỏi tôi
Hương rừng của ông thế nào, tôi nói rằng bút lực trong Hương rừng của ông không
hề giảm sút. Vậy mà tháng tư năm đó ông phải vào viện rồi đột ngột về trời, để
lại cho bạn văn, bạn đọc niềm tiếc thương vô hạn. Cho đến những ngày cuối cùng,
ông vẫn đau đáu những suy tư đóng góp ý kiến xây dựng Hội Văn học Nghệ thuật
địa phương.
Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu có tên
tuổi mến mộ thơ ông và công nhận tâm và tài của ông như Nhà thơ Đoàn Văn Cừ,
Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt… thể hiện qua những bút tích thơ ca đề tặng ông. Bài
Ngày xuân còn mãi của Nhà thơ Đoàn Văn Cừ tặng Trương Xương tuy ngắn mà hàm
chứa bao ý tình khắc hoạ chân dung Trương Xương thật rõ nét, đã thể hiện tấm
lòng người đọc yêu quý nhà thơ:
Óc tim rèn giũa chuốt mài
Đúc thành châu ngọc tặng người tri âm
Ngai vàng bệ ngọc phù vân
Văn chương trung hiếu ngàn xuân mãi còn!
Chắc hẳn thơ Trương Xương còn âm
vang mãi trong lòng bạn đọc.
……………………
Nguồn:
Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình. – 2011. - Số Tết.
XUÂN TRÌNH – TÁC GIẢ KỊCH TÀI NĂNG
(1936
– 1991)
Xuân Trình tên thật là Nguyễn Xuân Trình, sinh ngày 6
- 1 - 1936, quê thôn Lỗ Xá, xã Yên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Xuân Trình tham gia kháng chiến từ năm 1952, công tác
trong Đội cầu đường Việt Bắc. Năm 1954 ông được cử vào công tác trong đội cải
cách ruộng đất. Năm 1955 ông làm biên tập viên Đài tiếng nói Việt Nam, đồng
thời theo học khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1961 ông chuyển về
công tác ở Tạp chí Văn nghệ. Năm 1963 ông sang công tác tại Tuần báo Văn nghệ,
phụ trách phần văn xuôi, sau đó lại chuyển công tác về Hội Nghệ sĩ Sân khấu
Việt Nam. Từ năm 1983 ông làm Phó Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam,
Giám đốc Nhà xuất bản Sân khấu, Tổng biên tập Tạp chí Sân khấu.
Xuân Trình là nhà báo, nhà văn, nhà viết kịch. Từ viết
báo, viết văn, ông chuyển hẳn sang viết kịch và nhanh chóng trở thành một trong
những tác giả kịch xuất sắc nhất của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Ông là
điển hình của một cán bộ sáng tác xã hội chủ nghĩa. Những sáng tác của ông đều
lấy chất liệu từ những chuyến đi thực tế và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị
trong từng giai đoạn của đất nước. Nhân vật trong kịch của ông thường mang dáng
dấp của những khái niệm nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc cho người xem. Ai đã
xem một lần vở hài kịch trữ tình “Mùa hè ở biển” của Xuân Trình (do Đoàn kịch
nói Nam Hà biểu diễn) thì không thể nào quên hình tượng Đoàn Xoa, một điển hình
sống động và chân thực về sự lạc hậu của con người trước yêu cầu đổi mới của
cuộc sống. Tính dự báo chính xác và táo bạo trong kịch Xuân Trình đã khẳng định
tài năng của tác giả, nhưng chính đặc điểm này đã gây cho ông nhiều trắc trở
trong cuộc sống. Vở “Lập xuân” (1970) thể hiện sự thay thế hệ giữa trẻ và già
diễn ra quyết liệt, cuối cùng thế hệ trẻ có tri thức đã thắng. Khi ra mắt công
chúng, vở kịch đã bị một số người lên án quyết liệt. Ngày nay một cán bộ trẻ có
trình độ chuyên môn, chính trị cao và đạo đức tốt được giao những cương vị chủ
chốt trong guồng máy quản lý xã hội là việc đương nhiên, nhưng vào những năm
bảy mươi điều đó khó được dư luận xã hội chấp nhận. Vở “Bạch đàn liễu” (1973)
viết về cuộc vận động cải cách dân chủ, chống tệ nạn cường hào mới ở nông thôn
cũng bị dư luận lên án. Vở “Thời tiết ngày mai” (1980) viết về công cuộc tổ
chức lại sản xuất nhằm tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa đã bị nhà chức
trách địa phương đình diễn một thời gian dài cũng chính vì nó đã dự đoán khá
tinh tường về số phận con người.
Trong kịch Xuân Trình, nhiều vấn đề bức xúc của cuộc
sống được đặt ra và đã được chính tác giả giải quyết, nhưng vẫn còn những câu
hỏi nhức nhối đòi hỏi chúng ta phải trả lời: Một người tốt, có tác phong công
nghiệp trở nên cô đơn, lạc lõng giữa một tập thể lạc hậu (“Nghĩ về mình”), một
cuộc đời tận tuỵ hy sinh cho cách mạng nhưng khi về già phải gửi thân ở nhà trẻ
mồ côi (“Nửa ngày về chiều”), một hành động hồn nhiên thánh thiện bỗng thành
tai hoạ khi cái ác lộng hành trước mắt mọi người và pháp luật (“Tai hoạ hay rủi
ro”)... Nhưng nói chung, ngòi bút Xuân Trình nhạy bén, sắc sảo nắm bắt và thể
hiện kịp thời những vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Các kịch bản của ông thể
hiện đậm nét tính dự báo và tràn đầy chủ nghĩa nhân văn. Chỉ khi nào phát hiện
được vấn đề và lý giải được vấn đề, tác giả mới có thể có được tính dự báo
trong tác phẩm của mình. Ngay từ thời bao cấp nặng nề, chuyện khoán sản phẩm
còn phải làm “chui”, Xuân Trình đã nhìn thấy tương lai và mạnh dạn khẳng định
một cơ chế khoán sản phẩm trong sản xuất tất yếu phải diễn ra. Cái không khí
ngột ngạt, bức bối trong “Lập xuân”, “Xóm vắng” là dấu hiệu sự thay đổi tất yếu
của “Thời tiết ngày mai”, để vươn tới sự đổi mới phóng khoáng hơn, tầm nhìn và
lòng người rộng mở hơn như “Mùa hè ở biển”.
Kịch Xuân Trình thuyết phục người xem không chỉ ở tính
dự báo chính xác mà còn ở tính chân thực và lòng nhân hậu. Thông qua các nhân
vật điển hình, ông gửi gắm vào kịch bản tình cảm của mình và kêu gọi mọi người
hãy đề cao tính nhân văn cộng sản cao đẹp. Kịch Xuân Trình không những thừa
nhận và nâng cao giá trị của con người mà còn chủ trương và thể hiện tính chiến
đấu nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, đưa con người đến chỗ thắng được
tự nhiên và làm chủ vận mệnh của mình. Kịch Xuân Trình giàu chất văn học nên bạn
đọc chỉ cần đọc kịch bản đã thấy hay và bị lôi cuốn. Chính vì thế mà kịch Xuân
Trình một thời được khán giả háo hức chờ đón và đã để lại dấu ấn đậm đặc trong
nền sân khấu hiện đại Việt Nam.
Ngày 8 - 12 - 1991 Xuân Trình mất, một ngôi sao sáng
trên bầu trời sân khấu hiện đại Việt Nam đã tắt. Trước khi mất, trên giường
bệnh, Xuân Trình vẫn đau đáu vì nước vì dân: Ông đọc cho một người bạn ghi chép
bức thư gửi Tổng Bí thư Đỗ Mười đề đạt ý kiến của mình về việc sử dụng những
người có thực tài trong công tác văn hoá. Ông thực xứng đáng với dòng chữ “Vĩnh
biệt một tài năng lớn” trên vòng hoa viếng của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Nguyễn Khánh ngày ông vĩnh biệt chúng ta.
………………..
Nguồn: Văn
hoá Nam Định. – 2001. – Số 2. – Tr. 30.
HOÀNG DƯƠNG CHƯƠNG
NGƯỜI GIỮ LỬA TÌNH YÊU VỚI SÁCH
Năm
1982 tôi chuyển ngành về Thư viện tổng hợp tỉnh Hà Nam Ninh, công tác dưới quyền
anh Hoàng Dương Chương gần ba chục năm, cho đến khi nghỉ hưu. Chúng tôi yêu
quý, kính trọng anh không chỉ vì anh là một thương binh giàu nghị lực, một giám
đốc có năng lực, mà còn vì anh là một cán bộ nghiên cứu khoa học nghiêm túc và
có tâm huyết với nghề.
Hoàng
Dương Chương sinh năm 1943 tại xã Mai Xá, thành phố Nam Định. Từ nhỏ anh đã
chăm chỉ học tập và luôn là học sinh giỏi. Năm 1960 anh thi đỗ vào trường cấp 3
Lê Hồng Phong - Nam Định, một trường chuyên nổi tiếng của cả nước. Tốt nghiệp cấp
3, với lý lịch gia đình cán bộ cách mạng, tương lai được đi học nước ngoài mở rộng
đối với anh, nhưng anh đã chọn con đường đầy gian khổ mà vinh quang. Năm 1963,
anh tình nguyện nhập ngũ, làm thuỷ thủ tầu tuần tiễu T122 khu tuần phòng I Hải
quân nhân dân Việt Nam. Do có ý thức kỷ luật và tích cực rèn luyện, anh được
tuyển về đơn vị huấn luyện quân đặc biệt tinh nhuệ. Sau khoá huấn luyện, anh về
đơn vị đặc công nước và vào Nam chiến đấu. Anh cùng đơn vị Đội 1 Đoàn 10 đặc
khu Rừng Sác đã đánh chìm, đánh cháy nhiều tàu chiến Mỹ - nguỵ trên vùng sông
Lòng Tàu và Xoài Rạp ở cửa ngõ cảng Sài Gòn. Anh đã được tặng thưởng Huân
chương chiến công giải phóng hạng Ba và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt
tàu chiến.
Năm
1966, một lần đi trinh sát địch ở sông Lòng Tàu để chuẩn bị cho trận đánh lớn,
xuồng của anh bị biệt kích Mỹ bắn chìm. Tuy bị thương anh vẫn cố sức bơi trên
10 cây số về báo cho đơn vị. Lúc bơi qua Rạch Chàm, anh bị cá sấu cắn ngang thân.
Anh bình tĩnh dùng tay móc mắt cá sấu, rút dao găm đâm vào mũi cá sấu, làm nó
phải nhả anh ra. Anh dùng lựu đạn tống vào miệng cá tiêu diệt nó. Thoát chết,
nhưng vết thương chảy nhiều máu làm anh ngất đi. Tỉnh lại, anh đã kịp báo cho
đoàn thuyền chở 7 trái thuỷ lôi về nơi cất dấu an toàn. Sau chiến công này, anh
được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt cá sấu. Cảm phục tinh thần dũng cảm, mưu trí,
khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của anh, nhiều nhà báo đã viết bài ca
ngợi. Một nhà văn đã viết truyện "Dũng sĩ diệt cá sấu". Cuốn
sách được hàng ngàn bạn đọc nhỏ tuổi đón đọc say mê.
Lần
thứ ba bị thương do đạn pháo địch bắn hỏng chân, anh được đưa ra miền Bắc điều
trị. Năm 1972, sau khi vết thương lành, anh đã dự thi tuyển vào đại học và được
cử đi học tại Liên Xô. Năm 1977 anh tốt nghiệp đại học thư viện. Cũng năm đó
anh được nhận Giải nhì nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên thành phố Khác Cốp.
Về nước, anh công tác tại Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Từ một thủ thư ngoại văn,
anh được đề bạt Phó Giám đốc, rồi Giám đốc Thư viện tỉnh Nam Hà, nay là Nam Định.
Anh luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Anh bộ đội Cụ
Hồ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Khi là thủ thư ngoại văn, anh cần
mẫn làm việc với tinh thần "Tất vả vì bạn đọc". Lúc tham gia giảng dạy
chuyên môn ở Trường Văn hoá Nghệ thuật tỉnh và các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thư
viện, anh dồn hết tâm huyết vào bài giảng để truyền thụ kiến thức nhiều nhất
cho học sinh. Anh là một cán bộ quản lý có công đem lại thành tích cho đơn vị.
Khi ngành thư viện tổ chức xếp hạng, Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh là một trong tám
tỉnh đầu tiên trong cả nước được xếp hạng hai. Hai năm liền (1987 - 1988) Thư
viện Hà Nam Ninh được công nhận là thư viện cấp tỉnh mạnh nhất toàn quốc. Anh
thông thạo tiếng Nga, có bằng B tiếng Anh. Dù tuổi cao, anh vẫn không ngừng học
tập nâng cao trình độ. Anh tham gia lớp học Hán - Nôm của Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh do thày Trương Đình Nguyên (đại học sư phạm Hà Nội) dạy. Năm 1996 anh bảo
vệ thành công luận văn Thạc sĩ thư viện.
Hai
mặt công tác nổi nhất của Thư viện tỉnh Nam Định trong hai thời kỳ là tổ chức
phong trào đọc sách báo, xây dựng thư viện cơ sở (1980 – 1990) và công tác địa
chí những năm (1990 - 2005). Hai mặt công tác này đều được Bộ Văn hoá cấp Bằng
khen cho tập thể và cá nhân.
Vào
những năm 80, phương tiện đi cơ sở của chúng tôi chủ yếu là xe đạp. Là cán bộ
chuyên trách công tác phong trào, tôi thường xuyên phải đi cơ sở, có lần ở cơ sở
hai, ba tháng liền. Mặc dù là Phó Giám đốc, anh Hoàng Dương Chương vẫn thường
xuyên cùng chúng tôi đi về tận các xã xa nhất ở các huyện Duy Tiên, Kim Bảng
(Hà Nam), Hoàng Long, Gia Viễn (Ninh Bình), Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định)... Bằng
chiếc xe đạp đua đưa từ Liên Xô về, anh đi khắp các xã trong tỉnh. Lần đi xã ở
Hoàng Long xa tới 60 km dưới trời nắng gắt, chúng tôi lo là cái chân bị thương
của anh thường rất đau khi trái gió trở trời sẽ làm anh không theo được chúng
tôi. Thật không ngờ, chính anh lại là người động viên chúng tôi cố gắng để đến đích
kịp vào buổi trưa như đã hẹn với cơ sở. Thời gian này Hà Nam Ninh xây dựng được
tới 105 thư viện xã đạt tiêu chuẩn quy định và hoạt động thường xuyên. Những
thư viện cơ sở đã có tiếng là mạnh và được nhiều cấp khen như Khánh Phú (Tam Điệp),
Hải Phú (Hải Hậu), Trác Bút (Duy Tiên)... đều có sự chỉ đạo trực tiếp và đóng
góp công sức của anh. Song song với xây dựng phong trào thư viện cơ sở, anh
cũng rất cố gắng trong việc xây dựng thư viện điển hình như thư viện huyện Lý
Nhân, Thư viện huyện Hải Hậu. Đến nay hai thư viện này vẫn là những điểm sáng
được đánh giá cao trong hệ thống thư viện công cộng. Công tác tổ chức phong
trào đọc cũng được đẩy mạnh. Anh đã mời nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà
lý luận phê bình, nhà khoa học về nói chuyện chuyên đề với bạn đọc tại thư viện
tỉnh và một số địa phương. Khi Ban giám đốc có chủ trương tổ chức các hội thi
tuyên truyền giới thiệu sách, anh đưa cán bộ đi học tập các đơn vị đã làm tốt
công tác này như Thanh Hoá, Hải Phòng... Anh bám sát cơ sở, tập huấn, bồi dưỡng
diễn giả. Các năm 1985, 1986, 1988 Hà Nam Ninh tổ chức liền ba Hội thi giới thiệu
sách đạt kết quả lớn, góp phần đưa Thư viện tỉnh nhà lên vị trí "con chim
đầu đàn của các thư viện tỉnh ở miền Bắc". Hội thi giới thiệu sách Hà Nam
Ninh năm 1988 đã được đón Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Lê Thành Công về dự.
Những
năm 90, Hà Nam Ninh biến động, chia thành hai tỉnh Ninh Bình và Nam Hà, rồi Nam
Hà lại chia thành Hà Nam và Nam Định. Cùng với việc chia tỉnh, thư viện tỉnh
cũng biến động rất lớn. Trên cương vị Giám đốc, anh Hoàng Dương Chương đã lãnh
đạo Thư viện tỉnh Nam Định nhanh chóng ổn định, duy trì hoạt động thường xuyên.
Tổng số bạn đọc của thư viện vẫn đảm bảo 2000, rồi tăng dần đến 2500. Anh chú
trọng đẩy mạnh công tác phục vụ, đặc biệt quan tâm đến công tác địa chí. Khi nhận
nhiệm vụ làm công tác địa chí, tôi rất lo vì công tác này đòi hỏi cán bộ phải
có hiểu biết sâu sắc về địa phương và có trình độ mới có kết quả tốt. Lại chính
anh Hoàng Dương Chương là chỗ dựa tinh thần của tôi. Anh động viên, gợi ý cách
làm, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ. Hơn thế nữa, anh còn trực tiếp làm công tác
địa chí. Anh đến nhiều cơ quan, đơn vị
và những nhà nghiên cứu địa phương để sưu tầm tài liệu địa chí. Nhiều cuốn
sách địa chí cơ bản, hạt nhân của đất Nam Định được bổ sung cho kho địa chí là
do anh bỏ tiền cá nhân ra mua, như các cuốn: Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục
của Nguyễn On Ngọc, Nam Định tỉnh chí của Ngô Giáp Dậu, Tân biên Nam
Định tỉnh địa dư chí lược của Khiếu Năng Tĩnh, Trà Lũ xã chí của Lê
Văn Nhưng. Nhiều văn bia, thần phả, ngọc phả và các bản hành trạng của các nhân
vật Nam Định cũng được anh sưu tầm về kho địa chí. Qua thực tế phục vụ, anh rút
ra nhận xét: Nguồn tư liệu địa chí thường tản mát trong nhiều sách, nhiều nơi
khác nhau, bạn đọc nghiên cứu chuyên đề gặp rất nhiều khó khăn trong việc tra
tìm và mượn tài liệu, nhất là khi Nam Định chưa in được sách địa chí. Nếu chỉ dừng
lại ở việc biên soạn các thư mục địa chí truyền thống thì tác dụng của các bản
thư mục này mới chỉ đạt được yêu cầu gợi ý, chỉ chỗ. Anh chỉ đạo chúng tôi biên
soạn nhiều thư mục địa chí có nội dung vừa thông tin thư mục, vừa thông tin dữ
liệu. Các bản thư mục phục vụ các hội thảo khoa học và bạn đọc nói chung đã
phát huy hiệu quả cao như Anh hùng
dân tộc Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định (Thư mục phục vụ Hội thảo cấp
quốc gia về Trần Quốc Tuấn), Thánh Mẫu Liễu Hạnh và lễ hội Phủ Dày (Thư
mục phục vụ Hội thảo quốc gia về Phủ Dày), Văn Cao bậc tài danh thế kỷ, Tổng
Bí thư Trường Chinh (Thư mục nhân vật), Tác giả Nam Định được tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh (Thư mục danh nhân), Nam Định phòng chống ma tuý
(Thư mục chuyên đề)... Với sự chỉ đạo của anh, công tác địa chí của Thư viện tỉnh
Nam Định dần dần được khẳng định, kết quả phục vụ nâng lên rõ rệt. Hàng năm,
riêng số lượt bạn đọc nghiên cứu chuyên đề được phục vụ đã tới gần hai trăm người,
trong đó có cả người nước ngoài và nhiều sinh viên làm luận văn tốt nghiệp.
Trong dịp tổng kết công tác mười năm công tác địa chí toàn quốc (1990 - 2000),
anh đã được nhận Bằng khen của Bộ Văn hoá Thông tin về thành tích hoạt động địa
chí. Anh được một số bạn đọc tín nhiệm nhờ hướng dẫn tài liệu khi viết luận văn
tốt nghiệp hay sưu tầm tài liệu cho các đề tài nghiên cứu khoa học. Anh được mời
hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho sinh viên Khoa thư viện của trường Đại học
Văn hoá Hà Nội và Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn. Có hai luận văn đề
tài về Thư viện Nam Định và công tác địa chí ở Thư viện Nam Định do anh hướng dẫn
đã đạt loại xuất sắc.
Anh
luôn động viên chúng tôi phải vươn xa hơn những gì đã đạt được. Anh trực tiếp
viết bài nghiên cứu và giúp đỡ chúng tôi viết bài đăng báo, tạp chí tuyên truyền
cho thư viện. Anh đã có nhiều bài đăng trên Tập san Thư viện (Thư viện Quốc
gia), Thông tin thư viện phía Nam (Thư viện thành phố Hồ Chí Minh). Anh đã có
hàng trăm bài viết và công trình nghiên cứu về các lĩnh vực thư viện, lý luận
văn hoá, công tác địa chí được đăng trên các báo, tạp chí địa phương và trung
ương. Trên báo Nam Định đã đăng hàng loạt bài của anh trong chuyên mục “Nam Định,
mảnh đất - con người”. Trong hoạt động báo chí, anh được Chủ tịch Hội nhà báo
Việt Nam tặng Bằng khen. Anh nguyên là Phó rồi Trưởng bộ môn Nghiên cứu sưu tầm
của Hội Văn học Nghệ thật tỉnh, Uỷ viên Ban chấp hành khoá 6, Trưởng ban kiểm
tra Hội VHNT Nam Định, thư ký Hội đồng khoa học Sở Văn hoá Thông tin nên rất
quan tâm đến việc biên soạn sách địa chí. Anh chỉ đạo chúng tôi biên soạn thành
công các cuốn sách có nội dung địa chí, được dư luận bạn đọc đón nhận và hoan
nghênh như: Lược khảo tác gia văn học Nam Định (H.: Văn học, 1997), Tác
giả Hán Nôm Nam Định (Nam Định, 2000), Các nhà khoa bảng Nam Định
(Nam Định, 1999)... Công trình Địa danh Nam Định của anh được trích đăng
trên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (Bộ Văn hoá Thông tin), Tạp chí Xưa và Nay (Hội
Sử học), Tạp chí Văn hoá Nam Định. Công trình
Nam Định mảnh đất con người của anh được chọn biên tập làm chương
mở đầu cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định (H. : Chính trị Quốc gia,
2001). Anh còn tham gia một số công trình nghiên cứu cấp tỉnh và là đồng tác giả
của các cuốn: Văn hoá Nam Trực cội nguồn và phát triển (Nam Định: UBND,
Huyện uỷ, HĐND huyện Nam Trực, 2000), Danh nhân văn hoá Nam Định (Nam Định:
Sở Văn hoá Thông tin, 2000), Danh nhân Nam Định được nhận Giải thưởng Hồ Chí
Minh (Nam Định: Sở Văn hoá Thông tin, 2001), Địa danh thành Nam xưa & nay (H.: Thanh niên, 2021), Tiến sĩ Đặng Phi Hiển (H.: Hội nhà văn,
2009), Tiến sĩ Vũ Huy Trác (Nam Định:
Sở Văn hóa Thông tin, 2008), Đông A nhân
kiệt (H.: Quân đội, 2010)... Anh là chủ đề tài công trình nghiên cứu khoa học
cấp tỉnh Hệ thống đặc điểm của đội ngũ tác giả Hán - Nôm Nam Định từ thế kỷ
XI đến thế kỷ XX. Cho đến những ngày
cuối cùng trước khi nghỉ hưu, anh vẫn say mê làm việc để hoàn thành công trình
trước thời hạn. Tháng 8 - 2003 đề tài này đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu
xếp loại xuất sắc. Anh được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tặng Bằng khen
và Huy chương Vì sự nghiệp khoa học.
Những
sản phẩm tiêu biểu trên đây của anh là kết quả của quá trình lao động vất vả,
có trách nhiệm cao, lòng yêu nghề và tài năng của một cán bộ thư viện điển
hình. Tuổi đã cao nhưng tinh thần và sức làm việc của anh vẫn không hề giảm
sút. Anh thực sự là trụ cột của cơ quan, là đồng nghiệp gần gũi của chúng tôi.
Riêng tôi, cả hai thời kỳ nhận nhiệm vụ phụ trách mảng công tác phong trào và địa
chí ở Thư viện Nam Định đều may mắn được gắn bó với anh. Anh để lại dấu ấn sâu
sắc không chỉ ở riêng tôi, mà còn rất đậm nét trong nhiều người và trong một thời
kỳ lịch sử của Thư viện Nam Định. Khi còn cầm súng đánh giặc, anh đã được nhận
nhiều danh hiệu Dũng sĩ, Huy chương và Huân chương. Khi là chiến sĩ trên mặt trận
văn hoá, anh luôn được bầu là Chiến sĩ thi đua và được nhận nhiều Bằng khen của
Uỷ Ban nhân dân tỉnh, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ
khoa học công nghệ và môi trường, Bộ Văn hoá Thông tin và Bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ. Anh thật xứng đáng với nhứng phần thưởng mà Nhà nước trao tặng.
………………..
Nguồn: Tập san thư viện. - 1997. - Số 4. - Tr. 46 - 47.
NHÀ VĂN TRẦN THỊ NHẬT TÂN
Có lẽ bởi có nhiều điểm giống với nhà
văn Trần Thị Nhật Tân nên tôi yêu quý chị chăng. Tôi và chị cùng có thời gian
là bộ đội chống Mỹ (chị là lính thông tin chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng Thanh
Hoá, tôi là lính bộ binh chiến đấu ở Quảng Trị), cùng sinh hoạt trong Hội Văn
học Nghệ thuật tỉnh Nam Định (chị ở Bộ môn Văn, rồi vì tự thấy không thể ở Bộ
môn Văn được nên chị đã xin sang Bộ môn Thơ. Còn tôi ở Bộ môn Nghiên cứu Phê
bình), cùng được “đúc” từ một “lò” đào tạo là Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
(Tôi học chuyên ngành Thư viện học, chị học Khoa viết văn Nguyễn Du sau gọi là
Trường viết văn Nguyễn Du), cùng sống trong một thành phố (nhà chị cách nhà tôi
chưa đầy cây số), cùng có nhiều trắc trở trong đời thường (nhưng những trắc trở
của chị vượt xa những trắc trở của tôi), cùng có nhiều suy nghĩ trùng hợp về
công việc viết văn và về quan hệ ứng xử trong cuộc sống.
Tôi quen biết Trần Thị Nhật Tân từ năm
1983 sau khi tôi chuyển ngành về công tác tại Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh. Hồi
ấy, chị đang viết tiểu thuyết Dòng xoáy. Hàng ngày chị đến Thư viện tỉnh, ngồi
ở một góc khuất trong Phòng đọc để viết sách. Tối đến, chị đi làm thuê làm mướn
kiếm sống. Đêm đêm, chị ngủ nhờ khi ở chợ Rồng, lúc ở vỉa hè Nhà hát 3 – 2. Còn
gia đình tôi có 5 người, sống trong một nửa gian nhà tập thể chừng 8 mét vuông.
Sau giờ làm việc ở cơ quan, tôi tranh thủ lao động kiếm thêm mớ rau, bát gạo.
Đêm về tôi ngủ nhờ trên bàn làm việc. Tôi thường than vãn sao đời mình khổ thế.
Tuy khổ vậy, tôi vẫn còn có một gia đình và một túp lều che mưa nắng, chứ Nhật
Tân thì không. May thay, đời vẫn còn nhiều người tốt. Ông Phan Điền nguyên Bí
thư tỉnh uỷ Nam Hà, khi biết hoàn cảnh khốn khó của Nhật Tân, ông đã mời chị về
nghỉ tại nhà.
Lần
đầu làm quen chị, tôi hỏi: “Chị công tác ở đâu?” Chị cười mà trông như mếu:
“Tôi là giáo viên, nhưng hiện đã “mất dạy” rồi chú ạ!” Chị là giáo viên dạy văn
giỏi, nhưng dòng xoáy cuộc đời đã “hất văng” chị ra khỏi ngành giáo dục.
Dần
dần, chị trở thành người thân của gia đình tôi và nhiều gia đình khác trong khu
tập thể Thư viện tỉnh. Hai con tôi, đứa lớp ba, đứa lớp bảy, là những bạn đọc
đầu tiên được bác Nhật Tân cho đọc bản thảo Dòng xoáy. Cứ ngơi ra là các con
tôi lại quẩn quanh bên bác Nhật Tân chờ để được đọc bản thảo tiểu thuyết của
bác. Chúng đọc háo hức, khi thì khóc, khi thì cười tuỳ theo bước thăng trầm của
nhân vật Lý. Một hôm, con lớn tôi bảo: “Bố ơi! Tiểu thuyết của bác Nhật Tân hay
lắm bố ạ. Bác Tân bảo, bao giờ in thành sách, bác ấy tặng nhà ta. Nhưng mà bác
ấy nghèo lắm, bố cho tiền chúng con mua sách của bác ấy bố nhé!”. Tò mò, tôi
cũng xin chị cho đọc thử. Càng đọc, tôi càng bị cuốn hút vào nội dung tác phẩm.
Quả thật, lắm lúc tôi cũng không cầm lòng được trước cảnh éo le của nhân vật
Lý, thương nhân vật Lý, thương Nhật Tân. Khi tôi đọc xong bản thảo, Nhật Tân
hỏi: “Chú thấy chị viết được không? In được không?” Vốn tính thẳng thắn, tôi
bảo: “Nói thật, chị đừng giận, về nghệ thuật thì tiểu thuyết của chị không có
gì “ghê gớm” cả, cũng chỉ là tả thực, giọng kể hấp dẫn thôi. Nhưng về nội dung,
tính thời sự thì quả tiểu thuyết của chị thật là “ghê gớm”. Chị xoáy vào những
tiêu cực trong ngành giáo dục như vậy thì thật dũng cảm. Thời điểm hiện nay khó
có nhà xuất bản nào giám in Dòng xoáy. In ra, có khi tác giả phải đi tù chưa
biết chừng”. Chị trầm ngâm: “Chị biết. Đấu tranh chống tiêu cực sẽ không tránh
khỏi hy sinh mất mát, nhất là những người đi đầu. Nhưng không ai giám đi đầu
chịu hy sinh thì để tiêu cực nó làm loạn à?”
Thế
rôi, thời cơ để in Dòng xoáy cũng tới. Năm 1989, Dòng xoáy tập 1 được Nhà xuất
bản Thanh niên ấn hành đã tạo ra một cơn “địa chấn” trong dư luận bạn đọc Nam
Định. Dòng xoáy tập 2 cũng được Nhà xuất bản Thanh niên cho ra đời năm 1991. Từ
khi Dòng xoáy được xuất bản, Trần Thị Nhật Tân phải hứng chịu biết bao khốn khổ
cả về việc mưu sinh, cả về mặt tinh thần do những hành động “phản đòn” của
nhiều nguyên mẫu ở địa phương gây ra. Nhiều lần chị bị kẻ xấu dùng tiền mua
chuộc để thôi không đấu tranh chống tiêu cực, nhưng chị quyết không thoả hiệp.
Mua chuộc không được, họ quay ra thoá mạ, đe doạ chị bằng thư nặc danh. Có kẻ
còn trực tiếp doạ giết chị. Nhiều năm chị sống căng thẳng vì phải lo đối phó
với bọn người xấu, căng thẳng đến ốm mòn. Vậy mà chị vẫn hiên ngang đối đầu với
tiêu cực. Có lần nản thay cho chị, tôi bảo: “Hay là chị tập trung vào viết tiểu
thuyết, đừng mất thời gian vào việc chống tiêu cực đời thường nữa, nhất là đừng
dây vào bọn quan chức thoái hoá”. Chị bảo: “Nếu thế thì chị đâu còn là chị nữa.
Không đấu tranh trong thực tế thì chị viết làm sao được.”
Những
cố gắng của chị đã không uổng. Dòng xoáy được nhiều bạn đọc quan tâm tìm đọc.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ viết thư tay gửi chị mà còn hai lần mời
chị lên gặp để nghe chị nói về những việc cần làm ngay ở địa phương. Chị còn
được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp và động viên, khen ngợi về những hành động
dũng cảm chống tiêu cực, góp phần làm xã hội tốt đẹp.
Sau Dòng xoáy, Trần Thị Nhật Tân cho
ra đời các tiểu thuyết: Chân trời (Nxb. Quân đội nhân
dân, 2005), Tuổi thơ (Nxb. Thanh niên, 2011), Mây trắng (Nxb. Hội Nhà văn, 2015)…
Trần Thị Nhật Tân không chỉ viết tiểu thuyết, mà chị
còn viết thơ. Thơ chị khá hay, nhất là thơ cho thiếu nhi. Mơ chín (Nxb. Thanh
niên, 1995), Quả trăng (Nxb. Văn hoá Thông tin, 1996), Cuội thế kỷ 20 (Nxb.
Thanh Hoá, 1998) là ba tập thơ của chị với bút danh Tú Út. Sau đó chị trình
làng các tập thơ ký tên tác giả Trần Thị Nhật Tân như: Thỏ ngoan (Nxb. Thanh niên, 2007), Hồn lá: Thơ lục bát (Nxb. Hội Nhà văn, 2011), Cây đa làng (Nxb. Hội Nhà văn, 2012), Sóng xanh: Thơ (Nxb. Hội Nhà văn, 2019), Nhà em (Nxb. Hội Nhà văn, 2020), Ngựa bố
(Nxb. Hội Nhà văn, 2021)...
Đọc
thơ Trần Thị Nhật Tân, tôi nhận ra rất rõ “chất Nhật Tân” ở chất trữ tình pha
màu sắc dân gian, làm cho tiếng cười trong thơ chị tăng tác dụng làm lành mạnh
các quan hệ xã hội. Có thể coi bài Thân tằm của Nhật Tân đăng trên Lucbat.com
là ngôn chí của chị. Những suy nghĩ và hành động của chị đã luôn hướng vào thực
hiện tinh thần ngôn chí đó:
Tằm
tôi ăn lá dâu xanh
Âm
thầm rút ruột kéo thành sợi tơ
Nhảy
vào nước lửa khói mờ
Tằm xin được chết dâng tơ cho đời.
Mỗi
lần có sách được in, Nhật Tân lại tặng vợ chồng tôi. Lần chị đem tiểu thuyết
Chân trời mới xuất bản tặng tôi, kèm theo một lẵng những rau, bí, khế, ổi do
chính tay chị trồng. Chị bảo rau của chị là rau sạch, viết văn cũng phải viết
văn sạch. Trong khi chị hăng hái nói về chủ đề rau sạch, văn sạch, tôi mở lướt
Chân trời, ngạc nhiên vì bản thảo của chị hai phần (kháng chiến và cải cách
ruộng đất ở Nam Định) cả ngàn trang, mà sách lại chỉ in phần một. Hoá ra nhà
xuất bản in bao cấp toàn bộ cho tác giả, chi kinh phí chỉ đủ khả năng in một
phần. Thấy tôi tỏ ý tiếc rẻ vì phần hai không được in, chị bảo: “Được thế cũng
là mừng lắm rồi chú ạ.”
Năm 2009 nhà xuất bản Thanh niên bao
cấp tái bản Dòng xoáy. Sự kiện này lại tạo ra một cơn “địa chấn” mới trong dư
luận bạn đọc. Trên báo Thanh niên, báo Người cao tuổi xuất hiện hàng chục bài
viết về giá trị và tính thời sự của cuốn sách, về cuộc đời “ba chìm bảy nổi”
của tác giả. Hàng ngày chị nhận được hàng chục cú điện thoại, tin nhắn, thư từ
của bạn đọc động viên khen ngợi. Nhiều bạn đọc coi chị là tấm gương sáng về
tinh thần kiên cường dũng cảm đấu tranh vì quyền con người, vì một xã hội trong
sạch, tốt đẹp.
Nhìn
nhà văn Trần Thị Nhật Tân cứ ngày ngày âm thầm đi thực tế rồi viết, lại đi thực
tế rồi viết, viết như vắt kiệt chất xám và sức lực của mình mà lòng tôi trào
dâng niềm cảm phục. Quả thật tiểu thuyết của Nhật Tân ngồn ngộn chất liệu cuộc
sống, chân thực đến độ nhiều bạn đọc cứ quả quyết rằng tiểu thuyết của chị viết
về ông X, bà N ở địa phương mình, ở trường học của mình. Chị lấy những sự kiện
có thực trong đời sống, từ chính những trải nghiệm trong đời chị, từ tài liệu trong
các cơ quan lưu trữ của nhà nước, quân đội, công an làm chất liệu cho tiểu
thuyết của mình. Những sự việc có thật trong đời sống nhiều khi tự nó đã hấp
dẫn, chị chỉ cần sáng tạo chút ít là thành tác phẩm. Điều đó tăng tính hấp dẫn
người đọc, nhưng nếu tác giả non tay nghề là có thể biến tiểu thuyết của mình
thành bản ghi chép tư liệu. Thật may là chị được trang bị kiến thức từ Trường
Viết văn Nguyễn Du, tay nghề khá nên điều đó đã không xảy ra với tiểu thuyết
của chị.
Nhiều lần tôi xin ý kiến chị để viết
về chị, nhưng chị cứ lần khân “để chị xem đã”. Tôi biết chị không muốn tôi phải
hứng chịu những hệ luỵ không hay vì chị. Có lần chị bảo: “Chú là cây bút nghiên
cứu phê bình “trẻ” (chả là tôi mới vào Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định từ năm
2000) cần phải được yên thân mà viết. Chú không nên vì chị mà rầy rà với bọn
tiêu cực. Chú “bênh” chị, bọn nó không để cho yên đâu”. Khi đọc bài “Nhà nghiên
cứu lịch sử - văn hoá dân gian Lê Xuân Quang” của tôi trên báo Văn nghệ trẻ số
35+36 năm 2005, chị động viên: “Chú viết rất có hồn, có tình. Cố lên”. Ngày giỗ
đầu bác Lê Xuân Quang, chị ốm lử khử mà vẫn đòi tôi lai về quê thắp hương cho
bác. Bữa ấy, chị kể mãi về những kỷ niệm với nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang –
người bạn vong niên chí cốt của chị em tôi.
Có điều tôi không hiểu, trong khi dư luận
bạn đọc cả nước xôn xao về Dòng xoáy và về tác giả Nhật Tân, thì ở chính quê
hương các tác phẩm dự thi của chị đều bị loại ngay từ “vòng để xe”. Còn nhớ khi
Dòng xoáy ra đời, có người chụp cho chị là “bới lông tìm vết, vạch áo cho người
xem lưng, bôi xấu bộ mặt tỉnh văn hiến”. Tôi lại nghĩ, trái lại, bằng tính
chiến đấu và tính chân thật cao của Dòng xoáy, Trần Thị Nhật Tân đã góp phần
làm cho địa phương ngày một tốt đẹp hơn.
CÔ GIÁO NHÂN
HẬU
Đã có rất nhiều bài viết về nhà văn
Trần Thị Nhật Tân trên báo chí. Các tác giả tập trung khai thác về những thăng
trầm cuộc đời chị, về những tác phẩm của chị như “Dòng xoáy” (đã tái bản 7
lần), “Chân trời”, “Mây trắng”... Nói đến nhà văn Trần Thị Nhật Tân, bạn đọc
nghĩ ngay đến điển hình chống tiêu cực và cuộc đời ba chìm bảy nổi của chị.
Nhưng có một chi tiết, mấy chục năm qua chị dạy học từ thiện môn văn cho các
cháu ôn thi đại học, thì chưa nhà báo nào nói đến.
Nhà văn Trần Thị Nhật Tân nguyên là nhà
giáo bị “mất dạy” (như lời chị nói) từ sau vụ “Dòng xoáy” của chị ra đời. Những
phần tử tiêu cực bị nhà văn phanh phui đã sử dụng cả guồng máy chính quyền,
đoàn thể, hất văng chị ra ngoài lề xã hội, đe dọa và đầy ải chị sống trong cảnh
không nhà, không công ăn việc làm, lang thang bất định.
Bằng sự kiên trì phấn đấu chị đã vượt
lên hoàn cảnh khốn khổ của mình. Năm 1994 chị dành dụm mua được ngôi nhà lá lụp
xụp ở xã Lộc Hạ, thành phố Nam Định. Chị dùng ngôi nhà đó làm lớp dạy một số
cháu học sinh lớp 12 có hoàn cảnh khó khăn ôn thi đại học, không thu tiền học
phí. Chị dạy học từ thiện vì phần thương các cháu nhà nghèo hiếu học, phần để
đỡ nhớ nghề của mình. Ngay cả những ngày bị tai biến não, phải nằm liệt giường,
chị vẫn dạy văn các cháu ôn thi đại học. Điểm lại các cháu được chị dạy văn,
cháu nào cũng đỗ đại học. Nhiều cháu thi đại học, môn văn bị điểm liệt, trượt.
Năm sau học chị đã đạt điểm khá giỏi và đỗ đại học.
Việc nhà văn Trần Thị Nhật Tân dạy
học ban đầu cũng không được phụ huynh tin tưởng. Có phụ huynh mắng con: “Học lò
luyện thi mất mấy chục triệu còn trượt, nữa là học bà không thu tiền thì ăn
thua gì.” Nhưng thời gian và kết quả việc dạy ôn thi cho các cháu đã làm những
người không tin chị phải thay đổi nhận thức.
Cháu
Đàm Thị Bích Ngọc, ở cạnh nhà chị Tân, được nhà văn hướng dẫn đọc các tác phẩm
văn trong chương trình lớp 12, đọc “Tuổi thơ dòng xoáy” của nhà văn, cháu đã
viết bài “Gửi người gieo hạt giống tâm hồn” được đăng trên báo Pháp luật Việt
Nam số 50 ngày 19-2-2012. Cháu vừa tốt nghiệp Bác sĩ điều dưỡng, làm việc tại
Hà Nội.
Cháu
Trần Xuân Tùng, cùng xóm với nhà văn Nhật Tân, được nhà văn kèm học từ lớp 3
đến lớp 12. Tốt nghiệp đại học loại giỏi năm 2015 nhưng không xin được việc
làm. Nghe lời nhà văn Trần Thị Nhật Tân khuyên, cháu đã xin đi lao động ở Nhật.
Trước khi đi, cháu ôm chặt nhà văn: “Giờ cháu mới thấy tiếc. Giá cháu nghe lời
bà học tiếng Anh cho giỏi thì đâu đến nỗi khổ nhục. Bà cao tuổi, nhưng suy nghĩ
của bà lại rất hiện đại, rất trẻ. Sang Nhật, cháu sẽ cố học tiếng Anh, tiếng
Nhật thật giỏi bà ạ”.
Năm
nào cũng có dăm ba cháu theo học cô giáo Nhật Tân. Cháu nào đã học cô Nhật Tân,
điểm thi đại học môn văn cũng đều khá giỏi. Năm học 2010-2011, cháu Trần Thị
Oanh là con cô giáo Hải, bạn đồng nghiệp với nhà văn ở trường Trần Quốc Toản
ngày chị Tân còn chưa “mất dạy”, được nhà văn hướng dẫn ôn thi môn văn, đã đỗ
đại học, môn văn đạt 8,5 điểm. Cháu được cấp học bổng đi Ấn Độ. Mẹ cháu tặng cô
Nhật Tân cái xe đạp để cảm ơn.
Năm
2015-2016, cháu Trần Ngọc Ánh cùng tổ dân phố với nhà văn, rủ 5 bạn theo học bà
Tân. Kết quả cả 5 cháu đều đỗ đại học. Vở ghi bài giảng của cô giáo Nhật Tân
được mấy chục cháu ở Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong pho to tham khảo. Cháu
Trần Ngọc Anh có nguyện vọng theo nghiệp nhà văn như cô giáo Nhật Tân, mơ ước
trở thành tác giả kịch bản phim. Chị Tân hướng dẫn cháu viết kịch bản ngắn.
Cháu thi năng khiếu đỗ Đại học Điện ảnh. Cháu vừa gọi điện về khoe với cô Nhật
Tân: “Bà ơi, cháu được các thầy cô khen là giỏi nhất lớp. Cháu được nhà trường
chọn cho đi Sơn La, Mộc Châu quay phim bà ạ.”
Năm
vừa qua, nhà văn Nhật Tân dạy 11 cháu lớp 9 ôn thi vào lớp 10. Có cháu tâm sự:
“Bố mẹ cháu nghèo, chạy tiền học cho cháu rất vất vả. Mỗi năm học thêm cô giáo
mỗi môn hết cả chục triệu bạc. Nhưng cháu học bà thì bố mẹ lại lo cháu không
đỗ. Cháu nói với bố mẹ cháu là bà Tân dạy ngắn gọn, dễ hiểu, rất dễ hệ thống
kiến thức. Với lại bố mẹ đừng lo. Thi vào cấp 3 thì thầy cô giáo cấp 3 chấm bài
thi, chứ cô giáo con có chấm đâu.” Nhà
văn bảo: “Các cháu cố gắng học để đỗ vào cấp 3, nếu các cháu trượt thì chắc
chắn bà bị các phụ huynh chửi cho nhức óc”. Khi nghe tin cả 11 cháu đều đỗ, nhà
văn Nhật Tân mới thở phào nhẹ nhõm.
Nhà
văn Nhật Tân nói với tôi: “Nhờ dạy học từ thiện mà chị khỏi bại liệt đấy. Số là
con ông lang gia truyền dốt văn. Nghe tiếng chị dạy văn các cháu đều đỗ, ông
lang liền đưa con đến nhà nhờ chị kèm cho môn văn. Khi ấy là năm 2004, chị đang
kèm mấy cháu học ôn thi đại học. Thấy chị nằm dạy học, ông lang cắt cho chị 10
thang. Chị uống hết 10 thang thuốc thì bò dậy chống gậy đi lại được. Chị uống
liền một năm trời, mỗi ngày một thang, sức khỏe hồi phục, đi lại bình thường.
Dạy con ông lang không thu tiền, nhưng chị trả hết tiền thuốc của ông lang. Khi
con ông lang đỗ đại học, chị cho cháu tiền để tỏ lòng cảm ơn ông lang chữa cho
chị khỏi bại liệt.”
Nhớ
chuyện chị di chúc hiến tặng tài sản nhà đất cho Hội Văn học Nghệ Thuật Nam
Định mà không được toại nguyện, tôi lại càng thương chị. Nhìn người phụ nữ già
nua khắc khổ, nổi tiếng “đánh đấm” chống tiêu cực, mấy ai nghĩ nhà văn Nhật Tân
lại là người có tấm lòng nhân hậu rất đáng quý trong thời buổi đạo đức xuống
cấp như hiện nay. Việc chị lặng lẽ dạy không thu tiền cho các cháu hoàn cảnh
khó khăn ôn thi đại học là một minh chứng cho điều tôi nghĩ.
VƯỢT LÊN BỆNH TRỌNG
Nhà văn Trần Thị Nhật Tân bệnh trọng
từ năm 2000 đến nay vẫn kiên trì níu vào những vần thơ, trang văn để thắng bệnh
tật.
Viết xong tiểu thuyết “Chân trời” đề
tài chiến tranh nhân dân (Kỷ niệm sau lần Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mời gặp và
thực hiện lời khuyên của Đại tướng), nhà văn Nhật Tân bị tai biến não nằm liệt
giường. Nhờ thầy thuốc giỏi nhiệt tình cứu chữa, nhà văn đã chống gậy đi được,
rồi dần dần hồi phục.
Năm 2015 nhà văn lại bị u máu, phải đi
viện chữa trị thường xuyên, kéo dài đến 2017 vẫn không khỏi. Khối u ngày càng
lớn. Cuối cùng bệnh viện quyết định phẫu thuật. Hiện tại nhà văn lại bị một u
mới. Nhà văn kiên trì tích cực sắc thuốc uống theo hướng dẫn của thầy lang. Dù
bệnh tật, đau đớn, ngay cả khi phải nằm liệt, nhà văn vẫn duy trì việc dạy học
miễn phí bồi dưỡng các cháu nhà nghèo thi đại học. Trên bàn viết văn của Nhật
Tân có ghi bốn câu thơ tự động viên viết từ năm 2000:
Ốm
đau là việc của mày
Bút tao vẫn thẳng đường cày giấy thơm
Gieo
vần chọn chữ sớm hôm
Trồng cây tác phẩm hoa đơm bốn mùa.
Năm 2019, nhà văn viết bài thơ “Lao
động”:
Tuổi
cao bệnh trọng kệ mày
Luôn tay xới đất bút cày giấy thơm
Bốn
mùa quả ngọt hoa đơm
Trang văn bướm lượn rập rờn tiếng chim
Đất
lành già trẻ đi tìm
Chia vui câu chuyện nhấn chìm khổ đau
Nhật
Tân nghèo trở nên giàu
Giàu tình nhân ái phép màu bệnh xa.
Ở
tuổi 78, khi viết thơ cho trẻ nhỏ, nhà văn Nhật Tân vẫn giữ được tâm hồn trong
sáng của tuổi mầm non, tiểu học.
Trần Thị Nhật Tân sống độc thân. Ngày ngày nhà văn lao
động làm vườn phụ với đồng lương ít ỏi sinh sống, chăm chỉ viết văn in sách rồi
tự mình mang sách đi bán. Nhà văn Nhật Tân gò gẵng đạp xe đi khắp các trường
tiểu học trong thành phố, chầu chực gặp các hiệu trưởng chào bán tập thơ thiếu
nhi vừa in. Có lần tôi định bảo chị còn bao nhiêu sách thì bán cho em, nhưng
nhà văn vui như hội bảo: “Vui quá chú ơi! Hôm nay gặp được một số phụ huynh và
Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lộc Hạ, bán được gần hai chục cuốn. Sách đến tay
bạn đọc nhỏ tuổi thật mừng chú ạ!”. Ôi, mừng cho chị.
Trong mắt tôi, nhà văn Trần Thị Nhật
Tân là một nhà văn chân chính của công chúng, một nhà văn khác thường.
Khi tôi viết những dòng cuối cùng của bài
ký này thì được tin vui: Một số học trò cũ đang làm việc ở Đức đã quyên góp
tiền xây nhà mới bốn tầng cho cô giáo Trần Thị Nhật Tân. Tôi vội qua nhà chị
Tân xem thế nào thì thấy ngôi nhà cũ của chị đã bị phá. Thay vào đó là một nền
móng nhà mới đang hình thành. Không gặp chị, tôi vẫn nói thành lời: Mừng cho
chị.
Thành Nam, 8-3-2022
TMG
MỘT
VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐỒNG NGỌC HOA
(1946 – 2017)
Năm 2005 Đồng Ngọc Hoa vào tuổi sáu mươi mới nộp hồ sơ
và đơn xin gia nhập Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, bộ môn Nghiên cứu phê
bình, với vốn liếng tác phẩm là một tập hơn một trăm bài đăng báo trung ương và
địa phương. Năm ấy hội chưa ra quy chế không kết nạp người trên sáu mươi tuổi,
phải có hai tác phẩm sách xuất bản trên hai năm mới được kết nạp. Có nghĩa là
Đồng Ngọc Hoa vẫn đủ tiêu chuẩn vào hội. Nhưng khi đưa ra bộ môn xét thì kết
quả phiếu thuận không quá bán với lý do Đồng Ngọc Hoa chưa có sách. Tôi chưa
biết về Đồng Ngọc Hoa nên không dám ý kiến gì. Ý kiến phủ định chiếm ưu thế.
Đồng Ngọc Hoa trượt.
Thời gian này tôi còn làm Trưởng phòng
Địa chí Thư mục và phong trào Thư viện cơ sở. Công việc buộc tôi phải nắm rõ
những tác giả tác phẩm Nam Định từ xưa đến nay để thường xuyên bổ sung cho Thư
mục nhân vật Nam Định (đã in thành sách). Đồng Ngọc Hoa chưa có tên trong Thư
mục nhân vật Nam Định.
Năm 2006, một hôm Đồng Ngọc Hoa bất ngờ xuất hiện
trước cửa phòng làm việc của tôi. Đồng Ngọc Hoa dáng người thấp đậm, mặt trông
phúc hậu, thật thà, hơi “cũ”, nông dân. Sau khi nghe Đồng Ngọc Hoa tự giới
thiệu, tôi thầm nghĩ: “Chắc ông này tranh thủ xin phiếu mình đây.” Và tôi có ý
e dè cảnh giác. Nhưng sau cuộc tiếp xúc đầu tiên ấy, Đồng Ngọc Hoa không hề có
ý xin phiếu, mà ứng xử rất tự nhiên, chân thật, quý trọng tôi thực sự vì “đã
nghe nhiều tiếng tốt” về tôi. Cùng cảnh từ đại học nhập ngũ, tính thẳng, trung
thực, thấy chuyện bất bình không bỏ qua… Tôi linh cảm, Đồng Ngọc Hoa là người
chơi được, tương lai sẽ có những tác phẩm khẳng định mình. Cái linh cảm ban đầu
ấy đã không lừa tôi. Tôi và Đồng Ngọc Hoa trở thành bạn thân thiết, gắn bó
nhau, đồng cảm trong sáng tác cũng như trong đời sống.
Năm 2007, Bộ môn Nghiên cứu phê bình lại
bỏ phiếu xét kết nạp Đồng Ngọc Hoa. Trưởng bộ môn Hoàng Dương Chương phát biểu:
- Ngày trước, nhiều vị ngồi đây khi vào hội đã có tác
phẩm nào đâu. Sau khi vào hội rồi mới có tác phẩm…
Hoàng Dương Chương nói sự thật. Kết quả: phiếu thuận
quá bán, Đồng Ngọc Hoa trúng.
Đồng Ngọc Hoa nhanh chóng hòa mình vào sinh hoạt văn
học nghệ thuật và lịch sử. Sau khi vào hội mấy năm, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp
trình làng sáu bảy tác phẩm. Điểm sáng nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của ông
là những cuốn viết về lịch sử Phật giáo địa phương. Chợt nghĩ, tài năng Đồng
Ngọc Hoa phát tiết ra khi ông đã già, tôi viết mấy câu văn vần tặng ông như
sau:
Một thời mê mải việc quân
Viết
văn làm báo tuổi xuân trôi vèo
Cửa Thiền không - sắc lần theo
Hào
quang Phật sử một chiều thăng hoa.
Đồng Ngọc Hoa còn làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Khoa
học Lịch sử tỉnh, góp công sức tích cực cho hội này. Có lần tình cờ tôi biết
giá tiền chi cho làm số tập san của hội quá cao so với thực tế. Đồng Ngọc Hoa
bảo số sau sẽ nhận làm. Kết quả giá thành số tập san do Đồng Ngọc Hoa lo chỉ
bằng một phần tư số trước.
Lại có lần Đồng Ngọc Hoa vừa đến nhà tôi, chưa kịp
dựng xe đã bốc hỏa:
- Bực quá ông ạ. Tôi đưa ông vào danh
sách đề nghị tặng Kỷ niệm chương, nhưng ông chủ tịch gạch tên ông đi. So với
một số người được đề nghị, ông có nhiều tác phẩm hơn. Ngay như ông A đấy, có
tác phẩm nào riêng đâu, mấy tác phẩm nêu ra toàn là đồng tác giả. Mà mấy tác
phẩm làm căn cứ đề nghị tặng kỷ niệm chương cho ông A, ông cũng là đồng tác giả
nó mới hài chứ! Tôi áy náy với ông quá!
- Thôi buông xả cho vui nào. Danh hão rồi
chết đi là hết. Với lại họ đâu coi trọng tác phẩm. Họ coi trọng việc anh sinh
hoạt tổ chức góp gì cho hội, anh có làm cán bộ hội không… Thì hầu hết các vị
được tặng Kỷ niệm chương là trong Ban chấp hành đấy thôi.
Đồng Ngọc Hoa nghe tôi nói vậy mới dần
dần hạ hỏa.
Đồng Ngọc Hoa yêu cầu tôi gửi bài cho tập
san hội sử học. Tôi gửi bài viết Chân dung nhà nghiên cứu lịch sử Lê Xuân Quang
và bài phản biện về Người vẽ cờ Tổ quốc. Đồng Ngọc Hoa ủng hộ quan điểm làm sử
là phải trung thực, có chứng cứ. Nhưng Đồng Ngọc Hoa lăn tăn về bài phản biện
của tôi, liệu ban biên tập có dám ủng hộ không? Tôi bảo:
- Tôi tin là ông Chủ tịch Hội sử sẽ thích bài phản
biện của tôi. Ông ấy và tôi mấy lần cùng trong Ban nghiệm thu công trình nghiên
cứu khoa học của tỉnh. Nghe ông ấy nhận xét thẳng thắn, coi trọng sự thật,
không kiêng dè ai, tôi rất nể phục.
Đồng Ngọc Hoa bảo:
- Xưa nay Tuyên giáo và các tác giả căn cứ vào truyện
Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng, mặc nhiên công nhận trong sách báo rằng ông
Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc. Nay ông phản biện điều đó, chứng minh
ông Nguyễn Hữu Tiến không phải là người vẽ cờ. Tôi nghĩ các vị ấy sợ chết
khiếp, không dám động đến tuyên giáo đâu. Dù ông có chứng cứ xác đáng, họ chưa
chắc dám sử dụng. Cứ có chuyện động đến quyền lợi địa vị cá nhân họ thì mới
biết họ thế nào!
Một thời gian sau, Đồng Ngọc Hoa đến tôi, bất cần:
- Tôi đếch làm tập san nữa, để cho các vị
ấy làm. Các vị ấy muốn hất tôi ra để tự do thao túng. Rồi ông xem, giá thành
lại cao ngất, bài vở tuyền ca ngợi…
Quả nhiên, khi tập san ra mắt, hai bài
của tôi đã bị loại. Bài của Trịnh Thị Nga bảo tàng thành phố do chính tôi gửi
hộ lại bị gán tên tác giả cho người khác. Đúng là Đồng Ngọc Hoa có kinh nghiệm
sống hơn tôi. Tôi bảo:
- Tôi không bất ngờ về việc bài bị loại, mà tôi thất
vọng vì đã nhìn nhận nhầm về ông Chủ tịch. Tôi cứ ngỡ ông ấy là người trung
thực, coi trọng sự thật… Mà thôi, cho qua chuyện này đi ông ạ. Tổng biên tập
Văn Nhân vừa điện báo cho tôi rằng họ đăng bài phản biện của tôi trên Văn Nhân
số tới.
Đồng Ngọc Hoa bảo:
- Vậy tốt rồi! Tôi chỉ buồn vì hội chuyên ngành sử của
mình mà lại hèn đến vậy.
Đồng
Ngọc Hoa vốn trực tính nhưng hiền lành. Chỉ thân thiết lắm Đồng Ngọc Hoa mới xả
ra những buồn bực của mình như vậy.
Đồng Ngọc Hoa và tôi dự kiến in chung một
tuyển nghiên cứu chuyên đề. Nhưng ý tưởng không thành. Năm 2020, Đồng Ngọc Hoa
bất ngờ phát hiện ra mình bị bệnh ung thư. Tôi gửi email động viên Đồng Ngọc
Hoa:
Nghe tin bạn bị ung thư
Giật
mình hụt hẫng tưởng như sập giời
Tri âm đâu được mấy hồi
Niết
Bàn sao nỡ định đòi đón lên?
Biết là sống gửi nào quên
Mà
lòng tha thiết với duyên cõi trần
Ông, tôi mới thất bát tuần
Còn
hai ba chục cái xuân ở đời
Sống chung với bệnh ta cười
Kiên
gan bền chí như thời chiến binh
Mặc cho số kiếp xoay vần
Yêu
xuân quyết giữ lấy xuân đến cùng!
8h
ngày 1 – 5 - 2020
Chúng tôi đến thăm, Đồng Ngọc Hoa nắm tay
tôi rưng rưng. Mệnh trời khó chống, Đồng Ngọc Hoa ra đi vào ngày 13 – 6 – 2020.
Thỉnh thoảng giở xem lại ảnh Đồng Ngọc
Hoa cùng chúng tôi chụp kỷ niệm trong sinh hoạt bộ môn, đi quán ăn khao mừng
tác phẩm mới hoặc mừng giải thưởng, đi thăm thú bạn bè… tôi lại rưng rưng nhớ
người bạn thân thiết hiếm gặp trong đời.
Thành Nam, 20 – 5 - 2022
NHÀ VĂN TRẦN THỊ HẰNG
Trần Thị Hằng tên thật là Trần Thị
Nguyệt Hằng, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1947 tại xóm Đông Thành, xã Xuân Trung,
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tuổi ấu thơ của chị được nuôi dưỡng bằng tình
yêu sâu sắc của mẹ và tính nghiêm khắc của cha, một sĩ quan hải quân. Tâm hồn
chị thấm đẫm những câu hát ru, những chuyện kể của mẹ về truyền thống làng Trà
Lũ, một làng nổi tiếng nhiều giai thoại về văn và võ.
Năm
1969 chị nhận công tác ở Đài Phát thanh Hải Phòng (nay là Đài Phát thanh và
Truyền hình Hải Phòng) và gắn bó với nghề báo tới khi nghỉ hưu. Chị lần lượt
đảm nhiệm các công việc và chức vụ: Phóng viên Kinh tế - Văn hoá xã hội - Thời
sự Chính trị, Trưởng phòng chuyên đề, Phó ban kinh tế, Trưởng ban văn nghệ,
Trưởng ban văn xã thời sự chính trị. Hiện nay chị là Uỷ viên Ban chấp hành Hội
Nhà báo Hải Phòng, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Liên hiệp Văn
học Nghệ thuật Hải Phòng.
Hơn
ba mươi năm gắn bó với Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, bằng tài năng
và lòng yêu nghề, chị đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đài phát triển và
được đồng nghiệp quý mến. Trong cương vị một nhà báo, chị luôn bám sát thực tế,
dồn hết tâm huyết vào tác phẩm, phản ánh cuộc sống một cách chân thực. Các tác
phẩm của chị đã thể hiện thái độ khen chê rõ ràng, nhiệt tình ủng hộ cái tốt,
kiên quyết đấu tranh với cái tiêu cực. Những kẻ làm ăn bất chính bị chị phơi
bày trên công luận đã gây cho chị không ít phiền phức bằng những lời đe doạ,
những hành vi trả thù hèn hạ, mua chuộc tinh vi. Trước sự phản kích của cái
tiêu cực, chị vẫn vững vàng, dũng cảm, giữ trọn phẩm chất người làm báo. Chị
được dư luận đồng tình ủng hộ và khuyến khích. Các tác phẩm của chị liên tiếp
nhận được những giải thưởng của trung ương và địa phương: "Hợp tác xã Sông
Hương và những vấn đề của nghề thêu xuất khẩu" (Phóng sự điều tra) được
Giải nhì Báo chí toàn quốc năm 1983, "Đường vào của những con tàu"
(Phim tài liệu) đoạt Huy chương bạc trong Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm
1992, "Thấy gì nơi cửa ngõ thành phố" (Phóng sự điều tra) được nhận
Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1993, "Đằng sau những
hợp đồng kinh tế" (Phóng sự điều tra) được nhận Huy chương vàng Liên hoan
Truyền hình toàn quốc năm 1994, "Mùa xuân hát đúm cho em hẹn hò"
(Phim tài liệu) giành Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm
1998...
Không
chỉ thành công trong nghề làm báo, đặc biệt là phóng sự điều tra, mà chị còn
thành công trong cả sự nghiệp văn chương.
Tác phẩm đầu tiên của chị được in thành sách là kịch ngắn "Cứu
xe" (Nhà xuất bản Văn hoá, 1968).
Chị bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, lấy tiêu đề là
"Chúng tôi đang sống với nhau". Khi viết xong, chị hăm hở đem bản
thảo đến một số nhà xuất bản và... không được in. Mất bao công sức, thời gian
mà không thành công, chị không nản chí. Chị tự nhủ coi như đây là sự tập dượt
trong nghề văn. Chị lao vào công tác báo chí, dự các trại sáng tác để tăng vốn
sống và hiểu biết về lý luận văn học. Một số bút ký, truyện ngắn, bài viết của
chị được đăng trong báo, tạp chí trung ương và địa phương. Năm 1993 chị hoàn
thành bản thảo tiểu thuyết "Những người đàn ông đã gặp" và gửi Nhà
xuất bản Hải Phòng rồi chờ đợi trong lo âu, phấp phỏng. Không đầy ba tháng sau,
cuốn tiểu thuyết đã được xuất bản và phát hành rộng rãi. Tác giả được nhà xuất
bản bao cấp toàn bộ. Ngay sau đó, cuốn sách lại được nhận Giải nhì (Không có
Giải nhất) Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm thành phố Hải Phòng. Chị lấy
những người, những việc diễn ra ở làng Trà Lũ quê hương mà chị từng quen, từng
biết làm "chất liệu" cho tiểu thuyết của mình. Chị tâm sự: "Xuân
Trung, Xuân Trường là vùng trù phú, trên bến dưới thuyền, nhà thờ, chùa chiền
cổ kính. Thuở nhỏ vào dịp hè, tôi rất thích theo mẹ đi chợ phiên"... Có lẽ
tình yêu quê hương đã giúp chị viết thành công tiểu thuyết "Những người
đàn ông đã gặp". Tình yêu quê hương và lòng say mê nghiệp văn chương thôi
thúc chị viết tiếp tập hai với tiêu đề "Cây trầu không", nhà xuất bản
Hải Phòng in năm 2001. Vừa qua "Cây trầu không" của chị đã được nhận
Giải C của Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho thể loại tiểu thuyết.
Đã
nghỉ hưu, nhưng sức viết của chị không suy giảm. Chị thổ lộ: "Cuộc sống
riêng có niềm say mê làm báo, viết văn, thích đi, thích đọc, thích viết, điều
gì cũng muốn biết. Khi làm báo, ưu thế là thể loại bút ký và phóng sự điều tra
ở mảng kinh tế. Khi viết văn, biết rung động trước số phận không may mắn và
cả... câu nói, cái nhìn của người khác" (Nhà văn Hải Phòng chân dung và
tác phẩm). Dường như niềm đam mê nghiệp văn chương không cho chị nghỉ. Chị đang
tập trung viết tiểu thuyết "Sóng nhiễu" với lời tựa: "Đây là câu
chuyện có thật ở một đài truyền hình địa phương - Thật đến từng chi tiết. Nhưng
vì những lý do tế nhị tôi không đề tên thật mong bạn đọc thông cảm". Vốn
đã thành công khi lấy bản thân và những người xung quanh làm nguyên mẫu, coi trọng
tính chân thực lịch sử cụ thể, chắc chắn chị sẽ thành công trong "Sóng
nhiễu".
Vừa
đi trại sáng tác ở Tam Đảo về, chị hồ hởi báo tin cho tôi biết: "Hằng đang
chuyển thể hai tiểu thuyết "Những người đàn ông đã gặp" và "Cây
trầu không" sang kịch bản phim. Hy vọng cái làng quê nhỏ bé Xuân Trung,
Xuân Trường của chúng ta sẽ lên phim đấy. Đó còn là nỗi khát khao về những gì
muốn làm cho quê hương của Hằng".
Với
tài năng, niềm say mê nghệ thuật và tình yêu quê hương tha thiết của mình, nhà
văn Trần Thị Hằng sẽ còn thành công hơn nữa trong những tác phẩm sắp ra đời của
chị.
………………….
Nguồn: Văn hoá Nam Định. – 2003. – Số 4. – Tr. 39 –
40.
HỌA SĨ ĐẶNG SƠN
NAM
Bút danh: Đặng Sơn Nam, Nam Sơn, Đặng Nam.
Sinh năm 1949. Quê xã Mỹ Hưng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam
Định. Trình độ văn hóa 10/10. Trình độ chuyên môn: Cử nhân Văn hóa. Đảng viên
Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1983. Nguyên Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thông
tin và Thể thao thành phố Nam Định.
Hội
viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định từ năm 1984.
THÀNH TÍCH:
- Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.
- Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa.
- Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.
- ...
GIẢI
THƯỞNG:
- Huy chương Vàng thiết kế Mỹ thuật sân khấu Sở Văn
hóa Thông tin năm 1995.
- Giải Xuất sắc về Thiết kế Mỹ thuật cho đoàn Bưu điện
tỉnh tham gia Hội diễn ngành Bưu điện toàn quốc năm 1995.
TÁC
PHẨM CHÍNH:
- Máy tuốt lúa. - Đi vào vũ trụ. - Tháp Phổ minh. -
Bình minh. - Bác Hồ với thiếu nhi. - Trường tồn. - Tháng tám hội Cha. - Tháng
ba hội Mẹ.
“...Tôi với Đặng Sơn Nam cùng được
đào tạo từ Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nhưng ở hai chuyên ngành khác nhau:
Tôi theo chuyên ngành Thư viện học, Đặng Sơn Nam theo chuyên ngành Văn hóa quần
chúng. Loanh quanh thế nào tôi và anh
lại cùng công tác ở thành phố Nam Định. Tôi ở Thư viện tỉnh Nam Định, cách cơ
quan Trung tâm văn hóa, thông tin và thể thao thành phố Nam Định mà anh làm
Giám đốc chưa đầy 500 mét. Do yêu cầu công tác, thỉnh thoảng tôi lại sang bên
anh, khi cộng tác tổ chức hội thi giới thiệu sách, khi cùng tổ chức lớp tập
huấn nghiệp vụ cho cán bộ bưu điện xã và cơ sở... Nhớ lại thời ấy, trong tôi
vẫn sáng lung linh hình ảnh những cán bộ văn hóa cùng thời, những người sống
thật thiếu thốn vật chất, nhưng lại hết mình vì công việc. Trong số ấy, hình
ảnh anh Đặng Sơn Nam, với cương vị Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể
thao thành phố thật giản dị mà oai phong lắm. Bởi anh trực tiếp quản lý và điều
hành phần lớn số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện mọi nghiệp vụ văn hóa thông
tin thể thao của thành phố...
Nghiệp vụ được đào tạo của Đặng Sơn
Nam là quản lý văn hóa quần chúng. Tôi hay đùa: “Các bố Văn hóa quần chúng thì
cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết sâu về cái gì cả”. Nhưng Đặng Sơn Nam thì
khác, anh làm rất tốt nhiệm vụ thuộc chuyên ngành đào tạo của mình là quản lý
nhà văn hóa, bằng chứng là về văn hóa thông tin thể thao, thành phố Nam Định
thường xuyên là đơn vị xuất sắc trong tỉnh. Đặng Sơn Nam làm tôi ngạc nhiên và
kính nể, không phải vì anh làm tốt chuyên môn thuộc chuyên ngành được đào tạo,
điều đó tất nhiên và bình thường, mà ở chỗ anh kiêm thêm nghề tay trái là hội
họa và gặt hái được thành công đáng khích lệ. Khen thì anh khiêm tốn bảo: “Cũng
do yêu cầu công tác văn hóa đòi hỏi nên liều mà làm. Cũng chỉ là mấy tác phẩm
nghiệp dư thôi mà...” Nói rồi anh cười khơ khớ rất thoải mái, vô tư, chân
thành. Khi anh cười, lộ ra khoảng trống nơi hai cái răng cửa bị khuyết, nhìn
một lần khó mà quên được. Ở tuổi ngoài lục tuần, anh bị huyết áp cao rất nặng,
không giám đi xe máy, đi đâu phải nhờ người chở đi. Vậy mà anh chẳng chịu ngồi
yên ở nhà. Anh mong ngóng bạn văn đến chơi, rồi bám càng bạn đi thăm bè bạn. Ở
đâu có mặt anh, ở đó ăm ắp tràn trề tiếng cười vô tư của anh...
Anh có nhiều bài nghiên cứu về mỹ
thuật, văn hóa, lịch sử đăng trên báo và tạp chí như Văn Nhân, Văn hóa Thông
tin Nam Định... Mảng hội họa, anh có nhiều tranh minh họa, tranh châm biếm,
tranh mỹ thuật, tranh cổ động in trên báo trung ương và địa phương. Một số tranh
sơn dầu, lụa, bột màu và tranh cổ động của anh đã được tham gia triển lãm mỹ
thuật ở tỉnh, khu vực và toàn quốc. Nghỉ hưu rồi, anh vẫn cặm cụi vẽ bìa sách
cho bạn văn, mà bìa anh vẽ lại đẹp và ý nghĩa chứ. Dường như năm nào anh cũng
vẽ một tranh về hoa và con vật biểu tượng của năm đó. Anh bảo: “Vẽ để kỷ niệm
ghi dấu năm và để vui”...
Và quả thật, mỗi khi có anh, chúng
tôi quên đi những đắc thất ở đời, hòa chung không khí vui vẻ mà anh đem đến
cùng tiếng cười vô tư, chân thành và thoải mái...
Tôi trân trọng gọi anh là Họa sĩ Đặng
Sơn Nam”...
THƯƠNG NHỚ ANH TỐNG HIỂN
8h ngày 15 – 4 – 2015 tôi đến thăm
nhà văn Trần Quốc Tiến theo hẹn từ trước, chưa kịp nhắp môi chén rượu vang nhà
văn mời thì tiếng chuông điện thoại di động vang lên trong túi áo ngực.
- Hạnh à! Có việc gì thế cháu?
- Bác ơi!... Bố... Bố cháu... mất...
rồi!...
Tiếng cháu Hạnh, con gái thứ ba của
nhà nghiên cứu Tống Hiển, nghẹn ngào.
Dù đã chuẩn bị tâm lý từ trước đón
nhận tin này, mà sao tôi vẫn lặng người hụt hẫng. Xin phép nhà văn Trần Quốc
Tiến, tôi phóng về ngay nhà Tống Hiển.
Tống Hiển nằm trên giường, da tái
nhợt, mắt nhắm hờ, miệng như đang mủm mỉm cười, cái cười thường trực trong cuộc
sống hàng ngày của anh.
Tuần trước, tôi thăm Tống Hiển, thấy
anh đã mệt lắm, không ăn được, tiếng nói khào khào không rõ, phải dùng tay ra
hiệu. Tôi linh tính Hiển sắp đi rồi, nhưng không dám nói ra lời, chỉ nhắc các
cháu Hạnh, Hồng:
- Các cháu in nhanh tuyển thơ của bố
cho bố nhìn thấy bố mừng.
Trong đầu cứ luẩn quẩn ý nghĩ Hiển
sắp đi rồi, tôi lên mạng comments tin cho Nhà thơ – Nhạc sĩ Lê Huy Tập ở thành
phố Hồ Chí Minh.
Tôi vẫn cứ hy vọng Hiển sẽ kịp nhìn
tập thơ tuyển của mình do các con sưu tầm xuất bản. Vậy mà... Thôi rồi, Hiển
ơi!...
*
Tôi và vợ chồng Hiển quan hệ gần gũi
nhau từ lâu. Chanh, vợ Hiển, học đại học Thư viện khóa 7, vợ chồng tôi học khóa
6. Hơn hai chục năm vợ chồng tôi công tác ở Thư viện tỉnh Nam Định, thì Chanh
công tác ở Thư viện huyện Nghĩa Hưng, Tống Hiển công tác ở Phòng quản lý xuất
bản Sở Văn hóa Thông tin tỉnh. Hoàn cảnh công tác tạo điều kiện cho chúng tôi
càng gần gũi nhau hơn. Từ những năm 1985 – 1995 tôi thường đi công tác các
huyện, nhiều lần tổ chức lại Thư viện huyện Nghĩa Hưng, thường mỗi đợt hàng
tuần liền. Chanh nấu cơm ở nhà đón tôi về ăn cùng gia đình. Những ngày ấy đời
sống còn rất khó khăn. Năm mẹ con Chanh sống trong gian tập thể cơ quan, phòng
ở kiêm bếp nấu ăn. Bốn đứa trẻ lít nhít, đứa lớn bế đứa bé, trông như những hạt
mít. Con Hạnh, thằng Hùng bé nhất, lưng trần, quần đùi. Bọn trẻ rất ngoan. Sau
giờ làm việc, tôi thường chơi với bọn trẻ, dạy chúng bện gấp chim, tàu thủy.
Cuộc sống vất vả in lên khuôn mặt và thân hình bé nhỏ của Chanh dáng khắc khổ,
già trước tuổi.
Hơn chục năm nay, Hiển chuyển nhà ra
Ô 19 thuộc phường Hạ Long, thành phố Nam Định, ngay sau nhà tôi. Con cái Hiển
Chanh cũng đã trưởng thành. Con gái lớn dạy học ở Nghĩa Hùng, con gái thứ hai
làm phóng viên báo Nam Định, con thứ ba làm ở Thư viện tỉnh Nam Định, con trai
út là kỹ sư.
Ngỡ Chanh sẽ đến thời kỳ hưởng an
nhàn. Ai ngờ... Mổ cắt một bên thận được 18 năm thì Chanh mất. Vợ qua đời, Tống
Hiển suy sụp sức khỏe đến không gượng lại được. Nhớ hôm tiễn Chanh ra xe tang
về quê, tôi dìu Hiển đi được độ hai trăm mét thì Hiển mệt không thể đi được
nữa. Từ đận ấy, Hiển sống lắt lay, ngơ ngác đến khi qua đời, chỉ được 6 năm.
Cùng tuổi, nhưng tôi hơn Hiển ba
tháng nên Hiển thường gọi tôi là bác, xưng em. Cùng là lính chiến trường Quảng
Trị năm 1971 – 1973, cùng yêu văn học nghệ thuật, cùng được kết nạp vào Bộ môn
Nghiên cứu Phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh một đợt (năm 2000) nên tôi có
nhiều đồng cảm với Hiển. Hiển tốt nghiệp đại học ngữ văn chính quy. Làm nghiên
cứu nhưng tài thơ của Hiển lại khá trội.
Những năm Hiển công tác ở Sở Văn hóa
Thông tin, làm tạp chí Văn hóa và trực tiếp thẩm định tác phẩm để cơ quan cấp
lệnh xuất bản, khách khứa (phần đông là các tác giả) ra vào thăm Hiển dập dìu.
Tính Hiển thoải mái, chơi với tất cả các loại người, coi vị quan chức bình đẳng
với anh xích lô, tất cả đều là bạn! Những năm vợ con ở Nghĩa Hưng, Hiển sống
trong khu nhà làm việc của cơ quan. Hàng ngày Hiển ăn uống qua loa, thường khi
một hai chén rượu hoặc vại bia với mấy củ lạc, gói mì tôm là xong bữa. Có người
bảo Hiển sống lập dị.
Bên trong cái vẻ ngoài lập dị của
Hiển là một tâm hồn đa cảm, nhân ái và một tài năng văn học. Hàng trăm bài thơ,
bài nghiên cứu về văn hóa, văn học nghệ thuật đăng báo chí và in trong các
tuyển của Hiển ký những bút danh khác nhau đã chứng minh điều cảm nhận của tôi
là chính xác. Nhưng Hiển không thích khoe khoang tác phẩm của mình. Ngoài những
tuyển in chung, Hiển không in tác phẩm riêng. Mấy bận tôi đề nghị cho phép giới
thiệu tác phẩm của Hiển trên blog, đều bị Hiển từ chối.
Một lần, Hiển than phiền với tôi rằng
vừa bị anh Đỗ Đình Thọ - đồng nghiệp nguyên lãnh đạo phòng xuất bản của mình
mắng là “vừa là nhân viên đã gây khó cho thủ trưởng cũ”. Số là nhà nghiên cứu
Đỗ Đình Thọ gửi một tập bản thảo nghiên cứu xin lệnh xuất bản, trong đó có hai
bài viết về Nguyễn Khuyến và Vũ Hoàng Chương theo quan điểm trái ngược với quan
điểm của những người nghiên cứu xưa nay. Hiển đọc nhận xét kiểm duyệt đã loại
hai bài này vì nghĩ nếu để sẽ gây bất lợi lớn cho tác giả. Anh Đỗ Đình Thọ phản
đối quyết liệt, buộc Hiển phải điều đình bỏ một bài, để một bài. Do vậy, Hiển
cứ lăn tăn nghĩ ngợi, lo cuốn sách của anh Thọ có thể vì bài viết về Nguyễn
Khuyến mà trượt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh. Sau này, khi
sách ra đời đã bị dư luận bạn đọc phản đối, bị kiện lên Bộ Văn hóa về in bài
bôi nhọ danh nhân Nguyễn Khuyến. Hậu quả là sách bị cấm phát hành. Chuyện này
chứng minh Hiển có cái nhìn nhạy cảm chính trị.
Từ khi Hiển chuyển về ở cạnh nhà tôi,
chúng tôi có điều kiện gặp nhau hàng ngày. Tối tối, tôi và Hiển thường khoác vai
nhau ra quán bia chợ Hạ Long. Hiển uống vại bia. Tôi uống cốc nước ngọt. Chúng
tôi vừa nhâm nhi vừa bàn luận văn chương, kể chuyện tiếu lâm cả tiếng đồng hồ
mới chịu dìu nhau về. Hai thằng liêu xiêu nghiêng ngả trên đường. Mấy người bán
hàng quen mặt thường “Chào hai cụ nhà văn”. Thật là:
Một cốc bia vàng với khách thơ
Cung trời phiêu lãng gót nhởn nhơ...
Cũng lạ, thường Hiển chỉ cười mủm mỉm
khi giao tiếp với mọi người, mà với tôi, mỗi khi nói chuyện vui khoái chí, Hiển
cười thoải mái hết cỡ. Những lúc như thế, cả hai chúng tôi sống trong tâm trạng
vui thánh thiện, quên hết mọi sự khổ ải, thua thiệt ở đời. Trong một lần như
thế, khi Hiển vừa ngủ dậy, chưa kịp gấp màn, tôi đã mò sang tọa lên giường cùng
Hiển bù khú. Con Hạnh có chớp được một tấm hình của hai ông bố đang cười thoải
mái hết cỡ. Sau này tôi đưa tấm hình lên mạng, đặt tên là “Nụ cười tình bạn
già”. Tấm ảnh giờ đây là kỷ vật quý của chúng tôi. Nghĩ về những phút giây cùng
Hiển thăng hoa với men bia, men tình bạn, tôi bật ra mấy câu tặng Hiển:
Được thua, đen bạc quên quên hết
Thanh trọc, nhục vinh phớt phớt lờ
Thơ đẹp, bia nồng, người tri kỷ
Bồng lai tiên cảnh phải đâu mơ!
Lại nhớ những lần họp bộ môn nghiên
cứu phê bình, tôi thường ngồi cạnh Hiển. Thời ông Đỗ Đình Thọ làm trưởng bộ
môn, cứ sau họp là ông lại gọi bún chả lên tận phòng họp bồi dưỡng mỗi người
một bát. Hiển gắp hết thịt bỏ sang bát tôi. Hiển rụng hết răng hàm, không nhai
được thịt nướng.
Lại nhớ những lần hai thằng đến thăm
nhà nghiên cứu Trần Quang Vinh, nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang... Chủ cứ ép uống
rượu, mà tôi thì chịu, không uống được. Không uống được thì sợ... thất lễ với
chủ nhà. Hiển thường phải uống đỡ cho tôi. Rồi sau đó, tôi lại thường phải xốc
nách dìu Hiển, cùng nghiêng ngả, liêu xiêu trên đường về. Hiển vừa đi, vừa đọc
một câu thơ chợt nghĩ ra bằng chất giọng nhòe men rượu.
Không thể quên được lần bù khú cùng
Tống Hiển và Huy Tập. Tôi chủ yếu lắng nghe và nhập tâm chuyện hai bạn. Tống
Hiển và Huy Tập lần lượt kể giai thoại dân gian “Vô tư”, cười đến vỡ bụng. Sau
này, khi Huy Tập đã chuyển đi thành phố Hồ Chí Minh, còn Tống Hiển thì ốm dài
dài, trong tâm trạng nhớ Huy Tập, thương Tống Hiển, tôi chép lại chuyện đó đưa
lên trang blog, được mấy trang khác cóp hết về, chỉ trừ tên người kể.
Lại có lần... Lại có lần... Kỷ niệm về
Tống Hiển với tôi kể mãi không hết.
Vậy mà... Thôi rồi Hiển ơi!
Tập thơ của anh – “Hát với tình yêu”
do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2015. Anh đã ra đi không kịp nhìn đứa con
tinh thần của mình.
Khẩu đại bác thời gian cứ lạnh lùng,
tàn nhẫn nã đạn vào cánh văn nghệ sĩ chúng tôi. Chỉ hơn chục năm qua, những văn
nghệ sĩ Nam Định (chủ yếu là giới Nghiên cứu Phê bình) mà tôi kính trọng, thân
thiết lần lượt ra đi: Nguyễn Văn Huyền, Lê Xuân Quang, Trần Huy Thuận, Trương
Xương, Đỗ Huy Vinh, Đoàn Ngọc Phan... và vừa đây là Tống Hiển.
Anh Tống Hiển ơi, tôi nhớ mãi những
kỷ niệm với anh và bè bạn. Xin phép vong linh anh, tôi sẽ giới thiệu các tác
phẩm của anh trên mạng. Tôi nghĩ, điều đó rất nên.
Đêm 25 – 4 – 2015
TƯ
TƯỞNG TÌNH CẢM KHIẾU NĂNG TĨNH
QUA THƠ ÔNG
Khiếu Năng Tĩnh (1835 - 1920) quê xã
Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Khiếu Năng Tĩnh rất chăm chỉ
học tập và sớm bộc lộ trí thông minh, học giỏi. Khoa Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử
nhân. Khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 33(1880) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ
xuất thân. Khoa này ông đỗ Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội). Ông làm quan trải
các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội, thăng Quốc tử giám Tế tửu.
Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh là một học
giả uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng, tác gia Hán - Nôm tiêu biểu thời
cận đại. Sách địa phương chí của ông hiện còn đến nay là những tài liệu rất có
giá trị đối với bạn đọc nói chung và các nhà dân tộc học, nhà địa phương học,
nhà nghiên cứu lịch sử nói riêng như Đại
An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh chí, Quốc đô cổ kim chí, Thăng
Long chư thần ký, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Tiên phả dịch lục...
Là một nhà giáo nổi tiếng, chắc hẳn
Khiếu Năng Tĩnh có viết sách giáo khoa. Trong bài Ngôn chí ông đã nói rõ việc
ông mở trường dạy học trò con nhà nghèo, có viết sách giáo khoa:
或 将 設 帳 助 貧 家
無 學 安 能 别 正 邪
始 著 化 兒 初 集 韻
再 成 訓 長 一 詩 歌
Hoặc tương thiết trướng trợ bần gia
Vô học an năng biệt chính tà
Thuỷ trước “Hoá nhi sơ tập” vận
Tái thành “Huấn trưởng nhất thi” ca
(Nghĩ nên mở trường dạy học để giúp người nghèo
Nếu không học thì sao phân biệt được lẽ hay điều dở
Lúc đầu viết quyển Hoá nhi sơ tập
Rồi lại chế sách Huấn trưởng nhất thi)
Nhưng rất tiếc là hiện chúng tôi chưa
sưu tầm được tác phẩm nào của ông về lĩnh vực này.
Riêng về thơ, ông có các tập Cố hương
vịnh tập, Cổ thụ cách vịnh. Ngoài ra ông
còn Hoài lai thi tập tuyển thơ của nhiều tác giả khác...
Hầu hết các tác phẩm của Khiếu Năng
Tĩnh tản mát trong dân gian, được nhân dân lưu truyền khá phổ biến, được trích
dẫn trong nhiều tác phẩm của các tác gia đương thời. Nhà nghiên cứu Hán - Nôm
Dương Văn Vượng, nguyên chuyên viên Bảo tàng tỉnh Nam Định đã nhiều năm sưu
tầm, dịch một số tác phẩm của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, góp phần lưu giữ và phục
vụ bạn đọc di sản quý của quan Nghè. Tác giả Trịnh Thị Nga và Dương Văn Vượng
đã thu thập trong các thư tịch, trong dân gian được hơn trăm bài thơ của Khiếu
Năng Tĩnh, tuyển dịch, in 53 bài...
Thơ Khiếu Năng Tĩnh thể hiện cốt
cách nhà giáo, tâm hồn cao đẹp, tấm lòng vì nước vì dân, những tâm sự vui buồn
và tài năng tinh tế của ông. Ba chủ đề tập trung trong thơ Khiếu Năng Tĩnh là
vịnh cảnh thiên nhiên, di tích và nhân vật lịch sử, thế sự. Âm hưởng thơ ông là
tình cảm yêu nước thương dân thiết tha, xót xa và bất bình trước thời cuộc đảo
điên, buồn đau vì tự thấy mình không làm được nhiều cho dân cho nước.
Sinh thời, ông rất thích tập Cổ thụ
cách của Đông Sơn Lão Phố. Trong cuốn này có vẽ 36 thế cây cảnh, mỗi thế kèm
hai câu thơ tổng vịnh. Khiếu Năng Tĩnh đã làm 36 bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán,
mỗi thế một bài để thể hiện rõ tính chất của tranh vẽ trong Cổ thụ cách, gọi là
Cổ thụ cách vịnh. Ông gửi gắm vào các bài tứ tuyệt những tình cảm, suy tư, tâm
sự và thể hiện nhân sinh quan của mình.
Cũng như nhiều nhà nho đương thời,
Khiếu Năng Tĩnh mong muốn những người đứng đầu trong bộ máy nhà nước phải là
những người có tài có đức, vua phải sáng, tôi phải hiền. Có như thế mới có thể
giành lại và giữ được nền độc lập tự chủ. Ông khuyên các quân thần:
君 須 知 敬 在 心 中
臣 早 當 思 一 世 恭
Quân tu tri kính tại tâm trung
Thần tảo đương tư nhất thế cung
(Quân minh thần lương cách)
Vua nên giữ đạo kính tin
Tôi nên sớm nghĩ một niềm cúc cung.
Trong việc dạy học trò, cũng như
trong xử thế ở đời, ông quan niệm mọi việc muốn thành công thì phải dựa vào chính
mình, không thể trông chờ vào người khác. Muốn giành lại non sông, xây dựng đất
nước thì phải tự mình tiến hành, chứ không thể trông chờ vào nước ngoài. Trong
bài Ký Nguyễn đại nhân, một người bạn là Tổng đốc, ông nói rõ:
今 若 倚 人 尋 活 計
有 梯 他 日 首 安 翹
Kim nhược ỷ nhân tầm hoạt kế
Hữu thê tha nhật thủ an kiều
(Nếu cứ tựa người tìm kế sống
Nhờ thang, sao ngẩng nổi đầu lên)
Bản thân Khiếu Năng Tĩnh từng cùng Phạm
Thận Duật dự hội nghị các quan đầu tỉnh bàn việc xây dựng lực lượng chống quân
xâm lược. Trong bài Phụng vãng chư xứ tuyên thiết các đội dân binh, ông kêu gọi khích lệ mọi người nêu cao tinh
thần chiến đấu chống quân xâm lược:
闺 中 婦 女 抱 兒 睡
賊 至 难 安 是 素 懷
况 我 男 人 無 掘 起
守 家 報 國 望 誰 哉
Khuê trung phụ nữ bão nhi thuỵ
Tặc chí nan an thị tố hoài
Huống ngã nam nhân vô quật khởi
Thủ gia báo quốc vọng thuỳ tai
(Người đàn bà chốn khuê phòng bế con kia, khi thấy
giặc xông tới cũng còn chẳng yên tâm. Huống chi ta là đấng nam nhi, còn chờ đợi
ai lại không trỗi dậy giữ nghiệp nhà, đền nợ nước).
Trong
xã hội phong kiến đang suy tàn, quan lại không còn là phụ mẫu của dân, vua cũng
không là vua sáng, đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Ông chán ngán trước cảnh
tình đời đen bạc, có mới nới cũ, quan lại xu nịnh cầu vinh, vua bạc nhược trước
bọn thực dân cướp nước:
求 親 陽 識 非 親 日
前 恥 長 江 洗 不 清
Cầu thân dương thức phi thân nhật,
Tiền sỉ Trường Giang tẩy bất thanh.
(Khuất kỷ
cầu thân cách)
Cầu thân khi chủ không thân nữa,
Nhục ấy Trường Giang rửa sạch đâu?
見 新 忘 舊 衰 陽 日
君 不 君 兮 臣 不 臣
Kiến tân vong cựu suy dương nhật,
Quân bất quân hề, thần bất thần.
(Kiến tân vọng cựu cách)
Ngày nay thấy mới quên xưa rõ,
Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi.
Sống trong xã hội có nhiều điều nhiễu
nhương, cuộc đời dâu bể, ông vẫn tâm niệm phải giữ vững khí tiết của kẻ trượng
phu và tự hào rằng mình trong sạch:
冬 來 何 物 不 凋 零
田 舍 古 松 獨 秀 青
雨 打 風 撞 心 自 在
丈 夫 不 愧 世 間 评
Đông lai hà vật bất điêu linh?
Điền xá cổ tùng độc tú thanh
Vũ đả phong chàng tâm tự tại
Trượng phu bất quý thế gian bình.
(Tự tại trượng phu tùng cách)
Mùa đông mọi vật đều xơ xác
Xóm ruộng, thông già cứ tốt xanh
Mưa dội, gió lay, lòng vẫn thế
Trượng phu không thẹn với câu bình.
Quả
thật, Khiếu Năng Tĩnh không những không phải hổ thẹn với đời vì ông đã giữ vững
phẩm chất tốt đẹp của một nhà nho yêu nước, mà còn rất đáng tự hào trước con
mắt khâm phục và sự đánh giá của nhân dân.
Trong cảnh đất nước bị thực dân đô hộ,
nhân dân lầm than, quan lại chỉ lo thu vén cho mình, Khiếu Năng Tĩnh tự thấy
mình bất lực nên ông không tha thiết gì với con đường làm quan:
江 山 萬 里 他 人 帝
風 化 千 秋 異 種 圖
不 料 來 时 生 死 刼
但 知 今 日 冨 豪 鋪
無 才 早 返 田 園 舊
牛 馬 尋 爲 百 姓 辜
Giang sơn vạn lý tha nhân đế
Phong hoá thiên thu dị chủng đồ
Bất liệu lai thi sinh tử kiếp
Đãn tri kim nhật phú hào phô
Vô tài tảo phản điền viên cựu
Ngưu mã tầm vi bách tính cô
(Kiếm Hồ thế thuyết)
Giang sơn vạn dặm quân thù chiếm
Phong hoá ngàn thu giống khác lo
Chẳng liệu về sau điều sống chết
Chỉ hay trước mắt sự sang giàu
Vô tài sớm trở về quê cũ
Luống thấy dân mình kiếp ngựa trâu.
Trong bài Ngôn chí, Khiếu Năng Tĩnh đã
nói rõ chí nguyện của ông là muốn đem hết tài năng sức lực để dạy học. Theo
ông, người ta không học thì không biết đúng sai (Vô học an năng biệt chính tà),
muốn diệt trừ kẻ bạo tàn (quân xâm lược) thì phải có tài (Trừ bạo phàm tài khởi
đắc da). Ông coi việc dạy học là hành động báo đáp tổ tiên, đền nợ nước. Với
cương vị học quan đứng đầu tỉnh và Tế tửu Quốc Tử giám, ông đã đào tạo được
nhiều nhân tài cho đất nước.
Khi làm Chủ khảo Trường thi Nghệ An, ông đã
phát hiện tài năng Phan Bội Châu, hết lòng giúp đỡ để Phan Bộ Châu đỗ thủ khoa.
Điều đó đã chứng tỏ Khiếu Năng Tĩnh có con mắt tinh đời và tấm lòng ưu ái đối
với những tài năng của đất nước. Với danh hiệu Giải nguyên, Phan Bội Châu có
thêm uy tín, danh tiếng rất thuận lợi cho hoạt động cứu nước. Các sĩ tử khoa ấy
ai nấy đều vui mừng thừa nhận Phan Bội Châu đỗ Thủ khoa là xứng đáng. Phan Bội
Châu đã trở thành một yếu nhân của phong trào Đông Du, một chí sĩ yêu nước được
nhân dân vô cùng cảm phục cũng một phần có công đóng góp của quan nghè Khiếu
Năng Tĩnh.
Cũng trong khoa thi Hương năm 1900
tại trường thi Nghệ An, có một thí sinh 82 tuổi là Đoàn Tử Quang, người Hương
Sơn, Hà Tĩnh. Đoàn Tử Quang là người rất hiếu học, từng hai lần đỗ Tú tài. Mặc
dù tuổi cao, Đoàn Tử Quang vẫn không ngừng học tập, thi cử, mong có điều kiện
cống hiến được nhiều cho dân cho nước. Cảm phục tấm gương kiên trì học tập và
tài năng thực sự của Đoàn Tử Quang, Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh đã lấy Đoàn
Tử Quang đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, Đoàn Tử Quang được bổ chức quan,
làm tới chức Huấn đạo. Với việc lấy Đoàn
Tử Quang đỗ Cử nhân, Khiếu Năng Tĩnh đã tạo điều kiện cho Đoàn Tử Quang thoả
nguyện cống hiến sức lực, tài năng cho nước. Khiếu Năng Tĩnh được các sĩ phu
đương thời ca ngợi là người biết trọng nhân tài, không bỏ sót nhân tài và có
tấm lòng bao dung nhân ái.
Khi về quê, ông mở trường dạy học tiếp
tục sự nghiệp giáo dục mà mình theo đuổi cả đời. Khác với nhiều nhà nho đương
thời mở trường dạy học trò để thi tú tài, cử nhân, trường của Tiến sĩ Khiếu
Năng Tĩnh lại nhận dạy con em nhân dân nghèo học chữ. Ông vui vẻ chấp nhận cảnh
"sáng cơm tối cháo", bỏ tiền mua sách bút tặng học trò để thực hiện
chí nguyện của mình. Quan tâm giáo dục cho đại đa số người nghèo là một tư
tưởng tiến bộ của nhà giáo Khiếu Năng Tĩnh.
Phê phán lối sống cầu vinh, bán nước
của một số quan lại đương thời, mong muốn nước nhà có nhiều bậc tài đức, ông
làm thơ ca ngợi những gương sáng tiền nhân của quê hương. Trong Cố hương vịnh
tập, ông có nhiều bài ca ngợi công thần, những người có nhiều đóng góp cho quê
hương, những người hết lòng vì nhân dân... Thọ Tung phúc thần là một bài trong
loạt bài này của ông. Bài thơ ca ngợi Tướng quân Bùi Ngọc Oánh, người có nhiều
công lao trong kháng chiến chống Minh và xây dựng quê hương:
亦 爲 開 國 一 功 臣
黎 帝 當 時 是 至 珍
初 爲 家 貧 鄉 不 重
後 成 良 將 敕 封 臣
開 荒 濟 急 猶 存 迹
族 廟 鄉 祠 上 沐 恩
屈 指 黃 花 四 百 讚
香 煙 詩 柷 繼 傳 聞
Diệc vi khai quốc nhất công thần,
Lê đế đương thời thị chí trân.
Sơ vị gia bần hương bất trọng,
Hậu thành lương tướng sắc phong thần.
Khai hoang tế cấp do tồn tích,
Tộc miếu hương từ thượng mộc ân
Khuất chỉ hoàng hoa tứ bách tán
Hương yên thi chúc kế truyền văn.
Dịch thơ:
Cũng
là khai quốc công thần,
Đương thời Lê đế nhiều lần ban khen.
Lúc
đầu nghèo, có ai tôn,
Sau thành tướng giỏi ơn trên phong thần.
Khẩn
hoang còn giúp khó bần,
Họ thờ, làng cúng đội ân tỏ lời.
Bốn
trăm năm chục năm rồi
Khói nhang cầu vọng nối đời không quên.
(Dương Văn Vượng dịch)
Khiếu Năng Tĩnh luôn day dứt tự trách
mình không đủ tài cứu nước, tâm trạng chán cảnh làm quan, muốn lui về quê,
nhưng vẫn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của đất nước. Trong bài Xuân du ông
chỉ rõ “Thăng Long linh khí” chưa phải đã mất, "Quốc giám thạch bi"
còn đọc rõ, mảnh đất dấy vương nghiệp còn nhiều dấu vết trong lòng người. Ông
tiên đoán:
近 百 年 來 當 算 定
清 平 回 日 抵 駸 駸
Cận bách niên lai đương toán định
Thanh bình hồi nhật để xâm xâm.
(Có lẽ trăm năm chừng độ ấy
Thanh bình trở lại mới nghe tăm)
Niềm tin của Khiếu Năng Tĩnh ngày nay
đã thành sự thật. Sau gần trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nhân dân
ta đã quét sạch lũ giặc ngoại xâm, giành lại non sông gấm vóc của mình.
Thơ Khiếu Năng Tĩnh ít khi dùng điển
cố nên dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Hầu hết các bài thơ của ông ở thể thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt. Chúng tôi mới chỉ thấy duy nhất bài Nho Lâm
thôn dùng thể lục bát. Do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, việc dùng thể thơ
Đường luật trong sáng tác của các nhà nho thời đại Khiếu Năng Tĩnh sống là tình
trạng phổ biến. Với số câu, số chữ quy định và sự đòi hỏi chặt chẽ về niêm,
luật của thể thơ Đường luật, đòi hỏi các tác giả phải có tài mới tránh được
tình trạng gò bó, khuôn sáo. Thơ Khiếu Năng Tĩnh vừa đảm bảo những quy định
nghiêm ngặt của thể loại, vừa diễn tả những suy tư, tình cảm của mình một cách
tự nhiên, giàu hình ảnh, gây được cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc. Phải là người
gần gũi, quan sát tinh tế, yêu thiết tha thiên nhiên đất nước mới có thể viết
được những câu thơ giàu hình ảnh đẹp như:
竹 揚 百 手 驱 雲 散
勁 節 还 留 室 外 藩
鳥 问 花 迎 先 後 接
來 年 欲 寄 似 前 年
Trúc dương bách thủ khu vân tán
Kính tiết hoàn lưu thất ngoại phiên
Điểu vấn hoa nghinh tiên hậu tiếp
Lai niên dục ký tự tiền niên
(Hạ từ)
(Trăm tay trúc khua mây tan tác
Khí tiết còn vương dậu phên nhà
Chim hỏi, hoa chào sau trước đón
Chắc rằng năm tới tựa năm qua)
Hoặc
như cảnh thôn quê trong bài Mai vịnh:
未 春 白 色 滿 山 頭
布 入 風 中 擊 玉 楼
扇 起 紫 袍 殘 幻 梦
農 家 處 處 速 驱 牛
Vị xuân bạch sắc mãn sơn đầu
Bố nhập phong trung kích ngọc lâu
Phiến khởi tử bào tàn ảo mộng
Nông gia xứ xứ tốc khu ngưu
(Chưa xuân sắc trắng khắp đầu non
Theo gió hương vào tận gác son
Bào tía bỗng nhiên tàn mộng ảo
Lùa trâu vội vã cảnh nông thôn).
Dường như Khiếu Năng Tĩnh làm thơ chỉ
để ghi lại những suy nghĩ, những sự kiện như là nhật ký của mình. Vì vậy, đọc
thơ Khiếu Năng Tĩnh, chúng ta hiểu thêm về cuộc đời, về tư tưởng tình cảm của
ông, càng kính trọng ông với tư cách là một nhân cách cao đẹp, một người thầy
lớn, một danh nhân văn hoá của đất nước.
……….
* Trần Mỹ Giống, Trịnh Thị Nga cộng
tác, tham luận trong Hội thảo khoa học “Tế tửu Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh” tại
trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử giám, Hà Nội tháng 9 năm 2009.
ĐỌC THƠ CHỮ HÁN BÙI THÚC TRINH
1-
Bùi Thúc Trinh (1811 – 1891) tự Anh Xuyên, tục gọi Nhất Trung, quê thôn Trung
Cường, xã Quần Anh Hạ, huyện Chân Ninh (nay là xóm Đông Cường, thị trấn Yên
Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định).
Sinh trưởng trong một gia đình trung
hậu, ba đời làm nghề thuốc trị bệnh cứu người, Bùi Thúc Trinh sớm tiếp thu được
kiến thức y học và tấm lòng yêu thương con người, tất cả vì người bệnh. Ông
thông minh, chăm chỉ, học khá nhưng “nửa đời thi danh chửa đạt”, chỉ đỗ đến
Nhất trường. Sau nhiều năm nghiên cứu không mệt mỏi và trực tiếp trị bệnh cứu
người, ông trở thành vị danh y nổi tiếng, một tác giả y học có nhiều bộ sách
quý để lại cho đời: Hội anh (28 quyển), Sơ thí tiện dụng (3 quyển), Vệ sinh
mạch quyết, Vệ sinh yếu chỉ (8 quyển), Thuyết nghi, Điển trai y môn tạp
chứng... Vừa làm nghề thuốc chữa bệnh, ông vừa mở trường dạy nghề y, đào tạo
được nhiều thày thuốc giỏi trong vùng. Các tác phẩm y học của ông là sự tổng
kết kinh nghiệm và kiến thức trong nhiều năm thực hành chữa bệnh. Các tác phẩm
này đề cập những vấn đề y học rất cơ bản về lý thuyết và thực hành như cách
phân biệt bệnh, phương pháp xem mạch, phương pháp chữa bệnh, các bài thuốc nam
dễ kiếm mà công hiệu. Ngày nay các tác phẩm của Bùi Thúc Trinh được các lương y
ở Nam Định vận dụng, coi như cẩm nang nghề y học dân tộc.
2 - Bùi Thúc Trinh không chỉ là một tác giả
Hán Nôm về lĩnh vực y học, mà ông còn là tác giả văn học với tác phẩm Di nhàn
tập khá xuất sắc. Di nhàn tập là tập thơ của một lương y, thể hiện y đức và
tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước, thiên nhiên, con người.
Hàng ngày chứng kiến những cảnh sống
nghèo khổ, cơ cực của người dân, Bùi Thúc Trinh mủi lòng, thương xót. Ông tố
cáo hiện thực xã hội thực dân phong kiến đương thời là bệnh hoạn, rối ren và
xấu xa. Trong xã hội “âm u”, “mưa gió sập xùi”, người dân lương thiện luôn phải
sống trong cảnh “tê cóng co ro”... Trong xã hội quan lại nhiễu nhương, trình độ
học vấn của dân thấp kém, lại sinh ra nhiều loại người làm khổ dân lành như
“thày phù thuỷ”, “thày lang băm”... đời sống nhân dân càng thêm khổ cực.
Năm Ất Sửu (1865), bão vỡ đê Đông, nhà
cửa trôi dạt, nhiều người bị chết đuối, sau chết đói, chết bệnh. Hiện ở xã Hải
Tây (Hải Hậu) còn đền Âm Hồn thờ các nạn nhân năm đó. Bùi Thúc Trinh đã ghi lại
cảnh sống khổ cực của dân năm đó:
Thu
nguyệt vô như ất sửu thu
Thê thê lãnh lãnh nhất hà vưu.
Yên không tây xá triêu do tịch,
Chử đảo đông lân dạ vị hưu.
Đối nguyệt hồng nhan tu phấn giảm,
Lâm phong kiềm thủ khiếp dung thu.
Khởi kỳ ngọc nhữ thiên tâm hậu,
Thu nguyệt vô như Ất Sửu thu?
(Thu thiên cảm tác, kỳ nhị)
Thu năm Ất Sửu có thu nào.
Tê cóng co ro cực xiết bao!
Bóng dãi, nhà bên tro vẫn lạnh,
Canh khuya, xóm cạnh cối còn kêu.
Ngắm trăng mặt ngọc hờn son nhạt,
Lướt gió, đầu đen sợ vóc hao.
Chuốt ngọc phải chăng trời tốt bụng,
Thu như Ất Sửu có thu nào?
Những
dòng thơ trên là lời than thể hiện tấm lòng thông cảm thương xót người nghèo
trong cơn hoạn nạn, cũng là bản cáo trạng lên án vua quan, những kẻ thay trời
chăm lo đời sống trăm họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Bùi Thúc Trinh là một thày thuốc
giỏi, từng cứu sống nhiều người bệnh bằng các bài thuốc nổi tiếng công hiệu như
thần, nhưng lại bất lực trước căn bệnh của xã hội. Ông quan niệm chữa bệnh cho
con người và chữa bệnh thời cuộc đều có thuốc cả “Y bệnh y thời thục phỉ y”
(Chữa bệnh và chữa thời cuộc đâu chẳng phải là chữa thuốc). Nhưng khi bất lực
trước thời cuộc, ông tự an ủi mình rằng đó là số mệnh: “Ký ngôn “Tuỳ ngộ nhưng
an mệnh” (Nhớ câu “Tuỳ mệnh” mà yên phận), “Tu tín nhân sinh đô phận mệnh”
(Cuộc thế nên tin đều có số).
Hạn chế về tư tưởng tin vào số mệnh ở
Bùi Thúc Trinh cũng là hạn chế thời đại khó tránh khỏi. May thay, ông không
buông trôi tất cả, mà ông chuyên tâm nghiên cứu y thuật và truyền lại cho đời:
“Cố tương Kỳ, Biển pháp vi sư ” (Đem pháp thuật của Kỳ Bá, Biển Thước làm
thày).
Dù đã là bậc y sư nổi tiếng, Bùi Thúc
Trinh vẫn luôn luôn khiêm tốn, tự thấy mình vẫn còn phải học tập thật nhiều:
Bất tài tự quý “Liên quân tử”
Độc thị ô nê nhược vị tri.
(Hoạ Châu Hải Cử nhân Đinh Chính Phủ thi
tặng, kỳ nhất)
Tài sơ thẹn với sen quân tử,
Có ố bùn không vẫn chửa hay.
Ông tự thẹn vì chưa hiểu thấu đáo y
thuật của các vị y sư nổi tiếng của Trung Quốc như Biển Thước: “Tự quý học phi
Lư Biển ngộ” (Thẹn học Biển, Lư chưa thấu đáo). Ông một lòng nuôi dưỡng tâm
nguyện không ngừng học hỏi y thuật. Một khi chưa làm được việc cứu giúp rộng
rãi thì ông đâu giám tự nhận mình là có tài:
Đắc dưỡng “tam nguyên” tồn thuật nghiệp,
Vị năng “phổ tế” cảm vân hoài.
(Hoạ Lạn
Hải Đỗ Tú tài hạ nhật lai phưởng hữu thi tặng)
“Tâm nguyên” bồi dưỡng nền y học,
“Phổ tế ” chưa hay dám nói tài!
Bùi Thúc Trinh là nhà y học có tài
thơ văn. Nghệ thuật thơ của ông khá già dặn, nhất là thủ pháp tả cảnh tả tình.
Phải là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương sâu đậm Bùi Thúc Trinh mới sáng tạo
được những câu thơ tả cảnh thôn quê đẹp như đoạn thơ sau đây:
Giao duyên hồi chuyển mai đình bắc,
Yên vụ mê li trúc ổ đông.
Thanh phú miêu vân thiên tễ hậu,
Lục phù áp trướng vũ thu trung...
(Thu thiên chu hành quá Trung xã
giang phận, diểu vọng Nguyễn gia trang cảm tác ký chủ nhân)
Đồng ruộng loanh quanh mai ngõ bắc,
Sương mù mờ mịt trúc tường đông,
Mây xanh vừa tạnh lúa mơn mởn,
Nước biếc sau mưa vịt vẫy vùng...
Trong “Di nhàn tập” của Bùi Thúc
Trinh có nhiều câu thơ tả tình tả cảnh hay như thế, như câu sau:
Hoàng thư tùng cúc kim trang kính,
Bích trướng hoành đường thuỷ tẩm thiên.
Vạn khoảnh giao nguyên phù thuý lãng,
Thiên gia thôn lạc đậu tình yên.
(Thu thiên tễ cảnh kỷ kiến, ký
Nguyễn Trứ phủ)
Xoè vàng, tùng cúc: vàng in lối,
Dềnh biếc, ao ngang: nước nhuộm trời.
Muôn khoảnh, lờn vờn màu trả nổi,
Nghìn nhà, lơ lửng khói vàng phơi.
Hoặc
câu:
Sơn tước tam phong nghi hổ phục,
Thuỷ trừng nhất giám ẩn du ngư.
Thanh hàm lương suý lan hương viễn,
Cao phất tà dương bách ảnh sơ.
(Đề Thành Chương phương viên)
Ba ngọn lô nhô hùm phục cảnh,
Một gương trong vắt cá len bờ.
Vi vu gió mát hương lan thoảng,
Vòi vọi trời hôm bóng bách thưa.
Nghệ thuật chơi chữ trong thơ Bùi
Thúc Trinh cũng thật tài tình, như khi tả cái giàu của người buôn bè, ông dùng
chữ “phong lưu” nghĩa đen là gió thổi dòng trôi, thuận buồm xuôi nước để mừng
người buôn bè gặp vận may, làm ăn phát đạt; Hoặc khi hoạ thơ một người bạn là
lương y, đồng nghiệp với mình, ông khéo lồng vào những tên bài thuốc bổ, ngụ ý
vừa trân trọng, vừa trìu mến một cách hóm hỉnh mà tuyệt diệu:
“Biệt ly” kỷ độ bội tương tư.
Hà hạnh “ôn trung” cộng luận y.
Hữu “ích âm” lương lưu viện vũ,
Giải “thanh thử” nhiệt mãn giao kỳ.
“Thập toàn” ý củ do huyền tưởng,
“Tam diệu” chân thuyên mạn tự kỳ.
Đắc dưỡng “tâm nguyên” tồn thuật nghiệp,
Vị năng “phổ tế” cảm vân kỳ.
(Hoạ Lạn Hải Đỗ Tú tài hạ nhật
lai phưởng hữu thi tặng)
Tự
buổi “biệt ly” tưởng nhớ hoài,
“Ôn trung” may được góp đôi lời.
“Ích âm” mát mẻ tràn trong viện,
“Thanh thử” thung dung khắp cõi ngoài.
Đúng cách “thập toàn” hằng tưởng muốn,
Thật liều “tam diệu” chẳng đơn sai.
“Tâm nguyên” bồi dưỡng nền y học,
“Phổ tế ” chưa hay dám nói tài!
Với “Di nhàn tập”, Bùi Thúc Trinh đã
để lại cho đời một bản trường ca về nhân thuật và tâm nguyện, thể hiện tấm lòng
bác ái của vị lương y như từ mẫu. Đọc thơ chữ Hán Bùi Thúc Trinh, hiểu rõ tâm
sự của một lương y nổi tiếng, càng yêu mến và kính trọng nghề y và lương y, vì
thơ ông toát lên y đức trong sáng mà hơn cả y thuật là tình yêu thương con
người sâu sắc, tinh thần hết lòng vì người bệnh.
……………….
Nguồn: Tạp chí Đông y. - 2004. - Số 362 ra ngày
25 - 6. - Tr. 15 - 16.
ĐỌC “CHÂN QUÊ” CỦA NGUYỄN BÍNH
Trong phong trào thơ mới 1930 – 1945,
Nguyễn Bính có một vị trí riêng. Thơ ông vừa hiện đại, vừa truyền thống, mà thơ
hiện đại rất hay, nhưng thơ truyền thống vẫn là nổi trội. Cùng viết về đồng
quê, nhưng Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ… thiên về mô tả các bức tranh quê
chân thực, còn Nguyễn Bính lại đi sâu diễn tả cái tình quê thấm đẫm hồn quê.
Chân quê là một bài thơ tiêu biểu về
cái hồn quê của Nguyễn Bính. Có thể coi Chân quê là một tuyên ngôn sống, tuyên
ngôn nghệ thuật của ông. Xuyên suốt quá trình sáng tác của mình, ông đã trung
thành với tuyên ngôn đó.
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
Đọc bài thơ, hình ảnh chàng trai đứng trước bi kịch
muốn níu giữ vẻ đẹp chân quê ở người yêu đi tỉnh về bị ảnh hưởng của lối sống
phương Tây xa lạ mà không được, cứ ám ảnh người đọc khôn nguôi. Tình yêu của
trai gái quê vốn dản dị, gắn bó với những truyền thống thôn quê, từ lời ăn
tiếng nói đến cách ăn mặc, lối sống của người quê. Người yêu đi tỉnh chơi,
chàng trai bồn chồn mong đợi, chàng ra tận con đê đầu làng đón người yêu. Con
đê là vật bảo vệ xóm làng, cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt của dân quê, là
hình ảnh quen thuộc của thôn quê. Tâm trạng mong đợi, bồn chồn của chàng trai
trong khung cảnh làng quê được nhấn mạnh ở từ “Đợi” và “mãi”:
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Nhưng chàng bất ngờ, ngỡ ngàng về sự thay đổi trong cách
ăn mặc của cô gái. Trước mắt chàng, người yêu trở thành như người xa lạ:
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi
Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là những thứ xa
lạ với thôn quê. Những sản phẩm của thành thị, đặc biệt cái khuy bấm bé nhỏ
được sản xuất bằng máy móc tiêu biểu cho cách trang phục - lối sống thị thành,
giữa khung cảnh làng quê bỗng trở nên xa lạ, kệch kỡm trước mắt chàng trai. Tuy
vậy, đó cũng mới chỉ là sự thay đổi bên ngoài, cái đáng sợ hơn là sự thay đổi
bên trong tâm hồn cô gái quê. Chỉ với từ rộn ràng, Nguyễn Bính đã thể hiện hết
sức rõ ràng sự thay đổi không chỉ ở tiếng sột soạt của “khăn nhung, quần lĩnh”
mà còn là sự thay đổi về mặt tinh thần của cô gái. Từ rộn ràng gợi cho người
đọc hình ảnh cô gái đang sung sướng, hí hởn, thích thú với trang phục mới lạ
của mình. Chính cái sự thay đổi bên trong của người yêu làm chàng trai đau khổ.
Cố nén lòng mình, chàng vẫn không thể dấu được thái độ trách móc người yêu, dù
là trách móc nhẹ nhàng. “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi” là lời than của chàng
trai, cũng có thể hiểu là lời trách nhẹ nhàng đối với người yêu. Thường những
người yêu nhau tự xưng với nhau là “em” và “anh”. Chàng trai dùng đại từ nhân
xưng “tôi” với người yêu đã thể hiện rõ ý trách móc của mình. Chàng trai còn
thể hiện sự trách móc, xót xa, đau khổ trước sự thay đổi của người yêu và sự
nuối tiếc những nét đẹp thôn quê qua một “xeri” câu hỏi “Nào đâu”:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Chàng trai đã dùng yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ
thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen là những sản phẩm quen thuộc đặc trưng cho thôn
quê để đối trọng lại những khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm là những
trang phục biểu trưng của thành thị. Chàng trai cố níu giữ nét quê dù biết
không thể được. Cái khuy bấm, cái khăn nhung, cái quần lĩnh nào có tội tình gì.
Cái đáng trách là người dùng nó không phù hợp với hoàn cảnh. Một cô “tân thời”
giữa những người dân quê dản dị không những không hoà đồng mà còn trở nên xa
lạ, khó chấp nhận trước mắt dân quê, nhất là khi cô “tân thời” đó vốn là cô gái
chân quê. Nhận thức rõ được điều đó, chàng bèn thay đổi thái độ, ứng xử phù hợp
với thực tế. Từ xưng “tôi”, chàng trở lại xưng “anh” với người yêu. Điều đó đã
thể hiện rõ quá trình “xuống thang” của chàng trai:
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Câu “Như hôm em đi lễ chùa” dùng nhiều thanh bằng, đặc
biệt từ “đi” - từ thứ tư câu lục thường là thanh trắc thì tác giả lại dùng
thanh bằng, làm sắc thái tình cảm thay đổi rõ rệt, từ trách móc xuống van xin.
Theo luật thơ lục bát, từ thứ tư câu lục và từ thứ tư câu bát luôn phải là
thanh trắc và phải niêm với nhau. Ở câu thơ này Nguyễn Bính lại dùng thanh bằng
(chính xác là “thanh ngang”), nhưng khi đọc ta thấy nó rất tự nhiên và thú vị.
Bằng bốn “thanh ngang”, một thanh bằng và một thanh trắc, Nguyễn Bính đã giữ
cho câu thơ đảm bảo luật cân bằng thanh một cách tài tình, đem đến cho bạn đọc
cảm xúc thẩm mỹ rõ rệt. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa thể thơ truyền thống và
thơ mới, một sự phá cách – biến thể có hiệu quả cao.
Cách nói của chàng trai qua đoạn thơ này thật nhẹ
nhàng, dè dặt, ý tứ, tế nhị, bộc lộ tình yêu tha thiết đến tội nghiệp, chân
thành mộc mạc mà thấm thía của mình đối với người yêu. Cách nói ấy rất gần gũi
với cách nói của ca dao.
Không dừng lại ở van xin người yêu hãy chiều mình,
chàng trai còn nhắc nhở, khuyên nhủ người yêu hãy giữ lấy những truyền thống
tốt đẹp, giữ lấy cái gốc nhân bản của quê hương mà cha ông đã tạo dựng lên:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê.
Truyền thống tốt đẹp lâu đời, đạo lý dân tộc mà chàng
trai viện dẫn để khuyên nhủ người yêu thật có sức thuyết phục đối với người xứ
quê. “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là cách nói ẩn dụ, nhưng cũng thể hiện một
quy luật tự nhiên khẳng định “Thày u mình với chúng mình chân quê”. Lối nói ấy
gửi gắm thông điệp hãy biết quý trọng và gìn giữ truyền thống của cha ông, đừng
để bị cám dỗ bởi lối sống xa lạ với dân tộc.
Bài thơ khép lại bằng hai câu:
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
“Hôm qua” được láy lại nhấn mạnh chuyện đổi thay của
cô gái đã là chuyện quá khứ, nhưng quá khứ ấy chưa xa, sự đổi thay đó diễn ra
chỉ một lần đi tỉnh về càng làm chàng trai chua xót, đau khổ. “Hôm qua” ở đầu
bài thơ là tâm trạng phấn khởi, háo hức, phấp phỏng mong đợi người yêu với tình
cảm thiết tha, êm ấm. “Hôm qua” ở cuối bài lại là sự chua xót, đau khổ, nuối
tiếc “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” ở người yêu. Hình ảnh ẩn dụ “Hương
đồng gió nội” thể hiện cái tình quê, hồn quê khá sắc nét, là một cảm xúc tiêu
biểu trong hồn thơ Nguyễn Bính.
Bài thơ chất chứa niềm lo âu, băn khoăn, day dứt và dự
cảm về những đổi thay nhanh chóng đến đáng sợ của những gì vốn mang đậm bản sắc
quê hương, dân tộc. Cả bài thơ được cấu tạo theo nhịp đi 2/2 đều đều, nhịp
nhàng, dàn trải thể hiện các cung bậc tình cảm khác nhau mà thuỷ chung, thì câu
“Thày u mình với chúng mình chân quê” bỗng đổi nhịp 3/3/2 giống như một sự “đảo
phách” đã tạo lên hiệu quả có sức nặng khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân
quê. Hãy giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của cha ông, dân tộc là lời nhắn
gửi của tác giả qua bài Chân quê, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
………………….
Nguồn:
Thi sĩ Nguyễn Bính hồn thơ Việt. – Nam Định: Hội Văn học Nghệ thuật Nam
Định, 2008.
NHÀ
THƠ HẢI NHƯ
Nhân Kỷ niệm
100 năm ngày sinh nhà thơ Hải Như (1923 – 2023)
Nhà thơ Hải Như tên thật là Vũ Như Hải,
sinh ngày 28/3/1923, quê ở làng Bái Dương, xã
Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, mất ngày 30 – 6 - 2017. Ông tham gia cách mạng trước năm 1945 trong
Hội truyền bá quốc ngữ ở Hà Nội. Năm 1946, ông vào quân đội, tham gia lớp đào
tạo báo chí cách mạng đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng ở chiến khu Việt Bắc.
Sau đó, ông lần lượt công tác ở các báo Sông Lô, Vệ quốc quân, Cứu quốc và báo
Giác Ngộ rồi chuyển sang chuyên viết thơ. Ông là nhà thơ thuộc thế hệ đầu của
cách mạng.
Tác phẩm chính:
-
Trái đất mai này còn lại tình yêu (NXB Văn học, 1985)
- Bài thơ trên bến Nhà Rồng (tập thơ, 1990)
-
Nỗi buồn hoa bất tử (NXB Lao động, 1994)
-
Thơ viết về Người (NXB Nghệ An, 2004)
-
Trò chuyện với người xưa (dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá
Quát, 1994)
-
Xin ai chớ phụ hoa ngâu (văn xuôi, 1996)
-
Vị thượng khách nhà tù Hương Cảng (kịch bản văn học, 1990)
-
Có hai dòng văn chương (tác phẩm tuyển chọn, 2009).
Nhà thơ Hải Như nổi tiếng về những bài thơ chủ đề Bác
Hồ với cách thể hiện rất riêng, một lối đi riêng - rất Hải Như, không giống bất
cứ nhà thơ nào. (Trên mạng xã hội và báo chí có rất nhiều bài viết phân tích
sâu về thơ Hải Như viết về Bác Hồ, nên tôi xin phép không nhắc lại).
Nhà thơ Hải Như là một danh nhân văn hóa của Nam Định
nói riêng và của cả nước nói chung thời kỳ hiện đại. Ông không chỉ đóng góp cho
Nam Định mà còn cho nhiều tỉnh trên lĩnh vực văn học thông qua các bài thơ viết
về từng địa phương, trong số đó có hơn trăm bài đã được phổ nhạc, nhiều bài trở
thành nhạc hiệu, truyền thống địa phương. Xin nêu một số ví dụ:
- Cả Hà Nội hành quân (Nhạc Lê Lôi)
được chọn làm nhạc hiệu Đài phát thanh Hà Nội.
- Hà Nội thành phố của niềm tin (nhạc
Hồ Bắc).
- Thành phố hoa phượng đỏ (nhạc Lương
Vĩnh).
-
Thành phố tiếng thoi (nhạc Huy Thục) được lấy làm nhạc hiệu Đài phát thanh Nam
Định.
-
Sài Gòn thế kỷ, Thành phố không có hoàng hôn (nhạc Hoàng Đạm).
-
Nụ cười Đà Lạt (nhạc Trương Quang Lục).
-
Hoa sữa (nhạc Phạm Đình Sáu).
-
Liên khúc Hoa trong vườn Bác và hợp xướng Chào bình minh thời đại (Lời thơ Hải
Như; nhạc Cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Tấn, năm 1970 Nhà hát giao hưởng Việt Nam đã
cho ra mắt tại Nhà hát lớn ở Hà Nội).
-
v.v...
Mới
đây trên tạp chí “Xây dựng Đảng” và nhiều báo tạp chí khác đã đăng bài ca ngợi
nhà thơ Hải Như. Đặc biệt, kênh truyền hình HTV9 thành phố Hồ Chí Minh phát lại
bộ phim 2 tập của Hãng phim TFS sản xuất năm 2006 nói về nhà thơ Hải Như đã thể
hiện rõ nét chân dung một tài thơ đích thực được nhiều tổ chức, nhiều nhân vật
quan trọng như nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên Tổng bí thư Trường Chinh,
nguyên Phó thủ tướng Đoàn Duy Thành... đánh giá rất cao. Hoàng Tùng (nguyên Bí
thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân) xuất hiện trong bộ phim
đã nhận định: “Tập thơ của Hải Như viết về Hồ Chí Minh đã đi vào di sản thơ ca
cách mạng, đi vào thơ văn trữ tình của dân tộc ta...”. Nguyên Phó Thủ tướng
Đoàn Duy Thành phát biểu: “Thơ của nhà thơ Hải Như có tính hiện đại, luôn luôn
sát thực tế, chịu trách nhiệm nói lên thực tế bằng văn học để giúp những nhà
lãnh đạo suy nghĩ về mình và đất nước...”. Còn đồng chí Trường Chinh thì khích
lệ nhà thơ Hải Như “cùng nghĩ với Đảng”, nói như cách nói hiện nay là khích lệ
phản biện để xây dựng Đảng...
Nhiều tỉnh bạn rất coi trọng cống hiến của nhà thơ Hải Như đối với địa
phương, đất nước, biểu hiện ở hàng trăm bài viết trên phương tiện thông tin,
làm phim về ông, ca ngợi xứng đáng với ông...
“POST – HỒ CHÍ MINH” VÀ THƯ GỬI TỔNG BÍ
THƯ CỦA NHÀ THƠ HẢI NHƯ
Tôi thầm nghĩ: Thời đại nào Nam Định
cũng có những nhà thơ tài năng chân chính làm đẹp quê hương. Nhà thơ Hải Như là
một trong số đó. Ông xứng đáng là niềm tự hào của nhân dân Nam Định.
Dịp ông về thăm thành phố Nam Định quê
hương tháng 4 năm 2012, tôi may mắn được gặp ông. Ông có người con trai hy sinh
tại Quảng Trị, chưa tìm thấy mộ. Biết tôi cũng từng chiến đấu ở Quảng Trị, ông
coi tôi như con. Ông khen qua blog của tôi thấy tôi là người có tâm với quê
hương Nam Định. Ông tin tưởng gửi cho tôi nhiều sáng tác của ông để tôi đăng
lên blog.
Được ông cho phép, kỳ này chúng tôi
công bố bài thơ POST – HỒ CHÍ MINH kèm thư gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
bằng đường bưu điện từ năm 2007 (khi đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là Chủ
tịch Quốc hội). Tháng 2 năm 2012 ông gửi
lại thư này mà đến nay vẫn không có hồi âm. Ông cho rằng có lẽ thư bị tắc ở
khâu trung chuyển nên Tổng Bí thư chưa nhận được. Bởi nếu nhận được thì Tổng Bí
thư đã phúc đáp... Nay chúng tôi đưa thư lên blog hy vọng may ra tới được Tổng
Bí thư.
POST – HỒ CHÍ MINH tiếng Pháp là Hậu
thời đại Hồ Chí Minh. Đó là tên bài thơ của nhà thơ Hải Như sáng tác năm 2007
báo động về sự suy thoái, tha hóa đạo đức của một bộ phận không nhỏ đảng viên,
làm giảm sút lòng tin của nhân dân, làm suy yếu sức mạnh của Đảng. Cùng toàn bộ
sáng tác của ông, bài POST – HỒ CHÍ MINH thể hiện ý thức trách nhiệm của người
nghệ sĩ chân chính mọi thời đại, trước sự hưng vong của dân tộc đều lên tiếng
xây dựng với các nhà cầm quyền. Raul Gamzatovich Gamzatov từng nói đại ý rằng:
Những người thày thuốc viết bệnh sử con bệnh, còn các nhà văn nhà thơ viết bệnh
sử của dân tộc, của nhân loại. Nhà thơ Hải Như là một người như thế. Ông thấy
rõ sự thật. Ông nhìn thẳng vào sự thật, trung thực và thẳng thắn nói lên sự
thật bằng tấm lòng trung thành với dân tộc và Đảng Cộng sản Việt Nam mà cả đời
ông đi theo cống hiến.
Bài thơ và thư gửi Tổng Bí thư của
ông là hành động thiết thực hưởng ứng lời kêu gọi góp ý với Đảng trong đợt học
tập Nghị quyết 4 của Trung ương.
POST – HỒ CHÍ MINH
Hải
Như
“Sư
tử trùng thực Sư tử nhục”
Kinh
Đại – Niết – Bàn Phật Giáo.
Người
cộng sản hôm qua được Dân tộc nhìn nhận là Lực đẩy
Nhưng rất có thể trở thành Lực cản
Khi đất nước không còn giặc nhân dân thừa nhận chấm
công
Lúc ấy Đảng dễ biến thành chiếc “Phao cứu sinh”
Cho những kẻ hư hỏng tha hóa liên – minh – thành – một
– khối
Bao che tội lỗi quần – chúng – biết – hết cho nhau
Không ai khác. Chính Hồ Chí Minh
Người đã nhìn xa cảnh báo chuyện này
Lịch sử đang lên tiếng hỏi:
Lớp lớp cháu con các má Miền Nam
Đội quân tóc dài rầm rập kéo đi biểu tình hôm qua
Khiến quân đội Mỹ hạ súng chào thua
Sau 30 năm thống nhất đất nước lại muốn... thay đời
Ồ ạt đi lấy chồng không – cần – biết – mặt Hàn Quốc, Đài
Loan
Chúng ta chớ vội say sưa tự huyễn hoặc
Với những con số GDP nhảy múa hàng năm trên diễn đàn
Quốc hội
Hãy nhìn thẳng vào mâm cơm đồng bào còn đứt bữa vùng
sâu vùng xa
Khoảng cách giàu nghèo không rút ngắn mà ngày càng
rộng ra...
Trong con mắt quần chúng hôm nay:
Người cộng sản đang tự - đánh – mất – mình nghiêm
trọng
Không thích làm dân chỉ muốn – ngược lại Hồ Chí Minh
Làm quan Cách mạng
Nghe chăng lịch sử rung chuông:
Coi chừng... Lực cản!
(Nhà
vườn Thạch Lộc Q.12 Sài Gòn, 24 – 11 – 2007)
THƯ GỬI TỔNG BÍ THƯ
TP.
Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 02 năm 2012
Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng
Tổng
bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Kính
thưa Anh,
Trên tư cách nhà thơ chuyên khám phá
đề tài Hồ Chí Minh với quan điểm sáng tác: Không xưng tụng công đức Lãnh Tụ mà
thông qua nhân cách Hồ Chí Minh, nhà thơ viết về Chúng Ta. Trên 40 bài thơ về
đề tài Bác của tôi đã được Đ/C Hoàng Tùng cho đăng trên báo Nhân Dân dịp kỷ
niệm hàng năm sinh nhật Người.
Tôi muốn gửi lại Đ/C Nguyễn Phú Trọng
bức thư và bài thơ Post – Hồ Chí Minh mà cách đây 5 năm – ngày 12/12/2007 tôi
gửi theo đường bưu điện lên Anh trên cương vị Chủ tịch Quốc Hội. Tôi cho rằng
bức thư đó văn phòng Quốc Hội không chuyển tới Anh vì nhà thơ không được Chủ
tịch Quốc Hội phúc đáp.
Bài thơ Post – Hồ Chí Minh tôi viết
theo chỉ thị tác giả “Nhật ký trong tù”: thơ cần có thép. Tôi coi bài thơ sẽ
rất có ích cho việc xây dựng Đảng – quét sạch Chủ Nghĩa Cá Nhân hôm nay. Bài
thơ đáp ứng tinh thần Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành T/Ư Đảng khóa
11 do Anh là tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật mang ý nghĩa sống còn của Đảng,
tôi mạn phép gọi là báo động đỏ, phù hợp với câu thơ tôi viết sau ngày Hồ Chủ
Tịch qua đời:
Không
đáng sợ kẻ thù trước mặt
Sợ
nhất kẻ thù ẩn náu trong ta.
Tôi hy vọng bài thơ “Post – Hồ Chí
Minh” sẽ được Tổng bí thư duyệt đăng trên báo Nhân Dân lúc này. Xin cảm ơn Anh
nhiều. Tôi đón chờ thư hồi âm của Anh Nguyễn Phú Trọng mà tôi đặt niềm tin.
Kính thư: Hải Như.
KHÁT VỌNG HÒA BÌNH TRONG THƠ HẢI NHƯ
Hơn ai hết, người lính mong muốn
trên đời không còn cảnh những người vợ chờ chống như nàng Tô Thị. Họ hiểu, trân
trọng tư tưởng và góc nhìn khác thường, chân thực về chiến tranh của nhà thơ
Hải Như.
"Nàng Tô Thị không còn cầu chúc
hành tinh"
(Thơ Hải Như)
Tượng nàng Tô Thị từ lâu đã trở thành
biểu tượng người vợ lính chờ chồng mòn mỏi đến hóa đá. Ngày 27-7-1991, tượng
nàng Tô Thị bị kẻ xấu phá đổ để lấy đá nung vôi. Dư luận quần chúng bất bình,
xôn xao, báo chí thi nhau lên án Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Lạng Sơn đã thiếu
trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ tượng nàng Tô Thị.
Mùa xuân năm 1992, nhà thơ Hải Như
cùng phu nhân từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội và lên thăm Lạng Sơn. Trước sự
việc tượng nàng Tô Thị bị phá và dư luận bất bình, nhà thơ Hải Như đã sáng tác
bài thơ "Tô Thị" thể hiện rõ cái nhìn và quan điểm của mình. Qua bài
thơ, ông muốn lý giải rằng dân tộc Việt Nam vốn hiếu hòa chứ không hề hiếu
chiến như lâu nay phương Tây vẫn hiểu không đúng...
Khi về Hà Nội, nhà thơ Hải Như gửi
bài thơ cho nhà viết kịch Tào Mạt. Nhà viết kịch Tào Mạt đọc xong, chép ngay
lại bài thơ và cho rằng cần được công bố bài thơ này. Nhưng rất tiếc, bài thơ
đã không được công bố trên báo chí. Sau này nhà thơ Hải Như đưa bài thơ vào tập
"Nỗi buồn hoa bất tử" NXB Lao Động, 1994).
Tạp chí Nhà văn số ra tháng 12-2011
và Báo Đà Nẵng tháng 8-2012 đăng bài "Lời liệt sĩ thành cổ Quảng Trị"
của nhà thơ Hải Như. Nhà thơ đã thay lời các liệt sĩ trong 81 ngày đêm máu lửa
bảo vệ thành cổ Quảng Trị (trong đó có con trai nhà thơ) nói rõ điều mà các
liệt sĩ mong muốn là xây dựng một "xã hội nhân văn", chứ không phải
chiến tranh, bởi chiến tranh:
Là nước mắt - chia ly, là máu đổ
Là "Nhất tướng công thành vạn
cốt khô".
Phải chấp nhận cuộc chiến tranh không
hề mong muốn kéo dài 1/3 thế kỷ là sự bất hạnh. Vì thế, không nên dùng những mỹ
từ nói về nó như "Thời hoa lửa"... Viết đến đây tôi không thể không
nhớ lại những ngày trên đường ra trận vào năm 1972 đầy gian khổ, bom đạn ác
liệt, hy sinh mất mát lớn lao của đơn vị và đồng đội.
Tôi may mắn được sống sót trở về, còn
hàng vạn đồng đội đã nằm lại chiến trường. Hàng vạn bà mẹ trở thành bất hạnh.
Biết bao người vợ mòn mỏi chờ chồng hóa đá như nàng Tô Thị. Hơn ai hết, người
lính chúng tôi mong muốn trên đời không còn cảnh những người vợ chờ chồng như
nàng Tô Thị. Và tôi hiểu, trân trọng tư tưởng và góc nhìn khác thường, chân
thực về chiến tranh của nhà thơ.
Từ quan điểm tư tưởng và cái nhìn đối
với chiến tranh thể hiện ở hai bài thơ vừa nêu, nhà thơ Hải Như lên án:
Nhưng con người với con người
Đêm đêm trên màn ảnh nhỏ
Vẫn chĩa súng vào nhau.
Và... vẫn thản nhiên cười (?)
(Gấu trúc Ata).
Ông coi sự kiện đôi tình nhân Bosko
và Admira vượt qua mọi tị hiềm để giữ vững tình yêu và bị bắn chết vào năm 1993
là "Vết nhơ thế kỷ".
Cái nhìn ấy, tư tưởng, quan điểm ấy của
nhà thơ bắt nguồn từ tình yêu hòa bình, truyền thống hiếu hòa của dân tộc Việt
Nam. Có yêu hòa bình mới căm ghét chiến tranh. Nhà thơ Hải Như đã thể hiện rõ
tình yêu hòa bình và với hai bài thơ trên, tình yêu hòa bình ở nhà thơ đã vượt
lên thành khát vọng hòa bình.
Mời
các bạn đọc hai bài thơ của Nhà thơ Hải Như sau đây:
TÔ THỊ
"Nàng
Tô Thị không còn cầu chúc hành tinh"
Ta không buồn khi mất nàng Tô Thị
Lòng sắt son hóa đá đứng chờ chồng
Bởi không muốn ngợi ca hoài chung thủy
Còn chiến tranh vợ mòn mỏi xa chồng...
Đào xứ Lạng - Cảm ơn bông nở muộn
Đón khách thơ. Ta đi với người tình
Từ nửa nước phía nam lên ải bắc
Nàng Tô Thị không còn - cầu chúc hành tinh!
Có phải hai dân tộc đã nhìn ra quá khứ
Đáng rủa nguyền - xương máu rải đầy non
Nàng Tô Thị cảm thấy cần vắng bóng
Cho vĩnh viễn hòn Vọng phu ta, bạn không còn...
Đừng thi vị đường đầy hoa ra mặt trận
Mẹ già ta cần ta cạnh bên người
Suốt đời mẹ đã làm nàng Tô Thị
Chiếc áo trấn thủ chồng, mẹ ấp ủ tàn hơi.
Biên giới là gì? Lòng người không biên giới
Cột mốc dựng chia chẳng ngăn nổi tìm nhau
Hội Lùng tùng mở Đồng Đăng trai Bằng Tường băng tới
Ta cảm thông hai mảnh đất địa đầu!
Ta không buồn khi mất nàng Tô Thị
Chiều Lạng Sơn soi bóng nước Kỳ Cùng
Ồ em nhỉ - ta theo dòng chảy ngược
Làm một cuộc du hành. Biên giới vốn cùng chung...
(Lạng Sơn - Bằng Tường mùa Xuân 1992)
Rút trong tập "Nỗi buồn hoa bất tử" của Hải
Như, NXB Lao Động, 1994.
LỜI LIỆT SĨ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
"Nhĩ
lai bất quý sát nhân công" (*)
(Nguyễn Du)
Cảm ơn các bạn không quên chúng tôi
Đã ngã xuống trong 81 ngày đêm chấn giữ Thành cổ.
Hàng năm các bạn vẫn đến thả đèn hoa trên dòng Thạch
Hãn.
Chiến tranh là gì?
Là nước mắt - chia ly, là máu đổ
Là "Nhất tướng công thành vạn cốt khô"
Thời của thế hệ chúng tôi không nên dùng mỹ từ
"Thhời hoa lửa"
Bất hạnh cho dân tộc ta - một dân tộc hiếu hòa.
Phải chấp nhận trận chiến kéo dài không muốn- phần ba
thế kỷ
Chúng tôi mong được các bạn mỗi lần đến cho biết:
Giấc mơ về một "xã hội nhân văn" chúng tôi
mang theo vào trận đánh
Các bạn hôm nay phấn đấu thực hiện đến đâu rồi?
(TP. Hồ Chí Minh, tháng 8-2011)
(*)
Pháo đài, dịch nghĩa là: Từ nay việc giết người không còn coi là có công.
TẤM LÒNG NHÀ
THƠ HẢI NHƯ VỚI QUÊ HƯƠNG NAM ĐỊNH
Tôi
được biết các nhà lãnh đạo địa phương Nam Định trước đây như Phan Điền, Nguyễn
Văn An, Bùi Xuân Sơn, Trần Minh Ngọc, Trần Văn Tuấn... rất coi trọng nhà thơ
Hải Như. Mỗi lần nhà thơ về thăm quê đều được lãnh đạo địa phương cho xe đón từ
Hà Nội và tổ chức gặp gỡ thăm hỏi. Cố Bí thư tỉnh Phan Điền có lần về tận quê
thăm hỏi thân sinh nhà thơ Hải Như. Gần đây, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn
Văn An trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh đã đến nhà thăm nhà thơ Hải Như…
Tôi cũng từng biết: Nhà thơ Hải Như
góp ý cho nguyên Bí thư tỉnh ủy Phan Điền để người bạn của ông là kiến trúc sư
nổi tiếng Nguyễn Cao Luyện thiết kế xây dựng Bảo tàng cổ vật Nam Định trên hồ
Thượng Lỗi. Bảo tàng lịch sử thì địa phương nào cũng có, nhưng bảo tàng cổ vật
thì chỉ có ở Nam Định:
Nhà truyền thống đuổi giặc ngoại xâm
không quê nào vắng thiếu
Riêng bảo tàng cổ vật trưng bày văn hiến
chỉ thành Nam!
(Thơ Hải Như)
“Hình thành từ thú chơi thu nhỏ vũ trụ
riêng”, nhà Cổ vật được thể hiện dưới hình thức hòn non bộ rất độc đáo. Nơi đây
từng là điểm du lịch thú vị của khách tham quan, là nơi “cho ta thả hồn bay
bổng hôm nay”. Rất tiếc, giờ đây công trình Nhà bảo tàng cổ vật từng là chứng
tích mang nét văn hóa đặc sắc của tình nhà, là niềm tự hào của người dân địa
phương, đã bị phá bỏ.
Ai là người yêu mến văn hiến Nam Định
mà không thấy buồn trước tình trạng xuống cấp, mai một di tích nhà thơ Trần Tế
Xương và chẳng đồng tình với ý kiến thẳng thắn, chân thành của nhà thơ Hải Như
góp cho nhà cầm quyền địa phương cần tôn tạo nhà Tú Xương cho xứng với tầm danh
nhân... Ở góc độ này, nhà thơ Hải Như đã hành động như một “Gián quan” trung
thực và dũng cảm.
Trong bài “Thơ ghi bên tượng đài Trần
Hưng Đạo” sáng tác năm 2000, nhà thơ Hải Như thức tỉnh người dân, người lãnh
đạo, người cầm quyền:
Trong
các trang sử biên niên rực rỡ triều Trần
Có
một trang khiến thế hệ sau chúng ta tự hào mãi mãi
Các
vua Trần vô cùng hiện đại: 40 tuổi nhường ngôi...
Thơ
Hải Như bộc lộ tình yêu tha thiết quê hương, yêu những người con quê hương ưu
tú như nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhà thơ Tú Xương, thi sĩ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng
Chương..., yêu nhớ đến da diết những phố hàng Nâu, Hàng Thao, chợ Rồng..., nuối
tiếc đặc sản kẹo Sìu Châu nay không còn như trước, nhớ nét bản sắc quê hương
(Guốc làng Nam Dương), tự hào với làng rèn Vân Chàng... Càng tự hào và yêu nhớ
quê hương bao nhiêu, ông càng trăn trở, buồn về những cái tốt đẹp bị mai một,
về sự thờ ơ vô cảm của những người có trách nhiệm trước sự xuống cấp của di
tích văn hóa, của “nếp sống thành văn” Nam Định.
Về
Nam Định đi với anh – em sẽ vui và cả buồn sung sướng gặp
Vũ
Hoàng Chương đang ngắm “Mây” tựa lan can căn gác phố Cửa Trường
Và
Nguyễn Bính vừa đọc thơ cho chị em chợ Rồng bài “Lỡ bước sang ngang” em thuộc
đó
Nam
Định còn phải mang tính cách Thành phố Văn Chương...
Đọc
những bài thơ viết về Nam Định của nhà thơ Hải Như, ta thấy rõ tấm lòng nhà thơ
đối với quê hương Nam Định. Chúng ta tự thấy cần phải điều chỉnh bản thân từ
những thông điệp thơ ông.
TÌNH BẠN GIỮA CHÍNH KHÁCH
TRẦN
XUÂN BÁCH VÀ NHÀ THƠ HẢI NHƯ
“Làm văn học với tôi là một lựa
chọn “dấn thân”. Quan niệm của tôi: Nhà thơ không chỉ là pháp sư ngôn ngữ mà
phải là nhà tư tưởng.
Người làm thơ phải ý thức được
quyền lực thơ ca và quyền uy thi sĩ... Ngồi trước trang giấy nhà thơ không được
quên đối tượng cần được thức tỉnh của mình bao gồm cả nhà cầm quyền”.
Với nhận thức vị trí nhà thơ trong
nền văn học cách mạng, nhà thơ Hải Như ghi trong kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện
đại như thế.
Mùa thu 2012 nhà thơ Hải Như từ Sài
Gòn ra thăm quê Nam Định. Chúng tôi đã đến thăm và đề nghị nhà thơ cung cấp tư
liệu, xin phép được công bố về tình bạn của nhà thơ với ông Trần Xuân Bách cùng
một số bài thơ chưa công bố. Được Nhà thơ cho phép, tôi xin gởi tới bạn đọc bài
viết dưới đây.
Lịch sử văn học Việt Nam sau này, tôi
nghĩ, không thể không ghi nhận giai thoại về tình bạn cao đẹp của một nhà chính
trị với một nhà thơ thời Cách mạng nước ta đang bước vào đổi mới những năm 90
của thế kỷ 20. Đó là tình bạn tâm giao của chính khách Trần Xuân Bách và nhà
thơ Hải Như.
Trong sáng tác văn học, nhà thơ Hải
Như chủ trương “có bài sáng tác rồi nhưng chưa công bố rộng rãi vội”. Theo nhà
thơ, “trong kho dự trữ người cầm bút luôn nhớ cần có sáng tác chưa công bố
(inédit)”. Lần này, chúng tôi giới thiệu một số bài chưa công bố của nhà thơ
Hải Như về chủ đề Bảo tàng Hồ Chí Minh và tình bạn với ông Trần Xuân Bách.
Theo nhà thơ Hải Như thì sinh thời Hồ
Chí Minh là người chống tệ sùng bái cá nhân. Người không muốn các địa phương
dựng tượng Người tràn lan như hiện nay khiến thế hệ sau có thể hiểu không đúng
về Người. Chúng ta không được quên trong di chúc Người căn dặn Đảng, nhân dân
trước lúc đi xa:
...“Sau
khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời
giờ và tiền bạc của nhân dân.
Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi,
tức là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" sau này sẽ
được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không
tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn.
Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái
hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.
Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả
đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một
một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm
viếng có chỗ để nghỉ ngơi.
Nên có kế hoạch trồng cây trên và
chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây
nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên
giao phó cho các cụ phụ lão...” (Trích Di chúc của Hồ Chí Minh)
Nhưng khi Người ra đi, theo nhà thơ
Hải Như, chúng ta đã không làm theo Di chúc của Người. Chúng ta đã dựng Lăng
Người, sau đó lại xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh nguy nga đồ sộ.
Năm 1988 từ thành phố Hồ Chí Minh,
nhà thơ Hải Như qua báo chí thấy công trường xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh
trong khi đào móng, dàn búa máy đã làm nghiêng có nguy cơ đổ chùa Một Cột. Báo
chí đã lên tiếng nhưng vô vọng. Nhà thơ đã viết một bản kiến nghị gửi Bộ Chính
trị Trung ương Đảng và Quốc hội, đề nghị ngừng công trường xây dựng Bảo tàng Hồ
Chí Minh do “không hợp với tâm nguyện của Người”, dành số tiền xây dựng bảo
tàng cho một công trình phúc lợi toàn dân như mạng máy nước thành phố Hà Nội
năm đó đang bị hư hỏng nặng. Kiến nghị của Nhà thơ Hải Như kèm theo bài thơ có
tựa đề “Bài thơ chưa in báo”.
Bảo tàng Hồ Chí Minh từ ngày thành
lập đến nay đã “lộ rõ” sự không cần thiết phải đồ sộ như vậy. Hiện vật chưng
bày không nhiều và không hấp dẫn khách đến thăm. Hội trường chỉ dùng cho thuê
các hội nghị và tổ chức lễ cưới. Sân rộng lớn thành bãi cho thuê đỗ xe. Không
chỉ Bảo tàng Hồ Chí Minh mà các bảo tàng ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa
phương trên cả nước có kế hoạch xây dựng bằng công quỹ quốc gia cũng trong tình
trạng tương tự. Nhà thơ Hải Như, ngay từ năm 1988 của thế kỷ trước đã “báo
động” về sự lãng phí công quỹ nhà nước của các bảo tàng cả nước hôm nay.
Nguyên văn bài thơ về Bảo tàng Hồ Chí
Minh của Hải Như như sau:
BÀI THƠ CHƯA IN BÁO
Hải Như
“Chúng ta đã lỡ làm lăng Bác...”
H. NH.
Ra
Hà Nội mùa xuân này anh không dám vào nhà sàn thăm Bác
Nghe
nói Người đang rất buồn – vầng trán trĩu ưu tư
Có
ai báo với Người: chùa Một Cột do ảnh hưởng địa chấn – bị hư!
***
HỒ
CHÍ MINH. Nhiều chúng ta tưởng hiểu hết Người hóa ra chưa hiểu
Người
từ chối mọi huân chương. Ta đi xây dựng bảo tàng
Khi
ra khỏi chiến tranh Bác Hồ dặn lại dân sẽ gặp nghìn cái thiếu
Không
gia đình nào Bắc cũng như Nam lại không gánh chịu một vành tang...
***
Ý
Bác tức lòng dân. Người vắng mặt đi xa. Lòng dân ta chưa hỏi
Xây dựng công trình ngoài ý Bác đồng nghĩa với xúc
phạm lòng dân
Đừng vin cớ vì Bác Hồ, Người dân hiểu hơn hết Bác Hồ
nhưng không nói
Dân tộc ta giờ này thiếu Bác Hồ dân thấm thía nghìn
năm!
***
Nhà sàn Bác Hồ được tôn thêm nhờ đứng cạnh đóa sen
hồng: chùa Một Cột
Hành trình Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác xuyên suốt
4000 năm
Chúng ta sẽ sai lầm nếu xếp Bác Hồ đứng trên và đứng
trước.
Chẳng phải ngẫu nhiên trước ngày về giải phóng Thủ đô
54 – Người xin gặp các vua Hùng...
***
Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình mới đâu. Và thật
ra không mới!
Lẽ làm người từ NGUYỄN TRÃI (luôn luôn Bác Hồ nhắc ta)
đã có tự cha ông
“Chở thuyền là dân lật thuyền cũng là dân” nhân loại
năm 2000 càng thấy mới
Chúng ta vui có HỒ CHÍ MINH góp với tinh hoa nhân loại
giống Tiên Rồng.
***
Bảo tàng HỒ CHÍ MINH cần không! Chắc em muốn hỏi anh.
Lịch sử ngày mai cần lắm chứ!
Nhưng bảo tàng HỒ CHÍ MINH quyết không giống mọi bảo
tàng
Ngoài hiện vật duy nhất huyền thoại “đôi dép lốp hành
quân” mỗi người dân sẽ trở thành hiện vật.
Bảo tàng nằm trong lòng dân – tết vòng nguyệt quế Nhân
Quần...
(Sài Gòn, ngày 2
tháng 3 năm 1988).
Bài thơ đã trở thành “gạch nối” của
quan hệ tình bạn giữa tác giả và Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách – vị lãnh
đạo thời đó đang nổi như cồn về thái độ trọng thị các sĩ phu hai miền qua các
diễn đàn.
Ba tháng sau, trong chuyến ra Hà Nội
nhà thơ Hải Như đã được đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng
Trần Xuân Bách tìm gặp. Đồng chí Trần Xuân Bách nhận được bài thơ đã không trả
lời nhà thơ qua Văn phòng Trung ương Đảng mà trực tiếp “vi hành” vào ngõ Hòa
Bình 5 đường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội khi nhà thơ vừa từ Sài Gòn
ra, bởi – ông nói vui khi gặp Hải Như ở nhà con trai nhà thơ – nhà báo Vũ Kỳ
Anh: “Tôi muốn trực tiếp gặp một “cái đầu”của xã Bái Dương. Tôi muốn diện kiến
người cùng huyện làm thơ”. (Nhà thơ Hải Như và chính khách Trần Xuân Bách đều
quê ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, nhưng chưa gặp nhau bao giờ). Đồng chí
Trần Xuân Bách thông báo với Hải Như là Bộ Chính trị hoan nghênh ý kiến đóng
góp của nhà thơ Hải Như, nhưng không thể ngừng công trình vì đã vào kế hoạch
được Nhà nước phê duyệt. Trong suốt một giờ đồng hồ gặp gỡ trao đổi cởi mở, ông
Trần Xuân Bách tỏ ra rất vui và bảo là ông đã gặp được một nhà thơ có tính
trung thực thẳng thắn đòi hỏi cần có ở người cầm bút chân chính mọi thời.
Trong buổi gặp gỡ lần đầu giữa chính
khách Trần Xuân Bách và nhà thơ Hải Như có một kỷ niệm khó quên. Nhà thơ Hải
Như hôm nay nhớ lại:
“Khi Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân
Bách tới, tôi mời lên gác nhà con mình ngồi chờ để mình pha nước đem lên mời
khách. Sau khi nghe Trần Xuân Bách tự giới thiệu thân mật, tôi nghĩ thầm: Mình
từng được tiếp xúc các vị lãnh tụ như đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn
Đồng... nhưng do các đồng chí đó cho thư ký riêng đến nhà mời. Với Trần Xuân
Bách, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ. Giới trí thức ngày ấy coi anh như một ngôi sao
sáng trong bầu trời chính trị bắt đầu cởi mở qua thái độ trân trọng các trí
thức của anh.
Tỏ ra cởi mở ngay phút đầu gặp gỡ,
tôi chủ động nói:
- Tôi thật sự bất ngờ! Xin cảm ơn Ủy
viên Bộ Chính trị đã “vi hành” vào ngõ hẻm khi được tin tôi ở thành phố Hồ Chí
Minh mới ra. Vừa rồi cháu gái nội tôi năm nay lên 9 tuổi khi nghe tôi nói có
ông khách Trung ương đến nhà, cháu hồn nhiên hỏi: “Ông ơi! Ông ấy ở Trung ương
sao lại không béo ạ? Con thấy trên ti vi ông nào ở Trung ương cũng bệ vệ cũng
béo mà!” Tôi xin phép được nói lại với anh ý nghĩ của trẻ thơ.
Trần Xuân Bách rất vui đáp lại:
- Mình không béo à?
Tôi hỏi:
- Anh có biết giai thoại về nhà điêu khắc
Thorwaldsen người Đan Mạch và nhà thơ Lord Byron người Anh không?
Trần Xuân Bách lắc đầu. Tôi xin phép
được kể:
- Nhà điêu khắc Thorwaldsen người Đan
Mạch và nhà thơ Lord Byron người Anh là những danh nhân nổi tiếng thế kỷ 19.
Khi nhà thơ Lord Byron đến thăm xưởng của nhà điêu khắc Thorwaldsen, nhà điêu
khắc xin được tạc tượng nhà thơ danh tiếng nước Anh để thể hiện ý tưởng và tư
duy của nhà thơ mà ông khâm phục. Sau một giờ say sưa tạc tượng bán thân của
thi hào Lord Byron, Thorwaldsen dừng tay xin nhà thơ cho biết cảm nhận về tác
phẩm của mình. Nhà thơ Lord Byron nói: “Bạn không tạc tôi mà tạc một anh chàng
yên ổn. Tôi không hề giống bức tượng này!”. Thorwaldsen phản ứng: “Có gì xấu
nếu người ta sung sướng!”. Thi hào Lord Byron tái mặt đi vì tức giận: “Hạnh
phúc và sự yên ổn khác nhau như đá hoa và đất sét. Chỉ những kẻ ngu và những
người tâm hồn thấp kém mới tìm sự yên ổn trong thế kỷ còn nhiều bất công xã hội
mà chúng ta đang sống này! Chẳng lẽ trên khuôn mặt tôi lại không có nét nào nói
lên sự đắng cay, lòng can đảm và đau khổ của suy nghĩ ư?”. Thorwaldsen cúi đầu
trả lời: “Ngài nói rất đúng! Con dao khắc đã phản tôi. Được gặp thi hào tôi vui
quá nên con mắt tôi đã sai lệch.”
Nghe tôi kể xong câu chuyện, ông Trần
Xuân Bách ôm lấy vai tôi:
- Hải Như, anh đã “minh họa” lời nhận
xét của cháu nội anh về tôi một cách khá thú vị!
Trước khi ra về, ông Trần Xuân Bách
ôm chặt tôi một lần nữa, xúc động nói:
- Hải Như ơi! Chúng ta bắt đầu trở
thành tri kỷ!”
Sau buổi gặp gỡ này, không một lần
nào vào Sài Gòn mà Trần Xuân Bách không cùng phu nhân đến thăm nhà thơ Hải Như
tại nhà riêng ở đường Nguyễn Hữu Cảnh, Quận 1. Hai người đàm đạo tâm đầu ý hợp,
cùng trăn trở về Di chúc của Bác Hồ không được thực hiện, cùng chia sẻ về nhận
thức xã hội, về văn học Cách mạng hiện trong tình trạng như Giáo sư Hoàng Ngọc
Hiến nhận xét là “Văn học phải đạo”.
Trước khi bị kỷ luật Đảng, vào ngày
Rằm tháng Giêng âm lịch (sau Tết Nguyên Đán) 1990, đồng chí Trần Xuân Bách vào
Sài Gòn họp Bộ Chính trị đã tới số nhà 27H đường Nguyễn Hữu Cảnh, Quận 1 thăm
Nhà thơ Hải Như. Tại đây, nhà chính khách đã đọc cho nhà thơ nghe bài thơ của
mình làm và nhờ góp ý. Bài thơ như sau:
BÀI THƠ KHAI BÚT 1990
Bách Xuân
Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương
Cố nhân chính trực đồng hương nghĩa tình.
Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân
Lấy dân làm gốc phải nghe dân
Trí khôn thiên hạ không hề thiếu
Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần!
Ngay ngày hôm sau, nhà thơ Hải Như đã
đến Nhà khách thành ủy T78 nơi nghỉ của đồng chí Trần Xuân Bách góp ý với tác
giả nên thay từ “người” ở câu “Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần!” bằng từ “mình”.
Nhà chính khách Trần Xuân Bách tiếp thu ngay nhưng lấy làm tiếc vì đã đọc cho
nhiều trí thức ở Hà Nội và Sài Gòn chép cả rồi.
Đồng chí Trần Xuân Bách nhận thức sâu
sắc rằng cuộc sống vốn đa nguyên, cách mạng muốn thắng lợi phải đi con đường
hợp quy luật. Ông từng nói: “Chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải
thực hiện đa nguyên chinh trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị
vấp váp”. (Trích Hồi ký Làm báo của Tống Văn Công). Chính tư tưởng đi trước
thời đại này đã khiến ông “lâm nạn”. Ngày 27 – 3 - 1990 Hội nghị Trung ương lần
thứ 8, khóa 6 đã quyết định cách chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương,
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách. “Chỉ có
hai ủy viên Bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt (thiểu số) cho rằng,
từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, Trần Xuân Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi
hai chân” thì đất nước mới phát triển...” (Trích Hồi ký Làm báo của Tống Văn
Công).
Nhiều người không dám tiếp xúc với
đồng chí Trần Xuân Bách khi ông lâm nạn vì sợ liên quan. Nhưng với nhà thơ Hải
Như, tình bạn giữa hai người – nhà làm chính trị và nhà làm văn học coi như
không có chuyện “cắt đứt”. Bạn bè can ngăn đừng đến Trần Xuân Bách vội nhưng
nhà thơ Hải Như vẫn cứ đến thăm bạn đang gặp hoạn nạn. Trong Hồi ký Làm báo của
Tống Văn Công có đoạn viết: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên
“quyền cao chức trọng”, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào
dám đến thăm ông thày cũ của họ đâu! Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải
sống “một thời vô luân” mà!”
Nhà thơ Hải Như kể: “Ngày 20 tháng 5
năm 2002 tôi viết bài thơ ngắn biểu dương người bạn đời của ông Trần Xuân Bách
những năm dài sóng gió đã làm điểm tựa cho chồng...”. Nguyên văn bài thơ như sau:
TRẦN XUÂN BÁCH
Chắc chắn lịch sử sau này sẽ giành một trang về anh -
khách quan phán xử
Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:
Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi nhưng còn cái được tuyệt
vời sao!
Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh
Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua
giông bão
(Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên
quan” đè lên cơm áo)
Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội
ác. Đúng không nào?
Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô
đơn
Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh
Từ Sài Gòn mỗi lần ra ghé thăm – tôi vui làm nhân
chứng Một tình yêu...
Hà Nội – Trung Tự, ngày 20 tháng 5 năm 2002
Ông Trần Xuân Bách không viết hồi ký
mà làm thơ. Xin giới thiệu một bài thơ của Bách Xuân Trần Xuân Bách do tác giả
đọc cho nhà thơ Hải Như ghi:
TRONG MƠ GẶP
CỤ NGUYỄN DU
Một cơn giông chiều
Một đêm mưa đá
Có lạnh những tình yêu?
Có chân nào trượt ngã?
Bạn hỏi tôi vì sao
Nguồn thơ vẫn dạt dào
Khi tiếng sóng ồn ào
Khi trời giông sấm động
Vì lòng tôi không trống một niềm tin!
Trong một giác mơ
Được tiếp chuyện nhà thơ
Cùng Nguyễn Du bất tử...!
Bên lành bên dữ
Phải chăng phân giới bởi quyền uy?
Biết nói năng chi
Sau câu hỏi bất ngờ
Của nhà thơ
Thay cho câu trả lời
Tôi xin phép nhà thơ
Được sửa đôi dòng bất hủ:
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ QUYỀN”
Cụ Nguyễn Du mỉm cười rơi nước mắt
Ngâm câu kiều “lẩy”:
“Nợ đời chưa trả cho ai
Khối tình giữ trọn cho đời chưa tan
Nỗi riêng không chút bàng hoàng
Tình dân nghĩa nước vẹn toàn trước sau
Thiện căn ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!”
Ôi giấc mơ thần kỳ
Một đêm mưa đá
Giữa bầu trời Thủ Đô...
(Hà Nội đêm 29 tháng 03 năm 1990)
Ngày 01 tháng 01 năm 2006 chính khách
Trần Xuân Bách qua đời. Trên báo Nhân Dân có bài đánh giá những cống hiến của
Trần Xuân Bách trong hoạt động cách mạng. Cuối cùng thì Trần Xuân Bách đã được
nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của
chế độ. Chưa phải là tất cả, nhưng như vậy, người ta đã phải thừa nhận tư tưởng
đổi mới đi trước của Trần Xuân Bách.
Từ thành phố Sài Gòn, nhà thơ Hải Như
đã viết bài thơ vĩnh biệt nhà chính trị lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, một
nhân cách lớn được giới sĩ phu mến mộ tài năng. Bài thơ này ghi trong sổ tay
của nhà thơ. Được nhà thơ nhân chuyến mùa thu (2012) về thăm quê Nam Định cho
phép, nay tôi xin công bố rộng rãi:
VĨNH BIỆT NGƯỜI BẠN CÙNG QUÊ
Hải Như
(Thay một nén nhang tưởng niệm Bách Xuân – Trần Xuân
Bách)
Ngồi trên ghế quyền lực cao nhất Anh tìm đến ngõ Hòa
Bình 5 đường Minh Khai gặp nhà thơ
Anh và tôi cùng huyện nhưng 2 vị trí khoảng cách xa
nhau – chưa giáp mặt bao giờ
Tôi ngạc nhiên khi thấy Anh lẫn trong đám đông và...
không có 2 cằm(?)
Nghe tôi từ Sài Gòn ra Anh tới thăm ngay để trả lời
bài thơ gởi Trung Ương tôi kiến nghị
Ngừng xây dựng Bảo Tàng Hồ Chí Minh nhường cho công
trình phúc lợi Người dân
Có cả một văn phòng – có thư ký riêng nhưng Anh đích
thân “vi hành” vào ngõ hẻm
Tôi nhớ tới câu thơ hôm nào Anh ghi tặng tôi:
“Bác Hồ là chúng ta khi chúng ta thật sự là chúng
ta...”
Ngày Anh đi xa trên báo Nhân Dân bạn đọc thấy Những –
gì – thuộc – về - Anh đều được trả lại
Tôi bỗng liên hệ đến có kẻ nhất định đòi “treo cổ” Anh
ngày ấy
Chẳng biết sẽ nghĩ gì khi cầm tờ báo sáng xuân nay
TRẦN XUÂN BÁCH. Tôi biết Anh “dám tin riêng mình đúng
số đông sai” như câu thơ tôi viết về Kim Ngọc
Chúng ta từng nói với nhau: Chân lý nằm trên mặt phẳng
Nhưng nhiều khi đến được Chân lý con người bị “loạn
thị” đã đi vòng...
(Sài Gòn, ngày 6/1/2006)
H. NH
Tình bạn tâm giao giữa chính khách
Trần Xuân Bách với Nhà thơ Hải Như đã trở thành giai thoại của một thời Cách
mạng gặp khúc quanh.
Thành Nam, 01 - 12 – 2012
Nguồn tham khảo: Đà Nẵng. – 2017. – Ngày
1 – 7 và Vietnam.net. – 2013. – Ngày 11 – 1.
ĐỌC
TẢN VĂN “NGANG QUA CUỘC CHƠI”
CỦA TRẦN HUY THUẬN
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiếm
có tác giả thành danh bằng thể loại tản văn, nên khi được tác giả Trần Huy
Thuận tặng cuốn tản văn “Ngang qua cuộc chơi”, tôi tò mò đọc ngay. Sách dày 312
trang, khổ 21 cm, bìa màu xanh trang nhã, trình bày bắt mắt, do Nhà xuất bản
Văn học ấn hành năm 2009. Sách gồm trên năm chục bài được viết trong nhiều năm.
Nội dung sách đề cập phần lớn là những chuyện đời thường, nhiều khi ta cho là
nhỏ nhặt như chuyện sinh hoạt của cá nhân (ăn mặc, tắm gội, đi đứng, nói, nghe,
làm…), chuyện xã hội (bầu bán, quan chức, giáo dục, văn hoá…), mới lướt qua thì
thấy chả có gì mới mẻ, toàn là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, nhưng nhẩn
nha đọc kỹ lại “giật mình” vì sức lôi cuốn của tác phẩm.
Trần Huy Thuận nguyên là hội viên,
Trưởng Ban Kiểm tra Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh. Ông đã đoạt hai giải
nhất về văn xuôi và thơ cuộc thi thơ văn trào phúng tỉnh Hà Nam Ninh năm 1984,
giải khuyến kích cuộc thi về kỷ niệm sâu sắc hoạt động khoa học kỹ thuật của
tạp chí Khoa học và đời sống năm 1994. Trần Huy Thuận mê viết văn từ nhỏ. Ông
đã có nhiều bài in trên báo Nhân dân, Lao động, Nông nghiệp Việt Nam, Tuổi trẻ
cười… Nhưng ông không có ý định làm một nhà văn. Ông chỉ viết khi có hứng, hoặc
trăn trở về một điều gì đó, viết như rút ra từ gan ruột của mình.
Những bài viết của ông dưới thể
loại tạp văn đề cập đến một số vấn đề văn hoá, xã hội, chính trị nóng hổi, bức
xúc thường ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng, nhanh nhạy, lý lẽ sắc sảo, giọng văn
hóm hỉnh đầy tính suy tưởng, có tính phê phán mạnh mẽ các thói xấu, vạch rõ
khuyết điểm, chính kiến rõ ràng và có tính giáo dục cao.
Bàn về hiện tượng một số cán bộ có
chức có quyền ngày nay nhũng nhiễu dân (Cán bộ thời nay: Đầy tớ dân hay cha mẹ
dân?) tác giả phân tích nguyên nhân một cách sâu sắc và nêu yêu cầu về cán bộ
thời nay: “Không cần làm đầy tớ, chỉ cần làm tròn lương tâm, trách nhiệm và
đúng pháp luật. Đừng cho mình là tầng lớp cao hơn dân, hoặc nhầm tưởng mình
giống như vua quan phong kiến, lúc nào cũng chỉ muốn làm cha, làm mẹ dân”. Quả
thật, cán bộ chỉ cần làm được thế cũng tốt cho dân lắm lắm.
Bài Lương, thưởng - Đôi điều muốn nói lại chỉ ra một cách thuyết phục
về sự bất hợp lý giữa lương và thưởng, giữa lương và lương hưu, giữa lương và
kết quả công việc. Việc xây dựng và thực hiện chế độ lương chưa đúng với quan
điểm của Đảng (con người là vốn quý nhất cần phải ưu tiên đầu tư) nên còn nhiều
bất hợp lý, làm nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội.
Bài Giáo dục và tự giáo dục làm hiển hiện trước mắt bạn đọc hai sự thật
trái ngược: Ngày giáp Tết quan chức, cán bộ (nhiều người từng đứng trên bục
giảng, hoặc thường xuyên rao giảng đạo đức cho nhân viên) lũ lượt xe pháo đi
tham quan, lễ hội, biếu xén cấp trên, phè phỡn mỗi suất ăn hàng mấy trăm nghìn
đồng, có VIP lại còn đánh bạc một đêm thua mấy chục nghìn USD vẫn thản nhiên bay
đi Thái Lan chơi gái “giải đen” bằng tiền công quỹ. Trong khi đó biết bao em bé
không được cắp sách đến trường, hoặc phải bán lì xì mua… tết như “Nguyễn Văn Cư 12 tuổi đang học lớp 4 Trường
tiểu học Mỹ Kim, cũng như anh em U, Nhàn, Cư phải len lỏi trong chợ suốt ngày
dể bán bao lì xì mua… Tết”. Câu hỏi của tác giả “Biết thậm chí còn giỏi giáo dục quần chúng, sao không biết tự giáo dục
chính bản thân mình, gia đình mình?” nghe nhẹ nhàng mà nghiêm khắc, mà đau.
Phản ánh hiện tượng thầy thuốc, thầy giáo vì tiền mà quên đạo làm thày, đánh
mất lương tâm, tác giả khẳng định: “Trong
hoàn cảnh nào cũng cần chăm lo gìn giữ bằng được “Đạo làm thầy”! Điều này đương
nhiên không chỉ phụ thuộc vào người thầy, mà còn là trách nhiệm của xã hội,
trong đó có phần cơ chế, chính sách”.
Những vấn đề Ngang qua cuộc chơi phản ánh thật phong phú: Chuyện cán bộ chỉ biết
hành dân, bòn rút của dân (Vài suy nghĩ về tham nhũng và chống tham nhũng), sự
xuống cấp của một số trí thức hiện nay (Bằng cấp chưa hoàn toàn tạo nên trí
thức), chuyện một số người chạy chức, giữ chức bằng mọi giá (Chiếc ghế và văn
hoá ngồi), chuyện dân chủ giả vờ trong Bầu
bán, chuyện có quan chức lợi dụng quy hoạch chiếm đất của dân bằng nhiều
thủ đoạn tinh vi (Chợ Bút Điền: Dân thành Nam mình tốt thật), chuyện các hủ tục
ăn uống lãng phí trong ma chay cưới xin, chuyện về gia đình và văn hoá gia
đình, chuyện làng xóm, chuyện đồng môn, bạn bè, chuyện giáo dục trong nhà
trường, chuyện ứng xử nơi công cộng…
Đọc Chuyện văn chuyện đời, tôi cứ bị ám ảnh mãi về những điều tác giả
viết. Nhà văn quá cố nổi tiếng Chu Văn nguyên là Trưởng ty Văn hoá kiêm Chủ
tịch hội Văn học Nghệ thuật tỉnh từng là nạn nhân của mưu đồ lật đổ tranh giành
quyền lực. Mỉa mai thay, ngay sau lễ “Chào mừng Đại hội thành công tốt đẹp”,
đại hội mà Chu Văn bị bôi nhọ, người ta tiến hành lễ trao tặng Huân chương Lao
động cho Chu Văn. Sau khi nhà văn Chu Văn qua đời, một đường phố ở chính thành
phố nơi ông bị hạ nhục được mang tên ông. Tuy có chậm, nhưng ông đã được lịch
sử nhìn nhận đúng với công lao của mình. Sau “Đại hội hạ bệ” Chu Văn, những
người “chiến thắng” ngày ấy lại trở thành nạn nhân của những mưu đồ xấu xa mới.
Triết lý nhân quả trong văn Trần Huy Thuận là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những
kẻ mang tâm địa xấu xa.
Ngang qua cuộc chơi có nhiều chuyện
ca ngợi gương người tốt, việc tốt, nhưng có lẽ sở trường của Trần Huy Thuận là
phát hiện, phanh phui, phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Người
biết ghét và giám phê phán cái xấu, cái tiêu cực thì mới biết yêu tha thiết và
bảo vệ cái đẹp, cái tốt. Trần Huy Thuận phê phán tiêu cực cũng chính là làm
theo lời Bác Hồ dạy (Người cán bộ cách mạng phải là công bộc của dân, phải cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư) và nghị quyết của Đảng về chống tham nhũng,
chống tiêu cực.
Những vấn đề viết trong sách toàn là
những sự việc tác giả mắt thấy tai nghe, những số phận con người có quan hệ
trực tiếp với tác giả. Từ những sự việc có thật tác giả khái quát về một vấn
đề, thể hiện thái độ và lý tưởng thẩm mỹ của mình. Những trang viết về đồng môn
của ông thật xúc động, thao thiết. Một “thằng Thuỷ” đã là đạo diễn điện ảnh nổi
tiếng, một nghệ sĩ nhân dân vẫn không quên bạn cũ từ thời để chỏm. Một “thằng
Mốc làm quan” hãnh tiến chỉ vì một bài báo đụng chạm đến mình mà ra tay cho bạn
nếm đòn quyền lực. Một người nhân hậu mà chuân chiên như nhà văn Phương Thuỷ…
Nếu ở các bài phiếm luận về các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, giọng văn của
ông khúc triết mà giàu chất thơ, nhẹ nhàng mà không khoan nhượng, thì khi viết
về con người, ông như trút vào trang văn tình cảm nhân hậu, đề cao giá trị đạo
đức Việt Nam, bằng tâm hồn đa cảm dạt dào cảm xúc, đồng cảm và sẻ chia với số
phận con người. Viếng một đồng môn là “kẻ hát rong” bị người đời coi thường
nhưng đầy tự trọng, ông khấn thầm những lời thống thiết, chân thành: “Ánh ơi!
Đây hoàn toàn là những đồng tiền sạch. Chú của cháu, bạn đồng môn của Ánh chưa
bao giờ biết cầm một đồng tiền bẩn. Ánh hãy yên tâm mà nhận cho lòng tôi được
an ủi”.
Những bài phiếm luận, nhàn đàm, tạp
văn nghị luận của Trần Huy Thuận sử dụng nhiều ngạn ngữ, tục ngữ, ca dao khái
quát vấn đề một cách khéo léo và chính xác, giàu chất văn. Chẳng hạn, bàn về
chuyện cái tai như “Trung ngôn nghịch nhĩ”, “Đàn gảy tai trâu”, “Nghe hơi nồi
chõ”, “Như vịt nghe sấm”… Hoặc về cái sự ăn: “Ăn trên ngồi trốc”, “Miệng ăn núi
nở”, “Ăn xổi ở thì”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Ăn trông nồi,
ngồi trông hướng”, “Ăn thủng nồi trôi rế”, “Ăn to nói lớn”, “Ăn cháo đá bát”,
“Ăn không nói có”, “Ăn cơm mắm cáy thì ngáy o o, ăn cơm thịt bò thì lo ngay
ngáy”…
Một số bài viết dưới dạng hồi ký,
truyện ngắn thường kết cấu đơn tuyến, sự kiện diễn biến chặt chẽ xoay quanh
nhân vật nên đọc dễ nhớ. Chuyện thằng đổ
vỏ kể về một đứa con phải lấy cô gái đã mang thai mà cha hắn dùng làm vật
hy sinh “tế” thủ trưởng, làm cho hắn quyết chí phấn đấu làm “sếp” của tất cả
các “sếp” của cha hắn, đọc mà buồn, mà xót, mà đau. Người có hàm răng chuột là một trong số truyện ngắn trào phúng, có
ý nghĩa sâu xa và hay. Chuyện kể rằng có một bệnh nhân, từ ngày lên “sếp” thì
hàm răng mòn đi rất nhanh, phải đến bệnh viện thay hàm răng mới. Nhưng răng mới
lại mòn nhanh hơn cả răng cũ nên các nhà khoa học đã phải thay cho ông ta hàm
răng… chuột. Quả nhiên, bệnh nhân không quay lại bệnh viện nữa. Người ta đã
nghĩ phải cấp huân chương cho tác giả hàm răng chuột. Bất ngờ bệnh viện lại
phải tiếp nhận một bệnh nhân bị bệnh suốt ngày gậm nhấm bất cứ thứ gì ông ta
thấy vì răng cứ mọc dài ra rất nhanh. Thì ra ông ta chính là bệnh nhân trước
đây được thay hàm răng chuột, từ ngày về hưu bỗng trở bệnh lạ này…
Dù là tạp văn, phiếm luận, hồi ký
hay truyện ngắn, Ngang qua cuộc chơi
vẫn mang yếu tố tự truyện cao. Đằng sau những hình tượng văn học và ngôn từ
giản dị, nhẹ nhàng là một thái độ đúng đắn rõ ràng, là tấm lòng nhân hậu, đồng
cảm, sẻ chia với con người, thiết tha với cuộc sống của tác giả. Có người bảo,
cái tên sách Ngang qua cuộc chơi là
mượn từ câu nói của nhà viết kịch Tào Mạt: “Cuộc đời này chẳng qua cũng chỉ là
một cuộc chơi”. Trần Huy Thuận có thời gian sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ
thuật Hà Nam Ninh. Vậy việc viết văn, và cả hội văn cũng chỉ là một cuộc chơi
mà ông từng tạt ngang qua. Có thể là ông khiêm tốn mà nói thế. Tên sách cũng dễ
làm ta hiểu lầm rằng chỉ là sách viết cho vui. Nhưng từng dòng từng trang văn
của ông cứ cuốn hút, cứ ám ảnh bạn đọc, buộc bạn đọc phải suy nghĩ trăn trở về
nhân tình thế thái, về lẽ sống ở đời. Cái làm nên điều đó phải chăng ngoài nội
dung ngồn ngộn chất liệu cuộc sống còn là cách viết rất riêng của Trần Huy
Thuận.
Thành
Nam, 3-2-2010
ĐỌC “LẠC NẺO ĐƯỜNG TRĂNG”
CỦA CHU ĐÌNH AN
Mới quen biết Chu Đình An gần đây,
nhưng tôi đã được đọc và thích thơ ông từ khá lâu qua nhiều tuyển thơ: Vườn thơ
tao ngộ, Chưa nhắm đã say (Nxb. Trẻ), Hà Nội trong tim (Nxb. Giao thông vận
tải), Bút xưa 6, Thắp sáng đường thi (T.1 và 2 Nxb. Văn hóa dân tộc), Ngàn dặm
tình thơ, Tác giả thơ Việt Nam đương đại (Nxb. Thanh niên), Những bài thơ Việt
Nam hay lạ xưa nay (Nxb. Văn nghệ), 1000 năm thơ Thăng Long Hà Nội – Thiên
Trường Nam Định (Hội VHNT Nam Định)...
Chu Đình An, bút danh Nam Thắng, nguyên
là anh bộ đội Cụ Hồ, Gần hai chục năm trong quân ngũ thì có tới 12 năm ông chiến
đấu trên các chiến trường B, C, K trong kháng chiến chống Mỹ. Sau ông chuyển
ngành công tác trong lĩnh vực thương nghiệp cho đến khi nghỉ hưu. Ông được
“Trời phú cho ông có chữ tài, Văn chương cẩm tú bút hoa khai”, biết làm thơ từ
khi mới lớn. Hơn nửa thế kỷ làm thơ, ông có tới cả ngàn bài, một số bài đăng
báo hoặc in trong các tuyển thơ, còn phần lớn chưa in thành sách. Mãi năm 65
tuổi ông mới cho ra tập thơ riêng đầu tiên “Chặng đường hoa” (Sở Văn hóa Thông
tin Nam Định, 2004). Hai năm sau ông in tập “Năm tháng xôn xao” (Nxb. Lao động,
2006).
“Lạc nẻo đường trăng” (Nxb. Hội Nhà
văn, 2011) là tập thơ thứ ba ông mới trình đời. Sách khổ 13 x 19 cm, 96 trang.
Trang bìa xanh lơ, trăng vàng, núi xa mờ, thác trắng gợi cho ta liên tưởng tới
cõi lung linh huyền ảo, trộn lẫn giữa thực và mơ - cõi thơ. “Thơ trình đời dẫu
muộn / In nếp nghĩ thần tiên”. Tình cảm chủ đạo trong “Lạc nẻo đường trăng” vẫn
tươi nguyên như “Chặng đường hoa” và “Năm tháng xôn xao”, là tình yêu quê hương
đất nước sâu sắc, yêu người thiết tha. Nhưng có lẽ tình cảm thẩm mỹ nổi trội
nhất của tác giả trong tập thơ là tình yêu... thơ. Đọc Lạc nẻo đường trăng, ta thường bắt gặp cảm xúc, tình cảm, tâm
trạng, suy tư thể hiện tình yêu thơ của tác giả. Tôi lấy làm lạ là có tới gần
bốn chục lần ông nhắc tới từ “thơ”. Thường trong một tập thơ nhỏ mà lặp lại một
tứ, một từ dăm ba lần đã gây cho người đọc cảm giác nhàm. Nhưng với tần xuất từ
“thơ” trong Lạc nẻo đường trăng lớn
như vậy mà tôi không cảm thấy nhàm chán. Phải là người vững tay “nghề” tác giả
mới làm được điều đó. Trong hoàn cảnh thời chiến hay thời bình, tâm trạng buồn
hay vui, ông luôn có xu hướng liên hệ tới “thơ” – tình yêu thơ. Trước giờ xuất
trận, ông nhớ quê thao thiết thì “Chao nghiêng một nhánh thơ gầy”. Trước cảnh
trời mây, “gió dâng hương níu giữ trăng vàng” làm xao xuyến cõi lòng, ông bật ra
“Câu thơ thức tỉnh đam mê”. Dù trải bao gian khó trong cuộc mưu sinh hay trong
chiến đấu đối mặt với kẻ thù, dù trong bộn bề năm tháng thì ông vẫn “Dặm trường
thơ đam mê”. Khi ông “Đan cài sương gió vào thơ”, lúc lại trút “Nỗi niềm day
dứt trang thơ”. Ông coi thơ là cái nghiệp mà ông tự nguyện dấn thân “Thơ và đời
mãi mãi đa mang”. Ông khát vọng “Cài vương miện lên thơ lên chữ” có ích để lại
cho đời nên ông băn khoăn “Hồn thơ trang sách mai sau có còn”... Tôi liên tưởng
tới thần đồng thơ Trần Đăng Khoa hiện đã làm tới chức Cục trưởng, nhưng bạn đọc
thường chỉ nhớ “Từ góc sân nhà em”, còn từ khi anh trưởng thành có bài gì hay
thì liệu mấy người biết đây. Chu Đình An không phải thần đồng, nhưng càng cao
tuổi thì thơ ông càng hay. Chu Đình An duy trì được “phong độ” thơ của mình như
vậy, phải chăng, ngoài chút năng khiếu trời phú, còn do ông đam mê, miệt mài
làm thơ suốt hơn nửa thế kỷ:
Càn khôn đẽo gọt một thời
Ủ trong cát bụi nảy chồi đơm hoa
Đêm ngày thao thiết lòng ta
Dòng sông thơ vắt ngang qua đỉnh trời.
Bao nhiêu thao thiết, đau khổ, nhọc
nhằn với thơ - với đời để có được mùa thu hoạch nảy chồi đơm hoa, để dòng thơ
vắt ngang qua đỉnh trời thì cũng đáng lắm, tự hào lắm. Hình ảnh, tứ thơ như vụt
lóe, sự giao thoa giữa ý và tình, thể hiện rõ ý tưởng và cảm xúc mạnh mẽ, khát
vọng lớn lao của tác giả.
Quả là Chu Đình An yêu thơ đến đam mê,
nhưng xét đến cùng thơ cũng chỉ là phương tiện để ông thể hiện tình yêu quê
hương đất nước, yêu người, yêu đời của mình. Những địa danh đất nước như Thăng
Long – Hà Nội, Đống Đa, Ba Đình, núi Phật Bà, Ninh Bình, Tản Viên, Vườn Vải,
động Phong Nha, cổng trời Tam Đảo, bình minh Hà Nội, Hương Sơn... mà ông có dịp
đến thăm đã đi vào thơ ông một cách tự nhiên, chân thực và hiển hiện thật đẹp:
Núi biếc bao phen say chiến trận
Ngàn xanh mấy độ tiến quân ca
Suối luồn cõng đá lưng không mỏi
Nước lượn xuyên đèo dốc vẫn qua
(Động Phong Nha)
Chu Đình An dành cho quê hương Đại An –
Nam Thắng của mình tình yêu tha thiết nhất. Ông lấy tên xã Nam Thắng quê ông
làm bút danh của mình. Bài “Quê hương xanh” ông viết năm 1961 có câu “Vươn tới
năm hai ngàn”... “Đại An mình giàu sang”. Ngày nay thực tế đã chứng minh điều
ông mơ ước, tiên đoán là đúng. Trong ông luôn thường trực niềm tự hào về quê có
Trang nguyên Nguyễn Hiền trẻ nhất trong lịch sử nước ta, nơi có “Tiến sĩ, Trạng
nguyên bia đá tạc”. Biền biệt những năm tháng xa quê, hình ảnh thân thuộc của
quê luôn hiển hiện trong nỗi nhớ của ông. Con đê, đồng lúa xanh, bãi dâu xanh,
sông Hồng đỏ phủ sa, cảnh chợ làng, người dân quê... đều trở thành nguồn cảm
hứng trong thơ ông.
Mẹ nghèo dãi nắng dầm mưa
Thương con tôm tép trách trưa hờn chiều
Hoàng hôn bóng chợ liêu xiêu
Hồn quê ôm ấp bao điều xa xôi.
(Chợ làng)
Ông viết về những người con gái quê
mình bằng những hình ảnh tuyệt mỹ với tấm lòng yêu mến biết bao: “Người con gái
quê anh / Trên đầu em đội nắng / áo ướt đẫm mồ hôi / Cơm ăn chẳng được ngồi”,
khi “Sáng sớm giọt sương rơi / Long lanh đầu lá cỏ” đã “Vin cành hái lá dâu”,
chiều về trên đường làng “Đôi chân em thoăn thoắt / Nặng trĩu gánh tơ vàng”.
Những bài viết về người thân, tác giả
thường dùng thể thơ tự do để cho cảm xúc, tình cảm được tung hoành. Tuy những
bài này chất thơ không nhiều, nhưng tình cảm chân thật đến hồn nhiên của ông đã
làm cho bài thơ “đứng” được trong lòng người đọc.
Dẫu con đã vào trường đại học
Bố mẹ vẫn coi như bé dại trong đời
(Thơ gửi con
trai)
Thao thức thâu canh buồn ứa lệ
Con ngoan có hiểu thấu tình cha
(Mưa đêm)
Tâm lý của những người làm cha mẹ coi
con còn thơ dại dù con đã trưởng thành là rất phổ biến, “nước mắt chảy xuôi”
mà. Tấm lòng cha mẹ đối với con cái sâu sắc và rộng lớn bao la. Cha mẹ luôn lo
lắng cho con, nhưng con cái mấy ai hiểu thấu lòng cha mẹ. Mong sao con hiểu
lòng cha yêu con vô hạn là trạng thái tâm lý chân thực và phổ biến. Tâm trạng
đó cũng là tâm trạng chung của tất cả những người làm cha mẹ.
Tôi tin một điều là hình ảnh đẹp của
các cô gái, của các “Em”, của người tình trong thơ ông đều có phần lấy từ hình
ảnh vợ ông. Tôi đã mấy lần được nói chuyện về thơ, về đời với bà, tôi càng tin
điều tôi nghĩ là đúng. Bà tuy không biết làm thơ, nhưng vì yêu chồng nên bà
cũng yêu thơ. Bà chăm chút, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất cho ông đeo
đuổi nghiệp thơ. Bà cũng là độc giả đầu tiên đọc và góp ý thơ ông. Có lần bà
sôi nổi tranh luận với tôi để bảo vệ thơ ông, mà ý kiến của bà lại rất giản dị
và có lý. Thế nên ông yêu quý và biết ơn bà:
Em yêu thơ rất lạ
Không cùng anh đồng hành
Chỉ ra đề bật mí
Nảy mầm thơ vươn xanh
(Em)
Khi
“Xa em anh làm thơ / Cho đời khỏi bơ vơ”, “Những đêm ngày chiến đấu” ông giữ
tấm hình vợ trong túi ngực coi như báu vật, và “Yêu em đến ngẩn ngơ”.
Về
nghệ thuật, Chu Đình An làm cả thơ cách luật và thơ tự do, nhưng chủ yếu là thơ
cách luật. Ông trung thành với quan điểm thơ phải có ngôn ngữ hàm súc, cô đọng,
giàu hình ảnh, nhịp điệu, có vần, có tứ. Ngay cả những bài thơ theo thể tự do
của ông cũng rất giàu tính nhịp điệu của ngôn từ và hài hòa âm thanh - vần
điệu. Sở trường của ông là thơ cách luật. Lạc
nẻo đường trăng gồm 63 bài thì chỉ có dăm bài theo thể thơ tự do, còn hầu
hết là thơ cách luật (15 bài lục bát, 2 bài song thất lục bát, 17 bài thơ 5
chữ, 1 bài thơ 6 chữ, 3 bài tứ tuyệt, còn lại là thơ Đường luật...). Thơ lục
bát của ông mượt mà, ngôn ngữ chắt lọc. Khi ông viết “Trời xôn xao, biển xôn
xao / Buông câu thơ thả vượt rào vũ môn” thì sức tưởng tượng của ông đã như cá
hóa rồng, vượt khỏi đời thường mà ra ngoài vũ trụ.
Những bài thuộc dạng vịnh cảnh, ông
thường dùng thể thơ Đường luật. Ông rất chú trọng yêu cầu về niêm, luật bằng
trắc, vần, đối, nhịp điệu. Đây là hai câu thực tả cảnh Yên Tử trong bài “Lên
Yên Tử”:
Gieo gió trên
không kinh vang vọng
Rắc sương
dưới dốc nắng vàng reo
Còn
đây là cảnh “Thung lũng vùng quanh”:
Uốn éo đèo
cao đường khập khễnh
Vòng vèo dốc
dựng lối chông chênh
Thung thăng
bướm lượn râu tênh vểnh
Loáng thoáng
ong bay cánh phập phềnh
Quả là tác giả đã tiếp thu được tinh
hoa thơ của các tiền nhân Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan,
Trần Tế Xương... không chỉ ở niêm, luật, nhịp điệu mà còn trong việc sử dụng từ
ngữ. Các động từ, tính từ trong thơ Chu Đình An thường rất gợi cảm, gây ấn
tượng khó quên cho người đọc. Chẳng hạn các động từ được sử dụng rất gợi cảm,
lạ và táo bạo trong câu:
Hoa móng rồng
ngát lạ
Hoàng hôn về
cuỗm đi
(Trời xuân tươi)
Hoặc
câu:
Sương đêm vắt
vẻo cành đào
Bình minh em
đã lẻn vào hồn tôi
(Bỗng dưng)
Đọc Lạc
nẻo đường trăng, ta luôn bắt gặp những câu, những từ rất gợi cảm, nâng bài
thơ lên rất nhiều như “Nghẹn trời mây”, “Hờn đất đá”, “Thẹn núi đồi” (khi nói
về cái oan của Nguyễn Trãi), “Moi tan núi”, “Ngoáy đổ ngàn” (nói về bọn tham
nhũng), “Trăng sóng xoài vòm cây”, “Đồng lúa xôn xao ướp nắng vàng”, “Nêm câu
chào hỏi”, “Lách hương gió nội”... Có thể coi đây là cái riêng của Chu Đình An.
Phần cuối của Lạc nẻo đường trăng có 9 bài chân dung (chọn trong số 25 bài chân
dung ông đã viết). Từng quen biết và đọc tác phẩm của Nhà nghiên cứu Đỗ Huy
Vinh, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, tôi rất thú khi “Chân dung 6”
đã vẽ ra rất rõ và đúng tính tình, phong cách ông:
Không
đò thì xắn quần lên
Này thơ, này
sách, này đèn, này đây...
Thơ
ông vai sánh chốn này
Hàng Thao em
bé tháng ngày xôn xao...
...
Mắm tôm nhoe nhoét mời chào...
Mảng thơ chân dung của Chu Đình An có
nét riêng, không giống với thơ chân dung của tác giả khác, đọc và suy ngẫm cũng
có nhiều thú vị.
Tôi cứ gờn gợn tiếc một điều ở cái đề
bài “Tiếng đàn”: Tác giả suy ngẫm quan hệ thiên, địa, nhân để nói về sự nhỏ
nhoi, quá mỏng manh của một đời người như hạt sương bay mà lại đặt tên bài là
“Tiếng đàn” thì... Sao không giữ nguyên cái đề trong bản thảo là “Hạt sương
bay” nhỉ.
Dù vậy, với Lạc
nẻo đường trăng, Chu Đình An góp thêm một dòng chảy lấp lánh phù sa bồi đắp
cánh đồng thơ Nam Định, Việt Nam.
Thành
Nam, ngày 12 – 2 – 2011
………………..
Nguồn: Nói chuyện giới thiệu sách. – Nam
Định: Thư viện tỉnh Nam Định, 2012. – Tr. 160 – 169.
ĐỌC TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA HOÀNG NGỌC TRÚC
Thày giáo dạy văn Hoàng Ngọc Trúc
(Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định) đã có nhiều thơ, truyện, nghiên
cứu phê bình đăng trên báo, tạp chí trung ương và địa phương từ mấy chục năm
nay. Sau khi nghỉ hưu anh cho ra đời liên tiếp ba tác phẩm: Một khối tình (Tập
thơ, Nhà xuất bản Thanh niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 1 (Nhà xuất bản Thanh
niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 2 (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2006). Tháng 5
năm 2012 nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản Truyện cực ngắn chọn lọc của Hoàng
Ngọc Trúc.
Những câu chuyện thường nhật trong đời sống được anh
kể lại trong Truyện cực ngắn một cách
ngắn gọn, súc tích, giản dị, có tính khái quát cao. Bằng vốn sống phong phú của
một người đã nhiều năm hoạt động trong ngành giáo dục, từ giáo viên đứng lớp
lên làm cán bộ quản lí, anh có nhiều cơ hội tìm hiểu cuộc sống đa dạng để phản
ánh trong tác phẩm của mình. Truyện cực ngắn của anh đề cập nhiều vấn đề trong
cuộc sống hôm nay, phê phán những mặt trái, cách sống, nếp nghĩ của con người
trong thời kì cải cách mở cửa. Những con người xấu, lạc hậu cùng những việc làm
tiêu cực, trì trệ, vụ lợi, giả dối được phơi bày qua những mẩu chuyện cực ngắn,
có truyện chỉ có 100 từ, với vài nhân vật và nội dung giản đơn nhưng rõ ràng,
làm người đọc suy tư về cái tốt, cái xấu của con người trong cuộc sống đương
đại.
Anh phê phán nhẹ nhàng, cảnh báo những hiện tượng
không hay trong đời sống mà đôi khi chúng ta cho là chuyện “thường nhật”: Tình
trạng thanh niên chạy theo lối sống hiện đại mà xa rời đạo đức truyền thống dân
tộc (Chửa con so); Phê phán cách sống thực dụng, vì tiền, dửng dưng, tàn nhẫn
trước cái chết “không đúng lúc” của người thân (Không phải lúc nào cũng như lúc
nào); Thói giả dối trong tình cảm vợ chồng (Những món quà tinh thần); Tệ nạn
đòi ăn hối lộ của kẻ có chức có quyền (Miếu thiêng); Thói háo danh đến độ làm
giả hồ sơ, bằng cấp để thăng tiến của một bộ phận cán bộ thoái hoá trong cơ
quan nhà nước hiện nay (Sứ mạng một con người); Tệ quan liêu, chạy theo thành
tích (Họp hội đồng thi, Thanh tra sắp về)…
Truyện “Hối lộ” là một phát hiện mới lạ đối với người
đọc. Xưa nay thường người ta hối lộ quan chức, chứ ai hối lộ dân. Thế mà Hoàng
Ngọc Trúc lại phát hiện ra chuyện quan chức hối lộ dân, mới nghe tưởng như bịa,
đọc rồi lại thấy đó là chuyện có thật mà ít ai nghĩ tới. Số là những vị quan
chức địa phương nọ từng làm sai chính sách nhà nước để đục khoét dân, đến trước
kì bầu cử Hội đồng nhân dân, các vị bèn tổ chức “hối lộ” mỗi hộ dân vài ba trăm
ngàn đồng để lấy lòng dân, mong được tiếp tục giữ ghế của mình. Vài trăm ngàn
đồng đối với quan chức chẳng có gì to tát (tiền lại là của công chứ có vị nào
phải bỏ tiền túi đâu), nhưng đối với người lao động ở nông thôn thì quả là
không nhỏ. Khi có bác đại tá phản đối, ý đồ của các vị quan chức không thành.
Nhiều người dân tiếc “cái lộc” đến tầm tay mà còn bị tuột mất nên trách móc bác
đại tá. Truyện có tính bi hài, cảnh báo một hiện tượng tiêu cực ít ai quan tâm,
chưa có bộ luật nào đề cập tới.
Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc không chỉ phê phán
những con người và hiện tượng tiêu cực, mà còn ca ngợi những người tốt. “Lần
gặp gỡ đầu tiên” của anh sĩ quan hải quân và chị bác sĩ quen nhau qua mục kết
bạn trên báo dù chưa diễn ra do chị bác sĩ gặp “trục trặc” giao thông trên
đường đến nơi hẹn, nhưng người đọc vẫn cảm nhận và tin tưởng chắc chắn cuộc hẹn
sẽ diễn ra tốt đẹp. Một bé gái gặp tai nạn giao thông đã dũng cảm vạch mặt bọn
người lợi dụng hoàn cảnh trắng trợn “trấn lột” người va quệt vào xe của cháu.
Tình cảm của một người mẹ tìm con làm cho chính đứa con bỏ nhà đi lang thang
cảm động mà quay về. Truyện “Tên tù trốn trại” ca ngợi người công an nhân dân giàu
lòng vị tha, có tinh thần trách nhiệm cao, coi người tù như người thân, bằng
hành động tốt của mình đã cảm hoá và giúp người lầm lỡ trở về với cuộc sống
lương thiện.
Truyện cực ngắn là thể tài mới và khó. Hoàng Ngọc Trúc
đã mạnh dạn và sáng tạo đi sâu thể hiện thể tài này. Truyện cực ngắn của Hoàng
Ngọc Trúc kiệm lời, hàm súc, sử dụng chi tiết đắt, kịch tính, chủ đề tư tưởng
và nội dung trong từng truyện rõ ràng, cụ thể. “Cảm hứng của hầu hết những câu
chuyện là phê phán đủ thứ thói tật đời sống. Nhưng vốn là nhà sư phạm nên sự
phê phán, chế nhạo của ông cũng mang màu sắc giáo dục, nhẹ nhàng và độ lượng,
tin ở lương tri con người” (Hoàng Ngọc Trúc người thiết tha yêu đời – Tạ Duy
Anh). Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc hẳn sẽ để lại ấn tượng khó quên cho
những ai đọc nó. Vì thế, tôi tin Truyện
cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc sẽ được nhiều người đọc, chia sẻ, đồng cảm với
tấm lòng tác giả.
……………
Nguồn:
Nông nghiệp Việt Nam ngày 6 – 12 – 2006.
ĐỒNG
NGỌC HOA VÀ TIỂU THUYẾT “LÃO HÓI”
Mở tập bản thảo tiểu thuyết “Lão
Hói” mà nhà nghiên cứu Đồng Ngọc Hoa gửi qua email nhờ đọc và cho ý kiến, tôi
thầm nghĩ: Vốn là người chuyên nghiên cứu phê bình, bây giờ lại viết tiểu
thuyết thì đa tài thật.
Đồng Ngọc Hoa nguyên sĩ quan kỹ
thuật, tốt nghiệp đại học kĩ thuật quân sự, nhưng lại có khiếu làm báo. Ông là
cộng tác viên báo Quân đội nhân dân và một số báo khác nhiều năm liền. Vào tuổi
sáu mươi, ông mới gia nhập Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Hội Văn học Nghệ
thuật tỉnh Nam Định với vốn liếng là một tập phô tô hơn một trăm bài đăng báo
và một giải thưởng báo chí trung ương. Vậy mà chỉ sau dăm năm, ông lần lượt cho
ra đời mấy tác phẩm liền. Tác phẩm đầu của ông là cuốn Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về
lịch sử Phật giáo cấp huyện ở nước ta, được bạn đọc đánh giá cao, được nhận
giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh của tỉnh. Sau thành công này,
Đồng Ngọc Hoa liên tiếp cho ra đời các tác phẩm mới như Ngôi chùa bên dòng sông, Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Tuyển tập
nghiên cứu phê bình Đồng Ngọc Hoa, Lâu đài của Phật và lịch sử đảng bộ và
nhân dân một số xã trong tỉnh. Ông còn là đồng tác giả nhiều tuyển tập nghiên
cứu phê bình khác. Cuốn Lịch sử Phật giáo
tỉnh Nam Định của ông dày gần tám trăm trang, trình bầy mạch lạc nguồn tư
liệu phong phú về lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định. Những tác phẩm viết về chủ
đề Phật giáo là điểm sáng trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Cảm phục sức làm
việc và thành quả của Đồng Ngọc Hoa, tôi có viết mấy câu tặng ông:
Một thời mê mải việc quân
Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo
Cửa Thiền không - sắc lần theo
Hào quang Phật sử một chiều thăng
hoa.
Về
tên tiểu thuyết Lão Hói, ban đầu ông
đặt là Người viết sử. Sau nghĩ lại,
ông lấy tên Lão Hói đặt cho tiểu
thuyết của mình.
Lão Hói kể về cuộc đời từ khi lọt lòng
tới khi tuổi đã ngoài bảy mươi với nét đặc biệt về hình hài, tính cách và những
biến cố thăng trầm của nhân vật Lâm Thanh (tức Lão Hói).
Lão
Hói khác người từ khi mới được sinh ra: “Lúc
mẹ đẻ ra, đầu lão chẳng có tí tóc nào, người bé tí khoảng hai cân. Người ta cứ
bảo hay mẹ lão đẻ non nhưng không, lão khóc to như xé vải, không trách sau này
lão là gã lắm mồm. Rồi sáu bảy tháng sau tóc lão cũng mọc, nhưng thưa hơn những
bé bình thường. Khi mới ngoài bốn mươi tuổi lão đã hói. Người ta thường hói từ
trán trở lên, lão lại hói từ đỉnh đầu trở xuống”.
Tính cách, sở thích của Lão Hói cũng rất khác người.
Lão nhớ ngày định kỳ cắt tóc như nhớ ngày lĩnh lương. Thợ cắt tóc phải cắt đúng
theo bản vẽ tỉ mỉ chính xác như bản vẽ kỹ thuật mà lão thiết kế. Lão đòi chủ
cửa hàng ăn phải phục vụ khách như phục vụ thượng đế. Thấy người giúp việc bê
bát phở để hai ngón cái chấm vào nước bát phở, lão đòi đổi bát khác. Khi đã là
sĩ quan quân đội, lão làm việc cần mẫn, thông minh, tính kỷ luật cao, thẳng
thắn không khoan nhượng với những việc làm chạy theo thành tích, qua loa, vô
trách nhiệm. Khi về hưu, lão trở thành người cầm cờ trong đấu tranh chống tệ
quan liêu, tham nhũng, cửa quyền ở địa phương, bất chấp bị trả thù. Những khiếm
khuyết của lão trong tình cảm, hình thể được mô tả cụ thể, chi tiết nhưng không
làm bạn đọc ghét lão. Lão cũng là người, có ưu có khuyết. Qua giọng kể của tác
giả, tôi nhận ra hình tượng Lão Hói hiện lên rất chân thực.
Qua
tiểu thuyết Lão Hói, tác giả muốn cho người đọc biết về lớp thanh niên có học
được đào tạo cơ bản phục vụ quân đội trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Lâm Thanh - Lão Hói, một chiến sĩ quân giới năng nổ, hăng hái nhiệt tình
có trình độ, trách nhiệm luôn luôn làm hết sức mình. Ở tiền phương anh luôn
xông pha xoay tìm hỏng hóc, ở hậu phương anh luôn miệt mài gia công sản xuất để
đảm bảo cho súng pháo nổ dòn sẵn sàng tiếp sức cho tiền duyên, xứng đáng kế
tiếp lớp quân giới của Ba Tơ anh hùng, của núi sông Việt Bắc, của chiến thắng
Điện Biên vẻ vang. Người đọc cũng thấy được cuộc chiến tranh thần thánh giải
phóng dân tộc của nhân dân ta với những hy sinh của tuổi trẻ trên khắp các
chiến trường, khắp các nẻo đường chiến trận, kể cả của các chiến sĩ quân giới
trên mặt trận thầm lặng mà ít người biết đến. Lão Hói là nhân vật trong số lớp
trẻ đó. Cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tự hoàn thiện mình của Lâm Thanh - Lão
Hói cũng không phải không gay go quyết liệt qua chuyện phản đối vụ hàng ngàn
chiếc kim hỏa của súng B40 không đạt yêu cầu, việc báo cáo thành tích giả qua chuyện
nhập kho khống và người sấy thuốc ngủ quên đến việc buộc phải túm cổ áo trung
úy trưởng phòng kế hoạch, cấm đốc công Phiên lấy số liệu để phát thanh làm lộ
bí mật, làm cho chính ủy nhà máy cũng phải khiếp lão báo cáo về cục.
Lão Hói cũng có gia đình và tình yêu
tuổi trẻ, tình yêu thuở học trò. Lão cũng được yêu như bao nhiêu thanh niên
khác. Người ta yêu mình thì chẳng có tội gì miễn là nói thẳng được như lão: “Anh
có vợ rồi” và giữ được tình bạn đẹp với cả những cô gái thích mình. Lão gần gũi
với công nhân, hiểu tâm lý người thợ. Lão vốn là một học sinh giỏi văn, lại có
duyên với công tác chính trị. Lão muốn làm nhà báo và đã chuyển về công tác ở
báo Quân đội nhân dân. Nhưng thủ trưởng đơn vị đòi lão về, vì nhà nước đã mất
công đào tạo lão để phục vụ ở ngạch kĩ thuật. Lão vẫn phải gắn bó với nghề cho
đến lúc về hưu, chấp hành phân công của tổ chức.
Là một người có ý thức tổ chức,
người vì dân, thương dân nghèo khó bị hành hạ qua chi tiết người chồng bế con
lên nhà kho hợp tác xã nơi vợ bị giam vì thiếu sản để mẹ vạch vú đút qua song
sắt cửa sổ cho con bú. Thương dân chết đói năm 1945 qua thống kê khi lão viết
lịch sử xã. Lão tự hào với những chiến công của những người giữ đất giữ làng
như liệt sĩ Hà Sĩ Hùng thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, liệt
sĩ Hà Tất Đạt bỏ tài liệu vào mồm nhai nuốt rồi đập cằm xuống bàn cho đứt lưỡi
hi sinh trước mặt kẻ thù lúc chúng đang dụ dỗ anh khi bắt được. Lão ghét cay
ghét đắng những kẻ gọi là đầy tớ của dân nhưng lại ăn bớt, ăn chặn, ăn bẩn, ăn
vặt của dân, ăn cả lần trong lần ngoài, ăn cả cái đầu cúi tôn chổng của dân, ăn
ráo cả phần của trẻ con qua lời thề của thằng bé đứng cửa buồng cắn móng tay
nhìn cán bộ ăn xông ra nói: “Tôi thề với các ông là chỉ còn tý nước” nhưng rồi
nước cũng chẳng còn.
Lão rất yêu mảnh đất nơi sinh ra mình.
Đó là xã Mỹ Khê, một xã anh hùng thời chống Pháp, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng
về thăm do có thành tích chăn nuôi dẫn đầu toàn Miền Bắc. Lão yêu con người
làng mình, xã mình nên yêu cả những nghề phụ góp phần nuôi sống dân mình như
nghề dệt chiếu. Việc câu cáy lão cũng cho là một nghề vì làm ra những giọt nước
chấm ngon hơn cả Chin-su khi nhấm nháp thấy mằn mặn, ngòn ngọt, thơm thơm, tê
tê mùi cà cuống.
Nhưng rồi cái yêu làng yêu người đã
làm lão gặp phải không ít khó khăn, khi chống lại cái xấu, cái ác, cái đểu, cái
mà làm lão suýt đến mất mạng trên mặt trận chống tham nhũng ngay tại chính quê
hương mình. Nhờ có đồng chí đồng đội và nhân dân ủng hộ nên những kẻ xấu nơi
một xã tưởng như bình yên đã được lôi ra ánh sáng, đã bị vạch mặt, kỉ luật để
răn đe kẻ khác muốn nhấp nhổm làm cán bộ với mục đích lấy của dân làm giàu, lấy
lại niềm tin của dân đối với đảng quang vinh.
Tôi đọc từ đầu đến cuối tập bản thảo
hơn trăm trang A4 luôn cảm thấy thú vị. Nghệ thuật kể chuyện theo thời gian một
cách giản dị, giản dị tới mức tưởng ai cũng viết được. Nhưng không, sự giản dị
ấy lại là nghệ thuật sử dụng ngôn từ giúp bạn đọc dễ theo dõi cốt truyện. Mặc
dù ít khi thấy tác giả miêu tả hình ảnh khung cảnh thiên nhiên hỗ trợ cho tả
tình, nhưng giọng kể tự trào bù lại làm cho người đọc bị cuốn hút.
Đọc hết tập bản thảo, tôi củng cố thêm
cảm nhận ban đầu: Đúng là nhà nghiên cứu viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết gồm 9
chương. Mỗi chương có thể đứng độc lập thành một tác phẩm với chuyên đề riêng.
Mỗi chuyên đề đều có những kịch tính tuy chưa quyết liệt và được giải quyết
ngay làm cho bạn đọc thở phào. Chín chương kết nối với nhau thành một nội dung
liên hoàn lô gic: Tái hiện cuộc đời của nhân vật Lâm Thanh - Lão Hói. Có lẽ
nghề nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng, tác giả có lúc đi sâu vào một chuyên đề như
Lịch sử xã, hay lịch sử một di tích. Nhưng chính những kết quả của ảnh hưởng
nghề nghiệp này lại tái hiện hoàn cảnh lịch sử, cuộc chiến tranh cách mạng của
nhân dân ta… là môi trường để nhân vật chính - Lão Hói bộc lộ tính cách.
Lão Hói - Lâm Thanh trong tiểu thuyết
của Đồng Ngọc Hoa phần nào gợi lại cuộc sống, suy nghĩ, chiến đấu, lao động của
một lớp người đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và những năm đầu đổi
mới. Bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu về họ có thể được phần nào thỏa mãn qua tiểu
thuyết Lão Hói.
“VIỆT NAM LỊCH SỬ DIỄN CA”
CỦA VŨ TRUNG CHÍNH
Tác giả Vũ Trung Chính quê làng Đại Đê,
xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông có nhiều năm công tác trong Đoàn
chỉ đạo Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện, chuyên
viên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định. Ông từng làm chuyên gia
nông nghiệp ở châu Phi, nổi tiếng về cây lúa Senegan, được sách báo ca ngợi.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông là chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trong đội hình
tiểu đoàn 3 trung đoàn 101 sư đoàn 325, tham gia chiến dịch Quảng Trị 1972 và
chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, được nhà nước tặng nhiều huân huy chương. Từ khi
nghỉ hưu, ông dồn tâm sức nghiên cứu viết sách, mong góp phần vào việc truyền
bá kiến thức lịch sử nước nhà.
Tháng 8 năm 2010 nhà xuất bản Thanh niên ấn hành cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung
Chính. Sách có trang bìa gam màu trang trọng, dày 194 trang, khổ 13 x 19 cm và
nhiều ảnh tư liệu minh hoạ.
Sách gồm 2.900 câu văn vần, chia làm 9 chương, tóm tắt
những vấn đề cốt lõi, những sự kiện tiêu biểu trong bốn nghìn năm dựng nước và
giữ nước của Việt Nam, từ thời Hồng Bàng đến sau năm 1975. Nội dung sách diễn
ca lịch sử Việt Nam khá phong phú, từ những truyền thuyết Kinh Dương Vương, Lạc
Long Quân và Âu Cơ, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, Thánh Gióng, An Dương Vương... đến
các triều đại Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn... Tác giả đặc biệt dồn tâm
huyết vào thể hiện cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, về Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ chương năm đến chương chín.
So với các cuốn diễn ca lịch sử như Thiên Nam ngữ lục (từ Hồng Bàng đến Lê
Chiêu Thống), Đại Nam quốc sử diễn ca
của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái (từ Kinh Dương Vương đến Lê Trung Hưng), Việt sử diễn âm (từ Hùng Vương đến
Mạc)... thì Việt Nam lịch sử diễn ca
của Vũ Trung Chính có nội dung khá phong phú và đề cập tới thời gian lịch sử
dài hơn.
Qua việc phản ánh quá khứ anh dũng, vẻ vang của dân
tộc và đất nước với những tấm gương sáng chói, những ngọn cờ tiêu biểu trong
từng giai đoạn lịch sử Việt Nam, tác giả đề cao tinh thần đoàn kết toàn dân, cố
kết dân tộc, gắn bó các thế hệ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt
Nam độc lập, dân chủ, xã hội công bằng văn minh. Từ thực tế lịch sử nước nhà,
rút ra bài học quý giá là chỉ khi nào đoàn kết được các lực lượng yêu nước dưới
sự dẫn dắt của một vị tướng lĩnh tài ba, trung thành với dân tộc, yêu nước sâu
sắc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên tất cả thì mới có thể đánh đuổi được giặc
ngoại xâm, xây dựng đất nước độc lập tự chủ. Ngược lại, một khi triều đại suy
thoái, không thực hiện được đoàn kết dân tộc, thiếu vị thủ lĩnh tài ba đức độ
thì tất yếu sẽ bị kẻ thù lợi dụng, chia rẽ và tiêu diệt.
Mở đầu sách, tác giả nói rõ lý do ông
viết cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca:
“Tài liệu sách vở về lịch sử nước nhà không thiếu. Có những bộ sử hay, đồ sộ
tới mấy nghìn trang, hàng chục vạn chữ nhưng đã có mấy ai đọc hết. Có chăng chỉ
giúp các nhà nghiên cứu, còn với đa số nhân dân nhất là lớp trẻ hiện nay thì
những chồng sách trên quả còn xa vời với họ quá.”... “Thiết nghĩ nếu tóm tắt
gọn lại và diễn đạt dưới dạng văn vần có lẽ sẽ có nhiều người thích đọc và nhớ
được nhiều”.
Từ suy nghĩ trên, tác giả đã cố gắng
thể hiện những vấn đề cốt lõi lịch sử Việt Nam dưới hình thức thơ song thất lục
bát - một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Hình thức diễn ca thể hiện vấn
đề lịch sử bằng hình thức thơ lục bát hoặc song thất lục bát thường dễ đi vào
lòng người, dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn văn xuôi. Bà nội tôi không biết chữ,
mẹ tôi mới biết đọc biết viết qua lớp bình dân học vụ, nhưng lại thuộc làu làu
Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm... Đó là vì ngoài nội dung có giá trị, các tác phẩm
này còn được thể hiện bằng hình thức thơ lục bát và song thất lục bát. Vì thế,
tôi tin chắc rằng, với kết cấu theo thời gian, bố cục chương mục mạch lạc, sự
chọn lọc và thể hiện những sự kiện tiêu biểu bằng hình thức diễn ca song thất
lục bát của Việt Nam lịch sử diễn ca,
bạn đọc sẽ dễ thuộc, dễ nhớ, dễ nắm được khái quát tiến trình lịch sử Việt Nam
nói chung, những sự kiện lịch sử và những anh hùng dân tộc tiêu biểu nói riêng.
Những nhân vật kiệt xuất, những anh hùng dân tộc như
Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Trần Hưng Đạo,
Nguyễn Huệ - Quang Trung, Hồ Chí Minh... được tác giả miêu tả thật hào hùng
bằng đôi nét chấm phá, lời giản dị, dân dã mà gây ấn tượng khó quên cho bạn
đọc. Đơn cử, trường hợp tác giả viết về Bà Triệu: “Dòng hào kiệt Trinh Nương
tên gọi, Phất cờ đào tụ hội ba quân”, “Thề cưỡi sóng chém cá kình sợ chi”. Khi
bà ra trận “Sỏ guốc ngà ăn vận oai phong, Khoá ngoài chiếc áo giáp đồng, Cài
trâm giắt kiếm cờ hồng giương cao”. Hình ảnh Bà Triệu oai phong đến nỗi giặc
Ngô nhìn thấy đã khiếp vía “Thua mấy phen liên tiếp rụng rời”. Còn đây là hình
ảnh Quang Trung Nguyễn Huệ sau trận chiến: “Quang Trung khoác tấm áo bào, Sạm
đen khói súng vẫy chào muôn dân”. Lối diễn ca bằng lời giản dị, dân dã, tự
nhiên theo mạch tình cảm chân thực của tác giả cứ tuôn chảy từ đầu đến cuối tác
phẩm, càng về cuối càng dồi dào.
Việt Nam lịch
sử diễn ca là chuyện kể lịch sử bằng
hình thức thơ ca. Ở phương diện là tác phẩm thơ ca, Việt Nam lịch sử diễn ca mang đậm âm hưởng anh hùng ca. Tình yêu
đất nước quê hương, yêu truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc là tình
cảm chủ đạo xuyên suốt tác phẩm.
Hiện nay chất lượng dạy và học môn lịch sử trong nhà
trường có chiều suy giảm, thể hiện rõ qua kết quả thi cao đẳng và đại học môn
lịch sử những năm gần đây tỷ lệ điểm kém cao tới mức đáng báo động. Nhiều nhà
khoa học, nhiều nhà báo đã lên tiếng cảnh báo hiện tượng lớp trẻ ngày nay hiểu
biết rất hạn chế về lịch sử, cần phải cải tiến hình thức và phương pháp giáo
dục lịch sử nói chung và biên soạn sách sử nói riêng sao cho người đọc dễ hiểu,
dễ nắm được kiến thức lịch sử. Trong tình hình đó, cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung Chính đã góp phần tích cực,
thiết thực vào việc làm ý nghĩa này.
Tác giả Vũ Trung Chính viết cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca khi tuổi đã cao. Ông lại vốn là một nhà
khoa học viết văn nên khó tránh khỏi những hạn chế như sách còn ít chất thơ,
việc chọn vần, lựa chữ chưa được chú trọng thích đáng... Nhưng điều đáng quý,
đáng trân trọng là tấm lòng của ông thiết tha muốn đóng góp một việc làm có ích
cho sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
……………
Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. – 2012.
– Số 5(37) ra tháng 9. – Tr. 77 – 78.
BẾN
ĐỢI - KHẮC KHOẢI MỘT TÌNH YÊU
(Cảm
nhận về tập thơ Bến đợi của Nguyễn Thị Kim Ngân, Nhà xuất bản Hội nhà văn,
2005)
Bến đợi của Nguyễn Thị Kim Ngân là một tập thơ để lại
cho tôi ấn tượng tốt. Thơ chị lấy cảm xúc từ tình yêu người thân (yêu mẹ, yêu
con, yêu thày, yêu bạn...), yêu quê hương đất nước (yêu làng xóm, yêu cảnh vật
quê hương), nhưng bao trùm và nhiều hơn cả là tình yêu lứa đôi.
Tình
yêu trong thơ chị thường trực trong mọi lúc, mọi nơi. Trong bất cứ hoàn cảnh
nào, ở đâu, mọi cảnh vật mà chị bắt gặp cũng đều có thể tạo cảm xúc cho chị,
cũng trở thành cái cớ để chị làm thơ thể hiện tình yêu của mình. Trong đêm Noen
đi nhà thờ, khi đi tắm biển Sầm Sơn, đi nghỉ mát ở Thịnh Long, một gói quà sinh
nhật, trên bờ đê, biển, một ngọn gió... cũng trở thành nguồn cảm hứng tình yêu
trong thơ chị. Thơ tình yêu của chị thật buồn, thật khắc khoải, thật da diết, vừa
táo bạo, mãnh liệt đến không kìm nén được, vừa vị tha, dịu dàng, đằm thắm đến
nao lòng. Tôi nhận ra đằng sau nỗi buồn vì yêu, vì thương, vì nhớ chính là niềm
hạnh phúc, sung sướng của nhà thơ - người đang yêu.
“Anh”
là cái cớ, là nguồn cảm hứng để Kim Ngân làm thơ thể hiện tình yêu của mình.
Tình yêu trong thơ chị được thể hiện dưới nhiều góc độ, trạng thái, cung bậc
khác nhau. Tình yêu của chị đến độ chị ghen cả với gió và nắng, cái ghen vô lý
mà thật có lý, thật đáng yêu :
Em không thích đâu làn gió
Mơn man trên mái tóc anh
Em ghen với ngàn sợi nắng
Hôn má môi anh ngọt lành.
(Nói với
anh)
Nỗi
nhớ “anh” của chị da diết đến giằng xé, vừa nhớ mong vừa không dám chạm vào những
kỷ niệm xưa vì sợ nỗi nhớ sẽ làm mình không chịu nổi:
Con đường ta đã cùng đi
Em
không muốn đến... nhưng vì nhớ anh
... Bên hồ liễu cứ lả lơi
Mình
em - chẳng dám đến ngồi... ghế xưa.
(Một mình)
Điểm nhấn của câu thơ kết thật rõ
ràng: “Mình em”, làm cho sức nặng của sự đơn lẻ tăng lên rất nhiều. Dấu ba chấm
ở câu này tạo cảm giác về sự dùng dằng, rất muốn mà không dám, thể hiện tâm trạng
của “em” khá rõ ràng.
Trong khung cảnh ồn ào sóng nước Sầm
Sơn và nhộn nhịp khách thập phương, chị vẫn nhớ đến người thương, cái nhớ mơ
màng, nhè nhẹ mà sâu lắng:
Râm ran giọng nói, câu cười
Hình
như có tiếng của người em thương.
(Ghi ở biển Sầm Sơn)
Khát
khao “anh”, chị luôn trong tâm trạng đợi chờ mong mỏi, để rồi thất vọng và lại
hy vọng trong sự đơn côi trống vắng của mình giữa đông vui cuộc đời:
Ngóng trông, hò hẹn, đợi chờ
Nghe
đơn côi giữa bãi bờ đông vui.
(Tắm
biển)
Có lúc tình yêu trong thơ chị mãnh liệt,
táo bạo, thôi thúc như “Con ngựa bất kham trong lồng ngực, Ai đã lấy mất dây
cương”. Không kìm nén được, chị thốt lên những lời chân thật từ gan ruột lòng
mình:
Anh
đừng là mưa bóng mây
Hãy
là mưa giông ào ạt
Để
bõ lòng em khao khát
Đôi
mắt buồn... em uống thoả thuê anh !
(Khát)
Tôi rất thích những bài thơ tình chị
thể hiện trạng thái tình cảm của người “ván đã đóng thuyền” đối với người yêu
cũ. Cái tình còn âm ỉ cháy, cái tình còn nồng nàn cháy nhưng lại phải kìm nén
trong âm thầm, lặng lẽ:
Có
nỗi đau không nói hết bằng lời
Giữa
sa mạc mênh mông khi nào ta đỡ khát
Có
niềm vui không được hát
Cứ
âm thầm, lặng lẽ lặn vào tim.
(Anh có biết)
Em
bừng bừng như đứng trước giàn thiêu
Lại
phải nghĩ là tảng băng Bắc cực
Em
tan chảy trong ngập tràn sông ký ức
Mơ
thuyền tình về với bến bờ yêu.
(Bến bờ yêu)
Bao
con sóng biển đời giằng xé
Yêu
anh nhiều!
Nhưng không thể...
Anh ơi !
(Trước biển)
Yêu
“anh” biết bao nhiêu, nhưng khi anh đã có người khác rồi thì chị lại mừng cho
anh và âm thầm nén chịu buồn riêng:
Mừng
anh có thêm một nửa
Nửa
tôi: nén tiếng thở dài
(Lạc lối)
Theo
tôi, “Anh” trong thơ chị mà chị lấy làm nguồn cảm hứng bất tận cũng chính là...
THƠ:
Mãi
là câu thơ bỏ ngỏ
Để
anh - thi hứng theo về.
(Nói với
anh)
Vì “Anh” - Thơ ấy mà chị trăn trở, khắc
khoải, đau khổ, kiếm tìm, khao khát không yên. “Anh” - Thơ là bến đợi, là cái
đích mà con thuyền tình - thuyền thơ của chị suốt đời hướng tới:
Tôi
như con thuyền giữa biển đời giông bão
Khao
khát suốt đời một bến bình yên.
(Thuyền
giữa biển)
Tôi
cứ băn khoăn, nếu con thuyền chị cặp bến bờ bình yên, không còn bão giông cuộc
đời nữa, liệu chị có còn thi hứng và làm thơ hay được như Bến đợi không?
Nghĩ vậy nên tôi không biết mình nên chúc chị mau tới bến bình yên hay chị cứ
trăn trở, phong ba, chìm nổi giữa cuộc đời sóng gió...
Một
số bài thơ của chị ở thể loại lục bát ngọt và quyến rũ, gần gũi với cách nói
dân gian. Tôi rất khoái khi đọc những câu sau:
Ước mình là chiếc thuyền trôi
Cùng
anh góc bể, chân trời lênh đênh.
(Ước)
Thế rồi ngày rộng, tháng dài
Người
mua hoa cưới cho ai cài đầu?
Hoa ngày xưa ấy nay đâu?
Để
tôi đứt gánh giữa câu... tròng trành.
(Một thời xa)
Gió non như gọi như mời
Xô
nghiêng cái nhớ của người đang yêu.
(Một thoáng xuân)
Mênh mông gió thổi sân ga
Bao
người sao cứ thừa ra một người
Tàu đi để lại mình tôi
Tóc
bay dài mãi về nơi... một mình.
(Trên sân ga)
Nói về sự cô đơn, trống vắng sau khi tiễn
người thương đi xa như bài Trên sân ga của chị thật tài tình. Chị ý thức
sâu sắc về sự “một mình”, giữa “Bao người sao cứ thừa ra một người”, một
người đơn độc giữa đông người lại càng đơn côi trống vắng hơn.
Bài
“Phải lòng” là một trong những bài thơ tình khá. Tác giả gửi tâm sự của mình
trong hình ảnh nhân cách hoá của con đê và dòng sông. Hai câu kết bật ra thật bất
ngờ, thú vị làm ý tình sáng bừng lên:
Cớ sao sông cứ lượn vòng
Để
con đê - Kẻ phải lòng... lượn theo?
Nếu
không có câu kết trên, bài thơ cũng chỉ là một bài bình thường, không hơn vè là
mấy:
Sớm nào thả bước trên đê
Bên
anh bỗng thấy say mê tình đời
Dưới sông thuyền cứ êm trôi
Trên
bờ hai đứa - hai người lang thang
Cánh cò chấp chới bay ngang
Mặt
trời nghiêng nắng nhuộm vàng mặt sông.
Những hình ảnh trong đoạn thơ trên không
mới, lại được ngắt nhịp hai, tạo cảm giác đều đều, đơn điệu. Nếu cứ tiếp tục
như thế sẽ thành nhàm chán. Thật may là câu kết đột nhiên chuyển nhịp 3 - 3 - 2
đã phá vỡ sự đơn điệu, đọc nghe mạnh hơn. Từ “Kẻ phải lòng” là cách nói dân
gian nói về tình cảm của người đang yêu, nhưng mạnh mẽ, dứt khoát hơn hẳn “kẻ
đang yêu”. Theo tôi, chính điều này làm bạn đọc thích thú và bài thơ “đứng” được
cũng là nhờ thế. Nó nâng tầm bài thơ lên rất nhiều.
Bên cạnh nhiều bài hay, tập thơ còn một
vài bài, hoặc vài câu chưa hay. Chẳng hạn câu sau đây nó có vẻ ít chất thơ :
Nơi
Thủ đô gác tía, lầu son
Con
chớ a dua, cũng đừng lạc lõng
Vạn
sự khởi đầu... Mẹ luôn hy vọng
Tin
ở mình con bước tới tương lai.
(Nói với con)
Hoặc ngay ở
khổ đầu của bài Nói với con :
Mẹ
vẫn chưa quen con đã đi học xa
Khi
nấu cơm cứ thừa ra một suất
Lúc
sắp mâm thấy thừa đũa bát
Mới
biết rằng con đã đi học xa
Tứ
thơ hay nhưng sao đọc lên, cái từ “mới biết ” nó cứ “mắc nghẹn” trong cổ. Cái sự
con đi học xa là việc đã diễn ra đối với chị, tức là chị đã biết, nhưng
vì yêu con và quen chăm sóc con, luôn nghĩ con ở bên mình mà quên rằng con đã
đi học xa và rồi một lúc nào đó chợt nhớ ra... Cái từ “mới biết” trong
khổ thơ nó cứ gượng ép thế nào ấy.
Xưa
nay có nhiều người làm thơ, có người có trăm bài, có người tới cả nghìn bài,
nhưng rất ít người còn lại một vài bài, thậm chí một vài câu lắng đọng qua nhiều
thế hệ. Bến đợi của Kim Ngân có một số bài, một số câu thơ hay cũng đã
là thành công đáng quý lắm, nhất lại là tập thơ đầu tay của chị - một giáo viên
dạy toán.
Năm
mươi sáu bài thơ trong Bến đợi đều là những bài ngắn, nhẹ nhàng, dễ đọc.
Nhưng ngắn không có nghĩa là không nói được nhiều. Dường như Kim Ngân làm thơ
chỉ để gửi gắm tâm sự của riêng mình, ghi lại những trạng thái tình cảm, những
cảm xúc và sự việc trong đời mình. Chính vì thế mà thơ chị vừa tự nhiên, vừa
chân thật và có sức thuyết phục, truyền cảm tới người đọc. Với Bến đợi,
Kim Ngân góp thêm một giọng điệu (tuy chưa rõ nét), làm phong phú và đa dạng
cho mảng thơ và thêm một cây bút có triển vọng trong đội ngũ tác giả thơ nữ Nam
Định.
………..
Nguồn:
Văn nhân. –
2006. – Số 52. – Tr. 53 – 54.
KHÔNG LỘ, MINH KHÔNG LÀ HAI HAY MỘT NGƯỜI?
Gần
đây có một số tác giả viết bài trên tạp chí và in trong sách cho rằng Dương
Không Lộ và Nguyễn Minh Không chỉ là một người. Từ quan điểm đó dẫn đến nhìn
nhận những sự kiện, chi tiết phi lý, trái với thư tịch lịch sử. Chẳng hạn,
trong bài “Đức Thánh Nguyễn Minh Không” của Đỗ Danh Gia (Tạp chí Văn nghệ Ninh
Bình, số 59 năm 2008) có đoạn: “...Minh Không làm nên tứ đại khí, là bốn báu
vật của nước Nam ta...” và “Chí Thành (Nguyễn Minh Không) nuôi chí lớn, đi chu
du thiên hạ, lúc thì đăng sơn kích thỏ, lúc thì phóng thuỷ cầu ngư, gặp ông Đạo
Hạnh ở chùa Sài Sơn kính làm anh em”. Sách “Bái Đính – Ngàn năm tâm linh và
huyền thoại” của Trương Đình Tưởng (Nxb. Thế giới, 2008) cũng viết về Nguyễn
Minh Không: “Ông còn được mệnh danh là ông tổ đúc đồng, người tạo nên “Tứ đại
khí” nổi tiếng ở nước ta thời nhà Lý là Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng
Phật Quỳnh Lâm và đỉnh Phổ Minh”. Tác giả Trương Đình Tưởng còn cho rằng hai
bài thơ của Dương Không Lộ là “Ngôn hoài” và “Ngư nhàn” là của Nguyễn Minh
Không trên cơ sở hiểu “Mảnh đất “long xà” mà tác giả đề cập đến trong bài thơ
“Ngôn hoài” chính là nói đến vùng đất Sinh Dược, có núi Bái Đính, nơi ông tu
hành trên đỉnh núi...” Tôi không hiểu vì sao Trương Đình Tưởng viết “ông tu hành
trên đỉnh núi” Bái Đính mà lại phải “Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh”?!
Xin được trao đổi với hai tác giả thông qua bài trao
đổi với Hồ Đức Thọ dưới đây.
Trong bài “Thiền sư Dương Không Lộ – Nguyễn Minh Không
là hai hay là một” trên Tạp chí Văn nhân số 62 năm 2008, tác giả Hồ Đức Thọ đã
thống kê một số tài liệu về hai thiền sư theo hai quan điểm: Hai ông là hai
người và hai ông chỉ là một, từ đó kết luận: “Với những tư liệu sách vở và qua
khảo sát điền dã hàng ba, bốn chục năm trong nghề, xin mạo muội nhận định hai
vị Không Lộ Nguyễn Minh Không và Dương Không Lộ chỉ là một người” . Và tác giả
Hồ Đức Thọ tự tin mời các trí giả, độc giả trao đổi trực tiếp, hoặc bằng văn
bản, báo chí với ông.
Xin được trao đổi một số điều với tác giả Hồ Đức Thọ.
1– Về tài liệu
tác giả Hồ Đức Thọ thống kê theo hai quan điểm:
Phần đầu bài viết của mình, tác giả Hồ Đức Thọ tóm tắt
hai quan điểm khác nhau về Không Lộ và Minh Không. Về quan điểm hai nhân vật là
khác nhau, tác giả nêu ba tài liệu là “Đại Nam nhất thống chí”, “Hoàng Việt thi
văn tuyển”, “Hành Thiện xã chí”; Còn quan điểm hai nhân vật là một người thì
căn cứ vào “Nam Định địa dư chí” của Khiếu Năng Tĩnh (Thực ra tên sách là “Tân
biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược”), “Án cổ tích Đại Bi tự Thiền uyển thực
lục” ở chùa Đại Bi xã Nam Giang, huyện Nam Trực (Nam Định), “Đại Việt sử ký
toàn thư”, bài viết của Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang và một số sắc phong từ
thời Lê về sau...
Các tài liệu mà tác giả Hồ Đức Thọ nêu trên ra đời rất
muộn với thời kỳ nhân vật sống, mỗi tài liệu lại đặt ra từ chính nội dung của
nó những vấn đề nghi vấn cần phải làm rõ. Riêng “Đại Việt sử ký toàn thư” lại
chỉ nói về Nguyễn Chí Thành, chẳng nói gì về Không Lộ nên không thể lấy đó mà
nhận định Không Lộ cũng chính là Minh Không. Tác giả Hồ Đức Thọ căn cứ vào “Đại
Việt sử ký toàn thư” là đúng, nhưng ông lại không hiểu đúng (hoặc cố tình không
hiểu) nên dẫn đến nhận thức sai lầm. Chẳng hạn, tác giả cho rằng sách chỉ nói
về Minh Không, không hề nhắc đến Không Lộ thì tức là chỉ có nhân vật Minh
Không, và Không Lộ cũng chỉ là Minh Không. Đó là cách hiểu chủ quan, cảm tính.
Một số tài liệu ra đời sớm hiện còn trong đó đáng chú
ý nhất là bản trùng san (in lại) “Thiền uyển tập anh” thì không được tác giả
khảo cứu. “Thiền uyển tập anh” đã được các nhà khảo cứu kết luận do Thông Biện
(? – 1134) khởi thảo, đến Biện Tài, Thường Chiếu và cuối cùng là Ẩn Không (đầu
thời Trần) hoàn chỉnh. Phần nói về Không Lộ tài liệu này viết rõ rằng ông họ
Dương (? – 1119) quê ở Hải Thanh (nay thuộc tỉnh Nam Định). Đồng thời sách lại
có riêng một truyện viết về Minh Không (1066 – 1141) họ Nguyễn, quê ở Đàm Xá
(nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Nếu Minh Không và Không Lộ chỉ là một người thì
sách để riêng hai truyện làm gì.
“Trù Thủ tự Bảo Long am bi ký” - Bia chùa Trù Thủ để ở
đình xã La Vân, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình) do Phạm Đăng Dự soạn, dựng năm 1633
cũng nói rõ tác giả theo đúng cựu bản “Phật tổ ngữ lục” và “Thiền uyển” mà khắc
vào bia phần “Phù Vân quốc sư ngữ lục” cho biết: Sư người Đàm Xá, huyện Gia
Viễn, phủ Tràng An, họ Nguyễn huý Chí Thành, học trò của Từ Đạo Hạnh, được thày
ban thưởng đổi tên là Nguyễn Minh Không...
Một số sách về sau cũng viết rõ Minh Không và Không Lộ
là hai người như “Lĩnh Nam chích quái” (TK15), “Quỳnh Côi dư địa chí” (1933),
“Quốc sư Bảo lục” (1898)...
Thiết nghĩ các tài liệu càng gần sự kiện bao nhiêu thì
càng đáng tin cậy bấy nhiêu (trừ khi các tài liệu ra đời sau có cứ liệu xác
đáng bác bỏ quan điểm của tài liệu trước). Nhân vật Không Lộ và Minh Không đều
là các thiền sư. Tìm hiểu về hai nhân vật này phải căn cứ chính vào tài liệu
lịch sử và tài liệu của nhà Phật. Tác giả Hồ Đức Thọ căn cứ vào các tài liệu ra
đời muộn hơn nhiều so với “Thiền uyển tập anh” (tài liệu hiện còn của các nhà
sư sống gần nhất với Không Lộ và Minh Không) nên độ tin cậy không cao. Cơ sở
quan điểm của tác giả Hồ Đức Thọ không vững chắc tất yếu dẫn đến những nhận
định chủ quan, phiến diện.
2– Tác giả
Hồ Đức Thọ viết: “...Thực ra hội Ông
(tức thánh Nguyễn Chí Thành – chú thích của TMG) tổ chức từ ngày 12 đến ngày 15
tháng Chín. Đây là dịp kỷ niệm Thiền sư thời Lý, một nhà chân tu, một vị danh
y, một tổ sư của nghề đúc đồng, có công đúc bốn bảo vật to lớn cho quốc gia Đại
Việt như Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền (Hà Nội), tượng chùa Quỳnh Lâm (Hải
Dương) và vạc Phổ Minh (Nam Định)”... Tiếp theo tác giả dùng câu nghi vấn nhằm
khẳng định Không Lộ, Minh Không chỉ là một người – Nguyễn Chí Thành: “Có phải
Thiền sư họ Dương huý Minh Nghiêm quê Giao Thuỷ hiệu Không Lộ. Hay như chính sử
và sách tham khảo, di ngôn khẳng định vị Thiền sư họ Nguyễn, huý Chí Thành, quê
Đàm Xá hiệu Khổng Lồ, Không Lộ, Minh Không?”
Để kiểm chứng điều tác giả Hồ Đức Thọ nêu trên, chúng
tôi tra cứu lại sách sử thì thấy không hoàn toàn đúng như nhận định của tác
giả. Với quan điểm Dương Không Lộ chính là Nguyễn Minh Không (1066 - 1141), tác
giả nói ông đúc cả bốn bảo vật (tứ đại khí) là sai lầm. Xin hãy đọc kỹ lại các
sách sử sẽ thấy:
A - Tượng
Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm:
“Đại Nam nhất thống chí” (H.: KHXH, 1971. – T.3. - Tr.
413) chép: “Chùa Quỳnh Lâm, xã Hạ Lôi, huyện Đông Triều, do Thiền sư triều Lý
là Nguyễn Minh Không lập, đúc tượng đồng trong chùa”.
B – Tháp Báo
Thiên:
“Đại
Việt sử ký toàn thư” (H.: KHXH, 1998. – T.1. - Tr. 272) ghi: “Đinh Dậu (Long
Thuỵ Thái Bình) năm thứ 4(1057). Mùa xuân, tháng Giêng, xây Bảo tháp Đại Thắng
Tự Thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên)”.
Tháp Báo Thiên được xây dựng vào năm 1057, mà Minh
Không ra đời vào năm 1066, tức là Tháp Báo Thiên đã có trước khi Nguyễn Minh
Không ra đời tới 9 năm thì sao có thể nói Minh Không xây tháp Báo Thiên được.
Tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) cho xây dựng nên những tác
giả của “Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - T.1. - Tr. 271) phê phán ông là “...
nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm, đó là chỗ kém”.
Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (H.: KHXH, 1992. – T.1.
– Tr.193 – 194) cũng viết như thế: “Chỉ có việc xây tháp Báo Thiên, làm cung
Dâm Đàm, nhọc dân tốn của”.
C – Chuông
Quy Điền:
- “Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - Tr. 281) chép:
“Canh Thân (Anh Vũ Chiêu Thắng) năm thứ 5(1080). Mùa xuân, tháng hai, đúc
chuông lớn cho chùa Diên Hựu. Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng
nó đã thành khí không nên tiêu huỷ, bèn đem bỏ ở Quy Điền (ruộng rùa) của chùa.
Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là chuông Quy Điền”.
Như vậy, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã ghi rõ
chuông Quy Điền là do vua Lý Nhân Tông cho đúc, khi ấy Nguyễn Minh Không mới 14
tuổi không thể đúc chuông này được.
- Cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của
Quốc sử quán triều Nguyễn (H.: Giáo dục, 1998. – T.1. – Tr. 365) chép: “Tân Tỵ,
năm Long Phù thứ nhất (1101) (đời vua Lý Nhân Tông)”... “Sửa lại chùa Diên Hựu.
Chùa này do Lý Thái Tông làm ra để cầu trường thọ; đến đây tu sửa lại. Lại đúc
quả chuông lớn. Đúc xong, đánh thử, chuông không kêu, đem bỏ ở ngoài ruộng.
Ruộng ấy sẵn nhiều rùa, nên người ta gọi là “Chuông Quy Điền”.
Cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” ra đời
sau, tuy viết năm đúc chuông khác với “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhưng cũng
viết năm đúc chuông ở đời Lý Nhân Tông và cũng không hề nói chuông do Nguyễn
Minh Không đúc.
D – Vạc
(đỉnh) Phổ Minh:
- “Đại Nam nhất thống chí” (Nxb. Thuận Hóa, 1992. –
T.3. – Tr. 343) chép: “Đỉnh cũ Phổ Minh: Nặng ngàn quân, ở chùa Phổ Minh huyện
Mỹ Lộc. Tương truyền, đời Lý, thiền sư Dương Không Lộ học được pháp thần thông,
sang triều đình Bắc Quốc khuyến giáo đồng đỏ, vào kho đồng lấy được đầy túi
mang về đúc thành đỉnh, nay đặt ở trước cửa chùa, tức là một trong “An Nam tứ khí”.
Như vậy, vạc Phổ Minh do Dương Không Lộ đúc. Việc chưa
thể khẳng định được Dương Không Lộ cũng chính là Nguyễn Minh Không, nên cũng
không thể nói vạc (đỉnh) Phổ Minh là do Nguyễn Minh Không đúc.
- Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” (Sđd. – T.1.
– Tr.196) lại chép: “Sau khi nhường ngôi, vua (Trần Nhân Tông) lưu tâm kinh
điển nhà Phật, xây am Thiên Kiện, đúc đỉnh (vạc) Phổ Minh thờ Phật rất chăm”.
- Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (Sđd.
– Tr. 490) chép: “Nhâm tuất (1262) (đời vua Trần Thánh Tông (1258 – 1278)”...
“nhân đấy đổi làng Tức Mặc làm phủ Thiên Trường; dựng cung gọi là Trùng Quang
để cho các vua đã nhường ngôi rồi về ở; phía tây cung dựng chùa Phổ Minh”. Như
thế thì có chùa Phổ Minh rồi mới có đỉnh Phổ Minh.
Hai cuốn dẫn sau tuy nói khác nhau về thời gian ra đời
của vạc Phổ Minh, nhưng đều thống nhất ở thời Trần. Nếu hai cuốn này viết đúng
thì vạc Phổ Minh không thể do Minh Không thời Lý đúc được.
Rõ ràng việc tác giả Hồ Đức Thọ nói rằng căn vứ vào
các sách sử thì Nguyễn Minh Không đúc cả tứ đại khí là một nhận định sai.
Nguyễn Minh Không chỉ đúc tượng Phật chùa Quýnh Lâm, còn ba đại khí khác không
phải do Nguyễn Minh Không làm.
3– Tác giả
căn cứ vào tập án cổ tích Đại Bi tự Thiền uyển thực lục đã viết: “Đoạn sau có ghi việc kết bạn của Minh Không, Giác
Hải và Đạo Hạnh vào năm Canh Tý (1120) “Chí Canh Tý niên, Minh Không, Giác Hải
dữ Đạo Hạnh kết vi huynh đệ ước vãng Tây Thiên Phật cầu ấn Độ pháp...” rồi kết
luận “Sách không hề nói đến Dương Không Lộ, vậy Không Lộ huý Minh Nghiêm mất
năm 1094 kết nghĩa với ai? Làm gì có chuyện đồng hành đi học đạo Tây Thiên với
Giác Hải, Đạo Hạnh” để phản bác quan điểm Không Lộ và Minh Không là hai người
khác nhau.
Về Giác Hải ta chưa rõ cụ thể năm sinh và năm mất,
nhưng Đạo Hạnh (tức Từ Lộ) thì thư tịch cổ đã ghi rõ ông mất năm 1117. Vậy năm
Canh Tý (1120) Minh Không kết bạn với Đạo Hạnh nào để đi Tây Thiên?
“Đại Việt sử ký toàn thư” (Sđd. - Tr. 308-309) chép
vào tháng 3 năm 1136: “Vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi. Nhà sư Minh Không
chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha thuế dịch cho vài trăm hộ. (Tục truyền khi
nhà sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao
cho học trò là Nguyễn Chí Thành tức Nguyễn Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu
thấy quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này.)”
“Đại Nam nhất thống chí” (Sđd. - Tr. 259) cũng chép:
“Từ Đạo Hạnh sắp mất, dặn lại Nguyễn Minh Không rằng: “Sau này thày ở ngôi vua,
khó trốn được nợ trần, cần được đệ tử cứu chữa”.
Như vậy, theo chính sử thì Minh Không là đệ tử của Đạo
Hạnh, là thế hệ sau chứ không phải là bạn bè để “kết vi huynh đệ” với Đạo Hạnh.
Những điều này chứng tỏ tài liệu tác giả Hồ Đức Thọ lấy làm căn cứ để bác bỏ
quan điểm Minh Không và Không Lộ là hai người, từ đó nhận định quan điểm Minh
Không và Không Lộ chỉ là một người là không đáng tin cậy, là sai lầm.
4 – Cách
hiểu bài “Ngôn hoài” (của Dương Không Lộ) của tác giả Hồ Đức Thọ là khiên cưỡng
khi nhận xét: “Cô phong Đính, địa
phương cho là núi Bái Đính (có người dịch là đỉnh núi). Nhưng Giao Thuỷ làm gì
có núi cao chót vót, kể cả núi hình rồng, hình rắn như thơ tả cảnh Đàm Xá, Gia
Viễn. Vậy mà bàn cãi mãi.” Cách hiểu về bài “Ngôn hoài” của tác giả Hồ Đức Thọ
cũng tương tự như cách hiểu của tác giả Trương Đình Tưởng. Từ cách hiểu như vậy
Hồ Đức Thọ nhận định tác giả bài “Ngôn hoài” là của Nguyễn Minh Không, và Không
Lộ cũng chính là Minh Không.
Tra cứu nguyên bản bài thơ “Ngôn hoài” trong “Thơ văn
Lý Trần” thì ba chữ mà tác giả phiên âm là “Cô phong Đính” đúng theo từ điển
phải phiên âm là “Cô phong đỉnh” (“cô” là một mình, đơn độc; “phong” là đỉnh
núi; “đỉnh” là chỗ cao nhất của đầu). (Từ lâm Hán Việt từ điển. - Nxb. Thuận
Hoá, 2001 và Từ điển Hán Việt hiện đại. - Nxb. Thế giới, 1995). Một dị bản của
bài Ngôn hoài chép chữ “lĩnh” (cổ, chỉ bộ phận quan trọng của sự vật) thay cho
chữ “đỉnh”. Ba chữ này (“cô phong đỉnh” hoặc “cô phong lĩnh”) mà lại gán cho nó
“là núi Bái Đính” có khiên cưỡng quá không? Có đúng không?
“Ngôn hoài” là một tác phẩm văn học dưới thể loại thơ
tứ tuyệt, phải tìm hiểu cảm thụ nó trên cơ sở đặc trưng nghệ thuật của thơ, cụ
thể là tác giả đã dùng hình ảnh, hình tượng, ngôn ngữ đặc trưng thể hiện cảm
xúc, tình cảm của mình như thế nào, ta mới có thể hiểu đúng bài thơ và tư tưởng
tác giả. Về việc cảm thụ bài thơ này đã có nhiều bài viết hay trong sách và
trên báo, tạp chí nên thiết nghĩ không cần phân tích sâu, mà chỉ nêu đôi chỗ
liên quan đến chủ đề bàn cãi. Theo chúng tôi, “cô phong đỉnh” đơn giản chỉ là
một hình tượng cô độc mà đẹp đẽ, hùng vĩ, độc lập, là hình ảnh của Thiền, là
đỉnh cao của trí tuệ giác ngộ, không gì so sánh được. Có lẽ hình tượng “long xà
địa” trong bài thơ làm tác giả Hồ Đức Thọ và Trương Đình Tưởng hiểu là những
rặng núi hình rồng, hình rắn uốn quanh ngôi nhà rồi suy ra đó là “vùng đất Sinh
Dược, có núi Bái Đính, nơi ông tu hành trên đỉnh núi...” Thực ra trong 92 thuật
ngữ phong thuỷ không thấy có thuật ngữ “Long xà địa”. “Kinh dịch” có câu “Long
xà chi chập, dĩ tồn thân dã” (Rồng rắn mà ẩn nấp cốt để giữ mình vậy). “Hán
thư” cũng chép “Quân tử đắc thời tắc đại hành, bất đắc thời tắc long xà” (Người
quân tử gặp thời thì làm việc lớn, không gặp thời thì ở ẩn). Hình ảnh “long xà
địa” trong “Ngôn hoài” thể hiện người quân tử – tác giả mang chí lớn, nhưng
chưa gặp thời mà “rồng hoá rắn”, ẩn mình chờ thời, một khi gặp đúng thời thì
hành động kiên quyết, mạnh mẽ, táo bạo “trực thượng cô phong đỉnh”. Đằng sau sự
thanh nhàn nơi thôn dã là hoài bão lớn lao của tác giả.
Như vậy, có nhiều cách cảm thụ bài thơ tuỳ theo trình
độ, kiến văn và vốn sống của mỗi người. Tuy nhiên, vì “Ngôn hoài” là một tác
phẩm văn học nên chúng ta cũng cần phải hiểu nó ở “tầm cấp tinh thần” gắn với
đặc trưng của hình tượng văn học, không nên hiểu theo cách “vật chất hóa” hoặc
“tầm thường hóa” và suy diễn dẫn đến hiểu sai lệch bài thơ.
5 – Đề xuất
một hướng nghiên cứu về Không Lộ và Minh Không:
Hiện nay ở Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội,
Quảng Ninh, Ninh Bình... có gần ba chục nơi thờ chính, thờ vọng, phối thờ thánh
Không Lộ. Truyền thuyết về Không Lộ ở những nơi này khá giống nhau. Phải chăng
việc kết hợp những huyền thoại với tiểu sử của hai nhân vật có thật là Dương
Không Lộ và Nguyễn Minh Không đã “sáng tạo” ra Thánh Không Lộ (hoặc/và Thánh
Minh Không)?
Đặc điểm địa lý tự nhiên của các vùng thờ Thánh Không
Lộ là đất trũng, sát biển, hệ thống sông ngòi dày đặc, vùng đất “giao thuỷ”
mênh mông làm con người thấy mình nhỏ bé, cần sự che chở của một vị thần linh,
từ đó xuất hiện Thánh Không Lộ. Về sau cư dân chuyển từ đánh cá sang trồng lúa
thì Thánh Không Lộ lại được sáng tạo trở thành vị thần linh nông nghiệp, giúp
dân khai hoang trồng lúa với các chi tiết thường nhật của nông dân như đơm đó,
bắt lươn... Đồng thời các nghề thủ công phát triển, Thánh Không Lộ trở thành Tổ
nghề đúc đồng. ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của nhân dân
nước Việt góp phần sáng tạo Thánh Không Lộ là một nhà tu hành có nhiều phép
linh dị. Rõ ràng hình tượng Thánh Dương Không Lộ (hoặc / và Thánh Nguyễn Minh
Không) là kết quả quá trình chồng xếp lên nhau của nhiều lớp văn hoá, tín
ngưỡng trong đó văn hoá biển là lớp văn hóa sớm nhất.
Tổng hợp, phân tích những tài liệu về Minh Không và
Không Lộ, loại bỏ những huyền thoại (khá giống nhau ở hai nhân vật này), chúng
ta còn lại hai nhân vật lịch sử có thật là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không,
với những điểm riêng biệt của mỗi người. Đó là danh tính khác nhau, năm sinh và
năm mất khác nhau, quê quán khác nhau. Dương Không Lộ – nhà thơ. Nguyễn Minh
Không – thày thuốc. Dương Không Lộ là sư tổ chùa Thần Quang, Nguyễn Minh Không
là sư Tổ chùa Quỳnh Lâm. Cả hai đều được phong Quốc sư thời Lý và đều chữa bệnh
cho vua Lý, nhưng ở hai đời vua khác nhau.
Tóm lại:
Bằng những chứng cứ thiếu độ chính xác và không đủ sức
thuyết phục với cách hiểu cảm tính, khiên cưỡng và phiến diện, Hồ Đức Thọ kết
luận Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không chỉ là một người là không thuyết phục,
là sai lầm.
2005
…………………
Nguồn: Văn
nghệ Ninh Bình. – 2009. – Số 67. – Tr. 50 – 54.
VỀ
LỆ KHAI ẤN ĐỀN TRẦN
Lễ khai ấn đền Trần (Nam Định) diễn
ra có quy mô tổ chức cấp nhà nước từ vài chục năm gần đây vào ngày Rằm tháng
Giêng hàng năm đã thu hút hàng vạn người về dự. Những người về dự lễ khai ấn
không chỉ là dân thường mà còn có rất đông quan chức các ngành các cấp từ trung
ương xuống địa phương. Ảnh hưởng của khai ấn đền Trần Nam Định như một phản xạ
dây truyền kéo theo nhiều nơi khác cũng tiến hành khai ấn và bán ấn như đền
Trần ở Hưng Hà (Thái Bình), đền Trần Thương (Hà Nam)...
1- Các nhà nghiên cứu nói gì về lệ khai ấn đền Trần?
Nhiều nhà chức trách, nhà nghiên cứu
trả lời cho câu hỏi này còn chưa rõ ràng, thiếu thuyết phục.
Một số tác giả viết bài nhận định lệ
khai ấn đền Trần Nam Định diễn ra từ thời Trần, bắt nguồn từ việc sau khi đánh
thắng quân Nguyên - Mông, vua Trần thiết triều ở Tức Mặc - Thiên Trường để
thưởng công, ban tước. Nếu đúng như vậy thì không có gì phải bàn cãi, lệ khai
ấn là có thật ở thời Trần. Nhưng rất tiếc những tác giả này lại không đưa ra
một chứng cứ nào chứng minh điều nhận định của mình là xác đáng để bạn đọc tin
tưởng. Điều đáng ngờ nhận định này là ở chỗ: thường thì việc xét công ban
thưởng phải diễn ra ở kinh thành, cụ thể thời Trần là kinh thành Thăng Long,
sao lại có chuyện xét công ban thưởng ở Thiên Trường? Chúng tôi cũng không tìm
thấy cuốn sử nào viết nhà Trần, sau khi chiến thắng Nguyên Mông đã xét công ban
thưởng ở Thiên Trường. Như thế, nhận định nêu trên là không đủ cơ sở thuyết
phục.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên (Viện Khảo
cổ học Việt Nam) trong bài “Có hay không tục “Khai ấn đền Trần” đăng trên Internet
tại địa chỉ http://hn.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/co-hay-khong-tuc-khai-an-den-tran-c46a358596.html
và nhiều báo điện tử khác, khẳng định:
“Không hề có chuyện nguồn gốc của lễ khai ấn bắt nguồn từ việc sau khi đánh
thắng quân Nguyên - Mông, vua Trần thiết triều ở Tức Mặc - Thiên Trường để
thưởng công, ban tước như nhiều ý kiến. Việc đó sử chép là diễn ra ở Thăng
Long”. Tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên còn viết một loạt bài “Lễ khai ấn đền Trần -
một xuyên tạc lịch sử” nói rõ trong thư tịch cổ không hề chép gì về cái gọi là
“Lễ khai ấn đền Trần”.
Như vậy tác giả này đã phủ nhận hoàn
toàn lệ khai ấn đền Trần.
Trong cuốn sách “Ấn chương Việt Nam”,
các ấn bằng gỗ ở nhiều đền thờ đức Thánh Trần được phân loại là ấn tín trong
lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng. Cuối đời lui về Kiếp Bạc, Hưng Đạo vương có tu
theo Đạo giáo và sau khi mất đã hiển thánh cho nên các đền và điện thờ đức Thánh
Trần và việc hành nghề đạo sĩ phải có con dấu của đức Thánh Trần để đóng trên
bùa chú, các bùa - sớ cho tăng tính linh thiêng. Như vậy, ấn đức Thánh Trần
dùng trong sinh hoạt tôn giáo chứ không có chuyện khai ấn thưởng công ban tước
trong chính quyền.
Trong bản thảo bài viết “Tìm hiểu lệ
khai ấn...” của Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang lúc sinh thời nói rõ có hai loại
lễ khai ấn:
- Một là khai ấn “Sắc mệnh chi bảo”
của nhà vua dùng cho các quan trước và sau kỳ nghỉ tết hàng năm từ 26 tháng
Chạp đến 6 tháng Giêng. - Hai là khai ấn “Trần miếu tự điển” nghĩa là ấn điển
thờ ở miếu nhà Trần vào Rằm tháng Giêng hàng năm dành cho nhân dân đi lễ đầu
năm, xin tờ điệp có dấu “Trần miếu tự điển” đem về treo ở nhà trừ tà ma, cầu
bình an khỏe mạnh, mọi việc như ý. Một thời gian dài Nam Định đã dùng ấn “Trần
miếu tự điển” trong lễ khai ấn đền Trần.
Tuy nhiên nhà nghiên cứu Lê Xuân
Quang cũng không đưa ra được cơ sở nào cho bài viết của mình.
Còn các nhà nghiên cứu chuyên ngành ở
địa phương nói gì về lệ khai ấn đền Trần? Tháng 7 năm 2009 diễn ra cuộc hội
thảo khoa học “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần Nam Định - giá trị và giải pháp
bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc” do Viện Văn hóa - Nghệ thuật
Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định tổ chức. Trong
số các bài tham luận của hội thảo, chúng tôi chú ý tới một vài tham luận đề cập
đến tục lệ khai ấn đền Trần của các nhà nghiên cứu địa phương:
Nhà nghiên cứu Phạm Văn Huyên (trưởng
phòng nghiệp vụ ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định, hiện là Phó
Giám đốc) với bài tham luận “Khu di tích lịch sử - văn hóa đền Trần với lễ tục
khai ấn đầu xuân” cho biết ý nghĩa ban đầu của lễ tục khai ấn là mở đầu cho
ngày làm việc của một năm mới, song không đưa ra được bằng chứng văn bản tin
cậy nào để thuyết phục rằng thời Trần có lễ tục khai ấn.
Nhà nghiên cứu Trần Đăng Ngọc (phó
chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Nam Định, nguyên giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam
Định) trong tham luận “Lễ khai ấn ở đền Trần Nam Định” viết: “Theo các cố lão ở
địa phương cũng như truyền thuyết dân gian thì trước đây vào thời Trần, hằng
năm cứ vào ngày 15 tháng Chạp cơ quan hành chính các cấp nghỉ ăn Tết, mãi đến
Rằm tháng Giêng năm sau mới trở lại làm việc bình thường. Ngày làm việc đầu
tiên trong năm hết sức quan trọng nên được triều đình tổ chức rất trọng thể.
Các dấu ấn đã niêm phong cất đi nghỉ ăn Tết, nay được lấy ra lau chùi sạch sẽ.
Triều đình tổ chức lễ cáo trời đất, sau đó nhà vua sẽ đóng con dấu đầu tiên để
mở đầu cho một năm làm việc và mong cho mọi sự tốt lành...” Nhà nghiên cứu Trần
Đăng Ngọc còn miêu tả quá trình hành lễ khai ấn đền Trần khá chi tiết. Tuy
nhiên, ông cũng không đưa ra được những nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy mà
chỉ dựa theo lời kể của các cụ cố lão, cao niên hiện nay (như nêu trên).
Theo ông Nguyễn Văn Thư (Giám đốc Bảo
tàng tỉnh Nam Định) và ông Nguyễn Xuân Cao (Chuyên viên Hán Nôm Bảo tàng Nam
Định) thì: Lịch sử, nguồn gốc lễ khai ấn chưa rõ bắt đầu từ thời gian nào,
không có sử sách nào ghi chép mà chỉ tương truyền trong dân gian là có từ thời
Trần Thái Tông khi về yết lễ tại tiên miếu và ban thưởng cho nhân dân.
Như vậy, ý kiến của các nhà nghiên
cứu địa phương đều không đưa ra được tài liệu nào ghi chép về lễ hội này, mà chỉ
căn cứ vào ý kiến của các cụ cao niên hoặc tương truyền trong dân gian. Còn các
nhà nghiên cứu cấp trung ương thì không có mấy ai đề cập trực tiếp đến lệ khai
ấn đền Trần, nếu có thì cũng chung chung và cũng phải thừa nhận là không có cơ
sở chắc chắn.
2 - Có hay không lệ khai ấn đền Trần? Nếu có thì quy mô mục đích của nó
ra sao?
Trong khi sưu tầm tài liệu để biên soạn
cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường - Nam Định: Thơ” do Hội Nhà
văn xuất bản năm 2010, chúng tôi có phát hiện bài thơ của Đỗ Hựu có nội dung
nói về lễ khai ấn đền Trần. Theo các tài liệu địa chí và đăng khoa lục thì Đỗ
Hựu sinh năm 1441, không rõ năm mất, quê xã Đại Nhiễm (thời Trần là xã Văn
Tập), huyện Ý Yên nay thuộc xã Yên Bình, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông đỗ Đệ
tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê
Thánh Tông, làm quan đến Lại bộ Tả Thị lang, từng đi sứ nhà Minh và có công
chiêu dân khai hoang vùng đất ven sông Hát. Ông có tác phẩm “Sơn thủy hành ca”.
Bài thơ của ông nói về lệ khai ấn đền Trần mà chúng tôi tìm thấy trong “Nam
châu vịnh tập” như sau:
十 四 夜 觀 開 印 會
曾 聞 昔 日 有 陳 王
即 墨 猶 留 族 祖 堂
萬 頃 栘 來 田 地 廣
康 村 定 宅 孝 和 彰
展 誠 以 祭 前 魚 廟
開 印 惟 祈 後 克 昌
天 下 如 今 誰 對 此
斯 民 斯 邑 望 恩 長
Phiên âm :
THẬP TỨ DẠ
QUAN KHAI ẤN HỘI
Tằng văn tích nhật hữu Trần vương
Tức Mặc do lưu tộc tổ đường
Vạn Khoảnh di lai điền địa quảng
Khang thôn định trạch hiếu hoà chương
Triển thành dĩ tế tiền ngự miếu
Khai ấn duy kỳ hậu khắc xương
Thiên hạ như kim thùy đối thử
Tư dân tư ấp vọng ân trường.
Dịch nghĩa :
TỐI MƯỜI BỐN
ĐI THĂM HỘI KHAI ẤN
Từng nghe rằng ngày trước vua Trần
Ở đất Tức Mặc có đền thờ tổ
Ban đầu dời tới Vạn Khoảnh(1) đất đai rộng rãi,
Sang Khang thôn, lấy sự hiếu với mẹ cha, hoà cùng anh
em cư trú.
Từ ấy tỏ lòng thành kính hằng năm tế tại Ngư miếu;
Và khai ấn để cầu sự tốt lành cho lớp tương lai(2)
Nay trong thiên hạ, nơi nào sánh được
Thế là dân làng sở tại mãi mãi nhờ ơn to lớn.
Dịch thơ:
Từng
nghe ngày trước Trần vương
Tức Mặc còn có tổ đường nơi đây
Dời
về Vạn Khoảnh đất này
Khang thôn định trạch thảo ngay hoà hài
Lòng
thành tế cá hôm mai
Khai ấn cầu vọng lâu dài yên vui
Đến
nay đâu sánh ở đời
Dân thôn mãi mãi bày lời tạ ơn.
.................
Nguyên
chú:
(1) Vạn Khoảnh: Nhà Trần vốn gốc ở
Chương Châu mang họ Dương, dời đến Yên Tử vẫn thế, về Vạn Khoảnh vẫn chưa đổi,
sau sang Khang Kiện, vì bất hoà nên mới chia ra. Chi họ Dương dời sang lập làng
Dương Xá (nay là xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình – Người dịch) chi ở lại lấy họ
Trần, (nay là Tức Mặc - Mỹ Lộc- Nam Định – Người dịch).
(2) Lệ này tương truyền là lệ vốn có
của tộc đảng chốn quê của họ Trần. Thiên hạ không thấy có lệ ấy.
Theo bài thơ trên của Tiến sĩ Đỗ Hựu
ở thế kỷ 15 thì lệ khai ấn đền Trần là lệ vốn có của tộc Trần. Vào thời kỳ tác
giả sống, lễ khai ấn tại tộc miếu của nhà Trần vẫn còn diễn ra. Lệ này tuyệt
nhiên không phải là lệ của nhà nước.
Nhưng tại sao mấy chục năm gần đây lệ
khai ấn đền Trần lại biến thành lệ quốc gia và được tổ chức quy mô toàn quốc?
Câu hỏi này đã được ông Tiến sĩ Nguyên Xuân Năm, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông
tin Nam Định trả lời rõ ràng trong bài tham luận tại hội thảo Đề án lễ hội Trần
2012 do UBND tỉnh Nam Định và Bộ VHTTDL tổ chức tại thành phố Nam Định ngày 18
– 7 – 2012, rằng ông là người có công nâng cấp lệ khai ấn đền Trần Nam Định từ
quy mô địa phương lên quy mô toàn quốc.
Trong “Hội thảo Đề án lễ hội Trần 2012”
(1) từ ông Tiến sĩ trung ương Nguyễn Chí Bền (Bộ
VHTTDL) đến ông Tiến sĩ địa phương Nguyễn Xuân Năm (Nguyên Giám đốc Sở VHTTDL
Nam Định) đã lấy bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu nêu trên làm cơ sở chính bảo vệ đề án
lệ khai ấn đền Trần, chứng minh lệ khai ấn đền Trần là có thật, nhưng lại lờ
tịt đi quy mô, mục đích thực sự của lễ khai ấn mà tác giả Đỗ Hựu nói trong bài
thơ và chú thích...
Bài thơ nêu trên của Tiến sĩ Đỗ Hựu
tuy là sáng tác văn học nhưng những điều phản ánh trong tác phẩm lại là điều
tai nghe mắt thấy nên rất đáng tin. Như vậy, lệ khai ấn thời Trần không phải
thời Nguyễn (Minh Mệnh) hay về sau này mới nghe, mà đã được tương truyền từ thế
kỷ 15 mà bài thơ của Đỗ Hựu là một minh chứng rõ ràng. Theo chúng tôi được biết
thì hiện tới thời điểm này, chưa có một tác giả nào đưa ra được chứng cứ xác
thực về lệ khai ấn đền Trần sớm và thuyết phục hơn bài thơ của Tiến sĩ Đỗ Hựu.
Kết luận:
- Qua bài thơ
của Tiến sĩ Đỗ Hựu (TK15) có thể nhận định Lệ khái ấn đền Trần là có thật.
- Quy mô của Lệ
khai ấn đền Trần chỉ trong tộc Trần, thực hành ở đền Trần. Tuyệt nhiên không
phải là lệ quốc gia.
Bộ VHTTDL đã có quyết định “trả lệ
khai ấn đền Trần về cho nhà đền”... chứng tỏ bài thơ chúng tôi sưu tầm của Tiến
sĩ Đỗ Hựu là một cơ sở đáng tin cậy. (Mặc dù các quan chức địa phương vẫn giành
quyền khai ấn hàng năm).
………………
Chú
thích:
Tác
giả Trần Mỹ Giống và Dương Văn Vượng cộng tác tham luận trong Hội thảo khoa học
“Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định” do Hội Văn học Nghệ thuật
Nam Định thực hiện 2013.
ĐỆ NHẤT, ĐỆ NHỊ, ĐỆ TAM, ĐỆ TỨ
CÓ THỰC LÀ HÀNH CUNG NHÀ TRẦN?
Từ
mấy chục năm nay, theo ngành bảo tàng di tích Nam Định thì khu chùa Đệ Nhất, Đệ
Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là bốn cung của nhà Trần nằm trong quần thể hành cung Tức
Mạc thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, được xây dựng vào giữa thế kỷ 13.
Trong “Lý lịch di tích lịch sử – khảo
cổ học chùa Đệ Tứ xã Lộc Hạ ngoại thành Nam Định” của Sở Văn hoá và Thông tin
Hà Nam Ninh năm 1989 có viết: “Sách Đại Nam nhất thống chí, phần nói về tỉnh
Nam Định có ghi: “... Chùa quán Đại thánh ở xã Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc, là hành
cung thứ tư (Đệ tứ hành cung) do nhà Trần xây dựng. Sau dân sở tại dùng chữ Đệ
Tứ làm tên xã, lại dựng chùa ở đây”.
Lâu nay chúng tôi cứ băn khoăn rằng đã là
hành cung thì phải còn phế tích. Vậy tại sao hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam
lại không tìm thấy phế tích. Riêng có Đệ Tứ thì còn phế tích, nhưng liệu phế
tích đó có thực là hành cung hay chỉ là nơi ở của một vị quan nào đó thời Trần?
Vừa qua, nhân tìm thấy và dịch một số
di cảo thơ của người xưa để tuyển vào cuốn “1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên
Trường – Nam Định” (Hội Nhà văn xuất bản năm 2010) của Hội Văn học Nghệ thuật
Nam Định, trong đó ba bài thơ có nội dung liên quan đến Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ
Tam, Đệ Tứ buộc chúng tôi không thể không đặt ra vấn đề xem lại có đúng đây là
bốn hành cung của nhà Trần không?
Bài thơ thứ nhất của Vũ Duy Thiện chép
trong “Lịch Đại An dân ký” như sau:
到 第 四 闍
相 傳 自 古 有 軍 營
天 屬 爲 名 半 萬 兵
四 隊 時 常 留 不 改
平 分 水 陸 幾 畨 靈
生 防 莫 敢 離 屯 住
死 戰 誰 收 置 石 銘
瓦 礫 人 言 陳 代 事
孤 魂 並 立 望 無 更
Phiên
âm:
ĐÁO ĐỆ TỨ ĐÔ
(1)
Tương truyền tự cổ hữu quân doanh
Thiên Thuộc vi danh bán vạn binh (2)
Tứ đội thời thường lưu bất cải
Bình phân thuỷ lục kỷ phiên linh
Sinh phòng mạc cảm ly đồn trú
Tử chiến thuỳ thu trí thạch minh
Ngoã lịch nhân ngôn Trần đại sự
Cô hồn tịnh lập vọng vô canh.
Dịch
nghĩa:
ĐẾN ĐỆ TỨ ĐÔ
Tương truyền nơi đây thuở trước có quân doanh, với tên
Thiên Thuộc ước nửa vạn người.
Đội 4 thời thường trú ngụ không biến cải, chia làm
thuỷ lục từng bao lần lập công hiển hách.
Khi sống dám nói rằng dời bỏ nơi đồn trú, qua cuộc
chiến tranh chết đi ai vì thu nhặt xác tàn.
Phế tích gạch ngói đây phương dân nói là việc cũ thời
Trần, các nơi đền miếu dựng thờ cô hồn mong rằng chớ hề thay đổi.
Dịch
thơ:
Tương truyền thuở trước có quân doanh
Thiên Thuộc là tên nửa vạn binh
Đội bốn thời thường luôn trấn giữ
Chia đôi thuỷ lục cậy yên lành
Người còn nào dám quên phòng thủ
Xương vãi ai thu việc chiến tranh
Phế tích thời Trần dân vẫn nói
Cô hồn các miếu nhớ đinh ninh.
(Dương Văn Vượng dịch)
Chú
thích:
(1) Đệ Tứ đô: Cửa Đệ Tứ – tên cũ chùa Đệ Tứ hiện nay.
Chữ “đô” còn nghĩa là cái lầu canh xây ở trên thành.
(2) Nguyên chú của tác giả (Vũ DuyThiện): “Bốn đạo
quân Thiên Thuộc có ước 5.000, Đệ Tứ thường có 2.000 thì 1.000 là thuỷ chiến.
Vào thời chống Nguyên, rồi đến chống Minh vẫn còn được biên chế đầy đủ, nhưng
thường lúc đã tận diệt. Nay là bốn ngôi chùa ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ”
Bài thứ hai của Vũ Triệt Vũ:
過 孤 魂 寺
萬 里 風 塵 不 顧 身
孤 魂 四 邑 感 君 恩
佋 來 未 必 真 名 字
付 在 方 官 歲 两 分
Phiên
âm:
QUÁ CÔ HỒN
TỰ
Vạn lý phong trần bất cố thân
Cô Hồn tứ ấp cảm quân ân
Chiêu lai vị tất chân danh tự
Phó tại phương quan tuế lưỡng phân.
Dịch
nghĩa:
TỚI CHÙA CÔ
HỒN
Muôn dặm xông pha gió bụi, đâu dám coi mình là trọng.
Dựng bốn ngôi chùa ở bốn ấp đều gọi là Cô Hồn.
Thuở ấy chiêu về biết có đúng được họ tên,
Giao cho quan sở tại thường năm hai lần lễ bái vào
tiết xuân phân, thu phân.
Dịch
thơ:
Liều mình muôn dặm phong trần
Ơn vua chùa cúng cô hồn tứ lân
Chiêu về có thực họ tên
Phó cho bản hạt nhị phân tế cầu.
(Dương Văn Vượng dịch)
Bài thứ ba của Trần Kỳ chép trong “Quốc sử tất đọc” và
“Kiến văn vựng tuyển” như sau:
大 聖 觀 寺
譜 存 光 啟 祀 三 清
立 觀 閒 時 見 有 寕
天 屬 幾 畨 臨 難 死
地 餘 長 壘 聚 民 生
當 間 輝 净 來 修 處
又 得 棃 公 次 室 情
老 少 飽 温 傳 故 事
春 秋 思 德 拜 遺 形
Phiên âm:
ĐẠI THÁNH
QUÁN TỰ
Phả tồn Quang Khải tự Tam Thanh
Lập quán nhàn thời kiến hữu ninh
Thiên Thuộc kỷ phiên lâm nạn tử
Địa dư trường luỹ tụ dân sinh
Đương gian Huy Tịnh lai tu xứ
Hựu đắc Lê công thứ thất tình
Lão thiếu bão ôn truyền cố sự
Xuân thu tư đức bái di hình.
Dịch nghĩa:
CHÙA ĐẠI
THÁNH QUÁN(1)
Tự phả ghi rằng ông Quang Khải sùng thượng Tam thanh,
nên dựng quán để khi nhàn cầu đảo thấy được sự yên lành.
Tại đây quân Thiên Thuộc từng nhiều phen tử nạn. Luỹ
đất hằn lên kéo dài kia là chỗ nhà dân cư trú.
Thời ấy có cung phi Huy Tịnh tới tu tỉnh nghỉ ngơi.
Rồi lại được Lê Tần vì tình của thứ thất mà góp công.
Già
trẻ ngày nay đội ơn được sự ấm no, mỗi khi tới tiết xuân thu đều tụ lại lễ lạy
tại trước tượng thờ.
Chú thích:
(1) Chùa thuộc thôn Đệ Tứ, phường Lộc Hạ,
thành phố Nam Định hiện nay, thờ Trần Quang Khải và thờ Phật.
Nguyên chú của tác giả (Trần Kỳ): Ông
Chiêu Minh Đại vương này rất thông về đạo thần tiên, con cháu ông kế chí có
nhiều tác phẩm như: Bất tín vu thuyết, Nam nhân Nam thần, Cần công khổ học...
Ban đầu ông Quang Khải ở đặt là Tĩnh Tâm quán, đời Lê đổi là Đại Thánh quán,
sau Lê Trịnh mới thờ Phật mà thêm chữ tự (chùa) vào sau chữ quán.
Dịch thơ:
Phả rằng Quang Khải phụng Tam Thanh
Dựng quán khi nhàn tỏ tấm thành
Thiên Thuộc bao phen vì nước chết
Luỹ dài còn đó xóm dân sinh
Đương thời Huy Tịnh về tu tỉnh
Vợ thứ Lê công góp chút tình
Già trẻ ấm no ôn chuyện cũ
Xuân thu nhớ đức vọng thần linh.
(Dương
Văn Vượng dịch)
Theo
như nội dung ba bài thơ trên thì Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ trước đây vốn
là nơi đóng quân của bốn đội trong đội quân của nhà nước có tên là Thiên Thuộc.
Đội quân này tồn tại từ thời Trần, lập công hiển hách trong chống Nguyên, qua
chống Minh. Về sau nhân dân lập miếu Cô Hồn thờ những cô hồn tử sĩ ở cả bốn ấp.
Hiện ở Đệ Nhị vẫn còn tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc được dựng từ thời
Mạc. “Lý lịch di tích lịch sử – khảo cổ học chùa Đệ Tứ xã Lộc Hạ ngoại thành
Nam Định” cũng nhắc đến một tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc, nhưng không
cho biết nội dung cụ thể tấm bia đó. Đặc biệt bài “Đại Thánh quán tự” của Trần
Kỳ có nguyên chú rất rõ ràng rằng chùa Đệ Tứ thờ Trần Quang Khải, chùa vốn do
Trần Quang Khải lập ra gọi là Tĩnh Tâm quán, đến thời Lê mới đổi là Đại Thánh
quán, thời sau Lê Trịnh mới thờ Phật nên thêm chữ “tự” sau chữ “quán” thành
“Đại Thánh quán tự”.
Các
tác giả của ba bài thơ trên đều sống ở thời Lê:
-
Tác giả Vũ Duy Thiện là người xã An Cự, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hiến
sát sứ, Nhập thị kinh diên. Ông có tác phẩm Cố
kinh lược khảo và Hùng Vương ký sự.
- Tác giả Vũ Triệt Vũ (1460 - ?) quê xã Đào
Lạng, huyện Đại An (nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định),
đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức
18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan Hình bộ Tả thị lang.
-
Tác giả Trần Kỳ là người xã An Thái, huyện Thiên bản (nay thuộc xã Kim Thái,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hàn
lâm viện, Đông Các hiệu thư. Ông có tác phẩm Từ hiếu gia thư.
Các bộ chính sử chỉ nói hành cung nhà
Trần ở Tức Mặc mà không hề nói Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là hành cung nhà
Trần. “Đại Nam nhất thống chí” chỉ nói Đệ Tứ là hành cung nhà Trần. Đây là bộ
sách địa chí – địa lý được biên soạn dưới thời Nguyễn, tức là ra đời muộn hơn
nhiều so với ba bài thơ nêu trên. Tài liệu gần sự kiện đáng tin cậy hơn tài
liệu ra đời xa sự kiện. Vì thế ba bài thơ của ba vị Tiến sĩ quan chức nhà nước
nêu trên là tài liệu rất đáng coi trọng. Từ ba bài thơ trên đặt ra một nghi vấn
lịch sử là Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ có đúng là bốn hành cung của nhà Trần
không, hay chỉ là bốn đồn trú quân doanh của đội quân Thiên Thuộc như nội dung
ba bài thơ nêu trên?
Tóm lại:
-
Nói di tích Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là bốn hành cung ngoại của nhà Trần
là chưa đủ chứng cứ thuyết phục.
-
Rất có thể phế tích mà ngành văn hóa thông tin địa phương thám sát phát hiện ở
Đệ Tứ chính là phế tích Tĩnh Tâm quán của Trần Quang Khải chứ không phải hành
cung nhà Trần.
……………….
Ghi
chú:
Tác giả Trần Mỹ Giống và Dương Văn Vượng cộng tác tham
luận trong Hội thảo khoa học “Dấu ấn Văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam
Định” do Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thực hiện năm 2013 (Công trình nghiên
cứu cấp tỉnh đã nghiệm thu).
Đăng trong Tạp chí Xưa và Nay số 2 - 2018 của Hội Khoa
học Lịch sử Nam Định.
Cũng in trong Tạp chí Khuông Việt số 12 – 13 tháng 1 -
2011
BÀI
“SUY NGHĨ NHỎ VỀ VIỆC ĐÁNH GIÁ MỘT NHÀ THƠ LỚN” TRONG CUỐN “TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU
BÀN VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT” CỦA TÁC GIẢ ĐỖ ĐÌNH THỌ (Hội VHNT Nam Định xuất bản
2005) – VÌ SAO BỊ BẠN ĐỌC PHẢN ĐỐI?
Bài “Suy nghĩ
nhỏ về việc đánh giá một nhà thơ lớn” của Đỗ Đình Thọ đã gây nên một làn sóng
phản đối gay gắt trong bạn đọc. Dư luận
bạn đọc bất bình vì cho rằng tác giả đã bôi đen phỉ báng xuyên tạc danh nhân
Nguyễn Khuyến. Bộ môn Nghiên cứu Phê bình của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định
đã tổ chức hội thảo về cuốn sách, thu hút hơn ba chục bài tham luận. Trừ một
bài khen ngất trời “Quá xứng đáng giải nhất Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh”,
một bài khen chung chung hữu hảo mà không nói gì tới nội dung và nghệ thuật tác
phẩm, một bài khen là chính (mà sau này tác giả thanh minh rằng bài viết đã bị
ông Đỗ Đình Thọ chỉnh sửa theo ý làm sai lệch tinh thần bài viết), còn hầu hết
đều phê phán bài viết về nội dung và phương pháp nghiên cứu sai lầm. Cục xuất
bản ra quyết định cấm lưu hành cuốn sách có bài viết này. Cho đến nay lệnh cấm
đó vẫn chưa được gỡ bỏ.
Sau đây là trích bài tham luận của Trần
Mỹ Giống đọc trong hội thảo:
- Tác phẩm khi ra công chúng, nó không
còn là của riêng tác giả nữa, mà nó sống hay chết, được khen hay bị chê, giá
trị của nó trong đời sống xã hội và văn học nghệ thuật ra sao hoàn toàn phụ
thuộc vào người đọc, người phê bình. Mỗi người đọc lại có cách tiếp cận, nhận
thức riêng về tác phẩm, tuỳ thuộc vào vốn sống, kiến thức, khả năng thẩm định
văn học nghệ thuật và nhân sinh quan của họ. Vì thế, việc nhìn nhận lại giá trị
của tác giả và tác phẩm là vấn đề diễn ra thường xuyên, không ngưng nghỉ. Nếu
không có điều đó thì còn gì hoạt động phê bình? Trong lịch sử văn học, Nguyễn
Bính mới được đánh giá cao từ vài chục năm gần đây; Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du đến cuối thế
kỷ 19 vẫn còn có những nhà nghiên cứu lớn xếp vào hàng dâm thư; Hơn hai trăm
năm người ta vẫn nhầm Phóng cuồng ca
và cả tập Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục của
Trần Tung là của Trần Quốc Tảng, còn in trong sách giáo khoa dạy đại học. Nếu
không có ai giám “tấn công” vào những thần tượng vốn được tôn vinh thì liệu
những nhầm lẫn như trên có sửa chữa được không? Lật lại vấn đề, nhất là vấn đề
đã được người ta tôn vinh thành thần tượng với thái độ hoài nghi khoa học là
điều đáng khuyến khích. Bởi chính nhờ những người phản biện dũng cảm mà ta tiếp
cận được chân lí. Với lòng nhiệt tình, say mê nghiên cứu, mong muốn đóng góp
cho nền nghiên cứu phê bình mà Đỗ Đình Thọ xem xét lại một thần tượng văn học
lừng lững như Nguyễn Khuyến thì thật đáng trân trọng.
- Song vấn đề đặt ra là bài viết như
thế nào để thuyết phục được người đọc. Một số bài phản biện và ý kiến về bài
của Đỗ Đình Thọ gần đây có phần qui chụp nặng nề, hẳn tác giả không tâm phục. Theo
tôi, trong thời buổi dân chủ được đề cao ngày nay cần phải dân chủ trong phê
bình văn học. Người phê bình và tác giả phải bình đẳng với nhau. Người phê bình
đứng trên tác giả, tự cho mình cái quyền phán xét theo cảm tính cá nhân thì
không tránh khỏi qui chụp và sai lầm.
Trong việc phản biện về Nguyễn Khuyến,
chính tác giả Đỗ Đình Thọ, có lẽ quá say mê với vấn đề mình tâm đắc mà cũng sa
vào suy diễn, qui chụp. Mục đích bài viết của tác giả đi đến kết luận cuối cùng
là không thừa nhận Nguyễn Khuyến là tác giả văn học yêu nước.
Tác giả nêu khá nhiều lí do trong tiểu
sử, hành trạng của Nguyễn Khuyến để chứng minh cho nhận định trên. Chẳng hạn
nói ông trong thời gian làm quan đã chẳng có công lao gì nên sử sách không có
ghi chép. Hoặc cho rằng việc ông cáo quan là trốn tránh trách nhiệm… Tác giả
dẫn câu “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” và nhận xét “đến loại “thất
phu” (đàn bà góa, người dân thường) cũng còn có trách nhiệm, huống hồ Nguyễn
Khuyến lại là một bậc đại phu”. (Trần Mỹ Giống tôi xin thưa, “thất phu” ở đây
là nam giới bình thường chứ không phải đàn bà góa bác Thọ ạ).
Song
những lí do lấy từ hành trạng Nguyễn Khuyến mà tác giả nêu ra để nhận định ông
thiếu trách nhiệm, bất tài trên đây là chưa thuyết phục, nặng về suy diễn chủ
quan.
Từ việc Nguyễn Khuyến làm gia sư cho nhà Hoàng Cao
Khải, làm giám khảo cuộc thi vịnh Kiều cho Lê Hoan, kết thông gia với Vũ Văn
Báo (ba nhân vật tay sai cho giặc), để con trai ra làm quan, phê phán cái chết
của tiến sĩ Vũ Hữu Lợi… tác giả kết tội Nguyễn Khuyến lập trường bấp bênh, bị
giới nho sĩ Nam Định xỉ vả. Đỗ Đình Thọ bộc lộ nhận thức phiến diện, nhận định
ác ý, một chiều mà thiếu cái nhìn nhân văn, bản chất sự việc. Làm quan lớn đến
Bố chính mà Nguyễn Khuyến còn từ quan về ẩn dật thì cái chức quan huyện nhỏ
nhoi có thể nói ông phải lo lót chạy chọt không? Bài “Xuân dạ liên nga” của
Nguyễn Khuyến mà ông Đỗ Đình Thọ lấy làm dẫn chứng để chứng minh Nguyễn Khuyến
coi cái chết của Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi như con thiêu thân tỏ ra áp đặt chủ quan,
không có cơ sở chắc chắn, thiếu độ tin cậy.
Nếu Nguyễn Khuyến coi thường Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi thì
thử hỏi ông có làm câu đối hộ học trò Vũ Hữu Lợi như câu đối này không:
“Vi tiệp thân tiên, trường sử anh hùng lệ mãn;
Tịnh du nhan hậu, khẳng giao phụ tử sinh hoàn”.
Nghĩa là:
Chưa thắng đã mất, mãi khiến anh hùng tuôn đẫm lệ;
Bạn bè dầy mặt, ví bằng phu tử sống quay về.
Vũ Hữu Lợi bị bạn học là Vũ Văn Báo chỉ điểm cho giặc
bắt tử hình. Câu đối của Nguyễn Khuyến tỏ rõ sự thương cảm kính trọng Vũ Hữu
Lợi và chửi xéo Vũ Văn Báo là quân mặt dày phản bạn.
Tác giả nói Nguyễn Khuyến nhìn trăng thành trăng loe
vì ông đau mắt nhìn không rõ là suy diễn sai lầm. Câu thơ của ông là Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Nhìn
trăng lóng lánh dưới nước, mà nước lại đang ở trạng thái động thì bóng trăng
đâu có tròn được. Hoặc bảo ông sợ sau này người ta lục vấn những sai lầm của
mình nên dặn con cháu ghi vào mộ chí Quan
nhà Nguyễn cáo về đã lâu cũng là khiên cưỡng. Thực ra ông khinh ghét bọn
quan lại tay sai cho thực dân cướp nước:
Vua
chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
Ông không muốn người đời sau hiểu lầm, xếp ông chung
vào “cái rọ” quan lại xấu xa kia mà:
Đề vào mấy chữ trong bia,
Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.
Ngoài
tiểu sử hành trạng của Nguyễn Khuyến lấy làm căn cứ chủ yếu cho quan điểm của
mình, Đỗ Đình Thọ còn căn cứ vào những truyền miệng dân gian hoặc “người ta”
mập mờ để kết luận ông không phải là tác giả yêu nước. Dân gian không bao giờ
là cơ sở cho việc nhận định tác phẩm của tác giả nên tôi không đi vào chi tiết.
Chỉ kết luận: căn cứ vào dân gian đánh
giá tác phẩm, tác giả yêu nước hay không là sai lầm.
Về
mặt tác phẩm, tác giả nêu một số trường hợp cụ thể rồi kết luận Nguyễn Khuyến
xử thiếu nhân hậu với dân. Những tác phẩm của Nguyễn Khuyến mà tác giả Đỗ Đình
Thọ lấy làm cơ sở chứng minh cho nhận định của mình chủ yếu là một số câu đối
(cho câu đối người thợ nhuộm, người làm nghề mổ lợn, anh lính kèn, vị cử nhân
đỗ giáp cuối bảng…).
Những
câu đối của Nguyễn Khuyến mà Đỗ Đình Thọ nêu ra để hạ bệ Nguyễn Khuyến chính Đỗ
Đình Thọ cũng cảm nhận chưa tới tầm. Câu đối của Nguyễn Khuyến cho những người
dân nghèo rất hóm hỉnh, thể hiện rõ đặc điểm hoàn cảnh, nghề nghiệp của đối
tượng, ẩn trong cái hài hước là sự cảm thông sâu sắc với người dân nghèo. Lẽ
nào một nhà nghiên cứu lâu năm như Đỗ Đình Thọ lại không thấy được điều đó?
Cách cảm cách nghĩ của Đỗ Đình Thọ mang dấu ấn của định kiến quy chụp. Câu đối
chỉ là một phần rất nhỏ trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến. Đỗ Đình Thọ lấy
một vài câu đối để nhận định Nguyễn Khuyến không phải tác giả yêu nước là phiến
diện. Mảng thơ mới là sáng tác chủ yếu của Nguyễn Khuyến. Nhưng ông Đỗ Đình
Thọ, ngoài bài “Xuân dạ liên nga”, đã không đưa ra được bài thơ nào khác chứng
minh cho nhận định của mình. Trái lại, ông đã phải thừa nhận tài năng thơ của
Nguyễn Khuyến.
- Trong toàn
bài viết của Đỗ Đình Thọ không thấy nêu rõ ràng về tiêu chí tác gia văn học yêu
nước. Theo tôi, một tác gia văn học yêu nước được xem xét chủ yếu ở nội dung tư
tưởng tác phẩm. Trần Nguyên Đán, dù thỏa hiệp với phản thần, kết thông gia với
Hồ Quí Li, lui về ẩn dật vẫn được người đời thừa nhận là tác gia yêu nước
thương dân đó thôi. Nguyễn Khuyến từng được cử làm phó sứ đi Trung Quốc với Lã
Xuân Oai (dù việc đó sau hoãn lại), từng lớn tiếng chửi xỏ tổng đốc Lê Hoan khi
bất đắc dĩ phải ra làm giám khảo cuộc thi vịnh Kiều, từng kiên quyết không cộng
tác với giặc. Ông làm quan 13 năm rồi ẩn dật để giữ mình trong sạch, bất cộng
tác với quân thù. Nhưng đánh giá lại tài năng của Nguyễn Khuyến như mục đích
bài viết đặt ra, Đỗ Đình Thọ lại chủ yếu căn cứ vào hành trạng Nguyễn Khuyến
như thế mà bảo ông không phải là nhà thơ yêu nước thì làm sao thuyết phục được
bạn đọc.
-
Thơ Nguyễn Khuyến phê phán những mặt tiêu cực của xã hội, lên án bọn quan lại
tay sai thối nát, chế diễu bọn người chạy theo đồng tiền, làm những việc bỉ ổi
mất nhân cách… Mảng thơ trào phúng, đả kích của ông có chiều sâu, hóm hỉnh, đi
vào nội dung bản chất vấn đề.
Bên cạnh mảng thơ trào phúng, ông còn
bộ phận thơ viết về nông thôn, thể hiện sinh động cuộc sống và bộ mặt nông thôn
nước ta, từ thiên nhiên, con người đến phong tục tập quán. Những bài thơ của
ông viết về cảnh nước lụt, mất mùa, cảnh quê ngày giáp Tết, đặc biệt là chùm
thơ Nôm ba bài về mùa thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) là những kiệt tác. Thơ
Nguyễn Khuyến còn thể hiện rõ nét tình cảm của nhân dân, những lo toan thường
nhật, niềm vui và nỗi buồn của những người nghèo khổ ở nông thôn với tư cách
người trong cuộc, bằng tình cảm chan hoà, gần gũi, cảm thông, chia xẻ với nhân
dân.
Thơ Nguyễn
Khuyến chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, đứng hẳn về phía nhân dân như thế mà lại bảo
ông không phải là tác giả yêu nước thì thuyết phục sao được? Nếu Đỗ Đình Thọ đi sâu vào phân tích các tác
phẩm của Nguyễn Khuyến để chứng minh cho quan điểm của mình thì bạn đọc dễ tiếp
nhận hơn. Thật tiếc là trong bài viết của mình, Đỗ Đình Thọ đã không coi trọng
và không làm được điều đó.
- Về phương
pháp nghiên cứu phê bình, Đỗ Đình Thọ không làm theo cách phổ biến là nêu ra một
số tiêu chí rồi đối chiếu soi rọi vào tác phẩm mà kết luận cái được, cái chưa
được của tác phẩm, tác giả. Cách này làm bài viết dễ khuôn cứng, gò ép nhưng
“an toàn”. Đỗ Đình Thọ đã chọn cách làm ngược lại, từ tác phẩm và cuộc đời tác
giả rút ra kết luận chung. Cách làm này đòi hỏi người viết phải có trình độ
vững vàng mọi mặt, vốn kiến thức lí luận phê bình đủ tầm, non tay một chút là
thất bại.
Khi xem xét một nhân vật có phải là nhà nho yêu nước,
chí sĩ yêu nước hay không, người ta căn cứ chủ yếu vào tiểu sử, hành trạng của
người đó. Bài viết của Đỗ Đình Thọ xem xét Nguyễn Khuyến ở góc độ ông có xứng
đáng là tác giả yêu nước hay không thì lại phải căn cứ chủ yếu vào tác phẩm của
Nguyễn Khuyến. Bài viết của Đỗ Đình Thọ coi trọng chứng minh quan điểm của mình
bằng khá nhiều tư liệu tiểu sử nhân vật và dựa vào dân gian với phong cách
viết… “tài tử”, nhưng lại rất ít tư liệu về tác phẩm. Vì thế bài viết thiếu
tính thuyết phục.
Tóm lại:
- Dùng tiểu sử
để đánh giá tài năng văn học của tác giả là không đầy đủ. Tiểu sử chỉ để giúp
ta hiểu sâu hơn về tác phẩm mà thôi.
- Lấy số ít tác phẩm để rút ra kết
luận cho toàn bộ sáng tác của tác giả là việc làm phiến diện, chưa khoa học.
- Tác phẩm dân gian, truyền khẩu mà
tác giả sử dụng trong bài viết chỉ là những tài liệu tham khảo. Xem xét Nguyễn
Khuyến có phải là nhà thơ yêu nước hay không phải căn cứ vào chính tác phẩm của
ông. Cũng cần chỉ rõ tỉ lệ, liều lượng, nội dung, tư tưởng yêu nước trong tác
phẩm của tác giả đến mức nào thì tác giả mới được liệt vào hàng tác gia yêu
nước?
Bài viết của tác giả Đỗ Đình Thọ dù
tràn đầy nhiệt huyết và cảm hứng nhưng thiếu tính thuyết phục nên tất yếu sẽ
vấp phải những ý kiến phản biện gay gắt như thực tế đã diễn ra.
Tác giả nói đây chỉ là suy nghĩ nhỏ
về nhà thơ lớn, nhưng vấn đề đặt ra lại không nhỏ, mà các nhà nghiên cứu đã và
sẽ còn tốn nhiều giấy mực. Hiện có hai quan điểm: Một là không gọi Nguyễn
Khuyến là nhà thơ yêu nước (như nhà thơ Xuân Diệu); Hai là xếp Nguyễn Khuyến
vào hàng tác gia yêu nước và cách mạng (như quan điểm chính thống của Hội Văn
học Nghệ thuật Hà Nam Ninh thể hiện trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh. – Nxb. Khoa học xã hội,
1981).
Người viết bài này đồng tình với quan điểm thứ hai.
…………………………….
Trích
tham luận của Trần Mỹ Giống đọc trong Hội thảo khoa học về cuốn Tản mạn đôi điều bàn về Văn học Nghệ thuật
của tác giả Đỗ Đình Thọ tại Nam Định, do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định
tổ chức ngày 23 tháng 6 năm 2006.
CÓ ĐÚNG NGUYỄN HỮU TIẾN
LÀ TÁC GIẢ CỜ ĐỎ SAO VÀNG (QUỐC KỲ)?
(Phản
biện bài “Người để lại dấu son trong lịch sử” của Đỗ Phú Nhuận trên Văn Nhân số
117 năm 2018)
Chín năm trước, bài “Ai là tác giả của
lá Quốc kỳ?” của Đỗ Phú Nhuận được đăng trên Hồn Việt (số 29 tháng 11 năm 2009)
khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ. Ngay sau đó, Hồn Việt (số 30
tháng 12 năm 2009) có bài phản biện “Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc
Kỳ” của Lê Ánh Đào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả
Quốc kỳ.
Nay Văn Nhân đăng bài của Đỗ Phú Nhuận
cũng với nội dung tương tự như bài đăng trên Hồn Việt chín năm trước, khẳng
định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả cờ đỏ sao vàng (Quốc kỳ) mà không có chứng cứ nào
mới thuyết phục. Chúng tôi xin nêu một số ý khiến để bạn đọc rộng đường dư
luận.
1- Căn cứ chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu
Tiến là tác giả Quốc kỳ của Đỗ Phú Nhuận không đủ sức thuyết phục:
Hai
cuốn sách để tác giả căn cứ vào đó chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là tác
giả Quốc kỳ:
- Nguyễn Hữu Tiến: Truyện / Sơn Tùng. - H.: Thanh
Niên, 1981.
- Lịch sử Đảng bộ huyện Duy Tiên thời kỳ 1930 – 1945
do Huyện ủy Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xuất bản tháng 8/1996.
1.1- Về cuốn
truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng:
Đây là tác phẩm văn học, tác giả có
quyền hư cấu (bịa). Sơn Tùng cũng từng thừa nhận mình không có chứng cứ, mà chỉ
là hư cấu trong khi xây dựng nhân vật Nguyễn Hữu Tiến. Tác giả không chỉ sáng
tạo nhân vật vẽ cờ Tổ quốc mà còn sáng tác cả thơ thay cho nhân vật…
Trong phóng sự tư liệu nhiều kỳ “Nền
cộng hòa 49 ngày” do báo Tuổi Trẻ thực hiện tháng 11/2006, tác giả Bùi Thanh đã
phỏng vấn trực tiếp nhà văn Sơn Tùng căn cứ vào đâu mà ông “sáng tác” việc
Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ. Tác giả Sơn Tùng đã không nêu được bất kỳ
cứ liệu xác đáng nào. Sơn Tùng nói: “Tôi yêu con người này và viết về con người
này. Còn sự thật lịch sử như thế nào, tôi nghĩ các nhà khoa học cứ tiếp tục làm
rõ”!(1)
Rõ
ràng, Sơn Tùng đã thừa nhận chi tiết Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc trong truyện
của mình không có căn cứ mà chỉ là hư cấu.
1.2- Về cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Duy
Tiên thời kỳ 1930 – 1945.
Cuốn sách của huyện ủy Duy Tiên nêu ra vấn đề đồng chí
Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc, cũng không đưa ra được căn cứ xác đáng nào chứng
mình cho điều đó.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam đã đề
nghị Bộ Văn hóa - Thông tin cung cấp tư liệu về người vẽ cờ Tổ quốc.(2)
Công văn Bộ Văn hóa - Thông tin trả
lời Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã khẳng định: “Tất cả các nguồn tài liệu hiện
có tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ
Chí Minh không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người đã
vẽ lá cờ Tổ quốc”.(3)
Tác
giả Đỗ Phú Nhuận căn cứ vào hai cuốn sách trên để khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là
tác giả Quốc kỳ là không thuyết phục và không đảm bảo cơ sở khoa học.
2- Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là
tác giả quốc kỳ.
Bài phản biện của Lê Ánh Đào trên Hồn
Việt số 30 năm 2009 có đủ nhân chứng, vật chứng và cơ sở lý luận vững chắc.
Chúng tôi xin được trích nêu tóm tắt một số cơ sở trong bài viết này chứng minh
đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc kỳ:
2.1- Công trình
nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ do Hội đồng
Chỉ đạo biên soạn Trung ương thực hiện cùng với cuộc hội thảo do Hội đồng tổ
chức tại T.78 (TP. Hồ Chí Minh) vào tháng 12/2000.
Hội thảo khoa học Mỹ Tho - Từ cuộc
khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940 đến cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Tỉnh ủy Tiền
Giang và Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương tổ chức tại Mỹ Tho tháng
11/2005.
Cả
2 công trình trên đều phủ định quan điểm Nguyễn Hữu Tiến là tác giả cờ đỏ sao
vàng.
Cuốn
Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ (LSKNNK). -
H.: Chính trị quốc gia, 2001 (Tái bản
năm 2005) của Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Trung ương về lịch sử khởi nghĩa Nam
kỳ và Kỷ yếu Hội thảo khoa học Mỹ Tho - Từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940 đến
cách mạng Tháng Tám năm 1945 (KYHTKHMT) do Tỉnh ủy Tiền Giang và Viện Lịch sử
Đảng TW xuất bản tháng 11/2005 là những nguồn tư liệu mang tính khoa học, có độ
tin cậy cao. Đặc biệt cuốn LSKNNK là công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà
nước đã được Hội đồng nghiệm thu nhà nước đánh giá xuất sắc.
2.2- Cờ đỏ sao
vàng do Tỉnh ủy Mỹ Tho khởi xướng:
Hội
nghị Xứ ủy mở rộng tại Tân Hương (Mỹ Tho) diễn ra từ ngày 21 đến ngày 27/7/1940
chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam kỳ đã thông qua vấn đề sử dụng cờ đỏ sao vàng trong
cuộc khởi nghĩa: “Đồng chí Trần Văn Thời - Bí thư tỉnh ủy Bạc Liêu đi họp hội
nghị tháng 7/1940 của Xứ ở Tân Hương (Mỹ Tho), trở về phổ biến tại hội nghị cán
bộ của tỉnh là trong cuộc nổi dậy sắp tới ta dùng cờ đỏ sao vàng... Đồng chí
Trần Văn Sớm, lúc đó là Bí thư Quận ủy Giá Rai có được nghe phổ biến như vậy
trong cuộc họp này. Đồng chí Trần Văn Sớm hiện là Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo
Biên soạn công trình Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ.”(4)
“Hội
nghị Xứ ủy mở rộng tháng 7 năm 1940 ở Tân Hương (huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ
Tho), đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, trong đó
có nghị quyết về hình thức của chính quyền, Quốc kỳ, khẩu hiệu, chính sách đối
với các tầng lớp nhân dân. Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng 5 cánh.”(5)
Cờ
đỏ sao vàng do Đảng bộ Mỹ Tho đề xuất tại Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương đã được
khẳng định: “Hội nghị Xứ ủy tháng 7 ở Tân Hương đã chấp nhận phác thảo lá cờ
Mặt trận do Tỉnh ủy Mỹ Tho đề nghị.”(6)
“Cờ
đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ Tho là sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, của Đảng bộ, nhân dân Mỹ Tho trong thực tiễn phong trào cách mạng của nhân
dân Việt Nam… Xuất hiện trước tiên ở Mỹ Tho, cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của
tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hòa bình, hữu nghị,
đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế của nhân dân Việt Nam. Sức sáng tạo cách
mạng đó thuộc về Đảng bộ, nhân dân Mỹ Tho - Gò Công.”(7)
2.3 -
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không liên quan việc đề xuất cờ đỏ sao vàng.
2.3.1- Tại Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương
(Mỹ Tho), đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai – Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn
kiêm Xứ ủy viên và đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (Phụ trách cơ quan in ấn của Xứ ủy
tại Chợ Lớn) không đến dự. 3 ngày sau Hội nghị Tân Hương (30/7/1940) hai đồng
chí này bị bắt tại cùng một địa điểm ở
Chợ Lớn.(8)
2.3.2-
Danh mục tài liệu, tang vật do địch liệt kê trong vụ bắt Nguyễn Thị Minh Khai
và Nguyễn Hữu Tiến ngày 30/7/1940 hiện lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2
Thành phố Hồ Chí Minh có 74 loại gồm sách, truyền đơn, tài liệu in, tài liệu
viết tay, dụng cụ in ấn – không có loại tài liệu, vật dụng, dụng cụ nào liên
quan đến việc vẽ, in hay viết về cờ đỏ sao vàng mặc dù có nhiều tài liệu có nội
dung liên quan đến khởi nghĩa.(9)
2.3.3- “Nhân chứng sống” là đồng chí
Nguyễn Văn Cung – tham gia trong Hội đồng biên soạn Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ
đã cung cấp việc đồng chí cùng bị giam chung một cabanon với đồng chí Nguyễn
Hữu Tiến trước khi địch đưa đồng chí Nguyễn Hữu Tiến ra xử tử. “Đồng chí Nguyễn
Hữu Tiến đoán biết địch sẽ xử tử đồng chí. Đồng chí dạy tôi lý luận, kể cho tôi
biết nhiều chuyện. Tôi chưa hề nghe đồng chí nói về việc đồng chí là người vẽ
sáng tạo lá cờ đỏ sao vàng.”(10)
Đồng
chí Nguyễn Văn Cung kể lại sau cuộc khởi nghĩa nổ ra, có đồng chí bị bắt lên
phòng tra tấn đã nhìn thấy cờ đỏ sao vàng bị địch bắt được về kể lại nhưng cũng
không thấy đồng chí Nguyễn Hữu Tiến nói gì. “Đồng chí Nguyễn Văn Cung coi đồng
chí Nguyễn Hữu Tiến như bậc thầy cách mạng của mình… Đồng chí Nguyễn Văn Cung
cho rằng nếu đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người sáng tác đầu tiên về lá cờ chắc
chắn đồng chí sẽ kể cho nghe về suy nghĩ trong khi vẽ ra lá cờ đó như thế nào.”(11)
Kết luận:
- Chi tiết đồng chí Nguyễn Hữu Tiến vẽ cờ Tổ quốc
trong truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn
Tùng là hư cấu dùng trong tác phẩm văn học. Một số bài báo, sách sau này viết
Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ cờ Tổ quốc đã lấy nguồn từ cuốn truyện Nguyễn Hữu Tiến của Sơn Tùng mà không
đưa ra được căn cứ xác đáng nào.
- Cờ đỏ sao vàng do Tỉnh ủy Mỹ Tho khởi xướng và phác
thảo, đã được Xứ ủy Nam Kỳ chấp nhận trong Hội nghị tháng 7 - 1940 ở Tân Hương.
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải là tác giả Quốc kỳ.(12)
- Bài “Người để lại dấu son trong lịch sử” của Đỗ Phú
Nhuận khẳng định Nguyễn Hữu Tiến là tác giả Quốc kỳ không có cơ sở khoa học.
TMG (sưu tầm tổng hợp)
….…………….
Chú
thích:
(1)
Báo Tuổi Trẻ ngày 22/11/2006 – Bài 4.
(2)
Tờ trình số 207/TT – UB ngày 21/2/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam gửi Bộ
Văn hóa - Thông tin.
(3) Công văn số 1393/VHTT- BTCM ngày 18/4/2001 của Bộ
Văn hóa – Thông tin do Thứ trưởng Lưu Trần Tiêu ký phúc đáp Tờ trình số 207/TT
– UB ngày 21/2/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam.
(4)
LSKNNK. - Sđd. - Tr. 104.
(5)
KYHTKHMT. - Sđd. - Tổng luận Hội thảo. - Tr. 230.
(6)
KYHTKHMT. - Sđd. - Sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ
23-11-1940 ở Mỹ Tho / Lê Minh Đức (Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Tiền
Giang). - Tr. 97.
(7) KYHTKHMT. - Sđd. -
Những đóng góp quan trọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Tiền Giang trong
phong trào giải phóng dân tộc (1939 – 1945) /
Ts. Nguyễn Thanh Tâm (Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng). - Tr. 127 -
128.
(8)
LSKNNK. - Sđd.- Tr. 95.
KYHTKHMT.
- Sđd. - Tổng luận hội thảo. – Tr. 53.
(9)
LSKNNK. - Sđd. - Tr. 95. - và Phụ lục Bản kiểm kê tài liệu. -
Tr. 709 – 712.
(10) Công văn số 1393/VHTT- BTCM ngày 18/4/2001 của Bộ
Văn hóa – thông tin.
(11)
KYHTKHMT. - Sđd. - Những đóng góp to lớn
của nhân dân và Đảng bộ Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ / Trần Giang (Đồng
chí Trần Giang chính là Chủ nhiệm công trình LSKNNK). - Tr. 54.
(12)
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến không phải tác giả Quốc kỳ đã được xác định. Nhưng ai
là người trực tiếp thiết kế cờ đỏ sao vàng của tỉnh ủy Mỹ Tho thì chưa được xác
định. Đồng chí Phan Văn Khỏe – Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho đã đưa ra nhiều chứng cứ
xác nhận ông Lê Quang Sô là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Có đúng ông Lê Quang
Sô là tác giả Quốc kỳ hay không còn chờ các cơ quan có trách nhiệm làm rõ.
Nguồn: Văn Nhân. – 2018. - Số 121 tháng 9
& 10. – Tr. 49 – 57.
Bìa
4

TRẦN MỸ GIỐNG
Tuổi Kỷ Sửu
Hội viên Hội VHNT Nam Định và Hội Khoa
học Lịch sử Việt Nam – Nam Định. Tác phẩm đã xuất bản:
- Tác giả Hán – Nôm Nam Định TK X – TK
XX. – Nam Định: Hội VHNT Nam Định, 2008.
- Các nhà khoa bảng Nam Định. – Nam Định:
Hội VHNT Nam Định, 2009. (Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh 2006 – 2010).
- Các nhà khoa bảng Nam Định. – H.: Quân
đội nhân dân, 2017.
- Thư mục nhân vật Nam Định. – Nam Định:
Thư viện tỉnh Nam Định, 2010.
- Thời áo lính : Hồi ký. – H.: Quân đội
nhân dân, 2018. (Giải thưởng VHNT Lương Thế Vinh 2026 – 2020).
- Thời áo lính : Hồi ký. – H.: Quân đội
nhân dân, 2019. – Xuất bản lần thứ 2.
- Truyện nhặt. – H.: Nxb. Hội Nhà văn,
2021.
- Và đồng tác giả hơn hai chục đấu sách
khác.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét